40 năm sau một cuộc bội
phản
Nguyễn Vy-Khanh
Với tư cách hậu sinh và
nghiệp-dư nghiên cứu
lịch-sử, chúng tôi xin
có một số nhận xét về
biến cố lịch-sử và
chính-trị 1-11-1963 đă
xảy ra 40 năm trước,
mong độc giả xem đây là
những góp ư hướng về
tương lai hơn là tranh
luận hơn thiệt và biên
khảo lịch-sử.
http://www.danchimviet.com/php/images/jfk-ndd.jpg
1. Trước hết, cuộc
đảo-chánh 1-11-1963 nói
chung là một vụ bội-phản
có tính toán và v́ quyền
lợi (1) phe nhóm cá nhân
hơn là quốc-gia, của một
số sĩ quan cao cấp trong
đó phần lớn là thành
phần đă được người Pháp
đào tạo. Xảy ra như ở
một số thuộc địa ở Phi
châu mà t́nh trạng c̣n
măi đến nay! Cuộc
đảo-chánh 1-11 thêm một
lần chứng minh và làm
nổi bật cái năo trạng
(mentality) phản trắc,
hai ḷng và cái
năo-trạng phục tùng
ngoại bang của một số
người Việt Nam. Ngay hai
đảng viên Cần Lao đă
phản là tướng Tôn Thất
Đính và đại tá Đỗ Mậu:
ông Đính, “con cưng của
chế độ”, ngày 25-10
trước đảo-chánh, đă xin
cải tổ chính phủ và cho
ông chức bộ-trưởng
Nội-Vụ nhưng bị từ chối
(ông Trần Văn Đôn th́
mong được chức bộ trưởng
Quốc-Pḥng) ngoài ra ông
mang thêm mặc cảm tấn
công các chùa đêm
21-8-63 và bị ông Nhu
khiển trách họp báo nói
tiếng Pháp bồi và cho đi
nghĩ Đà-Lạt, c̣n đại tá
Đỗ Mậu theo đảo-chánh v́
tức đă không được lên
tướng trong khi bạn ông
(cùng tŕnh độ như ông)
được đeo sao. Sau ngày
2-11-1963, lon tướng tá
được gắn thoải mái, cả
tự gắn, có người (tướng
Đỗ Cao Trí) phải khiếu
nại và rồi dù vừa mới
lên lon chưa đầy tháng
cũng được thêm một lon
nữa! Thời Trịnh Nguyễn
và phân tranh Gia Long -
Tây Sơn được tái diễn
trên mảnh đất nhiều ngàn
năm văn hiến đó! Những
năo trạng đáng buồn đó,
tiếc thay, hăy c̣n hiện
diện sống động trong
cộng đồng người Việt
hải-ngoại!
2.
Cuộc đảo-chánh này nay
nh́n lại thấy rơ là một
mưu đồ chống phá những
nền tảng cùng tư tưởng
dân-chủ của một nền Cộng
Hoà (République) non nớt
9 năm. Cá nhân một số
tướng tá đảo-chánh đă
phản chủ, phản thầy,
phản đảng trưởng, nhưng
toàn thể những người
liên hệ xa gần với
đảo-chánh đă phản bội
chính thể dân chủ.
Chế độ Ngô đ́nh Diệm vào
2, 3 năm cuối có thể bắt
đầu mất ḷng dân v́ tỏ
ra độc tài, đối lập bị
tù, cả bị chết oan, đồng
ư, nhưng đối lập ở Việt
Nam ta cứ nhắm lật đổ
chính quyền hợp pháp, cứ
một sống một chết, mà
không chấp nhận tṛ chơi
dân chủ. Nếu tranh đấu
chính-trị như ở các nước
Tây phương th́ đă không
đưa đến những hậu quả
đó. Vả lại tất cả những
người bị chính quyền bắt
(sinh viên, học sinh,
phật tử, chính-trị gia,
cả những người bị bắt
sau vụ đảo-chánh
11-11-1960 chờ ra ṭa)
đều đă được Hội đồng
cách-mạng thả tự do -
nhưng bắt tù lại một số
cao cấp của chính quyền
vừa bị đảo-chánh, có
người sau sẽ bị xử tử!
Xét về toàn bộ nguyên
nhân đưa đến cuộc
đảo-chánh 1-11, yếu tố
tôn giáo chỉ là cái cớ,
một cớ có tổ chức chứ
không tự bộc phát và
“pháp nạn” chỉ xảy ra ở
một số nơi có đầu năo
phe Phật giáo chính-trị!
3. Nếu phải nói đến
Chính Nghĩa, Chính Danh,
th́ nh́n chung, đă bị
phe đảo-chánh và đồng
minh Mỹ xem thường.
1-11-1963 là một cuộc
đảo-chánh nghĩa là phá
đổ Chánh đề phù Tà hoặc
tạo-dựng một Chánh khác
không thể Chánh bằng cái
Chánh do dân chủ tạo
nên, v́ dù ǵ th́ chính
quyền đệ nhất cộng-ḥa
là một cơ cấu hợp hiến,
hợp pháp và tương đối có
chính nghĩa! Ngay sau
khi chắc chắn anh em
tổng-thống Ngô đ́nh Diệm
đă chết, chiều
2-11-1963, Ủy Ban
Cách-mạng (2) đă ra
Quyết nghị số 2 ngưng áp
dụng Hiến Pháp
26-10-1956! Có người đổi
“đảo-chánh” thành
“cách-mạng” th́ cũng
chẳng thấy cách-mạng ǵ
hơn v́ cũng từng ấy nhân
vật, từ thủ tướng Nguyễn
Ngọc Thơ đến các tướng
nhiều sao trong Hội đồng
Cách-mạng đều do quân
đội (và công an) thực
dân Pháp đào luyện, và
cũng chẳng có lư-thuyết
cách-mạng ǵ mới! Những
người làm đảo-chánh tự
cho có chính-nghĩa dù
không tôn trọng trật tự,
dân chủ, cả những người
làm đảo-chánh 11-11-1960
trước đó. Có người phê
phán ông Ngô đ́nh Diệm
“lật lọng”, “phản” cựu
hoàng Bảo Đại là người
đă bổ nhiệm ông làm
thủ-tướng, có người c̣n
nhân danh phong hoá Nho
giáo hoặc dân tộc. Chúng
tôi nh́n thời đó như một
thời Trịnh Nguyễn và Gia
Long-Tây Sơn: th́ Quang
Trung cũng đă nhận lời
vua Lê Hiển Tông phù Lê
diệt Trịnh và c̣n được
gả công chúa Ngọc-Hân
cho, mà rồi sau quần
thần vua Lê bị ông rượt
sang Tàu. Thứ nữa sử
cũng ghi rằng anh em Tây
Sơn nhận phục tùng chúa
Nguyễn, chỉ cốt lật đổ
quyền thần Trương Phúc
Loan thôi, mà rồi thành
Phú Xuân đă bị anh em
Tây Sơn đốt cháy, c̣n
quần thần Chúa Nguyễn
phải bỏ chạy vô Nam. Thứ
nữa, thời điểm tháng 6
và 7 năm 1954 là lúc
chiến-tranh Việt-Pháp
lên cao độ, khủng hoảng
chính-trị (chính-phủ Bửu
Hội không được lâu), xă
hội băng hoại và miền
Nam th́ thập nhị sứ
quân. Cựu hoàng Bảo Đại
dù là quốc trưởng nhưng
không hề đụng việc, chỉ
giải trí riêng với hậu
thuẫn (và tiền bạc, bổng
lộc) của các sứ quân.
Bảo Đại lại do người
Pháp đặt ở chức quốc
trưởng, nên trưng cầu
dân ư và Hiến Pháp
26-10-1956 không phải là
một bước đầu dân chủ đấy
sao?
Trong hoàn cảnh bất an
hậu thế chiến và thuộc
địa đó, làm thủ tướng
đâu phải dễ (trước đó
mấy năm thủ tướng BS
Nguyễn Văn Thinh đă phải
tự sát!). Chính những
người pro-Bảo Đại ở Pháp
lúc đó đă nhận xét như
LM Cao Văn Luận nhân
chứng ghi lại trong hồi
kư của ngài:” Bảo Đại
đưa Ngô đ́nh Diệm ông
Diệm về Việt Nam là để
đốt cháy tương lai
chính-trị của ông mà
thôi!” (3). Thành quả và
sự thực lịch-sử đă hiển
nhiên, viết lịch-sử là
đứng ở tổng thể và cân
nhắc phải-trái, sao lại
có người đi soi móc chi
tiết thổi phồng cho to,
mà lại làm một cách
thiên vị hoặc giả dối,
đạo đức giả ?
Tiện đây chúng tôi xin
mở dấu ngoặc nói thêm là
đối với cuộc chiến-tranh
vừa qua (1954-1975),
giới viết lách trong
nước và một phần ở
hải-ngoại đă nhận ra
rằng chẳng có chính
nghĩa nào hết nếu xét
cho cùng. Tất cả chỉ là
cường điệu, và hai bên
đều là công cụ cho những
“lư-tưởng” đối chọi
nhau. Và v́ không có
chính nghĩa (dù có
chính-đáng) nên cũng đă
chẳng có một chung cuộc
theo nghĩa có bên thắng
có phe thua. Nga, Trung
quốc và Hoa-Kỳ chỉ ngưng
... chơi v́ kiệt quệ,
vậy thôi! Phạm Kim Vinh,
vốn khó tính, vẫn nh́n
nhận “chính quyền Ngô
đ́nh Diệm là chính quyền
duy nhất của người Việt
quốc-gia tạo được chính
danh, chính thống và
chính nghĩa cho công
cuộc chống Cộng của
người Việt Nam” (4).
4. Để “hoàn thành” cuộc
đảo-chánh, trong hai
ngày 1 và 2-11-1963,
những kẻ chủ mưu và thừa
hành đă ám sát theo thứ
tự thời gian: đại tá Hồ
Tấn Quyền tư lệnh hải
quân trưa 1-11, đại tá
Lê Quang Tung tư lệnh
Lực Lượng Đặc Biệt, và
em ông là thiếu tá Lê
Quang Triệu tối 1-11;
tổng-thống Ngô đ́nh Diệm
và em ông là cố vấn Ngô
đ́nh Nhu sáng 2-11. Bốn
người, anh em ông
tổng-thống và anh em ông
Tung Triệu bị đại úy
Nguyễn Văn Nhung cận vệ
của Dương Văn Minh giết
và bắn chết (thiếu tá
Dương Hiếu Nghĩa cùng
với đại úy Nhung giết
anh em tổng-thống), đại
tá Quyền bị thuộc hạ
phản thùng là thiếu tá
Lực và đại úy Giang
giết. Các sĩ quan khác
không thuận theo
đảo-chánh hoặc bị nghi
ngờ th́ bị giam ở bộ
Tổng Tham mưu như Cao
Văn Viên, Lê Nguyên
Khang, Nguyễn Ngọc Khôi,
Đỗ Ngọc Nhận, v.v.
