|
Viết cho đúng sự thật
Lữ
Giang
Ông Trần Gia Phụng nghiên cứu khá nhiều sử liệu, nhất là
cổ sử, nhưng khi tŕnh bày, ông thường cố gắng viết “theo
lề đường bên phải”, viết cho “hợp
với ḷng dân”, hợp với dư luận ngoài phố hơn là sự
thật, do đó ông thường được hoan nghinh và có khi c̣n
được tôn là “sử gia” hay “đại sử gia”. Một thí dụ cụ thế:
Trong
bài “Chuyện một chiếc ải đă
mất”, khi nói về ải Nam Quan, ông nh́n nhận theo cổ sử:
“Danh
từ “Nam Quan” do triều đ́nh Trung Hoa đặt, có nghĩa là cánh
cửa mở xuống hay đi xuống phía nam. Như thế, khi xây dựng
cửa ải Nam Quan, triều đ́nh Trung Hoa chính thức xác nhận
đây là biên giới phía nam của nước Trung Hoa, giống như Nhạn
Môn Quan là cửa ải cực bắc Trung Hoa. Mỗi lần sứ quan một
trong hai nước bước qua cửa ải là tiến vào địa phận nước bên
kia.”
Sau
khi Trung Quốc xây ải Nam Quang xong, người Tàu xây ở phía
bắc ải một nhà tiếp tân gọi là “Chiêu Đức Đài”, ta
cũng xây một nhà tiếp tân ở phía nam ải gọi là “Ngưỡng
Đức Đài”. Như vậy là Tàu “Chiêu” (khiến cho tới
với ḿnh), c̣n ta “Ngưỡng” (ngẩng mặt nh́n lên)!
Tuy
nhiên, để vọng theo tiếng khóc ải Nam Quan (của Tàu) đang
vang lên ở ngoài phố, “sử gia” Trần Gia Phụng đă phán rằng
ải Nam Quan có hai phần: “phần kiến trúc do chính quyền
Trung Hoa xây dựng từ thế kỷ 16 gồm có cửa quan và những cơ
sở phụ thuộc phía bắc ải” là của Tàu, c̣n phần thứ hai là
Ngưỡng Đức Đài (cái nhà tiếp tân) và hai dăy hành lang tả
hữu do Đại Việt xây là phần ải Nam Quan của ta! Nói cách
khác, ông đă biến cái nhà tiếp tân của ta thành một phần của
ải Nam Quan để “ḥa cả làng”! Với tài biến hóa sử “theo
ḷng dân”, theo “lề đường
bên phải” này, ông quả là một nhà “lái sử” tài t́nh!
Tuy
nhiên, khi viết bài “Lư do cuộc đảo chính 1.11.1963”
đăng trên
dcvonline.net ngày
4.11.2009 và một số websites khác như
tuoitrevhn.com, v.v, ông
không c̣n biến chế sử “theo ḷng dân” nữa mà viết phịa sử.
Ông đă lựa chọn những “sử liệu” nhảm nhí do những kẻ có
tŕnh độ ấu trỉ về xuyên tạc lịch sử tung ra để làm căn bản
cho bài viết của ḿnh. Ông bắt chước Đỗ Mậu hay Vũ Ngự Chiêu
chỉ t́m trích dẫn những “sử liệu” phù hợp với mục tiêu “oanh
tạc” của ông, mặc dầu đó là những “sử liệu” rất nhảm nhí, và
bỏ qua những sử liệu chính thức, có căn bản không thể chối
căi được. Ông cũng không cần biết đến một tài liệu quan
trọng là bản phúc tŕnh điều tra về vụ Phật Giáo năm 1963
của phái đoàn Liên Hiệp Quốc và các tài liệu đă được giải mă
trong hơn 10 năm trở lại đây!
V́ bài
“Lư do cuộc đảo chính 1.11.1963” khá dài, trong bài
này chúng tôi chỉ xin đề cập đến mục 2 nói về “Dụ số 10
và vấn đề tôn giáo”. Chúng tôi sẽ đề cập đến những mục
khác trong những lần tiếp theo.
Trong
mục nói về nói về “Dụ số 10 và vấn đề tôn giáo” ông
đă đề cập đến hai vấn đề: Vấn đề thứ nhất: Ông trích dẫn
phịa sử để chứng minh rằng Dụ số 10 do chính phủ Trần Văn
Hữu ban hành đă ưu đăi Thiên Chúa Giáo và “quy định các tôn
giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ
phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi”. Vấn đề thứ hai c̣n
khôi hài hơn: Ông cũng viện dẫn phịa sử để cho rằng Tổng
Giám mục Huế Ngô Đ́nh Thục lúc đó đă vận động để được Ṭa
thánh La Mă phong chức Hồng Y nên t́m cách báo cáo láo với
Ṭa Thánh rằng số tín đồ trong tổng giáo phận ông gồm hai
tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị, chiếm 80% dân số khu vực. Ông
ngăn cản treo nhiều cờ Phật Giáo để Toà Thánh thấy báo cáo
của ông đúng, từ đó đưa tới biến cố Phật Giáo ở Huế năm
1963!

V́ ông
Trần Gia Phụng vốn được tôn là “sử gia” hay “đại sử gia”,
nên chúng tôi thấy cần phải tŕnh bày hai vấn đề này lại một
lần để mọi người, nhất là các tăng sĩ Phật Giáo (đặc biệt là
Hoà Thượng Chơn Thành) cho đến nay vẫn c̣n ôm Dụ số 10
như một vơ khí tấn công, biết rơ sự thật và hiểu được
ông Trần Gia Phụng đă viết sử như thế nào.
NÓI CHO RƠ VỀ DỤ SỐ 10
Ông
Trần Gia Phụng đă viết như sau:
“Chính
sách tôn giáo của chính phủ Diệm dựa trên Dụ số 10 do chính
phủ Trần Văn Hữu ban hành ngày 6.8.1950 dưới thời quốc
trưởng Bảo Đại. Dụ nầy ấn định quy chế các hiệp hội, gồm có
5 chương, 45 điều. Điều 1 của dụ nầy sắp các tôn giáo, trừ
Ky-Tô giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội
đua ngựa...); trong khi điều 45 của dụ nầy cho biết sẽ ấn
định quy chế đặc biệt cho các hội truyền đạo Ky-Tô và các
hội Hoa kiều. Dụ nầy cũng quy định các tôn giáo và hội đoàn
chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi thờ phượng, hoặc trụ
sở hội đoàn mà thôi”.
Đây là
những chuyện biạ đặt và dựng đứng v́ thiếu hiểu biết về luật
pháp và lịch sử.
1.-
Ai ban hành Dụ số 10?
Dụ là
một đạo luật, chỉ có vua, quốc trưởng hay tổng thống mới có
quyền ban hành. Thủ tướng không có quyền. Vậy ai đă ban hành
Dụ số 10 ấn định quy chế hiệp hội cho toàn nước Việt Nam?
Dụ số
10 không phải do chính phủ Ngô Đ́nh Diệm ban hành hay do
thực dân Pháp để lại như Giáo Hội Ấn Quang đă xác quyết. Dụ
này do Bảo Đại kư tại Vichy, Pháp, ngày 6.8.1950, được đăng
vào Công Báo Việt Nam số 33 ngày 19.8.1950.
Dưới
thời Pháp thuộc, trên đất nước có nhiều quy chế lập hội khác
nhau do chính quyền Nam Triều và chính quyền Pháp ban hành.
Tại Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp, và các vùng nhượng địa của
Pháp như Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Pḥng, quy chế hiệp hội ấn
định do Luật về Hiệp Hội 1901 (Les associations loi
1901) và các văn kiện kế tiếp của Pháp được áp dụng. T́nh
trạng này không phù hợp với một quốc gia độc lập và thống
nhất nữa.
Theo
Luật sư Trần Văn Tuyên kể lại, sau khi chính phủ Nguyễn Phan
Long được thiết lập do Sắc Lệnh số 6/QT ngày 21.1.1950 của
Quốc Trưởng Bảo Đại, chính phủ này đă quyết định biên soạn
một quy chế hiệp hội chung cho cả nước. Nhưng công việc này
chưa hoàn tất th́ cuối tháng 4 năm 1950 chính phủ Nguyễn
Phan Long bị giải tán. Chính phủ Trần Văn Hữu được thiết lập
do Sắc Lệnh số 37/CP ngày 6.5.1950 để thay thế chính phủ
Nguyễn Phan Long. Trong chính phủ mới này, Luật sư Trần Văn
Tuyên được cử làm Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Ông cho biết khi
ông làm Bộ Trưởng được ít lâu th́ Phủ Thủ Tướng nhận được dự
luật về quy chế lập hội do Bộ Nội Vụ và Bộ Tư Pháp phối hợp
soạn thảo và đệ tŕnh. Ông đă xem và thấy đa số các điều
khoản chính trong dự luật này đều dựa theo quy chế lập hội
của Pháp với một số sửa đổi cho phù hợp với t́nh h́nh tại
Việt Nam lúc đó. Ông đă tŕnh Thủ Tứng Trần Văn Hữu phê
chuẩn và gởi qua Pháp cho Bảo Đại kư, v́ lúc đó Bảo Đại đang
ở Pháp.
Luật
về Hiệp Hội 1901 của Pháp vẫn c̣n được áp dụng ở Pháp cho
đến ngày nay. C̣n Dụ số 10 ngày 6.8.1950 vẫn được áp dụng
tại miền Nam cho đến ngày 30.4.1975 và khi ra hải ngoại, các
đoàn thể của người Việt khi soạn nội quy cho các đoàn thể
của ḿnh cũng thường phỏng theo Dụ này.
2.-
Ở mô cũng như rứa!
Khi
phê phán Điều 1 của Dụ số 10 “sắp các tôn giáo, trừ Ky-Tô
giáo, vào loại hiệp hội thường (như hội thể thao, hội đua
ngựa...)” ông Trần Gia Phụng không hề biết rằng các quốc gia
lớn trên thế giới (như Pháp và Mỹ) cũng quy định không khác
ǵ Dụ số 10, v́ Dụ số 10 cóp luật về hiệp hội của Pháp. Điều
1 của Dụ số 10 đă quy định như sau:
“Hội
là hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức
hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không
phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự,
tôn giáo, chính trị, từ thiện, thể thao và đồng nghiệp ái
hữu.
“Muốn
có hiệu lực th́ hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung
của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ.”
Rơ
ràng là điều 1 của Dụ số 10 đă phỏng theo điều 1 của luật về
hiệp hội của Pháp năm 1901:
“L'association
est la convention par laquelle deux ou plusieurs personnes
mettent en commun d'une façon permanente leurs connaissances
ou leur activité dans un but autre que de partager des
bénéfices. Elle est régie quant à sa validité, par les
principes généraux du droit applicable aux contrats et
obligations.”
Ở Mỹ,
hầu hết các hiệp hội bất vụ lợi đều được thiết lập v́ lư do
tôn giáo, bác ái, văn học, khoa học hay giáo dục.
Luật
thuế vụ liên bang của Mỹ [Federal 501(c)(3) Status] đă định
danh 5 thứ hiệp hội bất vụ lợi có thể được miễn thuế, đó là
các hiệp hội có mục đích bác ái, các tổ chức khoa học
(scientific organizations), các tổ chức giáo dục
(educational organizations), các hiệp hội có mục đích văn
học, và các nhóm tôn giáo (religious groups)
Trong
bài thuyết pháp trong chương tŕnh “Tiếng
Từ Bi” vào lúc 8 giờ tối ngày 8.11.2007 trên đài
phát thanh Little Saigon ở Orange County, Hoà Thượng Chơn
Thành có nói rằng “trong thời Pháp thuộc thực dân Pháp đưa
Phật Giáo vào trong cái tṛng của Đạo Dụ số 10 gióng như là
một hiệp hội đá banh, hiệp hội đua ngựa, vân vân...” Luận
điệu này đă được ông Trần Gia Phụng nhai lại như đă nói
trên. Nay qua Mỹ, Hoà Thượng Chơn Thành cũng đưa Phật Giáo
vào hội non-profit v́ mục đích tôn giáo để có thể hoạt động
hợp pháp và được miễn thuế, nó có khác ǵ hoạt động theo Dụ
số 10 ở Việt Nam đâu? Ở mô cũng như rứa. Qua Pháp lại càng
gióng hơn.
Thật
ra, Giáo Hội cũng chỉ là một hiệp hội, nhưng người Thiên
Chúa Giáo gọi là Giáo Hội (Church) v́ đó là chữ được dùng
trong Thánh Kinh (Mat. 16,19). Không hiểu năm 1964, khi 11
tổ chức Phật Giáo Việt Nam thành lập một tổ chức Phật Giáo
thống nhất, họ cũng dùng chữ Giáo Hội (Church). Vậy chữ
Church đó lấy từ đâu?
3.-
Dụ số 10 không quy định việc treo cờ
Ông
Trần Gia Phụng đă căn cứ vào điều nào trong Dụ số 10 để nói
rằng “Dụ nầy cũng quy định các
tôn giáo và hội đoàn chỉ được treo cờ trong khuôn viên nơi
thờ phượng, hoặc trụ sở hội đoàn mà thôi”? Chúng tôi tin
chắc khi viết như vậy, “đại sử gia” Trần Gia Phụng chưa bao
giờ được đọc bản văn Dụ số 10 nên đă nói bừa. Trong Dụ số 10
không có điều khoản nào quy định như vậy cả.
Năm
1962, Bộ Nội Vụ đă ban hành văn kiện ấn định thể thức treo
cờ tại những nơi thờ tự trong những buổi lễ tôn giáo theo sự
thỏa thuận của các tôn giáo. Trong buổi thuyết tŕnh cho
phái đoàn Liên Hiệp Quốc điều tra vụ Phật Giáo, Tướng Trần
Tử Oai có nhấn mạnh: “Như thế,
sự quy định của Chính Phủ về vấn đề treo cờ là chung cho tất
cả các tôn giáo không có thiên vị tôn giáo nào.”
4.-
Nguỵ luận v́ thiếu hiểu biết
Điều
thứ 44 (không phải điều 45 như ông Trần Gia Phụng nói) của
Dụ số 10 có quy định: “Chế
độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa và Gia tô và
các Hoa kiều Lư sự hội sẽ ấn định sau.”
Căn cứ
vào điều luật này, các tăng sĩ Phật giáo đấu tranh và ông
Trần Gia Phụng cho rằng Dụ số 10 đă ưu đăi Thiên Chúa Giáo
(không nhắc ǵ đến Hoa Kiều Lư Sự Hội)! Đây là một lối nguỵ
luận v́ thiếu hiểu biết. Chúng tôi tin chắc rằng các tăng sĩ
đấu tranh và “đại sử gia” Trần Gia Phụng chưa bao giờ đọc
biên bản h́nh thành Dụ số 10 hay phỏng vấn những người tham
gia h́nh thành Dụ số 10 nên đă ngụy luận như vậy.
Theo
thỏa Ước Việt – Pháp được kư kết giữa Bảo Đại và Tổng Thống
Vincent Auriol của Pháp tại điện Élysée ngày 8.3.1949 và các
hiệp định thi hành thỏa ước này được Quốc Trưởng Bảo Đại và
Cao Ủy Pháp Pignon kư ngày 30.12.1949 tại Toà Đô Chánh Sài
G̣n, Pháp công nhận Việt Nam có tổ chức hành chánh riêng, tư
pháp riêng, tài chánh riêng, quân đội riêng, liên hệ ngoại
giao riêng, v.v. Tuy nhiên, Khoản I của thỏa ước đă đưa ra
một giới hạn như sau:
“Sự
cai trị các sắc dân không phải là người Việt Nam... sẽ được
cứu xét bằng quy chế riêng… Các quy chế này phải được sự
thỏa thuận của Đại Diện Chính Phủ Cộng Hoà Pháp Quốc, vẫn
c̣n có trách nhiệm đối với họ.”
Từ năm
1960, khi chưa có vụ Phật Giáo, ông Vũ Quốc Thông, Giáo Sư
Đại Học Luật Khoa Sài G̣n, giải thích rằng việc quy định
những vấn đề liên quan đến chính sách ngoại giao hay các
luật lệ liên quan đến người Pháp và ngoại kiều sinh sống
tại Việt Nam, đều phải có sự đồng ư của Cao Ủy Pháp
tại Đông Dương, chính phủ Việt Nam mới được ban hành. Do
đó, muốn ban hành các quy chế về các hội truyền giáo của
Thiên Chúa Giáo và của Hoa Kiều đang hoạt động tại Việt Nam
như Société des Missions Etrangères de Paris, Protestant
Mission, Chinese Congregations, v.v..., đều phải có sự đồng
ư của Pháp mới ban hành được.
(Vũ
Quóc Thông, Việt Nam Tự Do, Chính Thể Cộng Ḥa Nhân Vị,
Nguyệt san Quê Hương số 16, ngày 16 tháng 10 năm 1960, tr. 1
- 39 và 247 – 262).
Công
Giáo Việt Nam lúc đó đang đặt dưới quyền của Hội Thừa Sai
Hải Ngoại Paris (Société des Missions Etrangères de Paris)
của Pháp và có một quy chế riêng do Pháp ấn định. Ngày
27.12.1886 Pháp cũng đă chính thức hóa quy chế bang hội của
người Hoa tại Việt Nam và đặt dưới sự kiểm soát của Pháp.
Theo thỏa ước Élysée, muốn ấn định quy chế của hai tổ chức
này, Việt Nam phải tham khảo ư kiến của Pháp trước khi quy
định. V́ thế, điều 44 Dụ số 10 phải quy định: “Chế
độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên Chúa và Gia tô và
các Hoa Kiều Lư Sự Hội sẽ ấn định sau.”
Như
vậy, một “chế độ đặc biệt”
được nói ở đây không phải để ưu đăi Thiên Chúa Giáo và các
Hoa Kiều Lư Sự Hội, mà v́ bị kẹt thỏa ước Élysée. Vă
lại, lúc đó ngoài Công Giáo ra, đă có tôn giáo nào thành lập
Giáo Hội đâu mà nói chuyện ưu đăi hay không ưu đăi?
Điều
đáng tiếc là các nhà sư đấu tranh lại vinh vào điều 44 của
Dụ số 10 như một nguỵ luận để chống ông Diệm và nay được
“đại sử gia” Trần Gia Phụng nhai lại!
Sau
này, Bộ Nội Vụ cũng đă soạn một quy chế tôn giáo theo mô
thức của Pháp, nhưng khi chính phủ Phan Huy Quát đem ra hỏi
ư kiến th́ bị các tôn giáo phản đối mạnh mẽ nên phải dẹp bỏ.
5.-
Bể tan v́ “chế độ đặc biệt”
Sau
cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963, 11 Giáo Phái và Hội Đoàn Phật
Giáo đă họp tại Chùa Xá Lợi ngày 4.1.1964 và biểu quyết một
Bản Hiến Chương thành lập Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất, đưa
ra những quy định nằm trên và ngoài luật pháp quốc gia. V́
thế, khi bản Hiến Chương này được tŕnh lên Bộ Nội Vụ, Bộ
này đă chiếu Dụ số 10, ban hành Nghị Định số
329-BNV/KS ngày 24.3.1964 cho “Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được phép thành lập trong
khôn khổ luật lệ hiện hành”. Nghị Định này do
Tướng Tôn Thất Đính, Tổng Trưởng Nội Vụ kư tên.
Tuy
nhiên, khi Tướng Khánh lên làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội
Cách Mạng kiêm Thủ Tướng, để lấy ḷng Phật Giáo, Tướng Khánh
đă kư Sắc Luật số 158-SL/CP ngày 14.5.1964 phê chuẩn Hiến
Chương nói trên, ban cho GHPGVNTN một “chế
độ đặc biệt” nằm trên và ngoài luật pháp quốc gia.
Chính “chế độ đặc biệt”
này và những tranh chấp nghiêm trọng và đẩm màu trong nội bộ
đă làm GHPGVNTN bể thành Giáo Hội Ấn Quang và Giáo
Hội Việt Nam Quốc Tự. Chính phủ đă ban hành Sắc Luật số
023/67 ngày 18.7.1967 chuẩn y Hiến Chương ngày 14.3.1967 của
Giáo Hội Việt Nam Quốc Tự và thu hồi Hiến Chương của Giáo
Hội Ấn Quang khiến Giáo Hội này phải hoạt động ngoài ṿng
luật pháp.
Sau
khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Giáo Hội Ấn Quang lại bể thành
giáo hội quốc doanh và giáo hội không quốc doanh. Ra hải
ngoại, giáo hội này lại bể ra thành Giáo Hội Liên Tông và
Giáo Hội Ấn Quang. Mới đây, đa số các tổ chức Phật Giáo hải
ngoại đă thành lập GHPGVNTN Liên Châu tách ra khỏi GHPGVNTN
của Ḥa Thượng Quảng Độ. Điều này cho thấy một “chế độ
đặc biệt” là rất tai hại.
Những
dẫn chứng trong phần này đă cho thấy ông Trần Gia Phụng là
người viết sử rất cẩu thả, không nghiên cứu đến nơi đến chốn
trước khi viết, ngay cả Dụ số 10 ông cũng chưa hề đọc mà dám
viết về Dụ này!
CHUYỆN GIẢ MẠO SỐ GIÁO
DÂN
Ông
Trần Gia Phụng dẫn chứng rằng Đức Tổng Giáo Mục Ngô Đ́nh
Thục đă ngụy tạo số giáo dân trong tổng giáo phận Huế của
ông để vận động làm Hồng Y, đưa tới biến cố Phật Giáo năm
1963. Đây là một chuyện hoàn toàn bịa đặt.
Thật
ra, ông Trần Gia Phụng chỉ nhai lại luận điệu của Thích Trí
Quang, một thiền sư đại vọng ngữ (nói điều sai quấy) trong
thế kỷ 20 của Phật Giáo Việt Nam, đưa tới nhiều nghiệp
chướng liên tục và kéo dài.
Trong
tập “Tiểu truyện tự ghi”
Thích Trí Quang có nói đến nguyên nhân đưa đến biến cố Phật
Giáo năm 1963 như sau:
“Vatican
điều tra thấy Huế, địa phận của Tổng giám mục Ngô đ́nh Thục,
sao mà Phật giáo nhiều quá: Phật đản th́ cờ Phật giáo đầy 2
bên đường từ Huế ra Lavang, kiệu đức mẹ th́ từ Lavang vào
Huế không có cờ của Vatican. Ông Ngô đ́nh Diệm bèn bắt
công chức Huế kê tên cả nhà để đưa cho anh ḿnh báo cáo là
giáo dân, và Phật đản 2507 (1963) th́ triệt hạ cờ Phật
giáo để Vatican thấy dân Huế theo anh ḿnh hết rồi.”

Đây là
chuyện không không thể xẩy ra được v́ ba lư do chính sau đây:
(1)
Nếu lúc đó Toà Thánh Vatican muốn nâng một giáo sĩ Việt Nam
lên làm Hồng Y th́ người đó phải là Tổng Giám Mục Hà Nội hay
Sài G̣n chứ không phải là Huế.
(2) Số
giáo dân được rửa tội hàng năm đều phải ghi vào sổ rửa tội
và báo cáo cho Toà Thánh biết, nên ông Diệm không thể muốn
bắt ghi bao nhiêu giáo dân cũng được.
(3)
Việc suy cử một giáo sĩ làm Hồng Y thường dựa vào đề nghị
của Hội Đồng Giám Mục và Khâm Sứ Ṭa Thánh chứ không bao giờ
dựa vào những chuyện vớ vẫn như thế.
Những
dẫn chứng trong đoạn này cho thấy ông Trần Gia Phụng đă cố ư
dựa vào những sự kiện nhảm nhí để viết sử!
VIẾT THEO “LỀ ĐƯỜNG BÊN PHẢI”
Trong bài nói trên, “đại sử gia” Trần Gia Phụng c̣n viết
nhiều phịa sử khác, chúng tôi sẽ nói sau. Khi lời cảnh cáo
của chúng tôi được gởi qua email, h́nh như bài nói trên của
“đại sử gia” Trần Gia Phụng đă được rút ra khỏi nhiều
websites, kể cả
dcvonline.net.
Thời
Xuân Thu, Thôi Trữ sau khi giết vua Tề, ra lệnh cho Thái Sử
Bá phải ghi vào sử: “Tề Trang Công bị bạo bệnh mà chết”.
Thái Sử Bá ghi: “Năm Ất Hợi, tháng Năm, Thôi Trữ giết vua”.
Thôi Trữ nổi giận lôi Thái Sử Bá ra chém.
Thái
Sử Bá có 3 người em là Trọng, Thúc và Quí, nối nghiệp nhà
làm chức Thái Sử. Trọng thay anh, cũng chép y như thế và bị
giết. Thúc kế nhiệm, cũng làm y thế và cùng chung số phận.
Đến phiên người em út là Quí, cũng làm không khác ba người
anh đă chết. Thôi Trữ hỏi Thái Sử Quí:
- Ba
anh của nhà ngươi v́ chép như thế mà đă chết cả, ngươi không
sợ chết sao?
Thái
Sử Quí trả lời:
- Chép
đúng sự thật là chức phận của người làm sử. Nếu làm không
đúng chức phận để cầu mạng sống th́ thà chết c̣n hơn.
Không
lẽ bây giờ chỉ v́ một hai cái thư phản kháng hay một chiếc
xe Van đậu ở bên đường dọa biểu t́nh mà người viết sử và
người làm thông tin đă sợ, phải viết theo “lề
đường bên phải”
sao? Như vậy làm sao đánh thắng Cộng Sản?
Ngồi
mát ăn bát vàng, hèn hơn những người đấu tranh ở trong nước
nhiều!
Ngày
23.11.2009
Lữ
Giang
Lư Do
Cuộc Đảo Chánh Ngày 1-11-1963 |