Đường biên giới trong kư ức

2009-02-04

“Cả Dân Tộc Đă Ngộ Nhận Sao?” Đó là tựa đề một bài viết trên blog của tác giả Lê Tuấn Huy, được viết vào những ngày đầu tháng Giêng năm 2009 này.

RFA graphic

Bản đồ Hiệp ước Biên giới Đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

Và nếu đối chiếu thời điểm, có thể nhận ra, “Cả Dân Tộc Đă Ngộ Nhận Sao?” được viết chỉ vài ngày sau khi thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam, Vũ Dũng, trả lời trên báo điện tử VietNamNet, rằng không có chuyện Việt Nam mất đất, cắt đất cho nước này, nước kia, như một số mạng nước ngoài đưa tin.

Ải Nam Quan chưa bao giờ là của VN?

Và cũng trong không khí đón Tết truyền thống Kỷ Sửu, sau lời khẳng định “không mất đất” của thứ trưởng Vũ Dũng, sau câu hỏi có phải cả dân tộc đă “ngộ nhân” hay chăng, th́ một giai phẩm Xuân của một tờ báo trong nước đă dành nhiều bài vở mạnh bạo về ngôn từ, nói về chủ quyền đất nước.

Xin tuần tự tŕnh bày sau đây.

Hăy bắt đầu với blogger Lê Tuấn Huy. Tác giả đề cập đến những địa danh mà anh tin rằng, với chứng nhận của lịch sử, những nơi chốn ấy từng thuộc chủ quyền Việt Nam. Và nay, đă trở thành lịch sử, qua phát biểu chính thức từ quan chức hữu trách của chính quyền, những nơi chốn ấy chính thức thuộc về Trung Quốc.

Đây, thác Bản Giốc trong kư ức tác giả:

“Thác Bản Giốc, tôi chưa từng đến, nhưng gắn với một kỷ niệm thời niên thiếu.
Đă lâu, vào một ngày kia, tôi quyết định để cho những kỷ vật tuổi thơ thoát khỏi cái tâm trí đă hoàn toàn không c̣n những mộng mơ và mộng mị bé con. Trong số này, có một cuốn tập 200 trang, dày cộm lên v́ đă dán vào những bức ảnh phong cảnh đất nước được cắt ra từ báo hay bưu ảnh, bên cạnh là những ḍng “hoa văn” và những con chữ nắn nót bằng bút bi hai màu xanh, đỏ.
 

 

Những cuộc biểu t́nh chống Trung Quốc

Những bức ảnh nhỏ, trên giấy báo đen nhẻm của thời khốn khó, theo thời gian, nay đă nḥa hẳn trong trí nhớ. Nhưng có hai tấm mà tôi không hề quên, v́ là ảnh màu, khổ lớn hơn hai trang vở, lấy được từ lịch, mà khi có được tôi đă rất thỏa chí. Một là chiếc cầu Xóm Bóng ở Nha Trang, và hai, chính là thác Bản Giốc.
T́nh yêu quê hương khắc vào tôi đơn giản vậy, chỉ là thích thú với những bức ảnh màu hiếm hoi, để rồi không phai trong kư ức.”

“Tuổi thơ, từ sớm tôi đă thuộc câu “Non sông ta liền một dải, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”…”

Nơi Bản Giốc, t́nh quê hương đă khắc vào tác giả đơn giản như vậy, để rồi chẳng bao giờ phai mờ trong kư ức. Một địa danh khác, đă bao đời hiện diện trong tâm khảm, ngôn ngữ, và tâm t́nh Việt Nam, gắn liền với cuộc chia ly phụ tử bi hùng, Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trăi, đi vào kư ức tác giả ở mức độ phức tạp hơn, mang hơi hướng của ḷng tự hào dân tộc: “Tuổi thơ, từ sớm tôi đă thuộc câu “Non sông ta liền một dải, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau”…”

Ḷng tự hào, sự hiểu biết của tác giả, đơn giản và tự nhiên như một sự mặc định, giờ đây đang bị thách đố.

“Vậy mà giờ đây tôi “được” biết rằng cái ải mà nhiều thế hệ người Việt vẫn nằm ḷng đó, trong lịch sử và trên thực tế lại vốn không thuộc về đất nước này! Vậy cả dân tộc ta (chữ “dân tộc” dùng ở đây không ngoa chút nào), liên tục từ nhiều đời nay, đă hoàn toàn ngộ nhận về ải Nam Quan, hay trong chuyện này, chính những người có trách nhiệm bảo toàn cương thổ đă không biết đến lịch sử nào khác của nước nhà, ngoài cái sử liệu tập trung vào Pháp – Thanh?”

Vậy cả dân tộc ta (chữ “dân tộc” dùng ở đây không ngoa chút nào), liên tục từ nhiều đời nay, đă hoàn toàn ngộ nhận về ải Nam Quan?

Có cái ǵ đó như một sự tước đoạt. Ḷng tự hào, sự hiểu biết lịch sử, đơn giản và tự nhiên như lời mặc định, đă bị tước đoạt, khi người chịu trách nhiệm đàm phán cấp chính phủ về biên giới Việt Nam – Trung Quốc, khẳng định: Ải Nam Quan chưa bao giờ là của Việt Nam!

Xin trích một đoạn từ lời khẳng định của thứ trưởng Ngoại Giao Vũ Dũng, trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ về biên giới Việt Nam – Trung Quốc, đăng trên VietNamNet ngày 02 tháng Giêng, năm 2009: “Về khu vực Hữu nghị quan: Theo các tài liệu lịch sử đang được lưu giữ, Trấn Nam Quan hay c̣n gọi là Ải Nam Quan đều nằm bên phía Trung Quốc, đường biên giới nằm phía nam Trấn Nam Quan. Theo “Đại Nam Nhất thống chí,” Trấn Nam Quan được xây dựng từ thời nhà Minh; sau đó, đời Nhà Thanh cho tu bổ lại vào năm 1726…”

Vị tiền nhiệm của ông Vũ Dũng, nay là đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, cũng từng khẳng định điều này trong một lần trả lời phỏng vấn với nhà báo Lư Kiến Trúc, chủ nhiệm tạp chí Văn Hoá tại miền Nam California. Đại sứ Lê Công Phụng khẳng định:

“Về khu vực Hữu nghị quan: Theo các tài liệu lịch sử đang được lưu giữ, Trấn Nam Quan hay c̣n gọi là Ải Nam Quan đều nằm bên phía Trung Quốc, đường biên giới nằm phía nam Trấn Nam Quan.
 

T.T. Ngoại Giao Vũ Dũng
 

“Mục Nam Quan không phải là của Việt Nam. Việt Nam không xây. Hiệp Định Biên Giới Pháp – Thanh ghi rất rơ, rằng đường biên giới của quăng này chạy phía Nam mục Nam Quan, bao nhiêu mét, bao nhiêu cây số đó. Nếu là của Việt Nam xây, ḿnh phải gọi là mục Bắc Quan. Mục Nam Quan là cái ải để quan sát phía Nam. Trung Quốc xây Mục Nam Quan là để quan sát phía Nam đường biên giới.”

Mâu thuẫn với sử sách

Nếu ḷng tự hào và sự hiểu biết mang tính mặc định của blogger Lê Tuấn Huy chỉ là những sai lầm được học từ lịch sử, th́ liệu, ḷng tự hào của tác giả, và của dân tộc Việt Nam về một địa danh lịch sử, từ lâu nay chỉ là ngộ nhận? Lê Tuấn Huy tham chiếu vào một nguồn tài liệu khác, đă được in trong các chương 13 và 14 tác phẩm “Những Biến Cố Mất Lănh Thổ - Lănh Hải của Việt Nam từ năm 939 – 2002,” do luật sư Trịnh Quốc Thiên biên soạn.

 

Công An ngăn chặn bắt bớ những người biểu t́nh

Theo tác giả này, th́ ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thân, 1284, Thoát Hoan đă từng dừng cương nơi Cửa Nam Quan, mang thư sang đất Việt, xin “mượn đường Nam Quốc qua đánh Chiêm Thành.” Một trích đoạn từ Việt Sử Toàn Thư do tác giả Trịnh Quốc Thiên giới thiệu:

“Quân bản bộ của Thoát Hoan đến Cửa Nam Quan th́ ngừng lại. Thoát Hoan phái Bá Tổng A Lư mang thư qua nói: “Bản súy chỉ nhờ đường Nam Quốc qua đánh Chiêm Thành, chứ không có bụng ǵ đâu mà ngại. Nên mở cửa cho bản súy đi và đến đâu chỉ nhờ giúp ít nhiều lương thảo, khi phá xong Chiêm Thành sẽ có trọng tạ…”

Hơn 500 năm sau, thi hào Nguyễn Du cũng từng cảm tác “Trấn Nam Quan,” nói về tâm sự của ḿnh khi tiến qua Ải Nam Quan vào đất Trung Hoa. Đây, cảm xúc của Tiên Điền tiên sinh, gần 2 thế kỷ trước, nơi Ải Nam Quan.

“Lư-Trần việc cũ dấu phai mờ
Năm đă ba trăm kể đến giờ
Muôn núi ải quan nằm chính giữa
Một thành Hoa-Việt vạch đôi bờ
Trời đất mới biết ơn sao nặng
Đất hẹp xui nên chuyện hóa ngờ
Mây biếc quay nh́n nơi cửa khuyết
Nhạc Thiều văng vẳng tiếng xa đưa”

(Bản dịch của Đỗ Văn Hỷ-tr.279-sách Địa Chí Lạng Sơn)

Tổng Cục Du Lịch ca ngợi biểu t́nh chống TQ?

Trong một sự kiện liên hệ đến vấn đề biên giới, chỉ mới gần đây, vào giai đoạn trước Tết Âm Lịch, một tờ báo có tên “Du Lịch,” trực thuộc Tổng Cục Du Lịch, thuộc Bộ Văn Hoá – Thể Thao – Du Lịch Việt Nam, đă cho xuất bản giai phẩm Xuân với nhiều bài viết liên quan vấn đề biên giới Việt Nam – Trung Quốc.
 

Số báo Xuân này có bài viết ca ngợi những sinh viên, thanh niên xuống đường biểu t́nh chống Trung Quốc hồi năm 2007. Ấn phẩm này c̣n có cả bài viết nói về Ải Nam Quan, trong đó có trích đoạn từ kịch-thơ “Hận Nam Quan” của thi sĩ Hoàng Cầm.

Bài viết “Tản Mạn Cho Đảo Xa,” kư tên Trung Bảo, in trong giai phẩm Xuân Du Lịch có đoạn nói về các cuộc biểu t́nh chống Trung Quốc tại Việt Nam:

“…Dẫu rằng v́ nhiều lư do, những lần xuống đường đó không được báo chí trong nước thông tin rộng răi. Dẫu rằng những tấm ḷng yêu nước trong sáng, sự hiên ngang khí phách kia không được ngợi ca công khai… nhưng người ta sẽ phải nhớ rằng tấm ḷng nhiệt t́nh với đất nước của thanh niên trí thức trẻ sẽ không bao giờ thay đổi.”
 

Báo “Du Lịch,” trực thuộc Tổng Cục Du Lịch
 

 

“…Dẫu rằng v́ nhiều lư do, những lần xuống đường đó không được báo chí trong nước thông tin rộng răi. Dẫu rằng những tấm ḷng yêu nước trong sáng, sự hiên ngang khí phách kia không được ngợi ca công khai… nhưng người ta sẽ phải nhớ rằng tấm ḷng nhiệt t́nh với đất nước của thanh niên trí thức trẻ sẽ không bao giờ thay đổi.”

Tác giả cũng viết rằng, “Nếu có “kẻ xấu” nào đó “kích động” người ta đi biểu t́nh v́ yêu nước, ta nên tôn trọng những “kẻ xấu” này. Ngược lại, khi “người tốt” t́m cách ngăn cản sự biểu lộ đầy phẫn uất một cách chính đáng của người dân v́ chứng kiến đất mẹ bị xâm phạm, th́ hẳn những kẻ vẫn mạo xưng “người tốt” này cần phải được xem lại…”

Xin kết thúc bài viết bằng một trích đoạn trong tác phẩm kịch-thơ “Hận Nam Quan” của thi sĩ Hoàng Cầm. Lời của Nguyễn Phi Khanh nói với con trai, Nguyễn Trăi, trước giờ rời cửa Nam Quan, vào đất Trung Quốc, và chẳng bao giờ trở lại cố hương.

Đây biên giới hai nước thù đẫm máu;
Đây Nam Quan ... con mắt khép t́nh thâm
Lối qua lại của một loài cuồng khấu
Là Nam Quan ... chua xót bóng ngh́n năm.
Đây Nam Quan, bốn bề sương lạnh lẽo,
Hồn thuở xưa lay động bóng tinh kỳ
Ai đi sứ nơi quê người lẽo đẽo
Cỏ hoa rừng dâng lệ khóc phân ly ?!
 

-------------------------
Vừa rồi là những ghi nhận từ các blog cá nhân liên quan đến vấn đề biên giới Việt – Trung, cũng như thông tin về một giai phẩm Xuân tại Việt Nam đăng tải nhiều bài viết tỏ thái độ ủng hộ những thanh niên, sinh viên đă từng biểu t́nh chống Trung Quốc hồi cuối năm 2007.
Chúng tôi sẽ tiếp tục t́m kiếm, sàng lọc và gởi đến quí vị những h́nh thức thông tin trên Internet, trong các trang Blog cá nhân liên quan đến nhiều đề tài khác nhau và gởi đến quí vị trong các chương tŕnh sau.
Mong quí vị đóng vai tṛ cầu nối giữa chúng tôi và các thông tin như vậy. Xin gởi cho chúng tôi các thông tin cùng đường liên kết đến các blog hữu ích mà quí vị đọc được, qua địa chỉ
vietweb@rfa.org.

 

Cả dân tộc đă ngộ nhận sao?!
 

 magnify

Việt Nam và Trung Quốc vừa cắm xong mốc phân định biên giới trên bộ giữa hai nước.

Có nhiều ư kiến trái lề, cho rằng Việt Nam đă chịu sức ép từ Trung Quốc để gấp gáp hoàn tất việc này, và đây cũng là thắng lợi hoàn toàn của Bắc Kinh. Tôi nghĩ không hẳn vậy. Công việc này kết thúc trước thời điểm tṛn ba mươi năm Chiến tranh Biên giới phía Bắc – đang gần kề – cũng là một điều hay về mặt ngoại giao cho cả hai phía. Hơn thế, một biên giới chính thức, rơ ràng mà cả hai bên nhà nước đồng ư và có sự xác thực của Liên hiệp quốc, sẽ là cơ sở tối thượng và vững chắc, có thể giúp Hà Nội ngăn chặn – về mặt pháp lư – những toan tính hay hành động lấn lướt thêm nữa về lănh thổ, từ người đồng chí phương bắc.

Tôi đủ thực tế để (phải) chấp nhận, rằng sau lần phân ranh này, cho dù bản đồ Việt Nam có thể biến dạng trên đường biên phía bắc, th́ đó có lẽ cũng là một đánh đổi khả dĩ (?). Thế nhưng, vẫn không thể không có cảm giác nghẹn ḷng…


Vậy là dư luận bấy lâu nay về những điểm nóng lănh thổ, là ải Nam Quan và thác Bản Giốc, rồi ngay cả điểm nóng mới cứng là băi Tục Lăm, giờ đây đă được chính những người có trách nhiệm gián tiếp thừa nhận là đúng! Cho dù chữ “mất” chỉ mang nghĩa t́nh cảm hay nhận thức quán tính (rằng nó vốn thuộc về Việt Nam [nhưng thật ra không phải?]), và không được thừa nhận chính thức chăng nữa, th́ chúng ta quả đă mất toàn bộ hay từng phần những nơi này.

Băi Tục Lăm, đối với tôi: xa lạ.

Thác Bản Giốc, tôi chưa từng đến, nhưng gắn với một kỷ niệm thời niên thiếu.

Đă lâu, vào một ngày kia, tôi quyết định để cho những kỷ vật tuổi thơ thoát khỏi cái tâm trí đă hoàn toàn không c̣n những mộng mơ và mộng mị bé con. Trong số này, có một cuốn tập 200 trang, dày cộm lên v́ đă dán vào những bức ảnh phong cảnh đất nước được cắt ra từ báo hay bưu ảnh, bên cạnh là những ḍng “hoa văn” và những con chữ nắn nót bằng bút bi hai màu xanh, đỏ. Những bức ảnh nhỏ, trên giấy báo đen nhẻm của thời khốn khó, theo thời gian, nay đă nḥa hẳn trong trí nhớ. Nhưng có hai tấm mà tôi không hề quên, v́ là ảnh màu, khổ lớn hơn hai trang vở, lấy được từ lịch, mà khi có được tôi đă rất thỏa chí. Một là chiếc cầu Xóm Bóng ở Nha Trang, và hai, chính là thác Bản Giốc.

T́nh yêu quê hương khắc vào tôi đơn giản vậy, chỉ là thích thú với những bức ảnh màu hiếm hoi, để rồi không phai trong kư ức.

Những tài liệu từng được công bố chính thức và rầm rộ, về việc dời mốc, nắn ḍng của phía Trung Quốc vẫn c̣n chưa kịp xóa đi trong tâm trí nhiều người, vậy mà nay ta lại đành đoạn thừa nhận một cách nghiễm nhiên những mốc, ḍng “nào đó”, để nhận lấy “thực tế” của thác Bản Giốc sao!

C̣n ải Nam Quan? Lần đầu tôi biết đến địa danh này là ở cuộc chia ly của cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trăi.

Cái thuở bé tẹo, trong một cuốn giáo khoa lưu lại của thời trước, cứ in sâu vào đầu tôi là h́nh vẽ của các bài học lịch sử: Lê Lai cứu chúa, Đặng Dung mài gươm dưới trăng, và Nguyễn Phi Khanh đeo gông đi đày tại cửa ải Nam Quan.

Tuổi thơ, từ sớm tôi đă thuộc câu “Non sông ta liền một dải, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” trước khi biết đến chuyện đất nước bị chia cắt, đă “thấy” cửa ải nơi địa đầu biên cương trước khi nghe về vĩ tuyến 17. Và t́nh yêu non nước tạc vào ḷng tôi từ đó – không từ những điều cao siêu, từ sự mến mộ những anh hùng dân tộc – không từ ḷng căm thù giai cấp.

Vậy mà giờ đây tôi “được” biết rằng cái ải mà nhiều thế hệ người Việt vẫn nằm ḷng đó, trong lịch sử và trên thực tế lại vốn không thuộc về đất nước này! Vậy cả dân tộc ta (chữ “dân tộc” dùng ở đây không ngoa chút nào), liên tục từ nhiều đời nay, đă hoàn toàn ngộ nhận về ải Nam Quan, hay trong chuyện này, chính những người có trách nhiệm bảo toàn cương thổ đă không biết đến lịch sử nào khác của nước nhà, ngoài cái sử liệu tập trung vào Pháp – Thanh?

Việt Nam “được” 3/4 băi Tục Lăm, Trung Quốc có 3/4 thác Bản Giốc, c̣n ải Nam Quan th́ nằm sâu trong lănh thổ phương bắc. Đất th́ bạn “nhường”, nhưng văn hóa và lịch sử th́ bạn quyết lấy!

Mà nào chỉ có thế. Ngoài ba nơi trên, những điểm cao chiến lược dọc biên giới, qua những lần giao tranh hồi tháng Hai năm 1979 và sau đó, nay đă được “phân chia” như thế nào?

Những khẳng định chung chung, rằng ta không hề mất đất, liệu có thuyết phục, khi mà những ư kiến ngược lại th́ có thể trưng ra sử liệu và bản đồ, h́nh ảnh? Quả thật là cần phải có chuyên môn để nắm được về mặt trắc địa, nhưng kỹ thuật đó có phải là thứ siêu phàm, chỉ nằm gọn trong hiểu biết của những người đàm phán và các bộ phận liên quan? C̣n nếu nói rằng sẽ công bố sau, liệu có khiến mọi người an tâm rằng đă không có khuất tất nào?

Thêm nữa. V́ sao có chuyện đến tận nay mà Trung Quốc vẫn phải gỡ ḿn c̣n lại từ cuộc chiến năm 1979, gài sâu trong phần đất của họ? Việt Nam ta quả đă xứng danh “tiểu bá”, đến nỗi dù hùng hổ xua quân “dạy một bài học”, lănh đạo Trung Quốc khi đó vẫn nơm nớm lo cho biên thổ, đến độ phải tự đặt ḿn dày đặt trên phần đất của ḿnh v́ sợ Việt Nam xâm lược; hay đây chính là đất đai của ông cha ta đă về tay họ, sau những diễn biến quân sự?

Chưa hết. Tại sao tranh chấp nảy sinh ra một cách “b́nh đẳng”, nhưng lại chỉ toàn những địa danh Việt Nam phải đem ra xẻ, chứ không thấy một tên đất nào của Trung Quốc mà ta chủ động đ̣i phần để họ buộc phải chia?

Tôi không đủ dữ liệu và chuyên môn để trả lời những câu hỏi như thế. Chỉ biết rằng, một cách khách quan, nếu người Việt ta đă ngộ nhận về lănh thổ, th́ chấp nhận sự thật là việc làm đương nhiên; nhưng nếu ngược lại, lịch sử sẽ không thể bỏ qua sự kiện đau đớn này và trách nhiệm của những người liên quan.

Chỉ có sự minh bạch và trao đổi tận ngọn ngành, gốc rễ, từ mọi phía, mới có thể giải tỏa được nghi vấn và nỗi ḷng của con dân nước Việt. Bằng không, như Kant đă nói, “các thế hệ sau sẽ hoàn toàn có quyền bác bỏ những thỏa thuận này như là những cái vô thẩm quyền và phạm tội”!

*

PS: Đây chỉ là những suy nghĩ chợt đến nhưng tôi đă rất khó khăn khi viết, có lẽ v́ ḷng trĩu nặng. Trong ba đêm gơ phím cho nó, vào đêm thứ nh́, khi cứ ngồi đó mà không tiếp tục được, tôi t́m lại bài Nhớ về Pác Pó, và cứ thế nghe liên tục nhiều lần. Bài này nay được phối lại với tiếng hát Quang Lư, tôi không thích bằng giọng ca ban đầu của một nữ ca sỹ miền Bắc (Thu Hiền hay Thanh Hoa?), có lẽ v́ với tôi, giọng hát đó gắn liền với tâm cảm người dân Việt hướng về chốn địa đầu đất nước phải chịu cảnh máu lửa.

Tôi không rơ các vị có trách nhiệm hiện nay, đă từng có cảm xúc như thế nào khi nghe giọng hát dạt dào: “Anh đưa em về sông Bằng, ngày xuân phong lan xanh mộ Kim Đồng…”, và rồi: “Ôi mênh mông trời Cao Bằng, vùi chôn xâm lăng núi rừng điệp trùng, từng tất đất ghi muôn vàn chiến công…”. Tôi cũng không rơ các vị ấy có từng đến xem gian trưng bày “Tội ác quân bành trướng Bắc Kinh”, trong khuôn viên “Nhà trưng bày tội ác Mỹ – Ngụy” hay không, và có ghi vào tâm khảm một bức nào hay không. Riêng tôi, với bài hát này, trong đầu lại hiện lên h́nh ảnh thi thể những nữ dân quân Việt Nam đă trương lên, nằm chồng chập nhau, có người lơa lồ, trong một cái hố, lẫn với đất đá, rơm rạ!

Chiến tranh qua đi đă lâu, quên đi quá khứ và hướng đến tương lai ḥa b́nh và hữu nghị mới là điều hoàn toàn phải lẽ. Nhưng nó chỉ có thể có được nếu đó không phải là t́nh hữu nghị của diễn tiến mất đất, mất biển – trong ḥa b́nh!

Dứt khoát không!

*

Ảnh trên: Nhà thơ Bùi Minh Quốc, tác giả của Chống diễn biến ḥa b́nh của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc, trong một chuyến chu du biên giới phía Bắc. Tấm ảnh này khá quí báu, v́ chụp bên cột mốc biên giới được dựng từ năm 1981. Hiện nay những cột mốc này đă được thay thế, cột mốc cũ không c̣n nữa (nguồn: Phù Sa Nguyễn Trọng Tạo).


*

Updated 10/01/2009: xem ải Nam Quan và chiêm ngưỡng thác Bản Giốc ở đây.
 

Tags: vn.politics, china, vn.history

 

Tuesday January 6, 2009

 

 TÀI LIỆU TỪ:

[VN-Politics] Duong bien gioi trong ky uc‏
From: vn-politics@yahoogroups.com on behalf of Bui Trung-Truc (buitrungtruc87@yahoo.fr)
Sent: February 6, 2009 3:20:16 AM

 

   

 

 

   
   
   
   
      
 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage