NHỚ LẠI 26-10-1956 CÔNG BỐ HIẾN PHÁP VNCH
TỪ CHỦ NGHĨA NHÂN VỊ ĐẾN QUỐC GIA, DUY DÂN, DÂN TỘC SINH TỒN


CAO THẾ DUNG

 
 

 

__._,_.___

LỜI MỞ ĐẦU.- Bài dưới đây trích từ phần NIÊN BIỂU 4835 NĂM LỊCH SỬ VĂN HIẾN VIỆT NAM – Phụ bản TINH HOA VĂN HIẾN VN của Cao Thế Dung, do Nxb Tiếng Mẹ, Phoenix, Arizona, sẽ in và phát hành nay mai. Trong giới hạn BIÊN NIÊN, đây chỉ là phần khái quát, trân trọng giới thiệu đến quí độc giả Đồng hương với một vài điều sơ giản.

HIẾN PHÁP NHÂN VỊ

Ngày 26-10-1956: Công bố Hiến Pháp VNCH. Dân chúng được đốt pháo ăn mừng 3 ngày 26, 27 và 28. Miễn thuế chợ ngày 26.

Hiến pháp Đệ I VNCH không giống Hiến pháp Hoa Kỳ hay HP Pháp quốc, Quốc Hội một Viện và Viện Bảo Hiến. Theo chế độ Tổng thống chế. Tổng thống là Tổng Tư lệnh Quân đội.

27-10 - TT Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố trước Quốc dân: “Hiến pháp Đệ I VNCH gọi là hiến pháp NHÂN VỊ”, gồm 98 điều, 10 chương. Mở đầu Hiến pháp là một áng văn giá trị, nêu lên 4 điểm:

“Văn minh Việt Nam căn cứ trên nền tảng Duy Linh - Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người (chủ nghĩa Nhân Vị) – Nguyện vọng củng cố độc lập, bảo vệ tự do, xây dựng dân chủ - Tiếp nhận mọi trào lưu tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa và trước Nhân Loại”. Đoạn kết: “Ư thức rằng dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước Đấng Tạo Hóa và trước Nhân Loại là xây dựng một nền văn minh nhân bản bảo vệ và phát triển con người toàn diện”, trên nền tảng dân quyền và hệ tư tưởng nhân bản của Jean Jacques Rousseau (1), ông tổ của Cách mạng Dân quyền mà Tôn Dật Tiên cũng như Ngô Đ́nh Nhu ảnh hưởng sâu đậm. TT Diệm sùng mộ Lư Thoa, là tên người Việt và Tầu gọi J.J. Rousseau. Hơn một lần báo Nam Phong hoằng dương tư tưởng dân quyền và công lư xă hội của Lư Thoa (2). Chủ nghĩa Nhân Vị mà ông Nhu đề xướng KHÔNG PHẢI LÀ THUYẾT NHÂN VỊ CÔNG GIÁO LA MĂ, là Nhân Vị Mounier, triết gia Công giáo hạng xoàng mà ông Nhu coi thường. Thuyết Nhân vị do một số Linh mục thuyết giảng ở Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long không phải là Nhân Vị Ngô Đ́nh Nhu, chỉ là thuyết Nhân Vị Kitô Mounier (3).

Đây là một thất bại lớn của chế độ Đệ I VNCH v́ đă phạm sai lầm nghiêm trọng qua các khóa huấn luyện Nhân Vị do Linh mục đảm trách, v́ đó là chỉ là Nhân Vị Mounier, gây bất măn trong công luận, bị phê b́nh nặng nề.

Với Nhân Vị Mounier bị người ngoài Công giáo đả phá, kể cả lên án chế độ NĐD đă áp đặt lên quốc dân lư thuyết Công giáo, mà số giáo dân chỉ 7% dân số, c̣n đa số là Phật giáo, các tôn giáo khác và tín ngưỡng thờ Tổ Tiên gọi nôm na là Đạo Ông Bà.

Thuyết Nhân Vị ông Nhu đề xướng cũng KHÔNG PHẢI LÀ “Personalism” Tây phương cuối thế kỷ 19, chủ yếu là “Personalism” Mỹ (4). Nhưng ông Nhu cũng như TT Diệm ảnh hưởng sâu đậm thuyết Xă hội Công Giáo. Và nhất là Triết học Thánh Tôma (Thomism) (5).

Thuyết Nhân Vị Ngô Đ́nh Nhu xây dựng trên nền tảng Nhân Chính Khổng Mạnh, văn hóa và truyền thống Việt Nam. Có thể đoan quyết như thế căn cứ theo tài liệu đầu tay và bút tích của ông Nhu c̣n lưu lại (hiện bảo tồn tại Thư Viện Nam San CTD).


CHỦ THUYẾT PHẢI VƯỢT RA NGOÀI CÁC TÔN GIÁO

Thuyết Nhân Vị trước sau là chủ thuyết Xă hội. Ông Nhu sớm ư thức được vấn đề tôn giáo và quốc gia, đầu thập niên 1950 ông thành lập nhóm Xă Hội, rồi xuất bản báo Xă Hội, tập trung nhóm trí thức không Công giáo (6). Với quá khứ nặng nề gắn bó với Thừa sai Pháp, quốc dân vẫn c̣n nhiều dị ứng và xa cách Kitô giáo, mặc dầu từ thập niên 1930, Kitô giáo VN đă qua một khúc quanh lịch sử. Năm 1945-1946, Giáo hội La Mă công khai chống lại cuộc tái chiếm Việt Nam của Pháp (8). Dù vậy, Công giáo vẫn chưa xóa bỏ được dĩ văng Thừa sai Tây. Không lấy làm lạ (lập lại), chủ thuyết Nhân Vị không được đại khối quốc dân chấp nhận rồi tan vào hư ảo. Đó là bài học lịch sử. Chủ đạo Dân tộc Nhân chủ, theo hướng Tam giáo (nay là Lục giáo), thượng tôn các Tôn giáo nhưng vượt ra ngoài các tôn giáo trong tinh thần ḥa đồng tư tưởng.

Do bị ngộ nhận, do sai lầm với “Trung tâm huấn luyện Nhân Vị Vĩnh Long” (Giáo phận Công giáo Vĩnh Long do GM Ngô Đ́nh Thục lănh đạo) nên chủ nghĩa Nhân Vị của chính thể VNCH hoàn toàn thất bại, cái c̣n lại của “Nhân Vị Ngô Đ́nh Nhu” là tập tài liệu cũ quí giá đă ngả mầu thời gian với bút tích của ông vừa tiếng Việt, vừa tiếng Pháp. Và đó là Nhân Vị Á Đông.

NỀN TẢNG DÂN CHỦ, TỰ DO, NHÂN QUYỀN VÀ LAO CÔNG CỦA CHỦ NGHĨA
NHÂN VỊ NGÔ Đ̀NH NHU

Ngô Đ́nh Nhu (8): “Lược đồ một cuộc cải tổ cơ cấu xă hội”: I- Căn bản của Lư thuyết xă hội Nhân Vị - Tôn trọng Nhân cách và thiết lập lợi ích chung. II- Phân biệt quyền SỞ HỮU làm hai loại: đối với con người là cứu cánh của xă hội và đối với xă hội là khuôn khổ cần thiết cho con người. Các tài sản của trần thế phải chia ra làm hai loại: tài sản để tiêu thụ (biens de consommation) và tài sản để sản xuất (biens de production). III- Phải tổ chức kinh tế và phân phối lợi tức của quốc gia cho công bằng: A/ Đối với công cộng, phải thỏa măn nhu cầu sinh hoạt và sinh hóa của nhân dân, KHÔNG THỦ TIÊU TỰ DO cốt yếu cần thiết của con người – Tổ chức kinh tế xă hội theo nguyên tắc địa phương phân nhiệm, chia làm 3 khu vực kinh tế: 1/ SƠ ĐẲNG gồm tài sản tối thiết để sinh sống (biens essentiels) như lúa gạo, nhà ở, thuốc men. Khu vực này là khu vực ưu tiên an toàn liên đới công cộng, có thể chương tŕnh hóa. 2/- Khu vực phụ thuộc gồm tài sản tiện nghi (biens de confort), khu vực này được tự do. 3/- Khu Tam đẳng (biens de dépassement) do sáng kiến cá nhân. IV- Tổ chức cơ quan điều khiển kinh tế: 1/- Nghiệp đoàn, 2/- Tổ chức lănh thổ, 3/- Tổ chức chính quyền Trung ương. V- Đối với sự làm việc: 1/- Tổ chức một hệ thống phân phối lợi tức và phân phối trách nhiệm quản lư. 2/- Tư bản thụ động (capital passif – tiền bạc) phải phục tùng lao động. 3/- Phân phối lợi tức theo công bằng (9).
Nhân Vị chủ nghĩa Ngô Đ́nh Nhu là một chủ nghĩa Xă hội Cộng đồng đồng tiến và là nền Kinh tế cộng đồng phát triển, cộng đồng liên đới, quan thiết với các khâu chủ yếu: 1/- Thuế, 2/- Quỹ liên đới, 3/- Vốn: a- Vốn thực (capital réel) (Cơ sở làm ăn-xưởng sản xuất), b- Vốn thụ động (tiền bạc). VI- Lao động, VII- Phân phối, quyền quản lư (congestion) – Xem: Toàn văn với bút tích viết tay và bút tích sửa chữa bản đánh máy – Phần viết tay tiếng Việt và Pháp của ông Ngô Đ́nh Nhu về tài liệu nêu trên, lưu trữ tại Thư viện Nam San CTD. Phần XĂ HỘI KINH TỀ NHÂN CHỦ trong chủ đạo DTNC tham khảo tài liệu Nhân Vị chủ Nghĩa và Kinh tế Nhân Vị cộng đồng đồng tiến của lư thuyết gia Ngô Đ́nh Nhu. Ông Nhu ảnh hưởng sâu đậm học thuyết Xă hội Công giáo Nhân bản - Nhân Vị (10).

Nhóm Xă Hội do ô. Ngô Đ́nh Nhu thành lập năm 1950, trụ sở đặt tại Bệnh viện St Pièrre, trung tâm Sàig̣n do BS Cao Xuân Cẩm làm Giám đốc chủ nhân, cũng là nơi gia đ́nh ông Nhu cư trú. Nhóm gồm có BS Nguyễn Tăng Nguyên (PG), BS Nguyễn Hữu Chương (PG), ô. Trần Quốc Bửu (đạo Ông Bà), Luật sư Trần Chánh Thành (PG), ô. Đỗ La Lam (Công Giáo), ô. Cao Xuân Vỹ (PG). Nhóm xuất bản báo XĂ HỘI phổ biến chủ thuyết Xă hội Đông phương và lư thuyết Nghiệp đoàn, nền tảng xây dựng Tổng Liên đoàn Lao công do ô. Trần Quốc Bửu và Ngô Đ́nh Nhu sáng lập.

BÀI HỌC VỀ TÔN GIÁO VÀ CHỦ NGHĨA

Bài học “Nhân Vị” Đệ I VNCH cho ta một kinh nghiệm lớn: không bao giờ có thể áp đặt lên toàn khối quốc dân một chủ nghĩa hay một chủ thuyết nào của bất cứ tôn giáo nào. Dân tộc VN không bao giờ chấp nhận độc tôn. Dù cường quyền áp đặt th́ cuối cùng độc tôn sau một thời gian thống trị cũng sụp đổ, đưa đất nước vào ṿng nghèo đói, lạc hậu, suy thoái. Tôn giáo là Tôn giáo. Quốc gia là quốc gia. Từ Đinh, Lê, Lư, Trần, Hậu Lê, các triều đại không cần minh định tách biệt giữa Quốc gia và Tôn giáo mà tự Quốc gia và Tôn giáo đă tách biệt nhau trong văn hóa và truyền thống dân tộc ở thế quân b́nh. Chủ nghĩa Nhân Vị Ngô Đ́nh Nhu là một tổng hợp triết thuyết Đông Tây trong thế quân b́nh với một hệ thống cơ cấu (system-structure) Xă hội Nhân bản, lấy CON NGƯỜI làm gốc nên gọi là Nhân Vị. Đó cũng là lư thuyết phát triển đồng bộ “cộng đồng ĐỒNG TIẾN” với nền kinh tế quân b́nh giữa vi mô (microeconomics) và vĩ mô (macroeconomics). Chính Trung tâm Nhân Vị Vĩnh Long mà GM Ngô Đ́nh Thục chỉ đạo, chi phối rồi trao cho mấy Giáo sĩ Công giáo và mấy ông Giáo sư tu xuất hữu phái làm hỏng chủ thuyết Nhân Vị Ngô Đ́nh Nhu: không phải là Nhân Vị Kitô giáo đơn thuần.

QUỐC GIA – DUY DÂN – DÂN TỘC SINH TỒN

Nhân Vị là chủ nghĩa thứ 4 mà phía Quốc gia đề xướng chống lại chủ nghĩa Duy vật vô thần Mác-xít: 1- Phạm Quỳnh với chủ nghĩa Quốc gia, 2- Lư Đông A với chủ nghĩa Duy Dân và thuyết Nhân chủ, 3- Trương Tử Anh với chủ nghĩa Dân tộc Sinh tồn:


CHỦ NGHĨA QUỐC GIA:

Phạm Quỳnh, Chủ báo Nam Phong, người đầu tiên đề xuất chủ nghĩa Quốc gia để đương đầu với chủ nghĩa Quốc tế Duy vật vô thần Mác-xít (11).


CHỦ NGHĨA DUY DÂN LƯ ĐÔNG A:

Năm 1941, lưu vong ở Côn Minh và Quảng Châu, Lư Đông A đề xướng chủ thuyết Duy Dân, năm ông mới ngoài 20 tuổi, tên thực là Nguyễn Hữu Thanh (1921-biến mất năm 1946), quê làng Yên Tập, h. B́nh Lục, t. Hà Nam, đệ tử của cụ Phan Bội Châu. Năm 1936, cậu Thanh 16 tuổi ta (sinh năm Canh Thân) được một Ḥa Thượng (xuất thân Văn Thân Cách mạng) gửi vào Bến Ngự, Huế, thụ giáo Phan Sào Nam. Cậu Thanh là một thiên tài phi thường, cậu được cụ Phan giảng dậy Kinh Dịch, triết học Duy vật Mă Khắc Tư (Các Mác), Lư Thoa (J.J. Rousseau), Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu). Cụ truyền cho cậu kinh nghiệm hơn 20 năm hoạt động cách mạng. Nhà cách mạng Hải Ḱnh, đồng chí thân thiết của Phan Sào Nam (Hải Ḱnh là Trưởng ban Kinh tài của VNQPH, sau chuyển hóa gia nhận VNQDĐ vào ngày thành lập Đảng). Chính cụ Hải Ḱnh đích thân đưa cậu Thanh vào Bến Ngự để thụ huấn Sào Nam. Sau 25 ngày học, Sào Nam thấy cậu đă lănh hội đầy đủ, cụ nhắn đồng chí Hải Ḱnh vào Huế đưa cậu Thanh về Bắc. Ngày cuối học hỏi, cậu Thanh hỏi Sào Nam, dân tộc VN nên theo chủ nghĩa nào, Duy Vật hay Duy Tâm. Cụ Phan trả lời: “Dân chẳng duy vật, dân chẳng duy tâm, dân chỉ DUY DÂN”. Tiễn chân đồng chí Hải Ḱnh và cậu Thanh ra tận cửa ngoài, cụ Phan tặng Thanh một tấm ảnh đề 4 chữ: CỨU QUỐC TỒN CHỦNG ở phía sau và nói: “Cháu có thể xử dụng như một bức thư giới thiệu của chú với cựu đồng chí của chú mỗi khi cháu cần tới”. Quay sang cụ Hải Ḱnh, Chủ tịch danh dự VNQDĐ Phan Bội Châu nói: “Chúng ta già rồi, bằng mọi cách chúng ta cần phải yểm trợ cho thằng cháu v́ cháu chính là tương lai của chúng ta và của dân tộc” (Tư liệu của cụ Phạm Đ́nh Liệu tức Năm Liệu, em thúc bá của cụ Hải Ḱnh. Cụ Liệu là thành phần sáng lập VNQDĐ, trẻ nhất tham gia Đại hội thành lập Đảng 25-12-1957, với tư cách Đại biểu tỉnh Ninh B́nh (cùng 12 đại biểu khác trong đó có cụ Hải Ḱnh, Linh mục trẻ Nguyễn Bá Nha, giáo dân trẻ Bạch Vân tức Nguyễn Văn Lư). (CHỦ NGHĨA DUY DÂN NHÂN CHỦ của nhà cách mạng thiên tài LƯ ĐÔNG A được tŕnh bày trong CHỦ ĐẠO – CHỦ NGHĨA DÂN TỘC NHÂN CHỦ - TINH HOA VĂN HIẾN Toàn tập – Tập III).


CHỦ NGHĨA DÂN TỘC SINH TỒN:

Chủ nghĩa Dân tộc Sinh tồn do nhà Cách mạng Trương Tử Anh (12) đề xuất làm căn bản tư tưởng cho đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng. Tuyên ngôn của Đảng cũng là cương lĩnh: “Xét qua lịch sử quá khứ th́ trong cơi Á Đông này (trừ Trung Hoa ra) không có một nước nào mà quốc thể vẻ vang bằng nước ta, v́ dân tộc ta có một nền văn hóa tối cổ, một quốc hồn mạnh mẽ, nên đă tạo biết bao trang sử hiển hách. Nhân tài tuấn kiệt đời nào cũng có. Chính sách chính trị đời Trần, phương lược kinh tế nhà Hồ, văn tài Nguyễn Du, học thuật Chu An đều lưu lại hậu thế một đặc điểm. Đối với các trận diệt Minh, b́nh Thanh, bại Nguyên th́ vơ công oai hùng nhất lịch sử loài người cũng không hơn nổi.

Vẻ vang thay một dân tộc cỏn con sinh tử trên một giải đất hẹp ḥi mà đă bao lần đánh bại nổi một nước dân số đông nhất hoàn cầu để giữ nguyên bờ cơi, lại c̣n thừa sức thực hành Nam tiến rất vĩ đại, rồi chuyển sang Tây tiến”.

CHỦ NGHĨA DÂN TỘC SINH TỒN của nhà cách mạng Đại Việt Trương Tử Anh do Nguyễn Long Vân (GS) diễn giải (không đề năm xuất bản, không có tên nhà xuất bản): “Dân tộc ta phải tự giải quyết lấy vấn đề sinh tồn của ḿnh” (Trương Tử Anh).

Lược dẫn một số điểm căn bản trong Chủ nghĩa DÂN TỘC SINH TỒN: “Có tinh thần quốc gia mới cảm thấy người ta sinh ra ở đời phải mang một nghĩa vụ rất lớn lao đối với đất nước, đối với người chết trước, với kẻ sinh sau. Do đó phát xuất ra những gương hy sinh cho tổ quốc vô cùng mănh liệt”.

“Tuy nhiên giải phóng dân tộc mới là mở đầu cho một công cuộc lâu dài là mưu sự sinh tồn trường cửu cho toàn thể giống ṇi. Sự sinh tồn mới là tuyệt dích cho chúng ta theo đuổi, mà chủ nghĩa sinh tồn là chủ nghĩa Xă hội, v́ do vấn đề sinh tồn mà phát sinh ra các vấn đề xă hội”.

Những cảnh vinh nhục nối tiếp nhau biến hiện trên giải đất Đại Việt này đă hun đúc dân ta thành một dân tộc già dặn bền bỉ, đủ sức đối chọi với mọi cảnh ngộ. Lúc hưng thịnh th́ lên cao tuyệt vời mà lúc suy vi vẫn giữ nguyên được cái bản sắc đặc biệt để chờ khi quật khởi lại càng hùng mạnh hơn xưa. Những thành tích vẻ vang trong lịch sử tiến hóa của dân ta đă chứng minh rằng dân ta có đủ đức tính và năng lực để trở nên một dân tộc rất mực hùng cường trên thế giới (12)
.

TẤT CẢ LÀ BIẾN DỊCH

Với Dịch kinh Lạc Việt-Bách Việt, dịch là biến và đổi “change-movement”. Không một chủ thuyết hay chủ nghĩa nào có thể tồn tại măi măi. Nhưng trong cái biến và dịch (chuyển đổi) lại có cái bất biến và thường hằng. Chủ nghĩa CS Mác Lê gọi là chủ nghĩa Xă hội Khoa học hơn 70 năm thống trị Liên Xô cũ và Đông Âu (1917-1990) đă tan ră như xác pháo. Tư bản cũng đổi thay và liên tục đổi thay (13). Cái c̣n lại măi măi vẫn là tinh hoa Văn hiến của một dân tộc và của loài người. Và, đó là tinh hoa văn hiến trong chủ đạo DÂN TỘC NHÂN CHỦ, di sản vĩ đại của Việt Nam tiếp nối ngh́n xưa.

––––––––––
CHÚ THÍCH
(1)(2) – Jean Jacques Rousseau (1712-1778) in History of Political Philosophy, op. cit. pp 532-553 – Về tác phẩm vĩ đại của J.J. Rousseau; bản dịch Anh ngữ: 1-Social Contract I, II, III – Bản dịch Việt ngữ: Xă Ước. 2-Discourse on Political Economy (diễn thuyết về Kinh tế Chính trị. 3- Confession of Faith of the Savoyard.
- Về sự nghiệp lớn lao của J.J. Rousseau: Discourse on the Science and
- Raph T. Plewelling, “Personalism” in American Philosophy, edited by Raph. B. Winn. N.Y. Philo. Library, Inc. pp. 155-161.
– Thượng Chi (Phạm Quỳnh), Lư thuyết của Lư Thoa (J.J. Rousseau). Nam Phong số 108, tháng 8-1926.
- Thượng Chi biên dịch. Nhân quyền luận. Nam Phong số 133, tháng 9-1928, tt.115-224.
(3) – Personnalisme, triết thuyết Xă hội của Emmanuel Mounier và Maurice Nédoncelle, Gs Triết học Lê Thành Trị (ĐH Văn Khoa Sàig̣n trước năm 1975) dịch là thuyết Nhân Vị. Đây không phải là chủ thuyết Nhân Vị mà ô. Ngô Đ́nhNhu đề xướng. Có sự lẫn lộn giữa Nhân vị Mounier và Nhân vị Ngô Đ́nh Nhu.
- Xem: E. Mounier, l’Existentialisme, Paris: Presses Universitaires de France, 1946 – Introduction aux Existentialismes. Paris: Gallimard, 1946.
(4) – Về PERSONALISM Mỹ, xem:
- A.C. Knudson, The Philosophy of Personalism, N.Y. Abingdon Press, 1927.
- B.P. Bowne, Personalism, N.Y.: Houghton & zMifflin Co, 1908.

TRIẾT HỌC NHÂN BẢN THÁNH TÔMA
(5) – Triết học Tôma ảnh hưởng bao trùm Tây phương suốt 7 thế kỷ, gọi là “Thomis” mở đường cho chủ nghĩa Nhân Vị Mỹ đầu thế kỷ 20 và chủ nghĩa Hiện sinh với Jean Paul Sartre sau này – Hiện sinh Tả phái vô thần. Thư liệu về triết học Tôma:
- St Thomas Aquinas (1225-1274) (St Thomas d’Aquin) in History of Political Philosophy, edited by Leo Strauss and Joseph Cropsey, op. cit. pp. 223-250.
- Thomas Aquinas. On Kingship to the King of Cyprus. Translated by Gerald B. Phelan and revised by I. Th. Eschmann, Toronto: The Pontifical Institute of Mediaeval Studies, 1949. Book I.
(6) (7) – Jean Raoul Clementin, “Le comportement politique des institutions catholiques au Vietnam” – Tradition et révolution au Viewtnam. Editions Anthropos. Paris, pp. 102-137 – Xem phần “Naissance de l’Eglise nationale Vietnamienne pp. 121-123; Rome contre la conquête, pp. 123-125.
(8)(9) – NGÔ Đ̀NH NHU (1910-1963). Con trai thứ tư của Phụ đạo Đại thần Ngô Đ́nh Khả (Hiệp tá Đại học sĩ, Thị vệ Đại thần, hàm Lễ Bộ Thượng Thư), anh trai là Tổng đốc Ngô Đ́nh Khôi, Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục và TT Ngô Đ́nh Diệm, du học Pháp, đậu Cử nhân Văn chương (ĐH Sorbonne) và trường Sinh ngữ Đông Phương (l’Ecole des Langues orientales vivantes). Người Việt Nam đầu tiên được tuyển vào học trường Cổ ngữ Quốc gia (L’Ecole Nationale des Chartres) ra trường đậu thứ 3 (1935), tinh thông Hán văn và chữ Nôm, Latinh, Hy lạp, Hebrew (Hy bá Lai-Do Thái) và Anh ngữ.
Ngô Đ́nh Nhu, một nhà tư tưởng, một lư thuyết gia chính trị, một học giả uyên bác, người Việt Nam đầu tiên được bổ làm Giám thủ Văn khố và Thư viện Đông Dương (Conservateur-Archiviste) giữ chức Chánh sở Sưu tầm “tài liệu tổng quát” tại Nha Văn khố và Thư viện Đông Dương (1938-1942). Sau đổi về Huế làm Chánh sở Văn khố và Thư viện Trung Kỳ. Sau Nhật đảo chính Pháp, Thủ tướng Trần Trọng Kim bổ nhiệm ô. Nhu làm Tổng Giám đốc Nha TGĐ Văn khố và Thư viện VN – Viết theo tài liệu của Tổng Quản thủ Thư viện Quốc gia Nguyễn Hùng Cường, đồng sự của ô. Ngô Đ́nh Nhu. Ô. Cường là Giám đốc Nha Văn khố và Thư viện VNCH trước năm 1973, ngạch Giám thủ (thượng hạng ngoại hạng sau ô. Nhu).

HỌC THUYẾT XĂ HỘI-NHÂN BẢN và CON NGƯỜI KITÔ GIÁO
(10) – Thư liệu:
- M.J. Williams, Catholic Social Thought. Ronald Press, 1950.
- G.P. Klubertanz, The Philosophy of Human Nature. N.Y.: Appleton Century – Crofts, 1953.
- Xem: Vernon Bourke, “Thomism” (Chủ thuyết Thánh Tôma), in American Philosophy op. cit., pp. 147-154: Logic and Method; Theory of knowledge; Theory of Reality; Philosophy of Man; Ethics; Political and Social Philosophy.
(11) – Cao Thế Dung, Đảng Cộng Sản Việt Nam – Lịch sử và Huyền thoại, T.II. “Biến tướng-hư cấu”, PHỤ BẢN VIII. “Từ chủ nghĩa Cộng Sản đến chủ nghĩa Quốc gia của Phạm Quỳnh và Nam Phong”. “Phạm Quỳnh lập thuyết chủ nghĩa Quốc gia” tt. 797-823.
- Thượng Chi (Phạm Quỳnh), Chủ nghĩa Quốc gia, Nam Phong số 101, Dec. 1925, tt. 401-405.
- Đào Hùng, “Ông Phạm Quỳnh và vấn đề Lập Hiến ở nước Nam”. Phụ nữ Tân văn số 87, ngày 18-6-1931. Trọn đời Thượng Chi, “Ông nói ông thờ chủ nghĩa Quốc gia và chủ trương Lập Hiến”.
(12) – Về Đảng trưởng TRƯƠNG TỬ ANH (1914-1946), quê ở thôn Mỹ Thạnh Trung, x. Ḥa Phong, h. Tuy Hoà (Hiếu Xương), t. Phú Yên, thuộc gia đ́nh Nho giáo ái quốc. Thân phụ là một Văn thân cách mạng, cụ Trương Bội Hoàng, biệt danh là Anh Cả Phương, học ở Hà Nội, năm 24 tuổi lập đảng Đại Việt Quốc Dân Đảng. Ngày 10-12-1938, công bố Tuyên ngôn của Đảng, đề xuất chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn.
Năm 1945 cùng một số đồng chí thành lập Đại Việt Quốc Gia Liên Minh, (xem: Chính Đạo, Việt Nam Niên biểu Nhân vật chí t. 562). Tháng 3 năm 1945, Đại Việt QDĐ và VNQDĐ thống nhất thành một Đảng, QDĐVN, Trương Tử Anh được bầu làm Chủ tịch, Vơ Hồng Khanh, Bí thư trưởng, Nguyễn Tường Tam, Tổng Thư kư, lấy đảng kỳ ĐVQDĐ làm đảng kỳ QDĐVN, lấy đảng ca “Việt Nam minh châu trời Đông” (Hùng Lân là tác giả) của VNQDĐ làm Đảng ca chung.
(13) – Về Tư bản và biến đổi của Tư bản, tính từ đầu thế kỷ 20 đến cuộc khủng hoảng năm 1974-1977. Xem: US Capitalism in crisis – published by URPR – The Union for Radical political economics, N.Y. 1978-347pp.
- Xem: Ernest Mandel, Late Capitalism, Lo
ndo

 

 

 

 

1963 1975 1975 - 2010
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage