|
Tiểu sử
TỔNG
THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
(1901-1963)
Nguyễn Hùng Kiệt

Chân Dung Ngô Tổng Thống
Tiểu Sử
Ngô Đ́nh Diệm (Hán tự:吳廷琰) sinh ngày 3 tháng 1
năm 1901 tại Huế trong một gia đ́nh quyền quư
theo Công giáo ở Việt Nam, tên thánh của ông là
Jean Baptiste (Gioan Baotixita).
Gia Đ́nh
Theo các tài liệu lịch sử đă được công bố, Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901
tại Huế trong một gia đ́nh công giáo danh vọng
bậc nhất miền Trung thời đó. Thân phụ là cụ ông
Ngô Đ́nh Khả và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Thân,
nguyên quán làng Đại Phong, Huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng B́nh, Trung Phần Việt Nam. Cụ Ngô Đ́nh Khả
là Thượng Thư triều đ́nh Huế kiêm Phụ Đạo Đại
Thần và cũng là Cố Vấn của vua Thành Thái.
Gia đ́nh ông bà cụ cố Ngô Đ́nh Khả có tất cả 9
người con: 6 người con trai và 3 người con gái.
Trưởng nam là Tổng Đốc Ngô Đ́nh Khôi đă bị cộng
sản giết năm 1945 cùng với người con trai là Ngô
Đ́nh Huân; Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục; Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm là người con trai thứ ba; ba
người con gái là bà Ngô Đ́nh Thị Giao, tức bà
Thừa Tùng; bà Ngô Đ́nh Thị Hiệp, tức bà Cả Âm,
thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đ́nh
Thị Hoàng, tức bà Cả Lễ, nhạc mẫu nghị sĩ Trần
Trung Dung, tiếp theo là ba người con trai: Cố
vấn Ngô Đ́nh Nhu, Cố vấn Ngô Đ́nh Cẩn và đại sứ
Ngô Đ́nh Luyện, người con út trong gia đ́nh.
Cụ Cố Ngô Đ́nh Khả nổi danh là một vị khoa bảng
xuất chúng. Thời đó, tại Việt Nam rất hiếm có
người được hấp thụ cả hai nền giáo dục Đông và
Tây như Cụ. Lúc thiếu thời, Cụ theo Nho học, sau
đó vào chủng viện học chương tŕnh Pháp, rồi
được gửi sang đại chủng viện Penang để học Triết
học và Thần học Tây Phương bằng tiếng Pháp và
tiếng La Tinh. Cụ là một chủng sinh rất xuất sắc,
nhưng v́ không có ơn gọi để trở thành linh mục,
Cụ đă xin trở về cuộc sống thế tục.
Cụ Cố Ngô Đ́nh Khả c̣n nổi tiếng là một vị quan
thanh liêm, cương trực, đức độ, một nhà ái quốc
chân chính, là bạn thân của các nhà cách mạng
nổi danh thời đó như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu
Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Thành tích đáng kể
nhất của cụ cố Ngô Đ́nh Khả là nỗ lực thành lập
Trường Quốc Học tại Huế, một trường công lập đầu
tiên giảng dạy theo chương tŕnh học thuật Đông
Tây tại Việt Nam. Và chính Cụ là vị đại thần duy
nhất đă can đảm công khai chống lại thực dân
Pháp phế bỏ và đầy vua Thành Thái sang Phi Châu
sống lưu vong, sau đó Cụ đă xin rũ áo từ quan về
quê làm ruộng.
Lúc thiếu thời, ông Diệm c̣n đuợc theo học dưới
sự dạy dỗ của một vị cha tinh thần khác, cũng
nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và ḷng
yêu nước: Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, Thượng
Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần
duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn
đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu.
V́ thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm
kích ngưỡng mộ nên đă có phương ngôn: “Đày vua
không Khả. Đào mả không Bài”.
Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và
ḷng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ,
ông Diệm c̣n chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo
dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu
Nho Giáo đă hun đúc ông Diệm thành một con người
thanh liêm, tiết tháo và cương trực th́ nền giáo
dục Thiên Chúa Giáo đă đào tạo ông Diệm thành
một con người đầy ḷng bác ái, vị tha và công
chính.
Thời trẻ
Từ lúc c̣n nhỏ, ông được Nguyễn Hữu Bài – quan
phụ chính trong triều dạy dỗ và coi như con đẻ,
từ năm 15 tuổi ông vào học trường ḍng với dự
định sau này làm tu sĩ, nhưng không chịu nỗi kỷ
luật khắt khe trong trường ḍng, ông đă bỏ
trường ḍng ra xin học vào trường quốc học Huế
Từ năm 1919 ông ra Hà Nội học trường Hậu Bổ (trường
hành chính) và tốt nghiệp 2 năm sau đó năm 1921.
Giai đoạn làm quan triều Nguyễn
Năm 1923, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Quảng
Điền, tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri phủ Hải Lăng,
tỉnh Quảng Trị.
Năm 1929, ông được bổ nhiệm làm Tuần vũ tỉnh
B́nh Thuận.
Năm 1932, ông được bổ nhiệm Thượng thư Bộ Lại
trong triều đ́nh vua Bảo Đại. Trong thời gian
này ông được bầu làm Tổng thư kư uỷ ban cải cách,
ông đề xướng hai điều với chính quyền bảo bộ
Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Ḥa
ước Giáp Thân 1884 và hai là cho Viện Nhân dân
Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các
vấn đề. Việc thống nhất cốt sẽ buộc chính quyền
Bảo hộ Pháp băi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ
Bắc Kỳ và thu về thành một viên tổng trú sứ (résident
général) ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh
tân lối cai trị cũ. V́ thấy không được chấp nhận,
ông từ chức ngày 12.07.1933..
Hoạt động chính trị chống Pháp :1933-1945
Năm 1933, ông vào Sài G̣n cùng với Nguyễn Phan
Long, Lê Văn Kim,… tổ chức phong trào của trí
thức Nam và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp
tại Paris để đ̣i truất phế quan Toàn Quyền Đông
Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị
Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú
tại Quảng B́nh. Tuy nhiên, sau cái chết của
Pasquier năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene
René Robin đă phục hồi tước vị hàm cho ông và
ông về dạy tại trường Thiên Hựu do anh trai Ngô
Đ́nh Thục làm Giám học
Thời kỳ 1934-1944, Ngô Đ́nh Diệm tham gia thành
lập và lănh đạo đảng Đại Việt Phục Hưng chống
Pháp với thành phần đảng viên ṇng cốt là quan
lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ
tại Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp
phá vỡ tổ chức này, Ông Ngô Đ́nh Diệm trốn vào
Sài G̣n với sự giúp đỡ của hiến binh Nhật.
Tại Sài G̣n, ông đă tham gia thành lập Uỷ Ban
Kiến Quốc với mục tiêu pḥ tá hoàng thân Cường
Để, tuy nhiên Nhật không cho Cường Để về nước để
lập làm vua mà vẫn tiếp tục sử dụng Bảo Đại để
lập nên một chính quyền thân Nhật với quốc hiệu
mới là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đă từng mời ông
làm thủ tướng trong chính quyền mới nhưng không
thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.
Trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương
1945-1954.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Bộ Tư Lệnh Nhật ở Đông
Dương tổ chức đảo chánh lật đổ nhà cầm quyền
Pháp. Đại sứ Nhật Yokohama yêu cầu vua Bảo Đại
tuyên cáo Việt Nam Độc Lập trong khối Đông Nam Á.
Đối phó với t́nh h́nh mới, nhà vua lại mời ông
Ngô Đ́nh Diệm về làm Thủ Tướng nhưng v́ không
muốn làm vật hy sinh, ông đă từ chối và nhà vua
đă mời cụ Trần Trọng Kim lúc đó 62 tuổi thành
lập nội các.
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Hoàng tuyên
bố đầu hàng, Việt Minh khai thác sự đột biến
hoang mang của quần chúng, đă tổ chức cướp chính
quyền trong một cuộc biểu t́nh ngày 18 tháng 8
năm 1945 tại Hà Nội. Sau đó, Cựu Hoàng cũng
tuyên bố thoái vị. C̣n ông Diệm trên đường từ
Sàig̣n về Huế đă bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà và
biệt giam tại Quảng Ngăi. Để củng cố địa vị, Hồ
Chí Minh đă mời ông Diệm hợp tác với chính phủ
nhưng ông đă cương quyết từ chối. Khi bị giam
tại Tuyên Quang, ông bị bệnh nặng được đưa về
điều trị tại bệnh viện Saint Paul Hà Nội do áp
lực của đảng phái quốc gia và Phó chủ tịch Huỳnh
Thúc Kháng, nhưng ông đă được ông Nhu lúc đó
đang làm việc tại Thư Viện Trung ương Hà Nội t́m
cách cứu thoát.
Đến năm 1948, một lần nữa ông Ngô Đ́nh Diệm từ
chối lời mời của Cựu Hoàng thành lập chính phủ
trong Liên Hiệp Pháp. Từ đó ông xuất ngoại, đi
vận động ngoại giao tại Trung Quốc, Nhật Bản,
Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Pháp, Bỉ và được Đức Giáo Hoàng
Piô XII tiếp kiến tại La Mă.
Năm 1950, ông theo người anh trai là giám mục
Ngô Đ́nh Thục đi Vatican, sau đó sang Nhật gặp
hoàng thân Cường Để đang sống ở đây, và sau đó
ông sang Mỹ sống tại đây trong hai năm, phần lớn
thời gian lưu trú tại các trường ḍng Lakewood ở
New Jersey và trường ḍng Ossining
|