|
From:
Kansan...
@gmail.com>
Subject: Một bài viết nên đọc
To: "Dan Khuongtu" <dantukhuong@yahoo.com>
Date: Tuesday, June 15, 2010, 8:29 PM
Xin chuyển bài viết của Ông Trần trung Chính
viết về những " Biến động miền Trung " với lời
xác nhận kèm theo là "bạn không sợ làm họ mất
ḷng (những người làm chuyện bậy bạ không sợ
người khác mất long th́ tại sao ḿnh nói đến
sai quấy của họ mà ḿnh lại sợ họ mất ḷng phải
không bạn?
"Gửi đến bạn bài mới viết của một người chưa
đi lính nhưng vẫn tiếp tục công việc chống
Cộng Sản của một chiến sĩ quốc gia, tuổi tác
chưa già nhưng không c̣n trẻ (khác với Toto
Nguyễn tóc trắng rụng sói cả đầu mà cứ cho ḿnh
là trẻ). Bài viết này bênh vực Thiếu Tá Liên
Thành th́ ít mà cốt để đánh bọn tay sai hậu duệ
của nhóm tăng lữ gốc B́nh Trị Thiên từ xưa đến
nay vẫn hoạt động có lợi cho bọn Việt Cộng.
Bạn cứ việc chuyển bài viết này đến những
thân hữu của bạn và chính bạn cũng như các thân
hữu của bạn nên phản hồi những nhận xét để tôi
có thêm dữ kiện cho các bài viết khác.
Tôi không dùng bút hiệu và cũng chỉ đích danh
những người mà tôi phê phán trong bài viết nên
bạn không sợ làm họ mất ḷng (những người làm
chuyện bậy bạ không sợ người khác mất ḷng th́
tại sao ḿnh nói đến sai quấy của họ mà ḿnh lại
sợ họ mất ḷng, phải không bạn?)
Thân,
Trần Trung Chính
THỬ, THÁCH VÀ
THỬ THÁCH LÀ MỘT ?
Trần Trung Chính
Biến động miền Trung năm 1966 là
một sự kiện lịch sử của Việt Nam Cộng Ḥa, trong
đó một số quân nhân và viên chức địa phương của
vùng miền Bắc Trung Nguyên Trung phần bao gồm
tỉnh Quảng Trị, tỉnh Thừa Thiên và tỉnh Quảng
Nam (kể cả thị xă Đà Nẵng, lúc đó mang danh xưng
là đặc khu Quảng Đà ) đă nghe theo lời xúi dại
của một số lănh tụ Phật Giáo địa phương mưu toan
cướp chính quyền để khuynh đảo chính trường
Việt Nam Cộng Ḥa.
Cựu Thiếu Tá Nguyễn Phúc Liên Thành vừa mới
xuất bản quyển sách mô tả những dữ kiện khởi đầu
từ biến cố biến động miền Trung (xảy ra phần lớn
tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên ) năm 1966
cho đến khi ông rời khỏi chức vụ Chỉ Huy Trưởng
Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Thừa Thiên vào
năm 1974. Ngay lập tức đă có một số tín đồ của
tầng lớp tăng lữ B́nh Trị Thiên lên tiếng phản
bác, tôi không sử dụng nhóm chữ “tín đồ Phật
Giáo” v́ những phật tử ở các địa phương khác
không có lên tiếng bênh vực cho các hành vi
chính trị của các tăng lữ B́nh Trị Thiên.. Tôi
có đọc những trao đổi qua lại trên “net” của các
ông quan năm Trần văn Thưởng (Khóa 17 trường
VBQGDalat), Phạm hoài Việt, Bảo Quốc Kiếm (bút
hiệu của ông Trương Khôi)…v…v…nhưng tôi không
đánh giá cao các lời phản bác của các vị này, v́
tất cả họ đều là phật tử người Huế và Thừa Thiên
th́ dĩ nhiên họ phải bênh vực một cách mù quáng
những người mà họ gọi là “thầy” của họ để tung
hỏa mù hầu chạy tội “tay sai cộng tác với Việt
Cộng” của các nhà sư Thích Trí Quang, Thích Đôn
Hậu …mà thôi.
Những lời chỉ trích của nhóm Chấn Hưng Phật
Giáo ở hải ngoại và một số huynh trưởng tổ chức
Gia Đ́nh Phật Tử tại Huế như Lê Công Cầu, như
Trần Kiêm Đoàn cũng chỉ có tính cách “đệ tử”
bênh “sư phụ”, đối với tôi hoàn toàn v́ lư do
cảm tính, không đủ tư cách để được liệt vào sử
liệu hay hồ sơ truy tố về mặt pháp lư – nếu có.
Tôi gọi là “cảm tính” v́ họ cho rằng ông Liên
Thành hành xử như ông đă kể ra trong quyển sách
BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG là có hại cho Phật Giáo,
trong khi là một Phật Tử Quốc Gia, tôi chỉ thấy
ông Liên Thành không hề “đặt điều nói xấu Phật
Giáo” mà ông chỉ nói đến những hành động xấu xa
có thực của một số tăng lữ trong địa phương B́nh
Trị Thiên mà thôi. Chuyện kể của ông Liên Thành
đặt trên nền tảng quyền lợi quốc gia và an ninh
của dân chúng Thừa Thiên - Huế. Ai cũng biết
Phật Giáo bao gồm Phật, Pháp và Tăng, ông Liên
Thành không hề chống phá hay bài xích giáo lư
hay triết thuyết Phật giáo, ông cũng không lạm
bàn đến các pháp môn tu tập của các vị tăng,
việc ông nói trong quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN
TRUNG là nói đến những hoạt động liên quan đến
việc đời, liên quan đến chính trị của một số
tăng lữ Huế - B́nh Trị Thiên th́ làm sao gọi là
chống Phật giáo ? Cách lập luận như các ông Bảo
Quốc Kiếm, quan năm Trần văn Thưởng, Phạm hoài
Việt là cách ăn nói hồ đồ v́ nhà sư Thích Trí
Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Trí Thủ… không phải
là đại diện cho tập thể tầng lớp tăng lữ của
Phật Giáo Việt Nam.
Tôi gọi là quan năm Trần văn Thưởng mà không
gọi là Trung Tá Trần văn Thưởng v́ tuy đă tốt
nghiệp khóa 17 Trường VBQGDalat ra trường năm
1963 tới năm 1975 đeo lon Trung Tá nhưng thực
chất vẫn là một ông quan đi làm “tà lọt” cho các
ông quan khác (hiện nay ông làm “tà lọt” cho các
ông sư hoạt động có lợi cho Việt Cộng), phương
châm của Trường Vơ Bị Quốc Gia Dalat là “Tự
Thắng Để Chỉ Huy ”, nhưng tôi nhận ra ông Trần
văn Thưởng không biết “tự thắng” và dường như
ông cũng chưa bao giờ “chỉ huy” một đơn vị nào
cả (theo như ông kể, tôi đoán ông là “lính nghề”
nên chỉ thấy được đưa đi học chuyên môn chứ
không thấy ông kể ông đă chỉ huy đơn vị nào hết
!). Danh xưng Sĩ Quan trong quân đội – theo tôi
hiểu là các vị làm quan trong quân đội nhưng ư
thức được vai tṛ kẻ SĨ của một người có học. Ư
thức này được ghi rơ trong huy hiệu của Quân Đội
Việt Nam Cộng Ḥa, đó là TỔ QUỐC – DANH DỰ-
TRÁCH NHIỆM.
Ông Trần văn Thưởng không biết TỰ THẮNG khi
ông tự khoe ḿnh là người học giỏi,là thành phần
ưu tú nên đậu Tú Tài II và trúng tuyển vào
trường VBQGDalat khóa 17, trong khi ông chê ông
Liên Thành học dở không đậu Tú Tài II rồi phải
đi lính khóa 16 Thủ Đức (thời1962-1963-1964…
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho phép những người
chỉ có chứng chỉ Trung Học Đệ Nhất Cấp nhập học
Trường Bộ Binh Thủ Đức và tốt nghiệp về làm sĩ
quan của lực lượng Bảo An) . Tôi lấy làm lạ hết
sức v́ sự tự hào của quan năm Trần văn Thưởng là
một sự tự hào vô lối và kệch cỡm, v́ trong cả
quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG, tôi không thấy
ông Liên Thành khoe ḿnh là thành phần ưu tú bao
giờ, đó là chưa kể ông quan năm Trần văn Thưởng
coi tất cả những người tốt nghiệp trường Bộ
Binh Thủ Đức không phải là thành phần ưu tú của
đất nước Việt Nam, mà chỉ có những người tốt
nghiệp trường VBQGDalat mới là thành phần ưu tú
thôi sao ? Nếu đúng như sự suy đoán của tôi, có
lẽ quan năm Trần văn Thưởng coi các ông Lê
Nguyên Khang , Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn
Ngọc Loan, Nguyễn Khoa Nam, Ngô Quang Trưởng,
Bùi Thế Lân, Lê Quang Lưỡng, Lê Văn Hưng… cũng
không ra ǵ (v́ các vị tướng này đều xuất thân
từ trường Bộ Binh Thủ Đức).
Tôi không coi ông Trần văn Thưởng là sĩ quan
v́ khi đọc những lời chỉ trích chê bai ông Liên
Thành tôi chỉ thấy ông bênh vực cho “các ông
thầy chùa” của ông, lấy danh dự của một người có
nhiều bằng cấp và danh dự của một đứa trẻ con
sống lâu năm cũng như trách nhiệm của một “đệ
tử” tận tụy bênh vực cho những ông “thầy”. Trong
khi tôi lại thấy ông Liên Thành học dở hơn ông,
kém may mắn hơn ông nhưng biết đặt TỔ QUỐC trên
hết, biết hành xử DANH DỰ của một quân nhân với
mục đích Bảo Quốc An Dân, và biết hành xử TRÁCH
NHIỆM của một cấp chỉ huy luôn dấn thân đi đầu
trong các công tác nguy hiểm và dám nhận chịu
trách nhiệm về các hành vi của ḿnh. Theo tôi,
sĩ quan chỉ huy là người luôn luôn làm quyết
định (make decision) chứ không phải là kẻ thừa
hành chỉ biết tuân lệnh : tôi không thấy quan
năm Trần văn Thưởng tự khoe những thành tích làm
quyết định của ông ta, nên tôi cho rằng ông Trần
văn Thưởng dù sống tới 70-80 tuổi vẫn là trẻ con
sống lâu năm chứ không được xem là người trưởng
thành già dặn !!
Mới đây ông Lê Công Cầu – một huynh trưởng của
tổ chức Gia Đ́nh Phật Tử ở Huế -cũng đưa ra bằng
chứng để miệt thị ông Liên Thành khi ông Liên
Thành có ghi danh học Đại Học Luật Khoa Huế, ông
Lê Công Cầu có hỏi ông Tổng Thư Kư trường Đại
Học Luật Khoa Huế là sao ông Liên Thành không có
bằng Tú Tài mà được ghi danh học Luật Khoa…Khi
đưa ra bằng chứng này, chứng tỏ Lê Công Cầu
không hiểu biết ǵ về ngành Cảnh Sát Quốc Gia
VNCH, từ năm 1971 trở về sau, các cấp chỉ huy
Cảnh Sát Quốc Gia như Chỉ Huy Trưởng Tỉnh,Chỉ
Huy Trưởng Quận,Trưởng Cuộc Cảnh Sát…đều là các
sĩ quan tư pháp cảnh lại, có tuyên thệ và đều là
phụ tá cho ông Biện Lư tại địa phương trách
nhiệm, cho nên ông Liên Thành ghi danh học Luật
là để lấy chứng chỉ năng lực về Luật nhằm thi
hành công vụ chứ ông Liên Thành không có học
Luật để sau này ra làm Biện Lư Công Tố, Chánh
Án, Dự Thẩm hay Luật Sư, hay tệ hại như ông Lê
Cộng Cầu nghĩ là ông Liên Thành đi “ ḷe ” dân
Huế để khỏa lấp mặc cảm thiếu bằng cấp đại học
chăng ?
Xin nhắc nhở quan năm Trần văn Thưởng và ông
cựu huynh trưởng GĐPT Lê Công Cầu một câu nói
của một triết gia Tây phương (mà tôi quên tên)
, như sau : “ giá trị của con người không nằm ở
gốc gác xuất xứ của người đó, mà giá trị đích
thực là hướng mà người đó nhắm tới ”.
Theo sự ghi nhận của tôi, nhóm Chấn Hưng Phật
Giáo, quan năm Trần văn Thưởng, Phạm hoài Việt,
Bảo Quốc Kiếm (có nhóm Giao Điểm đứng hậu thuẫn
đàng sau ) đang ra sức bênh vực cho nhà sư Thích
Đôn Hậu nhiều hơn nhà sư Thích Trí Quang v́ một
số lư do sau :
1/. Nhà sư Thích Đôn Hậu đă qua đời từ lâu nên
cho dù bị buộc tội hay bênh vực, ông ta cũng
không thể lên tiếng được.
2/. Nhà sư Thích Đôn Hậu sau năm 1975 chống
lại sự kềm chế của chính quyền Việt Cộng, nên
nhóm bênh vực vin vào đó để cho rằng ông Đôn Hậu
cũng chống Cộng trước 1975.
3/. Nhóm bênh vực cho tầng lớp tăng lữ B́nh
Trị Thiên hoạt động có lợi cho Việt Cộng cũng
đều là các đệ tử người B́nh Trị Thiên nên không
thể biết các hoạt động của nhà sư Thích Trí
Quang tại Sài G̣n. Trong
khi
các hoạt động của nhà sư Thích Đôn Hậu tại Huế
và Quảng Trị - Thừa Thiên chỉ là một phần của
sách lược hoạt động của nhà sư Thích Trí Quang.
Do đó ngay cả quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG
của ông Liên Thành cũng không thể kể ra các sự
kiện liên quan đến biến động miền Trung, v́
ngoài phạm vi hoạt động của ông cũng như vượt
quá tầm trách nhiệm và chức năng của ông
Khi biến cố Phật giáo xuống đường năm 1966,
tôi đang học đệ tam trường trung học Chu Văn An
– Sài G̣n, nhà ở giữa 2 chùa Ấn Quang và Việt
Nam Quốc Tự, nên biết khá rơ về những sự kiện
này tại Sài G̣n. Thời điểm đó, Thượng Tọa Thích
Tâm Châu trong cương vị Viện Trưởng Viện Hóa Đạo
PGVN Thống Nhất tuyên bố không tán thành các nhà
sư gốc miền Trung (lúc đó chưa có giáo hội Ấn
Quang) xách động quần chúng xuống đường v́ tất
cả những xáo trộn nói trên chỉ có lợi cho Cộng
Sản.
Thượng Tọa Thích Tâm Châu đă bị các nhà sư gốc
miền Trung đe dọa và gây áp lực phải từ chức
Viện Trưởng Viện Hóa Đạo để họ lên nắm quyền và
lũng đoạn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam . Theo tôi
được biết, người đe dọa trực tiếp đến tính mạng
của Thượng Tọa Thích Tâm Châu thời bấy giờ là
một người tu xuất gốc Huế, tục danh là Bùi Ngọc
Đường (hiện sống ở miền Nam Cali, và cũng là một
tay trụ cột quan trọng của nhóm Giao Điểm cùng
với một nhà tu xuất gốc Huế khác là Trần quang
Thuận, cũng như nhóm Về Nguồn + Nhóm Thân Hữu
Già Lam…đều là hậu thân của các tăng lữ gốc
B́nh Trị Thiên ). Thượng Tọa Thích Tâm Châu
lánh mặt và không từ chức nên nhóm các nhà sư
gốc miền Trung phải tách riêng để thành lập Giáo
Hội Ấn Quang ! ( Xin xem Bạch Thư của Ḥa Thượng
Thích Tâm Châu xuất bản năm 1993)
Trở lại với tiêu đề của bài viết này, chúng ta
hăy xem lại các định nghĩa của THỬ, THÁCH và THỬ
THÁCH để biết thêm một số diễn tŕnh hoạt động
của nhà sư Thích Trí Quang mà ông Liên Thành
không đề cập trong quyển sách BIẾN ĐỘNG MIỀN
TRUNG. Cá nhân tôi nghĩ là ông Liên Thành chưa
được biết rơ ( và lẽ dĩ nhiên là nhóm bênh vực
cho các nhà sư B́nh Trị Thiên hoạt động có lợi
cho Việt Cộng lại càng không biết ) .
THỬ : động từ, có 3 định nghĩa:
:
1/ Làm như thật, hoặc chỉ dùng một ít hay
trong thời gian ngắn, để qua đó xác định tính
chất, phẩm cách, đối chiếu với yêu cầu. Thí dụ :
thi thử, nếm thử, hỏi thử…
2/ Dùng những biện pháp kỹ thuật, biện pháp
tâm lư để phân tích xem xét đặc tính, thực chất
của sự vật hoặc con người cần t́m hiểu. Thí dụ :
thử vàng, thử máu, thử sức, thử ḷng…
3/ Làm một việc nào đó để xem kết quả ra sao,
may ra có thể được. Thí dụ : thử nhớ lại, thử
hỏi…
THÁCH : động từ, có 2 định nghĩa:
1) Nói kích nhằm làm cho người khác dám làm
một việc ǵ đó có tính chất đương đầu hoặc thi
tài với ḿnh. Thí dụ : thách đấu gươm, thách đấu
súng…
2) Nêu lên để yêu cầu giá, mức cao hơn b́nh
thường.
THỬ THÁCH : danh từ, đặt vào t́nh trạng khó
khăn, nguy hiểm để qua đó thấy rơ tinh thần ,
khả năng của con người.
Từ năm 1961, khi lên nắm chính quyền tại Hoa
Kỳ, chính quyền Kennedy đă bị Hồ chí Minh và
Cộng Sản Quốc Tế lừa bịp nên đă có một chính
lược sai lầm về chiến cuộc tại Việt Nam. Mao
Trạch Đông và Lâm Bưu rất cay đắng về sự tham
chiến của Hoa Kỳ tại bán đảo Triều Tiên, v́ Bắc
Hàn đă dùng chiến tranh quy ước để xâm lăng Nam
Hàn, Hoa Kỳ có lư do chính đáng để đem quân can
thiệp dưới ngọn cờ của Liên Hiệp Quốc đă đẩy lui
quân Bắc Hàn lùi qua sông Áp Lục, sau đó Mao gửi
thêm 1 triệu chí nguyện quân Trung Cộng do Thống
Chế Bành Đức Hoài chỉ huy, mà cũng không đẩy lui
được quân đội Liên Hiệp Quốc do Hoa Kỳ lănh đạo
ra khỏi Hàn Quốc. Mặc dù Hoa Kỳ không sử dụng vơ
khí nguyên tử, nhưng chiến thuật “nhân hải”
(biển người) của Mao Trạch Đông và Lâm Bưu cũng
chịu không nổi với hỏa lực quy ước của quân lực
Hoa Kỳ.
Do đó, theo chỉ thị của Trung Cộng, Hồ chí
Minh và CSBV mới thành lập Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam để xâm lăng Việt Nam Cộng Ḥa nhưng
khoác dưới vỏ bọc “chiến tranh nổi dậy”. V́
tưởng Cộng Sản Bắc Việt không dám xâm lăng Việt
Nam Cộng Ḥa (như Bắc Hàn đă xâm lăng Nam Hàn)
nên Tổng Thống Kennedy và ban tham mưu chính trị
của ông quan niệm rằng phải dân chủ hóa Việt Nam
Cộng Ḥa như Mỹ th́ “chiến tranh nổi dậy” sẽ
không c̣n chỗ đứng. Những quân nhân Việt Nam
Cộng Ḥa thời 1961-1962 cũng rất ít người biết
tại sao người Mỹ lại khai sinh ra cái gọi là
“chiến tranh chống nổi dậy”. Sự mâu thuẫn giữa
chính quyền Kennedy và chính quyền Ngô Đ́nh Diệm
ngày càng lớn, đưa đến việc Hoa Kỳ muốn thay thế
ông Ngô Đ́nh Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu. Lư do gần
nhất mà người Mỹ có thể “bứng” anh em ông Diệm –
Nhu ra khỏi chính trường là tạo ra khủng hoảng
Phật Giáo năm 1963, và cũng v́ cách xử lư vụng
về của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm nên chế độ của
ông bị đảo chánh và ngay bản thân 2 ông Ngô Đ́nh
Diệm và Ngô Đ́nh Nhu cũng bị sát hại.
Nhà sư Thích Trí Quang lại tự đánh giá quá cao
về vai tṛ của Phật giáo (và của cá nhân ông ta)
trong vụ chính biến 1963 nên ông ta đă có những
quyết định chủ quan sai lầm trong việc tranh thủ
quyền lực chính trị của Việt Nam Cộng Ḥa giai
đoạn sau 01 tháng 11 năm 1963 đến 30 tháng 4 năm
1975.
Nhà sư Thích Trí Quang đă THỬ lật đổ nhiều
chính phủ của VNCH thời 1964-1965 khi ông ta cho
rằng mưu toan tái sinh Đảng Cần Lao hay hoặc ông
ta cho rằng đó là chính phủ của Ngô Đ́nh Diệm mà
không có Diệm, Thủ Tướng Trần Văn Hương là người
muốn tách bạch chính trị và tôn giáo ra riêng
biệt, bị Thích Trí Quang quậy phá (v́ các lănh
tụ tôn giáo như Thích Trí Quang không được can
thiệp vào sự lựa chọn người trong Nội Các Chính
Phủ) phải từ chức.
Giai đoạn chính phủ của Thủ Tướng
Nguyễn Khánh là giai đoạn mà giáo dân Công Giáo
và phật tử xuống đường đánh nhau đổ máu, một
phần v́ tham vọng cá nhân của Trung Tướng Nguyễn
Khánh (ông này lập Hiến Chương Vũng Tàu , và tự
tôn xưng ḿnh là Chủ Tịch Việt Nam Cộng Ḥa –
chắc là để muốn coi ḿnh ngang vai vế với Hồ chí
Minh đang là Chủ Tịch của Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa), phần khác nhà sư Thích Trí Quang coi chính
phủ Nguyễn Khánh là chính phủ của Diệm mà không
có Diệm (v́ xưa kia, tướng Nguyễn Khánh là con
nuôi của Tổng Thống Diệm và lại là người Công
Giáo !)
Tuy chống đối Thủ Tướng Nguyễn Khánh, nhà sư
Thích Trí Quang đă áp lực chính phủ Nguyễn Khánh
làm lợi cho ông ta một số việc :
1/ Xử tử được ông Ngô Đ́nh Cẩn – em trai của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, có thời được gọi là
lănh chúa miền Trung. Đồng thời xử tử được ông
Phan Quang Đông – một viên chức t́nh báo điều
khiển màng lưới xâm nhập Bắc Việt, nhiệm vụ ông
Phan Quang Đông không dính líu ăn nhập ǵ đến
chuyện đàn áp Phật giáo ở Huế, cho nên không
những ông Liên Thành kết tội nhà sư Thích Trí
Quang hoạt động cho Cộng Sản mà tất cả các giới
chức t́nh báo và phản gián cũng đều có kết luận
như vậy. Nên nhớ là vào năm 1964, ông Liên Thành
vừa mới ra trường và chưa gia nhập lực lượng
Cảnh Sát Quốc Gia.
2/ Chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Khánh có
Tổng Trưởng Nội Vụ là ông Hà Thúc Kư – một
người Huế, Đảng Trưởng Đại Việt Cách Mạng Đảng.
Ông Hà Thúc Kư vừa bị áp lực của nhà sư Thích
Trí Quang vừa bị mua chuộc bằng tiền bạc, nên
chính tay ông Hà Thúc Kư đă kư giấy thả Đại Tá
Lê Câu và Mười Hướng (về sau lên tới cấp bậc
Trung Tướng ) – là 2 tay t́nh báo của CSBV xâm
nhập phá hoại miền Nam. Hai người này bị bắt
trước 1963 do cơ sở Mật Vụ Miền Trung của ông
Dương Văn Hiếu lănh đạo.
Khi hay tin 2 lănh đạo quan trong của Việt
Cộng được ông Tổng Trưởng Nội Vụ Hà Thúc Kư kư
giấy thả ra, Thủ Tướng Nguyễn Khánh rất tức
giận, ông Khánh có ư định đem ông Hà Thúc Kư ra
ṭa truy tố về tội phản quốc. Bộ Trưởng Phủ Thủ
Tướng lúc bấy giờ là Luật Sư Nghiêm Xuân Hồng –
một thủ lănh của Duy Dân Quốc Dân Đảng, mới can
ngăn Thủ Tướng Nguyễn Khánh và dàn xếp để ông Hà
Thúc Kư nạp đơn xin từ chức.
Ngay sau khi ông Hà Thúc Kư rời chức vụ, ông
Nguyễn Ḥa Hiệp – Kỳ Bộ Trưởng Việt Nam Quốc Dân
Đảng, nguyên Sư Trưởng Đệ Tam Sư Đoàn Quốc Dân
Đảng thời kỳ 1945-1946 lên thay thế.
