|
Trưa hè thành
phố Jerusalem, trời nóng như thiêu như đốt, đời sống của con
Vện có lẽ sắp chấm dứt. Bánh xe ḅ nặng nề lăn dần đến.
Đôi mắt lờ đờ cố mở lớn, Vện nhận định chỗ bánh xe sẽ
lăn tới, bị bệnh và đói khát từ nhiều ngày qua, nó đứng lên
không nổi, gom toàn lực nó trườn ḿnh né tránh, chân trước bên
phải chỏi xuống nền đất. Chỉ thân h́nh Vện tránh khỏi, bánh
xe nặng trĩu nghiền nát ống quyển ! Đau điếng, nó kêu rên
thảm thiết ai oán, sức lực không c̣n, tiếng rên xiết khàn khàn
trong cổ họng. Không ai để ư đến con vật khốn cùng. Vện cố
gắng gần nửa buổi mới lết được vào lề đường, núp trong
kẽ đá nơi vách tường đổ nát. Nó nương nhờ sự che chở của
những viên đá vô tri nhưng đối với nó đầy t́nh thương mong đợi.
Vện là con vật khốn khổ bơ vơ khi chủ nó quá già yếu đă
qua đời. Không c̣n ai nuôi nó, nó trơ xương, lông ngà bạc, lốm
đốm chốc lở, vằn vện phai nhạt màu xám tro hôi hám. Nó là
biểu tượng của sự xấu xí ti tiện. Nó lang thang, lê lết mọi
nơi. Nó bị người ta xua đuổi, ai cũng có thể đánh nó chết: Nó
là con chó ghẻ. Hơi thở đứt quăng thoáng nhẹ như tơ. Ống chân
sưng dần, bầm đen. Cơn sốt lên cao, toàn thân tê liệt, con Vện
b́nh thản chờ tử thần.
Nắng thiêu
đốt đá cát hừng hực như hỏa ḷ. Vện nh́n mặt trời xế trưa
gay gắt, nó chỉ thấy một màu máu bao trùm không gian. Bỗng nhiên
Vện cảm thấy mát rượi. Thân h́nh nó nằm gọn dưới bóng người.
Một người cao cao vừa dừng lại nơi Vện nằm. Y phục ông đơn
sơ, tinh khiết, đâu đây phảng phất mùi hương thơm huyền diệu
làm cả không trung mát lạnh tựa gió xuân. Ông hiền ḥa nh́n
Vện. Ông cúi xuống đưa tay sờ vào vết thương của nó. Vện
cảm thấy một luồng sinh khí cực mạnh chạy khắp thân ḿnh. Nó
vùng đứng lên, vẫy đuôi. Sung sướng, nó ngả đầu vào chân người
tŕu mến. Cơn bệnh, vết thương đă tan biến. Nó tung tăng, vui
mừng, chạy nhảy quanh ân nhân. Nhiều người đứng sát vào lề
đường thầm th́: “Phước lành, Ngài đă ban phước lành”. Đúng:
Chúa đă ban phước lành mầu nhiệm, người vừa cứu con Vện chính
là Đức Chúa Giê-su.
Ngài ngồi
xuống phiến đá bên vệ đường, âu yếm xoa đầu con Vện. Từ
ngày chủ nó chết đi, bây giờ nó mới nhận được t́nh thương
tŕu mến. Bất th́nh ĺnh một đám người ùa tới, người nào cũng
cầm một cục đá, có người c̣n cầm gậy gộc. Con Vện quá sợ
hăi, nó liền chạy trốn theo phản ứng tự nhiên v́ nó đă
từng bị nhiều người xua đuổi một cách tàn nhẫn. Như đă có
ư đồ sẵn, họ xô đẩy một người đàn bà lem luốt, quần áo
tả tơi, đám đông dừng lại trước mặt Đức Chúa, họ đứng
thành h́nh bán nguyệt, người đàn bà bị họ xô té nằm dưới
chân Ngài. Một người hăng hái nhất trong bọn đến đứng trước
mặt Ngài, tay y chỉ người đàn bà, lớn giọng nói cho tất cả
đều nghe: "Con đàn bà nầy can tội ngoại t́nh, vậy theo
luật Mai Sen, con mụ nầy phải bị ném đá cho đến chết. Ông nghĩ
sao ?" Đức Chúa rất đau ḷng nh́n người đàn bà phủ phục
dưới chân Ngài. Y thị gục mặt sát đất, không dám nh́n ai,
chỉ nức nở nghẹn ngào, y thị không phản đối, tất nhiên y
thị đă nhận tội, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Đám đông nh́n
chằm chằm Đức Chúa để xem Ngài phân xử ra sao v́ đây là một
cái bẫy do bọn giáo phẩm Do Thái Giáo tổ chức ra một cuộc đấu
tố để gài Ngài vào trong hoàn cảnh nguy hiểm, nếu quyết định
tha th́ phạm tội chống luật Mai Sen, c̣n giết th́ phản lại giáo
điều nhân nghĩa bác ái của Ngài. Bầu không khí càng lúc càng
nghẹt thở, từ lúc đám đông tập họp cho đến bây giờ Ngài
vẫn không nh́n họ, Ngài tiếp tục dùng ngón tay viết những gịng
chữ trên đất. Sau cùng Ngài đứng lên, nh́n thẳng vào mặt
từng người, Ngài nói thật chậm răi:
"Thế
c̣n người đàn ông cùng phạm tội với người đàn bà nầy ở
đâu ? Hẫy dẫn hắn đến đây! Nay ta hỏi từng người hiện
diện ở đây, ai là kẻ chưa từng phạm tội ? "
Đoạn Ngài
tiến lại phía người đàn ông hùng hổ lúc nảy:
"Đây viên đá thật lớn, ta đưa cho ngươi, ngươi là người
đầu tiên, ngươi hăy ném đá vào người đàn bà đó đi, nếu ngươi
tự xét thấy ḿnh không hề phạm tội !"
Người đàn
ông đang chăm chú nh́n Đức Chúa, bị cật vấn bất ngờ, y sa
sầm nét mặt, rồi lấm lét đưa mắt nh́n quanh một ṿng những
người hiện diện như muốn cầu cứu, v́ y bị dồn vào thế bí.
Y cũng như tất cả đám đông chỉ biết phỉ báng, chỉ trích người
khác để lấy phần phải về ḿnh, để tỏ ra ta đây cương
trực, chỉ biết thực thi đạo lư, làm ra vẻ ta đây bảo vệ đạo
pháp cốt để che dấu tội lỗi thầm kín của ḿnh. Người đàn
ông thấy ai cũng im lặng nh́n xuống đất, y lấy hết can đảm,
đưa trả viên đá lại cho Đức Chúa, rồi y hối hả bỏ đi, không
một lời từ biệt. Đức Chúa tiến đến người thứ hai, Ngài định
đưa viên đá cho y, nhưng y khoác tay, quay mặt bỏ đi liền. Chỉ
trong chốc lát đám đông giải tán thật nhanh cũng như lúc họ kéo
đến. Bây giờ người đàn bà mới dám ngước nh́n Đức Chúa, cô
ta van lơn xin Đức Chúa tha tội. Với một giọng thật ân cần, Ngài
phán rằng:
"Họ đă
đi hết rồi, sao ngươi không đi đi ? nên nhớ đừng phạm tội
nữa."
Người đàn bà vừa thoát được cái chết thảm khốc, cô ta nhích
lên phía trước, kính cẩn hôn chân Đức Chúa rồi chậm răi nh́n
trước mặt mạnh dạng đi thẳng, không c̣n mặc cảm hèn mọn
xấu hổ. Đức Chúa không dùng h́nh phạt nhưng Ngài cảm hóa con
người để tránh khỏi tội lỗi.
