|
Tiếp
tục vẽ lại lịch sử!
Lữ Giang
Một cuộc hội thảo về lịch sử với
đề tài “Kinh nghiệm của Hoa Kỳ ở
Đông Nam Á từ 1946 đến 1975”
(The American Experience in
Southeast Asia, 1946-1975) vừa
được tổ chức tại East
Auditorium, George C. Marshall
Conference Center của Bộ Ngoại
Giao ở Washington DC trong hai
ngày 29 và 30.9.2010. Hà Nội đă
theo dơi rất kỹ cuộc hội thảo
này v́ họ muốn biết người Mỹ
muốn nói ǵ với họ. Trong khi đó,
người Việt chống cộng ở hải
ngoại vốn có truyền thống “chống
cộng theo cảm tính”, không cần
biết Đồng Minh và Địch làm ǵ,
nên ít ai chú ư.
Cuộc hội thảo đă quy tụ các học
giả, sử gia, các nhà ngoại giao
và những người có nhiều hiểu
biết về vấn đề được thảo luận...
Đặc biệt, cựu Ngoại Trưởng Henry
Kissinger, một trong những người
quyết định số mạng của miền Nam
Việt Nam trước đây, đă đến
thuyết tŕnh và phát biểu ư kiến.
CỐ GẮNG VẼ LẠI LỊCH SỬ
Cứ mỗi lần muốn thực hiện một
chính sách mới, Hoa Kỳ thường
t́m cách giải thích lại lịch sử
theo một chiều hướng mới để biện
minh cho những chính sách thô
bạo đă từng bị lên án trong quá
khứ. Hiện nay, Hoa Kỳ đang cố
gắng vẽ lại lịch sử chiến tranh
Việt Nam để xóa dần những ấn
tượng không đẹp về nước Mỹ và mở
đường quay trở lại Đông Nam Á.
Trong quá khứ, Hoa Kỳ cũng đă cố
gắng vẽ lại lịch sử chiến tranh
Việt Nam nhiều lần, nhưng lần
này xem ra ít trắng trợn hơn, v́
có quá nhiều sự kiện lịch sử đă
được tiết lộ không c̣n có thể
căi chày căi cối hay bóp méo
được.
Có thể nói, với chiến tranh Việt
Nam, Hoa Kỳ đă có hai quyết định
rất tai hại đă làm thế giới mất
niềm tin vào Hoa Kỳ: Quyết định
thứ nhất là thuê một số tướng
lănh thiếu tư cách và khả năng
của miền Nam làm đảo chánh lật
đổ và giết Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm, đổ quân vào miền Nam Việt
Nam và giành quyền lănh đạo cuộc
chiến, đưa miền Nam vào những
ngày đen tối. Quyết định thứ hai
là bán đứng miền Nam cho Mao
Trạch Đông để rút quân ra. Lịch
sử tham dự vào cuộc chiến Việt
Nam của Hoa Kỳ đă được thu gọn
vào trong hai biến cố đó. Nhưng
biến cố thứ nhất gây nhiều nhức
nhối cho Hoa Kỳ hơn, v́ nó quá
tàn bạo, sai lầm và không thể
biện minh được.
THIÊN BẤT DUNG GIAN!
Năm 1975, sau khi miền Nam Việt
Nam bị mất, dư luận cho rằng
nguyên nhân của sự thất bại này
là do Mỹ lật đổ ông Diệm để đổ
quân vào, do đó Hoa Kỳ đă t́m
cách sửa lại lịch sử để biện
minh rằng việc lật đổ đó là do
các tướng lănh Việt Nam chủ động
chứ không do chủ trương của Hoa
Kỳ.
Vào tháng 12/1975, Thượng Viện
Hoa Kỳ đă thành lập một ủy ban
đặc biệt điều tra cơ quan CIA về
các âm mưu ám sát các lănh tụ
ngoại quốc gồm có các nhân vật
sau đây: Patrice Lumumba (cuả
Congo), Fidel Castro (của Cuba),
Rafael Trujillo (của Dominican
Republic), Ngô Đ́nh Diệm (của
Vietnam) và Rene Schneider (của
Chile). Ủy Ban này do Thượng
Nghị Sĩ Franck Church làm chủ
tịch nên thường được gọi là
“Church Committee”. Tuy cuộc
điều tra liên hệ đến 5 nhân vật,
nhưng mục tiêu chính là nhắm vào
vụ giết ông Diệm.
Bản “Phúc Tŕnh về Cuộc Đảo
Chánh ông Diệm” (Church
Committee Report on Diem Coup)
của Ủy Ban đă soạn rất cẩu thả
và cố t́nh dựa vào những sự kiện
hoàn toàn bịa đặt để biện minh
và “giải tội” cho CIA.
Về biến cố trước đài phát thanh
Huế ngày 8.5.1963, bản phúc
tŕnh viết: “Quân Đội Nam Việt
Nam ở thành phố Huế đă bắn vào
các Phật tử đang cử hành Lễ Phật
Đản, giết chết 8 người và làm bị
thương 14 người.” Trong khi đó
Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n báo
cáo rằng các nạn nhân bị tử
thương trước đài phát thanh Huế
là do chấn động của một chất nổ
chứ không phải do mănh lựu đạn (FRUS,
1961 – 1963, III, tr. 366 –
369). Bản cáo trạng truy tố Đặng
Sỹ (hiện được giữ tại Bộ Ngoại
Giao Hoa Kỳ) cho rằng đó là lựu
đại khói MK3, c̣n các chuyên
viên tin rằng đó là chất nổ
plastic. Sau này phái đoàn điều
tra Liên Hiệp Quốc cũng kết luận
như thế. Nhưng cuộc tra không
khám phá ra được ai đă đặt hay
ném trái chất nổ đó. Làm ǵ có
chuyện “Quân Đội Nam Việt Nam ở
thành phố Huế đă bắn vào các
Phật tử đang cử hành Lễ Phật Đản”?
Về cái chết của Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm, Ủy Ban lấy lời khai
bố lếu bố láo của Lucien Conein
rồi kết luận CIA không dính líu
ǵ đến vụ đảo chánh và giết ông
Diệm. Trong khi đó, có một nhân
chứng quan trọng đă được Tổng
Thống Kennedy ra lệnh điều tra
xem chuyện ǵ đă xầy ra sau cái
chết của ông Điệm, nhưng lại
không được Ủy Ban hỏi đến, đó là
ông William R. Corson, một nhân
viên CIA cao cấp tại Sài G̣n năm
1963. Đặc biệt, các tướng lănh
Việt Nam thực hiện cuộc đảo
chánh 1963 theo lệnh của CIA
đang có mặt tại Hoa Kỳ hay ở hải
ngoại như Trần Thiện Khiêm, Trần
Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất
Đính, v.v., cũng không hề được
Ủy Ban kêu ra làm nhân chứng.
Nhưng “Trời bất dung gian”! Ngày
28.2.2003, văn khố Mỹ đă công bố
đoạn băng ghi lại cuộc nói
chuyện giữa Tổng Thống Johnson
với Thượng Nghị Sĩ Eugene
McCarthay trong đó có đoạn như
sau:
“Ngài nhớ, lúc đầu họ nói với
tôi về Diệm. Ông ta tham nhũng
và ông ta phải bị giết. V́ thế,
chúng ta đă giết ông ta. Tất cả
chúng ta đă họp lại với nhau và
xử dụng một bọn ác ôn côn đồ
đáng nguyền rủa để hạ sát ông ta...”
Ít phút sau, ông lại nói với
Tướng Maxwell D. Taylor như sau:
“Họ khởi đầu và nói: "Chúng ta
phải giết Diệm, bởi v́ ông ta
không tốt. Chúng ta hăy, chúng
ta hăy lật đổ ông ta. Và chúng
ta đă làm.”
C̣n ông William R. Corson xác
nhận:
“Mọi chỉ thị từ Averell
Harriman... Các lệnh đưa đến cái
chết của ông Diệm và bào đệ của
ông ta phát xuất từ Harriman và
được phụ tá quân sự của Henry
Cabot Lodge thực hiện.”
Ngày nay, chính Tướng Trần Thiện
Khiêm cũng đă thú nhận ông làm
theo lệnh của CIA.
CHƠI TR̉ ĐÁNH LẬN CON ĐEN
Vào đầu năm 2009, hai tập sách
được nói là “tài liệu tối mật”
của CIA được công bố, một mang
tên là “CIA and the House of
Ngo: Covert Action in South
Vietnam, 1954-1963” (gồm 231
trang, 15 chương) và một mang
tên “CIA and the Generals:
Covert Support to the Military
Government in South Vietnam” (gồm
235 trang, 10 chương). Trên mỗi
tập đều có ghi rơ “SECRET” (Bí
Mật). Hai tập sách này được phổ
biến rộng răi trên Internet, bất
cứ ai cũng có thể lấy xuống để
đọc, không cần phải mua như các
tài liệu được giải mă trước đây.
Đọc hai cái đầu đề nẩy lửa của
hai tập sách nói trên, Luật sư
Trịnh Quốc Thiên đă vội chụp lấy
và hô to: “Chúng tôi hiện có
trong tay nhiều tài liệu TOP
SECRET (đă giải mật) của cơ quan
CIA để kính tường quư vị độc giả
gần xa...”! Một số “b́nh luận
gia ta” cũng đă hô to lên như
vậy, Sau đó họ trích dẫn búa xua
để phản bác những bài viết về
chiến tranh Việt Nam của nhiều
người.
Nhưng đọc kỹ lại hai “tài liệu”
đó th́ thấy đây chỉ là tṛ đánh
lận con đen của CIA. Hai tập này
không phài là hai tập “tài liệu
tối mật” của CIA mà chỉ là hai
tập sách của Thomas L. Abern, Jr
tóm lược những tài liệu mật
(classified) và không mật
(unclassified) liên quan đến
việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam
đă được công bố từ trước, chỉ có
một số nhỏ mới được công bố ngày
23.3.1999. Luật sư Trịnh Quốc
Thiên ít khảo cứu các tài liệu
lịch sử, không đọc 24.500 trang
tài liệu (mật và không mật) đă
được công bố trước đó liên quan
đến chiến tranh Việt Nam, nên
tưởng “bắt được của” và đưa ra
căi chày căi cối!
NÓI XUÔI NÓI NGƯỢC
Trong hai tập sách nói trên,
Thomas L. Abern, Jr. chỉ lượm ra
một số chuyện lặt vặt để “hoá
giải” một phần trách nhiệm của
Hoa Kỳ chứ không lược tóm tiến
tŕnh Hoa Kỳ đă can thiệp vào
miền Nam, nên người đọc không
thể có một cái nh́n tổng quát về
vai tṛ của Mỹ trong chiến tranh
Việt Nam. Tiến tŕnh đó có thể
được tóm gọn như sau:
Ngày 7.7.1954 ông Diệm bắt đầu
chấp chánh. Lập tức ngày
20.8.1954 Hội Đồng An Ninh Quốc
Gia Hoa Kỳ đưa ra nghị quyết số
NSC 5429/2 và thúc ép chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm đi theo.
Nghị quyết đó như sau:
“Pháp phải trao trả hoàn toàn
độc lập (kể cả quyền rút lui
khỏi Liên Hiệp Pháp) cho Việt
Nam và ủng hộ một chính phủ bản
xứ mạnh. Diệm phải mở rộng căn
bản chính phủ, bầu cử quốc hội,
soạn thảo hiến pháp và truất phế
Bảo Đại một cách hợp pháp.”
Để miền Nam có “một chính phủ
bản xứ mạnh”, Hoa Kỳ đă hướng
dẫn chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
thành lập một chế độ độc đảng
như Trung Hoa Quốc Dân Đảng của
Đài Loan. Chủ trương này đă bị
một số viên chức Hoa Kỳ đang
hành sự tại Việt Nam phản đối,
Nhưng Đại Sứ Reinhardt nói rằng
“một quyết định về chính sách
của Hoa Kỳ đă được được định rồi”
(a U.S. policy decision had been
made). “Người Mỹ chúng ta phải
giúp đỡ những ǵ chúng ta có thể
giúp được vào việc xây dựng một
đảng quốc gia mạnh để ủng hộ ông
Diệm. V́ ông Diệm nay là Tổng
Thống được bầu, ông ấy cần có
một đảng riêng của ông.”
Tuy nhiên, khi muốn lật đổ chính
phủ Ngô Đ́nh Diệm để đổ quân vào
và quyết định số mệnh của miền
Nam, Hoa Kỳ đă thay đổi luận
điệu, đ̣i giải tán Đảng Cần Lao
và “thực hiện dân chủ để được
ḷng dân và thắng Cộng Sản”!
Những đ̣i hỏi này và sự khai
thác phong trào đấu tranh của
Phật Giáo đă làm cho chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm bị suy yếu rồi lật
đổ.
Sau khi lật đổ chế độ Ngô Đ́nh
Diệm, Hoa Kỳ đă đưa những thành
phần thiếu khả năng về cả chính
trị lẫn quân sự lên lănh đạo
miền Nam để dễ sai khiến. Nhưng
khi muốn bỏ miền Nam, Kissinger
lại lập luận rằng miền Nam không
thể tồn tại v́ sự bất tài của
người miền Nam (it's the result
of South Vietnamese
incompetence)!
ĐƯA RA LUẬN ĐIỆU MỚI
Trong bài thuyết tŕnh tại cuộc
hội thảo về “Kinh nghiệm của Hoa
Kỳ ở Đông Nam Á từ 1946 đến
1975” đă nói trên, Kissinger
không c̣n biện minh rằng Hoa Kỳ
phải bỏ miền Nam v́ sự bất tài
của những người miền Nam mà họ
đă đưa lên cầm quyền nữa, mà
dùng một luận điệu khác.
Kissinger giải thích đại khái
như sau:
Khi mà có sự liên kết giữa vụ
Watergate với những sự chia rẻ ở
quốc nội, Hoa Kỳ phải cắt viện
trợ cho Việt Nam 2 phần 3, trong
khi đó giá dầu tăng cao, đă ngăn
chận bất cứ viện trợ quân sự nào
cho Việt Nam... Đó là sự cảm
nhận của tôi về những ǵ đă xẩy
ra. (!!!)
Chắc chắn không quốc gia nào ở
Đông Nam Á tin vào lời giải
thích này của Kissinger. Họ chỉ
coi đó như một tín hiệu cho biết
Hoa Kỳ muốn tiến sâu hơn vào
Đông Nam Á về cả kinh tế lẫn
quân sự.
V́ phải đối phó với sự bành
trướng của Trung Cộng ở Đông Nam
Á, và v́ nước Mỹ là một thị
trường tiêu thụ lớn nhất và vững
chắc nhất, các nước Đông Nam Á
đang đón Mỹ một cách khá nồng
nhiệt, nhưng nước nào cũng muốn
giữ “một khoản cách vừa phải” để
tránh những thiệt hại nặng khi
Mỹ trở mặt.
BÀI HỌC LỊCH SỬ KHÓ QUÊN
Mặc dầu Mỹ đă vẽ lại lịch sử,
nhưng chúng tôi tin rằng lời
cảnh cáo của Tổng Tống Ayub Khan
về việc ông Diệm bị lật đổ và bị
hạ sát, và lời của Thủ Tướng
Sirak Matak khi nước Cambodia bị
Mỹ bỏ rơi, vẫn là những bài học
lịch sử có giá trị đối với các
quốc gia muốn có quan hệ với Mỹ.
Trong cuốn hồi kư mang tên “The
memoirs of Richard Nixon”, Tổng
Tống Nixon có kể lại rằng khi
đến Pakistan, ông gặp lại người
bạn cũ là Tổng Tống Ayub Khan.
Tổng Thống Khan đă nói một cách
đau buồn về việc hạ sát Tổng
Tống Ngô Đ́nh Diệm như sau:
“Tôi không thể nói – lẽ ra các
ông đừng bao giờ ủng hộ ông Diệm
ngay từ đầu. Nhưng các ông đă
ủng hộ ông ta trong một thời
gian dài và mọi người ở Á Châu
đều biết điều đó. Dù họ có tán
thành hay không tán thành điều
đó, họ biết điều đó. Rồi đột
nhiên các ông ngừng ủng hộ ông
ta – và ông Diệm đă bị giết.”
Ông ta lắc đầu và kết luận:
“Việc hạ sát ông Diệm có ba ư
nghĩa đối với các nhà lănh đạo Á
Châu: làm một người bạn với Hoa
Kỳ là nguy hiểm; trung lập phải
trả cái giá của nó; và đôi khi
làm kẻ thù (của Hoa Kỳ) lại tốt
hơn! Ḷng tin cậy như một sợi
chỉ mong manh và một khi nó đă
đứt, rất khó mà nối lại.”
(Richard Nixon, The memoirs of
Richard Nixon, Touchstone, New
York 1990, tr. 256 – 257)
Ngày 12.4.1975, Thủ Tướng Sirak
Matak đă gởi cho ông John
Gunther Dean, Đại Sứ Mỹ ở
Cambodia một lá thư từ chối ra
đi với kết luận như sau: “Tôi đă
mắc một sai lầm duy nhất là tin
vào những người Mỹ!”
Sau kinh nghiệm này, không một
nhà lănh đạo quốc gia nào trên
thế giới c̣n dám “trao linh hồn
và xác” cho Mỹ như các tướng
lănh đạo miền Nam Việt Nam đă
làm trước đây.
Mặc dầu chính phủ Hoa Kỳ thường
vẽ lại lịch sử mỗi khi muốn đưa
ra một chính sách mới, các sử
gia và các học giả Mỹ vẫn nỗ lực
không ngừng trong việc trả lại
sự thật cho lịch sử.
Ngày 19.10.2010
Lữ Giang
|