Khi viết ra những sự kiện này, tôi dư biết một
số lớn những đảng viên của Đại Việt Cách Mạng
Đảng phản đối cho là tôi bịa đặt vu oan cho thần
tượng Đại Lăo Đồng Chí Đảng Trưởng Hà Thúc Kư,
nhưng tôi chỉ nêu ra đây một số chi tiết mà các
quư vị đảng viên đảng Đại Việt có thể kiểm chứng
: khi ông Hà Thúc Kư làm Tổng Trưởng Nội Vụ, 2
người phụ tá của ông là Luật Sư Phạm Nam Sách và
giáo sư Nguyễn văn Canh. Luật Sư Phạm Nam Sách
sống ở Chula Vista một thành phố kề cận San
Diego, Luật Sư Phạm Nam sách qua đời từ năm 2000
v́ bệnh tim. Giáo Sư Nguyễn Văn Canh hiện cư
ngụ tại thành phố Palo Alto, giáo sư Nguyễn văn
Canh có thể nói hay không nói lư do ông Hà Thúc
Kư từ chức Tổng Trưởng Nội Vụ mặc dù ông biết rơ
nguyên nhân, chuyện ông không nói cũng dễ hiểu
và thông cảm cho ông. Luật Sư Nghiêm Xuân Hồng
sống ở Nam Cali và cũng qua đời trước cả Luật Sư
Phạm Nam Sách. Nhưng cựu Thủ Tướng Nguyễn Khánh
th́ vẫn c̣n sống, nếu tôi nhớ không lầm th́
tướng Nguyễn Khánh cư ngụ tại Sacramento.
Ông Hà Thúc Kư th́ mới qua đời hồi năm ngoái
2009, đọc tiểu sử th́ thấy nói là ông từ chức v́
bất đồng quan điểm với Thủ Tướng Nguyễn Khánh,
nhưng nếu có đảng viên hậu duệ hay người ngoài
Đảng Đại Việt cắc cớ hỏi tại sao bất đồng quan
điểm mà lại nhận lời làm Tổng Trưởng Nội Vụ và
xin cho biết ông Hà Thúc Kư bất đồng quan điểm
với Thủ Tướng Nguyễn Khánh về vấn đề ǵ ? Có lẽ
người viết tiểu sử của ông Hà Thúc Kư sẽ trả lời
là họ không biết !!! (ngu hay sao mà nói ).
Quư vị cũng có thể kiểm chứng sự việc ông Hà
Thúc Kư thả 2 thủ lănh t́nh báo của Việt Cộng
qua 2 nhân vật đă từng làm việc trong ngành An
Ninh và Phản Gián hiện c̣n sống, đó là cựu Trung
Tá Nguyễn Hữu Hải – nguyên trưởng E Cảnh Sát Đặc
Biệt của Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia Quân Khu 2
và cựu Trung Tá Nguyễn Mâu – nguyên Phụ Tá Đặc
Biệt của Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, Thiếu
Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Cựu Trung Tá Nguyễn Hữu
Hải hiện sống ở Nam Cali, c̣n cựu Trung Tá
Nguyễn Mâu hiện đang sống tại San Jose.
Đại Tá Phạm Ngọc Thảo là nhân vật chủ chốt tổ
chức và điều động các lực lượng quân sự để lật
đổ chính phủ Nguyễn Khánh, các nhân vật nổi danh
một thời như Trung Tướng Dương Văn Đức, Thiếu
Tướng Lâm Văn Phát, Đại Tá Bùi Dinh, Đại Tá
Huỳnh Văn Tồn, Đại Tá Nhan Minh Trang, Trung Tá
Lê Hoàng Thao…đă tham dự những cuộc binh biến có
mỹ danh là “biểu dương lực lượng” v́ “thất bại
đảo chánh”, nhưng mọi người đều hiểu họ không
phải là người chủ chốt. Cho nên họ bị buộc phải
rời quân ngũ về “đuổi gà cho vợ “, có người xoay
qua đi thầu cho Mỹ, có người thất chí chửi đời,
thỉnh thoảng vác cu ra đái bậy trước Dinh Độc
Lập như Trung Tướng Dương Văn Đức mà 2 ông
Thiệu - Kỳ không nỡ trừng phạt.
Về cái chết của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, một
nhân chứng có biết về cái chết này là cựu Phó
Tỉnh Trưởng Biên Ḥa, ông Nguyễn Văn Nhơn – khóa
6 Đốc Sự Hành Chánh, hiện cư ngụ tại thành phố
San Jose cho biết :
vào năm 1965, Đại Tá Phạm Ngọc
Thảo bị An Ninh Quân Đội bắt tại Hố Nai rồi được
giải giao về Ṭa Tỉnh Trưởng Biên Ḥa, trên mặt
chỉ có một vết xước có máu chứ không bị thương
tích ǵ. Tỉnh Trưởng Biên Ḥa thời bấy giờ là
Đại tá Trần Văn Hai của Nhảy Dù ( chứ không
phải là Đại tá Trần Văn Hai của Biệt Động Quân,
về sau lên làm Tổng Giám Đốc CSQG rồi làm Tư
Lệnh Sư Đoàn 7, tuẫn tiết vào ngày 30-4-75 ) báo
cáo trực tiếp cho Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan – Giám
Đốc Nha An Ninh Quân Đội thời bấy giờ. Đại Tá
Loan nói sẽ đem trực thăng xuống bốc Đại Tá Thảo
về Sài G̣n.. Trong khi chờ đợi trực thăng, Đại
Tá Trần Văn Hai đứng tṛ chuyện tự nhiên với Đại
tá Phạm Ngọc Thảo như 2 người bạn lâu ngày gặp
nhau chứ không phải như một cai tù chờ chuyển
giao một phạm nhân, v́ Đại tá Phạm Ngọc Thảo vẫn
mặc quân phục và không bị c̣ng tay ǵ cả.
Chừng 20 phút sau, một chiếc
trực thăng H-34 đáp xuống băi đáp, từ xa một
người đi vào, đến gần th́ đó là một Trung Úy đến
chào 2 vị Đại Tá và mời Đại tá Phạm Ngọc Thảo
lên máy bay. Đại Tá Trần Văn Hai đứng tại sân
nh́n cho đến khi Đại Tá Phạm Ngọc Thảo bước hẳn
vào bên trong và chiếc trực thăng cất cánh, rồi
quay lại nói với ông Nguyễn Văn Nhơn : “ Thằng
Loan nó ngồi trong máy bay v́ nó mới nói với tôi
đích thân nó sẽ bay lên Biên Ḥa, chắc là nó
lánh mặt để tránh cho tôi tŕnh trạng khó xử với
Đại Tá Phạm Ngọc Thảo”.
Cả 2 người quay vào văn pḥng làm việc tiếp
tục, chừng 30 phút sau, cả ông Nguyễn Văn Nhơn
và Đại Tá Trần Văn Hai đều được nghe loan báo
trên đài phát thanh Sài G̣n là Đại Tá Phạm Ngọc
Thảo đă qua đời v́ mất quá nhiều máu trong lúc
bị thương khi bị bắt. Đại Tá Trần Văn Hai nói
nhỏ với ông Nguyễn Văn Nhơn trong pḥng riêng :
“ Vậy là thằng Loan thủ tiêu Đại Tá Thảo ngay
trên không trung để trừ hậu họa, chớ hồi nẫy
trước khi lên máy bay, ông Thảo có bị thương ǵ
đâu ”. Cái chết của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo cũng
không có y chứng của bác sỹ luật y (Việt Cộng
gọi là bác sĩ pháp y) nên không biết Đại Tá Phạm
Ngọc Thảo bị bắn bằng loại vũ khí ǵ và bị bắn
vào chỗ nào trên cơ thể. Sau đó, có tin vịt trời
được tung ra là Thiếu Tá Hùng Sùi “bóp dái” Phạm
Ngọc Thảo...
đến chết đề tra hỏi tin tức. Đây là loại tin
tức khó tin cậy mà không có thực, được tung ra
để đánh lạc hướng những nhà báo ṭ ṃ.
Cùng lúc với sự xuống đường chống đối chính
phủ Nguyễn Khánh, một phong trào có danh xưng
sặc mùi Việt Cộng được các nhân sĩ Phật Giáo
thành lập ở Huế, đó là Phong Trào Nhân Dân Cứu
Quốc do bác sĩ Lê Khắc Quyến và kỹ sư Tôn Thất
Hanh đứng đầu. Sau khi chính phủ Nguyễn Khánh đổ
vỡ , chính quyền được trao lại cho các chính
khách dân sự trong đó Kỹ Sư Phan Khắc Sửu làm
Quốc Trưởng, Thủ Tướng là Bác Sĩ Phan Huy Quát –
một lănh tụ của Đại Việt Quan Lại (gốc miền Bắc).
Một cơ chế có vai tṛ tương tự như Quốc Hội có
danh xưng là Thượng Hội Đồng Quốc Gia nằm ngang
hàng với Quốc Trưởng và Thủ Tướng Chính Phủ, rất
nhiều tay chân của nhà sư Trí Quang đă nằm trong
Thượng Hội Đồng Quốc Gia này.
Trong chính phủ của Thủ Tướng Phan Huy Quát,
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Tổng
Trưởng Quốc Pḥng và Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc
Gia là Trung Tá Phạm Văn Liễu (về sau vinh thăng
Đại Tá ). Thời điểm này, quân Cộng Sản Bắc Việt
đă xâm nhập vào Nam rất đông, thành lập các sư
đoàn chuyên nghiệp và mở các trận đánh vận động
chiến chiếm cứ nhiều cứ điểm quan trọng. Dân Sài
G̣n biết đến các chiến địa Đức Cơ, Đồng Xoài,
B́nh Giả, Ben Hét, Plei Me, Plei Ku, Toumorong, Kontum,
Ba Gia, Thạch Trụ, Nghĩa Hành, Sơn Tịnh…trong
thời điểm này v́ nơi đây đă xảy ra những trận
đánh đẫm máu, số thương vong rất lớn về phía
quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Nhận thấy, cần phải
có sự tham chiến trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ
để chận đứng đà chiến thắng của Cộng quân, Thủ
Tướng Chính Phủ là Bác Sĩ Phan Huy Quát đă kư
văn thư thỏa thuận cho quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào
Đà Nẵng vào đầu năm 1965. Việc làm của Bác Sĩ
Phan Huy Quát đă bị Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và
Thượng Hội Đồng Quốc Gia phản đối v́ họ cho rằng
nếu quân đội Hoa Kỳ tham chiến trực tiếp th́
chính nghĩa chống Cộng sẽ bị xuyên tạc và chủ
quyền quốc gia sẽ bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Là
người quốc gia đă từng đối đầu với Việt Cộng từ
hồi 1949-1950, bác sĩ Phan Huy Quát cho rằng
việc cấp bách tức thời là phải ngăn chận sự tiến
quân của quân đội Bắc Việt trước đă, rồi nếu có
bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ cũng c̣n hơn là bị Cộng
Sản khống chế rồi bị tiêu diệt.
Không thuyết phục được Quốc Trưởng Phan Khắc
Sửu và những ông trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia
tay chân của nhà sư Thích Trí Quang, nửa đêm
ngày 18 tháng 6 năm 1965, bác sĩ Phan Huy Quát
gọi điện thoại nói chuyện trực tiếp với Trung
Tướng Nguyễn Văn Thiệu yêu cầu quân đội chọn
người ra nắm chính quyền v́ một ḿnh ông không
thể điều hành được chính phủ trong khi đất nước
sắp rơi vào tay quân Cộng Sản. Sau khi nhận được
coup điện thoại của bác sĩ Phan Huy Quát, Trung
Tướng Nguyễn Văn Thiệu liền triệu tập khẩn cấp
Hội Đồng Tướng Lănh họp ngay tại Bộ Tổng Tham
Mưu vào lúc rạng sáng ngày 19-6-1965, và ngay
sáng ngày 19 tháng 6 năm 1965 , nội các chiến
tranh dưới danh xưng Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương
do Thiếu Tướng Không Quân Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ
Tịch, các Tổng Trưởng được gọi là các Ủy Viên,
các phó Thủ Tướng được gọi là Tổng Ủy Viên.
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu được Hội Đồng Tướng
Lănh bầu vào chức Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc
Gia.
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng
Nguyễn Cao Kỳ không tổ chức đảo chánh để nắm
binh quyền, cho nên từ ngày 19 tháng 6 năm 1967
trở về sau, chính phủ VNCH chọn ngày 19 tháng 6
hàng năm để Kỷ Niệm NGÀY QUÂN LỰC – là kỷ niệm
ngày mà Quân Lực VNCH đứng ra nhận lănh trách
nhiệm điều hành đất nước. Như vậy, những kẻ hiện
nay bênh vực cho nhà sư Thích Trí Quang, cứ gọi
bọn quân phiệt Thiệu - Kỳ là độc tài, là những
kẻ không hề biết lịch sử một cách trung thực như
nó đă diễn ra trong thực tế, mà bọn họ chỉ biết
lịch sử qua sự tuyên truyền khích động của nhà
sư Thích Trí Quang và đồng bọn…
Bác Sĩ Phan Huy Quát khi trao quyền lại cho
quân đội, ông không hề bàn thảo với Quốc Trưởng
Phan Khắc Sửu, việc làm của Bác Sĩ Phan Huy Quát
làm Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và các ông trong
Thượng Hội Đồng Quốc Gia hụt hẫng , v́ không c̣n
Thủ Tướng Phan Huy Quát cũng có nghĩa là không
c̣n Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và dĩ nhiên chẳng
c̣n Thượng Hội Đồng Quốc Gia !! Như thế, người
phá vỡ âm mưu tranh đoạt quyền lực chính trị của
nhà sư Thích Trí Quang là Bác Sĩ Phan Huy Quát
chứ không phải là các tướng Thiệu – Kỳ như nhóm
Phật Giáo Ấn Quang hay la lối om x̣m.
Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Chính Phủ) vẫn
duy tŕ Đại tá Phạm Văn Liễu làm Tổng Giám Đốc
CSQG. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư Lệnh
Vùng I ( bao gồm 5 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên,
Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngăi) nhưng tướng
Nguyễn Chánh Thi không muốn quân đội Hoa Kỳ đóng
quân ở vùng giới tuyến v́ ông sợ chiến cuộc sẽ
leo thang đến thành phố Huế, khổ nỗi tướng
Nguyễn Chánh Thi lại không có khả năng ngăn
chận các đại đơn vị cùng vũ khí nặng của quân
Cộng Sản Bắc Việt đang xâm nhập vào vùng phi
quân sự (về sau chiến tranh quá ác liệt nên
không c̣n ai gọi vùng này là vùng phi quân sự,
nữa mà gọi là VÙNG HỎA TUYẾN ! ) và sau lưng dăy
Trường Sơn qua ngả A-Sao, A-Lưới. Đó là lư do
ông bị chính quyền Sài G̣n cách chức Tư Lệnh
Quân Đoàn I và Tư Lệnh Quân Khu I.
Nhóm các nhà sư B́nh Trị Thiên lợi dụng việc
này để đ̣i hỏi duy tŕ Trung Tướng Nguyễn Chánh
Thi ở chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I và Tư Lệnh
Quân Khu I. Nhà sư Trí Quang đă THÁCH chính
quyền Sài G̣n không được cử các tướng khác ra
làm Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, Thiếu
Tướng Huỳnh Văn Cao, một người Công Giáo từ Sài
G̣n ra Đà Nẵng nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn I và
Quân Khu I. Từ Đà Nẵng, Thiếu Tướng Huỳnh Văn
Cao dùng trực thăng bay ra Huế, phi cơ của ông
đáp ngay tại sân cột cờ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ
Binh, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao bước vào pḥng
họp của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh để nghe
thuyết tŕnh. Thời gian ngắn sau đó, tướng Cao
bước ra khỏi Bộ Tư Lệnh và lên phi cơ để bay trở
lại Đà Nẵng. Khi phi cơ của tướng Cao vừa lên
cao cỡ 5-6 thước th́ Thiếu Úy Nguyễn Đại Thức
đứng dưới đất rút súng lục bắn vào phi cơ đang
bốc lên cao, xạ thủ đại liên của chiếc trực
thăng chở Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao bắn hạ Thiếu
Úy Nguyễn Đại Thức ngay tại sân cờ của Bộ Tư
Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Tuy Thiếu Tướng Huỳnh
Văn Cao không hề hấn ǵ, nhưng nhà sư Thích Trí
Quang đă làm cho tướng Cao quá sợ : khi về đến
Đà Nẵng, tướng Cao nhảy vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn
24 của quân đội Hoa Kỳ để xin tỵ nạn. Tướng Cao
điện vào Bộ Tổng Tham Mưu Sài G̣n xin từ chức.
Khi thành phố Huế bắt đầu lộn xộn v́ tướng
Nguyễn Chánh Thi bị băi nhiệm, Chủ Tịch Ủy Ban
Hành Pháp Trung Ương Nguyễn Cao Kỳ yêu cầu Đại
Tá Phạm Văn Liễu – Tổng Giám Đốc CSQG ra lệnh
cho Cảnh Sát Huế - Thừa Thiên văn hồi trật tự.
Đại Tá Phạm Văn Liễu nói ông không thể làm được
việc này v́ ông là đàn em tướng Nguyển Chánh Thi
trong cuộc binh biến ngày 11 tháng 11 năm 1960,
rồi cả 2 cùng chạy sang Cambodia.
Đại tá Phạm Văn Liễu xin từ chức và Chủ Tịch
Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương chỉ định Đại Tá
Nguyễn Ngọc Loan, thời điểm 1966, đang là Giám
Đốc Nha An Ninh Quân Đội, kiêm nhiệm luôn chức
vụ Tổng Giám Đốc CSQG, thay thế Đại Tá Phạm Văn
Liễu.
Bộ Tổng Tham Mưu cử Thiếu Tướng Nguyễn Văn
Chuân, một người Huế, phật tử, nguyên cựu Tư
Lệnh Sư Đoàn I ra thay thế tướng Huỳnh Văn Cao.
Tuy nhiên, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân cũng
không dám “đụng” tới mấy ông “thầy chùa”, ông cứ
đóng tại Đà Nẵng và không dám ra Huế để dẹp loạn
trong khi t́nh ngoài Huế càng ngày càng tồi tệ (Xin
xem lại quyển BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG của tác giả
Liên Thành ). Rồi tướng Nguyễn Văn Chuân cũng
bay vào Sài G̣n xin từ nhiệm. Trung Tướng Tôn
Thất Đính t́nh nguyện xin ra làm Tư Lệnh Quân
Đoàn I, tướng Đính hứa với Thiếu Tướng Kỳ là ông
lấy uy tín cá nhân để dàn xếp ổn thỏa. Tưởng sao,
tướng Đính ra Huế được vài hôm, th́ ông theo phe
của Trí Quang luôn.
Hội Đồng Tướng Lănh nhóm họp liên miên, nhưng
không một ông tướng nào muốn ra vùng I làm Tư
Lệnh cả. Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương
rất phân vân không biết phải làm sao. Đại Tá
Nguyễn Ngọc Loan không có họp Hội Đồng Tướng
Lănh v́ ông không phải là tướng. Nhưng khi tướng
Kỳ kể lại sự việc trong Hội Đồng Tướng Lănh, Đại
Tá Loan chỉ nói với tướng Kỳ một câu ngắn ngủi :
“Để tao!”. Và ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp
Trung Ương kư Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm Đại Tá Nguyễn
Ngọc Loan làm Tư Lệnh Dẹp Loạn Miền Trung.
Tôi bỏ qua giai đoạn Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan
b́nh định Đặc Khu Quảng Đà v́ công tác chính của
Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan là b́nh định t́nh h́nh
đang hỗn loạn tại thành phố Huế. Trước khi Cảnh
Sát và Quân Đội từ Sài G̣n ra Huế dẹp loạn, các
thủ lănh sinh viên đấu tranh lên diễn đàn tại
các giảng đường Đại Học đă THÁCH THỨC chính
quyền Thiệu– Kỳ sẽ chịu hậu quả nghiêm trọng,
nếu đem quân ra Huế, tôi dự đoán là nhà sư Thích
Trí Quang đă mớm lời cho họ . Bọn này theo lệnh
của Thích Trí Quang đă thành lập những đoàn thể
có tên nghe rất “kêu” như là “ Đoàn Phật Tử
quyết tử để bảo vệ Đạo pháp “ , “ Chiến Đoàn
Nguyễn Đại Thức “…v…v… Tuy nhiên theo như ông
Liên Thành mô tả th́ khi hay tin Cảnh Sát Dă
Chiến đem bàn thờ vào lề đường để có chỗ thông
suốt cho Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân
“hành quân” th́ các lănh tụ này trốn vào bưng
hết cả, Cảnh Sát chỉ bắt được “tép riu” mà thôi.
Mặc dù không bắt được các tay sách động sinh
viên hoạt động dưới trướng của nhà sư Thích Trí
Quang, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đă bắt được “ con
cá lớn ” Thích Trí Quang. Theo như ông Liên
Thành mô tả, Thích Trí Quang tự nhiên vác xác ra
tuyệt thực tại Ṭa Đại Biểu Chính Phủ nên Đại Tá
Loan ra tay bắt giữ Thích Trí Quang ngay lập tức
v́ Ṭa Đại Biểu là cơ sở của chính quyền. Có lẽ
do sự chủ quan của nhà sư Thích Trí Quang đánh
giá thấp con người của Đại tá Loan, v́ các tướng
như Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận – Tư Lệnh Sư
Đoàn I, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trung
Tướng Tôn Thất Đính…đều “sợ” nhà sư Thích Trí
Quang. Nhưng nhà sư Thích Trí Quang chỉ biết ta
mà không biết người, đâu có ngờ một người cấp
bậc nhỏ mà lại dám “chơi liều” trong khi rất
nhiều ông tướng không dám hành động ǵ cả. Nếu
nhà sư Thích Trí Quang cứ ngồi trong chùa Từ Đàm
không đi ra ngoài th́ muốn bắt nhà sư Thích Trí
Quang cũng không phải là chuyện dễ dàng và nhanh
chóng đến như vậy . Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan
dùng trực thăng đem nhà sư Thích Trí Quang từ
Huế bay vào Đà Nẵng, khi bay qua đèo Hải Vân,
Đại Tá Loan chỉ mặt nhà sư Thích Trí Quang mà
nói (tôi lập lại nguyên văn) : _“ ĐM. mày Trí
Quang, mày là thằng Việt Cộng, tao đạp mày xuống
biển bây giờ_ ”. Nhà sư Thích Trí Quang chới với
v́ không ngờ thằng cha Đại Tá bắc kỳ nói giọng
lai Huế này đă “chơi liều” bắt giữ ḿnh mà nay
lại dám” chơi bạo và chơi dữ” nữa là thủ tiêu
ḿnh bằng cách đạp ḿnh xuống biển, nhưng ánh
mắt tràn đầy sát khí của Đại Tá Loan mới làm
Thích Trí Quang hoảng sợ chứ ông ta không sợ v́
lời nói. Nhà sư Thích Trí Quang quỳ xuống sàn
phi cơ lạy Đại Tá Loan lia lịa, cùng lúc đó một
số vị Trung Tá và Thiếu Tá trong đoàn tùy tùng
của Đại Tá Loan đứng ra can ngăn, Đại tá Loan
mới trở về chỗ ngồi. Khi tới Đà Nẵng, nhà sư
Thích Trí Quang được chuyển lên một phi cơ vận
tải C-47 của KQVN bay vào Sài G̣n để rồi bị nhốt
tại Nha An Ninh Quân Đội (góc đường Hồng Thập Tự
và Nguyễn Bỉnh Khiêm) chứ không bị nhốt tại Tổng
Nha Cảnh Sát đường Vơ Tánh.
Chắc chắn sẽ có người hỏi,cỡ tuổi nhỏ như tôi
làm sao biết chuyện này ?. Xin trả lời ngay là
tôi may mắn được quen biết với Luật Sư Nguyễn
Hữu Hiệu, vị dân biểu Quốc Hội Lập Hiến năm
1966-1967, sau này là dân biểu Quốc Hội Lập Pháp
đơn vị Long Xuyên – An Giang nhiệm kỳ 1971-1975.
Thời điểm 1965- 1966, Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu
đang làm Luật Sư Cố Vấn cho ông Trần Quốc Bửu –
Chủ Tịch Tổng Công Đoàn Lao Công Việt Nam. Thân
phụ Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan là một viên chức
hành chánh làm việc trong Tổng Công Đoàn Lao
Công Việt Nam, ông đă kể những việc làm của Đại
tá Loan cho ông Trần Quốc Bửu và Luật Sư Nguyễn
Hữu Hiệu biết. Vào năm 1993, tôi gặp lại cựu
Trung Tá Nguyễn Mâu tại San José và đem câu
chuyện này hỏi cựu Trung Tá Nguyễn Mâu, cựu
Trung Tá Nguyễn Mâu xác minh được 2 việc :
1. Thời điểm biến loạn miền Trung năm 1966,
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ c̣n ngần ngại chưa dám
dùng biện pháp mạnh, chính Đại Tá Nguyễn Ngọc
Loan t́nh nguyện ra miền Trung để dẹp loạn trong
khi ông mới chỉ làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát một
thời gian ngắn (sau khi Đại tá Phạm Văn Liễu từ
chức )
2. Chuyện Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan đ̣i đạp nhà
sư Thích Trí Quang xuống biển là chuyện có thật
chứ không phải là chuyện đóng kịch để hù dọa. (
nhà sư Thích Trí Quang không phải là con cừu non
nên không thể hù dọa được) .
Phát biểu về chuyện tha mạng nhà sư Thích Trí
Quang, Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu cho rằng : “ Đại
tá Nguyễn Ngọc Loan đánh giá nhà sư Thích Trí
Quang là một người gây rối nhưng chưa đạt đến
mức độ _tối nguy hiểm_ và _có thể kiểm soát
được_ . Nếu nhà sư Thích Trí Quang được Đại Tá
Nguyễn Ngọc Loan đánh giá là phần tử tối nguy
hiểm và không thể kiểm soát được ( như Đại tá
Phạm Ngọc Thảo chẳng
hạn ) th́ ông đă trừ khử diệt mối họa như ông
đă từng làm với Đại Tá Phạm Ngọc Thảo rồi”. Ông
Trần Quốc Bửu cũng đồng t́nh với nhận định này.
Trường hợp nhà sư Thích Trí Quang bị Đại Tá
Nguyễn Ngọc Loan bắt giữ làm tôi liên tưởng đến
Saddam Hussein hồi năm 2003 : trong khi đại sứ
của Irak tại Liên Hiệp Quốc khuyến cáo ông
Saddam phải nên nhượng bộ những yêu sách của
chính phủ Bush để tránh chiến tranh th́ Saddam
vẫn cứ ngang ngược không chấp nhận những yêu
sách của chính phủ Mỹ. Saddam hoàn toàn tin
tưởng vào sự phủ quyết của 3 nước Pháp – Nga –
Trung Hoa (chỉ cần 1 cũng đủ, huống chi đồng
minh của Saddam có tới 3 !!!) , nhưng Saddam
không hỏi 3 ông bạn đồng minh có quyền phủ quyết
một chuyện rất quan trọng là nếu Hoa Kỳ ngang
nhiên tấn công Irak th́ 3 nước Nga – Pháp -
Trung Hoa có trợ giúp viện binh ngăn cản Hoa Kỳ
hay không ? Nếu có hỏi, tôi dự đoán 3 ông bạn
đồng minh có quyền phủ quyết chắc chắn sẽ trả
lời là không, và Irak phải tự lo liệu lấy v́ Hoa
Kỳ đâu có xâm lăng nước Nga, nước Pháp, nước
Trung Hoa th́ làm sao binh lực của 3 nước này
tiến đánh Hoa Kỳ được ! V́ không hỏi, nên khi
Hoa Kỳ “bypass” không cần họp bàn ở Hội Đồng Bảo
An LHQ mà vẫn đem 180,000 binh sĩ tấn công Irak
th́ ông Saddam đành phải…chịu “chết”. Nhà sư
Thích Trí Quang cũng vậy, v́ không THỬ đặt ḿnh
vào trong trường hợp xấu nhất, nên khi bị rơi
vào t́nh trạng xấu nhất, ông không biết phải
hành xử thế nào cho hợp thời hợp cách. Kết quả
là ông bị khống chế và vô hiệu hóa các hoạt động
chống đối chính phủ VNCH.
Quan năm Trần Văn Thưởng có hỏi ông Liên Thành
là tài cán ǵ mà mới có Trung Úy mà đă làm đến
Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên, phải chăng dựa
hơi vào Đảng Đại Việt để tranh đoạt và duy tŕ
quyền lực ? Tôi không biết ông Liên Thành có trả
lời quan năm Trần văn Thưởng hay không, nhưng
tôi đoán là không v́ đây là một câu hỏi ngớ ngẩn
và ngu xuẩn (imbecile and stupid question) . Ngớ
ngẩn và ngu xuẩn v́ quan năm Trần văn Thưởng là
cái thá ǵ mà dám đặt câu hỏi như vậy, những
người có thẩm quyền và tư cách để đặt câu hỏi
như vậy là các vị chỉ huy trưởng cao cấp nhất
trong ngành Cảnh Sát như Đại Tá Nguyễn Ngọc
Loan, người kế nhiệm là Đại tá Trần Văn Hai,
kế tiếp là Thiếu Tướng Trần Thanh Phong, rồi sau
đó là Thiếu Tướng Nguyễn Khắc B́nh th́ lại chẳng
bao giờ đặt câu hỏi , dễ hiểu là v́ nếu ông Liên
Thành không có khả năng cầm đầu ngành Cảnh Sát
tỉnh Thừa Thiên th́ các “xếp lớn “ trong ngành
Cảnh Sát cách chức ông Liên Thành ngay chứ cần
ǵ phải lèm bèm đặt câu hỏi vớ vẩn như vậy !!
Trong khi đi học tại Trường Chính Trị Kinh
Doanh Dalat, trong môn học có tên là Động Thái
Tổ Chức (Behavior Organization) , giáo sư Phó Bá
Long có đưa ra một thí nghiệm sinh học như sau :
người ta cho 2 con côn trùng là con ong và con
ruồi vào một b́nh thủy tinh trong suốt và to lớn
nhưng miệng b́nh th́ nhỏ xíu và dài gấp 5 lần
b́nh thường tính theo tỷ lệ, rồi dốc ngược b́nh
thủy tinh này lại – nghĩa là miệng b́nh nhỏ xíu
và dài th́ xuống dưới và đáy b́nh kín mít th́ ở
phía trên. Trong cả ngàn lần thí nghiệm th́ con
ruồi luôn luôn ḅ ra trước và con ong th́ vẫn
bay hoài trong b́nh không làm sao ra được. Giáo
sư Phó Bá Long nói : con ong có khả năng “quang
hướng động” cho nên nó bay theo hướng mặt trời
để đi t́m phấn hoa đem về tổ để tạo “mật”, trong
khi nó không biết rằng giữa nó và nguồn sángbây
giờ có một bức vách thủy tinh ngăn trở mà nó
không vượt qua được. Con ruồi cũng bay về phía
nguồn sáng, nhưng thấy vài lần đụng vách thủy
tinh không ra ngoài được, con ruồi ḅ lần lần ra
phía miệng b́nh chứ không bay nữa, và kết quả là
con ruồi luôn luôn ra ngoài b́nh thủy tinh trước.
Giáo sư Phó Bá Long kết luận : con ong v́ quá tự
tin và cố chấp vào khả năng thiên khiếu của ḿnh
nên cứ ở măi trong b́nh, c̣n con ruồi sau vài
lần trở ngại nó đă biết THỬ phương cách khác nên
đă giải quyết được nhu cầu mà nó cần.
Nhà sư Thích Trí Quang bị thất bại trong biến
động miền Trung năm 1966 có lẽ v́ 4 lư do sau
đây :
1/ Ông xem thường Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, v́
so với các ông Tướng khác, Đại Tá Nguyễn Ngọc
Loan không có chiến tích ǵ ghê gớm cả, lại càng
không có thành tích chính trị nào đáng kể.
Trường hợp này cũng giống như Quan Vân Trường
coi thường Lục Tốn là một thằng con nít, cho nên
Quan Vân Trường không pḥng bị cẩn thận, bị Lục
Tốn đánh cho liểng xiểng phải bỏ mạng tại mặt
trận Kinh Châu thời Tam Quốc Chí bên Tàu – thế
kỷ thứ 3 sau Thiên Chúa Giáng Sinh.
2/ Sự thất bại của các tướng Huỳnh Văn Cao,
Nguyễn Văn Chuân, Tôn Thất Đính…trong việc ổn
định t́nh h́nh tại miền Trung vào năm 1966 khiến
Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan phải THỬ một phương cách
khác để giải quyết vấn đề (như trường hợp thí
nghiệm sinh học mà tôi vừa nêu ở đoạn trên), và
ông đă giải quyết được nhu cầu mà chính quyền
Sài G̣n mong muốn.
3/ Nếu ai đă đọc Tam Quốc Chí của La Quán
Trung th́ đều thích thú khi thấy Khổng Minh Gia
Cát Lượng trong tay chỉ có vài trăm quân, lại
bị Tư Mă Ư vây hăm trong thành, nhưng Khổng Minh
cho mở cửa thành lính chầu 2 bên , ông ngồi
giữa cười cười mà Tư Mă Ư không dám đột nhập,
sau cùng phải rút quân. Kim Thánh Thán, một nhà
b́nh luận văn học đời nhà Thanh, phê rằng v́
Khổng Minh biết rơ Tư Mă Ư là người đa mưu cẩn
thận nên mới mở cửa thành; chứ nếu tướng vây
thành lúc bấy giờ không phải là Tư Mă Ư mà là
Hứa Chử hay Trương Phi th́ không xong ( Tư Mă Ư
là tướng rất cẩn thận, ông ta sợ Khổng Minh phục
binh nên không dám vào, chứ ông ta đâu biết rằng
Khổng Minh lúc bấy giờ chỉ có vài trăm quân. C̣n
Hứa Chử với Trương Phi th́ khỏi cần, có biết
phục binh tới vạn quân th́ 2 ông tướng này cũng
không “care” ) . Nhà sư Thích Trí Quang thất
bại v́ sử dụng kế của Khổng Minh đối phó với Tư
Mă Ư đem ra xài lại với Hứa Chử và Trương Phi
!!!
4/ Nhà sư Thích Trí Quang đánh giá sai phương
cách ứng xử của Tư Lệnh Dẹp Loạn Miền Trung, ông
ta nghĩ rằng Cảnh Sát và Quân Đội Sài G̣n (nhất
là Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân ) sẽ
đạp đổ bàn thờ Phật và nếu điều này xảy ra quần
chúng sẽ xuống đường c̣n hơn hồi 1963 chống lại
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm nữa. Nhưng Đại Tá
Nguyễn Ngọc Loan đâu có ngu tới mức như vậy.
Theo như ông Liên Thành mô tả, Cảnh Sát Dă Chiến,
Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân chỉ bưng bàn
thờ di chuyển vào lề đường để có chỗ cho quân xa,
xe cộ di chuyển thôi chứ không hề có bất cứ bàn
thờ Phật nào bị đạp đổ hết
cả. Kết luận : “ Làm tướng mà đánh giá sai
phản ứng của địch quân th́ đánh trăm trận phải
thua cả trăm trận !!!” (Chú thich của người
viết bài : Tôi đảo ngược câu nói của Tôn Tử
“Biết ḿnh, biết người, trăm trận đều thắng” chứ
thật ra đă làm tướng mà nếu ước lượng sai phản
ứng của địch quân th́ ngay trong trận đầu đă bị
chết hay bị bắt làm tù binh rồi, không có tới
trận thứ hai để mà đánh, nói ǵ đến trận chiến
thứ một trăm !!! )
Tháng 6 năm 1978, tôi từ Sài G̣n ra Quảng Trị,
mưu tính dùng đường 9 Nam Lào theo bọn con buôn
đi Savanakhet để rồi vượt sông Mékong qua.
Thái Lan. Dự tính không thành v́ cả nhóm 6 người
bị bắt ngay tại Khe Sanh, bị giải giao về nhà
lao Thừa Phủ tại Huế và tháng 8 năm 1978 bị
chuyển lên Trại B́nh Điền để “lao động cải tạo”.
Tháng 2/ 1979, quân Trung Cộng tràn qua 6 tỉnh
biên giới phía Bắc để dạy cho Việt Cộng một bài
học (theo cách nói của Đặng Tiểu B́nh), nhận
thấy sắp có một cuộc chôn sống các “tù nhân cải
tạo” như hồi Tết Mậu Thân – nếu quân Trung Cộng
đang trên đường tiến vào Hà Nội, tôi và một
người bạn người miền Nam lại trốn trại nhưng
cả 2 đều bị bắt lại và bị nhốt trong nhà kỷ luật
trong 2 năm. Tới tháng 5/1979, v́ có gây gổ xích
mích với công an quản giáo đội mộc, anh Hồ Minh
Lữ bị nhốt trong nhà kỷ luật một tuần lễ.
Trước khi bị nhốt trong nhà kỷ luật, tôi và
anh Hồ Minh Lữ không hề quen biết nhau, anh Hồ
Minh Lữ cho biết anh là cựu huynh trưởng “Gia
Đ́nh Phật Tử” tại Huế và cũng là sĩ quan cấp bậc
Thiếu Úy trong ngành Cảnh Sát thuộc Bộ Chỉ Huy
Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên. Anh Lữ kể cho tôi
nghe một kỷ niệm cay đắng về nhà sư Thích Trí
Quang như sau : /“ khoảng đầu năm 1973, tôi có
dịp vào Sài G̣n để học tập về Hiệp Định Paris
1973 vừa mới kư kết, tôi ghé chùa Ấn Quang để
thăm “ôn” Trí Quang /(chú thích của/ /người viết
bài này : người Huế gọi người mà/ /họ kính trọng
bằng đặc ngữ “ ÔN ”/ ). Sau khi chào kính và hỏi
thăm sức khỏe cũng như t́nh h́nh sinh hoạt ngoài
Huế, “ôn”.
Trí Quang có đưa cho tôi một bức thư và bảo tôi
đọc, đó là bức thư của Thượng Tọa Thích Tâm Châu
gửi cho Thượng Tọa Thích Trí Quang . Ư chính của
bức thư này là Thượng Tọa Tâm Châu kêu gọi
Thượng Tọa Trí Quang hăy dẹp bỏ những tị hiềm và
xích mích trong nội bộ Phật Giáo trước kia, để
cùng nhau hợp tác đối phó với Cộng Sản sau khi
Hiệp Định Paris được kư kết…. Đọc xong, tôi trả
lại bức thư và hỏi “ôn” Trí Quang : “ư kiến của
ôn như thế nào ? ”.
/Nh́n thẳng vào mắt tôi, “ôn” Trí Quang gằn
giọng , nói : “ Thằng Tâm Châu phải đem đầu
Thiệu – Kỳ đến đây th́ mới nói chuyện hợp tác ”.
Anh Hồ Minh Lữ kể tiếp : “ /Nghe đến câu nói
của “ôn” Trí Quang như vậy, tôi hỡi ơi, tôi
không ngờ là một người tu hành mà lại nói được
một câu trần tục đầy tính sân si đến cùng cực
như vậy. Ôn Trí Quang, một người thầy mà tôi tôn
sùng kính trọng biết bao, trước đây tôi coi như
một thần tượng th́ nay đă sụp đổ hoàn toàn. Là
một phật tử tại Huế, tôi rất có thiên kiến không
đúng về Thượng Tọa Thích Tâm Châu như dư luận
phật tử tại Huế đă và đang có, chẳng hạn : ông
Tâm Châu là tay sai của Thiệu – Kỳ chống phá
Giáo Hội Ấn Quang, ông Tâm Châu ăn tiền của Mỹ
không đứng về phe Phật Giáo Dân Tộc..v…v.
/Nhưng chính mắt tôi đă được đọc thư của
Thượng Tọa Tâm Châu chứ không phải nghe người
khác nói lại,, tôi nhận ra rằng chính Thượng Tọa
Tâm Châu mới là người quốc gia chân chính, c̣n
ông thầy của ḿnh th́ chẳng ra ǵ. Tuy vậy, tôi
không nói ǵ với “ôn” Trí Quang về sự suy nghĩ
của tôi, nhưng xin cáo từ để c̣n phải nghỉ ngơi
mai c̣n đi họp công vụ. Tôi lặng lẽ ra về nhưng
ḷng tự hứa là không bao giờ gặp lại ôn Trí
Quang nữa”./
Sau khi ra khỏi nhà kỷ luật vào tháng 6 năm
1981, anh Hồ Minh Lữ đă được trả về với gia đ́nh
trước đó vài tháng nên tôi không gặp lại anh.
Măi đến tháng 6 năm 1984 tôi mới trở lại Sài G̣n
và tháng 12 năm 1987 tôi vượt thoát khỏi Việt
Nam đến Thái Lan. Tôi cũng không rơ là anh Hồ
Minh Lữ có đến Hoa Kỳ theo diện HO hay không,
nhưng nghe phong phanh là anh ở vùng Los
Angeles.
Thời điểm 1979, tôi tin là anh Hồ Minh Lữ nói
đúng v́ anh chẳng có lư do ǵ để đi đặt điều nói
xấu về ông thầy của ḿnh . Đến Hoa Kỳ năm 1989,
tưởng như chuyện anh Hồ Minh Lữ kể cho tôi nghe
rơi vào quên lăng, nhưng đến năm 1993 Luật Sư
Nguyễn Hữu Hiệu nói với tôi là Ḥa Thượng Thích
Tâm Châu có in quyển Bạch Thư trong đó có nhắc
đến lá thư mà Ḥa Thượng Tâm Châu gửi cho Thượng
Tọa Thích Trí Quang. Lúc đó tôi càng tin cậy anh
Hồ Minh Lữ nhiều hơn nữa bởi v́ từ thời điểm
1973 cho đến 1979, hầu như không ai biết Thượng
Tọa Tâm Châu có viết thư gửi Thượng Tọa Trí
Quang. Dĩ nhiên Thượng Tọa Thích Tâm Châu không
thể biết nhà sư Thích Trí Quang đă đáp ứng lá
thư của ḿnh như thế nào.
Người khôn ngoan là người biết học kinh nghiệm
của người khác, kể cả kinh nghiệm thành công lẫn
kinh nghiệm thất bại. Động từ “học” mà tôi dùng
ở đây, theo Anh – Mỹ là động từ “learn” chứ
không phải là động từ “study” (nói theo kiểu
người Việt của ḿnh th́ cần phải “học” và “rút
tỉa được kinh nghiệm” chứ không phải “học” để
khoe bằng cấp Ph.D., để khoe tên các Đại Học
danh tiếng như những khoa bảng VN vẫn thường hay
làm).
Muốn “rút tỉa được kinh nghiệm” th́ phải luôn
luôn biết THỬ, biết THÁCH THỨC, biết THÁCH ĐỐ và
phải vượt qua được những THỬ THÁCH do chính ta
và những người ngoại cuộc đặt ra ; nếu chỉ biết
THỬ, chỉ biết THÁCH mà lại không vượt qua nổi
THỬ THÁCH th́ chắc chắn sẽ thất bại (như nhà sư
Thích Trí Quang đă thất bại)
Xin cảm ơn tất cả quư vị đă quan tâm và tôn
th́ giờ quư báu để đọc đến hết đoản văn này.
San Jose ngày 4 tháng 6 năm 2010
/Trần Trung Chính/ |