Trời về chiều, trên con đường
xa thẳm, Đức Chúa vẫn bước đều, Ngài không biết rằng có
một người đang ngồi chễm chệ trên chiếc xe song mă gần đó,
quan sát thật kỹ từng cử chỉ của Ngài. Người đàn ông oai
vệ đó là quan toàn quyền Phi La Tử được đại đế Sê Sa cử
đến trấn nhậm xứ Ít-xờ-ra-ên nầy. Cạnh xe ông là viên đội
trưởng cận vệ trên tuấn mă; mắt y đăm đăm nh́n thẳng như
một pho tượng, gương mặt rám nắng, đầu đội mũ đồng vàng sáng
chói có chóp cao đỏ ối, giáp trụ hùng vĩ, tay mặt g̣ cương
ngựa, tay trái luôn luôn nắm chặt trường kiếm đeo bên ḿnh như
lúc nào cũng sẳn sàng lâm trận; riêng toán hùng binh đứng thật
xa phía sau viên đội trưởng để khỏi gây huyên náo. Tất cả
giữ im lặng, cho đến khi Chúa Giê-su đă đi khuất, quan toàn
quyền mới ra lệnh quay về.
Con Vện
tự biết số phận ti tiện của nó, nó sống nép ḿnh trong những
hốc đá nơi sườn đồi, đêm khuya mới dám len lén đến các đống
rác bắt chuột, sống qua ngày. Một đôi khi, Vện ngữi thấy mùi
thơm huyền diệu, nó chỉ dám đứng thật xa nh́n Ngài qua kẽ đá,
chiêm ngưỡng h́nh dáng thánh thiện chan ḥa. Hằng ngày Đức Chúa
đi giảng đạo lư, chữa bệnh cứu người. Ngài phải chống lại
lũ sát nhân, đạo đức giả, chuyên ném đá giết hại người
cốt để che dấu những tội ác tầy trời của chúng. Từ ngày Ngài
xuất hiện nơi đây bọn sát nhân và những lũ mượn danh thần thánh
để bóc lột dân chúng không thể nào yên thân, chúng vô cùng
xấu hổ v́ bị Ngài vạch trần sự gián trá của chúng. Chúng
phải t́m cách diệt trừ Đức Chúa cho bằng được, chúng vu cáo
Ngài mưu đồ lật đổ triều đại La Mă hùng mạnh của đại đế
Sê Sa đang thống trị cả Âu châu và toàn vùng Địa Trung Hải.
Đức Chúa
bị sa lưới giặc do những lời cáo gian và nhân chứng gian.
Bản án tử h́nh với Đức Chúa phải được thi hành. Quan toàn
quyền Phi La Tử đă quay mặt bỏ đi, ông không ḷng nào nh́n
thấy Đức Chúa thọ h́nh. Trên yên tuấn mă giữa hai hàng vệ
binh La Mă uy nghiêm, khôi phục chỉnh tề áp giải tử tội đến
pháp trường, viên đội trưởng quát thét ra lệnh Đức Chúa
phải vác thập tự giá lên ngọn đồi để bị hành quyết trên
đó. Không đợi chúng nói nhiều, Ngài gắng sức hiên ngang dấn bước.
Hai chân bị xiềng sắt cứa trầy rướm máu, Ngài lê từng bước
v́ thập tự giá quá nặng, đường dốc đầy sỏi đá càng lúc càng
khó đi. Dọc đường một vài người bày tỏ cảm thương Ngài. Nhưng
hầu hết dân chúng hân hoan hả hê v́ chính họ đă yêu cầu quan
toàn quyền Phi La Tử giết Ngài đi, v́ dân chúng muốn cứu tên sát
nhân Ba Ra Ba cùng bản tính man rợ như họ.
Quan toàn quyền Phi La Tử, người đang cai trị nước Do thái thấy
Chúa Giê-su vô tội. Đức Chúa bị phao vu đủ thứ tội trạng, đủ
thứ huyền thoại thêu dệt ra với dụng ư và mưu đồ đen tối.
Ông Phi La Tử muốn thử nghiệm xem lời đồn đúng hay sai, ông
mới cho giải Chúa Giê-su đến vua Hê Rốt để tùy nghi xử lư.
Vua Hê Rốt là ông vua địa phương được chính quyền La Mă cho lưu
lại tại vị cho yên ḷng dân. Bọn vô liêm sĩ luôn luôn phao ngôn
rằng vua Hê Rốt t́m giết Chúa Giê-su khi Ngài c̣n là một hài nhi,
chúng c̣n phao ngôn vua Hê Rốt đă giết tất cả trẻ sơ sinh cùng
trang lứa với ông Giê-su, đây chỉ là sự bịa đặt ngu dốt
bắt chước theo huyền thoại Mai Sen lúc sơ sinh. V́ nếu thật sự
vua Hê Rốt có ư đồ giết Chúa Giê-su, th́ bây giờ Ngài là một
tên tử tù, chân tay bị xiềng xích, chỉ cần một cái vẫy tay
của vua ra lệnh xử tử là nhà vua thực hiện được ư nguyện đó,
nhất là ông đă được quan toàn quyền cho phép. Lịch sử ghi rơ
vua Hê Rốt thấy Đức Ngài không hề là một sự đe dọa ngai vàng
của vua, cho nên vua Hê Rốt không muốn giết Chúa Giê-su mà lại
cho giải giao Ngài về cho quan toàn quyền.
Ông Phi La Tử quyết định
tha Đức Giê-su v́ ông không thể nào giết một người tận tụy
hy sinh tất cả cuộc đời để cứu giúp biết bao nhiêu người và
c̣n biết bao nhiêu người cần được Ngài cứu giúp. Họ xúm xít
quanh Ngài. Người nào cũng cầu xin Ngài ân huệ. Ngài chưa hề
từ chối một ai, Ngài là đại từ, đại bi, và chắt chắn đây
là một người thanh khiết, chân đi đất, không nhà không cửa, đứng
giảng thuyết đạo lư dưới gốc cây ô liu, không màng danh lợi;
chính mắt ông trông thấy và ông đă tự hỏi tại sao lại có con
người thánh thiện lạ lùng như vậy? Ông Phi La Tử cũng không tin
lời phao ngôn cho rằng Đức Giê-su tự xưng ḿnh là con của Đấng
Tạo hóa, vua trên trời, v́ ông từng thấy Chúa Giê-su chân đi đất
th́ không lẽ cái ngai vàng của cha Chúa Giê-su cũng để cho những
người đi chân đất như ông ta ngồi lên ? Quan toàn quyền phải làm
một việc trớ trêu, ông phải giải tội cho một can phạm bị
kết án tử h́nh v́ bị truy tố tội phản nghịch, can phạm nầy
lại không hề mở miệng biện bạch cho ḿnh một lời nào. Làm
sao tha chết cho tử tội đây ?
Nhân ngày
lễ Vượt qua của La Mă, ông Phi La Tử nghĩ ra được phương cách
độc đáo để cứu Đức Giê-su khi ông đưa ra quyết định có
vẻ vô tư, đứng trên khán đài, ông mĩm cười ra lệnh cho tŕnh diện trước dân chúng
Do thái cùng lúc Chúa Giê-su và tên Ba Ra Ba, ông dơng dạc tuyên
bố:
"Ta sẽ tha một người và chỉ giết một người trong hai
tử tội; dân chúng được tùy ư quyết định tha ai, giết ai, hai
tử tội là tướng cướp Ba Ra Ba và Chúa Giê-su của các ngươi,
ta chỉ tha một người thôi".
Ba Ra Ba là tên giết người cướp của vô cùng gian ác,
mà đôi bàn tay
nhuốm đầy máu của biết bao nạn nhân vô tội. Khi đem hai người
ra cho dân Do thái lựa chọn là tên đồ tể nầy và Chúa Giê-su,
th́ hậu ư của quan toàn quyền đă quá rơ, ông đinh ninh rằng dân
Do thái sẽ xin tha Chúa Giê-su và yêu cầu giết tên ác ôn Ba Ra Ba.
Từ khi ra
lệnh cho tŕnh diện hai tử tội trước công chúng, ông Phi La Tử
đi đi lại lại mĩm cười khoái chí về mưu cao của ḿnh thế nào
cũng giải thoát Chúa Giê-su một cách danh chính ngôn thuận, thể
theo ư dân, mà theo ông, một chính trị gia kiêm chiến lược gia siêu
việt, sự cai trị gồm cả nhu lẫn cương, ông uy nghiêm khiến người
dân kính nể nhưng không khiếp sợ như thấy hùm beo, ông tha thứ
hiền ḥa nhưng không nhu nhược. Trong tinh thần cởi mở đó, để
hủy bỏ bản án tử h́nh nghiêm trọng: hể dân chúng hô tha Đức
Giê-su th́ ông sẽ tha, chỉ giản dị thế thôi, ông sẽ cứu được
người vô tội, vừa thể theo ư dân mà cũng do ḷng quảng đại
của ông ân xá cho tử tội, như vậy ông cũng không làm mất đi
quyền uy của ṭa án và của chính quyền La Mă đang trị v́.
Trên hàng ghế dành cho các vị chức sắc địa
phương, người ngồi ở ghế danh dự là vua Hê Rốt, hôm nay ông cũng đến dự sự thi
hành bản án tử h́nh lịch sử do người La Mă
quản nhiệm. Khi nghe quan Toàn quyền
Phi La Tử tuyên bố "tha một người và giết một người" vua Hê Rốt gật đầu,
vua mĩm cười nh́n quan Toàn quyền Phi La Tử, với nét mặt vô cùng thán phục về
cái ư định tuyệt vời để giải thoát cho Đức Giê-su.
Hốt nhiên
ông Phi La Tử đứng khựng lại, ông hết sức ngạc nhiên khi
thấy hai tử tội vừa bước ra tŕnh diện th́ dân chúng Do thái
đồng thanh hô to đ̣i tha Ba Ra Ba và đ̣i giết Chúa Giê-su. Quan toàn
quyền tưởng ḿnh nghe lầm. Đức Chúa chưa bao giờ hại ai, trái
lại Ngài đă cứu bao nhiêu kẻ khốn cùng khỏi bệnh tật hiểm
nghèo, người đau yếu t́m lại sức khỏe, người mù t́m lại ánh
sáng, người cùi lành hẳn mọi vết lở ... Dân chúng không mấy
quan tâm về những ân huệ đó; theo luật Mai Sen (tên nầy thuộc ḍng
họ Lê vi, ngày xưa tự xưng là đại diện của Chúa Trời) để
lại từ hơn một ngàn năm trước, trong Kinh Sáng Thế Kư: Chúa Trời phán truyền rằng “Kẻ nào chống lại hay không tham
gia việc ném đá th́ phải bị giết chết.” V́ mù quáng tuân
theo qui luật Mai Sen sắt máu nầy cho nên họ hô hào đóng đinh Đức
Chúa giữa thanh thiên bạch nhựt chứ không để cho người La Mă có
thể lén lút tha Ngài. Tên Ba Ra Ba mới đích thực là thủ lănh
của cái đám dân nô lệ đó, cũng như ngày trước, khi nước Ít-xờ-ra-en
c̣n độc lập, dân chúng đă tôn thờ vua David, một tên hôn quân
vô đạo, nó đă giết chồng để đoạt vợ người, thế mà cái
giống dân lạ lùng đó lại tôn vinh tên hôn quân David, mặt người
dạ thú, lên làm minh chủ ngợi ca và hănh diện đời đời cho đến
cả ngày nay. Cái giống dân lạ lùng đó bị bọn giáo phẩm lường
gạt, nói là dân Do thái là dân được Chúa Trời tuyển lựa, cho
nên phải thờ phượng Chúa, phải đem dâng cúng thật nhiều lễ
vật vào đền thờ của Chúa, cúng ít th́ bị bọn giáo phẩm mượn
danh Chúa mà chửi chúng như chửi chó, một tên giáo phẩm là Gi-đê-ôn
c̣n bảo chúng phải lè lưỡi liếm nước uống như chó th́ mới
được Chúa Trời tuyển chọn, thế mà chúng cũng nghe theo, c̣n đem
chép điều nầy vào Thánh Kinh vô vàn kính yêu! Thánh Kinh ghi rơ
cả ngàn lần là Chúa Trời bắt dân Do Thái phải đi chém giết
hết tất cả các dân tộc khác, cướp đất cướp của để đem về
chia chác với Chúa Trời (đưa vào nộp đền thờ cho các giáo phẩm Lê-Vi hưởng lạc). Cho nên khi Đức Giê-Su giảng nhân nghĩa,
t́nh thương bác ái th́ có khác ǵ chửi cha chúng nó, chúng nó yêu
cầu giết Ngài là lẽ đương nhiên.
Bây giờ đứng
trước thực tại phũ phàng, quan toàn quyền Phi La Tử sửng sờ tê
tái, ông ngồi lặng yên, thu người lại trên ghế bành thật lâu.
Ông không hiểu tại sao nơi pháp đ́nh Chúa Giê-su không biện
bạch, và ngay cả bây giờ trước mặt ông, Ngài vẫn không biện
bạch chống lại những kẻ đă vu cáo Ngài.
Quan toàn quyền đă
từng vào sanh ra tử trăm trận thư hùng, đoạt bao chiến công
hiển hách, nhưng hôm nay lần đầu tiên trong đời, ông là người
thua cuộc, thất bại chua cay. Ông, cũng như bao thế hệ trước và
bao thế hệ sau, cứ lầm tưởng người Do thái cũng có nhân nghĩa,
liêm sĩ như ḿnh, th́ đương nhiên dân Do thái phải xin tha Chúa Giê-su
và đ̣i giết Ba Ra Ba. Sự thật trước mắt hết sức phũ phàng.
Ông không c̣n cách nào cứu Chúa Giê-su được nữa: Ông đă hứa
và phải thi hành những ǵ đă hứa, tức là ông phải giết người
mà dân Do thái đă công khai lựa chọn minh bạch. Chính kế hoạch
cứu người của ông đă trói tay ông, đă đưa ông vào ngơ bí
thảm thương! Ông phải hạ lệnh giết người vô tội mà sinh
mạng đang nằm trong ṿng quyền lực tối thượng của ông. Ông đă
nghĩ ra phương cách tuyệt hảo để mong cứu thoát một người thánh
thiện bị hàm oan, nhưng ông đă thất bại ê chề. Tiếng hô hào
của dân chúng đ̣i phải giết Chúa Giê-su là những đ̣n chùy ngàn
cân đánh vào người ông đau đớn từng khớp xương thớ thịt.
Ngao ngán và tuyệt vọng ông
Phi La Tử bảo quân hầu mang đến cho ông thau nước
bằng đồng thật lớn, đặt trên giá gỗ. Quan toàn quyền đứng
lên, toàn thể cử tọa im phăng phắc trong bầu không khí nặng trĩu
bóng tử thần. Ông Phi La Tử trịnh trọng giơ hai tay ra phía trước,
rồi từ từ ông vốc nước rửa tay ba lần thật kỹ trước sự
chứng kiến của toàn thể các vị chức sắc địa phương, giữa
ba quân, trước toàn thể dân chúng; Ông dơng dạc tuyên bố:
"Với hành động trang nghiêm rửa tay của tôi, đây là sự tượng trưng
không liên quan,
tôi minh chứng trước lịch sử rằng cái chết của ông Giê-su không
hề liên quan đến người La Mă. Bàn tay tôi trong sạch không có nhúng vào máu
người nầy."
Ông thật
không hổ danh là đại diện tài đức tín cẩn của đại đế Sê
Sa. Quan toàn quyền đă quay mặt đi với cơi ḷng tan nát, từ tay mặt cuả ông chiếc khăn
trắng hững hờ rơi xuống đất, đó là hiệu lệnh bắt đầu thi
hành bản án tử h́nh!
Đức Chúa không bao giờ lưu ư đến dă tâm của bọn người đ̣i
giết Ngài. Ngài cũng không bao giờ quan ngại đến sự sống c̣n
của riêng ḿnh. Ngài là hiện thân của t́nh thương và
vị tha, có phải
chết đi để bảo vệ tinh thần cao quí ấy th́ Ngài cũng không
nề hà, không thể nào tránh khỏi nhục h́nh trong một xă hội vô
lương mà Ngài đă nguyện giáng trần cứu rổi. Không có một cá
nhân nào, không có một ṭa án nào ở thế gian nầy có thể phán
xét Ngài. Ngài phải chấp nhận cái chết để thức tỉnh lương tâm
nhân loại.
Ngài gắng
sức vác thập tự giá nặng trĩu, qua mỗi chặng đường nh́n
lại các tông đồ yêu dấu, Ngài thấy họ đă hoàn toàn chối
bỏ Ngài. Sợ bị liên lụy, họ che mắt, bịt tai, xa lánh. Sau
nầy bọn họ sợ bị bắt giết, họ c̣n phịa ra Ngài tự xưng là
Chúa Con! Ngài có bao giờ tự xưng là Chúa Con đâu, làm sao Ngài là
con của cái con quỉ tự xưng là Chúa Trời chuyên bóc lột dân Do
Thái như chó lợn. Khi Ngài chết rồi th́ bọn tông đồ đặt vào
miệng Ngài câu ǵ chả được. Đau đớn hơn nữa những người
đă từng được Ngài cứu giúp, chữa cho lành bệnh tật, họ cười
reo trước cảnh khốn cùng của Ngài đang lê bước trên con đường
ṃn đưa đến pháp trường. Không phải Đức Chúa không thể tự
giải thoát cảnh đày đọa tù ngục thảm h́nh, nhưng cỏi ḷng
tan nát thê lương, Ngài chấp nhận tuân hành bản án, bản án cay
nghiệt của thế thái nhân t́nh dành cho riêng Ngài, vô cùng thấm
thía.
Con đường
lên dốc nơi sườn đồi càng lúc càng khó đi, chân Đức Chúa vướng
phải một viên đá, Ngài vấp ngă chúi, Ngài gắng gượng đứng
dậy, nhưng thập tự giá quá nặng với lại sức Ngài đă kiệt
quệ. Ngài cố gắng hết sức cũng không đứng lên nổi. Tên lính
La Mă áp giải cầm roi da vừa la hét vừa quất vùn vụt lên đầu,
lên thân Ngài, y hét bảo Ngài phải đứng lên. Th́nh ĺnh một bóng
xám phóng nhanh như một mũi tên lao đến chụp vào người lính La
Mă. Y không kịp trở tay, hai gịng máu phun ra từ cổ họng. Y té
ngữa dăy dụa v́ y bị con Vện tấn công bất ngờ. Con Vện núp
trong hốc đá, nó thấy Đức Chúa bị đánh đập tàn nhẫn, nó
lựa thế chồm lên cắn cổ họng người lính, chớp nhoáng,
chuẩn đích. Nhiều tiếng la hốt hoảng, binh lính La Mă ùa chạy
đến dồn dập. Đức Chúa buông cây thập tự giá ra, Ngài gom tàn
lực đứng ngay dậy, tay trái Ngài khoác khoác yếu ớt ra dấu và
rán kêu thét ra lệnh cho Vện ngừng cắn. Nhưng đă trể, con Vện
không nghe thấy tiếng yếu ớt của Đức Chúa bị lấn át bởi
những tiếng huyên náo ầm ỷ la hét của quân lính và dân chúng.
Người lính giăy giụa, hai tay cứng rắn nổi gân cuồn cuộn cố
đẩy đầu con Vện ra, sức lực y yếu dần. Viên đội trưởng
từ trên tuấn mă phóng trường kiếm về phía con Vện. Như một
tia chớp, kiếm thép sáng loáng xé gió cắm phập ngay giữa lưng
con Vện lút đến cán, mũi kiếm ḷi ra phía trước ngực, ghim trúng
đá tóe lửa. Răng nanh Vện vẫn cắn chặt cổ người lính, y buông
roi da nằm bất động, con Vện kêu khẻ rồi ngă lăn ra đất, nó
chỉ c̣n kịp giương đôi mắt lờ đờ nh́n Đức Chúa lần cuối.
Tất cả diễn biến quá nhanh, chỉ trong chớp mắt mà máu loang
nhuộm đỏ cả quăng đường. Sự can đảm của con Vện làm tất
cả mọi người đương trường sửng sờ. Sự phản bội của dân
chúng không làm Đức Chúa phiền ḷng, Ngài dửng dưng trước sự
từ bỏ của tông đồ, nhưng bây giờ Ngài vô cùng đau xót, hai hàng
lệ tuôn rơi khi Ngài nh́n ánh mắt can trường đầy luyến ái
của Vện dành cho Ngài trước khi ĺa đời.
Viên đội trưởng
ngồi yên trên tuấn mă như một pho tượng cũng phải rúng động
trước tấm ḷng hy sinh của con Vện. Năm ngoái khi theo quan ṭan quyền Phi La Tử
đi tuần hành, y đă thấy con vật khốn khổ nằm chờ chết bên vệ đường th́ được Đức
Chúa cứu cho lành bệnh, với sự suy nghĩ hạn hẹp của con vật là phải chống lại
bất cứ ai hành hạ ân nhân của nó, nó phải bảo vệ ân nhân cho đến hơi thở cuối
cùng. Vô cùng cảm kích, viên đội trưởng không c̣n dám để binh lính hành
hạ Đức Chúa, y vừa thoáng thấy một người vặm vỡ lẩn trốn
sau đám đông, y cho gọi người đó lại, y thấy nó run rẩy xanh mét
lắp bắp xưng tên là Si Môn. Viên đội trưởng ném cho nó một đồng
tiền để thuê nó vác thập tự giá cho Đức Chúa lên đồi. Toán
lính La Mă vẫn giữ trật tự im lặng tiến bước, thong thả áp
giải tử tội đến pháp trường. Phần việc khiêng thây người lính
và con Vện được giao cho dân Do thái nô lệ phụ trách chôn cất
trịnh trọng. Binh lính La Mă xem con Vện như một chiến sĩ, nó đă
hy sinh, chết oai hùng khi chiến đấu v́ nó hiểu biết điều ân
nghĩa cao cả.
Trên đỉnh
đồi cao, mây sầu ảm đạm, gió oi ả rít từng cơn thê lương,
trời tối mờ, ngày sắp tàn, bóng đêm dâng lên từ các thung
lủng, Đức Chúa đă tắt thở, khô héo, sau khi bị đóng đinh trên
thập tự giá. Quân lính La Mă đă thi hành nghiêm chỉnh bản án
tử h́nh. Nhưng ḱa về hướng thành phố Jerusalem nền trời bỗng
sáng rực, trên áng mây hồng, h́nh dáng một người cao cao, đôi
mắt hiền ḥa, y phục đơn sơ tinh khiết, đâu đây phảng phất mùi
hương thơm huyền diệu làm cả không trung mát lạnh tựa gió xuân.
Dựa sát chân Ngài là con Vện. Nó vĩnh viễn không ĺa xa Ngài. Đầu
ngẩng cao, nó hănh diện rạng rỡ với bộ lông vàng ánh có
những vằn đen đậm nét, nó oai vệ như một mănh hổ. Nó không
bao giờ muốn trở lại nơi gian ác, vô lương, tanh hôi đê tiện bên
dưới.
Montreal 21-03-2003
 |