Trong
thời gian gần đây, dư luận người Việt xôn xao về một cuốn sách có
nhan đề Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo của một tác giả Đài Loan công bố
một nghi vấn lịch sử quan trọng, khẳng định Hồ Chí Minh (1890-1969),
cố chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà [tức Bắc Việt thời kỳ
chia đôi hai miền Nam Bắc] trong một khoảng thời gian khá dài - từ
1932 đến khi từ trần năm 1969 - chỉ là một người Đài Loan giả dạng
người Việt lănh đạo đảng Cộng Sản.
Để cung cấp một số tin tức cho những độc giả không đọc được tác phẩm
này trực tiếp bằng Trung văn hay không t́m được nguyên tác, người
viết điểm qua cuốn sách và ghi lại một vài nhận xét riêng của ḿnh.
Về tác giả Hồ Tuấn Hùng
Theo như tiểu sử của Hồ Tuấn Hùng ghi nơi trang gập b́a trước th́
ông sinh năm 1948 [trong khi trên một số mạng internet th́ lại ghi
là 1949], người Miêu Lật, Đài Loan, tốt nghiệp ban Sử trường đại học
quốc gia Đài Loan, đă từng dạy học gần 30 năm, có thêm một số chứng
chỉ của các cơ quan hành chính thuộc bộ giáo dục và hiện hoạt động
trong một tổ chức tư nhân là hội Dịch Kinh Ngũ Thuật..
Ông đă trước tác một số sách vở bao gồm Dịch Kinh Tân Thuyên, Dịch
Kinh Đại Diễn Chiêm Phệ, Dương Trạch Phong Thuỷ, Trạch Nhật Bảo Điển,
Lưỡng Hán Mệnh Lư Tư Tưởng Giản Giới .
Những sách này đều thuộc loại chiêm bốc, phong thuỷ nên chúng ta
cũng có thể tin rằng ông thích nghiên cứu về huyền học.
Về tác phẩm
Cuốn sách có nguyên danh là Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo do Bạch Tượng
Văn Hoá ở Đài Loan xuất bản lần thứ nhất tháng 11 năm 2008, tổng
cộng 342 trang với nhiều h́nh ảnh.
Cũng nên nói thêm, Bạch Tượng là một nhà in tư nhân, các tác phẩm do
chính tác giả ấn hành và chịu hoàn toàn trách nhiệm nên nội dung và
phẩm chất không cần phải đạt một số tiêu chuẩn nhất định như những
nhà xuất bản có uy tín khác.
Nội dung Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo chia làm 6 thiên [không kể lời
nói đầu và một số thư giới thiệu]:
Thiên thứ nhất: Màn kịch thay long đổi phượng (Thâu Long Chuyển
Phượng đích hí khúc)
Sự thật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc (Nguyễn Ái Quốc tử vong đích
chân tướng)
Nguyên uỷ của việc Nguyễn Ái Quốc chết rồi sống lại (Nguyễn Ái Quốc
tử nhi phục sinh đích hí mă)
Thiên thứ hai: Việc thật giả của kế Kim Thiền Thoát Xác (Kim Thiền
Thoát Xác chân giả nhân sinh)
Thiên thứ ba: Những năm tháng phiêu bạt giang hồ (Phiêu bạc lưu lăng
đích tuế nguyệt)
Hồ Chí Minh tại Trung Quốc (Hồ Chí Minh tại Trung Quốc) (1938-1945)
Thiên thứ tư: Khúc t́nh ca nhân duyên đầy đau khổ (Hôn nhân luyến
t́nh đích bi ca)
Thiên thứ năm: Bản văn Nhật Kư Trong Tù và bản di chúc (Hán Văn
“Ngục Trung Nhật Kư” dữ di chúc)
Thiên thứ sáu: Lời kết hạ màn (Lạc Mạc Cảm Ngôn)
Vấn đề nêu ra
Như ngay tại đề tựa, nội dung quyển Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo là
một tác phẩm viết về tiểu sử ông Hồ Chí Minh. Cho đến nay, cuộc đời
hoạt động của Hồ Chí Minh đă được nhiều tác giả Tây phương và Việt
Nam – trong cũng như ngoài nước – t́m hiểu rất công phu, có người
c̣n ngưỡng mộ ông như một nhân vật thần kỳ. Tuy nhiên, cũng như cuộc
đời ái t́nh sự nghiệp của bất cứ lănh tụ Cộng Sản nào, nhiều chi
tiết liên quan đến Hồ Chí Minh vẫn c̣n là những bí mật chưa có câu
trả lời hoàn toàn thích đáng.
Để thực hiện tác phẩm của ông, Hồ Tuấn Hùng sử dụng chủ yếu các tài
liệu viết bằng Anh, Hoa và Nhật văn và một số tài liệu Việt Nam xuất
bản ở trong nước.
Một cách tổng quát, nghiên cứu về một nhân vật nhiều bí ẩn, tiếng
tăm và mâu thuẫn như Hồ Chí Minh ngoài phương pháp và đường lối suy
luận, tác giả cần có những tư liệu độc đáo soi sáng những giai đoạn
mà những người đi trước chưa có được. Đối với những khuôn mặt chính
trị mà phần lớn cuộc đời hoạt động trong bóng tối, phần tài liệu
hiện c̣n trong văn khố chính trị, quân sự, ngoại giao của Việt Nam,
Pháp, Trung Hoa, Liên Xô ... là những đóng góp quan trọng.
Riêng về Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo, phát hiện quan trọng nhất – và
cũng mới mẻ hơn cả – của tác giả là việc Hồ Chí Minh thật đă qua đời,
sau đó một người Trung Hoa tiếp tục vai tṛ từ năm 1932 đến năm 1969
là khi ông từ trần.
Do đó, trong phạm vi nhỏ bé của bài điểm sách này, chúng tôi chỉ xét
về hai chi tiết thuần tuư liên quan đến công tŕnh của chính tác giả:
từ đâu Hồ Tuấn Hùng đưa ra giả thuyết này, và ông chứng minh giả
thuyết này dựa trên cơ sở nào?
Việc Hồ Tuấn Hùng tin tưởng một cách chắc chắn rằng người nằm trong
lăng Ba Đ́nh tại Hà Nội không phải là Nguyễn Ái Quốc là một giả
thuyết quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến không phải chỉ cá nhân ông
Hồ Chí Minh mà cả lịch sử cận đại Việt Nam. Để đi đến kết luận, chắc
chắn người viết phải có được những chứng cứ xác thực, đáng tin cậy.
Vậy nguyên uỷ của giả thuyết bắt nguồn từ đâu ?
Chúng tôi xin dịch một đoạn trong tiểu mục “Có phải Hồ Chí Minh đến
từ Đài Loan hay không?” để xem ông Hùng dựa trên cơ sở nào:
Vài năm trước, một bằng hữu là thương gia Đài Loan buôn bán tại Việt
Nam cho bút giả [tức tác giả Hồ Tuấn Hùng] biết: “Hồ Chí Minh là
người họ Hồ ở Đồng La, Miêu Lật của ông đó, ông có biết không?”. Cái
tin nói rằng Hồ Chí Minh là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La lần này
là lần thứ hai chính tai tôi nghe được khiến cho bút giả cảm thấy
bùng lên một nghi ngờ. Liệu tin đồn này có thể giúp giải mật về thân
phận Hồ Chí Minh hay không?
Trước đây vào khoảng thập niên 1960 [nguyên tác viết là Dân Quốc ngũ
thập niên đại, tính theo kiểu Trung Hoa dân quốc th́ chúng ta phải
cộng với năm dân quốc 1911 là năm cách mạng Tân Hợi, nghĩa là 1911 +
50] cũng đă có một đảng viên Quốc Dân Đảng, trong một kỳ tế tổ từng
hỏi cha tôi: “Hồ Chí Minh là người liên hệ với các ông thế nào?” đủ
biết lúc ấy đă có tin đồn Hồ Chí Minh là người Miêu Lật nhưng chỉ
lưu truyền trong họ Hồ gốc Miêu Lật, Quảng Đông mà thôi.
Một vị thầy thuốc họ Hà người Miêu Lật sang Đài Loan chơi cũng cho
hay: Năm 1945, ông ta đi theo quân đội Quốc Dân Đảng sang Hà Nội [tức
quân đội của Lư Hán sang tiếp thu và giải giới quân đội Nhật], có
nghe phong thanh từ một người bán thịt lợn 3 cho hay là Hồ Chí Minh
gốc người Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan.
Một người anh họ tôi cũng cho biết, vào khoảng thập niên 1970, anh
ấy đi cùng chú tôi đến bộ Ngoại Giao Đài Bắc để thăm hỏi tin tức về
Hồ Chí Minh (tác giả mở ngoặc Hồ Tập Chương) ở Việt Nam ra thế nào,
và thân phận ra sao, nhưng cũng không có đáp số nào cụ thể.
Từ lời nói của vị thương gia Đài Loan kia, nói rằng Hồ Chí Minh là
người Miêu Lật, Đồng La, nguyên uỷ thế nào, khi hỏi đến các cán bộ
Việt Nam cấp cao th́ không đi thêm được ǵ nữa. Như vậy tin ở trên
hẳn là các cán bộ trung ương của đảng Cộng Sản Việt Nam đều biết rơ
quá tŕnh sinh trưởng của Hồ Chí Minh, c̣n lưu truyền đến hôm nay
nhưng không ai dám nói lên bí mật về thân phận của họ Hồ. [HCMSBK,
trang 17]
Từ nghi vấn này, Hồ Tuấn Hùng khẳng định rằng Hồ Chí Minh [tức
Nguyễn Ái Quốc] đă chết từ năm 1932 v́ bệnh lao, theo báo cáo của
nhà đương cục Anh tại Hương Cảng là đúng sự thực và sau đó là Hồ Tập
Chương, một người Đài Loan đồng tộc với tác giả giả dạng theo cái kế
mà người Trung Hoa gọi là “thâu long chuyển phượng” và “kim thiền
thoát xác”.
Lư giải của tác giả
Thực ra, chi tiết nhân vật Nguyễn Ái Quốc chết từ năm 1932 rồi c̣n
sống quay trở lại chính trường đă được nhiều người nhắc đến, chính
mật thám Pháp đă đối chiếu rất kỹ về nhân dạng, về hành tung khi ông
xuất hiện dưới cái tên mới là Hồ Chí Minh năm 1945. Việc phủ nhận
toàn bộ những sưu tra của Nha Liêm Phóng Pháp về thân thế của ông Hồ
không phải dễ.
Trong suốt quyển sách, rất tiếc tác giả không đưa ra được một chứng
cớ cụ thể nào để chứng minh giả thuyết ông Hồ Chí Minh sau này chỉ
là một người Trung Hoa được nguỵ trang.
Tối thiểu tác giả cũng phải trưng ra một số h́nh ảnh của ông Hồ Tập
Chương hồi trẻ để chúng ta so sánh với ông Hồ Chí Minh sau này nếu
muốn tin rằng đó chỉ là một người, ngược lại ông chỉ sao chụp những
h́nh ảnh trong các sách vở mà hầu hết chúng ta quen thuộc.
Trong suốt cuộc đời chính trị, Hồ Chí Minh dùng đến mấy chục tên
khác nhau và hàng loạt nghề nghiệp, kể cả đóng vai chồng hờ trong
những trường hợp đặc biệt để che dấu hành tung. Tuy hoá trang giỏi
nhưng có lẽ cho đến ngày nay khó có ai có thể đóng giả một vai trong
nhiều năm mà t́nh báo quốc tế cũng như người đối lập với ông không
biết.
Điểm quan trọng nhất trước đây cụ Hoàng Văn Chí cũng đă nêu ra để
nhận biết Hồ Chí Minh sau năm 1945 chính là Nguyễn Ái Quốc là cái
tai nhọn rất khác thường mà không ai có thể giả tạo được. H́nh đôi
tai của Hồ Chí Minh đối chiếu với nhân dạng trong hồ sơ của chính
quyền thuộc địa đă giúp người ta truy tầm ra lư lịch ông một cách
chắc chắn.
Chính v́ không có được những chứng cớ cụ thể hơn để củng cố cái “tin
đồn của ông bán thịt lợn”, Hồ Tuấn Hùng dùng phương pháp lư luận dựa
trên những tài liệu về cuộc đời Hồ Chí Minh để chứng minh rằng Hồ
Chí Minh sau này là một người Trung Hoa, không phải người Việt.
Ông cũng không đưa ra được một chi tiết nào khả tín khi khẳng định
rằng hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam đă đồng t́nh thực hiện
âm mưu này mà Liên Xô không hay biết.
Cũng nên nói thêm, Hồ Tập Chương, người đóng vai ông Hồ Chí Minh sau
này kém Nguyễn Ái Quốc 11 tuổi [theo năm sinh 1890 mà người ta ghi
trên tiểu sử, mặc dù tuổi thật theo một số nguồn có thể c̣n cao hơn]
và đây cũng là một điểm ông Hồ Tuấn Hùng dùng để chứng minh ông Hồ
Chí Minh là giả hiệu mà chúng tôi sẽ đề cập đến sau.
1. Lư giải thứ nhất: Ông Nguyễn Ái Quốc [thật] dốt chữ Hoa,
Hồ Chí Minh [giả] phải là người Trung Hoa mới có thể làm thơ được.
Để chứng minh rằng Hồ Chí Minh phải “dốt” chữ Hán, trong tiểu mục
“Lịch tŕnh học tập ngữ văn [tức Hán văn] của Nguyễn Ái Quốc”, Hồ
Tuấn Hùng viết:
Chúng ta thường thấy các tác giả Việt Nam viết trong tiểu sử Hồ Chí
Minh là “Nguyễn Ái Quốc sinh trưởng trong một gia đ́nh có truyền
thống nho học, từ nhỏ đă được học chữ Hán, căn bản chữ nho rất vững
vàng, có thể làm thơ và viết chữ” nên nghe riết rồi tin. Thế nhưng
từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là thời kỳ thực dân Pháp mới chiếm
Việt Nam, hầu hết những gia đ́nh quan lại hoặc giàu có, đều gửi con
cái sang Pháp du học, rất ít người bằng ḷng để cho con cái học chữ
Hán, và sau khi phế trừ khoa cử khảo thí để tuyển nhân tài th́ dường
như không c̣n ai học chữ nho nữa. Phụ thân của Nguyễn Ái Quốc là
người thân Pháp th́ hẳn là phải hiểu điều này, tuy chính ḿnh là do
khoa cử xuất thân, nhưng chắc không khuyến khích con học Hán văn,
ngược lại c̣n tích cực bắt con học Pháp ngữ và chữ quốc ngữ [là thứ
chữ] mới lưu hành. (tr. 257-8)
Quá xuống một chút, Hồ Tuấn Hùng làm tính rằng trước năm 1911 [là
lúc ông Hồ xuất dương] th́ t́nh h́nh rất long đong, Hồ Chí Minh làm
ǵ có cơ hội mà ăn học. Theo lối tính của tác giả Hồ Chí Minh Sinh
B́nh Khảo, Hồ Chí Minh cho đến năm 21 tuổi không thể được học Hán
văn quá 3 năm, c̣n tiếng Việt và tiếng Pháp không thể quá 4 năm rồi
kết luận (tr. 258):
Nguyễn Ái Quốc chỉ được học Trung văn tŕnh độ tiểu học khoảng 3, 4
năm, không thể nào đủ sức để viết những bài chuyên luận lưu loát
trên các tạp chí chữ Hoa, cũng không thể nào có thể làm thơ “Nhật Kư
Trong Tù”, cũng không thể nào dùng bút lông để viết thư pháp, lại
càng không thể dùng ngón tay để thay cho bút.
Vấn đề tác giả Ngục Trung Nhật Kư có thể không phải là Hồ Chí Minh
đă được nhiều nhà nghiên cứu người Việt đề cập từ lâu, với những
luận cứ khá xác đáng và minh bạch, nhưng không phải lư do ông Hồ Chí
Minh “dốt” chữ Hán mà v́ văn liệu có nhiều chi tiết không khứng hợp
với những ǵ người ta biết về ông.
Quan trọng nhất, các tác giả người Việt đều đồng ư rằng tác giả thật
của Ngục Trung Nhật Kư phải là một người lớn tuổi hơn Hồ Chí Minh
chứ không thể nhỏ hơn đến 11 tuổi.
Vả lại, dù trước đây không được theo học đến nơi đến chốn th́ trong
khoảng hơn 30 năm từ 1911 đến 1943 [là năm Hồ Chí Minh bị tù], ông
Hồ cũng có rất nhiều cơ hội để tự học thêm chữ Hán hay các ngoại ngữ
khác, không thể căn cứ vào thời điểm xuất dương để hạn định học vấn
của ông.
Việc cho rằng từ đầu thế kỷ XX, người Việt không c̣n ai học chữ Hán
nữa cũng hoàn toàn sai lầm v́ người Việt c̣n học chữ Hán rất lâu,
không phải v́ mục tiêu thi đỗ làm quan mà để “nối nghiệp nhà” hay
“đọc được quyển gia phả” như các cụ thường nói. Cho đến tận ngày nay
rất nhiều người Việt vẫn học chữ Hán - và cả chữ Nôm - để nghiên cứu
sách vở của tổ tiên v́ chữ Hán gắn liền với văn minh Việt Nam trong
hàng chục thế kỷ.
Bản thân người viết cũng quen biết nhiều bằng hữu không đi học một
trường nào, một lớp nào nhưng vẫn có thể đọc và làm thơ chữ Hán, sở
học uyên thâm đến chính những người gốc Trung Hoa phải kinh ngạc.
Những suy luận của ông Hồ Tuấn Hùng chỉ là một vơ đoán không có cơ
sở vững chắc.
Những giải thích cố chứng minh tác giả quyển Ngục Trung Nhật Kư phải
là người gốc Khách Gia cũng có nhiều điểm đáng ngờ. Tác giả cho rằng
chữ lung [bài số 8] người Trung Hoa không dùng khi nói về tù ngục,
chỉ có người Khách Gia mới dùng, hay chữ tẩy diện [bài số 22] người
Trung Hoa không dùng [mà phải là tẩy kiểm khi nói về rửa mặt, người
Trung Hoa không dùng thân thân cước [bài số 109] mà nói là thân thân
thối khi nói về duỗi chân ...
Thực sự, không riêng người Khách gia mà trong tiếng Việt những chữ
lao lung, rửa mặt, duỗi chân ... rất dễ hiểu và thông dụng [người
Việt cũng chẳng ai nói rửa má hay duỗi đùi] khiên lư giải của tác
giả làm chúng ta càng nghi rằng những bài thơ trong NTNK quả do một
người gốc Việt sáng tác [dù tác giả thực chưa hẳn đă là Hồ Chí Minh]
nên đă dịch ra tiếng Hán một cách vô thức thay v́ dùng những chữ mà
người Trung Hoa thường dùng.
2. Lư giải thứ hai: Hồ Chí Minh trẻ hơn Nguyễn Ái Quốc 11
tuổi, không thể già như người ta nói
Để chứng minh tuổi “thật” của ông “Hồ Chí Minh” giả kia phải thấp
hơn năm sinh 1890, Hồ Tuấn Hùng căn cứ vào câu sau đây trong bản di
chúc ông Hồ viết năm 1969 để giải thích: “Ông Đỗ Phủ là người làm
thơ rất nổi tiếng ở Trung quốc, đời nhà Đường có câu rằng nhân sinh
thất thập cổ lai hy nghĩa là người thọ 70 xưa nay hiếm!”.
"Năm nay tôi vừa 79 tuổi, đă là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh
thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài năm
trước đây ...”
Từ câu này, Hồ Tuấn Hùng lư luận:
Theo đoạn di chúc này, bút giả [tức Hồ Tuấn Hùng] nhận định rằng [câu
này] phải là “nay tôi vừa sáu mươi chín tuổi” và đă bị sửa thành
“nay tôi vừa bảy mươi chín tuổi”, vết sửa c̣n ngấn rơ ràng. Câu di
chúc đó phải hiểu như sau:
“Nhân sinh thất thập cổ lai hi, năm nay, tôi vừa đến tuổi sáu mươi
chín, đă vào hạng người xưa nay hiếm rồi. Có như thế th́ văn mới
thông? ... Không lẽ ông Hồ Chí Minh là người thông hiểu Hán văn lại
viết một câu mâu thuẫn kém ngữ pháp như thế?
Tiếp theo, Hồ Tuấn Hùng cho rằng Hồ Chí Minh [tức Hồ Tập Chương] khi
đó mới 69 tuổi [sinh ngày 11 tháng 10 năm 1901] nên việc ông Hồ so
sánh tuổi 79 với câu “nhân sinh thất thập cổ lai hy” là không phù
hợp [mà chỉ 69 mới thích đáng] (tr. 313-4).
Chúng ta thấy lối giải thích này rất cưỡng từ đoạt lư. Nếu hiểu theo
tiếng Việt thuần tuư, việc câu trước đưa ra “bảy mươi xưa nay hiếm”
chỉ là một phá đề cốt nhấn mạnh vào câu sau với ư nghĩa, 70 đă hiếm,
tôi đă 79 c̣n hiếm hơn, hoàn toàn không thể ép rằng như thế khi đó
ông Hồ Chí Minh mới 70 tuổi tṛn.
Điểm này chứng tỏ Hồ Tuấn Hùng – nếu quả có học tiếng Việt – th́
tŕnh độ cũng chưa đủ để nghiên cứu trực tiếp các văn bản Việt Nam [những
tựa đề sách Việt ghi trong Thư Mục Tham Khảo ở cuối cuốn sách chúng
tôi thấy đầy lỗi chính tả].
3. Lư giải thứ ba: Hồ Chí Minh [giả] rất “kém” tiếng Việt,
dịch một câu ngắn cũng không thông [v́ là người Hoa mới học].
Để chứng minh rằng Hồ Chí Minh [tức Hồ Tập Chương giả dạng] không
rành tiếng Việt khi viết những bài xă luận đăng trên Cứu Vong Nhật
Báo [năm 1940], Hồ Tuấn Hùng đưa ra một bài viết nhan đề Thiên
Thượng Cố Muội có chú thích ngay bên cạnh bằng quốc ngữ “Ông Trời Có
Mắt” [để trong ngoặc đơn].
Theo ông, nếu hiểu nghĩa câu “ông trời có mắt” một cách rành mạch
th́ phải dịch ra chữ Hán tương đương là Hoàng Thiên Hữu Nhăn mới
phải. Từ so sánh này, Hồ Tuấn Hùng cho rằng khi đó v́ mới học tiếng
Việt nên ông Hồ Chí Minh [Hồ Tập Chương] đă hiểu sai một “cụm từ”
rất thông thường (tr. 190-1).
Thực sự, nếu chúng ta suy nghĩ sâu thêm một chút th́ biết ngay bốn
chữ Thiên Thượng Cố Muội này không phải là tiếng Hoa [hiểu theo
tiếng Trung Hoa th́ có nghĩa là trên trời mờ tối, chẳng liên quan ǵ
đến “ông trời có mắt”] và v́ thế hai câu không ăn khớp.
Trái lại, nếu chúng ta đọc theo chữ Nôm - là một thứ chữ đặc biệt
chỉ người Việt Nam có - th́ bốn chữ này chính là Trời Có Mắt [chữ
trời Hồ Tuấn Hùng lại tưởng hai chữ thiên 天 và thượng上 rời nhau, c̣n
chữ mắt th́ tác giả lại tưởng là chữ muội, nhật 日 + mùi 未, thực ra
là mục 目 + mạt末].
Chính điểm này, chúng ta càng thấy rằng tác giả chưa t́m hiểu văn
hoá Việt Nam đúng mức nên không nêu ra được những ǵ cần thiết để
bảo vệ quan điểm của ḿnh.
Ngoài các chi tiết lẻ tẻ không lấy ǵ làm đặc biệt nêu trên, Hồ Tuấn
Hùng cũng cố chứng minh là Hồ Chí Minh [thực] không thể nào có khả
năng để làm một bài thơ trong đó bao hàm những nét đặc trưng của văn
minh Trung Hoa như chiết tự [bài 77] hay điển tích [bài 63] . Chiết
tự đó ra sao mà ghê gớm thế?
Đó là chữ tù [囚], bỏ chữ nhân [人], thay chữ hoặc [或] th́ thành chữ
quốc [國 ]. Chữ hoạn [患] bỏ đầu [中] đi th́ thành chữ trung [忠], chữ
nhân [ 亻] đứng cạnh chữ ưu [憂J] th́ thành chữ ưu [優] [là ưu điểm],
chữ lung [籠] bỏ bộ trúc [竹] th́ c̣n chữ long [龍].
C̣n điển tích là những điển tích nào? Tích Bá Di, Thúc Tề không chịu
ăn gạo nhà Chu nên lên núi Thú Dương, Quan Vũ nhận áo gấm của Tào
Tháo nhưng bên trong vẫn mặc chiếc áo rách của chủ cũ ... Những điển
tích rất thông thường ấy cũng được Hồ Tuấn Hùng cố chứng minh rằng
là sở học gia truyền của ḍng họ Hồ mà một người “mới học Hán tự vài
ba năm” như Nguyễn Ái Quốc không thể biết được.
Luận cứ Hồ Tuấn Hùng để nhiều trang chứng minh rằng phải người Trung
Hoa được học từ nhỏ là thư pháp [phép viết chữ Hán]. Xét những lần
Hồ Chí Minh thăm Trung Hoa năm 1959, 1961 ông đă trổ tài đề chữ lưu
niệm, theo Hồ Tuấn Hùng phải là “người học thuần thục tiếng mẹ đẻ
mới làm nổi” đi đến kết luận Hồ Chí Minh không thể là Nguyễn Ái Quốc
(tr. 305).
Ngay cả một vài câu thơ Đường khá phổ thông của Vương Xương Linh tác
giả cũng cho rằng người Việt không thể biết (tr. 301-305).
Kết luận
Tuy mới xuất hiện, cuốn Hồ Chí Minh Sinh B́nh Khảo gây xôn xao trong
cộng đồng hải ngoại. Tiếng vang đó phần lớn bắt nguồn từ quan điểm
chính trị của người Việt tị nạn Cộng Sản ṭ ṃ muốn biết thm về mặt
trái vị “lănh tụ thần thánh” của chế độ Cộng Sản khi đọc một số chi
tiết trên các mạng internet.
Đứng về mặt nghiên cứu, cuốn sách có ưu điểm dẫn được nhiều tài liệu
tiếng Trung Hoa, tiếng Nhật [mặc dù phần lớn chỉ là những bài báo
hàng ngày] để chúng ta có thể đọc thêm về hành tung của Hồ Chí Minh
khi ông hoạt động tại ngoại quốc, nhất là trong phái bộ Borodin thời
chính quyền Tưởng Giới Thạch c̣n “liên Nga dung Cộng”.
Tuy nhiên, trong thư mục tham khảo tiếng Việt chúng tôi thấy hoàn
toàn vắng bóng những nghiên cứu của các tác giả Việt Nam ở phía quốc
gia trước và sau năm 1975. Chính những nguồn tài liệu này đóng góp
nhiều vào việc soi sáng “chân diện mục” của Hồ Chí Minh hơn là một
loạt những “toàn tập” và bài vở trích từ báo chí trong nước.
Một suy nghĩ chủ quan theo kinh nghiệm của người viết th́ người Hoa
giả làm người Việt khó hơn người Việt giả làm người Hoa. Thanh niên
Việt Nam sống lâu năm tại ngoại quốc phát âm tiếng nước ngoài hầu
như hoàn chỉnh trong khi những người Trung Hoa sinh trưởng và lớn
lên tại Việt Nam dù rất lưu loát vẫn có âm sắc mà chúng ta nhận biết
không phải là người Việt chính gốc.
Hơn thế nữa, vào thời kỳ 1930, Nguyễn Ái Quốc [sau này là Hồ Chí
Minh] chỉ mới là một cán bộ cỡ trung, so với nhiều người khác ngay
trong các cán bộ thuộc Á Đông Vụ ông cũng chưa phải là con bài sáng
giá th́ hà cớ ǵ đảng cộng sản Trung Hoa phải mất công dàn dựng cho
người đóng giả?
Chẳng ai lại rỗi hơi “buôn” một ông vua trong khi chính những đầu
năo của Trung Hoa thời đó như Mao Trạch Đông, Chu Đức, Chu Ân Lai
... c̣n long đong, luân lạc, sống nay chết mai.
Tác giả cũng không cho biết một chi tiết cụ thể nào chứng minh những
điều ông nghe được quả thực xảy ra, chưa kể nguồn tin vốn từ những
người hoàn toàn không có thẩm quyền hay vai tṛ quan trọng. Ông “bán
thịt lợn” hay thương gia Đài Loan đều vô danh, không ai biết tung
tích ra thế nào.
Viết sử nếu chỉ dựa trên những “tin đồn” hay “nguồn tin riêng trong
gia tộc” th́ ít khi được công nhận một cách chính thức. Nghi án Hồ
Chí Minh trong 37 năm sau cùng là một người Trung Hoa giả dạng thật
không có ǵ đáng cho chúng ta tin.
Nguyễn Duy Chính