Thưa
Tổng thống,
Chúng tôi kư tên
dưới đây, đại diện
cho một nhóm đồng
bào, nhân vật và trí
thức tên tuổi thuộc
mọi xu hướng, nhóm
những người thiện
chí nhận thấy rằng
đối diện với sự trầm
trọng của t́nh h́nh
chính trị hiện nay,
chúng tôi không thể
cứ bàng quan với
những thực tế của
nước ta.
V́ vậy, chúng tôi
chính thức gửi đến
Tổng thống hôm nay
lời kêu gọi, với mục
đích phơi bày với
Tổng thống tất cả sự
thật trong niềm hy
vọng là chính quyền
sẽ lưu tâm để gấp
rút thay đổi chính
sách, hầu cứu văn
t́nh h́nh hiện nay
để đưa quốc dân ra
khỏi cơn nguy biến.
Chúng ta hăy nh́n
lại dĩ văng thời
Tổng thống c̣n ở
nước ngoài. Đă 8, 9
năm qua, dân tộc
Việt Nam trải qua
nhiều thử thách do
chiến tranh mang lại;
từ sự độ hộ của Pháp
đến việc chiếm đóng
của Nhật, từ cách
mạng cho đến kháng
chiến, từ việc Cộng
Sản núp sau chiêu
bài quốc gia để gạt
gẫm cho đến nền độc
lập giả tạo che dấu
nền thực dân, từ
kinh hoàng này đến
kinh hoàng khác, hy
sinh liên tục - nói
tóm lại từ hứa hẹn
này đến hứa hẹn khác,
cuối cùng cho đến
khi niềm hy vọng kết
thúc bằng một sự
thất vọng chua cay.
V́ vậy, khi Tổng
thống sắp sửa hồi
hương, toàn dân đă
nuôi mối hy vọng là
dưới sự lănh đạo của
Tổng thống, toàn dân
sẽ lại t́m thấy được
nền Ḥa b́nh cần
thiết để đem lại ư
nghĩa cho cuộc sống,
để dựng lại ngôi nhà
đă bị phá hủy, để
đặt lại được cái cày
trên những mảnh đất
từng bị bỏ hoang.
Nhân dân hy vọng
rằng không c̣n bị
bắt buộc buổi sáng
hoan hô một chế độ,
buổi chiều hoan hô
một chế độ khác,
không c̣n là con mồi
cho sự tàn bạo và áp
lực của một phe phái
nào, không c̣n bị
đối xử như cu-li,
không c̣n một nền
độc quyền nào thao
túng, không c̣n bị
sự cướp bóc của công
chức tham nhũng và
độc đoán. Nói tóm
lại, nhân dân ước
mong được sinh sống
trong sự an ninh,
dưới một thể chế sẽ
đem lại cho họ một
chút công lư và tự
do. Toàn dân nghĩ
rằng Tổng thống sẽ
là con người của
thời thế và sẽ đáp
ứng được nguyện vọng
của họ.
Lúc Tổng thống mới
về nước th́ t́nh
trạng quốc gia như
thế đó. Hiệp ước
Genève năm 1954 chấm
dứt cuộc chiến và sự
tàn phá của chiến
tranh. Quân đội viễn
chinh Pháp tuần tự
rút đi và nền độc
lập cho miền Nam
Việt Nam trở thành
một sự thật. Ngoài
ra, nước nhà c̣n
được sự khích lệ
tinh thần và được
hưởng sự viện trợ
đáng kể của thế giới
tự do. Với nhiều yếu
tố chính trị thuận
lợi như thế thêm vào
những điều kiện địa
dư may mắn có được
đất đai màu mỡ về
nông lâm sản và
thặng dư về hải sản,
đáng lẽ miền Nam
Việt Nam đă phải đủ
sức để bắt đầu đi
đến thắng lợi cuối
cùng trong cuộc
chiến đấu với miền
Bắc, để có thể thỏa
măn được ư dân và
đưa đất nước đến hy
vọng, tự do và hạnh
phúc. Ngày này, sáu
năm sau, sau khi
hưởng được nhiều lợi
điểm không thể chối
căi đến như thế,
Chính phủ đă làm
được những ǵ? Chính
phủ đă đưa miền Nam
đi về đâu? Những ước
vọng tha thiết nào
của nhân dân đă được
thành tựu?
Chúng ta thử tổng
kết t́nh h́nh một
cách khách quan,
không xu nịnh mà
cũng không buộc tội
sai lầm, theo đúng
đường hướng xây dựng
mà chính Tổng thống
vẫn hay nói đến với
ước vọng là Chính
phủ sẽ thay đổi
chính sách để tự đưa
ḿnh ra khỏi một
t́nh trạng hết sức
hiểm nghèo cho sự
sinh tồn của quốc
gia.
VỀ CHÍNH TRỊ
Mặc dù chế độ ngoại
lai do thực dân tạo
ra và che chở đă bị
lật đổ và nhiều phe
nhóm từng đàn áp
nhân dân đă bị triệt
hạ, dân chúng vẫn
chưa t́m thấy được
một cuộc sống khá
hơn hay có nhiều tự
do hơn dưới chế độ
Cộng Ḥa do Tổng
thống thành lập. Một
hiến pháp đă được
lập ra nhưng chỉ
có h́nh thức. Và
Quốc hội tuy có đấy
nhưng những cuộc
thảo luận luôn luôn
được diễn ra chỉ
theo đường hướng của
chính quyền. Và
những cuộc bầu cử
phản dân chủ.
Toàn là những phương
pháp và “tṛ hề” bắt
chước các chế độ
Cộng Sản độc tài và
lẽ tất nhiên là
không thể đem ra để
so sánh với miền Bắc
được.
Những vụ bắt bớ
liên tục tiếp diễn
làm cho nhà giam và
khám đường đầy đến
tận nóc như hiện nay
đang xảy ra; dư luận
quần chúng và báo
chí phải câm lặng.
Cũng thế, ư dân
bị khinh nhục và chà
đạp trong những cuộc
đầu phiếu (ví dụ
trường hợp xảy ra
trong cuộc bầu cử
nhiệm kỳ 2 mới đây).
Tất cả những điều
này đă gây ra sự nản
chí và bất măn của
dân chúng.
Các chính đảng và
giáo phái đă bị loại
bỏ. Thay vào đấy là
các “Nhóm” và “Phong
trào”. Nhưng sự thay
thế này chỉ đem đến
những điều áp bức
mới cho dân
chúng mà không che
chở được cho dân
chúng của các giáo
phái từ trước vẫn là
những vùng tử địa
của Cộng Sản th́ nay
không những đă mất
hết an ninh (cho
người Quốc gia) mà
c̣n trở thành những
đại lộ cho du kích
Việt Cộng mà t́nh
trạng chung như thế
xảy ra khắp nơi.
Đây là chứng cớ cho
thấy rằng các giáo
phái tuy nhỏ nhoi
không đáng kể đă là
những thành phần
chống Cộng hữu hiệu.
Việc triệt hạ các
giáo phái đă mở
lối cho Việt Cộng và
vô t́nh dọn đường
cho kẻ thù, trong
khi một chính sách
thực tế và uyển
chuyển hơn đă có thể
liên kết họ về chung
thành một khối để
tiếp sức cho trận
tuyến chống Cộng.
Ngày nay, nhân dân
muốn được tự do.
Đáng lẽ Tổng thống
nên mở rộng chế độ,
khuyến khích nền dân
chủ, bảo đảm các
quyền công dân
tối thiểu và công
nhận đối lập hầu
dân chúng được nói
lên tiếng nói của
ḿnh mà không sợ hăi
để dẹp được sự bất
măn và căm thù, v́
đối với dân chúng,
thế đối lập là lư do
độc nhất cho họ tồn
tại. Khi Tổng thống
thực hiện xong được
những điều này th́
nhân dân miền Nam
Việt Nam có thế đứng
của ḿnh đối với
miền Bắc mà nhận ra
được giá trị của một
nền tự do thật sự và
một nền dân chủ chân
chính. Chỉ đến lúc
đó dân chúng mới sẽ
nỗ lực và hy sinh
tối đa để bảo vệ sự
tự do và nền dân chủ
ấy.
VỀ CHÍNH QUYỀN
Lănh thổ thu hẹp
lại, số công chức
lại tăng lên mà việc
quản trị lại không
chạy. Ấy là v́ chính
quyền giống như Cộng
Sản, đă để cho
các đoàn thể chính
trị (của chính
quyền) kiểm soát
người dân, tách
rời nhóm ưu tư ra
khỏi hạ tầng và gieo
rắc sự nghi ngờ giữa
những kẻ liên hệ với
“đoàn thể” và những
người “ngoài đoàn
thể”. Thực quyền
không c̣n ở trong
tay của những người
đáng lư có trách
nhiệm của “gia
đ́nh”, nơi từ đó các
mệnh lệnh được
truyền ra. Điều này
làm cho guồng máy
hành chánh bị chậm
lại, làm tê liệt mọi
sáng kiến và làm nản
ḷng mọi người có
thiện chí. Đồng
thời, không một
tháng nào trôi qua
mà báo chí không
đăng đầy những
chuyện hối lộ không
thể che dấu được,
những chuyện này trở
thành một chuỗi dài
những giao dịch phi
pháp hằng triệu bạc.
Guồng máy hành
chánh, vốn đă bị
đ́nh trệ bây giờ hầu
như hoàn toàn trở
nên tê liệt. Nền
hành chánh cần được
cải tổ gấp rút.
Những người có khả
năng phải được đặt
đúng vào những chức
vụ từ trên xuống
dưới, hệ thống hành
chánh và kỷ luật
phải được tái lập,
quyền lực và trách
nhiệm phải đi đôi
với nhau; sự hữu
hiệu, sáng kiến,
ḷng ngay thẳng và
tính cần kiệm phải
là những tiêu chuẩn
để dùng vào việc
thăng thưởng, khả
năng nghề nghiệp
phải được tôn trọng.
Phải loại trừ
t́nh trạng ban phát
ân huệ bằng vào
những liên hệ gia
đ́nh hay phe phái.
Những kẻ buôn bán
quyền hành, tham
nhũng và lạm dụng
quyền thế phải bị
trừng trị.
Có như thế th́ mọi
chuyện vẫn c̣n có
thể cứu văn được,
nhân phẩm c̣n có thể
phục hồi, và có thể
dựng lại niềm tin
vào một chính quyền
thành thật và công
b́nh.
VỀ QUÂN ĐỘI
Quân đội viễn chinh
đă ra khỏi nước và
một quân đội Cộng
Ḥa đă được thành
lập; nhờ vào viện
trợ Hoa Kỳ quân đội
này đă được trang bị
với quân trang quân
cụ tối tân. Tuy
nhiên ngay cả trong
lực lượng thanh niên
kiêu hănh như Quân
đội Việt Nam - nơi
mà đáng lư tinh thần
danh dự phải được
vun xới, gồm những
kẻ mà bầu nhiệt
huyết và những cánh
tay phải được tận
dụng vào việc bảo vệ
quốc gia, nơi mà
đáng lẽ phải vắng
bóng đầu óc phe phái
- th́ tinh thần
“Phong trào Cách
mạng Quốc gia” hoặc
tinh thần “Nhân vị”
đă chia rẽ những
kẻ cùng chung một
đơn vị, gây ngờ vực
giữa những bạn đồng
ngũ đồng cấp và
lấy “sự trung
thành với một đảng
để tùng phục mù
quáng những kẻ lănh
đạo đảng” làm
tiêu chuẩn thăng
thưởng. Điều này đă
tạo ra những điều
kiện cực kỳ nguy
hiểm, như trong vụ
vừa xảy ra ở Tây
Ninh. (Bernard
Fall ghi chú: Vụ sư
đoàn 21 bị Việt Cộng
tấn công đầu năm
1960).
Nhiệm vụ của quân
đội, rường cột của
việc bảo vệ quê
hương, là chận đứng
những cuộc ngoại xâm
và tiêu diệt các
phong trào nổi loạn.
Quân đội chỉ phục vụ
quốc gia và không
nên để cho một phe
nhóm hay đảng phái
nào lợi dụng. Việc
cải tổ toàn diện
quân đội là một điều
cần thiết. Đầu óc
phe phái và sự trung
thành với một đảng
phải được loại bỏ;
tinh thần quân đội
phải được tái phục
hồi cho mạnh lên,
phải tạo ra một
truyền thống cao đẹp
về niềm hănh diện
quốc gia; và tinh
thần chiến đấu,
lương tâm nghề
nghiệp và ḷng can
trường phải là những
tiêu chuẩn dùng
trong việc thăng
thưởng. Phải khuyến
khích binh sỹ biết
kính trọng cấp trên
và phải khuyến khích
sĩ quan phải biết
yêu thương binh sĩ.
Phải loại bỏ ḷng
ngờ vực, ganh tỵ và
đố kỵ giữa những kẻ
đồng đội, đồng ngũ.
Có như thế, gặp thời
nguy biến quốc gia
sẽ có được một quân
đội hào hùng thúc
đẩy bởi một tinh
thần và có cùng một
lư tưởng: bảo vệ cho
cái sở hữu chúng ta:
quê hương Việt Nam.
VỀ KINH TẾ VÀ XĂ
HỘI
Một xứ sở giàu có
và ph́ nhiêu với
thực phẩm dư thừa,
một ngân sách không
cần phải đối phó với
những chi phí Quốc
pḥng, (chi phí
Quốc pḥng của miền
Nam Việt Nam do kinh
viện và quân viện
của Hoa Kỳ đài thọ:
ghi nhận thêm của
Bernard Fall)
những ngân khoản bồi
thường chiến tranh
lớn lao, mức lời cao
đẻ ra từ công khố
phiếu quốc gia, một
chương tŕnh ngoại
viện khổng lồ, một
thị trường bành
trướng và đủ sức
nhận vốn đầu tư của
ngoại quốc. Đó là
nhiều điều kiện
thuận lợi có thể
biến Việt Nam thành
một quốc gia sản
xuất cao và thịnh
vượng. Thế mà hiện
nay nhiều người
không có việc để
làm, không có nhà để
ở và không có tiền
bạc. Gạo nhiều
nhưng bán không
được, các tiệm đầy
hàng mà hàng hóa lại
không di chuyển -
nguồn lợi nằm trong
tay những kẻ đầu cơ,
dùng phe nhóm, đoàn
thể của chính quyền
để che dấu việc buôn
bán độc quyền
đem lợi về cho một
thiểu số tư nhân.
Trong lúc đó, hằng
ngàn dân bị huy động
đi làm việc cực
nhọc, bị ép buộc
phải rời bỏ công ăn
việc làm, nhà cửa
gia đ́nh của ḿnh để
tham gia vào công
tác xây dựng những
“Khu Dinh Điền”
tuy đồ sộ nhưng vô
ích. Điều này
làm họ mỏi mệt và
mất thiện cảm với
chính quyền càng làm
cho mối bất măn
thêm trầm trọng và
tạo một môi trường
lư tưởng cho công
tác tuyên truyền của
địch.
Kinh tế là nền móng
của xă hội và ḷng
dân là yếu tố sống
c̣n của chế độ.
Chính quyền phải phá
tan mọi chướng ngại
cản trở việc mở mang
kinh tế. Phải hủy bỏ
sự độc quyền và đầu
cơ dưới mọi h́nh
thức; phải tạo môi
trường thuận tiện
cho việc đầu tư đến
từ phía các quốc gia
thân hữu cũng như từ
chính nhân dân của
ta; phải khuyến
khích kinh doanh
thương mại, khuếch
trương kỹ nghệ và
tạo công ăn việc làm
để giảm thiểu t́nh
trạng thất nghiệp.
Đồng thời, chính
quyền phải chấm
dứt sự bóc lột con
người dưới mọi
h́nh thức trong các
công trường lao động
của những “Khu Dinh
Điền”.
Có thế nền kinh tế
mới lại phát triển,
người dân mới t́m
lại được cuộc sống
an b́nh và mới được
thụ hưởng đời sống
của ḿnh, xă hội mới
được tái thiết trong
một bầu không khí tự
do và dân chủ.
Thưa Tổng thống, có
lẽ đây là lần đầu
tiên Tổng thống
mới được nghe lời
phê b́nh gắt gao và
khó chịu ngược lại
với ư muốn của Tổng
thống. Tuy nhiên,
thưa Tổng thống,
những lời tŕnh bày
ở đây là sự thật
hoàn toàn, một sự
thật cay đắng nặng
nề mà Tổng thống
chưa bao giờ biết
được v́ dù vô t́nh
hay chủ ư, một
khoảng trống quanh
Tổng thống đă được
tạo ra và chính v́
cái địa vị cao cả
của Tổng thống mà
không ai để cho Tổng
thống nhận ra được
thời kỳ nghiêm trọng
khi mà sự thật sẽ
tràn tới như những
làn sóng căm hờn
không cưỡng nổi, sự
căm hờn của nhân dân
đă từ rất lâu phải
nhận chịu sự đau khổ
khủng khiếp đến
một lúc sẽ vùng lên
bẻ gẫy những ràng
buộc từng cột chặt
ḿnh, đè ḿnh xuống.
Làn sóng này sẽ quét
sạch sự ô nhục và
bất công vốn bao
quanh người dân đă
áp bức họ.
V́ chúng tôi hoàn
toàn thành thật
không muốn thấy Quê
Cha Đất Tổ phải trải
chịu những ngày
tháng hiểm nghèo đó
nên chúng tôi -
không kể đến những
hậu quả do hành động
của chúng tôi sẽ
mang lại cho chúng
tôi - hôm nay gióng
lên tiếng chuông báo
động trước mối nguy
cơ cấp thiết đang đe
dọa chính quyền.
Cho đến nay, chúng
tôi đă giữ im lặng
và để cho chính
quyền mặc ư hành
động. Nhưng bây giờ
đă đến lúc khẩn
thiết, chúng tôi cảm
thấy rằng bổn phận
của chúng tôi - và
trong lúc nước nhà
gặp cảnh rối loạn
th́ ngay cả những kẻ
hèn kém nhất cũng
phải chia xẻ bổn
phận này - là phải
nói lên sự thật,
thức tỉnh dư luận,
báo động với nhân
dân, và liên kết
những kẻ đối lập, để
cho thấy lối thoát.
Chúng tôi thỉnh cầu
chính quyền gấp thay
đổi chính sách để
cứu văn t́nh thế,
bảo vệ chế độ Cộng
Ḥa và bảo vệ sự
sống c̣n của quốc
gia. Chúng tôi giữ
vững niềm hy vọng là
dân tộc Việt Nam sẽ
có một tương lai
sáng lạn để được
hưởng thanh b́nh và
thịnh vượng trong Tự
Do và Tiến Bộ.
Trân trọng
1. Trần Văn Văn
(quê Nam phần, Tam
giáo) Bằng Cao học
Thương mại, cựu Bộ
trưởng Kinh tế và Kế
hoạch.
2. Phan Khắc Sửu
(quê Nam Phần, Cao
Đài) Kỹ sư Canh
Nông, cựu Bộ trưởng
Canh Nông.
3. Trần Văn Hương
(quê Nam phần, Tam
giáo) Giáo sư Trung
học, cựu Đô trưởng
Sài G̣n-Chợ Lớn.
4. Nguyễn Lưu
Viên (quê Nam
phần, Tam giáo) Bác
sĩ Y khoa, cựu Cao
ủy Di Cư.
5. Huỳnh Kim Hữu
(quê Nam phần, Tam
giáo, một lănh tụ
thuộc nhóm Tinh
Thần) Bác sĩ Y khoa,
cựu Bộ trưởng Y tế.
6. Phan Huy Quát
(quê Trung phần, Tam
giáo, một lănh tụ
thuộc đảng Đại Việt)
cựu Bộ trưởng Quốc
pḥng và Giáo Dục.
7. Trần Văn Lư
(quê Trung phần,
Thiên Chúa giáo, cựu
đồng chí của Tổng
thống Diệm trong
phong trào Cường Để)
cựu Thủ hiến
Trung-Việt.
8. Nguyễn Tiến Hỷ
(quê Bắc phần, Tam
giáo, một lănh tụ
Việt Nam Quốc Dân
Đảng) Bác sĩ Y khoa.
9. Trần Văn Đỗ
(quê Nam phần, Tam
giáo, lănh tụ nhóm
Tinh Thần, nhóm đă
ủng hộ lập trường
chính trị của ông
Diệm vào mấy năm
trước kho ông Diệm
cầm quyền). Bác sĩ Y
khoa. Cựu Bộ trưởng
Ngoại giao và Trưởng
phái đoàn Việt Nam
tại Ḥa Hội Genève
năm 1954.
10. Lê Ngọc Chấn
(quê Bắc phần, Tam
giáo, một lănh tụ
của Việt Nam Quốc
Dân Đảng) luật sư,
cựu Bộ trưởng Quốc
pḥng.
11. Lê Quang Luật
(quê Bắc phần, Thiên
Chúa giáo, lănh tụ
Phong trào Liên hiệp
Dân chúng ủng hộ ông
Ngô Đ́nh Diệm khi
ông Diệm c̣n ở hải
ngoại) Luật sư, nhà
báo, cựu đại diện
Chính phủ tại Bắc
Việt sau khi Hiệp
ước Genève ra đời,
lănh đạo việc đưa
800.000 dân di cư
vào Nam, và cựu Bộ
trưởng Thông tin.
12. Lương Trọng
Tường (quê Nam
phần, Ḥa Hảo) Kỹ sư
công chánh, cựu Thứ
trưởng Kinh tế Quốc
gia.
13. Nguyễn Tăng
Nguyên (quê
Trung phần, Phật
giáo, một lănh tụ
thuộc nhóm Tinh Thần,
một sáng lập viên
Đảng Cần Lao Nhân Vị)
Bác sĩ Y khoa, cựu
Bộ trưởng Lao Động
và Thanh Niên.
14. Phạm Hữu
Chương (quê Bắc
phần, Tam giáo) Bác
sĩ Y khoa, cựu Bộ
trưởng Y tế và Công
tác Xă hội.
15. Trần Văn
Tuyên (quê Bắc
phần, Tam giáo, một
lănh tụ của VNQDĐ)
Luật sư, cựu Bộ
trưởng Thông tin và
Tuyên truyền.
16. Tạ Chương
Phùng (quê Trung
phần, Tam giáo, cựu
đồng chí của ông
Diệm trong phong
trào Cường Để) Tú
tài Hán học, cựu
Tỉnh trưởng B́nh
Định.
17. Trần Lê Chất
(quê Bắc phần, Tam
giáo) Tiến sĩ Hán
học.
18. Hồ Văn Vui
(quê Nam phần) Linh
mục, cựu Cha sở một
họ đạo thuộc địa
phận Sài G̣n và hiện
nay là Cha sở tại
Tha La, Tây Ninh.
Ngày 26 tháng 4 năm
1960