|
Thời nào dân
Việt sướng nhất
Joseph Vinh
Lúc c̣n bé tôi thường
được nghe các vị
tiền
bối nói rằng: "Thời
Đệ Nhất
Cộng Hoà ai cũng được sung túc, ngủ không phải đóng cửa…".
Câu nói trên tôi hiểu được khi trưởng thành,
khi đă biết nghĩ đến hưng thịnh của quốc gia, hạnh phúc của
người dân. Hôm nay ngày cuối tuần, đi lang thang ngoài phố
chợt nhớ đến những ngày này trước đây 46 năm nhóm tướng lănh
đă bạo động giết chết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cùng người
em là ông Ngô Đ́nh Nhu cố vấn, chấm dứt nền
Đệ Nhất
Cộng Hoà.
Câu nói trên của các vị tiền bối lại trở về
xâm chiếm tâm tư tôi… tôi quyết định ghé vào thư viện trường
đại học kiếm sách đọc cho rơ vấn đề. Là người thực tế nên
tôi kiếm sách viết về nền kính tế và đời sống của người dân
thời bấy giờ.
Sau hơn 2 tiếng đồng hồ lục lọi tôi chỉ kiếm
được 1 quyển sách về phát triển kinh tế tại Miền Nam Việt
Nam từ 1955 đến 1975 do Douglas C. Dacy của đại học Austin
(Texas) viết vào năm 1986.
Ở Việt Nam công nhân và người dân lao động là
thành phần chiếm đa số trong xă hội nên mức sống của họ có
thể là cán cân đo lường sự chăm lo cho dân của chính phủ
đang cai trị quốc gia. Với mục đích đó tôi kính cùng Quí Vị
quan sát những điểm sau đây:
- Lương công nhân từ 1956 đến 1974 và lương
công nhân năm 2006
- Giá gạo của các năm 1956 đến 1974, cùng giá
gạo của năm 2006
- Chỉ số giá tiêu thụ của công nhân từ
1956-1974
- So sánh lương công nhân và chỉ số giá tiêu
thụ từ 1956-1974
- Lương công nhân tính ra kg gạo
Năm 2006 được chọn để so sánh v́ năm 2006 là
một trong những năm phát triển mạnh nhất của Việt Nam cộng
sản.
Lương Công nhân lao động
Lương của người lao động được phân biệt có
nghề hay không có nghề chuyên môn. Sự chêch lệch giữa lương
của người có nghề và không có nghề rơ ràng nhất vào năm 1956
với 76%:
|
Năm
|
|
lương ngày cho thợ chuyên môn |
|
lương ngày
cho thợ nam |
|
Chỉ số giá tiêu thụ của
dân lao động (1962=100) |
|
Giá gạo
(1 kg) |
|
1956 |
|
88,9 |
|
50,5 |
|
96,4 |
|
4,6 |
|
1957 |
|
91,5 |
|
58,6 |
|
92,0 |
|
4,4 |
|
1958 |
|
101,5 |
|
72,3 |
|
90,2 |
|
4,8 |
|
1959 |
|
100,0 |
|
69,3 |
|
92,4 |
|
3,9 |
|
1960 |
|
102,5 |
|
72,3 |
|
91,2 |
|
4,0 |
|
1961 |
|
102,7 |
|
73,7 |
|
97,0 |
|
5,2 |
|
1962 |
|
106,1 |
|
75,7 |
|
100,0 |
|
5,2 |
|
1963 |
|
110,6 |
|
77,2 |
|
107,9 |
|
5,3 |
|
1964 |
|
114,4 |
|
81,0 |
|
110,4 |
|
5,5 |
|
1965 |
|
126,6 |
|
90,1 |
|
128,4 |
|
6,5 |
|
1966 |
|
190,6 |
|
132,6 |
|
209,6 |
|
10,5 |
|
1967 |
|
314,5 |
|
208,2 |
|
299,4 |
|
20,3 |
|
1968 |
|
371,9 |
|
255,0 |
|
380,0 |
|
20,7 |
|
1969 |
|
449,9 |
|
311,6 |
|
463,1 |
|
31,4 |
|
1970 |
|
592,6 |
|
416,4 |
|
633,5 |
|
40,2 |
|
1971 |
|
772,9 |
|
516,5 |
|
749,3 |
|
48,0 |
|
1972 |
|
870,1 |
|
652,1 |
|
938,3 |
|
72,3 |
|
1973 |
|
1104,0 |
|
843,0 |
|
1355,5 |
|
111,7 |
|
1974 |
|
1493,0 |
|
1039,0 |
|
2004,5 |
|
171,3 |
|
… |
|
|
|
|
|
|
|
… |
|
2006 |
|
54000 |
|
32000 |
|
|
|
6283 |
|
Lương của người
lao động vào năm 2006 được tính dựa vào dữ kiên của trang
báo
http://www3.tuoitre.com.vn/ViecLam/Index.aspx?ArticleID=166977&ChannelID=269.
Qua bài này lương tháng công nhân là
800.000đ và lương của nhân viên bảo dưỡng sửa chữa trung
b́nh 1.350.000đ (từ 1.200.000đ - 1.500.000đ). Công nhân làm
việc 6 ngày một tuần, mỗi tháng làm việc ít nhất 25 ngày, v́
thế lương ngày của công nhân là 32000 = 800.000/25 và cho
công nhân có tay nghề là 54000. Giá gạo cho năm 2006 được
tính theo giá trung b́nh từ cách tỉnh miền Tây Cần Thơ, Kiên
Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long lấy từ bài
http://vietbao.vn/Kinh-te/Gia-gao-lien-tuc-tang/20645402/88/.
Chỉ số giá tiêu thụ của người lao động được
tính dựa trên phát triển giá cả những sản phẩm mà giới này
thường dùng và dựa trên căn bản giá của năm 1962. Chỉ số giá
tiêu thụ cho năm 2006 dựa trên căn bản giá năm 1962 cần
nhiều dữ kiện nên rất tiếc không thể thực hiện được trong
phạm vi bài viết ngắn này.
Lương của người lao động không có nghề tăng
50% trong ṿng
6 năm từ 1956 đến năm 1962 trong khi đó vật
giá chỉ tăng tổng cộng
3,6% trong thời gian này. Nghĩa là
đời sống của người dân tăng rất cao, ít nhất
46% trong ṿng
6 năm trời. Đặc biệt vật giá
giảm hơn 4,4% vào năm 1957 và
giảm gần
2% trong năm 1958 trong khi lương thợ
tăng hơn
23%
trong năm này.

Biểu thị trên đây so sánh chỉ số lương người
lao động không có nghề và chỉ số giá tiêu thụ trên tiêu
chuẩn của năm 1962. Đường xanh biểu thị cho chỉ số lương
thợ, đường đen cho chỉ số giá tiêu thụ. Nếu đường xanh nằm
bên dưới đường đen có nghĩa là đời sống của người thợ thấp
hơn năm 1962. Năm 1963 đường xanh nằm dưới đường đen, vật
gía tăng cao hơn lương, đời sống nguời lao động thấp hơn năm
1962. Điều này có thể giải thích rằng, sự biến loạn trong
năm 1963 đă làm vật giá tăng nhảy vọt.
Mỗi ngày người lao động làm được bao nhiêu kí gạo?
Phương pháp so sánh lương người lao động giữa
các thời đại tại Việt Nam hữu hiệu nhất là so sánh đồng
lương tính ra bằng sản phẩm tiêu dùng hàng ngày như phần
trên chúng ta đă so sánh với những năm từ 1956 đến 1974. Để
có thể so sánh với năm 2006 cụ thể và đon giản nhất chúng ta
là tính ra bằng gạo. Sự so sánh này có tính cách tương đối,
bởi v́ người lao động và gia đ́nh của họ tiêu thụ những sản
phẩm khác ngoài gạo hàng ngày, đồng thời giá cả sản phẩm
nông nghiệp giảm mạnh do cải tiến kỹ thuật trong ngành nông
nghiệp :
Lương
một ngày của người thợ (Lao
Động)
|
Năm |
|
lương thợ
tính ra kg gạo |
|
lương thợ chuyên môn tính ra kg gạo |
|
1956 |
|
11,0 |
|
|
19,3 |
|
|
1957 |
|
13,3 |
|
|
20,8 |
|
|
1958 |
|
15,1 |
|
|
21,1 |
|
|
1959 |
|
17,8 |
|
|
25,6 |
|
|
1960 |
|
18,1 |
|
|
25,6 |
|
|
1961 |
|
14,2 |
|
|
19,8 |
|
|
1962 |
|
14,6 |
|
|
20,4 |
|
|
1963 |
|
14,6 |
|
|
20,9 |
|
|
1964 |
|
14,7 |
|
|
20,8 |
|
|
1965 |
|
13,9 |
|
|
19,5 |
|
|
1966 |
|
12,6 |
|
|
18,2 |
|
|
1967 |
|
10,3 |
|
|
15,5 |
|
|
1968 |
|
12,3 |
|
|
18,0 |
|
|
1969 |
|
9,9 |
|
|
14,3 |
|
|
1970 |
|
10,4 |
|
|
14,7 |
|
|
1971 |
|
10,8 |
|
|
16,1 |
|
|
1972 |
|
9.0 |
|
|
12,0 |
|
|
1973 |
|
7,5 |
|
|
9,9 |
|
|
1974 |
|
6,1 |
|
|
8,7 |
|
|
2006 |
|
5,1 |
|
|
8,6 |
|
Mặc dù báo chí
trong nước cũng như một số các báo chí Tây phương khen ngợi
sự phát triển kinh tế gần đây của Việt Nam
và mặc dù bỏ qua sự kiện giảm giá của sản phẩm nông nghiệp,
nhưng theo bảng tính trên, người lao
động Việt Nam có lương cao nhất trong những năm thời Đệ Nhất
Cộng Hoà, trước đây nửa thế kỷ, và thấp nhất trong năm 2006
trong thời XHCNVN.
Lương của người lao
động trong năm 2006 tính ra được
5,1 kg gạo một ngày,
trong khi năm 1960 họ làm được 18,1 kg gạo.
Thế giới mỗi ngày mỗi phát triển, đời sống
con người măi cải thiện, thăng tiến.
Tại sao đời sống người dân Việt Nam măi đi
thoái lui ?
Nguyễn Hội
01.11.2009
để tưởng niệm cố TT Ngô Đ́nh Diệm |