Tưởng nhớ ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA
Lâ Văn Ấn
Một bài học lịch sử quan trọng, một tấm gương trung
liệt, một lòng ái quốc sắt son chẳng những của riêng cố Tổng Thống Ngô
Đình Diệm mà còn của cố vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn. Cả ba
người con của dòng họ Ngô, hay đúng hơn toàn thể gia đình cụ Ngô Đình
Khả đều hết lòng vì nước, vì dân trong một giai đoạn đặc biệt lịch sử
Việt Nam. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng biến cố đau thương và tủi
nhục của dân tộc Việt Nam vẫn như mới xảy ra hôm qua đối với những ai đã
sống trong thập niên 60 của thế kỷ trước. Khi 2 anh em Tổng Thống
Kennedy lần lượt bị ám sát, nhiều người cho rằng Thượng Đế trừng phạt họ
vì đã thảm sát 2 anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng chẳng qua đó chỉ
là một cách giải thích để tự an ủi quốc gia mình đã mất đi một cơ hội
bằng vàng để củng cố nền độc lập, tự do dân chủ còn mới mẻ đối với đất
nước và kiến tạo cuộc sống hòa bình, hạnh phúc ấm no thực sự cho dân tộc
Việt Nam mà thôi.
Gần nửa thế kỷ qua rồi mà nhiều người còn muốn biết cặn
kẽ ai là kẻ thi hành, ai là kẻ chủ mưu sát hại gia đình họ Ngô? Vì hành
động giết người quá dã man tàn bạo, vì hậu quả của hành động dã man này
đưa lại một chuỗi ngày đau thương uất hận cho toàn dân Việt Nam . Kẻ
trực tiếp thi hành tội ác này là thiếu tá Nhung, tay chân của Dương Văn
Minh, thì ngoài Dương Văn Minh không còn ai khác. Tuy nhiên, chúng ta có
thể kết luận chính Hoa Kỳ chủ trương tiêu diệt bằng hết người của dòng
họ Ngô, vì cuộc binh biến và tàn sát này do Hoa Kỳ chủ trương. Theo
William Colby, giám đốc CIA Hoa Kỳ thời đó, đã viết trong cuốn Kennedy
in Việt Nam đã viết “Trong các công điện, người ta cứ nhắc đi, nhắc lại
rằng chính các tướng lãnh Việt Nam mới là kẻ sẽ quyết định về việc lật
đổ ông Diệm. chứ không phải chúng ta (Hoa Kỳ - chú thích của Lê Văn Ấn).
Luận điệu này dễ nghe lắm, nhưng thật ra, nó phản lại thực tế nếu bạn
nghĩ đến cái tư thế cực kỳ quan trọng của người Mỹ tại Việt Nam ” (trang
148). Chính người Mỹ đã tỏ nhiều thái độ và hành động chứng tỏ họ cương
quyết loại trừ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhưng đều thất bại, buộc lòng
phải dùng những tên thiếu căn bản giáo dục gia đình, quen sống tàn bạo
để lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Hoa Kỳ lúc đó là nước viện trợ số
một cho Việt Nam Cộng Hòa, nên khi người Mỹ quyết định cúp viện trợ cho
Việt Nam làm cho lòng người lo sợ và đổ oán thù lên người lãnh đạo quốc
gia. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã trình bày được cho quốc dân và quân đội
nên, những hành động hèn hạ này không mang lại kết quả. Hoa Kỳ đã lợi
dụng con bài Phật Giáo để mong làm một cuộc “cách mạng quần chúng” cũng
không kết quả, cuối cùng, đành phải dùng biện pháp đổ máu, một biện pháp
mà sau khi biết được, cả thế giới đều khinh bỉ Hoa Kỳ, một hạ sách. Cũng
vì vậy mà khi cả 2 anh em Kennedy lần lượt bị giết, rất nhiều người đã
lấy đó an ủi 2 anh em ông Ngô Đình Diệm.
Tại sao Hoa Kỳ phải giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm? Vì
Tổng Thống Diệm là một người cương trực, với lòng ái quốc phải tuyệt
đối, cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia, không để Hoa Kỳ thao túng số
phận của quốc gia mình. Một người đã tận tụy dâng hiến cả cuộc đời,
không màng lợi danh, không lo nghĩ riêng cho cá nhân mình, nguyện hy
sinh suốt đời cho đất nước, nhất là theo di huấn và gương sáng của thân
phụ là cụ Ngô Đình Khả để lại.
“Đày vua không Khả,
Đào mả không Bài,
Hại dân không Diệm”.
Đạt được danh hiệu này do chính quần chúng phong tặng
phải là loại vàng ròng, không tì vết, không dối trá. Cả ba người này đều
là tín hữu Công Giáo mà được xã hội hồi đó rất trọng Nho Giáo phong tặng
vinh dự này, quả thật con mắt người đời rất sáng suốt và những kẻ được
phong tặng phải có một giá trị rất cao, rất xứng đáng.
Vừa mới nhận chức không đầy một tháng, Tổng Thống Ngô
Đình Diệm trong vai trò Thủ tướng đã cáng đáng công việc khổng lồ là sắp
xếp nơi ăn chốn ở cho một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, phải đối phó
với những kẻ thân Tây trong quân đội mà Nguyễn Văn Hinh đứng đầu, phải
đối phó với nạn bè phái võ trang, với kẻ thù Cộng Sản… Ai cũng tưởng
chính phủ Ngô Đình Diệm sẽ chỉ tồn tại vài ba tháng, hoặc tối đa đến 6
tháng là cùng. Nhưng không, chỉ không đầy 2 năm mọi sự đã được ổn định,
một quốc gia mới, một chính thể Cộng Hòa ra đời, trong có kỷ cương,
ngoài có uy tín. Mọi người đều nghĩ đó là phép lạ, nhưng không phải, đó
là do lòng yêu nước, tài năng và nhất là một thời gian dài nghiên cứu,
học hỏi và chuẩn bị của gia đình họ Ngô, đem ra ứng dụng mà thôi.
Rất nhiều người khi nghiên cứu về “văn minh Việt Nam ”
đã ngạc nhiên đến thất vọng; tại sao Việt Nam không có một kỳ tích nào,
một ngôi đền, một thành lũy hay một… ngôi mộ? Sự thiếu sót này chính là
“văn minh Việt Nam ”. Vì Việt Nam luôn luôn nêu cao phẩm giá con người,
không có nô lệ, không có những vị vua nổi danh “bạo chúa” và nhất là
Việt Nam yêu chuộng cuộc sống hòa bình, giản dị từ thôn quê đến thành
thị, một cuộc sống đơn giản trong đó loài vật cũng được chăm sóc kỹ
càng:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa…
Bao giờ cây lúa còn bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”.
Có nhiều người cho rằng thuyết Nhân Vị của ông Ngô Đình
Nhu là một sự cóp nhặt giáo lý Công Giáo và học thuyết của Renouvier và
những kẻ khác! Những kẻ đó không biết, không chịu tìm hiểu, thuyết Nhân
Vị “cóp” từ trong lòng dân tộc Việt Nam qua những câu hò giản dị nói
trên! Đến trâu mà cũng còn được chăm sóc thân thiết “bên cạnh” con
người, người có lúa thì trâu có cỏ. Thuyết Nhân Vị phát xuất từ đó, cũng
vì thuyết nhân vị này mà Việt Nam không có “kỳ quan” mà hầu hết là do
“xương máu nô lệ” làm nên.
Người ta cũng rất kinh ngạc tại sao một dân tộc nhỏ bé,
sống bên cạnh một đất nước rộng lớn luôn luôn nuôi dưỡng mộng xâm lăng
“vĩ đại” của Hán Tộc mà vẫn giữ vững độc lập, bảo vệ và phát triển văn
minh, văn hóa độc đáo của mình? Tất cả yếu tố này nằm trong mấy chữ:
“phép vua thua lệ làng”. Không phải do những triều đại phong kiến tạo
nên “5 chữ vàng” nói trên mà chính lòng dân, chính ý thức văn minh của
người Việt Nam, do đó nó là thành lũy bảo vệ làng, ngay cả thiên tai,
nhờ tre cản sóng, cản gió, nhờ sống sau lũy tre mà mọi người đều biết
nhau, chức sắc trong làng hiểu rõ mỗi dân làng mình, nên dễ có một nếp
sống hòa bình. Đến khi có chiến tranh với ngoại xâm, mỗi làng trở thành
một pháo đài cản trở giặc. Từ tinh thần yêu chuộng hòa bình, yêu chuộng
lũy tre bảo vệ bao đời mà ông cố vấn Ngô Đình Nhu đã sáng tạo nên “Ấp
Chiến Lược”. Lấy chính cái văn minh của cha ông, cái tinh hoa của dân
tộc làm chiến lược tiêu diệt Cộng Sản. Kết quả của Ấp Chiến Lược là
những cán bộ cao cấp của Việt Cộng đã được chỉ thị trở về Bắc “đợi
thời”, du kích, tay chân và tai mắt của các đơn vị lớn đã bị hóa giải và
tiêu diệt lần. Những ai làm về an ninh, tình báo hồi đó chắc đã đọc qua
những tin tức du kích Việt Cộng không có tiếp tế, không có tin tức khiến
chúng phần bị đói, phần bị “mù”, bị “điếc” dễ lọt vào ổ phục kích của
ta, và cũng dễ ra chiêu hồi theo một Sắc Lệnh của Tổng Thống về chiêu
hồi được ban hành vào năm 1961, chính xác là ngày 17.4.1961. Thế nhưng,
chỉ sau mấy ngày cầm quyền, Dương Văn Minh đã ra lệnh “phá bỏ” ấp chiến
lược, tạo cơ hội cho cán bộ Việt Cộng nằm vùng sống lại, điều quan trọng
và tai hại nhất là bọn cộng sản nằm vùng đã len lỏi vào một số “nhóm
cách mạng” công khai săn lùng và tiêu diện cán bộ xã ấp của VNCH với
danh nghĩa “diệt dư đảng Cần Lao”. Đúng là những tên đâm thuê chém mướn.
Cái độc ác của Hoa Kỳ và đám tướng lãnh đánh thuê là đã
tận diệt gia đình họ Ngô, sau khi hai anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình
Nhu bị giết, ông Ngô Đình Cẩn, mặc dù đã tị nạn tại tòa đại sứ Mỹ, cũng
bị Nguyễn Khánh tiếp tục thi hành lệnh của Mỹ giết cho bằng được, dù
không đủ yếu tố buộc tội, dù phải tạo ra một luật mới để giết ông Cẩn
với hiệu lực hồi tố, một hiệu lực mà tất cả các luật lệ được ban hành
trên thế giới văn minh, ít ai làm chuyện đó.
Để có một xã hội lành mạnh, bài trừ tứ đổ tường trở
thành quốc sách, xã hội ngày càng phát triển, an ninh ngày càng được
củng cố, một cuộc “cách mạng cộng đồng và đồng tiến” âm thầm nhưng kết
quả tốt. Những kẻ chống đối cho rằng chế độ Ngô Đình diệm độc tài, độc
đảng. Nhưng trên thực tế rất uyển chuyển. Họ Ngô biết bề dày chống Cộng
của Việt Nam Quốc Dân Đảng nên khi mới nhậm chức, trong cương vị Thủ
tướng, ông Ngô Đình Diệm đã trao 3 tỉnh địa đầu giới tuyến là Quảng Trị,
Thừa Thiên, Quảng Nam-Đà Nẵng cho Quốc Dân Đảng quản trị, từ tỉnh trưởng
cho đến cấp trưởng các sở đều là người của Quốc Dân Đảng. Thế nhưng, chỉ
một thời gian ngắn, đảng này đã thành lập chiến khu Ba Lòng để chống lại
chính phủ!
Quốc Dân Đảng cho rằng vụ Ba Lòng vì “Huế” của ông Ngô
Đình Cẩn đột ngột đình chỉ kế hoạch của Quốc Dân Đảng tại Quảng Trị, bị
uất ức nên vụ chiến khu Ba Lòng “nổ” ra. Một đảng phái chỉ vì không thực
hiện được một kế hoạch “ích quốc lợi dân tại Quảng Trị” mà tạo phản,
chắn chắn không ai dám xác nhận điều đó, vì nó phản lại tôn chỉ quốc gia
chống Cộng. Thế còn Quảng Nam cũng đã được trao quyền cho Quốc Dân Đảng
vì duyên cớ gì mà chút nữa cũng có biến cố lớn?
Khi cờ đến tay, có một Phó Thủ Tướng là ông Nguyễn Tôn
Hoàn, một Tổng Trưởng Nội Vụ là ông Hà Thúc Ký, một Tổng Giám Đốc Cảnh
Sát Công An là Trung Tá Phạm Văn Liễu, và nhiều chức vụ cao cấp, trung
cấp đều do đảng của ông Nguyễn Tôn Hoàn đảm nhiệm. Nhưng chỉ một thời
gian ngắn sau, có tin ông Tổng Trưởng Nội Vụ Hà Thúc Ký thả những tên VC
gộc mà nhân viên Công an đã khổ công theo dõi, điều tra và bắt giam với
những tài liệu chứng minh. Chúng được thả ra chỉ vì đã lo tiền. Thả cán
bộ cao cấp của VC để chúng tiếp tục làm VC thì trên thực tế có thể chứng
minh, còn vì tiền hay không thì chưa biết. Nhưng dù vì tiền hay không,
việc thả hổ VC về rừng là một hành vi phản bội công cuộc chống cộng của
toàn dân miền Nam !
Trong cuốn “Trả ta Sông Núi”, Trung tá Phạm Văn Liễu đã
tỏ ra rất uất ức khi cho rằng ngay sau khi ông thôi chức TGĐ CSCA, một
quản gia của Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi là người bạn thân của ông từ
Căm Bốt, đã bị bắt. Sự thật đây là một tên tình báo chiến lược VC, thuộc
cấp của ông Liễu đã trình hồ sơ cho ông, thế mà ông, một đảng viên Đại
Việt bảo vệ cho đến cùng. Cũng trên cuốn sách này, ông Phạm Văn Liễu
cũng đã thú nhận ông đã lấy hơn 100 khẩu súng đủ loại do Pháp trao lại,
giao cho người của Đảng Đại Việt ở Hội An để sau này dùng nó mà phản
loạn! Bị khám phá, ông Liễu chỉ bị “đày qua Mỹ du học”!
Hành động cao đẹp cuối cùng của ông Ngô Đình Diệm là ra
lệnh cho Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống đầu hàng để khỏi tốn xương
máu của binh sĩ, không chấp nhận cứu viện cũng cùng mục đích trên. Và
người ta đã đáp trả cử chỉ hào hùng đó bằng cách ám sát một cách đê hèn.
Một vấn đề làm nhiều người nghi ngờ, Tổng Thống Ngô Đình
Diệm có đàn áp Phật Giáo hay không? Để trả lời câu hỏi này, không có cơ
quan nào đủ tư cách cho bằng Liên Hiệp Quốc. Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc
ngày 7.10.1963, 15 nước Á Phi đòi đưa vụ Việt Nam đàn áp tôn giáo ra
thảo luận và gởi một phái đoàn qua Việt Nam điều tra. Giáo sư Bác học
Bữu Hội, một Phật tử thuần thành, đại diện cho Việt Nam đã phát biểu:
"Việt Nam là một quốc gia độc lập, có hoàn toàn chủ quyền, không cho bất
cứ tổ chức nào đến “điều tra”. Nhưng chính phủ VN mời một phái đoàn Liên
Hiệp Quốc sang tìm hiểu về vấn đề Phật giáo. Phái đoàn có quyền bất cứ
nơi đâu, tiếp xúc với bất cứ thành phần nào, kể cả những người đang bị
giam giữ, nhất là VIỆT NAM SẼ CHẤP NHẬN BẤT CỨ NHỮNG KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN
CÁO NÀO CỦA LIÊN HIỆP QUỐC.” Phái đoàn của Liên Hiệp Quốc gồm đại diện
các nước: Afghanistan, Ba Tây, Siri Lanka, Costa Rica, Dahomey, Ma Rốc,
Nepal. Phái đoàn đã được hưởng tất cả những gì giáo sư Bửu Hội đã hứa,
được đi khắp nơi, không theo một lộ trình dự trù trước và tiếp xúc với
nhiều phần tử chống đối. Chính Cabot Lodge cũng không tin VN làm điều
đó, nhưng đó là sự thật. Kết quả, Phái Đoàn, ngày 4.11.1963, nghĩa là
sau khi đảo chánh 3 ngày, trở về xứ và đưa ra một bản kết quả điều tra:
KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM, dù cuộc điều tra kết thúc
sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị sát hại.
Dĩ nhiên, chế độ Đệ Nhứt Cộng Hòa cũng có những khuyết
điểm, vì họ là những con người không làm sao không có khuyết điểm, nhất
là tiếp nhận một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu vừa giành được độc lập với
những hậu quả của cuộc chiến dai dẳng chống thực dân. Dù sao, những
khuyết điểm đó không thấm vào đâu so với những thành quả mà Đệ Nhứt Cộng
Hòa đã thực hiện cho dân, cho nước, bên cạnh là tấm gương trung liệt của
vị Tổng Thống với Tổ Quốc Việt nam.
Viết lên sự thật về biến cố 1.11.1963 như một nén hương
lòng dâng lên vị lãnh đạo nền Đệ Nhất Cộng Hòa, chí sĩ Ngô Đình Diệm và
bào đệ người là cố vấn Ngô Đình Nhu, sau nữa để mọi người hồi tâm chuyển
ý, lấy gương trung liệt của dòng họ Ngô làm kim chỉ nam cho hoạt động
chính trị vì dân vì nước của mình.