TÀI LIỆU BIÊN GIỚI

VIỆT NAM TRUNG HOA

 

MỤC LỤC

 

1.- Hiệp ước Thiên Tân Pháp Thanh 1885.------- --------- --------- --------- ---2- 9.

2.- Ải Nam Quan trong lịch sử.----------- --------- --------- --------- --------- -10-24.

3.- Thử t́m lại biên giới cổ Việt Nam.-------- --------- --------- --------- -----25- 47.

4.- Bài học quân sự Hoa-Việt.---------- --------- --------- --------- --------- --48- 54.

5.- Bí ẩn đảng CS Việt Nam cắt lănh thổ-lănh hải cho Trung Cộng.-------- 55-71.

6.- Sử liệu về Ải Nam Quan.------- --------- --------- --------- --------- ---- ---72-85.

7.- Hiệp ước dâng đất.---------- --------- --------- --------- --------- --- -------86- 89.

8.- Một sự bội phản ngàn năm bia miệng.--------- --------- --------- ------ ---90-92.

9.- Sau khi mất đất Việt Nam mất tới biển.---------- --------- --------- -----93- 105.

10.- Cắt đất bán cho Tầu.---------- --------- --------- --------- --------- --- -106-107.

11.- Đối ngoại không đầu.---------- --------- --------- --------- --------- ---108- 118.

12.- Một số vấn đề pháp lư biên giới.---------- --------- --------- --------- 119- 123.

13.- V́ sao đảng cộng sản không công bố.----------- --------- --------- ---124- 127.

14.- Tâm thư về biên cương lănh hải.---------- --------- --------- --------- 128-134.

15.- Hùng Vương dựng nước cộng sản bán nước.---------- --------- -----135- 140.

16.- Hiệp ước biên giới Việt-Hoa 1999.------- --------- --------- --------- 141- 153.

17.-Hăy cảnh giác với Bắc Triều.---------- --------- --------- --------- ---- 154-161.

18.-Hăy trả lời cho toàn dân.--------- --------- --------- --------- --------- -162- 163.

19.-Tuyên Cáo.--------- --------- --------- --------- --------- --------- ------- 164-188.

 

 PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI TỪ   Tchouk-san ĐẾN Chi-ma

           

biên Bản ngày 29 tháng 3 năm 1889.

(Bản tiếng Pháp thiết lập theo văn bản Trung Hoa, do Tsong-li Yamen thông đạt lại Đại Sứ Pháp ở Bắc Kinh, tháng 5 năm 1889)

Nhân viên của Ủy Ban Pháp-Trung về Phân Định Biên Giới đă thừa nhận rằng: Bắt đầu từ Tchou Chan (Trực Sơn), thuộc lănh thổ Trung Hoa, đường biên giới theo ḍng sông từ Đông sang Tây, cho tới Tong Hing (Đông Hưng) và Monkai (Móng Cái). Trong đoạn này,  đường giữa của ḍng sông là giới hạn biên giới, cách phân Lo Feou Tong (La Phù Dung), Tong Hing (Đông Hưng) và những chỗ khác th́ thuộc về Trung Hoa, từ Wou Che (Ngũ Sĩ), Monkai và những chỗ khác, th́ thuộc về Annam.

Bắt đầu từ Tong Hing (Đông Hưng) và Monkai (Móng Cái) cho tới Pei Che (Bắc Thị,  Pacsi) và Kia Long th́ chia Na Tche (Ná Chi) Kia Long và những chỗ khác th́ thuộc về Trung Hoa, từ Jo Ling (Thac Lănh), Nanti (Nam Lư), Pei Che và những địa phương khác th́ thuộc về Annam.

Từ Pei Che và Kia Long, biên giới theo đường giữa của sông Kia Long, là một phụ lưu Tây Ngạn của Sông Pei Che (Sông Pac Si). Ḍng sông này dài độ 30 lư (Ghi chú: Mỗi lư tương ứng với 561 m), và trên đoạn 30 lư, đường biên giới theo hướng trực tiếp cho tới 3 lư tính cho tới phía Bắc của chợ cũ Fong Thong, có nghĩa là cho tới điểm A của bản đồ số 1. Các địa phương Linh Houai (Linh Hoài), P’i Lao (Phi Lao). Pan Hing (Bản Hưng), ngọn núi ở hướng Đông-Nam của Pan Hing (Bản Hưng), đụng đường biên giới và được gọi tên Fen Mao Ling (Phần Mao Lănh) và những địa phương khác th́ thuộc về Trung Hoa, Na Yang (Ná Dương), Fong Tchong (Động Trung) và những chỗ khác th́ thuộc về Annam.

Từ điểm A, đường biên giới theo hướng về phía Ải Pei Kang Ngai (Bắc Cang Ải), núi P’ai Tsien Chau (Phái Thiên Sơn). Địa điểm này cách phỏng độ 30 lư, theo đường thẳng, Làng Annam tên P’inh Leao Tsouen (B́nh Liêu Thôn). Biên giới v́ vậy phân chia Na Kouang K’a (Ná Quang). Pan T’ouen K’a (Bản Thâu) và những địa điểm khác th́ thuộc về Trung Hoa, Na Yang (Ná Dương), Tch’eng Siang Che (Tŕnh Trường Xa) và những địa điểm khác th́ thuộc về Annam.

Từ Ải Pei Kang Ngai (Bắc Cang Ải), thuộc núi P’ai Ts’ien Chan (Phái Thên Sơn), cho đến Ải Pan Pang (Bản Bang Ải Khẩu), đường biên giới theo hướng Tây Tây Bắc, xuyên qua Ải Touei Niem Ngai (Đối Niệm Ải), Kieou Ko Ngai (Kiêu Ca Ải), Kouei Ma Ngai (Qui Ma Ải) và qua những đỉnh núi Yong Pa Chan (Đông Ba Sơn). Kiao Hao Chan (Khiêu Hiệu Sơn) và K’ou Houa Chan (Khô Hoa Sơn). V́ vậy biên giới chia Kieou Fo K’a (Cữu Đặc), Kiao Houang Ngai (Kiêu Hoang Ải), Nong Ting K’a và những địa điểm khác th́ thuộc Trung Hoa. Vùng đất thuộc T’ong Sin Che (Đồng Tâm Xa), K’ouen Tchong Tchan (Khôn Trọng), Kien Mou Che (Kiên Mộc Xa), Pan Kou (Bản Gao) và những địa điểm khác th́ thuộc về Annam.

Từ Ải Pan Pang (Bản Bang Ải Khẩu) cho tới Ải Ngai Tiên (Ải Điếm Ải Khẩu), c̣n gọi tên là Tche Ma (Chi Mă Ải) Đường biên giới nghiêng một ít hướng Tây Bắc, xuyên qua Ải Na Ma (Ná Mă Ải Khẩu), Na Ha (Ná Hà), Siun Peng (Sầm Băng) và Na Wo (Ná Oa), và chia Na Ma K’a (Ná Mă)Pai Yi K’a (Phái Y), T’ien K’i K’a và những địa điểm khác thuộc về Trung Hoa, vùng đất thuộc Pan Long (Bản Long), Lin Co (Lâm Ca), Kiu K’i Che (Quich Khe Xa), Pan Yang, (Bản Dương), Pan Yu (Bản Dục), Pan P’ai (Bản Phải), Pan Tchan (Bản Trạm) và những địa điểm khác thuộc về Annam.

 

Những nhân viên Pháp-Trung đă kư biên bản này, lập thành hai bản sao cho mỗi ngôn ngữ Pháp và Trung Hoa, một bản bằng mỗi ngôn ngữ đă chuyển đến cho hai phái đoàn, đồng thời một bản đồ phụ theo, của đường biên giới được công nhận.

Kư tại Móng Cái ngày 29 tháng 3 năm 1887 (tức Le 5 ème jour de la 3 ème hme de la XIII année Kouang Siu)

Chữ kư những người Trung Hoa là:

Teng, Khâm Sai Đại Thần, trọng trách việc phân định biên giới, Thượng Thư Bộ Lễ

Wang, Khâm Sai Đại Thần, phụ tá việc phân định biên giới,  ‘’taotai’’ ngũ cốc Tỉnh Quảng Đông.

Li, Khâm Sai Đại Thần, phụ tá việc phân định biên giới,  ‘’taotai’’ en expectative du Tche li.

Chữ kư của những người Pháp

Ch. Dillon

D. Paul Néis

 

HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN PHÁP-THANH 1885

 

Le Président de la République Française, sur la proposition du Président du Conseil,  inistre des Affaires Etrangères, Décrète:

Article 1er. Le Sénat et la Chambre des Députés ayant approuvé le Traité de Paix,  d'Amitié, et de Commerce, conclu entre la France et la Chine à Tie-Tsin, le 9 juin, 1885, et les ratifications de cet Acte ayant été échangées à Pékin le 28 Novembre, 1885, le dit Traité,  dont la teneur suit, recevra sa peleine et entière exécution:

-Traité de Paix, d'Amitié,  et de Commerce, conclu entre la France et la Chine, le 9 Juin,  1885, à Tien-Tsin.  

Le Président de la République Française et Sa Majesté l'Empereur de Chine, animés l'un et l'autre d'un égal désir de mettre un terme aux difficultés auxquelles a donné lieu leur intervention simultanée dans les affaires de l'Annam, et voulant rétablir et améliorer les anciennes relations d'alitié et de commerce qui ont existé entre la France et la Chine, ont résolu de conclure un nouveau traité répondant aux intérêts communs des deux nations en prenant pour base la Convention Préliminaire signée à Tien-Tsin le 11 Mai 1884, ratifiée par Décret Impérial le 13 Avril 1885.  

A cet effet, les deux Hautes Parties Contractantes ont nommé pour leurs Plénipotentiaries, savoir:

Le Président de la République, M. Jules Patenôtre, envoyé Extraordinaire et Ministre Plénipotentiaire de France en Chine, Officier de la Légion d''onneur, Grand-Croix de l'Etoile Polaire de Suède,  & c. .

Et Sa Majesté l'Empereur de Chine, Li Hong-chang, Commissaire Impérial, Premier Grand secrétaire d'etat, Grand Précepteur Honoraire de l'Héritier Présomptif, Surintendant du Commerce des Ports du Nord, Gouverneur Général de la Province du Tcheh,  appartenant au premier degré du troisième rang de la Noblesse, avec le titre de Souyi.

Assistés de Si-Tchen, Commissaire Impérial, Membre du Conseil des Affaires Etrangères, Président au Ministère de la Justice, Administrateur du Trésor au Ministère des Finances, Directeur des Ecoles pour l'Education des Officiers Héréditaires de l'Aile Gauche de l'Armée Tartare de Pékin, commandant en chef le contigent Chinois de la Bannière Jaune à bordure.

Et de Teng-Tcheng- Sieou, Commissaier Impérial, Membre du Cérémonial d'Etat. Lesquels, après s'être communiqué leurs pleins pouvoirs, qu'ils ont reconnus bonne et due forme, sont convenus des Articles suivants:

ARTICLE I

La France s'engage à rétablir et à maintenir l'ordre dans les Provinces de l'Annam qui confinent à l'Empire Chinois.

A cet effet, elle prendra les mesures nécessaires pour disperser ou expulser les bandes de pillards et gens sans aveu qui compromettent la tranquilité publique et pour empêcher qu'elles ne se reforment. Toutefois les troupes Française ne pourront, dans aucun cas, franchir les frontières qui séparent le Tonkin de la Chine, frontière que la France promet de respecter et de garantir contre toute agression.  

De son côté, la Chine s'engage à dispenser ou à expulser les bandes qui se réfugient dans ses provinces limitrophes du Tonkin, et à disperser cellles qui chercheraient à se former sur son territoire pour aller porter le trouble parmi les populations placées sous la protection de la France, et, en considération des garanties qui lui sont données quant à la sécurité de sa frontière, elle s'interdit pareillement d'envoyer des troupes au Tonkin.  

Les Hautes Prtes Contractantes fixeront, par une convention spéciale, les conditions dans lesquelles s'effectuera l'extradition des malfaiteurs entre la Chine et l'Annam.  

Les Chinois, colons ou anciens soldats, qui vivent paisiblement en Annam, en se livrant à l'agriculture, à l'industrie, ou au commerce, et dont la conduite ne donnera lieu à qucun reproche, jouiront pour leurs personnes et pour leurs biens de la même sécurité que les protégés Français.

ARTICLE II

La Chine,  décidée à ne rien faire qui puisse compromettre l'oeuvre de pacification entreprie par la France, s'engage à respecter, dans le présent et dans l'avenir,  les Traités,  Conventions, et Arrangements, directement intervenus ou à intervenir entre la France et l'Annam.

En ce qui concerne les rapports entre la Chine et l'Annam, il est entendu qu'ils seront de natureà ne point porter atteinte à la dignité de l'Empire Chinois et à ne donner lieu à aucune violation du présent Traité.

ARTICLE III

Dans un délai de six mois à partir de la signature du présent Traité, les Commissionaires désignés par les Hautes Parties Contractantes se rendront sur les lieux pour reconnaitre la frontière entre la Chine et le Tonkin. Ils poseront partout, où besoin sera,  des bornes destinées à rendre apparente la ligne de démarcation. Dans le cas où ils ne pourraient se mettre d'accord sur l'emplacement de ces bornes-ou sur les rectifications de détail, il pourrait y avoir lieu d'apporter à la frontière actuelle du Tonkin, dans l'intérêt commun des deux pays, ils en référeraient à leurs Gouvernements respectifs.

ARTICLE IV

Lorsque la frontière aura été reconnue, les Français, ou les protégés Français et les habitants étrangers du Tonkin, qui voudront la franchir pour se rendre en Chine, ne pourront le faire qu'après s'être munis préalablement de passeports délivrés par les autorités Chinoises de la frontière sue demande des autorités Françaises. Pour les sujets Chinois, il suffira d'une autorisation délivrée par les autorités Impériales de la frontière. Les sujets Chinois qui voudront se rendre de Chine au Tonkin par voie de terre, devront être munis de passeports réguliers, délivrés par les autorités Françaises sur la demande des autorités Impériales.  

ARTICLE V

Le commerce d'importation et d'exportation sera parmis aux négociants Français ou protégés Français et aux négociants Chinois par la frontière de terre entre la Chine et le Tonkin. Il devra se faire toutefois par certains points qui seront déterminés ultérieurement,  et dont le choix, ainsi que le nombre, seront en rapport avec la direction comme avec l'importance du trafic entre les deux pays. Il sera tenu compte, à cet égard, des Règlements en vigueur dans l'intérieur de l'Empire Chinois.  

En tout état de cause, deux de ces points seront désignés sur la frontière Chinoise: l'un au dessus de Lao-Kai, l'autre au delà de Lang-Son. Les commerçants Français pourront s'y fixer dans les mêmes conditions et avec les mêmes avantages que dans les ports ouverts du commerce étranger. Le gouvernement de Sa Majesté l'Empereur de Chine y installera des Douanes et le Gouvernement de la République pourra y entretenir des Consuls dont les privilèges et les attributions seront identiques à ceux des agents de même ordre dans les ports ouverts.  

De son côté, Sa Majesté l'Empereur de Chine pourra, d'accord avec le Gouvernement Français, nommer des Consuls dans les principales villes du Tonkin.  

ARTICLE VI

Un règlement spécial, annexé au présent Traité,  précisera les conditions dans lesquelles s'effectuera le commerce par terre entre le Tonkin et les provinces Chinoises du Yun Nan, du Kouang-Si, et du Kouang-Tong. Ce règlement sera élaboré par des Commissaires qui seront nommés par les Hautes Parties Contractantes, dans un délai de trois mois après la signature du présent Traité.  

Les marchandises faisant l'objet de ce commerce seront soumises, à l'entrée et à la sortie,  entre le Tonkin et les provinces du Yun Nan et du Kouang-Si, à des droits inférieurs à ceux que stipule le Tarif actuel du commerce étranger. Toutefois, le tarif réduit ne sera pas appliqué aux marchandises transportées par la frontière terrestre entre le Tonkin et le Kouang-Tong et n'aura pas d'effet dans les ports déjà ouverts par les Traités.  

Le commerce des armes,  engins, approvisionnements, et munitions de guerre de toute espèce sera soumis aux Lois et Règlements édictés par chacun des Etats Contractants sur son territoire.  

L'exportation et l'importation de l'opium seront régies par des dispositions spéciales qui figureront dans le Règlement Commercial susmentionné.  

Le commerce de mer entre la Chine et l'Annam sera également l'objet d'un Règlement particulier. Provisoirement, il ne sera innové en rien à la pratique actuelle.

ARTICLE VII

En vue de développer dans les conditions les plus avantageuses les relations de commerce et de bon voisinage que le présent Traité a pour abjet de rétablir entre la France et la Chine, le gouvernement de la République construira des routes au Tonkin et y encouragera la construction de chemins de fer.

Lorsque, de son côté,  la Chine aura décidé de construire des voies ferrées, il est entendu qu'elle s'adressera à l'industrie Française, et le Gouvernement de la République lui donnera toutes les facilités pour se procurer en France le personnel dont elle aura besoin. Il est entendu aussi que cette clause ne peut être considérée comme constituant un privilège exclusif en faveur de la France.  

ARTICLE VIII

Les stipulations commerciales du présent Traité et les Règlements à intervenir pourront être révisés après un intervalle de dix ans révolus à partir du jour de l'échange des ratifications du présent Traité. Mais, au cas où, six mois avant le terme, ni l'une ni l'autre des Hautes Parties Contractantes n'aurait manifesté le désir de procéder à la révision, les stipulations commerciales resteraient en vigueur pour un nouveau terme de dix ans et ainsi de suite.  

ARTICLE IX

Dès que le présent Traité aura été signé, les forces Françaises recevront l'ordre de se retirer de Kelung et de cesser la visite, &c. , en haute mer. Dans le délai d'un mois après la signature du présent Traité, l'Ile de Formose et les Pescadores seront entièrement évacuées par les troupes Françaises.  

ARTICLE X

Les dispositions des anciens Traités, Accords,  et Conventions entre la France et la Chine, non modifiés par le présent Traité, restent en pleine vigueur.  

Le présent Traité sera ratifié dès à présent par Sa Majesté l'Empereur de Chine, et après qu'il aura été ratifié par le Président de la République Française, l'échange des ratifications se fera à Pékin dans le plus bref délai possible.  

Fait à Tien-Tsin en quatre exemplaires, le 9 Juin, 1885, correspondant au 27ème jour de la 4ème lune de la 11ème année Kouang-Sien.  

(L.S.) (Signé) PATENOTRE.

(L.S.) (Signé) SI TCHEN.

(L.S.) (Signé) LI HONG-CHANG.

(L.S.) (Signé) TENG TCHENG SIEOU.

Art.2. Le Président du Conseil,  Ministre des Affaires

Etrangères,  est chargé de l'exécution du présent Décret.

Fait à Paris,  le 25 Janvier,  1886.

(Signé) JULES GREVE

Par le Président de la République:

Le Président du Conseil,


Ministre des Affaires Etrangères, 

(Signé) C. DE FREYCINET.  

 

HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN PHÁP-THANH 1885

 

The President of the French Republic,  on the proposal of the President of the Council, Foreign Minister, Issues: Article 1st. The Senate and the House of Commons having approved the Trade and Friendship,  Peace treaty,  having concluded between France and China with Tie-Tsin, June 9, 1885, and the ratification’s of this Act having been exchanged in Peking 28 November, 1885, says it Trait,  whose content follows, will receive its peleine and whole execution:

Trade and Friendship,  peace treaty,  concluded between France and China,  June 9,  1885,  in Tien-Tsin.

The President of French Republic Française and Its Majesty the Emperor of China,  animate one and the other of a equal desire to put a term with difficulty to which have give place their intervention simultaneous in the business of Annam, and want restore and improve the old relation of alitié and of trade which have exist between the France and the China, have solve to conclude a new treaty answer with interest common of two nation in take for base the Convention Preliminary sign with Tien-Tsin the 11 May 1884, ratify by Decree Imperial the 13 April 1885. To this end, the two High contracting parties named for their Plénipotentiaries,  knowledge:

The President of the Republic, Mr. Jules Patenôtre, Extraordinary envoy and Ambassador plenipotentiary of France in China, Officer of the Legion of onnor, Large-Cross of Pole star of Sweden, &c. , And Its Majesty the Emperor of China, Li Hong Chang, Imperial Police chief, First Large Secretary of State, Large Honorary Tutor of the Heir apparent, Superintendent Commercial of the Ports of North, General Governor of the Province of Tcheh, pertaining to the first degree of the third rank of the Nobility, with the title of Souyi, Assisted of If-Tchen, Imperial Police chief, Member of the Council of the Foreign Affairs, President with the Ministry for Justice, Administrator of the Treasury to the Ministry for Finances, Director of the Schools for the Education of the Hereditary Officers of the Left wing of the Tartar Army of Peking, controlling as a head contingent it Chinese of the Yellow Banner with edge. And of Teng-Tcheng- Sieou, Commissar Imperial, Member of the Ceremonial of State, Which, after communicatehaving communicated their full powers, which they recognised good and had form, are agreed following Articles:

ARTICLE I

France commits itself to restore and be maintaining the command in the Provinces of Annam which confine with the Chinese Empire. To this end, it will take measurements necessary to disperse or expel the tapes of plunderers and people without consent which compromise the public tranquillity and to prevent that they do not reform. However the Française troops will be able, in no case, to cross the borders which separate Tonkin from China, border which France promises to respect and to guarantee against any aggression. On its side, China commits itself to exempt or be expelling the tapes which take refuge in its provinces bordering on Tonkin, and to disperse cellles which would seek to be formed on its territory to go to carry the disorder among the populations placed under the protection of France and in consideration of the guarantees which are given to him as for the security of its border, it parleilement avoids sending troops to Tonkin. High Prates Contractantes will fix, by a special convention, the conditions under which will be carried out the extradition of the criminals between China and Annam. The Chinese, colonists or former soldiers, who live peacefully in Annam, by delivering to agriculture, with the industry, or with the trade and whose control will not give place to qucun reproach, will enjoy for their people and their goods the same security as the protected French ones.

ARTICLE II

China,  decided nothing to make which can compromise the work of pacification enterprise by France, commits itself to respect, in the present and the future, the Treaties,  Conventions, and Arrangements, directly occurred or intervening between France and Annam. With regard to the relationship between China and Annam, it is understood that they will be of nature not to attack the dignity of the Chinese Empire and to give place to no violation of this Treaty.

ARTICLE III

Within six month starting from the signature of this Treaty, Commissioners indicated by the High contracting parties will go on the spot for reconnoitre the border between China and Tonkin. They will pose everywhere, where need will be, of the terminals intended to return connect the line of demarcation. If they could not agree on the site of these terminal-or corrections of detail, it could be necessary to bring to the current border of Tonkin, in the common interest of the two countries, they would refer about it to their respective Governments.

