|
Saigon Nhỏ ngày 8.7.2005
Lữ Giang
Vụ Phạm Ngọc Thảo
Trong thư đề ngày 30.4.2005
gởi ông Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng
Ban Tư Tưởng Văn Hoá Trung Ương
của Đảng CSVN, ông Vơ Văn Kiệt,
cựu Thủ Tướng CSVN, đă bàn về
công tác của Ban Tư Tưởng Văn
Hoá, trong đó có đoạn như sau:
“Về
lực lượng thứ ba,
các lực lượng đối lập trong
chính quyền nguỵ, cần có sự nhận
định thực tế đủ khách quan,
không nên tuỳ tiện quy kết theo
chủ quan, phiến diện v́ nó
liên quan đến một chính sách lớn
của Đảng
(phải nói là thật sự thành công).
Chẳng hạn, chỉ nêu lên một
trường hợp Phạm Ngọc Thảo,
người được đồng chí Lê Duẩn giao
trách nhiệm với danh nghĩa
là người công giáo đi kháng
chiến chống Pháp trở ra “hợp tác
với quốc gia” để bằng mọi cách
xây dựng được lực lượng chính
trị quốc gia (cũng là lực lượng
thứ ba, nếu có một Chính phủ quá
độ ở miền Nam).”
Với đoạn ngắn này, Vơ Văn
Kiệt đă tiết lộ hai điểm chính:
1.- Đảng CSVN đă cho h́nh
thành tại miền Nam “lực lượng
thứ ba” như một “lực lượng
đối lập” (cuội) để yểm trợ cho
các chủ trương của Đảng. Đây là
một chính sách lớn.
2.- Phạm Ngọc Thảo là
một trong những cán bộ được chỉ
định ở lại miền Nam sau Hiệp
Định Genève để vận động h́nh
thành “lực lượng thứ ba” đó.
Bí mật về Phạm Ngọc Thảo là
một bí mật đă gây nhiều tranh
luận tại miền Nam Việt Nam trước
cũng như sau 30.4.1975. Sau khi
chiếm miền Nam, CSVN công khai
xác nhận Phạm Ngọc Thảo là một
điệp viên của họ và truy phong
làm “liệt sĩ cách mạng” với hàm
Đại Tá Quân Đội Nhân Dân Việt
Nam. Các hoạt động t́nh báo của
Phạm Ngọc Thảo được Hữu Nam viết
thành bộ truyện dài mang tên
“Ván bài lật ngữa” và
được đóng thành phim, trong đó
Phạm Ngọc Thảo mang tên
Nguyễn Thành Luân. Nội dung
tập truyện và cuốn phim mô tả
Phạm Ngọc Thảo là một điệp viên
siêu hạng, đă đóng vai tṛ quan
trọng dưới thời Đệ Nhất Cộng
Ḥa, làm cố vấn về chính sách
quốc gia cho các nhân vật sau
đây: Dương Văn Hiếu, Trưởng Đoàn
Công Tác Đặc Biệt (cơ quan phản
gián); Trần Kim Tuyến, Giám Đốc
Sở Nghiên Cứu Chính Trị và Xă
Hội (cơ quan mật vụ); Ngô Đ́nh
Nhu, Cố Vấn Chính Trị của Tổng
Thống và cả Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm! Phạm Ngọc Thảo được hỏi ư
kiến về mọi vấn đề quan trọng.
Nay Vơ Văn Kiệt đưa ra ánh sáng
thêm một bí mật mới là Lê Duẫn
đă ủy nhiệm Phạm Ngọc Thảo ở lại
miền Nam để thành lập “lực lượng
thứ ba”. Sự thật như thế nào?
Trước khi tŕnh bày về vai
tṛ thật sự của Phạm Ngọc Thảo,
chúng tôi xin lược qua các “lực
lượng thứ ba” đă được thành lập
tại miền Nam Việt Nam để xem
Phạm Ngọc Thảo có đóng vai tṛ
ǵ trong các lực lượng đó hay
không.
“LỰC LƯỢNG THỨ BA” TẠI
MIỀN NAM
Chủ trương thành lập “lực
lượng thứ ba” tại miền Nam của
Đảng CSVN để khuynh đảo chính
quyền miền Nam mà Vơ Văn Kiệt đă
tiết lộ là chuyện có thể kiểm
chứng được.
Hiệp Định Genève vừa được kư
kết vào ngày 20.7.1954 th́ ngày
10.8.1954 một tổ chức mệnh danh
là Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh
được thành lập gồm các nhân vật
chính sau đây: Lưu Văn Lang (chủ
tịch danh dự), Nguyễn Hữu Thọ,
Trịnh Đ́nh Thảo, Thích Huệ
Quang, Nguyễn Văn Vi, Nguyễn Văn
Liên, Phan Huy Thông, Trần Kim
Quan, Nguyễn Thị Lựu, Nguyễn Văn
Dưỡng, Nguyễn Văn Đệ, Từ Bá
Dược, Lê Quang Định, Nguyễn
Thành Châu, v.v. Phong trào đă
ra mắt tại Sài G̣n ngày
29.8.1954 và đưa ra một bản
tuyên ngôn đ̣i ngưng bắn vĩnh
viễn, phóng thích tất cả các tù
nhân chính tri, thực hiện tự do
dân chủ, cải thiện nhân sinh và
tổ chức tổng tuyển cử càng sớm
càng tối.
Ít hôm sau, Phong Trào Bảo Vệ
Ḥa B́nh được thành lập tại Huế
do Thượng Tọa Thích Trí Quang
làm Chủ Tịch, gồm những nhân vật
chính sau đây: Lê Khắc Quyến,
Phạm Văn Huyến, Nguyễn Cao
Thăng, Nguyễn Văn Đảng, Tôn Thất
Dương Kỵ, v.v.
Nhận ra đây là một tổ chức
phản chiến của Việt Cộng được
thành lập để chống lại các phong
trào chống Cộng đang được phát
động tại miền Nam, chính phủ Ngô
Đ́nh Diệm đă ra lệnh bắt tất cả
các thành phần nồng cốt của
Phong Trào gồm 26 người. Ngày
9.2.1955, tất cả 26 người này đă
bị đưa ra Hải Pḥng và cho được
tùy ư chọn hoặc ở lại miền Bắc
hoặc trở lại miền Nam. Ngày
31.3.1954, có 5 người đă xin trở
lại miền Nam. Riêng nhóm Thượng
Tọa Thích Trí Quang ở Huế đă
được ông Ngô Đ́nh Cẩn chiêu hồi.
Sau đó, ông Cẩn kết nạp Thượng
Tọa Thích Trí Quang vào Đảng Cần
Lao để lănh đạo phong trào Phật
Giáo miền Trung và giao cho các
thành viên khác giữ các chức vụ
quan trọng tại miền Trung.
Chúng tôi không thấy Phạm
Ngọc Thảo dính líu đến “lực
lượng thứ ba” nói trên. Điều này
cũng dễ hiều: Lúc đó vai vế của
Phạm Ngọc Thảo c̣n quá nhỏ, nên
Phạm Ngọc Thảo không đủ tầm vóc
để đứng ra thành lập một phong
trào như thế. Trong suốt thời
gian ông Diệm cầm quyền, không
“lực lượng thứ ba” nào khác dám
xuất đầu lộ diện.
Sau khi chế độ Ngô Đ́nh Diệm bị
lật đổ, các “lực lượng thứ
ba” đă được tái lập nhiều
lần tại miền Nam, mang những tên
khác nhau, và nấp dưới danh
nghĩa phong trào Phật Giáo để
hoạt động. Đầu năm 1965, các
phong trào sau đây đă xuất hiện:
Ủy Ban Vận Động Ḥa B́nh, Phong
Trào Dân Tộc Tự Quyết, Lực Lượng
Tranh Thủ Cách Mạng, Hội Đồng
Nhân Dân Cứu Quốc, Phong Trào
Bảo Vệ Ḥa B́nh Hạnh Phúc Dân
Tộc, Lực Lượng Học Sinh Chống
Chiến Tranh..., Hai tổ chức hoạt
động mạnh nhất là Lực Lượng
Tranh Thủ Cách Mạng của
Thượng Tọa Thích Trí Quang và
Phong Trào Bảo Vệ Ḥa B́nh Hạnh
Phúc Dân Tộc của Thượng Tọa
Thích Quảng Liên.
Cuối tháng 2 và đầu tháng 3
năm 1965, khoảng 40 thành phần
ṇng cốt của các phong trào nói
trên đă bị bắt. Ngày 19.3.1965,
ba người bị chính phủ Phan Huy
Quát trục xuất ra Bắc là Bác sĩ
thú y Phạm Văn Huyến, Giáo sư
Tôn Thất Dương Kỵ và kư giả Cao
Minh Chiếm. Sau khi chính phủ
Nguyễn Cao Kỳ được thành lập,
một số khác đă bị đưa ra Ṭa Án
Quân Sự Mặt Trận xét xử ngày
2.8.1965, trong đó có 3 người bị
phạt khổ sai hữu hạn, nhưng hai
Thượng Tọa Thích Trí Quang và
Thích Quảng Liên không hề bị
truy tố!
Ngày 27.1.1973, khi hiệp định
Paris vừa kư kết, Thượng Tọa
Thích Thiện Minh đă ra thông
bạch tuyên bố thành lập Lực
Lượng Ḥa Giải Dân Tộc và
giao cho Luật sư Vũ Văn Mẫu làm
Chủ Tịch. Mục tiêu của tổ chức
này là quy tụ các thành phần
thân cộng để đưa vào Hội Đồng
Quốc Gia Ḥa Giải Ḥa Hợp
được dự liệu trong Hiệp Định
Paris, giúp Cộng Sản nắm đa số
trong Hội Đồng này. Nhưng Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu chống lại
việc thành lập Hội Đồng đó nên
Lực Lượng quay lại tố cáo Việt
Nam Cộng Ḥa hiếu chiến và lên
tiếng đ̣i ḥa b́nh!
Năm 1964 Phạm Ngọc Thảo đang
làm tùy viên văn hóa ở Mỹ. Đầu
năm 1965 Phạm Ngọc Thảo lén về
nước lo việc tổ chức đảo chánh
rồi sau đó bị hạ sát nên không
can dự vào các “lực lượng thứ
ba” nói trên. Vậy Phạm Ngọc Thảo
đă làm ǵ?
VÀI NÉT VỀ PHẠM NGỌC THẢO
Phạm Ngọc Thảo, có tên Pháp
là Albert Thảo, sinh ngày
14.2.1922 tại Sài G̣n, nguyên
quán Vĩnh Long, con một điền chủ
có quốc tịch Pháp và thuộc một
gia đ́nh Công Giáo thuần thành.
Thảo là con thứ 8 trong gia đ́nh
nên thường được gọi là “Chín
Thảo”.
Lúc nhỏ Thảo học trường
Chasseloup Laubat (có tài liệu
nói học trường Tabert), đậu Tú
Tài và đi học công chánh. Thảo
chưa tốt nghiệp th́ xẩy ra Cách
Mạng Tháng 8. Lúc đó anh ruột
của Thảo là Gaston Phạm Ngọc
Thuần ở Vĩnh Long đă đi theo
Việt Minh ngay và được giữ những
chức vụ khá quan trọng. Thảo
đang ở Sài G̣n được tin Thuần
theo kháng chiến, đă về Vĩnh
Long theo anh. Trên đường về,
Thảo bị dân quân của Việt Minh
bắt hai lần và suưt bị giết.
Chính Gaston Thuần đă giới thiệu
Thảo gia nhập Tiểu Đoàn 404
thuộc Trung Đoàn Chủ Lực Tây Đô.
Về sau, Thảo là Tiểu Đoàn Trưởng
tiểu đoàn này.
Trong thới gian Phạm Ngọc
Thảo làm Tiểu Đoàn Trưởng, nhóm
Trần Văn Đôn, Nguyễn Khánh, Lê
Văn Kim... cũng đă vào chiến khu
tham gia kháng chiến. Tướng
Nguyễn Khánh cho biết nhóm ông
đă gặp Phạm Ngọc Thảo và được
Phạm Ngọc Thảo hướng dẫn về
chiến tranh du kích. Tuy nhiên,
nhóm này không được Việt Minh
trọng dụng. V́ thế, khi được tin
Pháp trở lại Đông Dương, nhóm
này đă trở ra hợp tác với Pháp
và được Tướng Leclerc, Tư Lệnh
Quân Đội Viễn Chính Pháp kết
nạp.
Thấy Thảo có khả năng, Phạm
Hùng đưa Thảo về làm Trưởng
Pḥng Mật Vụ Nam Bộ dưới quyền
điều khiển của Phạm Hùng và giao
cho Thảo liên lạc với Lương Vũ
để mua vũ khí.
Lương Vũ là một gián điệp của
Trung Hoa Dân Quốc đă hợp tác
với Nhật làm gián điệp nhị
trùng. Lương Vũ đă cùng với
Trung Sĩ Kempeitai Mochizuki,
một điệp viên của Nhật, hoạt
động tại miền Nam Việt Nam lúc
đó.
Lúc ở trong chiến khu, Phạm
Ngọc Thảo đă lấy bà Phạm Thị
Nhiệm, em ruột của giáo sư
Phạm Thiều, Đại Sứ Hà Nội
tại Nam Vang (1956 – 1967) và
Tiệp Khắc. Thảo có 7 con và vợ
Thảo đi dạy học. Vợ và con Thảo
hiện đang ở Hoa Kỳ. Tất cả các
con của Thảo đều học hành thành
tài (có người con là bác sĩ,
đang ở Orange County)
Từ năm 1952 đến 1954, Thảo
trở ra làm Trung Đoàn Trưởng ở
chiến trường Tây Nam Bộ.
TRỞ LẠI VÙNG QUỐC GIA
Sau hiệp định Genève, Thảo
không tập kết ra Bắc mà ở lại
miền Nam. C̣n Gaston Thuần đă
tập kết ra Bắc và về sau được cử
làm Đại Sứ Hà Nội tại Đông Đức.
Trong bức thư gởi Nguyễn Khoa
Điềm, Vơ Văn Kiệt cho biết chính
Lê Duẩn đă chỉ thị cho Phạm Ngọc
Thảo ở lại nằm vùng để h́nh
thành “lực lượng thứ ba”. Nếu
đúng như vậy th́ Phạm Ngọc Thảo
đă không hoàn thành được sứ mạng
giao phó.
Lúc đó, những người đă tham
gia phong trào Việt Minh muốn ở
lại miền Nam phải ra khai báo và
được cấp chứng nhận, nhưng Phạm
Ngọc Thảo đă tự động về Sài G̣n
xin đi dạy học sinh sống mà
không chịu ra khai báo. Do đó,
Đại Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An
Ninh Quân Đội, đă ra lệnh t́m
bắt Phạm Ngọc Thảo. Thảo phải
xuống Vĩnh Long nhờ Đức Giám Mục
Ngô Đ́nh Thục che chở.
Đức Giám Mục Thục quen biết
gia đ́nh Thảo từ lâu. Trong gia
đ́nh Thảo chỉ có hai người đi
theo Việt Minh là Thuần và Thảo,
c̣n những người khác đều ở lại
và giữ đạo rất đàng hoàng. Do
đó, khi thấy Thảo quay trở về,
Đức Giám Mục Thục đă bảo lănh
cho Thảo và cho dạy học ở Trường
Nguyễn Tường Tộ, Vĩnh Long, do
Linh mục Nguyễn Văn Quang làm
Hiệu Trưởng.
Thấy Thảo có học vấn khá, Đức
Giám Mục Thục đă giới thiệu Thảo
với ông Nhu. Ông Nhu bảo cho
Thảo lên tạm làm việc tại Viện
Hối Đoái. Cuối năm 1955, Thảo
lên Sài G̣n t́m gặp ông Huỳnh
Văn Lang, Tổng Giám Đốc Viện Hối
Đoái với giấy giới thiệu của Đức
Giám Mục Thục như sau: “Giới
thiệu thầy anh Phạm Ngọc Thảo,
người C.G. hồi chánh. Thầy nên
giúp anh một việc làm để sinh
sống.” Sau khi hỏi qua học lực,
Huỳnh Văn Lang quyết định cho
Thảo làm việc ở Sở Tài Chánh do
ông Trần Xuân Minh làm Chánh Sự
Vụ, lương mỗi tháng khoảng
10.000$. Thảo được giao cho
trông coi pḥng đổi bạc. Thảo
xin đi học luật. Ông Huỳnh Văn
Lang đă sắp xếp giờ cho Thảo đi
học.
Lúc đó ông Huỳnh Văn Lang
đang làm Bí Thư Liên Kỳ Bộ Nam
Bắc Việt của Đảng Cần Lao và
Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái nên
rất có thế lực. Ông Nhu muốn
giao Phạm Ngọc Thảo cho Huỳnh
Văn Lang để Huỳnh Văn Lang theo
dơi.
Khoảng tháng 5 năm 1956,
Trung Tâm Nhân Vị tại Vĩnh Long
mở khóa huấn luyện về Nhân Vị,
Huỳnh Văn Lang đă phái Trần Văn
Trị và Phạm Ngọc Thảo đi tham
dự. Sau khi học khóa này, Trần
Văn Trị đă giới thiệu Phạm Ngọc
Thảo vào Đảng Cần Lao. Trần Văn
Trị lúc đó là Trưởng Ban Tổ Chức
của Liên Kỳ Bộ Nam Bắc Việt.
Vào tháng Tháng 10 năm 1956,
Thảo được tham dự khóa Khóa III
huấn luyện đảng viên Cần Lao của
Nam Kỳ tại trường Taberd và được
tuyên thệ gia nhập Đảng Cần Lao
dưới sự bảo trợ của Trần Văn Trị
và Dương Chí Sanh.
Mặc dầu Đảng Cần Lao đă có
Quân Ủy Trung Ương, Huỳnh Văn
Lang muốn thành lập một tổ
quân sự riêng để làm vây
cánh cho ḿnh. Ông đă quy tụ
được những sĩ quan sau đây: Đại
Tá Nguyễn Quang Sanh, Tư Lệnh
Hiến Binh; Trung Tá Nguyễn Hữu
Phước, Giám Đốc Bảo An – Dân Vệ;
Trung Tá Trần Thiện Khiêm, Trung
Tá Trần Văn Hổ, Thiếu Tá Nguyễn
Văn Hiệu.
Biết Thảo đă từng làm Trung
Đoàn Trưởng nên Huỳnh Văn Lang
giao cho Thảo phụ trách tiểu tổ
quân sự nói trên, có nhiệm vụ
nghiên cứu về chiến lược và
chiến thuật quân sự và huấn
luyện quân sự cho các đảng viên.
Tháng 1 năm 1957, một nhóm
trí thức gồm Hoàng Minh Tuynh,
Bùi Văn Thịnh, Phan Lạc Tuyên đă
cộng tác với Huỳnh Văn Lang cho
xuất bản bán nguyệt san Bách
Khoa do Huỳnh Văn Lang làm
chủ nhiệm. Phạm Ngọc Thảo cũng
có tên trong ban biên tập của
tạp chí này.
Về sau, v́ có sự xích mích
giữa nhóm Nam của Huỳnh Văn Lang
và nhóm Bắc của Luật sư Trần Văn
Trai và Hà Đức Minh, và có nhiều
vụ kinh tài bất hợp pháp, ông
Diệm đă ra lệnh giải tán Liên Kỳ
Bộ Nam Bắc Việt.
Biết Thảo có nhiều kinh
nghiệm về quân sự, ông Nhu quyết
định đưa Thảo về Bộ Quóc Pḥng,
cho mang lon Đại Úy đồng hóa rồi
đưa đi làm Tỉnh Đoàn Trưởng Bảo
An Vĩnh Long. Sau khi làm việc ở
Vĩnh Long thành công, đầu năm
1959 Thảo được đưa về làm Tỉnh
Đoàn Trưởng Bảo An B́nh Dương.
Đầu năm 1960, ông Diệm quyết
định lập Khu Trù Mật và đưa một
số sĩ quan Bảo An về làm Công
Cán Ủy Viên đặc trách về Khu Trù
Mật, đặt trực thuộc Phủ Tổng
Thống. Phạm Ngọc Thảo cũng là
một trong những sĩ quan được
giao cho chức vụ này. Khi làm
việc, Thảo đă đưa ra nhiều sáng
kiến được hoan nghinh. Thảo được
cho đi học một khóa chỉ huy và
tham mưu ở Đại Học Quân Sự Đà
Lạt. Măn khóa, Thảo được cử làm
Thanh Tra Khu Trù Mật. Để Thảo
có uy tín khi đi đôn đốc và kiểm
tra, ông Diệm đă cho Thảo thăng
lên Thiếu Tá.
Ngày 17.1.1960, Việt Cộng đă
cho phát động phong trào Đồng
Khởi ở Bến Tre do Nguyễn Thị
Định chỉ huy để khởi đầu chiến
dịch xâm chiếm miền Nam. Từ đó,
t́nh h́nh an ninh ở Bến Tre trở
nên nghiêm trọng. Cộng quân quấy
phá khắp nơi. Để b́nh định tỉnh
Bến Tre, ông Ngô Đ́nh Nhu quyết
định đưa Phạm Ngọc Thảo, một
người đă từng chỉ huy du kích
Việt Minh, xuống làm Tỉnh Trưởng
Kiến Ḥa (tức Bến Tre) để xem
Thảo hành động như thế nào.
Đầu năm 1961, Thảo được thăng
lên Trung Tá và được cử làm
Tỉnh Trưởng Tỉnh Kiến Ḥa để
trắc nghiệm và cho nhân viên
t́nh báo theo dơi rất sát. Trong
thời gian Thảo làm tỉnh trưởng,
t́nh h́nh an ninh tại vùng này
trở nên rất tốt.
Trong cuốn “A Viet Cong
Memor”, Trương Như Tảng,
cựu Bộ Trưởng Cộng Ḥa Miền Nam
Việt Nam (MTGPMN), cho biết
Abert Thảo là bạn thân của ông
ta lúc c̣n nhỏ, nên trong thời
gian Thảo làm Tỉnh Trưởng Kiến
Ḥa, ông đă ghé thăm Thảo nhiều
lần. Ông ta thấy t́nh h́nh rất
yên ổn, không c̣n bị phục kích
hay phá hoại nữa. Mấy năm sau,
ông được tin có những báo cáo
nói rằng đă có những thỏa thuận
ngầm giữa du kích và Thảo: du
kích để cho t́nh h́nh yên ổn c̣n
Thảo dành cho du kích dùng Bến
Tre làm nơi nghĩ ngơi và chuẩn
bị tấn công những nơi khác. Ông
nói ông không biết chuyện đó có
đúng hay không, nhưng việc làm
cho Bến Tre thành một khu vực
yên tĩnh đă làm tăng uy tín của
Thảo. Thảo được că cố vấn Mỹ lẫn
ông Diệm khen ngợi. (tr. 49).
Tuy nhiên, ông Diệm và ông
Nhu đă nhận được nhiều thư tố
cáo Phạm Ngọc Thảo là cán bộ
cộng sản nằm vùng. Tướng Huỳnh
Văn Cao đă vào gặp ông Nhu tŕnh
bày các tin tức và tài liệu liên
hệ đến vụ này. Nhưng ông Huỳnh
Văn Lang đă đứng ra bênh vực cho
Thảo. Ông vào gặp ông Nhu tŕnh
rằng những tố cáo của nhóm Huỳnh
Văn Cao chỉ là vu khống v́ ghen
ghét. Ông biết Phạm Ngọc Thảo
không hề hoạt động cho Việt
Cộng.
Theo ông Trần Kim Tuyến, mặc
dầu có tố cáo, ông Nhu vẫn tiếp
tục dùng Thảo nhưng cho lệnh
theo dơi rất kỹ và không bao giờ
giao cho Thảo một chức vụ ǵ
liên quan đến bí mật quốc gia
hay quốc pḥng. Nhưng v́ có quá
nhiều sự tố cáo, ông Diệm đă
ngưng chức Tỉnh Trưởng Kiến Ḥa
của Thảo và cho qua Hoa Kỳ học
một khóa về chỉ huy và tham hưu
như hầu hết các sĩ quan cấp tá
khác. Sau khi Thảo đi, Bến Tre
mất an ninh trở lại.
Ngày 3.2.1962, Tổng Thống
Diệm kư Nghị Định số 11-TTP
tuyên bố quốc sách Ấp Chiến
Lược. Ủy Ban Liên Bộ Đặc
Trách Ấp Chiến Lược được thành
lập do ông Ngô Đ́nh Nhu làm Chủ
Tịch. Ngày 23.3.1962, Phạm Ngọc
Thảo vừa đi Mỹ về, đă được cử
làm Thanh Tra Ấp Chiến Lược.
ÂM MƯU LẬT ĐỔ ÔNG DIỆM?
Đọc bộ “Foreign
Relations of the United States”
năm 1963 của Bộ Ngoại Giao Hoa
Kỳ, chúng ta thấy có rất nhiều
văn kiện của CIA và chính Đại Sứ
Cabot Lodge nói về âm mưu đảo
chánh lật đổ ông Diệm của Trần
Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo,
nhưng việc kiểm chứng rất khó
khăn. Chưa một nhân chứng nào
xác nhận điều đó. Trong những
cuộc nói chuyện riêng tư, ông
Tuyến nói ông không hề âm mưu
lật đổ ông Diệm, ông chỉ đề nghị
thay đổi mà thôi.
Chúng ta chỉ được biết sau
cuộc đảo chánh bất thành ngày
11.11.1960 của nhóm Vương Văn
Đông, cơ quan CIA đă móc nối với
ông Trần Kim Tuyến để t́m cách
loại ông Nhu ra khỏi chính
quyền. Ông Cao Xuân Vĩ cho biết
vào cuối năm 1960, theo ư kiến
của một số viên chức CIA, ông
Tuyến có làm một tờ tŕnh dài
khoảng 20 trang, trong đó phân
tích t́nh h́nh, đề nghị ông Nhu
nên đi ra ngoại quốc một thời
gian, thành lập thêm chức Thủ
Tướng để đảm nhận công việc hành
chánh. Đây là ư kiến của các cố
vấn Mỹ. Nhưng ông Tuyến không
dám tŕnh ông Nhu mà nhờ ông Cao
Xuân Vĩ tŕnh giúp. Theo ông Vĩ,
người Mỹ hứa nếu ông Nhu đi
ngoại quốc, ông Tuyến sẽ thay
chỗ ông Nhu và bà Tuyến thay chỗ
bà Nhu. Ông Nhu đă đọc và không
có ư kiến ǵ.
Trong cuốn “Việt Nam Máu
Lửa Quê Hương Tôi”, Đỗ Mậu
cho biết vào đầu tháng 9 năm
1963, Phạm Ngọc Thảo có đến gặp
ông và mời ông tham gia một cuộc
đảo chánh của Bác sĩ Trần Kim
Tuyến và Thảo là đại diện. Theo
Thảo, Bác sĩ Tuyến chỉ là lănh
đạo tinh thần v́ đang sửa soạn
đi nhận chức Tổng Lănh Sự Ai Cập
nên không muốn tiếp xúc với ai.
Thảo cho biết đă kết nạp được
một số đơn vị Biệt Động Quân và
Bảo An, và nhiều sĩ quan ở Quân
Đoàn 3 và Quân Đoàn 4. Tướng
Khiêm đă nhận đỡ đầu cho Thảo.
Đỗ Mậu c̣n nghi ngờ Thảo nên trả
lời: “Các anh muốn làm ǵ th́
làm, tôi không chống các anh và
cũng không phản cụ Diệm.” (tr.
613 – 615).
Mọi cuộc họp giữa ông Tuyến
và nhân viên CIA tại nhà hàng La
Cigale, ông Nhu đều biết hết.
Nhưng ông Nhu tin rằng ông Tuyến
và Phạm Ngọc Thảo không thể làm
đảo chánh được v́ không có quân.
Ông đă nắm Trần Thiện Khiêm,
Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Tôn
Thất Đính, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ
Đô, và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu,
Tư Lệnh Sư Đoàn 5, không ai có
thể đảo chính được.
Để chấm dứt âm mưu giữa CIA với
Trần Kim Tuyến và Phạm Ngọc
Thảo, ngày 5.9.1963, Tổng Thống
Diệm đă kư Sắc Lệnh thành lập
Ṭa Tổng Lănh Sự VNCH tại Le
Caire, Ai Cập. Ngày 6.9.1963,
Trần Kim Tuyến được cử làm Tổng
Lănh Sự tại Le Caire. Nhưng một
thảm họa đă xẩy ra.
Để ngăn chận đảo chánh, theo
sự phân công, ông Nhu nắm cấp Sư
Đoàn, c̣n ông Tuyến nắm cấp
Trung Đoàn. Khi có sự di chuyển
của các đơn vị quanh Sài G̣n,
các mật báo viên trong các đơn
vị nói trên phải báo cáo cho ông
Nhu và ông Tuyến biết. Ông Tuyến
nắm trong tay danh sách các mật
báo viên cấp trung đoàn quanh
Sài G̣n.
Ông Cao Xuân Vĩ cho biết,
trước khi ông Tuyến ra đi, ông
Nhu bảo ông Tuyến giao danh sách
đó lại cho ông Vĩ, nhưng ông Vĩ
không nhận v́ ông không biết về
quân sự. Ông Nhu bảo giao cho
Thiếu Tá Phạm Thư Dướng, Chánh
Văn Pḥng của ông Nhu, nhưng ông
Đường từ chối v́ bận quá nhiều
việc. Cuối cùng, ông Tuyến đă
giao danh sách đó cho Phạm Ngọc
Thảo! Ngay sau đó, Phạm Ngọc
Thảo đă giao danh sách này cho
CIA. CIA liền báo cho Tướng Trần
Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn
Thiệu biết. Hai người này đă cho
di chuyễn các mật báo viên của
ông Nhu ra khỏi đơn vị trước đảo
chánh hai ngày, nên mọi liên lạc
đều bị cắt!
Đọc các báo cáo ngày
1.6.1963, 8.7.1963, 30.8.1963,
31.8.1963, 8.9.1963,
24.10.1963... chúng ta đều thấy
CIA báo cáo hay loan tin Trần
Kim Tuyến và Phạm Ngọc Thảo âm
mưu đảo chánh hay đảo chánh bất
thành! Nhưng các nhà phân tích
cho rằng các tin tức đó được
loan ra chỉ để đánh lạc hướng
ông Nhu. Ông Nhu thường hỏi:
“Chúng nó lấy lực lượng ở mô mà
làm đảo chánh?”
Trong thực tế, người được CIA
giao cho chỉ huy cuộc đảo chánh
là Tướng Trần Thiện Khiêm và lực
lượng đảo chánh là Sư Đoàn 5 của
Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu. Điều
sai lầm của ông Nhu là vẫn tin
tưởng ở Trần Thiện Khiêm và
Nguyễn Văn Thiệu! Ông Cao Xuân
Vĩ cho biết cho đến 10 giờ 30
sáng 1.11.1963, khi lực lượng
đảo chánh đă chuyển quân, Nguyễn
Văn Thiệu c̣n giả vờ vào gặp ông
Nhu hỏi về t́nh h́nh. Khi tin
đảo chánh vừa xẩy ra, ông Nhu đă
điện thoại hỏi Trần Thiện Khiêm
th́ mới biết sự thật phủ phàng.
Sau đảo chánh ngày 1.11.1963,
Phạm Ngọc Thảo được thăng lên
Đại Tá và làm Tùy Viên Báo Chí
cho Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng, sau đó Thảo được cử làm
Tùy Viên Văn Hóa tại Ṭa Đại Sứ
VN ở Washington.
PHẠM NGỌC THẢO LÀM ĐẢO CHÁNH
Ông Cao Xuân Vĩ cho biết năm
1967, khi ông vừa ra khỏi tù,
Tướng Trần Thiện Khiêm đă gọi
ông đến và thanh minh rằng ông
ta không chủ trương giết ông
Diệm và ông Nhu, ông chỉ muốn
đưa hai ông ra ngoại quốc mà
thôi. Người ra lệnh giết là
Tướng Dương Văn Minh. Ông cũng
tiết lộ rằng năm 1965, chính ông
đă bảo Phạm Ngọc Thảo về làm đảo
chánh lật đổ Tướng Khánh.
Tưởng cần nhắc lại rằng ngày
30.1.1964, Tướng Khiêm và Tướng
Khánh đă làm “chỉnh lư”, bắt các
tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất
Đính, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân.
Theo sự sắp xếp của CIA, Nguyễn
Khánh sẽ làm Quốc Trưởng c̣n
Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng.
Nhưng Tướng Khánh cho rằng làm
Quốc Trưởng chỉ là bù nh́n, nên
ông đảo ngược thế cờ, làm Quốc
Trưởng kiêm luôn Thủ Tướng, sau
đó đưa hai Tướng Dương Văn Minh
và Trần Thiện Khiêm đi lưu vong
ở ngoại quốc. Tướng Khiêm được
cho qua làm Đại Sứ Việt Nam tại
Hoa Kỳ.
Sự lộng hành của Tướng Khánh
đă tạo nên những rối loại liên
tục. Ngày 13.9.1964, hai tướng
Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát,
với sự yểm trợ của nhóm Đại Việt
Nguyễn Tôn Hoàn, đă tổ chức đảo
chánh nhưng thất bại. Ngày
15.9.1964, Tướng Đức tuyên bố
chỉ “biểu dương lực lượng” để
cứu văn uy tín cho chính quyền
chứ không đảo chánh.
Tướng Khánh có nói với Tướng
Đôn rằng khi Phạm Ngọc Thảo rời
Hoa Thịnh Đốn về Việt Nam th́
Ṭa Đại Sứ VN tại Washington
không cho hay. Khi Thảo đến Hồng
Kông nghỉ một đêm, Lănh sự VN ở
Hồng Kông mới đánh điện tín báo
tin cho ông biết, nhưng hôm đó
là ngày lễ nên hôm sau công điện
đó mới được tŕnh cho ông biết
th́ Thảo đă đến Sài G̣n và biến
mất rồi.
Lúc đó tôi thấy Phạm Ngọc
Thảo đă kết hợp với Tướng Lâm
Văn Phát và ông Nguyễn Bảo Kiếm
(giáo sư Anh văn) đi vận động tổ
chức đảo chánh lật đổ Tướng
Khánh một cách công khai, nhưng
chẳng cơ quan nào theo dơi cả!
Lúc 12 giờ 30 ngày 19.2.1965,
Tướng Lâm Văn Phát và Phạm Ngọc
Thảo đem quân và xe tăng vào
chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài
Phát Thanh Sài G̣n, Bến Bạch
Đằng và phi trường Tân Sơn Nhứt.
Trong khi đó, Nguyễn Bảo Kiếm
dẫn một tổ chức gọi Lực Lượng
Bảo Vệ Dân Tộc đi biểu t́nh
chống Nguyễn Khánh.
Khi cuộc đảo chánh xẩy ra,
Tướng Khánh đang ở trong Bộ Tổng
Tham Mưu. Tướng Khánh liền qua
Bộ Tư Lệnh Không Quân nhờ Tướng
Nguyễn Cao Kỳ cho máy bay chạy
thoát. V́ xe tăng đă chiếm phi
trường, Tướng Khánh phải cho cắt
hàng rào kẻm gai, chiu vào phi
đạo, lên phi cơ ra Vũng Tàu.
Chiều hôm đó, các tướng họp ở
Bộ Tư Lệnh Không Quân Tân Sơn
Nhứt, sau đó bay xuống phi
trường Biên Ḥa.
Ngày 20.2.1965, Tướng Khánh
bay xuống Cần Thơ rồi qua đài
phát thanh Ba Xuyên ra lệnh cho
các lực lượng chiếm đống trở về
đơn vị.
Tướng Nguyễn Chánh Thi cho
biết chiều 19.2.1965, lúc ông
đang ở Vùng I, Đại Sứ Maxwell
Taylor đă gọi cho ông và yêu cầu
vào Biên Ḥa họp với các tướng
lănh ngay. Ông đến Biên Ḥa lúc
6 giờ 45 sáng 20.2.1965. Tướng
Khánh cũng bay đến đó với vẽ mặt
tiền tụy. Sau một hồi thảo luận
không đi tới đâu, Tướng Khánh
lại ra đi. Các Tướng cử Tướng
Thi làm Tư Lệnh Lực Lượng Giải
Phóng Thủ Đô. Ông liền ra lệnh
cho Lâm Văn Phát, Phạm Ngọc Thảo
và 13 sĩ quan khác phải ra tŕnh
diện trong 24 tiếng đồng hồ.
Tướng Phát và Phạm Ngọc Thảo
muốn lên Biên Ḥa gặp các tướng
lănh và tŕnh bày rằng họ chỉ
muốn loại Tướng Khánh chứ không
cố ư đảo chánh.
Ngày 21.2.1965, các tướng lại
họp tại Biên Ḥa, quyết định
giải nhiệm Tướng Khánh và cử
Tướng Trần Văn Minh làm Tổng Tư
Lệnh Quân Lực VNCH. Tướng Thi
được các tướng ủy nhiệm đến Dinh
Gia Long gặp Quốc Trưởng Phan
Khắc Sửu, yêu cầu kư Sắc Lệnh
bải nhiệm Tướng Khánh. Ông Sửu
chần chờ và hẹn đến ngày mai.
Nhưng Tướng Thi yêu cầu ông Sửu
kư ngay để Tướng Thiệu và Thủ
Tướng Phan Huy Quát cùng kư.
Tướng Thi nói nếu để châm, Tướng
Khánh có thể bày những tṛ nguy
hiểm, nên ông Sữu đành phải kư.
Ngày 22.2.1965, ông Sửu kư
Sắc Lệnh số 046/QT/SL bổ nhiêm
Tướng Nguyễn Khánh làm Đại Sứ
Lưu Động. Ngày 25.2.1965, Tướng
Khánh được tặng Nhất Hạng Kim
Khánh Bội Tinh, sau đó rời Việt
Nam, tay cầm một nắm đất và hứa
sẽ về.
Nghe tin trên, Lâm Văn Phát,
Phạm Ngọc Thảo và Nguyễn Bảo
Kiếm đă bỏ trốn.
PHẠM NGỌC THẢO CHẾT THÊ THẢM
Ngày 11.6.1965, Quốc Trưởng
Pham Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan
Huy Quát tuyên bố trả lại Quân
Đội quyền lănh đạo quốc gia.
Lúc đó tôi nghe nói có 4
tướng có thể được Mỹ chọn làm
Quốc Trưởng thay Tướng Khánh, đó
là các tướng Nguyễn Văn Thiệu,
Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Cao Kỳ và
Đề Đốc Chung Tấn Cang. Cuối
cùng, Ṭa Đại Sứ Mỹ đă chọn
Tướng Thiệu.
Ngày 14.6.1965, Ủy Ban Lănh Đạo
Quốc Gia đă được thành lập do
Tướng Thiệu làm Chủ Tịch, Tướng
Chiểu làm Tổng Thư Kư và Tướng
Kỳ làm Ủy Viên Hành Pháp. Ngày
19.6.1965, Ủy Ban Hành Pháp
Trung Ương, tức chính phủ Nguyễn
Cao Kỳ, ra mắt quốc dân.
Sau khi nhận chức, công việc
của Tướng Thiệu là phải t́m bắt
và giết Phạm Ngọc Thảo để trừ
hậu họa. Phạm Ngọc Thảo đă đi
trốn nhiều nơi, nhưng cuối cùng
đến trốn trong Đan Viện Phước
Lư ở xă Vĩnh Thanh, huyện
Nhơn Trạch, Biên Ḥa, nhưng cơ
quan an ninh không hay biết.
Có nhiều ngồn tin cho biết
Linh mục Trần Ngọc Nhuận, chánh
xứ nhà thờ Phát Diệm ở số 485
đường Vơ Di Nguy (nay là Nguyễn
Kiệm) Phú Nhuận, biết rơ Phạm
Ngọc Thảo đang trốn ở đâu.
Thấy Linh mục Nhuận đang làm
nhà thờ Phát Diệm, Tướng Thiệu
cho người đến đề nghị giúp ngài
một số vật liệu để hoàn tất công
tŕnh xây cất, đồng thời mời
Linh mục Nhận làm cố vấn cho
Tướng Thiệu và cử một đại úy đến
đặt một đài truyền tin ở nhà
Linh mục Nhuận để ông có thể nói
chuyện với Tướng Thiệu bất cứ
lúc nào. Ở cạnh cha Nhuận để coi
sóc đài truyền tin, viên đại úy
này khen Phạm Ngọc Thảo giỏi và
nói Tướng Thiệu đang nhờ người
đi t́m Phạm Ngọc Thảo về làm cố
vấn. Linh mục Nhuận tưởng thật,
đă tiết lộ nơi Phạm Ngọc Thảo
đang ẩn núp.
Viên đại úy liền qua Đan Viện
Phước Lư thăm ḍ. Thấy có người
đến hỏi, Phạm Ngọc Thảo biết là
đă bị động nên tŕnh Linh mục
Đan Viện Trưởng rằng ở Đan Viện
Phức Lư không c̣n an toàn nữa.
Thảo xin rời Phước Lư sáng sớm
hôm sau.
Khoảng 3 giờ sáng ngày
16.7.19.1965, Thảo vừa ra khỏi
Đan Viện Phước Lư th́ bị An Ninh
Quân Đội mai phục sẵn bắt bỏ lên
xe, trói tay và bịt mắt lại rồi
đưa về Tam Hiệp ở Biên Ḥa, đến
cạnh một cái suối nhỏ, xô xuống
và bắn. Người bắn nhắm vào mang
tang, thấy Thảo ngả xuống, tưởng
là Thảo đă chết rồi nên bỏ đi.
Không ngờ viên đạn chỉ trúng
cằm. Lúc gần sáng, có người đi
qua, nghe tiếng rên, đă đến xem.
Thảo lấy cây que viết lên đất:
“Phanxicô cần gặp gấp một linh
mục”. V́ lúc đó các linh mục ở
Tam Hiệp đă đi cấm pḥng, nên
người này chạy đến Ḍng Nữ Tu
Đa Minh Tam Hiệp gần đó, (ở
số 134/4 Khu Phố 5, Phường Tam
Hiệp, Biên Ḥa) báo tin cho Linh
mục tuyên úy của Ḍng biết. Linh
mục này liền cho lấy một chiếc
xe Lambretta ra chở về băng bó
và biết đó là Phạm Ngọc Thảo!
Lúc trời sáng hẵn, An Ninh
Quân Đội đến t́m xác Thảo th́
không có. Họ hỏi những người
xung quanh th́ được biết có xe
đă đến chở Thảo vào Ḍng Nữ Tu
Đa Minh rồi. Họ liền đến nhà
ḍng xin lănh Thảo, nhưng linh
mục tuyên úy không cho. Khi các
nhân viên an ninh xuất tŕnh
lệnh bắt Thảo, linh mục phải cho
nhưng dặt điều kiện không được
giết thảo. Nhân viên an ninh
đồng ư.
Một nguồn tin nói rằng khi về
Nha An Ninh Quân Đội, Phạm Ngọc
Thảo đă bị Hùng Xùi bóp dế chết.
Hùng Xùi đă cải chính tin này.
Tướng Nguyễn Ngọc Loan kể lại
với bào chí rằng khi Phạm Ngọc
Thảo được đưa về Nha An Ninh
Quân Đội, ông đă cho gọi Bác Sĩ
đến cứu chữa, nhưng máu đă ra
quá nhiều, không cứu chửa được
nữa. Lúc 1 giờ 30 sáng
17.7.1965 Phạm Ngọc Thảo đă từ
trần, hưởng dương 43 tuổi.
Cho đến nay, không ai biết rơ
sự thật về cái chết của Phạm
Ngọc Thảo. Giết được Phạm Ngọc
Thảo, viên đại úy âm thầm gở máy
truyền tin ở nhà xứ Phát Diệm và
đi mất.
Các nhà phân tích cho rằng
Phạm Ngọc Thảo là gián điệp ba
mang: Vừa làm t́nh báo cho Việt
Cộng, vừa làm t́nh báo cho VNCH
và vừa làm t́nh báo cho Mỹ,
nhưng những tin tức Phạm Ngọc
Thảo thu được không có ǵ quan
trọng v́ các cơ quan đă đề pḥng
cẩn thận rồi. Phạm Ngọc Thảo
cũng không hề làm cố vấn về
chính sách cho ông Diệm hay ông
Nhu như cuốn “Ván Bài Lật Ngữa”
đă mô tả. Phạm Ngọc Thảo cũng
không hề vận động thành lập “lực
lượng thứ ba” như Vơ Văn Kiệt đă
tiết lộ.
Nói chung, tất cả những điệp
viên được Hà Nội đưa ra khoe
khoang như Vũ Ngọc Nhạ, Phạm
Xuân Ẩn, Tướng Ba Quốc hay Phạm
Ngọc Thảo đều là những điệp viên
hạng cắc ké. Sở dĩ Hà Nội đưa
những tên này ra tŕnh diễn là
để che đây những thất bại nghiêm
trọng về t́nh báo của họ khiến
các điệp viên cao cấp nhất của
họ như Trần Quốc Hương hay Đại
Tá Lê Câu đă bị Đoàn Công Tác
Đặc Biệt tóm gọn. Chúng tôi sẽ
trở lại vấn đề này trong một dịp
khác.
LỮ GIANG
|