|
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương dạy dỗ lũ
văn nô bồi bút CSVN
Sông Lô
-Sưu tầm
Câu
chuyện
sưu tầm
kể
lại
dưới
đây của
Sông Lô về
giai thoại
(
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương)
sau 1975 đă bị
nhóm Thi sĩ tiền
chiến
theo Cộng
sản
Bắc
Việt
như :
Tố
Hữu
, Xuân Diệu
, Huy Cận
, Chế
Lan Viên đă đạo
diễn
hai tên bộ
ha. Thanh Nghị
là một
văn công "gộc"
của
MTGPMN và văn nô Hoài Thanh đă cưỡng
bách Thi sĩVHC lên tiếng
thẩm
định
2 câu thơ lục
bát trứ
danh "nô bộc
tôi tớ
X́-Ta-Lin" của
Tố
Hữu
trong bài " Đời
Đời
Nhớ
Ông" :
Vũ Hoàng
Chương: Con người dại hay can đảm ?
Bài: Vú em - Tố Hữu
Nàng
trả con về nơi xóm cũ
Nghẹn ngào trở lại đẩy xe nôi
Rồi từ hôm ấy ôm con chủ
Trong cánh tay êm luống ngậm ngùi
Nàng nhớ con nằm trong tổ lạnh
Không chăn, không nệm ấm, không màn
Biết đâu trong những giờ hiu quạnh
Nó gọi tên nàng giọng đă khan
Rồi từ đêm ấy những đêm sau
Hồi hộp nàng ra tựa cửa lầu
Ngó xuống ven trời đầy bóng nắng
T́m nghe trong gió tiếng con đâu
Gió vẫn vô t́nh lơ lửng bay
Những tàu cau yếu sẽ lung lay
Xạc xào động cánh\... nàng mơ tưởng
Như tiếng ḷng con vẳng tới đây
Nàng nhớ con u sầu rũ rượi
Gục đầu thổn thức trên bàn tay
Bạn ơi nguồn gốc sầu kia bởi
Số mạng hay do xă hội này
( Vú em - Tố Hữu)
Đây là một trong những bài thơ gối đầu giường của tôi, khi c̣n là học
sinh trung học . Ở Miền Nam lúc bấy giờ, những bài thơ hay, được phổ
biến của các thi sĩ thời tiền chiến rất được giới học sinh chúng tôi yêu
chuộng . Thậm chí có những bài thơ c̣n được đưa vào chương tŕnh học ở
nhà trường, bất kể là thi sĩ sáng tác bài thơ ấy đang phục vụ cho chế độ
chính trị nào, dù là Miền Nam hay là Miền Bắc .
Bài thơ "Vú Em" ở trên của nhà thơ Tố Hữu, đối với tôi lúc nào cũng vẫn
là một bài thơ hay . Tác giả tả lại t́nh cảnh một người mẹ trẻ nghèo
phải đi ở vú cho người khác, lấy sữa của nàng cho con của chủ bú và ấp ủ
con chủ trong ṿng tay ấm áp của ḿnh . Khi ấy, con của nàng ở nhà khóc
đến khản tiếng v́ đói lạnh và thèm thuồng một ṿng tay ấp yêu của mẹ .
Càng thương con bao nhiêu, càng đau bấy nhiêu, nhưng chỉ biết tấm tức
khóc thầm mà xót xa cho thân phận hẩm hiu của ḿnh, chứ biết làm sao hơn
. Cuối cùng tác giả kết luận, v́ đâu mà có cảnh éo le như vậy, phải
chăng đó là số phận hay là do cái xă hội bất công này ? Đây là một kết
luận nhân bản và đấy ắp t́nh người .
Nhắc lại bài thơ trên như nhắc lại dĩ văng một thời mà đối với tôi chỉ
c̣n là vang bóng, nó đă gợi cho tôi sống lại cái thuở thanh b́nh ngắn
ngủi, vào những năm 56, 57, 58 ở miền Trung với nhiều luyến tiếc .
Cái thuở thanh b́nh xa xôi ấy, được sống trong môi trường hiền ḥa chân
thật, ấm no thịnh trị, được nuôi dưỡng trong t́nh thương của cha mẹ anh
em, của bà con cḥm xóm, của lũy tre làng, của gịng sông xanh hiền ḥa
trong mát .