ARTICLE IV

When the border is recognised,  French,  or the protected French ones and the foreign inhabitants from Tonkin, who will want to cross it to go to China, will not be able to make it that after having provided itself beforehand with passports delivered by the Chinese authorities of the border sweats request of the French authorities. For the Chinese subjects, it will be enough to an authorisation delivered by the Impériales authorities of the border. The Chinese subjects which will want to go from China in Tonkin by overland route, will have to be provided with regular passports, delivered by the French authorities on the request of the Impériales authorities.

ARTICLE V

The export and import trade will be parmis to the traders French or protected French and with the Chinese traders by the ground border between China and Tonkin. I will have to be done however by certain points which will be given later on, and of which the choice, as well as the number, will be in connection with the direction as with the importance of the traffic between the two countries. It will be held account, in this respect,  of the Payments in force in the interior of the Chinese Empire. In any event, two of these points will be indicated on the Chinese border: one with the top of Lao-Kai, the other beyond Lang-Sound. The French tradesmen will be able to fix themselves at it under the same conditions and with the same advantages as in the open ports of the foreign trade. The government of Its Majesty the Emperor of China will install there Customs and the Government of the Republic will be able to maintain there the Consuls whose privileges and attributions  will be identical to those of the of the same agents command in the open ports. On its side, Its Majesty the Emperor of China will be able, agreement with the French Government, to name Consuls in the principal cities of Tonkin.

ARTICLE VI

A special payment, annexed to the present Treaty, will specify the conditions under which will be carried out the trade by ground between Tonkin and the Chinese provinces of Yun Nan, Kouang-If, and Kouang-Tong. This payment will be worked out by Police chiefs who will be named by the High contracting parties, within three month after the signature of this Treaty. The goods being the subject of this trade will be subjected, with the input and the output, between Tonkin and the provinces of Yun Nan and of Kouang-If, with rights lower than those which stipulates the current Tariff of the foreign trade. However, the reduced tariff will not be applied to the goods transported by the terrestrial border between Tonkin and Kouang-Tong and will not have an effect in the ports already opened by the Treaties. Trade of the weapons, machines, provisioning, and ammunition of war of any species will be subjected to the Laws and Règlements enacted by each State Contractants on its territory. The export and the importation of opium will be controls by special provisions which will appear in the above-mentioned Commercial Payment. The trade of sea between China and Annam will be also the object of a particular Payment. Temporarily, it will not be innovated of anything with the current practice.

ARTICLE VII

In order to develop under the conditions the most advantageous relations of trade and good vicinity that this Treaty has for abject to restore between France and China, the government of the Republic will build roads in Tonkin and will encourage there the construction of railroads. When, on its side, China decides to build railways, it is understood that it will be addressed to French industry, and the Government of the Republic will give him all the facilities to get in France the personnel which it will need. It is also heard that this clause cannot be regarded as component an exclusive privilege in favour of France.

ARTICLE VIII

The commercial stipulations of this Treaty and the Payments to intervene could be revised after a decennial interval completed as from the day of the exchange of the ratification’s of this Treaty. But, if, six months before the term, neither one nor the other of the High contracting parties would have expressed the desire to proceed to the revision, the commercial stipulations would remain in force for new a ten years term and so on.

ARTICLE IX

As soon as this Treaty is signed,  the French forces will receive the command to be withdrawn from Kelung and to cease the visit, &c. , in open sea. Within one month after the signature of this Treaty, the Island of Formosa and Pescadores will be entirely evacuated by the French troops.

ARTICLE X

Provisions of the old Treaties,  Agreements, and Conventions between France and China,  not modified by this Treaty, remain in full strength. This Treaty will be ratified as of now by Its Majesty the Emperor of China, and after it will have been ratified by the President of the French Republic, the exchange of the ratification’s will be done in Peking as soon as possible possible. Fact with Tien-Tsin in four specimens,  June 9, 1885,  corresponding to the 27th day of the 4th moon of the 11th year Kouang-His.

(L.S.) (Signed) Patenotre.

(L.S.) (Signed) If Tchen.

(L.S.) (Signed) Li Hong-chang.

(L.S.) (Signed) Teng Tcheng Sieou.

Art.2. The President of the Council,  Foreign Minister,  is charged with


l’exécution of this Decree. Fact in Paris,  25 Janvier, 1886.

(Signed) Jules Grave

By the President of the Republic: The President of the Council,  Foreign

Minister,
(Signed) C Of Freycinet.

 

   ẢI NAM QUAN TRONG LỊCH SỬ

 

Trần Gia Phụng

1.- VỊ TRÍ VÀ KIẾN TRÚC

            theo Đại Nam Nhất Thống Chí, do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn xong dưới Triều Vua Tự Đức trị v́ (1847-1883), Ải Nam Quan ‘’Cách Tỉnh Thành Lạng Sơn 31 dặm về phía Bắc, thuộc Châu Văn Uyên, phía Bắc  giáp Châu Bằng Tường Tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan, Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh Nhà Minh đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) Nhà Thanh, Án Sát Tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là ‘’Đại Nam Quan’’, phía Đông là một dải núi đất, phía Tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, Cửa Quan đặt ở quăng giữa có biểu đề ‘’Trấn Nam Quan’’ dựng từ đời năm Ung Chính thứ 6 triều Thanh, có một cửa có khóa, chỉ khi nào có công việc của Sứ Bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biểu đề bốn chữ ‘’Trung ngoại nhất gia’’ dựng từ năm Tân Sửu 1781 đời Càn Long Nhà Thanh. Phía Bắc cửa có ‘’Chiêu Đức Đài’’đàng sau đài có ‘’Đ́nh tham đường’’ (nhà giữ ngựa) của nước Thanh. Phía Nam có ‘’Ngưỡng Đức Đài’’ của nước ta, bên Tả bên Hữu, có hai dăy hành lang, mỗi khi Sứ Bộ đến Cửa Quan th́ dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ’’

            Sau khi mô tả Ải Nam Quan, các Sử Quan Nhà Nguyễn đă đưa ra nhận xét như sau: ‘’Trấn Nam Quan không rơ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam Sử cũng như Bắc Sử đều không có minh văn. Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn  Trọng Đang sửa lại ‘’Ngưỡng Đức Đài’’, lập bia ghi việc đại lược nói: ‘’Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan Ải trước ở đâu không rơ, là v́ diên cách thế nào không ghi đủ. Gần đây, lấy địa giới Châu Văn Uyên Trấn Lạng Sơn làm Cửa Quan, Cửa Quan có ‘’Ngưỡng Đức Đài’’ không rơ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh Nhà Minh.’’ Văn bia ấy nay vẫn c̣n.

            Dựa theo văn bản trên đây của Nhà Nguyễn, Ải Nam Quan gồm hai phần kiến trúc: Thứ nhất, phần kiến trúc do chính quyền Trung Hoa xây dựng từ thế kỷ 16 gồm có Cửa Quan và những cơ sở phụ thuộc phía Bắc Ải. Thứ nh́ phần kiến trúc do chính quyền Đại Việt xây dựng phía Nam Ải, gồm có ‘’Ngưỡng Đức Đài’’ và hai dăy hành lang Tả Hữu, và có bia được lập  vào thế kỷ 18 ghi địa giới hai nước.  

            Danh từ ‘’Nam Quan’’ do triều đ́nh Trung Hoa đặt, có nghĩa là cánh cửa mở xuống hay đi xuống phía Nam. Như thế, khi xây dựng cửa Ải Nam Quan, triều đ́nh Trung Hoa chính thức xác nhận đây là biên giới phía Nam của nước Trung Hoa, giống như Nhạn Môn Quan là Cửa Ải cực Bắc Trung Hoa. Mỗi lần Sứ Quan một trong hai nước bước qua Cửa Ải là tiến vào địa phận nước bên kia.

            Đến thời chế độ cộng sản, Mao trạch Đông (Mao zedong, 1893-1976) đổi tên Ải Nam Quan thành ‘’Mục Nam Quan’’ (cửa để ḥa thuận với phương Nam), c̣n Hồ chí Minh (1890?-1969) th́ gọi là ‘’Hữu Nghị Quan’’ (cửa hữu nghị), nhưng hữu nghị như thế nào ngày nay vừa mới có câu trả lời qua hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Trung ngày 30.12.1999.

2.- SỰ QUAN TRỌNG CỦA ẢI NAM QUAN

Những nhà cầm quyền Trung Hoa nhiều lần đưa quân sang xâm lược nước ta, nhất là trong những lúc nước ta loạn lạc, suy yếu. Quân đội xâm lược Trung Hoa tiến sang nước ta bằng hai đường, đường biển và đường bộ.

Trên biển, năm 938, Vua Nam Hán là Lưu Cung sai con là Hoằng Tháo mang chiến thuyền vượt biển, theo sông Bạch Đằng tiến vào nội địa nước ta, đă bị Ngô Quyền phục binh chận đánh. Hoằng Tháo tử trận, Lưu Cung phải ra lệnh băi binh. Về sau, các đoàn quân xâm lược Trung Hoa cũng có dùng đường biển, nhưng chỉ là mũi tấn công phụ bên cạnh đường bộ.  Trên bộ, núi non trùng điệp giăng ngang biên giới giữa hai nước. Chỉ có một cuộc hành quân duy nhất dọc duyên hải do Mă Viện (Ma Yuan, -14 đến -49) thực hiện năm -41, khi ông vâng lệnh Hán Quang Vơ (Han Kuang Wu/Han Guangwu, trị v́ -25 đến -57) đem quân sang đánh Hai Bà Trưng. Mă Viện đi dọc theo bờ biển Quảng Đông, xuống Cổ Việt, xuyên qua núi non vùng Đông Triều, tiến về phía Tây, tấn công Hai Bà Trưng tại Mê Linh, Châu Diêm (vùng Phúc Yên, Sơn Tây ngày nay).  

Con đường này xa mà không tránh được núi non, nên về sau các nhà quân sự Trung Hoa chọn con đường tương đối thuận lợi là các thung lũng chạy dọc theo các ḍng sông, từ Trung Hoa qua Việt Nam giữa biên giới hai nước.

Có hai con đường chánh: Thứ nhất, từ Tư Minh, Bằng Tường (Quảng Châu, Trung Hoa), theo thung lũng các sông nhỏ như Bằng Giang, Kỳ Cùng vào Lạng Sơn, xuống thung lũng sông Thương, đến Bắc Ninh, tiến qua Thăng Long. Thứ nh́, từ Vân Nam, theo thung lũng sông Hồng, xuống Thăng Long. Đường thứ nh́ núi non hiểm trở, dài hơn và khó đi hơn đường thứ nhất, nghĩa là đường thung lũng sông Hồng không thuận tiện bằng đường thung lũng sông Thương.

Như thế, Lạng Sơn nằm ngay trên con đường chiến lược quan trọng chính của những cuộc hành quân xâm lăng của Trung Hoa tiến vào Việt Nam. Muốn tiến vào Lạng Sơn, quân đội Bắc phương phải tiến ngang qua một ngọn đèo, và trên ngọn đèo đó là Ải Nam Quan. Ải Nam Quan nằm ở địa đầu của Lạng Sơn, là tiền đồn ngăn chận những cuộc xâm lăng từ phương Bắc và cũng là chiến địa của những trận giao tranh đẫm máu, ghi dấu những chiến tích lẫy lừng của quân dân Việt Nam.

Hăy chú ư đến cách mô tả địa thế Ải Nam Quan trong Đại Nam Nhất Thống Chí: ‘’...Phía Đông là một dải núi đất, phía Tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường...’’ Hai bên là hai dăy núi, ở giữa là lối đi qua Ải, phía Bắc chính quyền Trung Hoa xây công sự, phía Nam, là những công tŕnh kiến trúc nước ta. Đó là con đường đèo chật hẹp,  nếu chận ngay tại đường đèo này, nghĩa là chận ngay Cửa Ải, th́ Bắc phương rất khó tiến quân.  

Cuộc tiến quân xâm lăng bằng đường Lạng Sơn đầu tiên diễn ra năm 981. Nguyên vào năm 939, Đinh Bộ Lĩnh trị v́ (968-979) bị ám sát, con là Đinh Tuệ, mới 6 tuổi lên ngôi tức Đinh Phế Đế trị v́ (979-980). Nhận thấy t́nh h́nh Đại Cồ Việt xáo trộn, năm 980 Vua Trung Hoa là Tống Thái Tông trị v́ (976-997) phong cho Hầu Nhân Bảo làm Giao Châu Thủy Lục Chuyển Vận Sứ, c̣n các Tướng Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả Thực làm Binh Mă Đô Bộ Thư, tất cả sửa soạn quân lương lên đường sang xâm lấn Đại Cồ Việt. Quân Tống chia làm hai đường thủy bộ tiến vào nước ta năm 981(Tân Tỵ). Đường bộ do Hầu Nhân Bảo cùng Tôn Toàn Hưng tiến theo ngă Lạng Sơn, c̣n đường thủy do Trần Khâm Tộ và Lư Trừng từ mặt biển tiến vào bằng đường sông Bạch Đằng.

            Nhân cơ hội này, Lê Hoàn tổ chức đảo chánh, tự ḿnh lên làm Vua trị v́ (980-1005).  Nhà Vua tự làm Đại Tướng cầm quân chống giặc, cũng chia quân làm hai hướng để ngăn cản đường tiến quân của Nhà Tống. Sử sách chỉ viết rằng Hầu Nhân Bảo bị phục kích ở Ải Chi Lăng (Lạng Sơn). Trước khi muốn tiến đến Chi Lăng, có thể phải qua Ải Nam Quan, Hầu Nhân Bảo trúng kế trá hàng, bị bắn giết. Quân Việt phản công mạnh mẽ, quân Tống thiệt hại nặng, hai Bộ Tướng của Hầu Nhân Bảo là Quách Quân Biện và Triệu Phục Huân bị bắt. Sau trận Chi Lăng, các lực lượng thủy bộ của Nhà Tống đều rút lui.

Việc giao thiệp giữa Đại Việt và Trung Hoa căng thẳng trở lại khi Tể Tướng Nhà Tống là Vương An Thạch (1021-1086) muốn mưu t́m một chiến công ở ngoài biên cương để hỗ trợ chính sách cải cách ở trong nước của ông ta. Triều đ́nh Nhà Lư ở Đại Việt ḍ biết được những chuẩn bị của Trung Hoa, gửi thư sang hỏi Nhà Tống, th́ bị d́m đi. Do đó, vào cuối năm 1075 qua đầu năm 1076, Triều đ́nh Đại Việt quyết định cử Lư Thường Kiệt (1019-1105) và Tôn Đản đem mười vạn quân theo hai đường thủy bộ tấn công trước, đánh phá Khâm Châu và Liêm Châu thuộc (Quảng Đông) ngày nay, Ung Châu tức (Nam Ninh) thuộc (Quảng Tây) ngày nay, lấy của rồi rút lui.

            Tháng chạp năm Bính Th́n (1077), Vua Trung Hoa là Tống Thần Tông trị v́ (1067-1085) sai Quách Quỳ làm Chiêu Thảo Sứ và Triệu Tiết làm Phó Chiêu Thảo Sứ, đem quân sang trả thù, đồng thời ước hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp (Chen la tức Cambodia) cùng một lần đem quân đánh Đại Việt từ hai mặt. Các Bộ Chính Sử không viết rơ, nhưng theo Giáo Sư Hoàng Xuân Hăn trong sách Lư Thường Kiệt, có thể Quách Quỳ đă qua đường Nam Quan, xuống Chi Lăng để tấn công Thủ Đô Thăng Long.

            Lư Thường Kiệt chận quân Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu chảy qua Xă Như Nguyệt, Bắc Ninh). Quách Quỳ chuyển quân đến khúc sông Phú Lương (sông Hồng ở Thăng Long). Lư Thường Kiệt tiếp đánh nhưng thế giặc rất mạnh, máy bắn đá của địch phá nhiều chiến thuyền và làm cho hàng ngàn Binh Sĩ nước ta tử trận. Sợ Binh Sĩ nản ḷng, Lư Thường Kiệt phao tin có thần nhân báo mộng cho bốn câu thơ:

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Hoàng Xuân Hăn dịch:

Sông núi nước Nam vua Nam coi

Rành rành phân định ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Bay sẽ tan tành chết sạch toi

            Quân Lính Đại Việt nghe được những câu thơ này đều hăng hái đánh giặc. Lực lượng Nhà Tống bị chặn đứng. Hai bên cầm cự với nhau bất phân thắng bại. Triều Đ́nh Nhà Lư đề nghị băi binh. Nhà Tống thấy khó thắng, đồng thời binh sĩ ở lại lâu không hạp thủy thổ, đành chấp thuận.  

            Làm chủ toàn bộ Trung Hoa sau khi vị Vua cuối cùng của Nhà Tống là Quảng Vương trị v́ (1278-1279) tự tử năm 1279, Hốt Tất Liệt (Qubilai) tức Nguyên Thế Tổ tŕ v́ (1260-1294) muốn mở mang đế quốc, t́m đường chinh phục các nước Đông Nam Á. Quân Nguyên đă ba lần xâm lăng Đại Việt, trong đó hai lần quân Nguyên tiến qua Ải Nam Quan.

            Lấy cớ mượn đường xuống Chiêm Thành, ngày 12.7 năm Giáp Thân (24.8.1284),  Nguyên Thế Tổ cử Thái Tử là Trấn Nam Vương Thoát Hoan (Toyan), với sự phụ tá của Tướng A lư Hải Nha (Ariq Qaya), cầm quân đánh Đại Việt. Vào đầu năm 1285, quân Nguyên tấn công Đại Việt bằng ba hướng khác nhau. Thứ nhất, Thoát Hoan dẫn bộ binh tiến vào nước ta bằng đường Lạng Sơn, nhắm chiếm Thăng Long. Thứ nh́, Tướng Nạp Tốc Lạt Đinh (Nasirud Din) dẫn bộ binh từ Vân Nam theo đường sông Chảy đi xuống và thứ ba Toa Đô (Sogatu) dẫn thủy quân từ bờ biển Chiêm Thành đánh lên Đại Việt. Ba cánh quân Nguyên tạo thành thế gọng ḱm, giáp công ba mặt, ép quân Việt vào giữa.

            Trước sự chống trả mănh liệt của Quân Dân Đại Việt, quân Nguyên thất bại, Thoát Hoa rút lui cũng bằng đường bộ, qua Vạn Kiếp, th́ bị Tướng Nguyễn Khoái đổ quân ra tiêu diệt. Các Tướng Nguyên phải dùng đồ đồng bao bọc Thoát Hoan, rồi bỏ ông ta lên xe đẩy về biên giới, lại bị Tướng Trần Quốc Nghiệm phục binh lần nữa, mới thoát thân.

            Nguyên Thế Tổ rất căm giận, ra lệnh động binh trở lại vào tháng hai năm Mậu Tuất (1287). Tổng Chỉ Huy quân Nguyên vẫn là Trấn Nam Vương Thoát Hoan, dưới quyền có các Tướng Áo Lỗ Xích (Auruyvci), Ô Mă Nhi (Omar), Tŕnh Bằng Phi (một viên Tướng Nhà Tống đầu hành Nhà Nguyên), Phàn Tiếp, Trương Văn Hổ. Lần này, quân Nguyên cũng tấn công nước ta bằng đường bộ và đường biển. Trên bộ, quân Nguyên chia làm hai cánh: Thoát Hoan từ Quảng Tây tiến xuống Lạng Sơn và Ái Lỗ (Aruq) từ Vân Nam theo đường sông Hồng tràn qua. Đường biển, Ô Mă Nhi và Phàn Tiếp dẫn quân đi trước, Trương Văn Hổ chuyên chở lương thực theo sau.

            Không khác ǵ lần trước, quân Nguyên lại thất bại, thủy quân vận lương bị đánh tan ở Vân Đồn (Quảng Yên), Thoát Hoan rút quân bằng đường bộ. Tại Cửa Ải Nội Bàng, Tướng Phạm Ngũ Lăo phục binh làm nhiều đoạn, đổ quân ra đánh đuổi Thoát Hoan. Các Tướng Trương Quân, A bát Xích, Trương Ngọc tử trận, chỉ có Thoát Hoan, Tŕnh Bằng Phi và Áo Lỗ Xích trở về được Trung Hoa.

            Năm 1407, gia đ́nh Hồ Quư Ly, Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt ở Hà Tĩnh. Quân Minh không giết cha con Hồ Quư Ly mà chỉ giải về Trung Hoa. Trong số những vị Quan bị giải theo gia đ́nh Hồ Quư Ly, có Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Nguyễn Trăi. Nguyễn Trăi bịn rịn đưa tiễn cha lên tận Ải Nam Quan. Tại đây, Nguyễn Phi Khanh nói với con:

‘’Con phải về nhà mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo mà khóc lóc làm ǵ.’’.

Sau đó, Nguyễn Trăi đă giúp Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh và đạt được thành công năm 1428.

            Tháng 6 năm Đinh Mùi (1427), Nhà Minh cử Quảng Tây Chinh Nam Đại Tướng Quân Trấn Viễn Hầu Cố Hưng Tổ đem 5 vạn quân từ Quảng Tây sang cứu viện quân Minh đang thất bại trước sức phản công của Nghĩa Quân Lam Sơn do Lê Lợi lănh đạo. Cố Hưng Tổ đi vào Cửa Ải Nam Quan (Pha Lũy), bị hai Tướng Trần Lựu và Lê Bôi đánh tan phải chạy về.

            Quân Minh liền cử Tổng Binh An Viễn Hầu Liễu Thăng đem 10 vạn tinh binh vượt Ải Nam Quan tháng 9 cùng năm. Trần Lựu thế không chống nổi phải rút lui về Ải Chi Lăng. Tại đây, Tướng Lê Sát sai Trần Lựu cầm quân ra trận, rồi giả thua bỏ chạy. Liễu Thăng rượt theo,  lọt vào ổ phục binh, bị Nghĩa Quân giết chết ở núi Mă Yên (tức núi Yên Ngựa).

            Tháng 8 năm Canh Tư (1540), Thái Tông Mạc Đăng Doanh trị v́ (1530-1540) qua đời,  con là Phúc Hải lên thay tức Mạc Hiến Tông trị v́ (1540-1546). Cuối năm đó, Nhà Minh cử Cừu Loan và Mao Bá Ôn đem quân đến Cửa Ải Nam Quan, buộc họ Mạc phải tự đến Cửa Ải đầu hàng.

            Lúc đó, Thượng Hoàng Thái Tổ Mạc Đăng Dung trị v́ (1527-1529) thay cho cháu (Vua Mạc Hiến Tông) lên Ải Nam Quan thương thuyết vào tháng 11 năm Canh Tư (1540).  Nội dung cuộc ḥa hội này không được ghi chép cụ thể, nhưng chắc chắn trong thế yếu, Mạc Đăng Dung phải chịu nhượng bộ và hối lộ để Mao Bá Ôn chịu thỏa hiệp lui quân.

Về vấn đề biên giới, trong tờ tŕnh lên triều đ́nh Nhà Minh ngày 20 tháng 10 năm Tân Sửu (1451), Mao Bá Ôn viết rằng Mạc Đăng Dung đồng ư ‘’trả lại đất bốn Động đă chiếm’’.  Theo lối nói của Mao Bá Ôn, có nghĩa là bốn động đó vốn thuộc Trung Hoa, bị Đại Việt chiếm đóng, nay Nhà Mạc chịu trả lại. Tuy nhiên, mục ‘’Bản Kỷ Tục Biên’’ Bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư lại viết khác, cho rằng Mạc Đăng Dung đă: ‘’dâng các Động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của Châu Vĩnh An, Trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu.’’ Dầu đă cắt bốn hay năm động của thổ dân giao cho Trung Hoa, Nhà Mạc vẫn giữ Ải Nam Quan thuộc về Đại Việt.

Năm 1788, theo lời cầu viện của mẫu thân của Lê Chiêu Thống trị v́ (1786-1789), Vua Trung Hoa là Thanh Cao Tông tức Càn Long (Ch’ien lung/Qianlong, trị v́ (1736-1795) cử Tổng Đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị cầm đại quân sang Đại Việt, đi bằng ba ngă: Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào Cửa Nam Quan, qua Lạng Sơn đi xuống, Sầm Nghi Đống đi qua đường Cao Bằng và Đề Đốc Vân Nam Ô Đại Kinh vào đường Tuyên Quang. Đoàn quân viễn chinh Nhà Thanh bị Vua Quang Trung trị v́ (1788-1792) đánh tan tác, phải chạy về vào đầu năm Kỷ Dậu (1789).

Từ ngày 17.2.1999, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa tung trên 200.000 quân tấn công Việt Nam ở sáu Tỉnh biên giới: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh và đă chiếm được các Thị Xă Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn. Bộ Binh Trung Cộng qua Lào Cai bằng thung lũng sông Hồng, qua Cao Bằng theo thung lũng sông Bằng Giang và qua Lạng Sơn theo thung lũng sông Kỳ Cùng, vào Ải Nam Quan. Sau khi rút quân ngày 5.3.1979,  quân Trung Cộng vẫn chiếm giữ  vùng đất phía Nam Ải Nam Quan và Trạm Hải Quan của Việt Nam phải dời xuống phía Nam Ải này, sâu trong lănh thổ nước ta.

Như thế, cho đến cuối thế kỷ 20, Ải Nam Quan là Cửa Ải chính thức phân chia ranh giới giữa hai nước Việt-Hoa. Những cuộc xâm lăng của các triều đ́nh Trung Hoa đều bị đẩy lui. Ải Nam Quan trở thành biểu tượng độc lập thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Quốc Lộ 1 xuyên suốt từ Bắc xuống Nam nước ta, bắt đầu từ Ải Nam Quan xuống mũi Cà Mau. Khi xây dựng Quốc Lộ 1, cột mốc đầu tiên đặt ở Ải Nam Quan được đánh dấu là cột mốc số 0. Những bài học lịch sử hay địa lư Việt Nam đều mở đầu bằng câu: ‘’Nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau.’’

3.-   HAI HIỆP ƯỚC VỀ BIÊN GIỚI

Từ tháng 5.1975, nước Việt Nam do đảng cộng sản cai trị, đảng cộng sản tổ chức và điều khiển nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Từ khi đảng cộng sản do Hồ chí Minh thành lập ở Hương Cảng năm 1930, đảng cộng sản Việt Nam dựa vào hai thế lực chính, đảng cộng sản Liên Sô và đảng cộng sản Trung Hoa. Trung Hoa nằm sát biên giới Việt Nam nên đảng cộng sản nước này đă giúp đỡ hữu hiệu cho đảng cộng sản Việt Nam, nhưng lợi bao nhiêu th́ cũng hại bấy nhiêu.

Sau khi chiếm được lục địa Trung Hoa, Mao trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa ngày 10.10.1949. Từ đó, Trung Cộng chẳng những gởi cán bộ, quân đội vũ khí sang giúp cộng sản Việt Nam, mà c̣n cho quân đội cộng sản Việt Nam chạy trốn sang biên giới Trung Cộng khi bị Quân Đội Quốc Gia và quân đội Pháp truy đuổi trong cuộc chiến tranh 1949-1954.

Cộng sản Trung Hoa dần dần đưa người đến định cư và tràn lấn qua biên giới Việt Nam. Việt Minh cộng sản đồng lơa với hành động trên, để dễ trà trộn, lẫn trốn khi lâm nguy.  Từ đó, người Hoa hiện diện càng ngày càng đông dọc theo biên giới Hoa-Việt. Theo tiết lộ của ông Vũ Khoan, Bộ Trưởng Bộ Thương Mại Hà Nội, trong bài viết ‘’Mốc mới trong quan hệ Việt-Hoa’’ đăng trên tạp chí cộng sản, số Tết Canh Th́n (2000) th́ ngay từ lúc đó (1949), đă có ‘’một số lần...trao đổi ư kiến, đàm phán về vấn đề biên giới’’

Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam năm 1975, cộng sản Hà Nội không c̣n theo chính sách ngoại giao đu dây thăng bằng giữa Liên Sô và Trung Cộng, mà ngă hẳn về phía Liên Sô. Ngày 3.11.1978. Lê Duẫn (1907-1986) Bí thư thứ nhất đảng lao động từ 1960-1975,  Tổng bí thư đảng cộng sản từ 1976-1986) sang Liên Sô và kư với Leonid Brezhnev (1906-1982), Bí thư thứ nhất đảng cộng sản Liên Sô (1964-1966) Tổng bí thư (1966-1982) Hiệp ước hai mươi lăm năm hỗ trương và pḥng thủ giữa hai nước.  

Dựa vào hậu thuẫn của Liên Sô, cộng sản Việt Nam xua quân xâm lăng Cambodia,  chiếm Thủ Đô Nam Vang ngày 7.1.1979. Việc làm này của cộng sản Việt Nam nhằm hai mục đích: Đối ngoại và bành trướng ảnh hưởng qua Cambodia để mưu làm bá chủ Đông Dương và kiếm đường đánh xuống Thái Lan, đối nội là tung các sư đoàn miền Nam qua Cambodia. Các sư đoàn này gồm những thanh niên mới tuyển ‘’nghĩa vụ quân sự’’ ở miền Nam sau 1975.  Tung thanh niên miền Nam qua Cambodia để làm tiêu hao tiềm lực miền Nam, khiến cho dân chúng miền Nam phải lo chuyện chiến tranh, mà không chống đối chính sách thất nhân tâm của Hà Nội.

Nhà cầm quyền Cambodia lúc đó do đảng cộng sản Trung Hoa đỡ đầu. Viện cớ Việt Nam xâm lăng Cambodia, Trung Cộng quyết định trả đũa và ‘’dạy’’ cho Việt Nam một bài học. Bài học này không phải thuần túy v́ vấn đề Cambodia. Bài học này c̣n liên hệ đến hiệp ước Việt-Sô năm 1978, v́ khi bỏ Trung Cộng chạy theo Liên Sô, tập đoàn lănh đạo cộng sản Hà Nội đă mặc nhiên bỏ luôn những cam kết ngầm với cộng sản Trung Hoa khi nhận những viện trợ to lớn của Trung Cộng để tiến hành hai cuộc chiến 1946-1954 và 1954-1975, mà con số này đến 20 tỷ Mỹ kim.

Ngày 7.2.1979, Trung Cộng đưa trên 200.000 quân tấn công Việt Nam ở sáu Tỉnh biên giới. Có nơi quân Trung Cộng tiến sâu vào nội địa Việt Nam 40 cây số. Sau khi phá nát vùng này, quân Trung Cộng rút về ngày 5.3.1979. Điều đáng nói là trong khi đánh nhau, quân Trung Cộng đă phá hủy những cột mốc biên giới có từ thời Pháp thuộc, rồi dựng lại những cột mốc biên giới mới. Trong khi dựng lại, quân Trung Cộng đă dời nhiều cột mốc biên giới sâu vào lănh thổ Việt Nam. Một thông tin mới cho biết ‘’số cột mốc được chôn từ thời Pháp-Thanh c̣n nguyên vẹn (nguyên cả cột lẫn vị trí) trên dưới 50, số cột mốc thời Pháp-Thanh nhưng đă dịch vào biên giới Việt Nam 150-170 chiếc, số cột mốc mới Trung Cộng cho lính mang sang đóng trong biên giới Việt Nam 60-70, số thất thoát 15-30.’’

Sau khi chiến tranh chấm dứt, quân đội Trung Cộng vẫn chiếm giữ một số địa điểm hiểm trở chiến lược trong nội địa Việt Nam. Nói cách khác, quân đội Trung Cộng đă nới rộng biên giới Trung Cộng về phía Nam, cũng có nghĩa là Việt Nam mất đi một số đất đai đáng kể.  V́ vậy, tại Tỉnh Lạng Sơn, trụ sở mới của Hải Quan biên giới của Việt Nam phải dời về phía Nam ‘’hữu nghị quan’’ (Ải Nam Quan) khoảng hơn nửa cây số.

T́nh h́nh thế giới xoay chuyển mạnh vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90. Chế độ cộng sản tan ră ở các nước Đông Âu vào năm 1989 và 1990 như Ba Lan, Hung Gia Lợi,  Bảo Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Nam Tư...Sau đó, chế độ cộng sản Liên Sô, hậu thuẫn vững vàng của Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, cũng bị sụp đổ vào năm 1991.

Lúc đó, các nhà lănh đạo cộng sản Việt Nam liền thay đổi chính sách ngoại giao: Một mặt cầu thân trở lại với Trung Cộng và mặt khác kiếm cách giao hảo với Hoa Kỳ, là nước mà  cộng sản Việt Nam đă tố cáo là ‘’tên đế quốc đầu sỏ’’ trên thế giới, để làm đối trọng với Trung Cộng. Đồng thời do những khó khăn về kinh tế, cộng sản Việt Nam đưa ra chủ trương mở cửa, trở lại nền kinh tế thị trường, nhưng vẫn cương quyết theo ‘’định hướng Xă Hội Chủ Nghĩa’’.

Tổng bí thư đảng cộng sản Việt  Nam là Nguyễn văn Linh giữ chức từ (1986-1991) cùng Phạm văn Đồng (1906-2000), Đỗ Mười, bí mật sang Trung Cộng thương thuyết vào tháng 9.1990. Sau đó Đỗ Mười giữ chức từ (1991-1998), mới lên thay Nguyễn văn Linh làm Tổng bí thư, cùng Vơ văn Kiệt, Thủ Tướng cộng sản Việt Nam, sang Bắc Kinh ngày 5.11.1991 chính thức tái lập bang giao giữa hai nước. ‘’Bài học’’ mà Đặng tiểu B́nh đă ‘’dạy’’ cho cộng sản Việt Nam nay mới hiệu ứng.

Đang là ‘’đồng chí’’ với nhau, hai bên xích mích đánh nhau, lại trở lui cầu thân th́ phải xuống nước, nhượng bộ. Đảng cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có ǵ trong tay để nhượng bộ, ngoài một  vấn đề mà từ lâu nay tất cả những nhà cầm quyền Trung Hoa, chứ không riêng ǵ cộng sản Trung Hoa, luôn luôn nhắm đến, đó là việc lấn biên, giành đất, giành biển.

Nhân cơ hội này, Trung Cộng gây sức ép càng ngày càng lớn đối với Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ở thế bí, lại thêm trước đây Hồ chí Minh đă từng đồng lơa để cho cộng sản Trung Hoa tràn lấn miền biên giới, Phạm văn Đồng đă từng nh́n nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lănh hải Trung Cộng, rồi cuộc chiến 1979 đă tiêu hủy toàn bộ vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, nên ban lănh đạo mới của đảng cộng sản Việt Nam đành phải thuận cắt đất theo sự áp đặt của cộng sản Trung Hoa để sống c̣n và duy tŕ địa vị. Kết quả là hai hiệp ước về biên giới ra đời trong ṿng một năm.

Ngày 30.12.1999, tại Hà Nội, Bộ Trưởng Ngoại Giao Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nguyễn mạnh Cầm và Bộ Trưởng Ngoại Giao Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa là Đường gia Truyền (Tang Jianxuan) cùng kư hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Hoa. Hiệp ước này được Quốc Hội Bắc Kinh thông qua ngày 29.4.2000 và Quốc Hội Hà Nội thông qua 9.6.2000. Đặc biệt là khi thông qua hiệp ước biên giới này, chỉ có một số ít lănh đạo cao cấp trong Quốc Hội Hà Nội mới đọc được nội dung hiệp ước, c̣n đại đa số dân biểu không biết ǵ cả, chỉ thông qua theo lệnh của đảng cộng sản Việt Nam.

Việc chọn lựa Hà Nội làm địa điểm kư kết hiệp ước c̣n nói lên một sắp đặt ngấm ngầm về ngoại giao, để cho bên ngoài thấy rằng cộng sản Việt Nam t́nh nguyện mời cộng sản Trung Hoa đến tận nhà (Hà Nội) để kư kết hiệp ước nhượng đất, chứ cộng sản Trung Hoa không thúc ép cộng sản Việt Nam phải qua Bắc Kinh để làm việc này.

Ngày 25.12.2000, tại Bắc Kinh, đại diện hai nước Việt-Hoa (chưa tiết lộ danh tánh) đă kư hiệp ước phân định lănh hải, phân chia quyền lợi trên Vịnh Bắc Việt, dưới sự chứng kiến của Chủ Tịch Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Trần đức Lương và Chủ Tịch Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa là Giang trạch Dân. Hiệp ước này chưa được đưa ra Quốc Hội hai nước để thông qua.

Ngày 27.12.2001, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hà Nội là Lê công Phụng cùng với Đại Sứ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa tại Hà Nội, đến Thị Trấn Móng Cái (cửa ngơ Móng Cái-Đông Hưng) thuộc Tỉnh Quảng Ninh để làm lễ xây cột mốc đánh dấu biên giới mới trên đất liền mà hai bên đă kư kết ngày 30.12.1999. Cùng lúc đó Thứ Trưởng Ngoại Giao Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa là Vương Di (Wang Yi) tham dự một buổi lễ tương tự tại Thị Trấn Đông Hưng thuộc Trung Cộng. Hai nhà cầm quyền dự tính sẽ đóng khoảng 1500 cột mốc dọc biên giới mới giữa hai bên.

Điểm đặc biệt nữa là các nhà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam đă giấu kỹ không cho dân chúng biết nội dung các hiệp ước trên đây trước khi kư, trong khi kư và sau khi kư, cũng không cho biết ai đă đứng ra kư kết hiệp ước. Phía Trung Cộng tiết lộ là ông Nguyễn mạnh Cầm đă kư kết  hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Hoa, chứ phía Việt Nam không nói ǵ hết. Cho đến nay, ngoài những kẻ lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam, chưa có người Việt Nam nào đọc được văn bản cụ thể về hai hiệp ước đó.

Sự giấu diếm này chứng tỏ có điều ǵ man trá đàng sau cuộc thương thuyết để phân chia Lănh Thổ và Lănh Hải. Chắc chắn sự man trá này liên hệ đến quyền lợi riêng tư của một tiểu số lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam, mới không công bố cho toàn dân biết.

4.-   ẢI  NAM  QUAN  ĐĂ  MẤT

Tuy nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội không cho dân chúng biết nguyên văn hai hiệp ước, nhưng công việc sửa soạn các chi tiết để thi hành hiệp ước, như đóng cột mốc, thông báo cho các đơn vị chuyên môn và hành chánh địa phương vẽ lại bản đồ, đă để lộ ra ngoài một số tin tức quan trọng:

Trước đại hội 9 đảng cộng sản Việt Nam từ ngày 19 đến 22.4.2001, ông Đỗ việt Sơn,  một đảng viên cộng sản lăo thành 54 tuổi đảng, 78 tuổi đời, ở số 26/14-125 đường Tô Hiệu,  Hải Pḥng, đă gởi thư vào tháng 2.2001 công khai đặt vấn đề Việt Nam nhượng bộ quá nhiều cho Trung Cộng trong hai thập niên trên và yêu cầu Quốc Hội và đại hội 9 đảng cộng sản Việt Nam công khai thảo luận vấn đề này. Thư này được phổ biến hạn chế, về sau được nhắc lại trong kháng thư ngày 18.11.2001 của 20 cử tri gởi các chức quyền Việt Nam.

Ngày 18.11.2001, 20 cử tri cùng kư một kháng thư gởi cho các chức quyền trong nước phản đối việc kư kết các hiệp ước trên. Kháng thư mang chữ kư của những đảng viên kỳ cựu như Trần Độ, Hoàng minh Chính, Phạm quế Dương, Nguyễn thanh Giang, Hoàng Tiến, Trần dũng Tiến, Trần quang Lê, Nguyễn ngọc Diệp, Bùi Long...Đa số đều trên 50 năm thâm niên trong đảng cộng sản Việt Nam. Kháng thư cho biết hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Hoa, phía Việt Nam đă nhượng cho Trung Cộng 720 km2 ở hai Tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và hiệp ước phân định lănh hải Vịnh Bắc Việt như sau: 53, 23% cho Việt Nam và  46, 77% cho Trung Cộng.

Trong một bản điều trần trước Viện Pháp-Á (Institut Franco-Asiatique) , Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, Giám Đốc Trung Hoa Sự Vụ Viện Pháp Á ở Paris, cho biết rằng sau khi hai bên  kư kết hiệp ước trên đất liền ngày 30.12.1999, th́ vào ngày 9.1.2000, ông được hai người bạn là hai kư giả Trung Hoa thông báo cho ông biết rằng theo tinh thần hiệp ước mới kư kết, Việt Nam nhượng cho Trung Cộng 789 km2, thuộc hai Tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, chứ không phải 720 km2

Nếu tính theo diện tích của toàn thể Việt Nam là 330.000 km2 (số tṛn), th́ diện tích đất mà cộng sản Việt Nam đă nhượng cho cộng sản Trung Hoa lên đến khoảng trên 0, 2% (trên 2 phần ngàn). Nếu tính theo diện tích của toàn Tỉnh Lạng Sơn là 8.178 km2, th́ số đất nhượng gần 1/10 diện tích Tỉnh Lạng Sơn. Đường biên giới giữa Việt-Hoa dài khoảng 1300 cây số, trong đó đường biên giới giữa Lạng Sơn và Trung Cộng dài 253 cây số, Nếu tính dọc theo toàn bộ đường biên giới Tỉnh này, th́ cộng sản Việt Nam nhượng cho Trung Cộng trung b́nh 3 cây số sâu vào nội địa Việt Nam.

Dần dần, những tin tức được tiết lộ trên đây đă được kiểm chứng cụ thể:

Trong một chuyến công tác cho Viện Pháp Á vào tháng 8.2001, Bác Sĩ Trần Đại Sỹ đă về Việt Nam. Ông lên vùng biên giới và xin đi thăm Ải Nam Quan, nhưng bị nhà cầm quyền Việt Nam cấm đi. Ông phải qua Trung Cộng, rồi mới đến Ải Nam Quan. Ông tận mắt thấy Ải Nam Quan nằm sâu trong đất liền của Trung Cộng 5 km. Ông Trần Đại Sỹ đă sáng tác một bài thơ bằng chữ Nho, đề ngày 6.9.2001, khắc trên bia đá và đặt tại sườn núi Ải Nam Quan, mở đầu bằng những câu như sau:

Thử địa cựu Nam Quan.

Biên địa ngă cố hương

Kim thuộc Trung Quốc  thổ

Khấp, khốc, kư đoạn trường...

Ông Trần Đại Sỹ tự dịch thành thơ như sau:

Đất này xưa gọi Nam Quan

Vốn là biên địa cố hương của ḿnh

Hiện nay là đất Trung nguyên

Khóc chảy máu mắt đoạn trường ai hay.

Dù nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam chưa tiết lộ nội dung hiệp ước về biên giới,  việc Bác Sĩ Trần Đại Sỹ đến thăm tận nơi Ải Nam Quan, chứng kiến tận mắt Cửa Ải này nay nằm sâu trong lănh thổ Trung Cộng 5km, là bằng chứng cụ thể hiển nhiên và rơ ràng rằng đất Nam Quan đă thật sự ra khỏi Lănh Thổ Việt Nam. Ngoài ra, nếu Ải Nam Quan nằm sâu trong đất liền Trung Cộng 5 cây số, có nghĩa là hầu như vùng đất phía Bắc sông Kỳ Cùng và Bằng Giang đă thuộc Trung Cộng.

Cuối cùng, nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phải thừa nhận việc mất Ải Nam Quan ở Lạng Sơn cũng như mất một diện tích lớn trên mặt biển.

Trong tài liệu tuyên truyền viết dưới h́nh thức vấn đáp do Công ty phát triển phần mềm (VASC Orient) thực hiện ở Hà Nội ngày 28.1.2002, Thứ Trưởng Ngoại Giao nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, đă được Hà Nội đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế, ông Lê công Phụng Trưởng đoàn cộng sản Việt Nam trong cuộc thương thuyết biên gới Việt-Hoa, đă công khai xác nhận Ải Nam Quan ngày nay của Trung Cộng.

Đáp câu hỏi về thực tế Ải Nam Quan ngày nay của nhân viên VASC, ông Lê công Phụng trả lời (nguyên văn) như sau:

‘’Nếu chúng ta bắt đầu tính từ biên giới từ chân tường hoặc chia đôi cửa Mục Nam Quan thế cũng không được. C̣n cột mốc số không, nhân dân Lạng Sơn báo cáo với trung ương, chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có từ khi những người già chưa ra đời.  Chúng ta tôn trọng cơ sở pháp lư đă có, tôn trọng thực tiễn, nhất là v́ lâu nay quản lư đă như vậy. Cho nên hiện nay chúng ta công nhận Mục Nam Quan là của Trung Quốc, cách cột mốc số 0 trên 200m. Tính cột mốc số 0 về phía Nam là lănh thổ của Việt Nam. Từ cột mốc số 0 về phía Bắc là của Trung Quốc’’.

Khi trả lời như thế, ông Lê công Phụng không cho biết cột mốc số 0 nào? Cột mốc dă dựng đúng vị trí từ năm 1887, hay cũng cột mốc đó mà đă bị di dời sau năm 1979? Ông Lê công Phụng công nhận kiến trúc Mục Nam Quan là của Trung Cộng là đúng, v́ Đại Nam Nhất Thống Chí nói rơ ràng rằng: ‘’Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh Nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) Nhà Thanh, Án Sát Tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là ‘’Đại Nam Quan’’. Tuy nhiên ông Lê công Phụng cố t́nh bỏ qua những chi tiết về Ải Nam Quan ghi lại trong Đại Nam Nhất Thống Chí mà cá nhân ông, cũng như ban nghiên cứu về biên giới của cộng sản Việt Nam chắc chắn dư biết. Đó là Ải Nam Quan ‘’có một cửa có khóa, chỉ khi nào có công việc của xứ bộ mới mở...Phía Bắc cửa có ‘’Chiêu Đức Đài’’, đàng sau đài có ‘’Đ́nh tham đường’’ (nhà giữ ngựa) của nước Thanh. Phía Nam có ‘’Ngưỡng Đức Đài’’ của nước ta, bên Tả bên Hữu, có hai dăy hành lang, mỗi khi Sứ Bộ đến Cửa Quan th́ dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ. Điều đó có nghĩa rằng ngay tại cửa đó là ranh giới giữa hai bên. Bước qua bên này hay bên kia Cửa Ải là địa phận khác nhau. Lùi lại 200m như ông nói có nghĩa là mất 200m.

Ông Lê công Phụng c̣n chống chế rằng Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ lùi biên giới có 200m chứ không nhiều như dư luận của ‘’rất nhiều lực lượng thù địch từ bên ngoài đang t́m cách gây khó khăn cho chính phủ và nhân dân chúng ta trong biệc phát triển quan hệ đối ngoại’’(nguyên văn). Biên giới lùi lại dài ngắn bao nhiêu th́ chưa ai biết cụ thể,  ngoài những nhà lănh đạo cộng sản, nhưng chỉ lùi lại 200 mét, có nghĩa là cơ sở kiến trúc Việt Nam có từ đời Nhà Nguyễn tại Ải Nam Quan đă thật sự mất rồi. Đây là lời thú nhận công khai chính thức đầu tiên của một viên chức cầm quyền cộng sản Hà Nội. Cần chú ư thêm là ngoài giá trị lịch sử đối với dân tộc, Ải Nam Quan c̣n giữ một vị trí chiến lược rất quan trọng trong việc pḥng thủ biên giới.

Thời đại ngày nay là thời đại nguyên tử, vũ khí chiến tranh tối tân, hiện đại. Tuy nhiên,  trong những cuộc đụng độ địa phương và nhất là trong trận địa chiến, địa h́nh chiến sự vẫn giữ một vai tṛ quan trọng trong cách bố trí chiến đấu. Như trên đă nói, qua cách mô tả trong Đại Nam Nhất Thống Chí, địa thế Ải Nam Quan rất hiểm trở, chỉ có một đường đèo nhỏ hẹp,  nằm giữa hai bên là hai dăy núi. Ải Nam Quan là vùng đất hiểm trở phía Bắc sông Kỳ Cùng là vị trí và địa thế quân sự chiến lược như là một tiền đồn vững vàng ở địa đầu đất nước để chống lại những cuộc hành quân trên bộ từ phía Bắc xuống, hay ít ra cũng làm chậm lại bước tiến của địch thủ.

Trong cuộc chiến năm 1979, quân Trung Cộng tấn công 6 Tỉnh biên giới, nhưng chỉ tràn ngập đông đảo chiếm 3 Thị Xă Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn v́ ba vùng này có thung lũng chạy dọc theo các ḍng sông nên dễ chuyển quân. Trong 3 Thị Xă trên đây, Lạng Sơn  gần Hà Nội nhất và dễ xuống Hà Nội theo đường sông Thương. Đường bộ từ Tỉnh Lạng Sơn về tới Hà Nội dài dưới 160 km. Với phương tiện giao thông ngày nay, vượt qua đoạn đường này chỉ cần vài giờ đồng hồ. Nếu chuyển quân với trang bị đầy đủ cũng chẳng tốn nhiều thời gian, Do đó, vị trí chiến lược Ải Nam Quan vô cùng quan trọng cho sự pḥng thủ Hà Nội. Nay nhà cầm quyền Trung Cộng chiếm được Cửa Ải Nam Quan, nghĩa là chiếm được đoạn đèo thông thương Bắc Nam tại vùng này. Như thế, họ đă loại bỏ được chướng ngại đầu tiên khi xâm nhập nước ta, mà tổ tiên họ bao nhiêu xương máu để vượt qua, nhưng không có cách ǵ giữ được và cuối cùng đều bị đẩy lui về phía bên kia Cửa Ải.  

Một phần tin tức đă bị tiết lộ ra  ngoài, một phần liên hệ đến tàu thuyền quốc tế qua lại trên biển, nên do sự thúc bách của Trung Cộng muốn công khai hóa sự thừa nhận chủ quyền lănh hải của Trung Cộng, ông Lê công Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao cộng sản Việt Nam, đă viết bài ‘’Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam-Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ’’ tiết lộ cho biết một số điểm trong hiệp ước này, trên tạp chí cộng sản, số 2 tháng 1.2001.

Theo ông Lê công Phụng, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa không chấp nhận đường phân chia hải phận Vịnh Bắc Việt trong hiệp ước Pháp-Thanh kư kết tại Thiên Tân ngày 26.6.1887 dưới triều Nhà Măn Thanh. Nhà cầm quyền cộng sản Trung Hoa cho rằng hiệp ước này bất công và đ̣i phân chia lại Vịnh Bắc Việt. Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam v́ yếu thế đành nhượng bộ. Xin hăy nghe người trong cuộc, ông Lê công Phụng, kể lại:

‘’Trong quá tŕnh đàm phán, hai bên đă vận dụng các nguyên tắc như sau để giải quyết: Một là căn cứ vào quy định của Công Ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc cũng như các nguyên tắc luật pháp quốc tế và tập quán được công nhận rộng răi, hai là hai bên tính đến các đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện diện của các Đảo, chiều dài bờ biển v.v...ba là, việc giải quyết vẫn đề phân định phải xuất phát từ thực trạng cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước, bốn là bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu cố lợi ích của nhau. Về diện tích, phía Trung Quốc kiên tŕ chủ trương đại thể chia đôi, thừa nhận ta có thể nhỉnh hơn nhưng không đáng kể. Ta chủ trương giải pháp công bằng phải phù hợp với các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh như sự hiện diện của các Đảo của ta, chiều dài bờ biển của ta lớn hơn v.v...’’

Cuối cùng rồi cộng sản Việt Nam phải thuận theo những áp đặt của cộng sản Trung Hoa. Kết quả là phân chia hải phận mới không c̣n là đường thẳng cũ, mà là một đường găy khúc nối liền bởi những đường thẳng ngắn dọc theo các Hải Đảo. So với đường kinh tuyến 108 độ 3 phút 18 giây, th́ đường phân chia mới này, phía Bắc Đảo Bạch Long Vỹ lấn một ít về phía Trung Cộng, nhưng từ Đảo này trở xuống th́ lấn khá nhiều qua phía Việt Nam.  

            Vịnh Bắc Việt rộng 126.250km2. So với cách phân chia lănh hải ngày 26.6.1887 thời Pháp thuộc (Việt Nam được 62%, Trung Hoa được 38%), cách phân chia lănh hải ngày 25.12.2000 (Việt Nam được 53,23%, Trung Hoa được 46,77%) đă làm cho Việt Nam mất trên 8% diện tích Vịnh Bắc Việt, tương đương với khoảng trên 10.000km2. Thế mà ông Lê công Phụng cho rằng Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đă thắng lợi, v́: Ta hơn Trung Quốc 6,46% tức khoảng 8205 km2. (nguyên văn bài đă dẫn)

            Theo đường phân chia mới trên Vịnh Bắc Việt, Đảo Bạch Long Vỹ chỉ c̣n cách hải phận Trung Cộng 15 hải lư. Đảo này rộng khoảng 3km2, tuy nhỏ nhưng Bạch Long Vỹ rất quan trọng về kinh tế cũng như về quốc pḥng.

            Về kinh tế, vùng biển khu vực Bạch Long Vỹ có nhiều hải sản, nhất là bào ngư, có giá trị dinh dưỡng cao mà người Việt rất thích dùng. Hiện nay, người ta được biết đáy biển vùng này có nhiều tiềm năng về chất đốt mà chưa được khai thác.

            Về quốc pḥng, Bạch Long Vỹ giữ vị trí chiến lược tiền tiêu để bảo vệ Bắc Việt. Thời Pháp thuộc, Pháp đă đặt một đơn vị Hải Quân ở đây kiểm soát tàu bè đi lại trên Vịnh Bắc Việt. Theo tuyên truyền của cộng sản Bắc Việt, trong thời gian chiến tranh trước năm 1975,  ‘’quân và dân Đảo đă bắn rơi 23 máy bay Mỹ, đánh đuổi 3 tàu chiến xâm phạm chủ quyền của ta’’.

            Trong bài viết của ḿnh, ông Lê công Phụng cũng nêu rơ điểm này:

            ‘’Phần Vịnh phía của ta có khoảng 1300 ḥn Đảo ven bờ, đặc biệt có Đảo Bạch Long Vỹ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110km các Đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc pḥng...’’ (bài đă dẫn)

            Đảo Bạch Long Vỹ vừa nhỏ, vừa chơ vơ nằm ngoài biển cả, cách nước ta khoảng 110 cây số và cách hải phận Trung Cộng theo hiệp ước mới chỉ có khoảng 15 hải lư, nghĩa là nằm trong mối đe dọa thường trực của Hải Quân Trung Cộng. Vị trí chiến lược này sẽ rơi vào tay Trung Cộng dễ dàng nếu xảy ra tranh chấp giữa hai bên.

5.- TRÁCH NHIỆM TRƯỚC LỊCH SỬ

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội đă nhượng đất cho Trung Cộng một cách dễ dàng như vậy?

Theo lư luận của các đại diện Trung Cộng trong cuộc thương thuyết về lănh hải, khi Pháp kư hiệp ước với triều đ́nh Măn Thanh, Pháp đă ở thế mạnh, c̣n Trung Hoa đang ở thế yếu và bị các cường quốc Âu Châu xâu xé, nên phải chấp nhận bản đồ lănh thổ cũng như lănh hải do Pháp đưa ra. Thật ra, trước kia các triều đại Trung Hoa cho rằng Vịnh Bắc Việt, mà họ gọi là ‘’Giao Chỉ Dương’’ (Chiao Chih Ocean), là của Việt Nam, họ không lư tới. Thậm chí, các triều đ́nh Trung Hoa cũng chẳng mấy quan tâm đến Đảo Hải Nam. Cho đến thời Nhà Thanh, ngoài các ḥn Đảo nhỏ và ngành đánh cá, người ta chưa biết ǵ về tiềm năng dưới ḷng biển, nên không thấy sự quan trọng của Vịnh Bắc Việt. Do đó, khi Pháp cắt một phần đất  thuộc Tỉnh Lai Châu đền bù một cách bất hợp pháp cho Trung Hoa, Nhà Thanh liền kư kết hiệp ước năm 1887 với Pháp. Nhà Thanh đă nhập phần đất này vào Tỉnh Vân Nam. Nếu Trung Cộng đặt lại vẫn đề lănh hải Vịnh Bắc Việt, tại sao Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không đặt lại vấn đề lănh thổ Lai Châu mà Pháp đă cắt đi một cách bất hợp pháp cho Nhà Thanh?

Trên đất liền, không nghe một giải thích nào cụ thể từ nhà cầm quyền hai nước tại sao phải phân chia lại biên giới? Dư luận báo chí ở Trung Cộng cho rằng Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhượng vùng đất phía Bắc sông Kỳ Cùng và Bằng Giang cho Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa để đổi lấy viện trợ xây dựng những dự án kỹ nghệ trong lănh vực thủy điện, hơi đốt, khai thác quặng mỏ, đồng thời gia tăng việc giao dịch buôn bán giữa hai nước.

Câu hỏi được đặt ra là những viện trợ kể trên có thật tối cần thiết, thúc bách đến độ phải đem di sản thiêng liêng do Tiền Nhân để lại, ra trao đổi với các viện trợ đó và nhượng bán cho Bắc phương không?

Hơn nữa, nếu những viện trợ kể trên thật sự ích lợi cho toàn dân, tại sao đảng cộng sản Việt Nam không công khai vấn đề và tham khảo ư kiến của toàn dân qua một cuộc trưng cầu dân ư? Đất đai do Tổ Tiên để lại là tài sản chung của toàn dân, chứ không phải của riêng đảng cộng sản, do đó chỉ có toàn dân Việt Nam mới có quyền quyết định về những vấn đề liên quan đến lănh thổ và lănh hải bằng cuộc trưng cầu dân ư rộng răi, tự do và dân chủ.

Mới đây, trong khi trả lời Đài phát thanh Little Sài G̣n Radio ở Orange Country,  California trong ngày thứ năm 24.2.1002, ông Nguyễn thanh Giang, một nhà hoạt động chính trị trong nước, cho rằng các lănh tụ đảng cộng sản Việt Nam đă bị Trung Cộng lừa khi kư hiệp định về biên giới Việt-Hoa. Ông Giang nói:

‘’Trung Cộng xảo quyệt giả vờ đưa ô dù cho Lê khả Phiêu. V́ lợi riêng, ông này đă hiến đất cho Trung Cộng để được bảo trợ.’’

Vấn đề không đơn giản ở chỗ chỉ một ḿnh ông Lê khả Phiêu (Tổng bí thư 1998-2001) bị đánh lừa và hiến đất. Việc thương thuyết để kư kết hai hiệp ước trên không phải chỉ diễn ra giữa hai người, hoặc chỉ diễn ra trong một vài giờ, hay một vài ngày, mà nói rằng Trung Cộng đă lừa được ông Phiêu? Đây là kết quả của một quá tŕnh lâu dài bắt đầu từ thời Hồ chí Minh cho đến ngày nay. Chính một nhân vật cộng sản quan trọng, từ năm 1949, đă từng có ‘’một số lần...trao đổi ư kiến, đàm phán về vấn đề biên giới’’ (bài đă dẫn)

Trước hết, như trên đă nói, ngay từ thời chiến tranh 1946-1954, Hồ chí Minh và lănh đạo đảng Lao Động Việt Nam đă làm ngơ cho quân Trung Cộng tràn sang biên giới. Sau đó,  trong cuộc chiến xâm lăng miền Nam (1954-1975), để được Trung Cộng viện trợ quân sự, nên khi Chu ân Lai (Chou en Lai, 1898-1976) công bố ranh giới biển 12 hải lư từ bờ biển ngày 4.9.1958, th́ 10 ngày sau, Phạm văn Đồng, Thủ Tướng Bắc Việt, đương nhiên với sự đồng ư của Hồ chí Minh và Bộ chính trị đảng lao động, tiền thân của đảng cộng sản Việt Nam, đă kư quốc thư ngày 14.9.1958 nh́n nhận ranh giới biển nói trên của Trung Cộng, nghĩa là gián tiếp công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Như thế Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng và đảng cộng sản Việt Nam đă chính thức dâng đất cho Trung Cộng mà Tổ Tiên đă dày công xây dựng và bảo vệ.

Khi cần dồn quân xuống đánh miền Nam, Bắc Việt đă mời quân đội Trung Cộng vào bảo vệ an ninh từ khu Việt Bắc xuống tới Hà Nội và giao cho Trung Cộng in bản đồ địa lư Việt Nam loại chi tiết với tỷ lệ 1/1000. Đưa 300.000 quân đóng từ Việt Bắc, nghĩa là từ biên giới Việt-Hoa xuống tới Hà Nội, Trung Cộng đă hoàn toàn kiểm soát vùng này và chắc chắn họ đă thực hiện những động tác cần thiết để chuẩn bị lấn biên, giành đất như đưa thêm dân đến sinh sống dọc theo biên giới...

Trong cuộc chiến Việt-Hoa năm 1979, quân đội Trung Cộng lại tiến thêm một bước nữa, di dời các cột mốc vùng biên giới tiến sâu vào đất Việt Nam ở nhiều nơi. Có tài liệu cho biết trong thời gian chiến tranh Việt Nam trước 1975, khi Hồ chí Minh c̣n sống, để dễ tiếp tế cho Bắc Việt, Trung Cộng và cộng sản Việt Nam cùng đồng ư thiết lập đường xe lửa giao nhau ở biên giới Nam Quan để chuyển hàng. V́ trong thời gian chiến tranh, kỹ thuật kém, nên phía Bắc Việt làm không kịp. Sau khi làm xong phần ḿnh, Trung Cộng đề nghị giúp làm đường sắt tiếp tục sâu qua phần đất Việt Nam. Cộng sản Việt Nam hoàn toàn đồng ư sự giúp đỡ hào phóng của Trung Cộng. Những người đi xe lửa qua Trung Hoa trong thời gian này đều xác nhận đổi tàu trong nội địa Việt Nam. Khi rút quân sau trận đánh năm 1979, Trung Cộng cho dời cột mốc đến đầu đường sắt của họ đă làm trước 1975 trong đất Việt Nam. Sau đó họ lư luận rằng đất Việt Nam chỉ kéo dài tới đầu đường xe lửa Việt Nam mà thôi, chứ làm sao trên đất Việt Nam lại có đường sắt Trung Cộng.

Khi cầu thân trở lại với Trung Cộng sau cuộc chiến, cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang ở trong thế yếu kém, phải xin liên minh với Trung Cộng để tồn tại cũng như duy tŕ và bảo vệ quyền lực, là cơ hội tốt cho nhà cầm quyền Bắc Kinh áp đặt việc biên giới trên bộ và trên biển, bằng một hiệp ước công khai chính thức và hiệp ước đó ra đời cuối năm 1999 và cuối năm 2000.

Trong bài báo đă dẫn trên của ông Lê công Phụng, đăng trên tạp chí cộng sản số tháng 1.2001 và đă được chính cộng sản đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế, th́:

‘’Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có kư các thỏa hiệp cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong Vịnh...Trong các năm 1974 và 1977-1978, hai nước tiến hành 2 ṿng đàm phán về phân định...Hai nước đă kư ‘’Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới, lănh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc’’ ngày 19.10.1993.. . Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đă triển khai 7 ṿng đàm phán cấp chính phủ và 18 ṿng đàm phán cấp chuyên viên...Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2.1999 của đồng chí Tổng bí thư Lê khả Phiêu, lănh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để kư hiệp định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000...’’

Như thế, theo những ǵ các nhà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam cho phép ông Lê công Phụng tiết lộ, th́ vấn đề thương thuyết biên giới tái tục từ năm 1993. Chúng ta đừng quên câu viết ngoại giao rất mơ hồ của ông Lê công Phụng:

‘’...việc giải quyết vấn đề phân định phải xuất phát từ thực trạng cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước...’’

Thực trạng cũng như quan hệ giữa hai nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa và Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay như thế nào? Những người cộng sản thường hay dùng nhóm chữ ‘’các nước Xă Hội Chủ Nghĩa anh em’’, nhưng thực chất quan hệ giữa Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa và Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là quan hệ giữa kẻ mạnh và kẻ yếu, nếu không muốn nói là quan hệ thực dân và thuộc địa kiểu mới, hay quan hệ giữa chủ nợ và con nợ đă từng muốn vỗ nợ (xù nợ) khi theo Liên Sô năm 1978, nên phải nhận lănh bài học của ông Đặng tiểu B́nh (Deng Xiaoping, 1904-1997), nhân vật quyền thế nhất cộng sản Trung Hoa sau thời kỳ Mao trạch Đông.

Có lẽ cần nhắc lại trong thời gian bang giao giữa hai bên căng thẳng, ngày 30.7.1979 Một viên chức ngoại giao Trung Cộng tiết lộ cho biết từ 1954-1971, 300.000 binh sĩ Trung Cộng đă chiến đấu bên cạnh binh sĩ Bắc Việt, trong đó hàng ngàn người đă tử trận và hàng chục ngàn người đă bị thương. Ông ta c̣n xác định số lượng vũ khí Trung Cộng viện trợ cho cộng sản Việt Nam từ 1950-1977 lên đến 2 triệu súng hạng nhẹ, 27 ngàn đại pháo, 270 triệu băng đạn, 18 triệu đạn đại pháo, 179 máy bay và 145 chiến hạm. Người Trung Hoa tính rằng số viện trợ này tương đương với khoảng 20 tỷ Mỹ kim theo thời giá lúc đó.

Như thế, việc nhượng đất và nhượng biển là một tiến tŕnh liên tục từ các ông Hồ chí Minh, Lê Duẫn, Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, đến các ông Lê khả Phiêu, Nông đức Mạnh, v́ quyền lợi và tham vọng riêng tư của đảng cộng sản Việt Nam, hay của những cá nhân lănh đạo đảng, có tính toán kỹ lưỡng lâu dài, chứ không phải dễ dàng bị đánh lừa như ông Nguyễn thanh Giang đă trả lời trên Đài Little Sài G̣n Radio. Đây chính là kết quả của chính sách do Hồ chí Minh và tập đoàn lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam theo đuổi, đi theo con đường cộng sản quốc tế, làm tay sai cho ngoại bang, liên tục gây ra chiến tranh ư thức hệ, khiến cho nhân dân lầm than đói khổ, bây giờ lại mất đất vào tay ‘’người đồng chí cộng sản’’ phương Bắc. Điều này cho thấy chủ nghĩa quốc tế cộng sản chỉ là cái chiêu bài bề ngoài của chủ nghĩa dân tộc bá quyền mà thôi.

Đứng về phía Trung Cộng, chiếm được ngọn đèo chiến lược có Ải Nam Quan, cửa ngơ đi xuống phía Nam, là kết quả của một cuộc đầu tư lâu dài và bền bỉ của ‘’t́nh đồng chí chiến đấu’’ giữa hai đảng cộng sản anh em. Những cuộc tấn công vũ băo của Vua Chúa  Trung Hoa ngày trước cũng như của Đặng tiểu B́nh năm 1979 không mấy thành công bằng kế hoạch tầm thực rất tinh vi, ẩn náu trong lớp vỏ bọc chủ nghĩa quốc tế cộng sản. Kế hoạch tầm thực rất nguy hiểm, v́ sau Ải Nam Quan, Trung Cộng sẽ từ từ lấn xuống đến một lúc nào đó sẽ nuốt trọn Tỉnh Lạng Sơn rồi xuống châu thổ Hồng Hà.

Lănh thổ và lănh hải Việt Nam là di sản do Tổ Tiên để lại cho toàn thể dân chúng Việt Nam và là tài sản của toàn dân Việt Nam, có tính cách thiêng liêng, bất khả phân, bất khả nhượng. Ca dao chúng ta có câu:

‘’Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang. Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu’’

Trong nông nghiệp, mỗi tấc đất là mỗi tấc vàng, nhưng trong lịch sử dân tộc, mỗi tấc đất không phải là mỗi tấc vàng. Mỗi tấc đất là mỗi di sản, là mỗi kỷ vật, mang h́nh ảnh bi hùng của bao nhiêu công khó, bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, bao nhiêu xương máu, tim óc của Tiền Nhân qua hàng ngàn năm, để chúng ta có được tấc đất này ngày hôm nay.

6.- KẾT LUẬN

Tóm lại, câu chuyện Ải Nam Quan lọt vào tay Trung Cộng và sự kư kết hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Hoa ngày 30.12.1999 và hiệp ước phân định lănh hải ngày 25.12.2000 cho thấy:

1/ Pháp bảo hộ Việt Nam từ 1884 đến 1954. Trong thời gian này, dân tộc chúng ta bị mất độc lập, mất chủ quyền chính trị, nhưng đất nước chúng ta được vẹn toàn, kể các Quần Đảo xa xôi Hoàng Sa và Trường Sa, chỉ trừ một vùng ở Lai Châu mà Pháp đă cắt đi một cách bất hợp pháp giao cho Trung Hoa để đổi lấy việc kư kết hải phận trên Vịnh Bắc Việt. Tuy nhiên cuộc trao đổi này hai bên cùng có lợi. Nay nước nhà gọi là được độc lập, nhưng chính nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện thời lại cắt đất, nhượng Đảo và cắt biển giao cho ngoại bang phương Bắc, mà không mang lại một lợi ích thực tiễn nào cả cho dân chúng. Vùng đất bị cắt giao lại một cửa ngơ chiến lược trọng yếu vang danh trong lịch sử nước nhà. Vùng Đảo và Biển mất đi chẳng những là khu vực tiền tiêu bảo vệ bờ biển, mà c̣n phong phú về hải sản và giàu tiềm năng chất đốt.

2/ V́ tham vọng quyền lực cá nhân, Hồ chí Minh và một số thuộc hạ du nhập hệ thống đảng trị cộng sản chuyên chế vào Việt Nam, hoạt động cho quyền lợi của Đệ tam quốc tế cộng sản, chẳng những gây chiến tranh, đói khổ cho đồng bào, mà c̣n làm tiêu hao tài sản Tổ Tiên, nhượng đất cho ngoại bang để đổi lấy súng ống, vũ khí nhằm bành trướng chủ nghĩa và bám lấy địa vị lănh đạo độc tôn đảng trị.

3/ Đảng cộng sản Việt Nam cai trị đất nước một cách độc tài, xem thường pháp luật,  thiếu tự do dân chủ. Điều 4 hiến pháp cộng sản năm 1992 cho phép cộng sản Việt Nam đứng trên pháp luật, nên quyền hạn của thiểu số lănh đạo cộng sản quá lớn. Thiểu số này làm việc ǵ cũng nhân danh đảng, lợi dụng chức vụ để hành động tùy tiện, không bị hiến pháp hay luật pháp chế tài. V́ vậy, khi cần thực hiện một mưu đồ riêng tư, họ tự ư hành động mà không cần tham khảo ư kiến của bất cứ ai. Họ đặt quyền lợi và tham vọng đảng phái lên trên quyền lợi đất nước, mà trường hợp hai bản hiệp ước trên đây là ví dụ điển h́nh nhất.

4/ Đặc quyền đặc lợi của nhóm lănh đạo quá lớn, chẳng những nắm toàn quyền về chính trị mà c̣n nắm toàn quyền về kinh tế tài chánh. Do đó, nội bộ đảng cộng sản Việt Nam thường hay tranh chấp để giành lấy quyền lănh đạo đảng. Sự tranh chấp quyền lực đưa đến sự phân hóa trong đảng và đưa đến hai hệ quả: Thứ nhất đối nội, giới lănh đạo đương quyền cương quyết gạt bỏ tất cả mọi ư kiến bất lợi cho địa vị quyền lực của họ, nhất là những đề nghị nới rộng quyền tự do dân chủ và nếu cần th́ họ thẳng tay thanh trừng. Thứ nh́ đối ngoại, nhóm lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam phải nhờ đến sự tiếp tay của các đảng cộng sản đàn anh như Liên sô trước đây và Trung Cộng ngày nay, để bảo vệ địa vị. Khi nhờ như thế, các lănh tụ thường hứa hẹn với các nước trên những điều ḿnh sẽ thực hành sau khi nắm được quyền lănh đạo đảng. Đó cũng là một trong những lư do ngấm ngầm để đưa đến việc cắt đất cho Trung Cộng.

Trước việc đàn áp những bất đồng chính kiến trong nội bộ đảng, nhất là những đ̣i hỏi về tự do dân chủ, nhiều đảng viên đă bỏ đảng. Nay sự kiện Ải Nam Quan lọt vào tay Trung Cộng khiến cho những người trong hệ thống đảng cộng sản Việt Nam, nhưng trung thành với tổ quốc hơn là trung thành với đảng, ư thức được quyền lợi đất nước đă bị xâm phạm thô bạo nên đă lên tiếng báo động và phản đối mạnh mẽ nhóm lănh đạo, làm cho sự rạn nức trong đảng cộng sản Việt Nam càng ngày càng lớn hơn. Rồi đây, sẽ có rất nhiều đảng viên nữa thức tỉnh để quay trở về với đại bộ phận dân tộc. Không ai muốn phục vụ cho một đảng chính trị bán nước, chỉ trừ một thiểu số v́ muốn được hưởng một chút quyền lợi, địa vị nhất thời mà quên đi lương tri dân tộc, mới chạy theo đảng cộng sản Việt Nam.

5/ Từ trước đến nay, đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn tuyên truyền giành lấy chính nghĩa, luôn luôn tự hào rằng họ là lực lượng dân tộc tiến bộ yêu nước và kết tội tất cả những thành phần đối lập từ năm 1945 cho đến nay là Việt gian, phản quốc, tay sai ngoại bang, ngụy quyền, ngụy quân...Nay nhà cầm quyền cộng sản Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nhượng đất và nhượng biển qua hai hiệp ước trên, là một bằng chứng cụ thể không thể biện minh và không thể chối căi được tội lỗi phản quốc bán nước của đảng cộng sản Việt Nam và nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đây là tội lỗi lớn nhất trong lịch sử Việt Nam do tập đoàn lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam thực hiện, lớn hơn cả tội lỗi của nhưng tên tuổi đă bị lịch sử lên án phản quốc như Trần di Ái, Trần ích Tắc, Lê chiêu Thống... Những nhà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và trước lịch sử hành vi nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang, đă bị cấm ngặt theo điều 74 của Bộ Quốc Thiều H́nh Luật đă được ban hành từ thời Vua Lê Thánh Tông trị v́ (1460-1497).

6/ Một trong những điều kiện giúp các đảng cộng sản trên thế giới nói chung, và đảng cộng sản Việt Nam nói riêng có thể lộng hành, là họ luôn luôn bí mật hành động, giấu diếm hành tung, lại dùng bộ máy thông tin tuyên truyền che đậy và ngụy trang một cách kín đáo, rồi tự ư giải thích, tùy thích tung hỏa mù, gây nhiễu xạ, làm cho không ai biết được sự thật ở đâu.

Cộng sản đă tận dụng một bí quyết tâm lư mà Triết Gia Sigmund Freud (1856-1939) đă từng đề cập đến: Nói láo được lập đi lập lại nhiều lần, lúc đầu có thể bị nghi ngờ, sau người ta tưởng là ‘’thật’’và cuối cùng người ta tin rằng đó là ‘’sự thật’’, v́ có quá nhiều người nói đến, quá nhiều lần lập lại. Chẳng những thế, chính người nói láo cũng nhập tâm và tin đó là sự thật.

Ngày nay khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bực, nhất là ngành truyền thông viễn liên, nên các đảng cộng sản nói chung và đảng cộng sản Việt Nam nói riêng không có thể che dấu những hành động đen tối gian trá được nữa. Mọi sự thật được phơi bày nhanh chóng trước công luận. Dân chúng không c̣n dễ bị lừa phỉnh như trước. Ví dụ việc cộng sản Việt Nam nhượng đất Ải Nam Quan với những tin tức, h́nh ảnh cụ thể loan truyền nhanh chóng và đầy đủ trên mạng lưới thông tin quốc tế, không c̣n có thể che dấu hay chỗi căi. Trước áp lực của truyền thông, những kẻ lănh đạo cộng sản Việt Nam đành phải ủy cho ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê công Phụng viết báo và trả lời phỏng vấn vào đầu năm 2002 để biện minh cho những hành động sai trái của ḿnh. Dầu biện minh quanh co, ông Thứ Trưởng cũng đă thú nhận Ải Nam Quan cùng hơn 10.000 km2 Vịnh Bắc Việt đă mất vào tay Bắc phương.

Chính sự phát  triển của ngành truyền thông giúp thế giới bên ngoài và cả dân chúng trong các nước cộng sản biết rơ t́nh h́nh và diễn tiến chính trị tại các nước Đông Âu, theo dơi, cổ vơ và hỗ trợ các cuộc biểu t́nh địa phương, đưa đến sự sụp đổ của các chế độ cộng sản tại đây và cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90. Điều đó có nghĩa là cuộc cách mạng của ngành truyền thông đă đạt được một kết quả, mà có lẽ những nhà khoa học không tiên liệu, là đă thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng chính trị tại các nước cộng sản.

Chắc chắn rồi đây điều đó sẽ tái diễn trên các nước cộng sản c̣n lại, trong đó có Việt Nam. Chỉ có sự giải thể chế độ cộng sản hiện nay ở Việt Nam, thay thế bằng một chính quyên dân chủ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, mới có thể tạo sức mạnh dân tộc tổng lực, để đặt lại và đ̣i lại vùng đất Nam Quan và hàng ngàn cây số trên mặt biển Bắc Việt trở về với Tổ Quốc. Lịch sử cho thấy nhiều lần Trung Hoa sang xâm lăng, chiếm đóng đất nước chúng ta, có khi trong thời gian dài, nhưng cuối cùng Tổ Tiên chúng ta đă quật cường đánh đuổi quân xâm lăng Trung Hoa.

Việc đ̣i lại đất Nam Quan ngày nay tuy có thể khó hơn ngày trước, nhưng không thể nói là không thể xảy ra, một khi tại nước ta có một chế độ biết đoàn kết nội lực toàn dân như dưới thời Nhà Trần hay dưới thời Lê Lợi, Quang Trung.

7/ Cuối cùng, chuyện Ải Nam Quan đă mất là tin buồn cho đất nước, nhưng đồng thời lại cảnh tỉnh đối với toàn bộ dân chúng Việt Nam, ở quốc nội cũng như ở hải ngoại, ở trong cũng như ở ngoài đảng cộng sản Việt Nam. Không có một người Việt Nam nào có thể thờ ơ với việc đất đai của Tổ Tiên bị cắt ra để giao không cho ngoại bang. Sự kiện này là một ngọn lửa hâm nóng lại ư thức dân tộc nơi mọi người, đốt cháy những hào quang giả tạo của đảng cộng sản Việt Nam, cũng như báo hiệu sự cáo chung của hệ thống đảng trị cộng sản trong nước.  

TRẦN GIA PHỤNG

Toronto, 7.2.2002

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THỬ T̀M LẠI BIÊN GIỚI CỦA VIỆT NAM

BẰNG CỔ SỬ BẰNG TRIẾT HỌC BẰNG DI TÍCH VÀ HỆ THỐNG ADN

BÁC SĨ TRẦN ĐẠI SỸ

 

Chúng tôi xin giới thiệu với Độc Giả Việt Nam bài diễn văn của Giáo Sư Trần Đại Sỹ đọc trong dịp khai giảng niên khóa 1991-1992 tại Viện Pháp Á (Institut Franco-Asiatique viết tắt là IFA). Nguyên văn bằng tiếng Pháp, đây là bản dịch tiếng Việt của Tăng Hồng Minh.  Trong dịp khai giảng niên học này. IFA đă mời một số đông các học sinh, trí thức và kư giả tham dự. Sau bài diễn văn, có cuộc  trao đổi rất thú vị.

Xin nhắc lại, trong khoảng thời gian 1977-1992, Tác Giả làm việc cho Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu (Coopérative Européenne Pharmaçeutique, viết tắt là CEP) và Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp Hoa (Commité Médical Franco-Chinois viết tắt là CMFC), nên đă được các đồng nghiệp giúp đỡ, dùng hệ thống ADN để t́m lại nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam.  

Chính với công tŕnh nghiên cứu của tác giả, dùng hệ thống ADN phân biệt Dân Tộc Trung Hoa và Dân Tộc Việt Nam...đă kết thúc cuộc tranh căi 90 năm qua biên giới cổ của Việt Nam. Kết luận về nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam bằng khoa ADN đi ngược lại với tất cả các thuyết từ trước đến giờ. Các thuyết này khẳng định người Việt do người Hoa di cư xuống để trốn lạnh, để tỵ nạn v.v...Nhưng ADN cho biết chính người ở vùng Đông Nam Á  đă đi lên phương Bắc thành người Hoa.

Từ năm 1991, có rất nhiều bản dịch bài diễn văn này sang nhiều thứ tiếng, đăng trên nhiều báo khác nhau. Mỗi dịch giả lại tự ư lược đi, đôi khi cắt mất nhiều đoạn. Nay chúng tôi xin dịch nguyên bản, đầy đủ. V́ vậy độc giả thấy có nhiều đoạn quá chuyên môn, xin lướt qua.

Sau khi bài diễn văn này phổ biến (1991), có một số ‘’học giả’’ v́ không theo kịp đà tiến hóa của khoa học, đă lên tiếng chỉ trích chúng tôi. Biết rằng họ dốt nát quá, muốn giải thích cho họ, họ phải có một tŕnh độ nào đó...v́ vậy chúng tôi không trả lời. Phần nghiên cứu của chúng tôi quá dài, quá chuyên môn. Độc giả muốn t́m hiểu thêm có thể đọc công tŕnh nghiên cứu dưới đây:

J. Y. CHU, cùng 13 Nhà Bác Học Trung Quốc cùng nghiên cứu Di truyền học ADN (DNA), công bố năm 1998: The Nation Academy of Sciences, USA, Vol. 95 issue 20, ngày 29 tháng 7 năm 1998. Tài liệu khẳng định rằng nguồn gốc người Trung Hoa, Đông Á, do người Đông Nam Á đi lên, chứ không phải do người Trung Hoa di cư.

ALBERTO-PIAZZA (Đại Học Torino Ư): Human Evolution: Towards a genetic history of China, Proc. of Natl. Acad. Sci,  USA. Vol 395. No 6707-1998.

LI YIN : Distribution of halotypes from a chrosmosomes 21 Region-distinguishe s multiple prehistotic human migrations-Proc. of Natl. Acad. Sci-USA, Vol 196, 1999.

Trong khi diễn giả tŕnh bày, ông có ngắt ra nhiều đoạn, để thính giả thảo luận. Các bài trích đăng trước không ghi phần này. Để độc giả dễ theo dơi, Cô Tăng Hồng Minh ghi chép, chú giải đặt ngay dưới đoạn liên hệ, thay v́ ghi ở cuối bài.

 

Paris ngày 10.10.2001

Sở Tu Thư, Viện Pháp-Á

Kính thưa Ông Viện Trưởng,

Kính thưa Quư Đồng Nghiệp,

Kính thưa Quư Quan Khách.

Các bạn Sinh Viên rất thân mến.

Tôi không phải là Nhà sử học, cũng không phải là Nhà khảo cổ, hay Nhà chủng tộc học. Tôi chỉ là một Thầy Thuốc. Nhưng những may mắn đến tiếp diễn trong suốt cuộc đời, vô t́nh đă đưa tới đến đây tŕnh bày cùng Quư Vị về Nguồn Gốc, Biên Giới Cổ Tộc Việt.

Ở cuối giảng đường này tôi thấy có nhiều bạn trẻ bật cười, Tôi biết bạn bật cười v́ đa số người ta đều than đời bất hạnh, toàn rủi ro. C̣n tôi, tôi lại nói rằng suốt cuộc đời toàn may mắn. Tôi có thể nói thực với Quư Vị rằng, về phương diện nghiên cứu học hành, suốt đời tôi, tôi có cảm tưởng Tổ Tiên đă trải thảm cho tôi đi trên con đường vô t́nh đầy hoa. Nếu bạn chịu khó đọc Bộ Sexologie médicale chinoise của tôi, phần bài tựa tôi có viết:

‘’Trong lịch sử cổ kim nhân loại, nếu có người may mắn về phương diện nghiên cứu học hành, tôi đứng đầu. Nhưng nếu có người bất hạnh nhất trong t́nh trường tôi cũng đứng đầu’’

Hôm nay tôi tŕnh bày với Quư Vị về công cuộc t́m Biên Giới Cổ của nước Việt Nam và nguồn gốc Tộc Viêt, Quư Vị sẽ thấy tôi may mắn biết chừng nào và Quư Vị sẽ thấy Tộc Việt chúng tôi anh hùng biết bao. Nhưng gần đây, v́ chiến tranh tiếp diễn trong hơn 30 năm, khiến cho đất nước chúng tôi điêu tàn và...hiện nước tôi là một trong bốn nước nghèo nhất thế giới.

I. SƠ TẦM VỀ TỘC VIỆT

Năm lên năm, tôi học chữ Nho, một loại chữ của Trung Hoa, nhưng dùng chung cho hầu hết các nước vùng Á Châu Thái B́nh Dương (ACTBD). Thầy khai tâm của tôi là Ông Ngoại tôi. Ông tôi là một Đại Thần của Triều Đ́nh Đại Nam (tức Việt Nam).

Chế độ phong kiến của nước tôi đă chấm dứt từ năm 1945, hiện (1991) vị Hoàng Đế cuối cùng của Đại Nam là Bảo Đại. Ngài vẫn c̣n sống ở Quận 16 Paris.

Năm lên sáu tuổi, tôi được học tại Trường Tiểu Học do chính phủ Pháp mở tại Việt Nam. Thời gian 1943-1944 rất ít gia đ́nh Việt Nam c̣n cho con học chữ Nho. Bởi Đạo Nho cũng như nền cổ học không có chỗ đứng trong đời sống kinh tế, chính trị nữa. Thú thực tôi cũng không thích học chữ Nho bằng chơi bi, đánh đáo. Nhưng v́ muốn làm vui ḷng ông tôi mà tôi học. Hơn nữa học chữ Nho, tôi có một kho tàng văn hóa vĩ đại để đọc, để thỏa măn trí thức của tuổi thơ. Thành ra tôi học rất chuyên cần. Các bạn hiện diện nơi đây không ít th́ nhiều cũng đă học chữ Nho đều biết rằng chữ này học khó như thế nào. Nhưng tôi chỉ mất có ba tháng đă thuộc làu Bộ Tam Tự Kinh, sáu tháng để thuộc Bộ Ấu Học Ngũ Ngôn Thị. Năm Bảy tuổi tôi được học Sử và năm chín tuổi bị nhét vào đầu Bộ Đại Học.

Chương tŕnh giáo dục cổ bắt học sinh học hai loại Sử, Bắc Sử tức Sử Trung Hoa. Nam Sử tức Sử Việt Nam. Tôi được học Nam Sử bằng chữ Nho, đồng thời với những bài Sử khai tâm bằng chữ Quốc Ngữ vào năm 7 tuổi. Thời điểm bấy giờ bắt đầu có những bộ Sử viết bằng chữ Quốc Ngữ, rất giản lược, để dạy học sinh, không bằng một phần trăm những ǵ tôi học ở nhà. Thầy giáo ở Trường Pháp biết tôi là cái kho vô tận về Sử Việt-Hoa, nên thường bảo tôi kể cho các bạn đồng lớp về anh hùng nước tôi. Chính v́ vậy tôi phải lần ṃ đọc những bộ Sử lớn viết bằng chữ Hán như:

Đại Việt Sử Kư Toàn Thư. An Nam Chí Lược. Đại Việt Thông Sử. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Đại Nam Nhất Thống Chí.

Đại cương mỗi bộ sử đều chép rất giản lược về nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam như sau:

‘’Vua Minh cháu bốn đời Vua Thần Nông, nhân đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh, kết hôn với một nàng tiên hạ sinh một con trai tên Lộc Tục. Vua lập đài, tế cáo trời đất,  phong cho con Trưởng làm Vua phương Bắc, tức Vua Nghi, phong cho con thứ là Lộc Tục làm Vua phương Nam. Ngài dạy hai Thái Tử rằng: Nghi làm Vua phương Bắc, Tục làm Vua phương Nam, lấy núi Ngũ Lĩnh làm cương giới. Hai người làm Vua hai Nước nhưng vốn cùng gốc ở ta, phải lấy điều hiếu ḥa mà ở với nhau. Tuyệt đối Nam không xâm Bắc, Bắc chẳng chiếm Nam. Kẻ nào trái lời, sẽ bị tuyệt tử, tuyệt tôn’’.  

Xét Triều Đại Thần Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây th́ chia làm hai:

1. THẦN NÔNG BẮC.

Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)

Vua Lai (2843-2794 trước Tây lịch)

Vua Ly (2795-2751 trước Tây lịch)

Vua Du Vơng (2752-2696 trước Tây lịch).

Đến đây Triều Đại Thần Nông Bắc chấm dứt, đổi sang Triều Đại Hoàng Đế từ Năm Giáp Tư (2697 trước  Tây lịch). Các Nhà chép sử Trung Hoa lấy thời đại Hoàng Đế làm Kỷ Nguyên. Trong Bộ Sử Kư Tư Mă Thiên khởi chép quyển một là Ngũ Đế Bản Kỷ, coi Hoàng Đế là Quốc Tổ Trung Hoa, không chép về thời đại Thần Nông.  

2. TRIỀU ĐẠI THẦN NÔNG NAM.

Thái Tử Lộc Tục lên làm Vua năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây lịch) hiệu là Kinh Dương, lúc mười tuổi. Sau người Việt lấy năm này làm Kỷ Nguyên Lập Quốc. Nếu cộng chung cho đến nay (1991) là 4870 năm, v́ vậy người Việt tự hào rằng đă có gần năm ngh́n năm văn hiến. (1)

Nội dung bài diễn văn hôm nay, tôi chỉ bàn đến diễn biến chính trị, lịch sử văn hóa, địa lư của Dân Tộc Trung Hoa và Dân Tộc Việt Nam trong khoảng thời gian 4870 năm từ năm 2879 trước Tây lịch cho đến năm nay 1991. C̣n như đi xa hơn về những Thời Tiền Cổ, Thời Đồ Đá, Đồ Đồng, Đồ Sắt, quá phức tạp, quá dài, tôi không luận đến ở đây.

Xét về cương giới cổ sử chép:

‘’Thái Tử Lộc Tục lên ngôi lấy hiệu là Kinh Dương (2), đặt tên nước là Xích Quỷ,  đóng Đô ở Phong Châu nay thuộc Sơn Tây, Vua Kinh Dương lấy con gái Vua Động Đ́nh là Long Nữ đẻ ra Thái Tử Sùng Lăm. Thái Tử Sùng Lăm lại kết hôn với Công Chúa Âu Cơ con Vua Đế Lai (3). Khi Vua Kinh Dương băng hà Thái Tử Sùng Lăm lên ngôi Vua, tức Vua Lạc Long, đổi tên nước là Văn Lang, Bắc tới Hồ Động Đ́nh, Nam giáp nước Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Đông Hải.’’

Cổ sử đến đây, không c̣n ǵ nghi ngờ, nhưng tiếp theo lại chép:

‘’Vua Lạc Long lấy Công Chúa Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở ra trăm con. Ngài truyền cho các Hoàng Tử đi bốn phương lập Ấp, tổ chức cai trị giáo hóa dân chúng. Mỗi vị lập một Ấp theo lối cha truyền con nối.

Hoàng Tử thứ nhất tới thứ mười lập ra Hồ Động Đ́nh.(Nay là Hồ Nam, Quư Châu,  Trung Quốc.)

Hoàng Tử thứ mười một tới thứ hai mươi lập ra vùng Tượng Quận. (Nay là Vân Nam và một phần Quảng Tây, Tứ Xuyên thuộc Trung Quốc. )

Hoàng Tử thứ hai mươi mốt tới thứ ba mươi ?!!!

Hoàng Tử thứ ba mươi mốt tới bốn mươi lập ra vùng Chiêm Thành. (Nay thuộc Việt Nam, từ Thanh Hóa đến Đồng Nai.)

Hoàng Tử thứ bốn mươi mốt tới năm mươi lập ra vùng Lăo Qua. (Nay là nước Lào và một phần Bắc Thái Lan.)

Hoàng Tử thứ năm mươi mốt tới sáu mươi lập ra vùng Nam Hải. (Nay là Quảng Đông và một phần Phúc Kiến, Trung Quốc.)

Hoàng tử thứ sáu mươi mốt tới bảy mươi lập ra vùng Quế Lâm. (Nay  thuộc Quảng Tây, Trung Quốc.)

Hoàng Tử thứ bảy mươi mốt tới tám mươi lập ra vùng Nhật Nam. (Nay thuộc Việt Nam từ Nghệ An tới Quảng B́nh.)

Hoàng Tử thứ tám mươi mốt tới chín mươi lập ra vùng Cửu Chân. (Nay thuộc Việt Nam từ Ninh B́nh tới Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh)

Hoàng Tử thứ chín mươi mốt tới một trăm lập ra vùng Giao Chỉ. (Nay là Bắc Việt Nam và một phần Tỉnh Quảng Tây, Vân Nam thuộc Trung Quốc.)

Ngài hẹn rằng: Mỗi năm các Hoàng Tử phải về cánh đồng Tương vào ngày Tết, để chầu hầu Phụ Mẫu.’’

Một huyền sử khác lại thuật:

Vua Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

‘’Ta là Rồng, nàng là loài Tiên ở với nhau lâu không được. Nay ta đem năm mươi người con xuống nước, nàng đem năm mươi người con lên rừng. Mỗi năm gặp nhau ở cánh đồng Tương một lần’’

Các Sử Gia người Việt lấy năm Vua Kinh Dương lên làm Vua là năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây lịch), nhưng không tôn Vua Kinh Dương với Công Chúa con Vua Động Đ́nh làm Quốc Tổ, Quốc Mẫu, mà lại tôn Vua Lạc Long làm Quốc Tổ và Công Chúa Âu Cơ làm Quốc Mẫu. Cho đến nay Quư Vị hỏi trăm người Việt ở hải ngoại rằng Tổ là ai, họ đều tự hào:

‘’Chúng tôi là con Rồng, cháu Tiên. Quốc Tổ tên là Lạc Long, Quốc Mẫu tên Âu Cơ’’.  Chủ Đạo của Tộc Việt bắt nguồn từ niềm tin này.

Ghi chú của Tăng Hồng Minh.

Kư giả chuyên về Văn Minh Đông Á Jean Marc Dexourtenet hỏi về đoạn này như:

Thưa Giáo Sư, hiện Việt Nam là một nước theo chế độ cộng sản, liệu người Việt trong nước họ có cùng một niềm tin như người Việt hồi 1945 về trước cũng như người Việt hải ngoại hay không?

Trả lời:

Những nhà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam suốt từ năm 1930 đến giờ,  không một người nào muốn dùng triết lư Marxisme, Léninisme để xóa bỏ niềm tin con Rồng cháu Tiên. Trái lại họ c̣n dùng niềm tin này để quy phục nhân tâm. V́ niềm tin này đă ăn sâu vào tâm năo người Việt. Những người lănh đạo chính trị Việt cả hai miền Nam Bắc trong thời gian nội chiến 1945-1975 cũng không ai dám, không ai muốn, không ai đủ khả năng xóa bỏ niềm tin này. Người Việt có niềm tin vào Chủ Đạo của ḿnh. Họ xây Đền Thờ các Vua Hùng ở Phú Thọ dường như đă hơn ngh́n năm. Hằng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch là người người đều tụ tập về đây để tưởng nhớ công ơn các Vua Hùng đă dựng nước. Trong thời gian chiến tranh (1945-1975) v́ t́nh h́nh an ninh di chuyển khó khăn, v́ t́nh h́nh kinh tế không cho phép, số người hành hương có giảm thiểu. Nhưng từ sau năm 1987, số người hành hương tăng vọt. Ngay ở ngoại quốc, người Việt lưu lạc khắp nơi,  nhưng hàng năm đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch, nơi nào họ cũng tổ chức giỗ Tổ rất thành kính.

Kết quả là dù ở trong nước hay ngoại quốc, hiện người Việt vẫn cùng một niềm tin như nhau.

3. TRIỀU Đ̀NH DÂN TỘC

Tôi đă tŕnh bày với Quư Vị về hai Triều Đại đầu tiên cai trị vùng Á Châu Thái B́nh Dương: Phía Bắc sông Trường Giang sau thành Trung Quốc. Phía Nam sông Trường Giang tới Vịnh Thái Lan, sau thành Đại Việt.

Hai Triều Đại Thần Nông Nam Bắc cai trị dân chúng:

- Không có nghĩa là dân chúng cùng một Chủng Tộc.

- Không có nghĩa là Tộc Hoa, Tộc Việt là một.

- Cũng không có nghĩa tất cả dân chúng Tộc Hoa, Tộc Việt đều là huyết tộc của Vua Thần Nông.

- Trung Quốc, Đại Việt là anh em về phương diện chính trị. Gịng Thần Nông cai trị vùng đất Trung Quốc, Đại Việt là anh em, nhưng dân chúng không hoàn toàn là anh em.

- Dân chúng hai nước bao gồm nhiều Tộc khác nhau như Mongoloid, Malanésien,  Indonésien, Australoid và cả Négro-Australoid v.v...

-Người Hoa, người Việt nhân Triều Đại Nam Bắc Thần Nông tổ chức cai trị, lập thành nước, mà tôn làm Tổ mà thôi. Chứ hai vùng hồi đó có hàng ngh́n, hàng vạn Bộ Tộc khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, văn hóa khác nhau.

Sau này các văn nhân người Hoa ở vùng lưu vực Hoàng Hà, lưu vực sông Hán, nhân có chữ viết, lại không đi ra ngoài, rồi tưởng tượng mà viết thành sách, tự cho ḿnh là con trời, tự trời mà xuống, sau đó đem văn minh, truyền bá ra khắp thế giới (Thiên Hạ), người sau lấy làm Chủ Đạo của họ. Tôi sẽ bàn đến ở dưới.

Tôi xin cử một tỷ dụ, để Quư Vị nh́n rơ hơn. Ông Washington là vị Tổng Thống đầu tiên lập ra nước Hoa Kỳ, chứ ông không phải là Tổ của các sắc dân đến từ Châu Phi, Châu Âu, cũng như dân bản xứ. Hai vị Vua Nghi, Vua Kinh Dương không phải là Tổ huyết tộc của người Hoa, người Việt. Hai Ngài chỉ là Tổ về chính trị mà thôi.

II CHỦ ĐẠO TRUNG QUỐC, VIỆT NAM.

Như Quư Vị đă thấy, mỗi Dân Tộc đều có một Chủ Đạo, cùng một biểu hiệu. Người Pháp cho rằng Tổ Tiên là người Gaulois, con vật tượng trưng là con Gà Trống. Người Anh lấy biểu hiệu là con Sư Tử. Người Hoa Kỳ lấy biểu hiệu là con Chim Ưng. Người Trung Hoa lấy biểu hiệu là con Rồng. Người Việt lấy biểu hiệu là con Rồng và con Chim Âu. Gốc biểu hiệu này lấy từ huyền sử Vua Lạc Long là loài Rồng, Công Chúa Âu Cơ là loài chim.

Người Do Thái họ tự tin rằng họ là giống dân linh, được Chúa chọn. V́ vậy, sau hai ngh́n năm mất nước, họ vẫn không bị đồng hóa. Khi tái lập quốc, với dân số bằng một phần trăm Khối Ả Rập, nhưng họ vẫn đủ khả năng chống với bao cuộc tấn công để tồn tại. Đó là nhờ niềm tin họ thuộc sắc dân được Chúa chọn.

Tôi xin nói rơ về Chủ Đạo của Trung Quốc và Việt Nam. Như Qúy vị đều biết, hiện Trung Quốc, Việt Nam đều là những nước theo chủ nghĩa cộng sản, đặt căn bản trên thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels. Chủ thuyết này đến Trung Quốc, Chủ Tịch Mao trạch Đông biến thể đi thành Maoisme. Tại Việt Nam, người mang chủ thuyết Marx, Engels vào là Hồ chí Minh, ông được đào tạo tại Liên Sô, v́ vậy chủ thuyết của ông phản phất thêm Léninisme, pha thêm Việt tính do ông tạo ra. Dường như hiện nay trên khắp thế giới, kể cả Liên Bang Sô Viết chỉ Việt Nam là quốc gia duy nhất c̣n duy tŕ tượng Lénine tại một công viên lớn tại Hà Nội.

Theo như dự đoán của chúng tôi th́ Trung Quốc, cũng như Việt Nam cùng nhận thấy thuyết của Karl Marx, Friedrich Engels không c̣n hợp thời, không c̣n ích lợi nữa. Cả hai đang từng bước, từng bước trở lại với Chủ Đạo của ḿnh. Xin các vị cứ chờ, không lâu đâu cả hai sẽ hoàn toàn trở về với kho tàng quư báu của nước ḿnh.

Ghi chú của Tăng Hồng Minh (ngày 19.8.2000. nhân đọc bài này).

IFA trao cho tôi dịch hầu hết những bài diễn văn của các nhà lănh đạo Việt Nam từ 1992 đến nay. Tôi thấy ông Tổng bí thư Đỗ Mười trong các diễn văn kỷ niệm 19.8 cũng như ngày quốc khánh, những từ ngữ ông dùng cũng như nội dung, ngày một xa Marx, Engels,  Lénine. Đến ông Tổng bí thư Lê khả Phiêu, ông nêu rơ Chủ Đạo trở về nguồn. Nếu thời kỳ ông Lê Duẫn cầm quyền, khắp Việt Nam đều thi nhau phá bỏ hết phong tục, truyền thống, nhất là phá các di tích Tôn Giáo bao nhiêu, th́ bây giờ hầu hết các Truyền Thống Dân Tộc đều được phục hồi ở cấp Xă. Niềm tin (Chủ Đạo) của hạ tầng hầu như trở lại thời kỳ trước 1945. Người Việt thường than: Từ sau Vua Quang Trung, Việt Nam chưa có một anh hùng nổi bật. Nếu ông Lê khả Phiêu lèo lái Việt Nam trở lại hẳn với Chủ Đạo của năm ngh́n năm th́ ông trở thành anh hùng dân tộc sau Vua Quang Trung. Bấy giờ tôi sẽ về Việt Nam, thăm Đền Hùng và mua hoa lễ Quốc Tổ của Giáo Sư Trần Đại Sỹ. (ghi chú của cubi: Tác giả Trần Đại Sỹ v́ không chuyên khoa về chính trị nên những nhận định của ông ta và (Tăng Hồng Minh) cho thấy ông ta không hiểu rơ cộng sản ở Việt Nam. Cũng xin nhắc thời điểm của bài viết này là năm 1991).

1. CHỦ ĐẠO CỦA TRUNG QUỐC.

Ngươi Hoa th́ tin rằng ḿnh là con trời. Cho nên trong các sách cổ của họ, Vua được gọi là Thiên Tử,  c̣n các Quan th́ luôn là người nhà trời xuống thế pḥ tá cho Vua. Chính niềm tin đó cùng với văn minh Hoa Hạ, văn minh Nho Giáo đă kết thành Chủ Đạo của họ.  Cho nên người Hoa dù ở đâu, họ cũng có một tổ chức xă hội riêng, sống với nhau trong niềm kiêu hănh con trời. Cho dù họ lưu vong đến ngàn năm họ cũng không bị đồng hóa, không quên nguồn gốc.

Cũng chính v́ vậy, mà từ một Tộc Hoa nhỏ bé ở lưu vực sông Hoàng Hà, họ đánh chiếm, đồng hóa hàng ngàn nước xung quanh và nước của họ rộng lớn như ngay nay. Hầu hết những người khác đến cai trị họ, đều bị họ đồng hóa. Mông Cổ, Măn Thanh bị đồng hóa, bị mất hầu hết lănh thổ. Nhưng Chủ Đạo và sức mạnh của người Trung Quốc phải ngừng lại ở biên giới Việt-Hoa.

Ghi chú của Tăng Hồng Minh:

Giáo Sư Nhân Chủng Học Van Gotensbert (Ḥa Lan) hỏi:

Tôi thấy người Hoa kiều ngụ ở các nước Á Châu, Châu Phi cũng như tại Hoa Kỳ,  Canada, Úc cùng một số các nước Âu Châu, dù trải qua mấy trăm năm, họ vẫn duy tŕ được ḍng giống và không bị đồng hóa, đó là nhờ Chủ Đạo tự tin là con trời của họ. Thế nhưng tại sao, họ mới tới Pháp từ sau 1975, dưới danh nghĩa tỵ nạn Việt, họ bị đồng hóa rất mau. Không lẽ Chủ Đạo của Trung Quốc lại bị Chủ Đạo của Gaulois xóa bỏ mau chóng như vậy sao?

Đáp:

Thưa Giáo Sư, điều Giáo Sư hỏi, cũng là điều tôi chú tâm nghiên cứu từ 1975 đến giờ.  Khi người Hoa tới bất cứ nước nào, họ cũng bị kỳ thị không ít th́ nhiều, họ phải sống quần tụ với nhau, giúp đỡ nhau, bảo vệ nhau. Bên cạnh đó họ có niềm tin là con trời, tự hào về nền văn minh cổ của họ. Do đó họ tổ chức thành xă hội riêng: Giáo dục con em, thương mại, sinh hoạt văn hóa, tương trợ. V́ vậy họ giữ được bản sắc Trung Quốc của họ. C̣n khi người Hoa tới Pháp, th́ người Pháp với tinh thần cởi mở, với tính hiếu ḥa, không kỳ thị, lại tận t́nh giúp đỡ kẻ tha hương hơn chính người Hoa giúp nhau, thành ra người Hoa không cần sống quần tụ. Họ sống lẫn với người Pháp. Con em người Hoa ngày ngày tới trường được bạn học, được thầy yêu thương, chúng thu nhập văn hóa Pháp rất mau. Trong khi cha mẹ chúng phải làm việc không có thời giờ dạy con cái về văn hóa Trung Quốc. Do vậy chỉ trong ṿng mấy năm là trẻ Hoa thành trẻ Pháp: Tiếng nói, cách suy tư, nếp sống, trừ...ẩm thực.

Tôi xin nói một câu thẳng thắn, mong các vị đừng buồn: Trên khắp thế giới, khi người Việt tỵ nạn đến định cư bất cứ nơi nào, đều gặp nạn kỳ thị. Nước Pháp là nước duy nhất dân chúng không kỳ thị mà lại c̣n tận t́nh giúp đỡ. Do vậy nhiều người tỵ nạn đến các nước khác của Châu Âu, rồi cũng t́m định cư ở Pháp, dù ở Pháp khó kiếm việc làm. Chính phủ và nhân dân Pháp biết thế, nhưng cánh cửa tự do không đóng lại.

Chủ Đạo của Trung Quốc bắt nguồn từ thời nào? Từ sách nào? Do ai khởi xướng? Đầu tiên là Kinh Thư, không rơ tác giả là ai, xuất hiện trước Khổng Tử, Thiên Vũ Cống gọi Thế Giới chúng ta ở là Thiên Hạ (dưới trời). Thời cổ, các Văn Nhân Trung Quốc không đi xa hơn vùng sông Hán, sông Hoàng Hà, họ tưởng đâu Thế giới chỉ có Trung Quốc, nên gọi Trung Quốc là Thiên Hạ. Thiên Hạ là Trung Quốc, tức là nước ở giữa. Bốn phía Trung Quốc là biển,  nên gọi Trung Quốc là hải nội, các nước khác là hải ngoại.

Kinh Thư Thiên Vũ Cống chia Thiên Hạ thành 9 Châu: Kư, Duyện, Thanh, Từ, Dương,  Kinh, Dự, Lương, Ung. Lại dùng khoảng cách, chia làm năm cơi, gọi là Ngũ Phục, mỗi cơi cách nhau năm trăm dặm (250km). Ngũ Phục là Điện Phục, Hầu Phục, Tuy Phục, Yêu Phục, Hoàng Phục.

Trung Ương là Kinh Đô của Nhà Vua.

Điện Phục ở ngoài Kinh Đô năm trăm dặm.

Hầu Phục ở ngoài cơi Điện Phục năm trăm dặm. Trong năm trăm dặm cơi Hầu th́ khoảng cách một trăm dặm để phong Thái Ấp cho các Quan Khanh, Đại Phu. Hai trăm dặm nữa phong cho các Tước Nam. Hai trăm dặm nữa phong cho các Chư Hầu.

Kế tiếp Hầu Phục là Tuy Phục. Trong năm trăm dặm cơi Tuy th́ ba trăn dặm là nơi truyền bá văn chương, giáo hóa quần chúng, c̣n hai trăm dặm để hưng thịnh vơ bị, bảo vệ quốc gia.

Sau cơi Tuy là cơi Yêu. Trong ba trăm dặm cơi Yêu là nơi cho rợ phương Đông ở. Hai trăm dặm c̣n lại là nơi để đầy tội nhân.

Cơi cuối cùng là cơi Hoang, năm trăm dặm. Trong ba trăm dặm gần dành cho mọi phương Nam ở, hai trăm dặm cuối cùng là nơi để đầy người có tội nặng.

Ra khỏi cơi Hoang là...Biển.

Với lối phân tích lẩm cẩm, hài hước ấy, năm ngh́n năm qua, dân Trung Quốc coi là Kinh, tức những ǵ không thể thay đổi, rồi trở thành Chủ Đạo của Tộc Hoa.

Ghi chú của Tăng Hồng Minh:

Giáo Sư Chính Trị Học J. Fr. Longanacre (USA) Hỏi:

Thế cái Chủ Đạo mà người Trung Quốc tự thị là con trời phát xuất từ đâu? Vào thời nào?

Đáp:

Thưa Giáo Sư, cũng phát xuất từ Kinh Thư, Thiên Thái Thệ:

Trời sinh ra dân,

Đặt Vua, ra Thầy.

Đều để giúp Thượng Đế.

Vỗ về dân bốn phương.

Giáo Sư Mohamed Khalid Nhân Chủng Học Iran hỏi:

Tôi nghiên cứu hầu hết các thuyết nói về nguồn gốc Tộc Hoa. Tôi thấy dường như người ta đều cho rằng Tộc Hoa tự sinh ra, rồi di chuyển đi các nơi: Ra biển thành người Nhật,  Nam Dương, Phi Luật Tân. Xuống Nam thành người Việt, Miên Lào, Thái, Miến. Lên Bắc thành Đại Hàn, Mông Cổ, sang phía Đông Bắc thành người Trung Đông. Có đúng thế không?

Đáp:

Thưa Giáo Sư họ suy nghĩ như vậy là sai hoàn toàn. Họ căn cứ vào truyền thuyết mà nói như vậy. Truyền thuyết căn cứ vào Thư Tịch Cổ, nên sai, hoàn toàn sai. V́ Thư Tịch Cổ do những Văn Nhân không đi ra ngoài, ngồi ở vùng lưu vực Hoàng Hà, tưởng tượng mà viết ra.

Cả hội trường cùng im lặng.

Nếu nói rằng người Trung Hoa nhờ có tinh thần thực dụng, nhờ có chữ viết, nhờ văn hóa Nho Giáo, rồi trở thành hùng mạnh, rồi đem quân đánh chiếm các nước nhỏ xung quanh,  tạo thành một nước vĩ đại như ngày nay là đúng. C̣n như bảo rằng họ là con trời hoặc họ tự sinh ra, rồi di chuyển định cư sinh sống các nơi...th́ sai.

Tôi sẽ dẫn chứng ở dưới bằng ADN Tộc Hoa, do giống người từ Đông Nam Á đi lên. Mà những người Đông Nam Á có gốc từ Phi Châu. Họ đến Nam Á từ lâu. Rồi Tộc đó lại kết hợp với những người cũng từ Châu Phi đi lên Châu Âu vào Bắc Trung Quốc khoảng 15.000 năm trước.

Tiếp theo Kinh Thư, sách Tả Truyện, Tả Khâu Minh cũng viết:

Trời làm chủ Thiên Hạ

Vua nối trời mà cai trị

Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị là Thiên Tử.

Đến Mạnh Tử, Thiên Lư Lâu viết:

Thiên Hạ là Quốc Gia

Gốc của Thiên Hạ là Quốc

Gốc của Quốc là Gia.

V́ ảnh hưởng của sách cổ nên người Hoa mới nảy sinh ra tư tưởng ‘’Nội Hoa Hạ,  Ngoại Di, Địch ’’. Nghĩa là trong Ngũ Phục th́ là chốn văn minh, c̣n ngoài ra th́ là mọi rợ.

Kinh Lễ, Thiên Vương Chế nói:

Đông phương viết Di.

Tây phương viết Nhung.

Nam phương viết Man

Bắc phương viết Địch.

Nghĩa là:

Người ở Đông phương gọi là Di.

Tây phương là Nhung

Nam phương là Man.

Bắc phương là Địch.

Di, Nhung, Man, Địch là những từ để chỉ mọi rợ. Bốn chữ đó khi viết th́ có bộ trùng, bộ thú, bộ khuyển ở cạnh. Có nghĩa là sắc dân đó là cầm thú, côn trùng, chó mèo.

Ngay đối với người Âu, Mỹ hồi Thế Kỷ Thứ 20 về trước, người Hoa gọi là Bạch Quỷ.  (Thính giả cười ồ lên). Họ c̣n phân ra người Âu là Tây Dương Quỷ. Người Mỹ là Mỹ Lan Tây Quỷ. Người Anh là Hồng Mao Quỷ. Người Nga là La Sát Quỷ.

Ghi chú của Tăng Hồng Minh:

Sinh viên Marta Maria Fernamdes hỏi:

Thưa Giáo Sư, về Trung Quốc, tiếng Pháp gọi là La Chine, người Trung Quốc là Chinois. C̣n sách của Chinois ở lục địa th́ họ xưng là Trung Quốc, của người Hương Cảng, Đài Loan th́ họ xưng là Trung Hoa. Đôi khi họ xưng là Trung Nguyên, rồi Hoa Hạ. Tôi đọc một số sách bằng Việt ngữ th́ người Việt gọi là chữ Hán chứ không gọi là chữ Hoa, hay chữ Trung Quốc và người Việt khi gọi Chinois là người Hoa, khi gọi là người Tàu. Như trên Giáo sư đă giải thích từ Trung Quốc. C̣n từ Hoa ở đâu mà có? Tại sao lại có những từ phức tạp như vậy?

Đáp:

Như tôi đă tŕnh bày: Với lối phân chia Cửu Châu, Ngũ Phục, trong năm cơi trên th́ cơi Điện là vùng bao quanh Thiên Hạ. Phía trong cơi Điện là Giao. Trong Giao một trăm dặm là Quốc. Trong Quốc có thành gọi là Độ Đô là nơi Vua ở. V́ vậy họ mới xưng là Trung Quốc, tức nước ở giữa Thiên Hạ. Chữ Trung Quốc ở đây có tính cách chính trị và địa lư. C̣n từ Trung Nguyên có nghĩa là vùng đất ở giữa. Trung Nguyên chỉ có nghĩa là địa lư mà thôi.

Sau cuộc cách mạng Tân Hợi của Bác Sĩ Tôn Dật Tiên và Quốc Dân Đảng lên cầm quyền, lấy Quốc danh là Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc, gọi tắt là Trung Hoa Dân Quốc từ ngày 1.1.1912. Hiện chính phủ Đài Loan vẫn duy tŕ Quốc danh này.

Hồng quân tiến chiếm được Bắc Kinh, lập nền cai trị Trung Nguyên, họ xưng là Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc gọi tắt là Trung Quốc kể từ ngày 1.10.1949.

C̣n nguồn gốc Hoa th́ lúc đầu Trung Quốc chỉ có mấy Bộ Tộc ở vùng Ung Châu,  Lương Châu (Ghi chú xin đừng lầm Ung này với Ung Châu thời Tống, nay là Nam Ninh thuộc Quảng Tây). Phía Đông Nam là Hoa Âm, Đông Bắc là Hoa Dương, giới hạn bởi Hoa Sơn. V́ vậy họ mới xưng nước là Hoa. Sau v́ có văn minh, họ chiếm, đồng hóa các vùng xung quanh mà có 9 Châu như trong Kinh Thư. Hoa là tên Nước chứ không phải là tên Chủng Tộc.

C̣n từ Hoa Hạ th́ do con sông Hạ Thủy khởi nguồn từ Ung Lương, nên lấy từ Hạ Thủy làm tên Tộc. Hạ là tên Tộc, không phải tên Nước. Sau này người ta ghép chữ Hoa là Nước với chữ Hạ là Tộc thành từ Hoa Hạ vừa biểu tượng cho Nước, vừa biểu tượng cho Tộc.

Cao Tổ Nhà Hán là Lưu Bang, khởi nghiệp từ sông Hán Thủy, nên xưng là triều Hán (207 trước Tây lịch). Năm 179 trước Tây lịch, Triệu Đà chiếm Âu Lạc (tên cũ của Việt Nam).  Y là thần tử triều Hán, cấm dân Việt học chữ Khoa Đẩu của Tộc Việt, bắt học chữ Hoa. Do vậy người Viêt gọi chữ Hoa là chữ Hán.

Người Việt gọi người Chinois là người Hoa, người Trung Quốc là lẽ thường. C̣n danh tự người Tầu th́ bắt nguồn từ những triều đại Trung Quốc bị sụp đổ, các di thần dùng tầu vượt biển sang Việt Nam xin kiều ngụ, nên người Việt gọi là người Tầu.

Từ nguồn gốc Kinh Điển Cổ, người Hoa tự cho ḿnh là con trời (Thiên Tử). Cho nên hầu hết các tiểu thuyết của họ th́ Vua luôn có tướng tinh là con rồng vàng, là Thanh Y  Đồng Tử trên thượng giới giáng sinh. Các quan vơ th́ luôn là Vũ Khúc Tinh Quân, các quan văn là Văn Khúc Tinh Quân. Quần thần th́ là Nhị Thập Bát Tú giáng hạ. Với Chủ Đạo này,  họ đă đánh chiếm mấy trăm nước tạo thành một Trung Quốc vĩ đại.

2. CHỦ ĐẠO CỦA VIỆT NAM.

Như trên đă tŕnh bày, với nguồn gốc lập quốc, người Việt có niềm tin ḿnh là con của Rồng, cháu của Tiên, cho nên người Việt có một sức bảo vệ Quốc Gia cực mạnh Truyền Thống. Sang Thế Kỷ Thứ 2 trước Tây Lịch lại thêm vào tinh thần của An Dương. Sang đầu Thế Kỷ Thứ Nhất, nổ ra cuộc khởi nghĩa của một Phụ Nữ và 162 anh hùng, trong đó có hơn trăm là Anh Thư. Cuộc khởi nghĩa đuổi ngoại xâm Trung Hoa, lập lên Triều Đại Lĩnh Nam.  Phụ nữ đó là Vua Trưng. Nối tiếp mỗi thời đại đều có tinh thần riêng, tạo thành niềm tin vững chắc. Tộc Việt đă chiến đấu không ngừng để chống lại cuộc Nam tiến liên miên trong hai ngh́n năm của người Hoa. Bất cứ thời gian nào, người Việt dù phân hóa đến đâu, nhưng khi bị ngoại xâm, họ lập tức ngồi lại với nhau để bảo vệ Quốc Gia.

Trong những lớp phế hưng của lịch sử Việt, hễ ai dựa theo Chủ Đạo Tộc Việt, đều thành công trong việc giữ được quyền cai trị dân. Gần đây nhất, người Việt bị các thế lực Quốc Tế, gây ra cuộc chiến tranh thương tàn khủng khiếp (1945-1975). Nhưng nay, Việt Nam đang trên đà phục hưng Chủ Đạo.

Trong thời gian 1954-1975, miền Bắc theo chế độ cộng sản, theo chủ thuyết quốc tế.  Nhưng họ biết khai thác cái Chủ Đạo của Việt Nam, họ huy động được tinh thần yêu nước của Dân Tộc, nên cuối cùng họ chiến thắng.

Cũng tiếc thay, nhưng người cầm quyền miền Nam từ 1963-1975, không biết khai thác ḷng yêu nước của Dân Tộc, lại chấp nhận cho quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh nhảy vào ṿng chiến, việc này có khác ǵ quỳ gối, trao ngọn cờ chính nghĩa cho miền Bắc? Tôi nghĩ những người lănh đạo như ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm, cho đến giờ này (1992) chưa từng biết ǵ về kho tàng ḷng yêu nước của người Việt, lại cũng chưa từng nghe, từng nói đến chữ Chủ Đạo Tộc Việt bao giờ.  

Trước họ, Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (1954-1963), v́ biết rơ Chủ Đạo Tộc Việt.  Ngài từ chối không cho Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam, mà đang là một Đồng Minh của Hoa Kỳ. Ngài đă trở thành kẻ thù của Hoa Kỳ, bị Hoa Kỳ giết hết sức thảm khốc.

III ĐI T̀M LẠI NGUỒN GỐC DÂN TỘC VIỆT.

Năm trước đồng nghiệp của tôi đă giảng cho các bạn sinh viên hiện diện các giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, bao gồm:

1.- Thuyết của Giáo Sư Léonard Aurousseau về cuộc di cư của người Ư-Việt hay Ngô-Việt sang Âu Lạc.

2.- Thuyết của Claude Madroll về cuộc di cư của người Mân-Việt sang Âu Lạc.

3.- Thuyết của Học Giả Đào Duy Anh, Hồ Hữu Tường về cuộc di cư do thời tiết của người Việt từ Bắc xuồng Nam.

Tất cả các thuyết này đều căn cứ vào những Thư Tịch Cổ Trung Quốc, Việt Nam. Mà những Thư Tịch này không có một biện chứng khoa học nào cả.

Cuối cùng các Giáo Sư đồng nghiệp đă nhận định rằng: Nhờ vào khoa khảo cổ, nhờ vào hệ thống khoa học DNA, từ nay không c̣n những giả thuyết về nguồn gốc Tộc Việt nữa,  mà chỉ c̣n lại công cuộc nghiên cứu của tôi, rồi kết luận:

Thoạt kỳ thủy, trên vùng đất thuộc lănh thổ Trung Quốc, Việt Nam hiện tại: Giống người đă từ Châu Phi đến bằng hai đường. Một là đường Nam Á, đến Đông Nam Á, ngược lên vùng Hoa Nam. Hai là từ Châu Phi, tới Âu Châu, rồi sang Bắc Trung Quốc. Cuối cùng cả hai giống người ḥa lẫn nhau trên lănh thổ Trung Quốc.

C̣n trong ṿng 5000 năm trước Tây Lịch cho đến nay, th́ Tộc Việt bao gồm trăm giống Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường Giang, Đông tới biển, Tây tới Tứ Xuyên,  Nam tới Vịnh Thái Lan. Người Việt từ Ngô-Việt di cư xuống phương Nam. Người Mân-Việt đi xuống Giao Chỉ. Người Việt di cư từ Nam sông Trường Giang tránh lạnh xuống Bắc Việt đều đúng. Đó là những cuộc di cư của Tộc Việt trong lănh thổ của họ, như cuộc di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, chứ không phải họ là người Trung Quốc di cư xuống Nam, lập ra nước Việt.

Chính v́ lư do dùng hệ thống ADN biết Tộc Hoa, Tộc Việt, nên tôi được mời đến đây đọc bài diễn văn khai mạc niên khóa này. Sau đây tôi tŕnh bày sơ lược về công tŕnh nghiên cứu đó. Tôi xin nhắc lại, tôi chỉ là một Bác Sĩ Y Khoa, cho nên những nghiên cứu của tôi đặt trên lư luận thực nghiệm, cùng lư luận y khoa, nó hơi khác với những ǵ mà các bạn đă học.  

Ghi chú của Tăng hồng Minh:

Sinh viên Vũ Thị Thu Dung hỏi:

Thưa Giáo Sư, chúng tôi có đọc một bộ sách của Nhà Văn B́nh Nguyên Lộc nói về nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam. Trong bộ sách đó, ông khẳng định rằng người Việt gốc Mă Lai. Xin Giáo Sư cho biết ư kiến?

Tôi chưa đọc bộ sách đó, vả có đọc tôi cũng không thể đem ra bàn luận ở đây.

Giáo Sư Viện Trưởng:

            Tôi xin bổ túc lời diễn giả. Ban Tu Thư của IFA sưu tầm tất cả những Thư Tịch nói về nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam. Trước sau có 34 người đă tŕnh bày. Nhưng chỉ những  tác giả sau đây được ghi vào Album nghiên cứu:

Edouard Chavannes trong bản dịch Bộ Sử Kư Tư Mă Thiên.

Leonard Aurousseau trong bài nghiên cứu ‘’La première Conquête chinoise des pays anamites’’ đăng trong tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ của chúng tôi tại Hà Nội (ư chỉ nước Pháp), kư hiệu BEFEO XXIII, 138-2à.

Claude Madrolle, trong bài Le Tonkin Ancien đăng trong BEFEO XXXVII 264-332.

Lê Chí Thiệp, trong Văn Hóa Nguyệt San (Việt Nam Cộng Ḥa) số tháng 3-4 năm 1959.

Đào Duy Anh, trong Nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam, được ông Hồ Hữu Tường cổ vơ  trong Bộ Tương Lai Văn Hóa Việt Nam.

Gần đây, Giáo Sư Nguyễn Khắc Ngữ trong Bộ Nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam, xuất bản băn 1985 ở Canada.

Một số các bài của Giáo Sư Lương Kim Định, Nguyễn Đăng Thục và Tiến sĩ Thái Văn Kiểm, Hội Viên Hàn Lâm Viện Hải Ngoại của Pháp Quốc.

Một số tác giả viết chỉ với mục đích khoa trương, lập dị, hoặc không có căn cứ, hoặc thiếu kiến thức, chúng tôi không ghi vào Thư Mục nghiên cứu, nên Giáo Sư Trần Đại Sỹ không tham khảo và dĩ nhiên không đem ra bàn ở đây:

Paul Francastel trong Origine du Việt Nam, France Asie xuất bản.

Nguyễn Phương trong Tiến tŕnh thành Dân Tộc Việt Nam, Tạp chí Đại Học Huế tháng 4 năm 1963.

B́nh Nguyên Lộc trong tác phẩm mà em đă đọc.

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong việc đi t́m nguồn gốc Tộc Việt, tôi đă dùng phương pháp y khoa nhiều nhất và phương pháp khoa học mới đây. Tôi đă được Giáo Sư Tarentino về khoa Anatomie của Ư và Giáo Sư sinh vật Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp đỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoảng 5000 trước Tây Lịch, lănh thổ Tộc Việt nằm ở phía Nam sông Trường Giang tới Vịnh Thái Lan. Phía Tây với Tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc, phía Đông tới biển Nam Hải. Nghĩa là bao gồm toàn bộ Hoa Nam và Đông Dương.

1.DÙNG BIỆN CHỪNG Y KHOA VÀ KHẢO CỔ

Biện chứng căn bản của người nghiên cứu y khoa là: Khi có chứng trạng, ắt có nguyên do. Biện chứng này đă giúp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc Tộc Việt. Khi nghiên cứu những tài liệu cổ dù là Huyền Thoại dù là Huyền Sử dù là Triết Học tôi cũng coi là chất liệu quan trọng.

Như tôi đă tŕnh bày, nước tôi có một Tôn Giáo, mà toàn dân đều theo đó là Thờ các Anh hùng Dân Tộc. Tại những Đền Thờ Chư vị Anh Hùng, thường có một cuốn phổ kể sự tích các Ngài. V́ theo thời gian, tiểu sử các Ngài bị dân chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những Học Giả đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ qua. Tôi lại suy nghĩ khác:

Không có nguyên do, sao có chứng trạng?

V́ vậy tôi đă t́m ra rất nhiều điều lư thú tỷ dụ: Bất cứ một Nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời Vua An Dương cũng cho rằng chuyện Thần Kim Quy cho Vua móng làm nỏ bắn một lúc hàng ngh́n mũi tên khiến Triệu Đà bị bại là hoang đường, là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lại tin và cuối cùng tôi t́n ra sự thật.  

(chú thích của cubi: Phân Khoa Khảo Cổ Trường Đại Học Hà Nội cùng một số Nhà Khảo Cổ của Trường Đại Học Hawaii và New Zeland đă t́m thấy những di chỉ của Triều Đại Vua An Dương Vương như Thành Cổ Loa,  các mũi tên đồng...trong cuộc khai quật vùng ṿng đai cách Hà Nội 15 km vào năm 1980)

Hồi ấy Cao Lănh Hầu Cao Nỗ đă chế ra nỏ liên châu, như súng liên thanh ngày nay. Tôi cũng t́m ra khích thước của ba mũi tên đồng của nỏ này. (4)

Trước tôi đă có các nhà khảo cổ căn cứ vào xương sọ t́m được tại Trung và Bắc Phần (70 cái). Trong đó có 38 cái do người Pháp sưu tầm thuộc Thời Đại Đồ Đá, th́ 29/38 cái được kết luận là thuộc Chủng Loại Malanésien, Indonésien, Australoide hay Nam Á. Với 29 cái th́ không thể kết luận rằng đó là toàn thể. Gần đây các Học Giả Việt Nam lại t́m ra 32 xương sọ, thuộc Thời Đại Đồ Sắt (1000 năm trước Tây Lịch), th́ 22/27 thuộc Chủng Loại Mongoide.  Với 32 cái th́ không thể kết luận rằng đó là toàn thể Tộc Việt thuộc Chủng Loại Mongoide.

Những tác giả trên đă căn cứ vào chỉ số xương sọ để kết luận. Nhưng y học đă tiến bộ,  căn cứ vào chỉ số xương sọ để định nguồn gốc đă bị đánh đổ. Nguyên do: Khi con người di cư đến vùng khác, bị khí hậu, bị nước uống, bị thực phẩm làm thay đổi xương sọ. Chúng tôi dùng hệ thống ADN, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những người đang sống của 35 ḍng họ tại Hoa Nam với Việt Nam, rồi với những ḍng họ khác tại Hoa Bắc. Lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cùng chúng tôi t́m ra sự khác biệt của những Tộc Hoa Nam, Việt Nam với những Tộc Hoa Bắc và đi đến kết luận: Lănh thổ Văn Lang, tới Hồ Động Đ́nh. (5)

Ghi chú của Tăng Hồng Minh.

Một Quan khách, Nữ Giáo Sư Khoa Thiên Văn Học tên Madeleine Chevalier hỏi:

ADN là ǵ? Tôi nghe nói, cũng như đọc trên báo hoài, mà không biết rơ chi tiết cái hệ thống này?

Trần Đại Sỹ:

            Tôi xin nhường lời cho Giáo Sư Vareilla Pascale Chuyên Khoa về vấn đề này trả lời.

Vareilla Pascale:

            Cám ơn Giáo Sư Trần Đại Sỹ đă cho tôi danh dự trả lời Giáo Sư Chevalier, ADN viết tắt của từ Acide désoxyribonuclé que, tiếng Anh là Deoxyribosenucleic acide, viết tắt là DNA.

            (Phần này khá dài, khoảng 20 trang A4, chúng tôi không dịch hết, v́ quá chuyên môn, chỉ dành cho sinh viên y khoa. Vả phần này Quư độc giả có thể t́m đọc trong bất cứ Bộ Tự Điển Encyclopédie của Pháp hay Anh, Mỹ nào.)

2. NHỮNG VẤN ĐỀ.

            Ranh giới phía Nam của nước Văn Lang tới nước Hồ Tôn đă quá rơ ràng. Ranh giới phía Tây với Ba Thục, phía Đông với biển lại tùy thuộc vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc quả tới Hồ Động Đ́nh, th́ ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba Thục và phía Đông phải giáp Đông Hải. Có thực như thế không?

            V́ vậy tôi đi t́m ranh giới phía Bắc. Dưới đây là Huyền Thoại, Huyền Sử mà tôi đă bấu víu vào để đi nghiên cứu. Tôi cần tra cứu cho ra:

            Vấn đề thứ nhất:

Cổ Sử Việt đều nói rằng ranh giới phía Bắc tới Hồ Động Đ́nh. Có thực như vậy không? Truyền thuyết nói Đế Minh lập đàn tế cáo trời đất, rồi chia thiên hạ làm hai. Từ Ngũ Lĩnh về Bắc cho Đế Nghi, sau thành Trung Quốc. Từ Ngũ Lĩnh về Nam truyền cho Vua Kinh Dương sau thành Văn Lang. Núi Ngũ Lĩnh, Hồ Động Đ́nh nay vẫn c̣n. Nhưng liệu có di tích ǵ chứng minh chăng? Tôi phải đi t́m Ngũ Lĩnh, Hồ Động Đ́nh.

Vấn đề thứ nh́:

Truyền thuyết nói: Sau khi Vua Kinh Dương, Vua Lạc Long kết hôn, đều lên núi Tam Sơn trên Hồ Động Đ́nh hưởng thanh phúc ba năm. Lúc Ngài lên núi có chín vạn hoa tầm xuân nở. Tôi phải đi t́m núi Tam Sơn ở Hồ Động Đ́nh. Liệu trên núi này có di tích ǵ về cuộc t́nh năm ngh́n năm trước chăng?

Vấn đề thứ ba:

Truyền sử nói: Sau khi Quốc Tổ Lạc Long, Quốc Mẫu Âu Cơ cho các Hoàng Tử đi bốn phương quy dân lập Ấp, dặn rằng: Mỗi năm về Tương Đài chầu Quốc Tổ, Quốc Mẫu một lần.

Cổ sử nói: Quốc Tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc Mẫu dẫn năm mươi con lên núi, hẹn mỗi năm một lần gặp nhau ở cánh đồng Tương.

Cánh đồng Tương ở đâu? Nếu có cánh đồng Tương th́ cũng có thể kết luận rằng biên giới nước Văn Lang tới Hồ Động Đ́nh. Tôi phải đi t́m.

Vấn đề thứ tư:

Chứng tích thứ nhất xác định: Bộ Sử Kư của Tư Mă, Nam Việt Liệt Truyện có thuật việc: Vua nước Nam Việt là Triệu Đà thường đem quân quấy nhiễu biên giới Việt-Hán là Nam Quận, Trường Sa (Mậu Ngọ 183 trước Tây lịch).

Như vậy biên giới Nam Việt (tức Việt Nam) với Hán (tức Trung Quốc) ở vùng này.  Ngày nay Trường Sa là Thủ Phủ của Tỉnh Hồ Nam, nằm ngay Nam ngạn sông Trường Giang.

Vấn đề thứ năm:

Huyền sử nói rằng: Trong cuộc khởi nghĩa của Vua Trưng. Khi Trưng Nhị, Trần Năng,  Phật Nguyệt, Lại Thế Cường, Trần Thiếu Lan đem quân đánh Trường Sa (39 sau Tây lịch), th́ Nữ Tướng Trần Thiếu Lan tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm Giang (sự thật đó là Tương Giang thông với Hồ Động Đ́nh). Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh Nam và Hán (42 sau Tây lịch). Tướng Lĩnh Nam Tổng Trấn Hồ Động Đ́nh là Phật Nguyệt, Tướng Hán là Mă Viện, Lưu Long (40 sau Tây lịch).

Có thực thế không? Có hai trận Trường Sa, Hồ Động Đ́nh không? Nếu có th́ ranh giới thời Lĩnh Nam (40-43 sau Tây lịch) quả tới Hồ Động Đ́nh.

Vấn đề thứ sáu:

Năm 42, sau Tây lịch, ba Tướng thống lĩnh Kỵ Binh thời Vua Trưng là Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống, Đào Tam Lang, đánh nhau với quân Hán tại Bồ Lăng thuộc Tượng Quận, v́ quân ít, thế cô ba ông tự tử. Vậy Bồ Lăng ở đâu? Có trận này không? Nếu có trận này th́ ranh giới Lĩnh Nam phía Tây quả tới Ba Thục (Tứ Xuyên).

Thưa Quư vị.

Nhưng các Sử Gia gần đây đều đặt nghi vấn rằng: Làm ǵ biên giới thời Văn Lang rộng như vậy? Nếu có chỉ ở vào phía Bắc biên giới Việt-Hoa  hiện nay trăm cây số là cùng.

Tôi căn cứ vào những chứng trạng trên mà đi t́m nguồn gốc.

V. ĐI T̀M BIÊN GIỚI NƯỚC VĂN  LANG.

1.Núi Ngũ lĩnh.

            Cuối năm Canh Thân (1980) tôi lấy máy bay đi Bắc Kinh, rồi đổi máy bay ở Bắc Kinh đi Trường Sa. Trường Sa là Thủ Phủ của Tỉnh Hồ Nam. Tất cả di tích của Tộc Việt như Hồ Động Đ́nh, núi Tam Sơn, núi Ngũ Lĩnh, sông Tương, Thiên Đài, Tương Đài, cánh đồng Tương đều nằm ở Tỉnh này.

            Tôi đi nghiên cứu với một thư giới thiệu của giới chức cao cấp y học Pháp-Hoa (CMFC). Có một sự hiểu lầm lớn, v́ trong thư giới thiệu các giới chức y khoa chỉ xin được giúp đỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xúc với sở du lịch, ty văn hóa địa phương, họ đều tưởng tôi tới Trường Sa để nghiên cứu sự cấu tạo h́nh thể cùng bệnh tật dân chúng tại đây. Thành ra tôi bị mất khá nhiều th́ giờ nghe thuyết tŕnh của các đồng nghiệp về vấn đề này. Tôi cư ngụ trong khách sạn Trường Sa Tân Điếm nằm trên đại lộ nhân dân. Tôi mua cuốn địa chí mới nhất của Tỉnh, rồi ṃ vào Thư viện ty văn hóa, sở bảo vệ cổ tích, Đại học văn khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên văn khoa cũng ít ai ghé mắt tới.

            Đầu tiên tôi đi t́m núi Ngũ Lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay đó là năm dăy núi gần như ngăn đôi Nam, Bắc Trung Quốc:

            Một là Đại Dữu Lĩnh.

            Hai là Quế Dương, Kỳ Điền Lĩnh.

            Ba là Cửu Chân Đô Lung Lĩnh.

            Bốn là Lâm Gia, Minh Chữ Lĩnh.

Năm là Thủy An, Việt Thành Lĩnh.

Về vị trí:

            Ngọn Thủy An, Việt Thành chạy từ Tỉnh Phúc Kiến, đến Huyện Tuần Mai Tỉnh Quảng Đông.

            Ngọn Đại Dữu chạy từ Huyện Đại Dữu (Nam An), Tỉnh Giang Tây đến Huyện Nam Hùng Tỉnh Quảng Đông.

            Ngọn Cửu Chân, Đô Lung chạy từ Đạo Huyện Tỉnh Hồ Nam tới Gia Huyện Tỉnh Quảng Tây.

            Ngọn Lâm Gia, Minh Chữ chạy từ Lâm Huyện Tỉnh Hồ Nam đến Liên Huyện Tỉnh Quảng Đông.

            Ngọn Quế Dương từ Toàn Huyện Tỉnh Hồ Nam tới Huyện Quế Lâm Tỉnh Quảng Tây.

            Lập tức tôi thuê xe đi một ṿng thăm các núi này. Tôi đi mất mười ngày, trải gần 15.000 cây số.

            Như vậy là núi Ngũ Lĩnh có thật, nay có núi đă đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra: Tại sao khi Vua Minh phân chia từ Ngũ Lĩnh về Nam thuộc Lộc Tục mà lănh địa Việt tới Hồ Động Đ́nh, mà Hồ ở phía Bắc núi đến mầy trăm cây số. Tôi giải đoán như thế này:

            Một là Vua Minh tế trời ở trên núi Ngũ Lĩnh là nơi người gặp tiên rồi chia địa giới.  Nhưng bây giờ dân chưa đông, mà sông Trường Giang rộng mênh mông, sóng lớn quanh năm nên Vua Nghi chỉ giữ từ Bắc ngạn mà thôi. C̣n Vua Kinh Dương th́ sinh trưởng ở vùng này,  lại nữa lấy con Vua Động Đ́nh (một Tiểu Quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc gia.

            Hai là dân chúng Nam ngạn Trường Giang với vùng Nam Ngũ Lĩnh vốn cùng một khí hậu, phong tục, nên họ theo về Nam không theo về Bắc, thành thử Hồ Động Đ́nh mới thuộc lănh địa Việt.

            Kết Luận:

Quả có núi Ngũ Lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung Quốc hiện thời, vậy có thể núi này đúng là nơi phân chia lănh thổ Văn Lang và Trung Quốc khi xưa. Ánh sáng đă soi vào nghi vấn huyền thoại.

2. THIÊN ĐÀI NƠI TẾ CÁO CỦA VUA MINH.

Tương truyền Vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quế Dương, phân chia lănh thổ Lĩnh Bắc tức Trung Quốc, Lĩnh Nam tức Đại Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên Đài. Nhưng dăy núi Quế Dương có mấy chục ngọn núi nhỏ không biết ngọn Thiên Đài là ngọn nào? Trên bản đồ không ghi. Sau tôi hỏi dân chúng th́ họ chỉ cho tôi thấy núi Thiên Đài nằm gần bên bờ Tương Giang.

Điều này dễ hiểu, tỷ như ngày nay, du khách nh́n bản đồ sẽ không thấy địa điểm Sài G̣n. Nhưng trong dân chúng, họ vẫn nhớ tên cũ.

Tôi đi thăm Thiên Đài. Thiên Đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tṛn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi Chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy Chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ tŕ. Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngói.

Lâu ngày Chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa,  gạch bị ṃn nhiều chỗ gần như lún sâu. Duy nền với cổng bằng đá là c̣n nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong ra. Bên trong cột kèo bằng gỗ đă nức nẻ khá nhiều. Những câu đối, chữ c̣n chữ mất.  

Tại Thư viện Hồ Nam tôi t́m được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Đầu đề ghi:

Thiên Đài Di Sự Lục

Trinh Quán Tiến Sĩ Chu Minh Văn soạn.

Trinh Quán là niên hiệu của Vua Đường Thái Tông, từ năm Đinh Hợi (627) đến Đinh Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ Tiến Sĩ năm nào?

Tuy sách do Chu Minh Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không c̣n. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh Văn soạn, phần chép tiếp theo Chu Minh Văn, của một Sư Ni tên Đàm Chi, không rơ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị tu tŕ từ khi lập Chùa tới thời Khang Hy (1662-1772). Chu Minh Văn là Tiến Sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loại văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ Thư, Ngũ Kinh cùng Kinh Phật.

Nhân viên Quản Thủ Thư Viện thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ được học loại văn đó vào hồi sáu, bảy tuổi th́ ông sẽ hết phục. Tài liệu Chu Minh Văn cũng nhắc lại việc Vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, v́ vậy đài cũng mang tên Thiên Đài núi cũng mang tên Thiên Đài Sơn, Minh Văn c̣n kể thêm:

Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên Đài thờ Vua Đế Minh, Vua Kinh Dương. Đến thời Đông Hán, một Tướng của Vua Bà tên Đào Hiểu Hiệu được lệnh rút khỏi Trường Sa. Khi rút tới Quế Dương ông cùng ngh́n quân lên Thiên Đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Đường để xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các Quan được sai sang đô hộ Lĩnh Nam mới cho xây Chùa tại đây.

Tôi biết Vua Bà là Vua Trưng, c̣n Tướng Đào Hiển Hiệu là em con chú của Bắc B́nh Vương Đào Kỳ. Ngài Đào Kỳ lĩnh chức Đại Tư Mă thời Vua Trưng. C̣n Tướng Đào Hiển Hiệu tước phong Quốc Công, giữ chức Hổ Nha Đại Tướng Quân. Nữ Tướng Hoàng Thiều Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi Trương Sa, Hồ Động Đ́nh, đă sai Đào Hiển Hiệu đi cản hậu, đóng nút chặn ở Thiên Đài, đợi quân Lĩnh Nam rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Đào Hiểu Hiệu cùng chư quân lên núi thấy di tích thờ Quốc Tổ, Quốc Mẫu, đă không chịu lui quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây.

Ngoài cổng chùa có hai câu đối:

Thoát thân Nam thành xưng sư tổ,

Thọ pháp Tây Thiên diễn Phật kinh.

Hai câu này ngụ ư ca tụng Thái Tử Tất Đạt Đa đang đêm ra khỏi Thành đi t́m lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây Thiên, đi giảng kinh.

Tam bảo linh ứng, phong điền vũ thuận

Phật công hiển hách quốc thái an dân.

            Hai câu này là ngụ ư nói:Tam bảo linh thiêng, khiến cho mưa thuận, gió ḥa đó là công lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an.

            Nơi có dấu vết Thiên Đài, c̣n đôi câu đối khắc vào đá:

Thiên Đài đại đại phân Nam, Bắc.

Lĩnh địa niên niên dữ Việt Thường.

Nghĩa là: Từ sau vụ Vua Minh tế cáo ở đây, Đài thành Thiên Đài, biết bao đời phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ Lĩnh năm này qua năm khác với gịng giống Việt Thường.

Chỗ Miếu thờ của Đào Hiển Hiệu có đôi câu đối:

Nhất kiếm Nam Hồ kinh Vũ Đế,

Thiên đao Bắc Lĩnh trấn Lưu Long.

Nghĩa là: Một thanh kiếm đánh trận ở phía Nam Hồ Động Đ́nh làm kinh tâm Quang Vũ Nhà Hán. Ư chỉ Nữ Tướng Phật Nguyệt đánh bại Mă Viện ở phía Nam Hồ Động Đ́nh. Một ngh́n tay đao do Đào Hiển Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ Lĩnh trấn Lưu Long.

Kết luận: Như vậy việc Vua Minh tế cáo trời đất là có thật. V́ có Thiên Đài nên thời Lĩnh Nam mới có trận Hồ Động Đ́nh. Hai sự kiện đó chứng tỏ lănh địa thời Vua Trưng cũng như Văn Lang xưa quả tới Ngũ Lĩnh, Hồ Động Đ́nh.

 

3.- CÁNH ĐỒNG TƯƠNG

Nhắc lại: Có hai huyền sử nói về cánh đồng Tương:

Một là Quốc Tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc Mẫu dẫn năm mươi con lên núi,  mỗi năm tái hội nhau trên cánh đồng Tương một lần.

Hai là Quốc Tổ, Quốc Mẫu truyền các Hoàng Tử đi khắp bốn phương quy dân lập Ấp,  mỗi năm hội tại cánh đồng Tương một lần.

Tôi đoán:

Cả hai vị Quốc Tổ Kinh Dương, Lạc Long sau khi kết hôn đều đem Quốc Mẫu lên núi Tam Sơn trên Hồ Động Đ́nh hưởng thanh phúc ba năm. Vậy th́ cánh đồng Tương sẽ gần đâu đó trên Hồ Động Đ́nh.

Phía Nam Hồ Động Đ́nh là sông Tương Giang, chảy theo hướng Nam-Bắc dài 811km,  lưu vực tới 92.500km2 chẻ đôi Tỉnh Hồ Nam với Quảng Tây. Vậy cánh đồng Tương sẽ nằm trong lưu vực Tương Giang.

Tôi thuê thuyền đi từ cảng Dương Lâm nơi xuất phát ra Tương Giang là Hồ Động Đ́nh, xuống Nam, qua Tương Âm, tôi dừng lại, nghiên cứu địa thế cùng thăm Chùa Bạch Mă.  Đây là địa phận Quận Ích Dương.

Vô t́nh tôi t́m ra một nhánh sông Âu Giang và một cái Hồ rất lớn, vào mùa nước lớn rộng tới 4-5 mẫu, vào mùa nước cạn chỉ c̣n 2-3 mẫu mà thôi. Suốt lộ tŕnh từ Hồ Động Đ́nh trở xuống, trên cửa sông Tương cũng như hai bên bờ chim Âu bay lượn khắp nơi. Đặc biệt trên Âu Giang, Âu Hồ, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu Giang, tôi trở lại sông Tương, xuôi tới Trường Sa Thủ Phủ của Hồ Nam rồi tới các Quận Lỵ Tương Đàm, Chu Châu, Hành Dương,  Quế Dương.

Không khó nhọc tôi t́m ra:

Cánh đồng Tương, tức là vùng trũng phía Tây ngạn, giới hạn phía Bắc là Hồ Động Đ́nh, Nguyên Giang. Phía Nam là Linh Lăng, Hành Giang. Phía Tây là vùng Chiêu Dương Lănh Thủy. Nhưng nay cánh đồng Tương chỉ c̣n khu vực tứ giác: Tương Giang, Nguyên Giang Liên Thủy, Thạch Khê Thủy.

Sau khi t́m ra cánh đồng Tương, Thiên Đài, cùng những đàn chim âu, tôi giải đoán như thế này:

Quốc Tổ Lạc Long kết hôn với Công Chúa con Đế Lai, hẳn Công Chúa cũng có tên.  Nhưng v́ lâu ngày người ta không nhớ được tên Ngài, nên đă lấy tên con chim âu, rất hiền ḥa sinh đẹp ở Vùng Hồ Động Đ́nh, Tương Giang mà gọi là Âu Cơ (Cơ là vợ Vua). V́ người gọi Quốc Mẫu là Âu Cơ, th́ nghĩ ngay đến Quốc Mẫu sinh đẻ. Khi chim âu đẻ th́ phải đẻ ra trứng. C̣n con số một trăm là con số triết học Việt-Hoa dùng để chỉ tất cả. Như trăm bệnh là tất cả các bệnh, trăm họ là toàn dân. Trăm con có nghĩa là tất cả dân trong nước đều là con Quốc Mẫu.

Kết luận:

Đă có cánh đồng Tương, th́ chuyện Quốc Tổ, Quốc Mẫu hẹn mỗi năm hội tại đây một lần là có. Khi sự kiện có núi Ngũ Lĩnh, có Thiên Đài. Nay chứng cớ được kiểm điểm, th́ lănh địa của Tộc Việt xưa quả tới Hồ Động Đ́nh.

4. HỒ ĐỘNG Đ̀NH VÀ TAM SƠN

Hồ Động Đ́nh nằm ở phía Nam sông Trường Giang. Hồ được coi như nơi phát tích ra Tộc Việt. Địa khu Bắc sông Trường Giang được gọi là Tỉnh Hồ Bắc, tức đất Kinh Châu thuở xưa Địa khu phía Nam sông Trường Giang được gọi là Tỉnh Hồ Nam. Hồ Động Đ́nh nằm trong Tỉnh Hồ Nam. Hồ thông với sông Trường Giang bằng hai con sông.

Cho nên người ta coi Hồ như nơi chứa nước sông Trường Giang, rồi đổ vào Tương Giang. Trên Bắc ngạn Hồ có núi Tam Sơn.

Tôi đă lên đây ba lần. Tương truyền các Nữ Tướng thời Vua Trưng như Trưng Nhị,  Trần Năng, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Trần Thiếu Lan đánh chiếm Trường Sa vào ngày đầu năm, v́ vậy tôi cũng tới đây vào dịp này để thấy rơ phong cảnh, rồi tả trận đánh trong Bộ Cẩm Khê Di Hận (6). Hồ rộng 3915 cây số vuông, độ sâu về mùa cạn là 38,5 mét, về mùa nước lớn là 39,20 mét. Tra trong chính sử th́ quả Hồ Động Đ́nh thuộc lănh địa Văn Lang. Như trên đă nói, Triều Đại Thần Nông Bắc đến đời Vua Du Vơng th́ mất vào năm 2696 trước Tây Lịch, chuyển sang thời đại Hoàng Đế. Sử gia Trung Quốc cho rằng Hoàng Đế là Tổ Lập Quốc. Nói theo triết học Tây phương th́ Vua Du Vơng gốc từ Thần Nông thuộc nông nghiệp cư ngụ trong vùng đồng bằng ở phương Nam lấy hỏa làm biểu hiệu nên c̣n gọi là Viêm Đế. C̣n Vua Hoàng Đế gốc ở dân du mục, săn bắn từ phương Bắc xuống. Dân du mục nghèo, nhưng giỏi chinh chiến. Dân nông nghiệp giàu nhưng không giỏi vơ bị nên bị thua. Bộ Sử Kư của Tư Mă Thiên, Quyển 1, Ngũ Đế Bản Kỷ chép rằng:

....Thời Vua Hoàng Đế, Họ Thần Nông (Bắc) đă suy, chư hầu chém giết lẫn nhau, khiến trăm họ khốn khổ vô cùng. Triều Thần Nông không đủ khả năng chinh phục. Vua Hiên Vương Hoàng Đế thao luyện can qua, chinh phục những chư hầu hung ác. V́ vậy các nơi theo về rất đông. Trong các chư hầu th́ Suy Vưu mạnh nhất.  

Vua Du Vơng Triều Thần Nông định đem quân xâm lăng chư hầu, nhưng chư hầu chỉ tuân lệnh Hoàng Đế. Vua Hoàng Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh mă, vỗ về trăm họ, giúp đỡ bốn phương, luyện tập thú dữ rồi đại chiến với Vua Du Vơng ở Bản Tuyền, thành công.

Suy Vưu làm loạn, không tuân đế hiệu. Hoàng Đế triệu tập chư hầu cùng Suy Vưu đại chiến ở Trác Lộc, bắt sống Suy Vưu. Chư hầu tôn Ngài làm Thiên Tử thay họ Thần Nông.  Trong thiên hạ nơi nào không thuận Vua Hoàng Đế đem quân chính phục. Lănh thổ của Hoàng Đế, Đông tới biển, vùng núi Hoành Sơn, Đại Tông. Phía Tây tới núi Không Động,  Kê Đầu. Nam tới Giang, Hùng, Tương... (7) Sông Giang đây tức là Trường Giang, Hùng đây tức là Hùng Nhĩ Sơn, Tương là Tương Sơn. Bùi Nhân đời Tống lập giải Sử Kư nói rằng Tương Sơn thuộc Trường Sa.

Kết luận:

            Từ chính sử, huyền sử đều cho biết lănh địa Văn Lang tới Hồ Động Đ́nh. Khi Vua Hoàng Đế dứt Triều Thần Nông Bắc, th́ Triều Thần Nông Nam tức Họ Hồng Bàng c̣n kéo dài đến 2439 năm nữa. Lănh thổ Trung Quốc thời Hoàng Đế cũng chỉ tới sông Trường Giang. Phía Nam bao gồm Trường Sa, Hồ Động Đ́nh vẫn thuộc Văn Lang.

Khi chính sử ghi chép như vậy th́ việc Quốc Tổ, Quốc Mẫu với Hồ Động Đ́nh, núi Tam Sơn không c̣n là huyền thoại nữa. Vậy chuyện các ngài lên núi hưởng thanh phúc nên ghi vào chính sử.

5. BIÊN GIỚI LĂNH ĐỊA TỘC VIỆT  THẾ KỶ 2 TRƯỚC TÂY LỊCH

Sử Hán là Bộ Sử Kư của Tư Mă Thiên, Sử Việt như Bộ Đại Việt Sử Kư Toàn Thư,  Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, đều ghi rằng vào thế kỷ thứ nh́ trước Tây lịch,  thời Triệu Đà cai trị lănh địa Tộc Việt, biên giới vẫn c̣n ở vùng Trường Sa, Hồ Động Đ́nh.

Sử Hán, Sử Việt đều chép chi tiết giống nhau về vụ Triệu Đà lập quốc ở lănh thổ Lĩnh Nam. Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư mang quân sang đánh Âu Lạc, chiếm được vùng đất phía Bắc, lập ra ba Quận:

Nam Hải (Quảng Đông và một phần Phúc Kiến).

Quế Lâm (Quảng Tây, Hồ Nam và một phần Quí Châu).

Tượng Quận (Vân Nam và một phần Quư Châu).

Vua An Dương sai Trung Tín Hầu Vũ Bảo Trung và Cao Cảnh Hầu Cao Nỗ đem quân chống, giết được Đồ Thư và tiêu diệt nửa triệu quân Tần. Tuy vậy Vua An Dương cũng không chiếm lại vùng đất đă mất.

Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên Quan Tần là Triệu Đà trấn vùng Nam Hải, đem quân chiếm vùng Tượng Quận Quế Lâm, rồi dùng gián  điệp trong vụ án Mỵ Châu-Trọng Thủy mà chiếm được Âu Lạc lập ra nước Nam Việt. Lănh thổ nước Nam Việt bao gồm những vùng nào? Không một Sử Gia nào chép rơ ràng. Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng lănh địa Nam Việt là lănh địa thời Văn Lang.

Trong khi Triệu Đà lập nghiệp ở phương Nam, th́ cuộc chiến ở phương Bắc chấm dứt.  Hạng Vũ, Lưu Bang diệt Tần, rồi Lưu Bang thắng Hạng Vũ lập ra Nhà Hán. Lưu Bang lên ngôi Vua sai Lục Giả sang phong chức tước cho Triệu Đà. Đúng ra Triệu Đà cũng không chịu thần phục Nhà Hán, nhưng họ hàng thân thuộc, mồ mả của Triệu Đà đều ở vùng Chân Định. Đà sợ Nhà Hán tru diệt họ hàng, cùng đào mồ cuốc mả tổ tiên lên mà phải lùi bước.

Năm 183 trước Tây Lịch, Cao Tổ Nhà Hán là Lưu Bang chết, Lă Hậu chuyên quyền cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam Việt. Triệu Đà không thần phục Nhà Hán, rồi đem quân đánh Trường Sa, Nam Quận.

Kết luận:

            Trường Sa là Quận biên cương của Hán. Vậy ít nhất lănh thổ Nam Việt, Bắc tới Trường Sa. Nam Quận là Quận ở phía Bắc sông Trường Giang. Mà Nam Quận là Quận biên cương Hán, th́ biên giới Nam Việt ít nhất tới Nam ngạn sông Trường Giang.

6. LĂNH ĐỊA THỜI VUA TRƯNG

6.1. Vua Bà của Trung Quốc là Vua Trưng.

Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn Ủy Ban Y  Học Pháp Hoa (CMFC) đi trao đổi tại các Tỉnh cực Nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quư Châu,  Tứ Xuyên...tôi thấy khắp các Tỉnh này, không ít th́ nhiều đều có Đạo Thờ Vua Bà. Nhưng tôi không t́m được tiểu sử Vua Bà ra sao.

Ngay những cán bộ Trung Quốc ở địa phương, họ luôn đề cao Vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ Vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp năm Tỉnh, tôi ghi chú được hơn trăm Đền, Miếu thờ những Tướng lĩnh thời Vua Bà.

Bấy giờ tôi lại t́m thấy ở Hồ Nam, nhiều di tích về Đạo thờ Vua Bà hơn. Tại Thư viện bảo tồn di tích cổ, tôi t́m thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào Thế Kỷ Thứ Tám chép sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt như sau:

Ngày xưa, Ngọc Hoàng Thượng Đế ngự trên Điện Linh Tiêu, có hai Công Chúa đứng hầu. V́ sơ ư hai Công Chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc Hoàng Thượng Đế nổi giận đầy hai Công Chúa xuống hạ giới. Hai Công Chúa đi đầu thai được mấy ngày th́ Tiên giữ sổ tiên giới lại tấu rằng có 162 Tiên đầu thai xuồng theo hai Công Chúa. Ngọc Hoàng Thượng Đế sợ Công Chúa làm loạn ở hạ giới, Ngài mới truyền Thanh Y Đồng Tử đầu thai để theo dẹp loạn. Thanh Y Đồng Tử sợ địch không lại hai Công Chúa, có ư ngần ngừ không dám đi. Ngọc Hoàng Thượng Đế truyền Nhị Thập Bát Tú đầu thai theo.

Thanh Y Đồng Tử sau là Vua Quang Vũ Nhà Hán, Nhị Thập Bát Tú đấu thai thành hai mươi tám vị Văn Thần Vơ Tướng đời Đông Hán.

C̣n hai Công Chúa đầu thai xuống Quận Giao Chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Đặng Thi Sách.

Thi Sách làm phản, bị Thái Thú Tô Định giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu Quận của Trung Quốc ở phía Nam sông Trường Giang: Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ, Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải. Chư Tướng tôn Trưng Trắc lên làm Vua, thường gọi là Vua Bà.

Quang Vũ Nhà Hán sai Phục Ba Tướng Quân Tư Hầu Mă Viện. Long Nhượng Tướng Quân Thận Hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai Nữ Tướng Phật Nguyệt Tổng Trấn Hồ Động Đ́nh. Mă Viện, Lưu Long bị bại. Vua Quang Vũ truyền Nhị Thập Bát Tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ Vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga