Tŕnh bày:  Yếu tố tŕnh bày do

    From:  Duc Vu <baovu472@gmail.com>
    Date: Thu, May 13, 2010 at 9:29 PM
   Subject: Ban Do Viet Nam va Chan Dung Ngo Tong Thong
   To:   nhuhungbui@yahoo.ca
 

 

 

 Nhận định:           “ Sự toàn vẹn lănh thổ là mối lo canh cánh bên ḿnh

                                                                      của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm

Tổng Thống ư thức rằng việc  Nam Bắc  phân tranh  gây cảnh nồi da xáo thịt

                                                                       chỉ đem lại lệ thuộc ngoại bang !

Ông đă ra người thiên cổ và đất nước Việt Nam cũng v́ đó mà đă thành nô lệ

                                                                    Việt Nam tang chế

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2010

buinhuhung@hotmail.com

  

 

 

 

Nhớ ngày 1.11.1963 :

Tại sao có cuộc Đảo Chánh lật đổ Ông Ngô Đ́nh Diệm ?

Phan Đức Minh

1.- T́nh h́nh trước khi xẩy ra cuộc Đảo Chánh:

* Những tháng giữa năm 1960, Ông Diệm với tư cách Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa, đi thăm các Bộ Tư Lệnh Quân Khu I-II-III-IV và Quân Khu Thủ Đô để nói chuyện với các Sĩ Quan thuộc các Quân Binh Chủng về một vấn đề vô cùng quan trọng: Người Mỹ muốn đổ các đơn vị tác chiến (Combatant Units) của họ vào lănh thổ Nam Việt Nam để đảm nhiệm vai tṛ chủ yếu trong công cuộc chiến đấu chống cộng sản trên chiến trường này…Tại Hội Trường Bộ Tư Lệnh Quân Khu I, Đà Nẵng, trước mặt rất đông Sĩ Quan: Cấp Tướng, cấp Tá và cấp Úy, Ông Diệm đă nói rơ ư chí của Ông là nhất định không chấp nhận cho người Mỹ đổ quân tác chiến vào Nam Việt Nam mà chỉ chấp nhận vai tṛ của người Mỹ trong nhiệm vụ Cố Vấn và Huấn Luyện cho Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa. Ông nói: ‘’Chúng ta cần có sự Cố Vấn và Huấn Luyện của Mỹ, chúng ta cần có sự viện trợ quân sự, kinh tế của người Mỹ, nhưng chúng ta không cần, và nhất định không chấp nhận để cho người Mỹ chiến đấu thay thế cho chúng ta trong công cuộc bảo vệ Quê Hương, Đất Nước này. Cuộc chiến đấu này không thể đơn thuần giải quyết bằng sức mạnh của vũ khí chiến tranh, nhất là bằng một đạo quân viễn chinh từ một quốc gia khác kéo đến. Nếu người Mỹ làm việc đó, chúng ta sẽ mất hết chính nghĩa, mất sự hậu thuẫn của nhân dân, tôi sẽ trở thành Tổng Thống bù nh́n và anh em, các Sĩ Quan sẽ chỉ c̣n là những kẻ đánh thuê cho ngoại quốc...’’ Ông nói thật nhiều, với tất cả tấm ḷng và trái tim của Ông. Rồi ông kêu gọi tất cả các Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa, đă từng nêu cao tinh thần anh dũng, can đảm trên mọi chiến truờng khắp các Vùng Chiến Thuật (Tactical Areas), hăy cùng Ông bằng mọi giá, giữ vững lập trường, đi đúng đường lối lănh đạo chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc mà ông đă vạch ra và quyết tâm theo đuổi, bất chấp mọi sức ép bất cứ từ đâu đến! Những cánh tay giơ lên, những tiếng hô vang làm rung chuyển cả Hội Trường Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I Quân Khu I ‘’Quyết tâm ủng hộ Tổng Thống! Quyết tâm giữ vững lập truờng chiến đấu của Tổng Thống để bảo vệ Tổ Quốc! ’’

Tôi lúc đó chỉ là một Chuẩn Úy hiện dịch, nhưng với cái vốn kinh nghiệm gần 7 năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, 2 lần bị Tây bắt nhốt đầu vào tù, và hơn 6 năm chống cộng sản, tôi cũng đủ trí khôn để thông cảm với những khó khăn, nguy hiểm đang đợi chờ Ông Diệm, vị Tổng Thống đầu tiên của nền Cộng Ḥa non trẻ tại Nam Việt Nam. Tôi nh́n các Sĩ Quan đàn anh đứng chung quanh, h́nh như ai nấy đều linh cảm thấy có một cái ǵ nặng nề, nguy hiểm đang đợi chờ vị Tổng Thống khả kính và can đảm của ḿnh. Phải thành thực mà công nhận rằng: Vào thời gian đó, dưới sự lănh đạo của Ông Diệm, Quân Đội ra Quân Đội, Tướng Tá ra Tướng Tá, Sĩ Quan ra Sĩ Quan, chớ không có…hổ lốn, bát nháo như một số khá đông của những thời gian sau này, sau khi Ông Diệm không c̣n nữa...Tôi không phải là người Công Giáo như Ông Diệm, mà chỉ là một Quân Nhân hiện dịch thuần túy, nhưng cũng thấy mắt ḿnh nḥa đi. Tôi cầu xin Ơn Trên phù hộ, che chở cho Ông, cũng như cho Đất Nước này…

* Ngày 19.6.1960: Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n Elbridge Durbrow, gửi cho Ngoại Trưởng Mỹ, Christian Herter ở Hoa Thịnh Đốn 1 điện văn mật thông báo t́nh h́nh Sài G̣n: Có thể có 1 cuộc đảo chánh nhằm lật đổ chính quyền của Ông Diệm, trong khi đó ở nông thôn, hoạt động của cộng sản gia tăng mạnh mẽ…Phần cuối, bản văn kết thúc ‘’Nếu thế đứng của Ông Diệm tiếp tục giảm sút, không c̣n phù hợp với t́nh thế chính trị, tâm lư, kinh tế và an ninh tại đây nữa th́ có thể là điều mà chính phủ Hoa Kỳ nên tính đến những phương cách khác để hành động và thay thế người lănh đạo hầu đạt đến những mục tiêu của chúng ta… ( If Diem’s position in the country continues to deteriorate as result failure adopt proper political, psychological, economic and security measures, it may become necessary for US Government to begin consideration for alternative courses of action and leaders in order to achieve our objectives…).

* Ngày 11-12 tháng 11.1960: Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù và Trung Tá Vương Văn Đông (nhưng ban đầu chủ yếu lại là Vương Văn Đông) chỉ huy một lực lượng quân sự gồm nhiều Tiểu Đoàn Nhẩy Dù và 1 đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, bao vây Dinh Tổng Thống để làm một cuộc đảo chánh với lư do được công bố trên đài phát thanh Sài G̣n đă bị quân đảo chánh chiếm giữ ‘’…Ông Diệm đă tỏ ra không đủ khả năng cứu đất nước khỏi họa cộng sản cũng như bảo vệ sự đoàn kết quốc gia…-Diem has shown himself incapable of saving the country from Communism and protecting national unity…’’

Biết rằng cuộc âm mưu đảo chánh này không do những nhân vật chính trị có danh tiếng, không có hậu thuẫn chính trị thực sự của dân chúng, không có sự tham gia của các Tướng Lănh cũng như Lực Lượng Quân Đội dưới quyền cho nên Ông Diệm tạo thế tŕ hoăn, thoái thác nhượng bộ trước sự đ̣i hỏi của phe đảo chánh là từ bỏ chính quyền và đợi cho các Lực Lượng Quân Đội, hầu hết vẫn c̣n trung thành với ông, từ các nơi kéo về dẹp loạn. Cuộc đảo chánh bất thành v́ quá non kém về tổ chức, lănh đạo cũng như đường lối chính trị và quân sự. Tuy nhiên cuộc đảo chánh bất thành này đă đem lại cho chính quyền của Ông Diệm những bài học quan trọng:

A.- Cộng sản càng tích cực tung cán bộ vào thành phố khai thác những mâu thuẫn, bất đồng giữa chính quyền và các nhân vật, các nhóm chống đối tại thành thị. Những mâu thuẫn này tất nhiên phải có trong hoàn cảnh miền Nam Việt Nam đang phải thực hiện một xă hội tương đối tự do, dân chủ, phồn thịnh (hơn hẳn miền Bắc), cùng một lúc phải đối phó với cuộc chiến tranh xâm lăng, phá hoại toàn diện của cộng sản Hà Nội, được chỉ đạo và yểm trợ từ Mạc Tư Khoa cũng như từ Bắc Kinh, theo ‘’Đường lối cách mạng vô sản toàn cầu của Đệ Tam Quốc Tế-Global Proletarian Revolution Policy of the Third International’’

B.- Thi hành một đường lối vô cùng khó khăn khả dĩ đáp ứng được nhu cầu của t́nh thế:

* Giữ vững chính quyền đang bị âm mưu khuynh đảo từ bên ngoài do bọn tài phiệt quốc tế, ở bên trong th́ do cộng sản chỉ đạo. Ngay trong nội bộ hàng ngũ quốc gia cũng có những phần tử ham danh, hám lợi cũng như quyền lực đang chờ đợi thời cơ để hành động.

* Giữ vững tinh thần kỷ luật và ḷng trung thành của Quân Đội, là sức mạnh bảo vệ chính quyền, chế độ. Đồng thời giữ vững sự đoàn kết các tôn giáo là sức mạnh hậu thuẫn của nhân dân, nhưng cả hai: Quân Đội và Tôn Giáo lại là những mục tiêu quan trọng nhất mà cả 3 lực lượng chống phá nói trên đang nhắm vào để làm nổ bùng một cuộc đảo chánh khác, có tầm vóc quy mô, có tổ chức tinh vi hơn cuộc đảo chánh đă thất bại một cách dễ dàng ngày 11 tháng 11 năm 1960.

* Ngày 20.12.1960: Để đánh lừa dư luận quốc tế, để thu hút các nhóm chống đối và lôi kéo nhân dân Miền Nam, cộng sản Hà Nội tuyên bố chính thức cho ra mắt công khai Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại 1 chiến khu (Strategic War Zone) của cộng sản tại Phía Đông của Nam Việt Nam, thành phần bao gồm chừng 100 nhân vật nói là đại diện cho các nhóm chính trị đối lập với chính quyền, đại diện cho các tôn giáo có mặt tại Nam Việt Nam, các lực lượng vũ trang c̣n sót lại sau khi bị quân chính phủ đánh tan trong các chiến dịch hành quân tại miền Tây trước đó vài ba năm. Mặt trận này thực sự đặt dưới quyền lănh đạo của một cán bộ cao cấp của Hà Nội, thuộc Bộ chính trị ban chấp hành trung ương đảng (Political Bureau of the Party’s Central Committee) .

* Ngày 1 tháng 4.1961: Cộng sản tung 1 tiểu đoàn chủ lực quân, có du kích địa phương tăng cường, gồm hơn 400 quân, tấn công thử sức vào 1 ngôi làng chiến đấu kiểu mẫu của ‘’Quốc sách ấp chiến lược-National policy of Strategic Hamlets’’ thuộc Tỉnh Kiến Ḥa, nhưng bị Quân Đội Cộng Ḥa đánh tan và bị thiệt hại nặng nề. Hai ngày sau, cộng sản thử sức lần nữa bằng cách tấn công vũ băo và bất ngờ vào khu vực Bến Cát, Phía Bắc Sài G̣n, nhưng hơn 100 quân cộng sản bị quân Cộng Ḥa tiêu diệt, bỏ xác tại trận. Cộng sản buộc phải đổi hướng, tập trung nỗ lực vào những hoạt động vơ trang phá hoại tại các thành phố, tung cán bộ len lơi vào trong các tầng lớp nhân dân, hàng ngũ tôn giáo có đông đảo quần chúng nhưng hệ thống tổ chức ít chặt chẽ, để t́m cơ hội gây xáo trộn chính trị tại các thị trấn, nơi tập trung đông đảo dân cư, làm suy yếu chính quyền Miền Nam thay v́ nôn nóng giành chiến thắng quân sự để hỗ trợ cho các hoạt động chính trị và ngoại giao.

* Ngày 12.5.1961: Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson, trong cuộc viếng thăm Á Châu, đă gặp Tổng Thống Diệm tại sài G̣n. Ông Johnson ca tụng Tổng Thống Diệm là một Churchill của Á Châu và nói, ‘’Đối với thế đứng của Hoa Kỳ tại Á Châu, Tổng Thống Diệm là nhân vật, là người bạn không thể thiếu được.’’ Tuy nhiên, khi trở về Mỹ, ông Johnson lại báo cáo cho Tổng Thống Kennedy cũng như cho các nhân vật chính trị cao cấp biết rằng: Ông Diệm vẫn giữ vững lập trường không cho quân chiến đấu của Hoa Kỳ vào Việt Nam, trừ phi cộng sản Hà Nội xua quân tràn qua vĩ tuyến 17 một cách đại quy mô như cộng sản Bắc Hàn đă xua quân tràn qua vĩ tuyến 38 hồi 1950.

* Ngày 18.9.1961: Cộng sản bất thần mở trận đánh lớn cấp Trung Đoàn ( Regiment ) , tung 1.500 quân bao vây và đành chiếm Tỉnh Lỵ Phước Vinh, sau khi đă mở chiến dịch gồm 41 trận đánh lớn nhỏ trên khắp lănh thổ Miền Nam để áp đảo và chia sẻ lực lượng đối phương. Sau đó 3 tuần lễ, tại diễn đàn Quốc Hội, Tổng Thống Diệm chính thức tuyên bố với quốc dân và thế giới là việt cộng, với sự chỉ đạo và yểm trợ của cộng sản quốc tế đă chính thức biến cuộc chiến tranh du kích trên lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa thành một thứ chiến tranh xâm lăng quy mô thực sự, có sự tham chiến của quân chính quy cộng sản, được trang bị tối tân và hùng hậu…Bọn tài phiệt quốc tế, buôn bán chiến tranh, càng thêm cơ hội để tung tiền và thủ đoạn để đưa đám ‘’Lobbyists’’ vào các hành lang, ngơ ngách của Quốc Hội, hệ thống truyền thông Hoa Kỳ, dọn đường cho một kế hoạch ào ạt đổ quân tác chiến của Mỹ và lôi kéo một số đơn vị Quân Đội Đồng Minh vào chiến trường Nam Việt Nam. Chậm chân là thiệt hại cả…núi đô la chớ không phải chuyện đùa. Nhưng, lại tiếng nhưng ở chỗ này! Nhưng Ông Diệm nhất định không chấp nhận cho Quân Đội tác chiến của Mỹ chiến đấu tại Nam Việt Nam. C̣n Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy th́ cũng không hăng hái, thiết tha cho lắm với việc đổ quân tác chiến của Mỹ vào chiến trường Miền Nam trong hoàn cảnh lúc này v́ nó không như lúc cộng sản Bắc Hàn xua quân cấp Quân Đoàn (Army Corps) tràn qua vĩ tuyến hồi năm 1950…Ông Kennedy vẫn trung thành với ‘’Đường lối ngăn chặn-Containment Policy’’ để chống lại sự bành trướng của phong trào cộng sản trên thế giới từ sau Đệ Nhị Thế Chiến, bằng những phương cách ít tốn sinh mạng người Mỹ nhất, trừ trường hợp nền an ninh của Mỹ bị đe dọa trực tiếp, nghĩa là ông Kennedy chỉ chấp nhận hy sinh nhân mạng của Mỹ trong ‘’Trường hợp bất khả kháng-In case of absolute necessity’’. Thế th́ ‘’chúng nó’’ bắt buộc phải loại trừ Ông Diệm khỏi ngôi vị lănh đạo Nam Việt Nam trước đă, và sau đó bất cứ kẻ nào làm ngăn trở việc đổ quân tác chiến của Mỹ vào Nam Việt Nam cũng đều bị ‘’chúng nó’’ xóa sổ hết (kể luôn cả Tổng Thống Mỹ).

* Ngày 2.1.1963: Tại Ấp Bắc, cách Sài G̣n 40 dậm về Phía Đông Nam, gần 2 Trung Đoàn, 2.500 quân thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Ḥa, trang bị vũ khí tự động, có xe tăng, thiết vận xa, pháo binh và không quân (cả khu trục cơ lẫn trực thăng) yểm trợ, mở cuộc hành quân bao vây, tiêu diệt 1 lực lượng cộng sản gồm chừng 1 tiểu đoàn (Battalion) hơn 300 quân chủ lực địa phương, với hỏa lực yếu kém hơn rất nhiều, lại không có xe tăng cũng như không quân, pháo binh yểm trợ. Kết quả thật là đau buồn: Cộng quân thoát khỏi ṿng vây gần như toàn vẹn chủ lực, sau khi đă gây cho quân chính phủ những tổn thất đáng kể. Thật là một cơ hội bằng vàng để bọn tài phiệt quốc tế dùng ảnh hưởng, sức mạnh của đồng đô la để lái các cơ quan truyền thông, hướng dẫn dư luận, gây áp lực tại Hoa Kỳ, từ Quốc Hội cho đến chính phủ phải bằng mọi giá đổ quân tác chiến của Mỹ vào Việt Nam ngay lập tức. Nếu không, ‘’Tiền đồn chống cộng’’ của Mỹ tại Á Châu sẽ xụp đổ và ‘’Chính sách ngăn chặn cộng sản’’ của Mỹ trên thế giới sẽ thất bại và…nền anh ninh của chính nước Mỹ cũng sẽ bị lâm nguy…Chúng đem câu nói của Lenin, Sư tổ của cách mạng vô sản 1917 tại Nga, người đă mở đường cho phong trào cộng sản thế giới bùng ra hết cách ngăn cản sau thế chiến thứ 2, mà dọa cả nước Mỹ ‘’Trước hết, chúng ta hăy chiếm giữ Đông Âu, rồi nắm lấy khối quần chúng khổng lồ ở Á Châu, sau đó bao vây Hoa Kỳ là thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta khỏi phải đánh đấm chi cả, Hoa Kỳ cũng sẽ rơi vào tay chúng ta như một trái cây đă chín rữa-First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle the United States which will be the last bastion of Capitalism. We will not have to attack, it will fall into our hands like an overipe fruit.’’ (The Death of A Nation-John A. Stormer-The Liberty Bell Press-Florissant Missouri, July 1978, Page 14). Thế là ‘’người ta’’ phải tính đến 2 điều quan trọng nhất để lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm:

Thứ nhất: Phải giao cuộc đảo chính vào tay nhân dân miền Nam làm lực lượng chính yếu th́ nó mới có chính nghĩa (just cause). Ai có thể huy động được đông đảo dân chúng? Phải cần đến một tôn giáo nào đó, có khả năng lôi kéo được nhiều người nhẩy vào cuộc.

Thứ hai: Phải đẩy được đông đảo Tướng Lănh có quân trong tay đứng ra...cứu dân, bảo vệ đất nước trước sự rối loạn bên trong và quân thù (cộng sản) đang ŕnh rập, chờ đợi 1 cơ hội thuận lợi ở bên ngoài...

* Ngày 8.5.1963: Bùng nổ vụ rối loạn, chống đối ở Cố Đô Huế, giữa hàng chục ngàn tín đồ Phật Giáo với nhân viên chính quyền địa phương và các lực lượng an ninh. Tổng Thống Diệm tuyên bố trên Đài phát thanh quốc gia là vụ này có bàn tay của cộng sản nhúng vào, gây thêm t́nh trạng khó khăn cho địa phương, tạo thêm sự mâu thuẫn trầm trọng giữa chính phủ và 1 tôn giáo lớn trong nước. Cuộc rối loạn ngày càng gay go, dữ dội, quyết liệt và biến sang h́nh thức ‘’Một tôn giáo lớn nhất trong nước thường kể luôn cả những người chỉ thờ cúng Ông Bà, không được đào tạo, huấn luyện, sinh hoạt tôn giáo chặt chẽ chống lại một hệ thống chính quyền được lănh đạo bởi một Tổng Thống và các nhân vật cao cấp, trọng yếu, đa số là người thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mă.’’

Phía chính phủ th́ lên tiếng: Tổng Thống Diệm sử dụng người theo nguyên tắc thông thường của các nhà lănh đạo là căn cứ vào tài năng, đức độ, sự tin cậy, thích hợp cho công việc và lợi ích quốc gia, chớ không phải v́ kỳ thị tôn giáo…(Sau 1975, cộng sản Việt Nam đàn áp tôn giáo, ḱm kẹp kẻ đối lập, áp bức dân chúng gấp triệu lần Ông Diệm, mà sao chưa thấy biểu t́nh, chống đối để lật đổ chính quyền ? Hay nhỉ ! Chẳng lẽ cộng sản nó tài, nó giỏi!).

Sự rối loạn càng bùng lên dữ đội và lan mạnh tới các thành phố lớn rồi di chuyển trung tâm đấu tranh chống chính phủ về ngay tại Thủ Đô Sài G̣n, nơi tập trung các Cơ Quan Quyền Lực Quốc Gia, các Ṭa Đại Sứ ngoại quốc, cũng như các cơ sở truyền thông quốc tế. Tại đây, Thượng Tọa Thích Trí Quang, một trong những vị lănh đạo cao cấp Phật Giáo, gốc người Bắc Việt, 2 lần bị Pháp bắt v́ t́nh nghi có liên lạc với Việt Minh (cộng sản) được dư luận coi là một nhân vật tôn giáo đặc biệt trong hoạt động chính trị, đứng ra phát động và lănh đạo cuộc đấu tranh của dân chúng. Thượng Tọa thông báo cho Phía Mỹ biết là người Mỹ phải chịu trách nhiệm về những hoạt động của chính quyền Sài G̣n do Mỹ ủng hộ… (Thich Tri Quang, a politically sophisticated monk of North Vietnamese origin, twice arrested by French on suspicion of Vietminh connections, stirs the people against Diem and informs US officials, whom he holds responsible for Diem because of US support...). Sau này, người ta mới biết Pḥng Nh́ ( 2ème Bureau ) của Pháp đă theo dơi không sai, và biết rơ sự liên hệ chặt chẽ của nhân vật này với cộng sản Việt Nam từ năm 1946 trở đi...

* Ngày 7.6.1963: Bà Ngô Đ́nh Nhu lên tiếng tố cáo trước dư luận là người Mỹ đă cố t́nh nhúng tay vào, tạo nên vụ biến động này và thúc đẩy cho ngày một thêm trầm trọng, phức tạp thêm, nhằm khuynh đảo chính quyền của Tổng Thống Diệm v́ Tổng Thống Diệm cương quyết không chấp nhận chính sách can thiệp chính trị và quân sự của người Mỹ, là chính sách đi ngược lại ư nguyện và quyền lợi của dân chúng Nam Việt Nam.

* Ngày 11.6.1963: Thượng Tọa Thích Quảng Đức tự thiêu ngay tại Trung Tâm Thủ Đô Sài G̣n, để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ. Dư luận dân chúng trong nước và thế giới bị xúc động mạnh. Báo chí trong và ngoài nước, các cơ quan truyền thông khác, nhất là tại Mỹ (đă bị lâm trận hoả mù của bọn Lobbyists nói ở trên) khai thác tối đa vụ này theo chiều hướng ‘’Phải thay thế ngay người lănh đạo chính quyền Nam Việt Nam’’. Đang cơn dầu sôi lửa bỏng như thế th́ Bà Ngô Đ́nh Nhu, v́ tức giận người Mỹ và lực lượng đấu tranh nên đă nóng giận, mất sự khôn ngoan, b́nh tĩnh cần thiết trước t́nh thế bất lợi cho chính phủ. Bà Nhu lên tiếng mạt sát, thóa mạ cuộc tự thiêu của Thượng Tọa Quảng Đức. Thật là ‘’Lửa đă đỏ lại đổ thêm dầu’’. Điều này làm cho dư luận dân chúng thêm phẫn nộ, nghiêng hẳn về phía lực lượng đấu tranh chống chính phủ.

* Ngày 27.6.1963: Thấy t́nh h́nh Sài G̣n rối loạn, khó gỡ được ra, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy bổ nhiệm Ông Henry Cabot Lodge, thuộc Đảng Cộng Ḥa, sang Sài G̣n giữ chức vụ Đại Sứ Hoa Kỳ, thay thế cho Đại Sứ Nolting, người đang tỏ ra bất lực trong việc gỡ rối cho t́nh h́nh Sài G̣n theo chiều hướng có lợi cho chính sách của Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Thực tâm Tổng Thống Kennedy là chỉ gỡ rối sao cho êm đẹp, thuận lợi cho đường lối, chính sách của Hoa Kỳ, của Ông Kennedy, chớ Ông Kennedy lúc này không hề nghĩ đến việc lật đổ Ông Diệm, nhất là không bao giờ nghĩ đến việc phải giết Ông Diệm. Ông Cabot Lodge được giới chính trị và truyền thông Hoa Kỳ coi là ‘’Một con cáo già chính trị’’ và đồng thời là một ‘’Chuyên viên đảo chánh’’, và hiện đang theo đuổi một chính sách mang tính cách ‘’Diều hâu’’ khác hẳn với Ông Kennedy về vấn đề Việt Nam. Một Cabot Lodge, cáo già chính trị, chuyên viên đảo chánh, không cùng 1 Đảng với Ông Kennedy, thuộc Đảng Cộng Ḥa, có nhiều liên hệ với quyền lợi của bọn tài phiệt buôn bán chiến tranh, mà sang làm Đại Sứ Mỹ tại Sài G̣n th́ t́nh h́nh sẽ ra sao? Cabot Lodge được cử sang Sài G̣n với nhiệm vụ ‘’gỡ rối-Untangling’’ t́nh h́nh, nhưng Cabot Lodge lại quyết định chọn ‘’phương cách gỡ rối’’ bằng một ‘’Cuộc đảo chánh-Coup d’état’’ êm ái, nhẹ nhàng, không chọc giận Ông Kennedy, sinh trưởng trong 1 gia đ́nh theo Đạo Thiên Chúa, nghĩa là chỉ cần đẩy Ông Diệm ra khỏi ngôi vị lănh đạo chính quyền Nam Việt Nam, đưa Ông Diệm đi sống lưu vong ở một quốc gia nào đó nằm trong ‘’Quỹ đạo chính trị-Political circle’’ của Hoa Kỳ, như Đài Loan, Thái Lan chẳng hạn là đủ rồi. Sau đó, Cabot Lodge sẽ dựng lên một thứ chính quyền mới hoàn toàn biết vâng phục theo ư muốn của Hoa Kỳ, hay đúng ra trong lúc này, là ư muốn của ‘’Giới tài phiệt-Financial Oligarchy’’ của Mỹ đang tính chuyện kiếm lời thật lớn lao trong cuộc chiến tranh đang xẩy ra trên đất nước Việt Nam nhỏ bé nhưng đầy đau khổ, máu xương và nước mắt này…

Đó! Câu trả lời cho cái đầu đề của bài viết này ‘’Tại sao có cuộc đảo chánh lật đổ Ông Ngô Đ́nh Diệm?’’ tưởng đă đủ rơ ràng, khả dĩ góp phần nhỏ bé vào việc làm sáng tỏ 1 trang lịch sử cận đại của một đất nước, một dân tộc anh hùng, nhưng quá bé nhỏ trước nanh vuốt của một bầy thú dữ khổng lồ...

San Diego, California

Phan Đức Minh

 

Tài liệu tham khảo:

* The Death of A Nation. John A. Stormer. Liberty Bell Press, Missouri, 1978.

* The World Almanac of The Vietnam War. John S. Bowman (General Editor). Bison Books Corp. New York,1985.

* Vietnam: The History & The Tactics. Ahsley Brown & Adrian Gilbert. Orbis Publishing Limited. London,1982...

* The Final Days. Bob Woodward & Carl Bernstein. The Hearst Corporation. New York, 1976.

* Kennedy. Theodore Sorensen. Harper & Row. New York, 1965.

* A Book of U.S. Presidents. George Sullivan. Scholastic Incorporation. New York, 1984.

 

 

Theo kư-giả Nguyễn Cần (TÚ GÀN):

 

        Ngày 8.10.1963, Giáo sư Bửu Hội ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tŕnh bày đề nghị của chính phủ VNCH và xin Liên Hiệp Quốc cử một phái đoàn sang Việt Nam xem xét về vụ Phật Giáo.

Trên đường trở về Việt Nam, Giáo sư Bửu Hội và phái đoàn đă ghé Washington thăm Ṭa Đại Sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ và thông báo một số chỉ thị cần thiết của Tổng Thống. Khi phái đoàn của Giáo Sư Bửu Hội vừa đến Washington th́ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đă mời Giáo sư Bửu Hội đến nói chuyện. Nhưng khi phái đoàn đến th́ Bộ Ngoại Giao bắt phái đoàn phải ngồi ở ngoài, chỉ mời riêng Giáo sư Bửu Hội vào nói chuyện với Thứ Trưởng Averell Harriman, người chủ mưu đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Sau cuộc tiếp xúc, Giáo sư Bửu Hội cho phái đoàn biết Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thuyết phục Giáo sư tuyên bố chống chế độ Ngô Đ́nh Diệm và hứa sẽ cho làm Thủ Tướng sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ. Giáo sư Bửu Hội chẳng những không đồng ư mà c̣n phái một đặc sứ trong phái đoàn về ngay Saigon báo tin cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm biết. Sau đó, Giáo sư đă đích thân trở về Việt Nam báo cáo mọi việc đă xẩy ra.

(Trích từ bài Thích Trí Quang và Giấc Mơ Lănh Tụ - Saigon Nhỏ ngày 26.10.2001

 
NHẬN DIỆN HUNG THỦ
1963 1963 - 1975 1963 - 1975 - 2010

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage