|
|
14
Tháng 9 Năm 1958 – Ngày Đảng CSVN Ký Công Hàm Bán
Nước
•
Trần
Nam - ĐDCND www.ddcnd.org
Trong cuộc gặp
giữa Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Phó thủ tướng Trung
Quốc Li Xiannian hồi tháng 6, 1977 tại Bắc Kinh, Li nói với
Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng “Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ
quyền của Trung Quốc và những điều này có chứng cớ lịch sử để
xác định”. Đồng thời cũng nói thêm “trong quá khứ phiá Việt
Nam đã công nhận điều này”, một cách ám chỉ chính cá nhân Thủ
tướng Phạm Văn Đồng. (Beijing Review – May 1979)
Tài
liệu không nói rỏ Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã phản bác
lại những lập luận của Trung Quốc thế nào để bênh vực chủ
quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Tuy
nhiên, dư luận có thể hiểu là đảng Cộng sản Việt Nam và đích
thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không thể chống đở nổi luận
điệu này vì bị rơi vào thế “há miệng mắc quai”.
Theo
Bộ ngoại giao Trung Quốc thì chủ quyền của họ đối với Trường
Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cải (Beijing Review, Feb 18,
1980). Vì chính Hà Nội, trong các cuộc đàm phán trước kia đã
chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần
đảo này rồi, vì vậy nếu Hà Nội thay đổi thái độ của họ thì
không có cơ sở. Trung Quốc đã đưa ra hai sự kiện cụ thể để làm
bằng chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng đồng ý với Trung
Quốc về chủ quyền của hai quần đảo đang tranh chấp này.
Sự kiện thứ nhất là vào tháng 6 năm 1956, Phó thủ
tướng Việt Nam, ông Ung Văn Khiêm, thay mặt Bắc Việt Nam xác
nhận với phiá Trung Quốc như sau “Theo các tài liệu lịch sử từ
phía chúng tôi (Việt Nam), đảo Xisha (Hoàng Sa) và Nansha
(Trường Sa) thuộc về vùng đất lịch sử của quý quốc (Trung
Quốc)”.
Sự kiện thứ hai là ngày 14 tháng 9 năm 1958,
tức 2 năm sau đó, Thủ tướng Bắc Việt Nam đã gửi công hàm đến
Thủ tướng Chu Ân Lai xác nhận chủ quyền Trung quốc đối với
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi Trung Quốc chính thức
công bố chủ quyền lãnh hải của họ là 12 hải lý, bao gồm luôn
các quần đảo Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha) của Việt
Nam. (1)
|

| Nội dung bức công
hàm Thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng viết như
sau “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà ghi
nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm
1958”.
| |
|

|
Năm 1979, 21 năm sau, khi chiến
tranh biên giới Việt-Trung bùng nổ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã
tìm cách phủ nhận công hàm trên khi trả lời cuộc phỏng vấn của
tờ báo Viễn Đông Kinh Tế. Ông Đồng cho rằng vì lúc đó đất nước
có chiến tranh nên Đảng và Nhà nước đã phải ứng xử như vậy.
Nói cách khác, vì quyền lợi của đảng CSVN và vì những mưu cầu
chính trị, đảng CSVN sẳn sàng nhượng bộ về nhiều mặt, kể cả
việc bán đứng chủ quyền của đất nước.
Hiện nay vấn đề
tranh dành chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa đã càng lúc càng
trở nên gay gắt, có nguy cơ đối đầu bằng chiến tranh để giải
quyết những mâu thuẩn. Sự kiện Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay
mặt đảng CSVN xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai
quần đảo này đặt cho Hà Nội ở vị thế khó xử, cho dù chủ quyền
của Việt Nam đã có những chứng liệu lịch sử xác nhận. Việt Nam
hiện ra sức giải thích với dư luận trong và ngoài nước về lỗi
lầm họ đã mắc phải, biện minh rằng “Trong giai đoạn chiến
tranh chống Mỹ nên Việt Nam phải nhượng bộ trước áp lực của
Trung Quốc, mặc dù công hàm viết như vậy nhưng không ảnh hưởng
đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa”.
Điều nghịch lý là trong bối cảnh lịch sử
lúc đó, năm 1958, chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về
phiá Chính phủ Miền Nam Việt Nam. Trong khi phiá Miền Nam đã
tìm đủ mọi cách để khẳng định chủ quyền thì đảng CSVN lại trơ
trẻn ra công hàm phủ nhận chủ quyền của họ, phản bội quyền lợi
đất nước và dân tộc, cam tâm bán đứng hai quần đảo này cho
phiá Trung Quốc.
Năm 1951 tại Hội nghị ở San
Francisso, khi Nhật ký Hiệp định hoà bình, Hiệp định này đã
không đề cập rỏ ràng chủ quyền của nước nào đối với Trường Sa
và Hoàng Sa. Chính phủ Việt Nam, Thủ tuớng Trần Văn Hữu có mặt
trong Hội nghị đã tuyên bố công khai Hoàng Sa và Trường Sa
thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thủ tướng Trần Văn Hữu, khẳng
định tại Hội nghị trong ngày 7 tháng 7 năm 1951 như sau:
“Trong khi chúng ta cùng khai dụng mọi cơ hội để làm giảm đi
những căng thẳng, phiá Việt Nam chúng tôi xin khẳng định chủ
quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vì những quần
đảo này luôn thuộc về Việt Nam”. (2, 3)
Trong số 51
quốc gia tham dự, đại biểu phía Liên Bang Sô Viết sau đó đề
nghị nên thêm một phần trong bản Hiệp định, đề cập rằng Nhật
đặt hai quần đảo này dưới chủ quyền của Trung Quốc. Đề nghị đó
đã bị Hội nghị biểu quyết không chấp thuận với tổng số 46
phiếu thuận. Nói cách khác, Hội nghị với đại biểu của 46 trong
tổng số 51 quốc gia tham dự lúc đó đã công nhận chủ quyền của
Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa
và Hoàng Sa là không thể phủ nhận. Sự kiện Trung Quốc đã không
phản bác tuyên bố của phiá Việt Nam trước công luận thế giới
sau Hội nghị 1951 tại San Francisco đã xác nhận điều này. Tuy
nhiên, đến khi Đảng CSVN, đại diện là Thủ tướng Phạm Văn Đồng,
vì quyền lợi của Đảng đã ký công hàm “bán nước” vào ngày 14
tháng 9 năm 1958 thì phiá Trung Quốc có cở sở để chính thức
phản bác và ngang ngược đòi chủ quyền của họ trên hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa.
Nước chảy đá mòn nhưng “Ngàn
năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Vết nhơ về lỗi lầm ngoại giao
trước dư luận thế giới có thể che đậy, nhưng vết nhơ về tội
lỗi mang tính lịch sử thì không thể xoá nhoà.
---------
1-
DECLARATION OF THE GOVERNMENT OF THE PEOPLE'S REPUBLIC OF
CHINA ON THE TERRITORIAL SEA
(Approved by
the 100th Session of the Standing Committee of the National
People's Congress on 4th September, 1958)
The
People's Republic of China hereby announces:
(1) This
width of the territorial sea of the People's Republic of China
is twelve national miles. This provision applies to all
Territories of the People's Republic of China, including the
mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from
the mainland and offshore islands by high seas) and its
surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha
Islands, the Xisha islands, the
Zhongsha Islands, the Nansha
Islands and other islands belonging to China. http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2008/http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm
2-
On
July 7, 1951, Tran Van Huu, head of the Bao
Dai Government's delegation to the San Francisco
Conference on the peace treaty with Japan declared that the
archipelagoes of Hoang Sa and Truong Sa were part of
Vietnamese territory. This declaration met with no challenge
from the 51 representatives at the conference. http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2008/http://en.wikipedia.org/wiki/Transportation_in_the_Spratly_Islands
3 - On 7 July 1951 the head of the Vietnamese
delegation, Tran Van Huu, addressed the conference on the
issue of Truong Sa: As we must frankly profit from all the
opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we
affirm our rights to the Spratly and Paracel islands, which
have always belonged to Vietnam. (Ministry of foreign affairs
socialist republic of Vietnam 1981)
|