Người trách nhiệm hàng
đầu trong vụ ám sát anh
em tổng-thống là trung
tường Dương Văn Minh.
Các tướng thuộc Ủy Ban
Cách-Mạng ở Sài-G̣n lúc
đó như Trần Văn Đôn (5),
Tôn Thất Đính (6) và đại
tá Đỗ Mậu (7), ... hoặc
ở xa như tướng Khánh,
Thi đều xác nhận điều
này. Dù ǵ th́ anh em
tổng-thống Ngô đ́nh Diệm
đă bị ám sát chết, do
thiếu tá Dương Hiếu
Nghĩa hay đại úy Nguyễn
Văn Nhung thừa hành th́
tướng Dương Văn Minh và
Ủy Ban Cách-Mạng phải
liên đới trách nhiệm
trước lịch-sử, cũng như
các tướng Mai Hữu Xuân
(“Mission accomplie!”
chào tŕnh tướng Dương
Văn Minh) và hai đại tá
Nguyễn Văn Quan và Dương
Văn Lắm, ... chỉ huy
đoàn quân xa đi đón đă
không làm tṛn trách
nhiệm, hoặc có chỉ huy
mà như không hoặc đồng
lơa v́ sự đă rơ là hai
ông Nghĩa và Nhung muốn
làm ǵ th́ làm (cả cho
biết trước!). Ông Trần
Văn Đôn kết luận chuyện
t́m kẻ chủ xướng đă tỏ
đồng ư và khen “người
nào đó ra lịnh giết nầy
quả là một người thấy
xa, ông ta không phải
ngu dại khi làm việc đó”
(8). Dĩ nhiên người Mỹ
hài ḷng v́ tham vọng
bành trướng chiến-tranh
sẽ hết bị cản trở bởi vị
nguyên thủ quốc-gia hợp
hiến, đă mừng reo lên
chiều ngày 2-11 khi đón
hai ông Đôn và Lê Văn
Kim đại diện các tướng
đảo-chánh: “C'est
formidable! C'est
magnifique! (Tuyệt
vời!)” (9).
Vai-tṛ của Nguyễn Văn
Nhung th́ đă rơ (10),
c̣n thiếu tá Dương Hiếu
Nghĩa th́ nhiều nhân
chứng từ sau 1963 đă ám
chỉ ông tham gia việc
giết anh em tổng-thống -
cả hai đều ngồi chung xe
thiết-giáp với anh em
tổng-thống. Theo Trần
Văn Đôn, ông Nghĩa đ̣i
đi theo đoàn đón
tổng-thống và nói “Moa
có nhiệm vụ” (11). Hoàng
Văn Lạc (biệt bộ tham
mưu phủ tổng-thống lúc
đảo-chánh) và Hà
Mai-Việt trong Nam
Việt-Nam 1954-1975:
Những Sự Thật Chưa Hề
Nhắc Tới xuất-bản năm
1990, buộc tội ông Nghĩa
là đao phủ thủ thứ hai
trong vụ ám sát
tổng-thống. Điều tra của
ông bà Hoàng Ngọc Thành
và Thân Thị Nhân Đức
xuất-bản năm 1994 cũng
đưa tới cùng kết luận đó
(12) nhưng ông Nghĩa từ
chối trả lời phỏng vấn
sau khi qua Mỹ theo diện
H.O. Năm 1996, ông Nghĩa
cuối cùng lên tiếng, tự
biện hộ cho rằng ông có
biết tướng Dương Văn
Minh ra lệnh giết ông
Nhu.
Ngay sau đó, ông bà
Hoàng Ngọc Thành và Thân
Thị Nhân Đức viết bài
vạch mười điểm sai lầm
và ngụy biện của ông
Nghĩa, cho biết thêm đại
úy Phan Ḥa Hiệp (sau
lên chuẩn tướng) đă nói
với hai soạn giả (cũng
như với nhiều người khác
như Ngô Đ́nh Châu (13)),
rằng ông đă nghe ông
Nghĩa nói sẽ giết anh em
ông Diệm để trả thù cho
đại úy thiết giáp Bùi
Ngươn Ngăi bạn ông và
cùng đảng viên Đại-Việt
bị tử thương trong ngày
đảo-chánh (14). Ông Duệ
th́ chắc chắn về việc
ông Nghĩa nhúng tay giết
tổng-thống v́ có hai
nhân chứng thấy ông
Nghĩa lau tay dính máu.
Về sau ông Nghĩa làm phụ
thẩm ṭa án cách-mạng xử
tử ông Ngô đ́nh Cẩn, vậy
theo ông Duệ, ông Nghĩa
đă dính máu ba anh em
ông tổng-thống (15)!
Ông Huỳnh Văn Lang trong
bộ hồi kư Nhân Chứng Một
Chế Độ đă cho biết thêm
một số chuyện: đại tá
Nguyễn Văn Quan có
vai-tṛ trong cái chết
của anh em Ngô đ́nh
Diệm, ông Quan thuộc
đảng Đại Việt và có thù
cá nhân với ông Nhu
(16). Thứ nữa, tướng
Dương Văn Minh bất măn
bị lấy lại “chiến lợi
phẩm” từ Bảy Viễn (17).
Ông Nguyễn Hữu Duệ, lúc
đảo-chánh là thiếu tá tư
lệnh phó cho trung tá
Nguyễn Ngọc Khôi Lữ đoàn
Pḥng vệ tổng-thống phủ,
đă ghi lại trong Nhớ Lại
Những Ngày ở Cạnh
Tổng-Thống Ngô đ́nh Diệm
(18), rằng ông Quan đă
chối với ông vai-tṛ
trong vụ ám sát
tổng-thống v́ ông Quan
chỉ t́nh cờ đi theo. Cựu
đại tướng Cao Văn Viên
trong Những Ngày Cuối
Của Việt Nam Cộng-Ḥa
trong lời Bạt viết thêm
khi bản dịch xuất-bản
(19), đă tiết lộ thêm
ông suưt bị cách-mạng
giết vào tối 1-11 sau
khi đại úy Nhung đă đưa
anh em Lê Quang Tung đi
giết ở Nghĩa trang Bắc
Việt Tương Tế.
Ông Ngô đ́nh Cẩn và Phan
Quang Đông th́ bị
“cách-mạng nối dài” xử
tử ngày 9-5-1964 tức sáu
tháng sau. Ông cố vấn
Ngô đ́nh Cẩn cả-tin ở
lời hứa của người Mỹ, đă
vào trốn ở toà lănh sự
Mỹ ở Huế để cuối cùng bị
đại sứ Henry Cabot Lodge
giao lại cho những người
v́ họ ông phải ... xin
tị nạn, rồi khi có án tử
th́ Lodge (vờ) xin ân xá
cho nạn nhân của y! Như
vậy cái chết đến với ông
v́ một tướng Cần lao
phản bội khác v́ muốn
lấy ḷng Phật giáo nhưng
lư do chính có thể v́
không khai thác được
tiền tưởng ông Cẩn và
gia-đ́nh gửi ở Thụy Sỹ
trong thực tế có thể
không hề có (20)!
Đảo-chánh 1-11-1963 cùng
với những cái chết bi
đát không những đối với
người chết, với công lao
và hành trạng của họ, mà
c̣n bi đát cả đối với
người sống, bởi vậy đă
40 năm qua, tang thương
đă nhiều mà những cái
chết đó vẫn c̣n ám ảnh
nhiều người, Việt cũng
như Mỹ, Pháp! Bà Anne
Blair gọi là một “mối ám
ảnh đeo đuổi dai dẵng
lương tâm nước Mỹ, quần
chúng và nhà lănh đạo xứ
này, tạo ra hội chứng
Việt Nam / Vietnam
Syndrome” (21). Người
bản chất đă xấu càng tệ
hơn bên cạnh con người
thanh cao càng tỏ rạng
hơn với thời gian!
5. Đảo-chánh này đă có
lợi cho kẻ thù nghịch là
Hà-Nội và cho đồng minh
Hoa-Kỳ. Hà-Nội từ sau
đảo-chánh không c̣n phải
đối đầu chính-trị với
Ngô đ́nh Diệm - một
người yêu nước, thanh
liêm mà nay chỉ phải đối
đầu với tay sai, bù nh́n
của thực dân Mỹ, lại
tham nhũng, mất tư cách,
gây “khoảng trống
chính-trị khổng lồ” cho
miền Nam th́ dễ dàng quá
xá! Cựu đảng viên
cộng-sản Bùi Tín cho
biết đảo-chánh đă gây
thuận lợi cho mưu đồ
thôn tính miền Nam của
Hà-Nội, tháng 4-1964,
chính tướng Nguyễn Chí
Thanh đă đích thân vào
Nam điều khiển cuộc
chiến đó (22)! Hoa-Kỳ
thủ phạm và ṭng phạm
giết Ngô đ́nh Diệm,
tổng-thống một quốc gia
độc lập vừa là đồng
minh, nay ai cũng biết
là v́ quyền lợi đế quốc
kinh tế chứ chẳng v́ lư
thuyết cao quư ǵ cả!
Lobby áp lực tư bản Mỹ
đứng sau ba ông cố vấn
“anti-Diem activists”
của tổng-thống Kennedy
là tác-giả bức công điện
định mạng Deptel 243 gửi
cho đại sứ “thực dân”
Cabot Lodge, công điện
bật đèn xanh cho vụ
đảo-chánh! C̣n chuyện
Hoa-Kỳ giết lănh tụ đồng
minh, từ hơn 50 năm nay
danh sách khá dài; khiến
sau cái chết của
tổng-thống Diệm, một vị
lănh tụ ở á-châu là
Ayoub Khan, thủ tường
Pakistan, đă tuyên bố
rằng làm đồng minh
Hoa-Kỳ thật nguy hiểm,
tốt hơn nên trung lập
hoặc làm kẻ thù - sau
này Kissinger cũng lập
lại nhưng đạo đức giả v́
tay ông ta nhúng chàm ở
Chili, Việt Nam và nhiều
nơi khác! Chính phủ Mỹ
chứng minh với thế giới
rằng khi họ cần th́ là
đồng minh, khi hết xử
dụng được hoặc đụng chạm
quyền lợi Mỹ th́ ám sát,
kể cả người đó là theo
chủ nghĩa quốc gia hoặc
cùng tôn giáo Thiên Chúa
với người Mỹ. Và làm đại
sứ Mỹ ở đâu là hôm trước
tŕnh ủy nhiệm thư, hôm
sau trở thành chuyên
viên đảo-chánh!
6. Đă là một thiết yếu
có tính cách giai-đoạn,
thành thử về trường kỳ
đă là một sai lầm lớn.
Các tài liệu được bạch
hóa cũng như nhiều
nghiên cứu, sách báo từ
đó đă đi đến cùng một
kết luận: tổng-thống
Kennedy đă cho phép (chứ
không phải “ra lệnh” -
đây là cách hiểu lệnh
theo ư của tùy ṭng phụ
tá ở Mỹ như ... và ở
Việt Nam như Lucien
Conein, Henri C. Lodge).
Nghiên cứu mới nhất của
kư giả James Rosen tựa
The Strong Man: John
Mitchell, Nixon and
Watergate về vụ
Watwergate nhưng trở về
một nguồn là vụ ám sát
tổng-thống Ngô đ́nh
Diệm. Cuốn sách
Doubleday sẽ xuất bản
tháng 8-2004 nhưng đă có
một số bài báo tiết lộ
một số chi tiết, như
chuyện một cuộn băng
được bạch-hoá ngày
28-2-2003 cho biết phó
tổng-thống Johnson đă
xác nhận tổng-thống
Kennedy và ban tham mưu
kể cả ông, không những
đă bật đèn xanh mà c̣n
“tổ chức và thi hành vụ
thảm sát này”
(“organized and executed
it”) với lư do “tham
nhũng / corrup”) (?), do
đó đă “giết ông ta.
Chúng ta đă họp với nhau
và dùng một bọn giết
mướn đáng nguyền rủa để
làm việc này” (“So we
killed him. We all got
together and got a
goddam bunch of thugs
and assassinated him”!
Xin để ư chữ dùng của
phó tổng-thống Johnson
để gọi những người phe
đảo-chánh! Nhưng ông
thêm một câu cho nhẹ tội
đồng lơa: “Chúng ta đă
giết ông ta v́ cho rằng
ông ta không tốt. Lúc đó
tôi đă can đừng làm việc
đó nhưng họ không nghe
tôi và cứ thi hành”
(“And I just pledge with
them please don't do it.
But that is where it
started and they knocked
him off”). Trong
Triangle of Death: The
Shocking Truth About the
Role of South Vietnam
and the French Mafia in
the Assassination of JFK
, hai nhà báo Bradley
O'Leary và L.E. Seymour
cho rằng vụ ám sát
tổng-thống Kennedy là
hậu quả của vụ ám sát
anh em tổng-thống Ngô
đ́nh Diệm và do bàn tay
của mafia gốc Pháp ở New
Orleans LA và cả người
Việt Nam. Dù những cố
vấn và chóp bu toà Bạch
ốc có chia ra hai phe
bảo-thủ và tự-do, nhưng
trách nhiệm lịch-sử đă
đổ lên đầu tổng-thống
Kennedy! Tổng-thống
Kennedy 2 ngày sau,
4-11-1963, xúc động và
tỏ ư hối tiếc vụ
đảo-chánh và nhận trách
nhiệm (23) nhưng v́ muốn
lấy phiếu cử tri nên
ngày 20-11-1963 họp báo
ở Hononulu đă tuyên bố
sẽ rút quân về nếu thắng
cử, và hai ngày sau th́
ông bị ám sát ở Dallas,
phó tổng-thống Johnson
lên thay sẽ tha hồ đổ
quân vào Việt Nam như tư
bản Mỹ muốn!
Dĩ nhiên CIA cũng đă có
một vai-tṛ quan trọng
dù kín đáo hơn trong vụ
ám sát hai anh em ông
tổng-thống Ngô đ́nh Diệm
(24). Ngoài ra, các
thông tấn, báo chí nhất
là New York Times từ
28-11-1962 đă “dám” cảnh
cáo tổng-thống Ngô đ́nh
Diệm nếu không nghe lời
Mỹ, sẽ bị rớt đài (25).
Các nhà báo Hoa-Kỳ như
David Halberstam, Neil
Sheehan, Malcolm Brownw,
v.v… t́m liên hệ với báo
chí Việt Nam đứng đầu là
Bùi Diễm tờ Saigon Times
để hoàn thành “chiến
dịch” lật đổ tổng-thống
một nước đồng minh! Báo
chí và truyền thông
Hoa-Kỳ sau đó vẫn tiếp
tục can dự vào chính-trị
Việt Nam đưa đến biến cố
30-4-1975 khiến nhiều
người đă kết luận là báo
chí Mỹ đă thua cuộc
chiến đó, v́ vậy mà sau
này quân đội Hoa-Kỳ đi
đánh vùng Vịnh ở Trung
đông đă giảm thiểu tối
đa sự có mặt của giới
truyền thông Mỹ!
7. Biến cố đảo-chánh này
và những diễn biến
chính-trị sau đó chứng
tỏ vai-tṛ tệ hại của
các chính đảng vốn nhập
cảng từ Bắc vào với Hiệp
định đ́nh chiến 1954, đă
không thật thích hợp với
miền đất phía Nam. Các
chính khách đó chỉ nhắm
ghế bộ trưởng và quyền
hành (thời kham khổ
chiến đấu bí mật hay từ
quần chúng nơi thôn quê
hẻo lánh đă ... xa
lắc!). Rồi từ ngoại quốc
về thẳng ghế phó thủ
tướng, bộ trưởng, ...
rồi chạy theo người Mỹ
vận động chức chưởng.
Xuất hiện những Tân Đại
Việt, Phong Trào Cấp
Tiến cùng với những biến
mất v́ ám sát của những
Nguyễn Văn Bông, Trần
Văn Văn, ... Những đại
tá Nguyễn Văn Quan,
thiếu tá Dương Hiếu
Nghĩa đều là đảng viên
Đại Việt. Vai-tṛ của
các đảng phái đặc biệt
là Đại-Việt Quan Lại tuy
không là yếu tố quyết
định nhưng góp phần phía
chính trị lật đổ chế độ
hợp hiến Ngô đ́nh Diệm.
Bùi Diễm khoe trong hồi
kư và qua các tài liệu
mật Pentagon cũng như
các tài liệu nói chung,
đă cho thấy ông đă đóng
vai khá động, với tư
cách nhà báo của Saigon
Times và đồng thời đảng
viên Đại-Việt, đă làm
“con thoi” của người Mỹ,
ngay từ đảo-chánh
11-11-1960! Chính Đạo
từng hơn một lần gọi ông
Diễm và Đặng Văn Sung là
“đảng viên Đại-Việt thời
cơ” (26). Ông Diễm từ
1960, nhất là sau vụ
Caravelle, đă liên hệ
cũng như “tường tŕnh”
vạch lá t́m sâu chế độ
Ngô đ́nh Diệm cho các
nhà báo người Mỹ như
Neil Sheehan, M. Brown,
David Halberstam, v.v.
(27). Họ Bùi và đảng
Đại-Việt v́ tham vọng
quyền lực chính-trị đă
“tế thần” chế độ
tổng-thống Ngô đ́nh
Diệm, qua connection
Joseph Buttinger và thủ
lănh Nguyễn Tôn Hoàn
đang ở Hoa-Kỳ lúc đó
(chờ về ... chấp chánh)
làm lobby với chính
quyền Kennedy. Các tướng
lănh đảo-chánh cũng như
chỉnh lư và biểu dương
lực lượng sau đó
(1963-1965) đều rơi vào
mê hồn trận của đảng
Đại-Việt, chi phối cho
đến hoà đàm Paris và
biến cố 30-4-1975 và cả
sau đó ở hải-ngoại (28).
Cũng không nên quên
vai-tṛ của thiếu tá
Dương Hiếu Nghĩa trong
cái chết của anh em ông
tổng-thống Ngô đ́nh
Diệm, ông Nghĩa là đảng
viên Đại-Việt và từng
tuyên bố trả thù cho
đồng đảng bị tử trận
ngày đảo-chánh. Sau ông
lên đại tá và ra
hải-ngoại được chất vấn
vẫn chưa trả lời thỏa
đáng.
8. Nhiều nhân-vật liên
hệ và sự kiện, diễn biến
chung quanh vụ đảo-chánh
cũng như chế độ Ngô đ́nh
Diệm đă bị huyền thoại
hóa, về gia tài gia đ́nh
họ Ngô - tiền của tổng
thống Ngô đ́nh Diệm gửi
cha Toán Ḍng Chúa Cứu
Thế đă bị tướng Trần Văn
Minh cho người đến lấy,
tiền của cố vấn Ngô đ́nh
Cẩn đă bị tướng Đỗ Cao
Trí và Nguyễn Khánh lấy
- ông này c̣n đ̣i thêm
tiền ở Thụy sỹ nhưng có
lẽ không có nên đă phó
mạng ông Cẩn cho phe
Phật giáo bạo động lấy
ḷng. Một vài sự vật và
việc nhỏ nhoi khác cũng
được thổi phồng, huyễn
hóa cho lớn chuyện:
nghiên mực Tức Mặc Hầu
có người t́nh cờ thấy
trong dinh Tổng thống,
Vương Hồng Sển, một
thư-kư thuộc địa
(1923-43) lên đến Quản
thủ Viện Bảo Tàng
Sài-G̣n (1947-1964), lại
đi thắc mắc và tố ông
tổng-thống chiếm đoạt
một nghiên mực (bằng suy
luận) (29) - trong khi
bao vàng bạc châu báu
triều đ́nh Huế đă dâng
cho Trần Huy Liệu, Cù
Huy Cận đại diện Hồ Chí
Minh buộc nhà Vua cuối
cùng Triều Nguyễn thoái
vị - th́ chưa ai “dám”
nói đến! Nghiên mực
trong một căn pḥng tổng
thống mà vật dụng, trang
hoàng chưa chắc đă hơn
pḥng ngũ của tài xế
những ông tướng cùng
thời, th́ có ǵ đáng nói
? Nhưng, nhiều “khoa
bảng, sử gia” dùng đó để
kết luận về ... con
người tổng-thống Ngô
đ́nh Diệm và phê cả chế
độ!
9. Rồi chỉnh lư, biểu
dương lực lượng và một
số quả báo đă xảy ra cho
những người liên hệ xa
gần vụ đảo-chánh: TT Mỹ
John F. Kennedy bị ám
sát 3 tuần sau, ngày
22-11-1963, bốn tướng
đảo-chánh (DV Minh,
Xuân, Đôn, Kim), Nguyễn
Văn Nhung thiếu tá mới
lên, Trần Văn Chương,
... hoặc bộ mặt thật
chẳng ra ǵ của họ! Về
Dương Văn Minh, bà Tùng
Long đă có nhận xét rất
đáng kể khi Huỳnh Thành
Vị mời bà vào nhóm Ba
phe sau khi ông Minh ở
Thái Lan về lại Việt
Nam, bà đă từ chối lấy
lư do không làm
chính-trị mà nếu có làm
cũng không bao giờ hợp
tác với ông Minh với lư
như sau: “Khi cờ đến tay
mà c̣n không phất được
th́ bây giờ c̣n có cơ
hội nào để làm nữa”
(30). Bà Tùng Long lúc
nhỏ ở gần nhà ông Minh ở
đường Trương Công Định
gần vườn Tao đàn, và học
chung với các em gái ông
Minh. Đại tướng Lê Văn
Tỵ cũng từng phát biểu
rằng tướng Big Minh chỉ
“là một thùng phuy rỗng”
(31).
10. Trong số những người
trung thành với chế độ
Ngô đ́nh Diệm, đă có
những người nh́n thấy
trục trặc của chế độ do
đó đă lên tiếng, ra tay,
nhưng không được đáp ứng
và do đó phải chịu trả
giá bản thân: BS Trần
Kim Tuyến, ông Nguyễn
Văn Châu. V.v. Sau
đảo-chánh 11-11-1960 của
các sĩ quan như Vương
Văn Đông, Nguyễn Chánh
Thi và có bàn tay của
một số chính khách, một
số người thân tín của
chế độ đă nh́n thấy cần
cải cách, thay đổi. Một
lực lượng đối lập dân
chủ được h́nh thành,
Phong Trào Đại Đoàn Kết,
từ đầu năm 1961 đă có
một số đề nghị cải cách
trong đó đề nghị lập
chức Thủ tướng và giao
cho BS Phan Huy Quát là
bộ mặt chính-trị tương
đối thanh liêm và có tầm
cỡ. Nhưng ông cố vấn
Sài-G̣n không cùng ư
kiến, do đó ông Châu mất
chức, phải đi D.C. làm
tùy viên quân sự từ
tháng 9-1962, ông Tuyến
làm tổng lănh sự ở Ai
cập nhưng chưa nhận
nhiệm sở th́ đảo-chánh
đă xảy ra. Cuộc
đảo-chánh 1-11-1963 xảy
ra th́ t́nh h́nh Việt
Nam về chính-trị, quân
sự đă khác với thời
đảo-chánh 11-11-1960: ba
năm sau, người Mỹ thao
túng mạnh mẽ hơn và các
vị trung thành với chế
độ đă bị ly tán, không
có quân hoặc quyền hành
như trước! Ông Châu bị
ông Nguyễn Ngọc Khôi
trách đem quân ủy vào
làm yếu quân đội (32).
C̣n ông Nguyễn Hữu Duệ
th́ đưa ra sự kiện trước
đảo-chánh, khi “đại tá
Tung được lệnh cô lập
ông Mậu để dằn mặt những
người mưu toan” nhưng
ông trung tá Châu “nhảy
bổ vào tŕnh diện
tổng-thống khóc lóc than
phiền là ông Nhu bây giờ
hết tin anh em, đă đẩy
ông đi xa , nay c̣n anh
Mậu theo cụ từ bao lâu
nay mà cũng ra lệnh bắt
(...) Nếu ông Châu đừng
xía vô việc này th́ ông
Mậu bị bắt, như vậy các
tướng sẽ không dám làm
đảo-chánh, tôi hỏi thêm
ông Châu. Việc này có
thể đúng, ông trả lời”
(33)! Ông Duệ hỏi ông
Châu chỉ vài ngày sau
đảo-chánh. Theo Trần Văn
Đôn và nhiều người th́
ông Đỗ Mậu theo
đảo-chánh v́ sợ hơn là
chủ động theo!
11. Vụ hiệp thương hoặc
cố vấn Ngô đ́nh Nhu tiếp
xúc với đại diện Hà-Nội
(Phạm Hùng, và có thể cả
Trần Độ theo như lời ông
Tôn Thất Thiện (34))
trước nay vẫn được dùng
như một luận cứ để bênh
vực ... Mỹ và nhóm tướng
lănh đảo-chánh! Chính
ông Ngô đ́nh Nhu trong
một số buổi học tập
chính-trị đă kể - chứ
không giấu diếm như
nhiều người lầm tưởng để
khiến CIA Mỹ phải ŕnh
rập! Chính Đạo Vũ Ngự
Chiêu nhiều lần nhưng
nhất là trong Cuộc Thánh
Chiến Chống Cộng,
1945-1975, đă chứng minh
“hành động “ve văn”
Cộng-Sản của anh em
Diệm-Nhu (...), yếu tố
“phiến Cọng” này mới
thực sự mang lại sự sụp
đổ của đệ Nhất Cộng Ḥa
(1956-1963) mà không
phải cuộc tranh đấu của
Phật Giáo, hay cái gọi
là “bảo vệ chủ quyền
quốc-gia”, “quốc thể”,
“nền độc lập” như nhiều
người tưởng nghĩ” (35).
Một số người để biện hộ
cho những hành vi phản
bội, phá đổ miền Nam đă
lấy lư do ông Nhu nói
chuyện với miền Bắc mà
họ gọi là “thỏa hiệp với
Cọng, xé bỏ Hiến pháp”
như Đỗ Mậu từng ngụy
biện (36), v́ rồi cũng
chính ông Mậu mấy năm
trước khi chết đă viết
Tâm Thư (1995) và về lại
trong nước và đă có
những thái độ, lời nói
rất khả nghi! Lịch-sử
chưa phê phán, chính
ḿnh đă tự lột mặt nạ!
Giả dụ chuyện đó (cũng
như chuyện cành đào chủ
tịch họ Hồ miền Bắc gửi
cho tổng-thống miền Nam)
có thật và thành công,
thiển nghĩ nhiều triệu
người Việt, Nam và Bắc,
đă không phải hy sinh,
nằm xuống hoặc mất tích,
thương tật, v.v. và hôm
nay cũng chẳng có ai
phải bàn căi chuyện chất
độc Orange đă thiêu hủy,
gây thương tật cho thiên
nhiên, môi trường sống ở
Việt Nam cũng như những
quái thai trong các ống
thí nghiệm của Nhà Nước
Hà-Nội! Và biết đâu miền
Nam đă trở thành Nam
Hàn! V.v. Ừ nhỉ, thế th́
cái diaspora Việt Nam
hải-ngoại làm sao giải
thích? * Vấn-đề nghiên
cứu về biến cố, người
trẻ sau này sẽ gặp nhiều
khó khắn cũng như dễ
dàng (37). Xin tham khảo
chính văn, đừng nghe kể
lại dù người đó là khoa
bảng hay có tiếng; nhăn
“linh mục, pháp danh”
cựu này cựu kia, với một
thiểu số có khi c̣n nguy
hại hơn tài liệu và
chứng giám của một tù
nhân hay lính quèn! Có
thật sự tham khảo mới có
thể có nhận định, phán
đoán chính đáng, công
bằng. Hăy tập bỏ lư luận
v́ người cùng phe, v́
danh tiếng người nào đó,
nếu muốn tránh hời hợt
và trở thành tṛ xiếc!
Muốn nghiêm chỉnh nghiên
cứu và phê phán cuộc
đảo-chánh 1-11-1963,
thiển nghĩ không thể
không làm (thêm) những
việc sau đây: - Nghiên
cứu lư thuyết chính-trị
Nhân Vị của ông Ngô đ́nh
Nhu. Thuyết này không từ
trên trời rơi xuống, có
thông hiểu nó và con
người chủ tŕ ra nó
đông-tây tổng hợp và có
cái nh́n viễn kiến -
cũng như muốn hiểu Trung
cộng không thể không
tham khảo những ǵ Mao
Trạch Đông đă viết từ
những thập niên 1930,
40. Chính đảng trong
chính quyền mà có lư
thuyết nghiêm túc dĩ
nhiên là cần thiết, băng
đảng mới là nguy hại! -
Nghiên cứu lại những
lư-thuyết chống Cộng của
ông Nhu cũng như của các
người khác, của những
thời 1954, 1960, 1963,
v.v. so với sau đó cho
đến 30-4-1975. - Khách
quan t́m hiểu những thực
hiện của chế độ đệ nhất
Cộng-hoà như chính sách
dinh điền, khu trù mật,
ấp-chiến-lược, v.v. Cũng
tránh thiên-kiến, cảm
tính là những điều khó
tránh cho những người có
liên hệ xa gần đến các
biến cố, và tránh những
tổng quát hóa đơn sơ như
kết luận kiểu “Ngô đ́nh
Diệm tạo nên thời đại
hoàng kim của Ki-tô
giáo” (38) trong khi
thực tế phức tạp nhiều!
- Một khía cạnh khác
cũng đáng kể nhưng ít ai
đi sâu vào: vai-tṛ ông
cố vấn miền Trung Ngô
đ́nh Cẩn. Ông Cẩn liên
hệ tốt đẹp với giáo hội
Phật giáo ở Huế cũng như
với Thích Trí Quang.
Nhạy bén và biết hành xử
chính-trị, trong vụ
khủng hoảng Phật giáo
mùa Hè 1963, ông đă mời
được các vị lănh đạo
Phật giáo đến nhà ông
ngày 7-5-1963 và đă nói
như sau khi tiễn họ ra
cửa: “Một tṛ Ơn chết mà
chết cả một chính phủ,
huống chi của một tôn
giáo lớn nhất mà bị
triệt hạ ngang như thế!”
(39). Giáo sư Nguyễn Văn
Trung trong tập bản thảo
“Vẽ Đường Cho Hươu Chạy”
đă tổng kết về những sự
kiện lịch-sử chưa ai nói
đến về ông Ngô đ́nh Cẩn.
Giáo sư đưa ra ánh sáng
hai điểm qua hai tài
liệu Bội Phản Hay Chân
Chính, hồi kư tập thể
của một số cựu tù nhân
của Đội Công Tác Đặc
Biệt Miền Trung và bài
viết của luật sư Vơ Văn
Quan đăng trên Thế Giới
Ngày Nay cuối năm 1992 -
ông Quan là người từng
biện hộ cho ông Ngô đ́nh
Cẩn: thứ nhất, ông Cẩn
không phải là thủ phạm
hay có dính líu đến vụ
đàn áp Phật giáo, ngược
lại ông c̣n ủng hộ cuộc
“đấu tranh” đó và chống
lại hai ông anh ở
Sài-G̣n đă nghe lời TGM
Ngô Đ́nh Thục. Thứ nữa,
cách ông Cẩn chống Cộng
làm cho cộng-sản Hà-Nội
sợ và đă đem lại an ninh
cho miền Trung vốn rất
xáo động. Trích đoạn đă
được đăng trên tờ Ngày
Nay Houston (40) nói đến
“thành tích chống Cộng
của Mật vụ Ngô đ́nh
Cẩn-Dương Văn Hiếu thật
diệu kỳ, siêu tổ chức”;
và tù cộng-sản ở nhà tù
ông Cẩn ra đều bị Hà-Nội
nghi ngờ và không được
tin dùng nữa! Ngoài ra,
ông Trung c̣n đưa ra lư
lẽ tại sao thượng tọa
Thích Trí Quang muốn xử
tử ông Ngô đ́nh Cẩn: chỉ
để bịt miệng thế gian là
chế độ Ngô đ́nh Diệm đàn
áp Phật giáo trong khi
thực tế ngược lại. Thích
Trí Quang cộng tác với
ông Cẩn lúc đầu là để
trá hàng, lợi dụng ông
Cẩn, và cuối cùng TT
Quang đă để cho cộng-sản
Hà-Nội lợi dụng ông! Cái
chết của ông Cẩn là một
sỉ nhục và ông đă khẳng
khái tỏ ra khinh miệt kẻ
gian khi không chịu bịt
mặt!
Về các tài liệu, hồi kư
của bên người miền Nam,
quốc gia đă đành, mà
cũng nên xem qua tiếng
nói, nhân chứng phía
người Cộng sản Việt Nam
và cựu đảng viên
cộng-sản. Nếu lướt qua
những tài liệu chúng tôi
đă tham-khảo về biến cố
đảo-chánh 1-11, xin lược
lại đây một số ư kiến:
một số người (Nguyễn
Mạnh Quang,...). không
tham khảo nguyên bản,
chỉ lập lại lời người
khác, hoặc trích lời
dịch từ những nguyên bản
tiếng ngoại ngữ có thể
bất khả tín. Người khác,
như Trần Ngọc Ninh (40
Năm Sau (41)), một cựu
ủy viên tương đương
bộ-trưởng của miền Nam,
40 năm sau đảo-chánh mà
không cập nhật tài liệu
và khám phá mới, đọc ông
cứ như mới viết sau
đảo-chánh thời cao trào
Phật giáo hoặc suưt gây
thánh chiến với Công
giáo. Người khác nữa th́
nhầm lẫn nhân sự: một
ông ở Úc (42) lầm Nguyễn
Văn Châu với Nguyễn Hữu
Châu, người khác ghi
Trần Văn Châu khi nói
tới giám-đốc Nha
Chiến-tranh Tâm-lư không
biết ông ta muốn nói
Trần Văn Trung hay
Nguyễn Văn Châu v́ cả
hai đều giữ chức đó, ông
Trung trước, ông Châu kế
nhiệm.
Tài-liệu hoặc tác giả có
thể tin hoặc giúp ích
cho nghiên cứu về biến
cố có: LM Cao Văn Luận
(Bên Gịng Lịch-Sử, 2 ấn
bản khác nhau, 1972 &
1983 ở hải-ngoại), Hoàng
Lạc & Hà Mai-Việt (Nam
Việt-Nam 1954-1975:
những sự thật chưa hề
nhắc tới. 1990), Nguyễn
Trân (Công Và Tội: những
sự thật lịch sử; hồi-kư
lịch sử chính trị miền
Nam 1945-1975. 1992);
Hoàng Ngọc Thành và Thân
Thị Nhân Đức (Những Ngày
Cuối Cùng Của Tổng-Thống
Ngô đ́nh Diệm. 1994, một
điều tra lịch-sử khá
khách quan (43); bản
dịch ra tiếng Anh:
President Ngô D́nh Diêm
and the US: his
overthrow and
assassination. 2001),
Phan Văn Lưu (Biến Cố
Chính-Trị Việt Nam Hiện
Đại. 1994), Vĩnh Phúc
(Những Huyền Thoại Và Sự
Thật Về Chế Độ Ngô Đ́nh
Diệm. 1998), Minh Vơ
(Ngô Đ́nh Diệm: Lời Khen
Tiếng Chê. 1998), Huỳnh
Văn Lang (Nhân Chứng Một
Chế Độ, 3 tập), Nguyễn
Hữu Duệ (Nhớ Lại Những
Ngày ở Cạnh Tổng-Thống
Ngô đ́nh Diệm. 2003),...
Cũng như những ấn phẩm
xuất-bản trong nước
trước 1975 như của Lê Tử
Hùng, Đỗ Thọ, Lương Khải
Minh và Cao Vị Hoàng,
Minh Hùng Nguyễn Văn
Bảo, v.v.
Phía tác-giả ngoại quốc,
trước hết phải kể đến
những tài liệu giải mật
của Pentagon (44), của
chính quyền Hoa-Kỳ, Bản
tường tŕnh của Phái
đoàn điều tra LHQ (công
bố ngày 13-12-1963 chứ
không bị ch́m xuồng như
một đôi người viết
(45)), B. S. N. Murti
(Vietnam divided; the
unfinished struggle,
1960, tb 1964), Dennis
J. Duncanson (Government
and Revolution in
Vietnam. 1968),
Marguerite Higgins (Our
Vietnam Nightmare,
1965), R. Shaplen (The
Lost Revolution. 1965),
Ellen J. Hammer (A Death
in November: America in
Vietnam, 1963. 1987),
Frederick Nolting (From
Trust to Tragedy: the
political memoirs of
Frederick Nolting,
Kennedy's ambassador to
Diem's Vietnam. 1988),
Anne E. Blair (Lodge in
Vietnam: a Patriot
Abroad. 1995), Francis
X. Winters (The Year of
the Hare: America in
Vietnam, January 25,
1963-February 15, 1964;
xuất-bản 1997, từ tài
liệu giải mật Foreign
Relations of the U.S.
1961-1984),
Những tài-liệu hoặc tác
giả sau dùng được nhưng
đề cao cảnh giác: Bùi
Diễm (In the Jaws of
History. 1987; Gọng Ḱm
Của Lịch-Sử. 2000); Trần
Văn Đôn (Our Endless
War: inside Vietnam.
1978; Việt Nam Nhân
Chứng. 1989), Nguyễn Cao
Kỳ (How we lost the
Vietnam War. 1976;
Buddha's Child: my Fight
to Save Vietnam. 2002),
Phạm Văn Liễu. Trả Ta
Sông Núi. Tập 1&2,
2002-, Nguyễn Ngọc Khôi
(“Những sai lầm của Đệ
Nhất Cộng Ḥa” (46)),
Việt Nam Máu Lửa Quê
Hương Tôi của Đỗ Mậu
(1986), Việt Nam: Một
Trời Tâm Sự (1987) của
Nguyễn Chánh Thi, 20 Năm
Binh Nghiệp, tức Nghĩa
Biển T́nh Sông. 1998)
của Tôn Thất Đính - đều
là những biện hộ không
khéo hoặc quá đánh bóng
cá nhân, Những bịa đặt,
xuyên tạc của những Đệ
Nhất Phu Nhân của Hoàng
Trọng Miên, Đảng Cần Lao
(1971) của Chu Bằng Lĩnh
tức Mặc Thu, Việt Nam Đệ
Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư
1954-1963 (1998) của
Nguyễn Mạnh Quang, Những
Bí ẩn Lịch-sử Dưới Chế
độ Ngô đ́nh Diệm, Những
Con Tḥ Ḷ Chính-Trị ...
và tương cận của Lê
Trọng Văn, những bài
viết và ấn-phẩm của nhóm
Giao Điểm ở Cali và ở
trong nước, cả cuốn Sáu
Tháng Pháp Nạn của Vũ
Văn Mẫu, cựu ngoại
trưởng đă cạo đầu từ
chức nhân biến cố Phật
Giáo 22-8-1963 và cũng
là thủ tướng hai ngày
(28-4-1975) của
tổng-thống cộng-ḥa cuối
cùng Dương Văn Minh, đă
viết cuốn này lúc c̣n ở
trong nước và in ronéo
năm 1984, đến 2003, TT
Thích Măn Giác viết tựa
và nhóm Giao Điểm in lại
ở Nam California. Ngoài
ra có những tài liệu,
hồi kư khác có thể xử
dụng về xa gần biến cố
đảo-chánh hoặc con
người: Nhị Lang (Phong
Trào Tŕnh Minh Thế.
1984), Văn Bia (Đời Một
Phóng Viên Và Những Ngày
Chung Sống Với Chí Sĩ
Ngô Đ́nh Diệm, 2001
(47)), Vương Văn Đông
(Binh Biến 11-11-60.
2000), Nguyên Vũ (Chính
Đạo, Vũ Ngự Chiêu) có
nhiều tài liệu sử và
biên thuật đáng kể và
khá tinh tế sử dụng văn
liệu, nhưng nếu ông nén
cảm tính (dù ông đă ghi
là “tâm bút” cho ít nhất
hai cuốn Paris Xuân 1996
và Ngàn Năm Soi Mặt),
khi sử-liệu-hóa lịch-sử
th́ giá trị khách quan
và khoa học sẽ rơ hơn và
thuyết phục được giới
trẻ. Những ám ảnh thường
thấy trong toàn bộ các
biên khảo của ông về chế
độ đệ nhất cộng ḥa, đó
là ngày sinh của
tổng-thống Diệm thời mà
giấy tờ hộ tịch chưa như
sau này, đó là đánh giá
cao hoặc cả tin những
người Hoa-Kỳ, Pháp (48),
v.v. trong mục-đích hạ
giá các nhân vật người
Việt, đó là mặc cảm về
quyền lực của giáo hội
Công giáo, đó là không
khai thác những văn khố
hoặc sự kiện có lợi cho
chế độ đó, đó là quá đề
cao các đảng phái khác
khi phê phán đảng Cần
Lao và chế độ, thiếu so
sánh và căn cứ trên
những sự kiện lịch-sử đă
xảy ra, riêng vụ
đảo-chánh, ông lư luận
như bênh phe đảo-chánh
(tại sao anh em
tổng-thống vào trốn ở
nhà Mă Tuyên, “một địa
điểm đầy nghi hoặc” (49)
- nhưng vụ ám sát đă xảy
ra khi anh em tổng-thống
đă bị bắt và đang bị đưa
về bộ chỉ huy đảo-chánh!
C̣n giả thuyết nếu xin
đại sứ Hoa-Kỳ C. Lodge
bảo vệ đưa ra khỏi nước
th́ kết quả chắc ǵ đă
khác hậu quả đă xảy ra
với ông Cẩn: giao kẻ xin
tị nạn cho phe ... giết
người (!). Khi kết luận,
thiển nghĩ Chính Đạo
không công bằng khi núp
sau luật nhân quả (nhưng
ai đủ thẩm quyền để xét
luật nhân quả?) để xem
rất nhẹ tội kẻ chủ mưu
giết anh em tổng-thống
Diệm hơn là lời nói và
cái ông gọi là “vỗ tay”
của bà Trần Lệ Xuân khi
bà nói đến các vị sư tự
thiêu BBQ: sự tự thiêu
dù sao cũng có phần nào
nghi vấn, trong khi lời
nói dù quá lố hoặc được
hiểu là thêm dầu vô lửa
hay vỗ tay cũng không
phải là chính hành động
... giết người rồi chối
tội sau khi đă nhận tiền
ngoại bang và chia chác
tiền của chiếm được!
Nhiều luận án ở các đại
học Pháp, Mỹ và Úc đă
nghiên cứu nghiêm túc
một số biến cố hoặc cả
chân dung chính-trị miền
Nam thời này, về chế độ
đệ nhất cộng-hoà, về vai
tṛ một số đảng phái ở
miền Nam, và đă có những
cái nh́n theo tôi là can
đảm, trung thực, công
bằng và khoa học. Ở Pháp
có rất nhiều luận án từ
cao học đến tiến sĩ
không thể kể dài ḍng ở
đây, ở Úc là nơi đang
lên về nghiên cứu các
vấn-đề Việt Nam từ
chính-trị đến văn-học có
những luận án tiến sĩ
đại học Monash xin kể
sau: The Miracle of
Vietnam: the
Establishment and
Consolidation of Ngo
Đinh Diem 's Regime,
1954-1959 của Nguyễn
Ngọc Tân, The Budhish
Crises in Vietnam
1963-1966 của Phan Văn
Lưu, v.v.
Ngoài ra cũng nên t́m
hiểu thái độ cũng như
những phát biểu của
những người từng được
chế độ đệ nhất cộng hoà
cho đi du học, xem họ
trung hoặc phản ra sao,
cũng như nghiên cứu
trường hợp những vị trí
thức, khoa bảng hoặc
thời cơ, “bảo hoàng hơn
vua” để nịnh chế độ ra
sao cũng như “tác phẩm”
và thái độ của họ sau đó
thế nào. Cũng như những
người bỏ đạo gốc để theo
đạo mới nịnh chế độ để
tiến thân, rồi sau
đảo-chánh, bỏ đạo mới!
Và cả những người cao
cấp nằm vùng, gián điệp
nhị, tam trùng, v.v. Từ
đó có thể có thêm những
kết luận khác, về cái
tâm địa khốn-cùng của
con người chẳng hạn!
Gần đây, một sinh viên
tiến-sĩ người Mỹ đă gây
ngạc nhiên cho tôi khi
anh gặp tôi v́ muốn t́m
hiểu rơ hơn vai tṛ của
ông Nguyễn Văn Châu cũng
như một số người khác
liên hệ và chỉ ở những
ngày trước sau vụ
đảo-chánh 1-11. Một trí
thức người Việt tốt
nghiệp ở Nga cũng hỏi
thăm tôi như vậy! Nghĩa
là có người vẫn đi t́m
sự thực lịch-sử, việc
tôi vẫn và tiếp tục theo
dơi! Ngoài ra mới đây,
hai ngày 24-25 tháng
10-2003, một cuộc hội
thảo về biến cố
đảo-chánh 1-11 đă được
Vietnam Center thuộc đại
học Texas Technology ở
Lubbock tổ chức. Cựu
đảng viên cộng-sản Bùi
Tín đă có bài tham luận
đă kết luận như sau về
tổng-thống Ngô đ́nh
Diệm: “ông Diệm là một
nhân vật chính-trị đặc
sắc, có ḷng yêu nước
sâu sắc, có tính cách
cương trực thanh liêm,
nếp sống đạm bạc giản
dị” (50). Bà Ngô đ́nh
Nhu ở Paris h́nh như sắp
ra hồi-kư (51), thế nào
cũng sẽ cho thấy một số
bộ mặt thật của nhân
t́nh thế thái. Hy vọng
các nhân chứng khác hoặc
liên hệ đến cuộc
đảo-chánh sẽ tiếp tục
góp phần làm sáng tỏ một
số sự kiện và con người!
* Vài ḍng thêm: Khi vụ
đảo chánh xảy ra, chúng
tôi đang học trung học
đệ nhất cấp. Một số tai
mắt và quan-yếu của chế
độ đệ nhất cộng hoà t́nh
cờ có mặt trong nhà
chúng tôi ở Tân-định khi
tiếng súng phản-bội bắt
đầu nổ sau 1 giờ 30
trưa. Sau đó là bể dâu
đối với phần lớn trong
các vị này và nay hầu
như tất cả đều đă chết,
phần lớn trên đường
lưu-vong ở xứ người,
ngay sau biến cố hoặc
sau ngày 30-4-1975 và cả
gần đây với những đợt
H.O. - đă 40 năm rồi c̣n
ǵ? Cá nhân chúng tôi -
cũng như một số người
Việt Nam, dù muốn dù
không, đă bị lịch sử
cuốn hút và ảnh-hưởng
đến cuộc sống và cả cuộc
đời! Rồi cuộc sống lưu
vong, rồi những cơn băo
ḷng của người Việt nhất
là của một số bậc trưởng
thượng hoặc đi trước,
giữa đường đời thấy sự
bất b́nh, khiến chúng
tôi cũng đă đôi lần làm
đôi việc rất khiêm tốn.
Năm 1988, chúng tôi đă
dịch và xuất bản cuốn
Ngô Đ́nh Diệm Và Nổ Lực
Hoà B́nh Dang Dở (Los
Alamitos CA: Xuân Thu,
1989, tái bản cùng năm),
một cách cung cấp thêm
tiếng nói và quan-điểm
của người trong cuộc là
ông Nguyễn Văn Châu
(1923-1985) cũng là cậu
của chúng tôi. Đây là
luận-văn Cao-học về sử
mà ông đă tŕnh ở đại
học Paris nhưng có tính
hồi-kư v́ sự liên hệ và
quá khứ của ông - tựa là
Ngo Dinh Diem en 1963:
une autre paix manquée.
Lúc bấy giờ ông sống với
nghề dạy học môn sử ở
thành phố Orléans là nơi
ông tị nạn chính trị sau
khi ông về lại
Hoa-thịnh-đốn sau vụ
đảo-chánh 1-11. Ngày
đảo-chánh ông đang có
mặt ở Sài-G̣n lo đám
táng người em ông là
linh mục Ḍng Chúa Cứu
Thế bị quân-xa đồng-minh
Mỹ tung xe chết ở Vũng
Tàu là nơi ngài đang dạy
tiểu chủng-sinh ḍng -
chứ ông Châu không phải
về lại Việt Nam tổ chức
hay liên hệ đến các phe
đảo-chánh như một số
người viết (52). Ông
trung-tá Châu từng là
giám-đốc Nha Chiến-tranh
Tâm-lư, trưởng pḥng 5
Bộ Tổng tham-mưu và một
số cơ-quan liên-hệ thuộc
bộ Quốc pḥng. Với chế
độ đệ nhất cộng-hoà, ông
từng là quân-ủy của đảng
Cần-Lao (Ban 5), đảng
viên thuộc tiểu tổ Phan
Đ́nh Phùng là tổ đầu
tiên của đảng, nhánh Ngô
đ́nh Cẩn cũng như bạn
ông là Lê Quang Tung, là
người khi được tin cẩn
đă làm nhiều việc cũng
như đă để lại một số
sách lư thuyết về chống
Cộng và lịch-sử (Thế Hệ
Mới, Con Đường Sống; Con
Người Mới; Gịng
Lịch-sử; Thất bại của
Việt Cộng, v.v.). Tài
liệu Hà-Nội c̣n cho biết
ông Châu lập và điều
khiển Liên Đoàn Sỹ Quan
Công Giáo khu thủ đô
Sài-G̣n để làm mạnh và
hiệu lực cho chế độ hơn
cơ cấu “tổng tuyên úy
quân đội” do quốc trưởng
Bảo Đại lập với sắc lệnh
từ 1952 (53)! Trở lại
ngày đảo-chánh đă nói ở
phần đầu, bạn hữu ông
đến thăm sau đám tang
(54). Khi tiếng súng
đảo-chánh bắt đầu nổ,
ông c̣n mặc áo tang đă
vội vàng leo xe gắn máy
một người lính thuộc
quyền cũ (và từ chối lên
xe jeep của NB, một đại
úy do phe đảo-chánh gửi
đến, sau ông đại úy làm
lớn và cũng trở thành lư
thuyết gia chống Cộng
sáng giá của miền Nam và
là người của Mỹ) và ẩn
thân trong một nhà Ḍng
rồi đổi chỗ. Khi
đảo-chánh thành công,
các bạn ông như anh em
đại tá Lê Quang Tung tư
lệnh Lực Lượng Đặc Biệt,
như đại tá Hồ Tấn Quyền
chỉ huy Hải quân, đều bị
đảo chánh giết, sinh
mạng ông như ngọn đèn
dầu trước băo táp bất
nhân, phải nhiều lần ra
phi trường ông mới được
thoát trở về
Hoa-Thịnh-đốn rồi bị
nghĩ giă-hạn không
lương. Thoát đạn vài vị
tướng như nghe nói là
TTĐ từng phải “nhịn
nhục” ông trong quá khứ.
Chán đồng minh Mỹ, ông
đi Pháp, đổi sang nghề
dạy học cũng như đi học
lại. Sau Cao học, ông
làm tiếp luận án tiến
sĩ, có sang Canada và
trở thành khách bộ Ngoại
giao Mỹ muà hè 1984 khi
đến D.C. nghiên cứu tài
liệu. Chúng tôi lúc đó
hành nghề thủ-thư ở thư
viện Quốc hội Québec, đă
phụ t́m giúp ông nhiều
tài liệu của Anh nhất là
của Sir R. Thompson,
Dennis J. Duncanson, của
Phi-Luật-Tân, (55)...
Ông mất v́ bệnh tại miền
Nam nước Pháp tháng
8-1985, hết c̣n có thể
trả lời, bạch hóa một số
hồi kư và nghi vấn về vụ
đảo-chánh và vai-tṛ của
ông trong quá-khứ! * Từ
năm 1962, nội bộ anh em
và gia-đ́nh Ngô đ́nh
Diệm đă có những dấu
hiệu rạn nứt, có thể bất
đồng về một số quyết
định chính-trị. Ông
tổng-thống bắt đầu hết
thích hợp thời thế (như
chọn người ḍng dơi,
biết chắc gốc gác), vả
lại ông quá nhân từ và
tin người - dùng người
do Pháp đào tạo hoặc quá
khứ khả nghi, cuối cùng
là v́ sống theo tinh
thần Nho giáo quyền
huynh thế phụ mà ông đă
không ngăn cản những sai
trái của ông anh tổng
giám mục và vợ chồng ông
em cố vấn có con trai
nối dơi. Hai ông cố vấn
có lúc hai đường lối và
nhân sự có khi không hẳn
như nhau, đưa đến việc
nghi ngờ và xa lánh
những người thân tin từ
đầu như ông trung tá NV
Châu, bs Trần Kim Tuyến.
Cả hai ông cố vấn đă
dùng người đầu thú,
chiêu hồi rất gentlemen,
phần lớn thu phục người,
nhưng có khi bị phản (Vũ
Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc
Thảo, v.v.). Ba năm
trước đó, sau vụ
đảo-chánh 11-11-1960,
ông trung tá Châu là thư
kư Ủy Ban Nhân dân Chống
Đảo-Chánh, các sĩ quan
trung thành lúc đó nhiều
hơn là người có ư phản.
Ba năm sau, t́nh h́nh
chính-trị và nhân sự đă
thay đổi nhiều. Những
cán bộ của Ngô đ́nh Cẩn
hiệu nghiệm ở miền Trung
nhưng bớt ở Sài-G̣n v́
không c̣n đồng thuận có
trước đó và ê-kíp thu
hẹp hơn trước (56). Chế
độ sau 9 năm cầm quyền,
với nhân t́nh đảo điên,
với những quá đà và chia
rẽ nội bộ, thế nào ngày
cuối cũng đến, dù có hay
không vụ đảo-chánh
1-11-1963. Nhưng nếu đến
với nhiều lá phiếu thật
của dân và không phải
xảy ra những vụ giết
người hèn nhát (anh em
Diệm Nhu đă bị trói
tay), bất công (ông Ngô
đ́nh Cẩn ra đầu thú, thù
hận và chính-trị đă xử
thay v́ công lư xử), th́
lịch-sử đă bước đi ngă
khác! Tổng-thống Ngô
đ́nh Diệm dù có một số
khuyết điểm (tinh thần
gia tộc mạnh, nghe nịnh
hót, xa dân, ...) đă
hành xử lúc b́nh sinh và
rồi tuẫn tiết như một
nhà Nho, chứng tỏ khí
tiết của một người
quốc-gia yêu nước chân
thành, trong khi đối lập
và những kẻ phản dân chủ
chạy theo tiền và ngoại
bang. Có thể lúc về nước
năm 1954 ông được sự ủng
hộ của ngoại bang, nhưng
đă tỏ ra có tài điều
khiển khiến kéo dài được
9 năm. Ông không thật sự
thiên vị đạo Công giáo
và nếu có chăng là do
những người tâng công
hoặc lạm dụng, cả TGM
Ngô Đ́nh Thục anh ông.
(Năm 1959, tổng-thống
Diệm được giải
Leadership Magsaysay
$15,000 đô nhưng ông đă
chuyển cho đức Đạt Lai
Lạt Ma qua lănh sự ở New
Delhi). Kết luận như ông
Minh Vơ: “Tổng-thống Ngô
đ́nh Diệm là một lănh tụ
xứng đáng của miền Nam”
(57). LM Cao Văn Luận
lúc gần cuối đời đă phê
phán như sau: “Sự thanh
toán ông Diệm và chế độ
ông Diệm phải chăng là
một sai lầm tai hại cho
đất nước Việt Nam. Những
hỗn loạn chính-trị,
những thất bại quân sự
sau ngày 1-11-1963 đă
trả lời cho câu hỏi đó”
(58).
Cuộc đảo-chánh 1-11-1963
đă mở cửa cho cuộc
chiến-tranh toàn diện,
huynh đệ bị hy-sinh cho
lư tưởng cường điệu của
hai phe chiến-tranh
lạnh, quốc-cộng trở nên
lằn ranh hằn sâu lên tâm
trí và thân xác con
người Việt Nam cho đến
hôm nay. Biến cố đó đă
mở toang cho thú-tính
tung hoành, cho thói
tính vô-chính-phủ lên
ngôi! Hậu quả này, nay
đă rửa sạch, đă trả nợ
xong chưa ? Một điều
chắc chắn là thời gian
40 năm đă cắt nghĩa
nhiều sự kiện, hành
động, cũng như cho thấy
bộ mặt thật của một số
người (Nguyễn đ́nh
Thuần, Phan Quang Đán,
Bùi Diễm, TV Đôn, TT
Đính, Đỗ Mậu (59),
v.v.).
Một nhận xét khác, từ
biến cố 1-11, từ khi có
quân có súng có “OK” của
quan thầy cả tự ư nhân
danh Chính nghĩa, để làm
loạn, đảo-chánh, chỉnh
lư, biểu dương lực lượng
- mà năm 1964 là năm
trăm hoa đua nở nhất,
nhiều người làm
chính-trị mỗi lúc một
đưa Chính nghĩa ra làm
ngáo ộp. Và xuất cảng ra
đến hải-ngoại từ sau
1975. Chính nghĩa vốn là
cái cao quư, hệ trọng
cho cả một dân tộc, đă
bị con người ta hễ có
chuyện là lôi ra. Trục
trặc phe nhóm, cá nhân,
buôn bán bảo hiểm, làm
ăn không như ư, thế là
lại lôi Chính nghĩa ra.
Thế mà cũng có thể lôi
kéo, quyên góp được tiền
bạc của nhiều người -
th́ cứ xem như là một
cách chống Cộng hay
chống nằm vùng, chao đảo
hoặc để lương tâm được
... yên ổn! Dĩ nhiên có
những lúc mà Chính nghĩa
đă được xử dụng đúng chỗ
trong hơn 28 năm qua -
phần lớn toàn mạo danh,
thậm xưng, làm bạc giả!
Trong bài này, hậu sinh
chúng tôi trong việc t́m
hiểu lịch-sử, chỉ nói
đến sự phản trắc một cơ
cấu dân chủ, hợp pháp,
hợp hiến - tổng-thống
Ngô đ́nh Diệm là người
đại diện được dân cử.
Hội đồng Cách-mạng cũng
chỉ là một thiểu số của
một cơ cấu là quân đội,
hơn nữa các ủy viên đứng
đầu phần lớn đă đi lính
cho Pháp thời Pháp
thuộc. C̣n Quân đội Việt
Nam Cộng Hoà so với bộ
đội miền Bắc nói chung
anh hùng và nhiều bậc
đáng kính hơn! Tai hại
về lâu dài của vụ
đảo-chánh phản bội, là
đă làm yếu các chế độ
sau đó v́ vẫn xây trên
nền không-dân-chủ, và di
hại hơn nữa v́ chứng đă
thành bệnh khi ra đến
hải-ngoại: năo trạng
phản bội, chia rẽ, không
tôn trọng dân chủ, cứ
nh́n Văn Bút hải-ngoại,
các cơ cấu cộng đồng
Atlanta, Nam Cali và Bắc
Cali đều chia làm 2 với
thủ lănh khác nhau, rồi
các cựu tù binh, tị nạn
chính-trị, ngay cựu học
sinh cũng thành nhiều
hội mà danh xưng chỉ là
một tṛ ... chơi chữ!
Bài học nếu có cho thế
hệ tương lai theo tôi là
hăy quên quá-khứ nhưng
hăy công b́nh với
lịch-sử xét xử công tội
cố gắng khách quan. Chân
lư và công lư phải là
những mục đích cần có
trong việc t́m cho ra
những nguyên nhân của
năo trạng tinh thần và
chính-trị người Việt Nam
đă khiến cho nước Việt
và con người Việt phải
như hôm nay, t́m cho ra
sự thực từ những khúc
mắc chính-trị, gián
điệp, tuyên truyền, v.v.
Và thoát khỏi tâm địa
thời thuộc địa và cả tư
duy hậu thuộc địa!
Tóm, tất cả người Việt
chúng ta đều là nạn nhân
của chính-trị nội bộ
Hoa-Kỳ, của truyền thông
và báo chí Hoa-Kỳ, của
các cường quốc nói
chung, của chiến-tranh
lạnh, nhưng chúng ta
cũng là nạn nhân chính
chúng ta mà trong chúng
ta kẻ nhiều tội nhất là
những kẻ tự xưng là
người của Mỹ, của Pháp,
của Cộng sản quốc
tế,...!
Montréal, 16-10-2003
Chú Thích:
1. Số tiền 3 triệu đồng
Việt Nam tức 42,000 Mỹ
kim do Lucien Conein đưa
đến bộ Tổng Tham mưu cho
các tướng đảo-chánh. X.
Nguyên Vũ. Ngàn Năm Soi
Mặt: tâm bút (Houston:
Văn Hóa, 2002), tr. 114;
Đỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa
Quê Hương Tôi (Mission
Hills CA: Quê Hương, tb
1987), tr. 816; v.v…
2. Hội đồng Quân nhân
Cách-mạng chỉ thành lập
từ ngày 3-11-1963.
3. Cao Văn Luận. Bên
Gịng Lịch-Sử 1940-1965
(Sài-G̣n: Trí Dũng,
1972; Sống Mới tái bản,
s.d.), tr. 256.
4. Phạm Kim Vinh. Việt
Nam Tự Do Từ Ngô Đ́nh
Diệm Đến Lưu Vong. Tủ
Sách PKV, 1987.
5. Trần Văn Đôn. Việt
Nam Nhân-Chứng (Los
Alamitos CA: Xuân Thu,
198?), tr. 249.
6. Tôn Thất Đính. 20 Năm
Binh Nghiệp, tức Nghĩa
Biển T́nh Sông (San Jose
CA: TB Chánh Đạo, 1998),
tr. 455.
7. Đỗ Mậu. Sđd, tr. 789.
8. Trần Văn Đôn. Sđd,
tr. 250.
9. Trần Văn Đôn. Sđd,
tr. 238.
10. Trần Văn Đôn kể
Nhung đă khoe với con
trai ông con dao găm
lịch-sử (Sđd, tr.
236-8).
11. Trần Văn Đôn. Sđd,
tr. 236. Ngô Đ́nh Châu
xác nhận điều này trong
Những Ngày Cuối Cùng Của
Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt
Nam (s.l.: Holly
Graphics, 1999), tr. 19.
12. Hoàng Ngọc Thành và
Thân Thị Nhân Đức. Những
Ngày Cuối Cùng Của
Tổng-Thống Ngô đ́nh Diệm
(San José CA: Quang
Vinh, Kim Loan & Quang
Hieu, 1994), tr. 532.
13. Ngô Đ́nh Châu. Sđd,
tr. 41. Ông Ngô Đ́nh
Châu đă hỏi trung sĩ
trưởng chiến xa M-113
chở anh em tổng-thống
Diệm.
14. Diễn Đàn Phụ Nữ,
148, 1996, tr. 59.
15. Nguyễn Hữu Duệ. Nhớ
Lại Những Ngày ở Cạnh
Tổng-Thống Ngô đ́nh Diệm
(Tác-giả xuất-bản, CA
2003), tr. 170-171.
16. Huỳnh Văn Lang. Nhân
Chứng Một Chế Độ
(Tác-giả xuất-bản,
2000), tập 3, tr. 256-8.
17. Tập 2, tr. 70. Lại
có tin ông DV Minh không
nộp đủ, giấu đi một
thùng phuy vàng (X.
Nguyên Vũ. NNSM, Sđd,
tr. 13).
18. Nguyễn Hữu Duệ. Sđd,
tr. 74 & 78. Ông Quan
trước khi chết đă xin
trở lại đạo Công giáo do
TGM Nguyễn Văn B́nh rửa
tội, điều ông muốbn từ
trước đảo-chánh nhưng
không làm v́ sợ hiểu lầm
hoặc giống những người
khác!
19. Tr. 258. Nguyễn Kỳ
Phong dịch, Vietnam
Bibliography ở
Centreville VA xuất-bản,
2003. Nguyên bản tiếng
Anh xuất-bản năm 1985.
Trong Bốn Mươi Năm
Văn-Học Chiến-tranh (Đại
Nam, 1997, tr. 140),
chúng tôi có trách là
các tướng sang Hoa-Kỳ
viết report và study
xuất-bản hạn chế cho bộ
Quốc pḥng Mỹ mà quên
đồng bào người Việt, nay
có bản dịch này nằm
trong số những tài liệu
đó.
20. Trong nước cũng làm
một cuộc kỷ niệm 40 năm
“cách-mạng 1-11-1963
thành công”, Nguyễn Đắc
Xuân làm một cuộc “tham
quan” dinh Gia Long và
nhân đó tiết lộ tướng
Dương Văn Minh đă “nạt
nộ tướng Đôn “André! Giờ
này mà anh c̣n muốn phản
tôi hả? Nhung đưa súng
đây”. Tướng Đôn sợ quá
muốn xỉu luôn! “ (Bốn
Mươi Năm Nh́n Lại, tuyển
tập 1963-2003. Garden
Grove CA: Giao Điểm,
2003). Chuyện tướng Đôn
chiều ngày 1-11 điện
thoại với tổng-thống
Diệm đă có người nói
đến, nhưng việc ttướng
Minh giựt điện thoại và
câu nói “lịch-sử” trên
th́ chưa, chúng tôi ghi
lại với dè dặt v́ chưa
biết! Xuân kể theo lời
KTS Nguyễn Hữu Đống mà
theo ông là “người đại
diện dân sự độc nhất có
mặt bên cạnh tướng DV
Minh lúc ấy”(?).
21. Anne Blair. Lodge in
Vietnam. New Haven: Yale
University Press, 1995,
tr. 190.
22. Bùi Tín. “Nhân vật
lịch-sử Ngô đ́nh Diệm và
hậu quả cuộc đảo-chánh
1-11, 63”, Ngày Nay,
513, 15-10-2003, tr. A5
& B6.
23. Theo cuộn băng 37
tiếng đồng hồ tàng trữ ở
JFK Library (Boston)
được giải mật ngày
24-11-1998.
24. X. David Antonel et
al. Les Complots de la
CIA. Paris: Stock, 1976
(Chương “Un suicide
accidentel” - lấy lại
lời tuyên bố với báo chí
của tướng Trần Tử Oai,
ủy viên báo chí, nghe
theo lời dặn của tướng
Trần Văn Đôn).
25. Trích theo F X
Winters. Sđd, tr. 183.
Trong khi đó, tờ New
York Herald Tribune th́
bênh vực chế độ Ngô đ́nh
Diệm!
26. Chính Đạo. Tôn Giáo
Và Chính-Trị: Phật Giáo,
1963-1967. Houston: Văn
Hóa, 1994, trích theo
bản cập nhật 2003 (phần
C. Thay đổi đại sứ Mỹ).
27. X. Marguerite
Higgins. Our Vietnam
Nightmare, 1965; Ellen
J. Hammer . A Death in
November: America in
Vietnam, 1963. 1987;
Nguyễn Ngọc Tân. “The
Miracle of Vietnam: the
Establishment and
Consolidation of Ngo
Đinh Diem 's Regime,
1954-1959”. Ph. D.
Thesis, Monash
University.
28. X. Nghiên cứu của
chúng tôi về các vận
động chính-trị của người
Việt hải-ngoại
1975-2005, sẽ công bố
hoặc xuất-bản.
29. Bách Khoa SG, 1969,
đăng lại trong hồi kư
Hơn Nửa Đời Hư.
30. Bà Tùng Long. Hồi-Kư
(TpHCM: NXB Trẻ, 2003),
tr. 221.
31. Nguyễn Văn Châu ghi
nhận trong Ngô Đ́nh Diệm
Và Nổ Lực Hoà B́nh Dang
Dở (Los Alamitos CA:
Xuân Thu, 1989), tr. 95.
32. “Những sai lầm của
Đệ Nhất Cộng Ḥa”. Thời
Báo Toronto 202,
11-11-1993; 203,
18-11-1993 (cùng đăng
trên một số báo khác).
Ông Khôi tư lệnh Lữ đoàn
Pḥng vệ Tổng-thống phủ
lúc xảy ra đảo-chánh
1-11, trong bài viết ông
tỏ ra mặc cảm, ghen
tương với nhiều người
khác lên lon lên chức
hơn ông và ông muốn đính
chính chối từ liên hệ
của ông với chế độ. Ông
phê b́nh ông NV Châu đem
đảng Cần lao vào quân
đội làm mất hiệu lực và
làm mất miền Nam (?).
Phê phán ngây thơ v́
chiến-tranh một sống một
c̣n với guồng máy
cộng-sản, đáng ra c̣n
phải đi xa hơn, nếu
không triệt để tổ chức
lại quân đội quốc gia
th́ cũng phải cô lập
hoặc cho làm bàn giấy
tất cả những phần tử do
Pháp đào luyện hoặc
quá-khứ khả nghi (MH
Xuân, TT Đính, DV Minh,
Đỗ Mậu, ...) là chuyện
khả thể ngay cả trong
các xă hội dân chủ như
Hoa-Kỳ, Pháp.
33. Sđd, tr. 97.
34. X. Vĩnh Phúc. Những
Huyền Thoại Và Sự Thật
Về Chế Độ Ngô Đ́nh Diệm.
(Westminter CA: Văn
Nghệ, 1998), tr. 337.
35. Chính Đạo. “Cuộc
Thánh Chiến Chống Cộng,
1945-1975” (chưa
xuất-bản, bản Internet ở
trang
giaodiem.com).
36. Đó cũng là nội dung
của cả chương XVI, sđd.
37. Một người nghiên cứu
trẻ, Nguyễn Kỳ Phong,
tác-giả bộ Người Mỹ và
Chiến-tranh Việt Nam
(Centreville VA: Vietnam
Bibliography, 2001) từng
bị chính trị gia Nhị
Lang phê phán quá dựa
theo tài liệu của Mỹ. X.
“Trở lại vụ án 47 năm
trước: ai giết tướng
Tŕnh Minh Thế?”. Văn
Nghệ Tiền Phong, 636,
16-7-2002, tr. 24+.
38. Chính Đạo. Tôn Giáo
Và Chính-Trị: Phật Giáo,
1963-1967. Houston: Văn
Hóa, 1994, trích theo
bản cập nhật 2003.
39. Hải Triều Âm, 2,
30-4-1964, tr. 5. Trích
lại từ Lê Cung. “T́m
hiểu những sự kiện đầu
tiên trong phong trào
Phật giáo miền Nam
1963”. Nghiên Cứu
Lịch-Sử, 4, 1994, tr.
10. Chú thêm: Vụ tṛ Ơn
bị giết khiến học sinh
biểu t́nh và làm rớt
chính phủ thời đó!
40. Ngày Nay, 374,
15-9-1997, tr. A5-6.
41. Đă đăng trên trang
Internet Vietpage.com
ngày 6-9-2003.
42. ST. “Dân-tộc Việt
Nam hai lần bị lường
gạt”. Bên Kia Bờ Đại
Dương, 45, 6-2002.
43. Dĩ nhiên bị một số
người bênh nhóm tướng
lănh “cách-mạng”, chế độ
sau đó và bênh nhóm Phật
giáo bạo động, chỉ
trích. Nhưng khác Vĩnh
Phúc, hai tác-giả này đă
phỏng vấn hoặc khiến một
số người trong cuộc phải
lên tiếng, cả sau khi đă
xuất-bản như với trung
tá Dương Hiếu Nghĩa (X.
Diễn Đàn Phụ Nữ 148,
1996, tr. 59).
44. The Pentagon Papers:
as published by the New
York times, The Pentagon
history was obtained by
Neil Sheehan. Written by
Neil Sheehan [and
others]. New York,
Quadrangle Books [1971].
810 p.
45. Report of the UN
Fact Finding Mission to
South Vietnam.
Washington D.C.:
Government Printing
Office, 1964. 254 tr.
46. Bđd. Thời Báo
Toronto 202, 11-11-1993;
203, 18-11-1993.
47. Methuen MA: Lê Hồng,
2001. Chúng tôi đă có
lời viết Tựa cho tập Hồi
kư này.
48. Thí dụ không tin lời
học giả Trần Trọng Kim
(VNSL) mà tin báo cáo
của Khâm sứ Pháp về việc
đào mă lănh tụ Cần Vương
Phan Đ́nh Phùng. Chính
Đạo. Sđd, chú 51. Để
viết tiểu sử Ngô Đ́nh
Diệm, theo lời ông
Nguyên Vũ, đă “sử dụng
cơ bản là tập tiểu sử
chính phủ Diệm do cơ
quan an ninh Pháp thành
lập ngày 5/7/1954 hiện
vẫn c̣n chưa giải mật”
(HCM con người & huyền
thoại, tập III:
1947-1969).
49. Nguyên Vũ. NNSM.
Sđd, tr. 135.
50. Bùi Tín. Bđd. Ngày
Nay, tr. A5.
51. X. Trương Phú Thứ.
Văn Nghệ Tiền-Phong,
643, 1-11-2002, tr. 8.
52. Hoặc nói rằng ông
Châu về dự lễ mở tay
linh mục của người em
ông (X. Nguyễn Hữu Duệ,
Sđd, tr. 97) - thật ra
đă xảy ra năm 1960.
53. X. Nghiên Cứu
Lịch-Sử, 48, 3-1963, tr.
6.
54. Trong số có ông Đỗ
Mậu (X. Trần Văn Đôn.
Sđd, tr. 203), nhưng ông
Mậu không nói đến trong
hồi kư của ông. Người
duy nhất trong số đó c̣n
sống là ông NN Khôi.
55. Ghi lại vài tài liệu
c̣n nhớ: Dennis J.
Duncanson: Lessons of
Vietnam: three
interpretive essays,
1971; Indo-China, the
conflict analysed,
Conflict Studies 39,
1973, v.v.; Robert
Thompson: Defeating
Communist insurgency:
experiences from Malaya
and Vietnam. 1966;
“Vietnam: the human cost
of communism”. Worldview
Nov 1972; No exit from
Vietnam. 1969; Peace is
not at hand. 1974; v.v.
Ngoài ra, nói đến tài
liệu, Thư viện Quốc hội
Hoa Kỳ c̣n giữ cuộn băng
ông trả lời phỏng vấn
của nhà báo Neil Sheehan
năm 1974 (X. Prof.
Nguyen Van Chau, Oct.
24, 1974, my study,
Wash., D.C. [sound
recording]. 1974; Call
no: RYB 6636-6637
(Recording made or
collected by Neil
Sheehan in preparation
for the writing of his
book A bright shining
lie: John Paul Vann and
America in Vietnam).
56. Nhà văn Nguyên Sa
trong Hồi Kư (Irvine CA:
Đời, 1998) đă viết lại
sự hữu hiệu của công an
miền Trung ở Sài-G̣n
(tr. 271+).
57. Minh Vơ. Sđd, tr.
286.
58. Cao Văn Luận. Bên
Gịng Lịch-Sử Việt Nam,
1940-1975 (Sacramento,
CA: Tantu Research,
c1983), tr. 6.
59. Ông Tôn Thất Đính và
Đỗ Mậu là hai người bị
phê phán nặng nề nhất,
riêng ông Đính ít ra đă
có những lời “thú lỗi”
dù tập thể ở đoạn cuối
cuốn hồi kư: “cuộc hành
quân 1-11-63 không phải
là một thành công mà
chính là một thảm bại
lớn lao đối với lịch-sử”
(Sđd, tr. 455). Hăy so
với đa ngôn nhưng lời
rỗng của Đỗ Mậu: “ư
nghĩa thực sự của ngày
1-11-63 là giải thoát.
Trên mặt lịch-sử, nó
chấm dứt những bế tắc
của thế và thời để khai
mở một gịng sinh mệnh
mới; trên mặt dân-tộc,
nó chấm dứt một giai
đoạn tŕ trệ và đen tối
để dân-tộc lại trở về
với chức năng của chủ
nhân đất nước (!)... “
(Sđd, tr. 791).