Với một môi trường như vậy, lẽ dĩ nhiên con người cũng ảnh hưởng theo mà
rất dễ chạnh ḷng trước bất cứ một hiện tượng bất công nào, cho dù hiện
tượng ấy chỉ được diễn đạt trong thi ca .
Thuở
ấy tôi hiền và nhát quá
Nép ḿnh bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thế nhưng càng về sau, theo tuổi lớn, sống trong chiến tranh loạn lạc
của quê nhà, với bom đạn xới cày, với ngút ngàn thù hận, tôi bước vào
cuộc đời bằng chiếc áo trận của người lính Thủy Quân Lục Chiến với quyết
tâm bảo vệ quê hương, bảo vệ phần đất tự do c̣n lại, nhưng than ơi! sau
đó ... nhất là với những năm tháng "được" nằm trong trại "học tập cải
tạo" sau năm 1975 .
Thấm thía và chiêm nghiệm được sự chân thật và dối trá, t́nh đời và ḷng
người, hai mặt của một đồng tiền, xa hơn là cái con người của quần chúng
và con người của cá nhân, cái con người cá nhân đối với con người cá
nhân hay con người cá nhân đối với con người của tập thể cũng như con
người của tham vọng và con người của quyền lực, Trong đó con người của
tham vọng và con người của quyền lực, sao mà ghê gớm quá .
Từ cảm nhận trên, tôi thường chủ quan đánh giá hay nh́n bất cứ một đối
tượng nào đều thiên về bản chất hơn là hiện tượng . Cũng vậy, cái nh́n
đối với nhà thơ Tố Hữu, thần tượng thi ca một thời của tôi bỗng chốc xụp
đổ tơi bời . Qua bản chất tôi biết đó là một ông quan văn nghệ đầy tham
vọng và nham hiểm, nó hoàn toàn ngược lại với một số bài thơ "hiện tượng"
đầy t́nh người mà ông đă sáng tác, cái ác hầu như chiếm tỷ lệ cao ở
trong ông, "Từ Ấy" ông sợ bằng con đường vương đạo sẽ không có chỗ cho
ông tiến thân hoặc nếu có th́ cũng chỉ có từ rất chậm đến chậm mà thôi,
nên chi ông không ngần ngại chọn con đường bá đạo kể cả tạo ra những "hoạn
lộ" cho những thi hữu cùng thời với ông để đường tiến thân của ông được
suông sẻ mà vươn lên .
Thương
dân thương nước thương nhà
Thương con thương cháu thương cha ông ḿnh
Thương chi ông Sit-ta-lin
Để cho Từ Ấy hằn in vết chàm
Bầm Ơi! có thấu chăng Bầm
Mặc ai khổ nhục vinh thân là ḿnh
Chiến trường đổ Máu ba quân
Trung ương Hoa nở tưng bừng Bầm ơi
Chân dung của nhà thơ Tố Hữu mà tôi đă cố gắng gói ghém trong tám câu
lục bát này không ngoài tham vọng là để cho bất cứ một người yêu thơ nào
khi đọc lên là sẽ nắm bắt được ngay ư của tôi .
Đối với những người VN quan tâm đến thi ca, cho dù là thi ca cận đại hay
là thi ca tiền chiến mà không biết đến thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên,
Xuân Diệu, Huy Cận v.v .. th́ cũng chẳng khác nào những người quan tâm
đến nhạc tiền chiến mà không biết đến những nhạc sĩ Đoàn Chuẩn-Từ Linh,
Văn Cao, Đỗ Nhuận, Đặng Thế Phong v.v ..
Riêng khi nhắc đến nhà thơ Tố Hữu, hơn
năm mươi bốn năm nay những người yêu thơ ở trong nước cũng như ở hải
ngoại, không ai là không nghĩ đến hai câu thơ lục bát nổi tiếng mà nhà
thơ đă sáng tác vào năm 1953 khi nghe tin Stalin bị chết .
Thương cha,
thương mẹ, thương chồng
Thương ḿnh thương một, thương ông thương mười .
Tố Hữu là một nhà thơ có tài, sáng tác rất khỏe, ông mất đi đă để lại
cho đời nhiều bài thơ nổi tiếng, có giá trị văn học, thậm chí có nhiều
bài thơ của ông đă và đang được đưa vào dạy ở học đường XHCN, thế nhưng
hai câu thơ:
Thương cha,
thương mẹ, thương chồng
Thương ḿnh thương một, thương ông thương mười .
Tuy không được đưa vào học đường nhưng nó đă dính liền với ông như bóng
với h́nh, kể từ lúc sáng tác ra nó cho đến bây giờ, dù ông đă mất . Nó
như vết xăm, xăm lên người, không thể nào tẩy xoá được .
Số là sau 1975 khi Sài G̣n bị đổi tên thành thành phố HCM, Tố Hữu lúc
bấy giờ là quan văn nghệ từ trung ương ngoài Bắc vào Nam có ghé đến nhà
Thanh Nghị, một quan Văn Hoá vừa từ trong bưng ra, có một ngôi biệt thự
xinh xắn do chiếm được ở góc đường Thống Nhất và Hai Bà Trưng . Ông này
cũng như tôi thuở "vụng dại", xem Tố Hữu là thần tượng của ḿnh .
Để làm hài ḷng thần tượng và là xếp lớn, Thanh Nghị liền tụ tập một số
những nhà thơ lăo thành tiền chiến tên tuổi, tổ chức một đêm "họp văn
nghệ", nói là để đánh giá sơ khởi thi ca cả hai miền như là tiền đề cho
sự thống nhất văn học sau này . Nhưng mục đích chính là để "hóa giải",
để "thẩm định" lại, cho đúng đắn hai câu thơ của Tố Hữu đă thường xuyên
bị "bia miệng" trong "dân gian" xách mé châm chọc .
Theo như tác giả Vân Xưa trong bài "Thơ Tố Hữu" đăng trên Quê Mẹ số
63/64 có kể rằng:
Thanh Nghị tŕnh bày ư kiến của ḿnh trước và cho rằng châm biếm v́ ác ư
hơn là v́ nghệ thuật đúng đắn . Hai câu lục bát này thật ra không thể
chê vào đâu được . Nó vừa khẩu chiếm vừa xuất thần mà khẩu chiếm và xuất
thần là những tiêu chuẩn cao nhất, định giá trị thi ca VN . Nó đồng thời
thể hiện truyền thống thi ca b́nh dân nước ta, qua hai vần lục bát thật
thoát sáo, vừa giữ vẹn hồn tính một ca dao vừa đưa loại thi ca giọng quê
lên ngang giọng bác học .
Với vỏn vẹn có 14 chữ, trong đó từ "thương" bẩy lần láy lại và c̣n 7 chữ
kia "cha, mẹ, chồng, ḿnh, ông, một và mười" đều là những từ không có
mấy thi tính . Thế mà Tố Hữu đă ghép lại và khi ta ngâm lên th́ thấy rơ
ràng thần tính từ 14 chữ (đúng ra là 8 từ) ấy cuồn cuộn thoát ra, thâm
nhập hồn người thưởng ngoạn, khiến hồn tính con người rung động như tơ
đồng trên phím khi nhạc sĩ vuốt vào giây, thật là hết ư .
Thanh Nghị vốn khéo ăn khéo nói, lại thao thao bất tuyệt nên cử tọa bị
lôi cuốn theo mà "đồng thanh tương ứng" nhận cách ông thẩm định hai câu
thơ của Tố Hữu là xác đáng\. Thế rồi có ai đó yêu cầu các thi sĩ có mặt
ở "hiện trường" xác minh thẩm định trên, dựa theo những câu thơ đắc ư
của mỗi người .
Lấy những vần ít bác học mà so, Xuân Diệu
đem hai câu ḿnh đắc ư trong bài Buồn Trăng,
Ngẩng
đầu ngóng măi chưa xong nhớ
Hoa bưởi thơm rồi, đêm đă khuya
Mà cho rằng, không thể truyền cảm sâu sắc hơn hai câu thơ của Tố Hữu
được
Huy Cận
th́ đọc
hai câu thơ trong bài Áo
Trắng
mà ḿnh cho là tâm đắc,
Em lùa
gió biếc vào trong tóc
Thổi lại pḥng anh cả núi non
.
Để phải nhận rằng, hai câu thơ của Tố Hữu gây xúc động mạnh hơn, dồn dập
hơn trong khu vực t́nh cảm mỗi bên, khi muốn dùng thi ca để tác động tâm
hồn yêu thơ .
Chế Lan Viên không muốn nhắc đến lũ "Ma
Hời" của ḿnh mà đưa hai câu cuối trong bài "Mùa Xuân Chín" của Hàn Mặc
Tử sáng tác lúc c̣n là học sinh trung học ở Quy Nhơn mà ông cho là tuyệt
bút,
Chị ấy
năm nay c̣n gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
Để so với hai câu của Tố Hữu, ho. Chế cho rằng hai bên đều là thơ hay ở
mức độ cao, cách phổ diễn niềm đau trước cuộc t́nh bỗng dứt, một bên v́
dang dở, một bên v́ tử biệt sinh ly . Nhưng phải chịu là hai câu của Tố
Hữu gần hồn tính b́nh dân, hai câu của Hàn Mặc Tử không sánh kịp .
Các nhà thơ khác không ai dám "cầm đèn chạy trước ô tô" hoặc dây vào qua
cách dùng thơ của ḿnh để mổ xẻ và so sánh như các bậc thi bá nêu trên,
có thể là v́ tự trọng, có thể là sợ bị mang hoạ vào thân hay cũng có thể
là cả hai, nhưng nói chung, hầu như đa số đều tán đồng sự thẩm định như
đă nêu .
Hoài Thanh tác giả "Thi Nhân VN" mà Hà Sĩ Phu sau này có vẽ chân dung
của ông như sau:
Vị
nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Nét này vẽ bác Lan Viên
Bác Hữu, bác Cận hay riêng bác Hoài
Chân dung các bác ngời ngời
Chém cha cái nửa phần đời phía sau
Cuộc đời hai nửa v́ đâu
Nửa say quỷ kế nửa đau nhân t́nh
không chính thức có làm thơ nên không có thơ được quyền khỏi mổ xẻ, "hú
hồn", tuy vậy, ai cũng hướng về ông như muốn ông cùng nhập cuộc . Không
hiểu Hoài Thanh có ư né hay không, nhưng chưa ai kịp lên tiếng mời ông
th́ ông đă vội mời Vũ Hoàng Chương thẩm định .
Nhà thơ họ Vũ vốn người không mấy cân quắc, lại ăn nói ôn tồn nhỏ nhẹ,
năy giờ ch́m lỉm dưới làn kinh truyện tuôn từ các bậc thi bá đắc thời,
không ai nh́n thấy ông .
Hoài Thanh
gọi đến Vũ Hoàng chương có lẽ để né tránh thật nên đề nghị là phải có
một nhà thơ của Miền Nam góp ư . Nhưng chắc hẳn không muốn chờ một ánh
sáng hay một tia chớp "đột xuất" nào .
Vũ Hoàng Chương biết thế nên cứ từ tạ, nhưng rồi Thanh Nghị "mớm mồi" ép
thêm vào mà trong bụng tin rằng con người Vũ Hoàng Chương hiền ḥa, ắt
không sợ xảy ra cảnh "cũng gươm, cũng mác, cũng anh hùng" như ông Hồ đối
đáp một ḿnh với đức Trần Hưng Đạo .
Ai đă biết Vũ Hoàng Chương, ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm
thân nhỏ bé ọp ẹp của ông . Đôi ba lần từ tạ không được, đành nhảy vào
ưỡng ngực "ḥ kéo pháo", nhưng trước khi vào cuộc ḥ, Vũ đă yêu cầu cử
tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố v́ ông sợ rằng những ǵ ông muốn
tŕnh bày sẽ làm tổn thương cái "sáng giá" của đêm họp "văn nghệ đặc
biệt" này, bởi "tất tần tật" đă thẩm định rồi .
Sau đây là lời của Vũ Hoàng Chương do người
có bổn phận điếu đóm đêm hôm ấy thuật lại .
"Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của
ḿnh, để hồn trí phản ứng theo thất t́nh con người mà vận dụng thi tứ
phổ diễn nên lời một t́nh tự nào đó, rồi đăi lọc thành thơ . Sự vận dụng
càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao .
Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được "đóng khung" tự bao giờ
trong tâm cảnh ḿnh, Tố Hữu đă xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn
nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít
thi tính, đăi lọc nỗi u hoài của ḿnh thành một tiếng nấc rất tự nhiên .
Đạt đến một mức độ điêu luyện cao . Lời thẩm định của Thanh Nghị thật
xác đáng, tôi chịu .
Nhưng thơ không phải chỉ có thế . xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ
thuật, dù đă có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế th́ thơ chỉ có khéo
mà thôi, chưa gọi là đạt . Tức chưa phải là hay . Thơ hay vừa phải khéo
như thế vừa phải đạt thật sự . Thi hứng nằm trong sự thực của t́nh tự
phổ diễn nên lời . T́nh tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép . Vấn
đề của thơ nói cho đến nơi, là ở đây, có nghĩa là thơ phải thực .
Tố Hữu đặt tiếng khóc của chính ḿnh vào miệng một bà mẹ VN, muốn bà
dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con tre? VN yêu cụ Stalin thay
cho ḿnh . Cũng chẳng sao v́ đó cũng là một kỹ thuật của thi ca, nhưng
trước hết phải biết bà mẹ VN đó có cùng tâm cảnh với ḿnh không, có
chung một mối cảm xúc hay không ?
Tôi biết chắc là không . Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này
trong bài "Đời Đời Nhớ Ông", Tố Hữu đă đặt vào lời bà mẹ hai câu:
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu ḷng con gọi Stalin
Chắc chắn là không có một bà mẹ VN nào, kể cả bà Tố Hữu mà thốt được
những lời như vậy một cách chân thành, cái không thực của hai câu này
dẫn tới cái không thực hai câu ta đang mổ xẻ .
Một t́nh tự không chân thực, dù được luồn vào những lời thơ xuất thần,
khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay mà chỉ là thơ
khéo làm, đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên . Loại thơ khéo
này người thơ thợ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm .
Nhất là nếu có đ̣i hỏi cho một tuyên truyền nào đó . Tố Hữu nếu khóc lấy,
có lẽ là khóc thực, khóc một ḿnh . Những bà mẹ VN trong bài đă khóc
tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm .
Rồi ông kết luận, hai câu lục bát của Tố Hữu, theo ư ḿnh, chỉ là những
lời thơ khéo, không thể so sánh với những câu thơ của những nhà thơ vừa
nêu ở trên, bản chất khác hẳn” .
Lời thẩm định trên của Vũ Hoàng Chương đă gây sôi nổi, sôi nổi v́ bất
b́nh nhiều hơn là v́ tranh luận . Một vài cử tọa muốn đẩy họ Vũ đến chỗ
bí, để hóa giải thẩm định ngược ḍng của ông . Họ đă yêu cầu ông nói về
thơ và sự thực mà ông đă đưa ra để chê Tố Hữu và cùng nghĩ rằng Vũ Hoàng
Chương khó ḷng mà đưa ra một luận cứ vững vàng được .
Nhưng Vũ Hoàng Chương cứ vẫn ôn tồn "giải
tŕnh" tiếp:
“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách
rời thực tế, nhưng mộng trên những t́nh tự thực . Không chấp nhận loại
t́nh tự hư hoang . Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng, nói
thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng
hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực . Nhà thơ không
được láo, nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa
hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lư cuộc
sống . Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy .
Tôi xin nhắc: Sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca . V́ có sự
thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự
thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lư cuộc
sống.”
H́nh như những ngày sau "cái đêm hôm ấy" Vũ
Hoàng Chương đă bị bắt đi học tập và chết khi được tha về không bao lâu,
có người nói Vũ Hoàng Chương là người dại, nhưng cũng có người nói Vũ
Hoàng chương là người can đảm . Theo tôi ông là một con người tự do,
con người tự do không phải quỳ lụy trước bất cứ một áp lực nào, con
người tự do có đức tính tự trọng cao và là con người can đảm . Như Phùng
Quán nói:
Yêu ai
cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông ch́u
Cũng không bảo yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không bảo ghét thành yêu .
Những người nói ông dại, không biết phía sau chữ dại ấy
có ẩn chứa ǵ không, nhưng sao thấy nó ghê gớm và hèn hạ quá chừng .
Cũng nhân bài viết này chúng ta thử giải thích v́ sao những bài thơ tiền
chiến của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên th́ được giới yêu thơ yêu
thích cho dù chỉ là dăm ba câu, c̣n những bài thơ sau này của cả ba rất
ít người nhắc đến . Phải chăng cái thực của muôn đời so với các thực của
một thời là vậy ? Cái thực một thời của cả ba là cố gượng, cố ép thi ca
của ḿnh lặng hụp trong ḍng đấm đá đấu tranh giai cấp mất cả tính người
. Tiếc thật ...
Biển
khổ mênh mông sóng ngập bờ
Khách trần chèo một mái thuyền chơi
Thuyền ai ngược sóng ai xuôi sóng
Cũng ở trong cùng biển khổ thôi .
(Vũ Hoàng Chương)
|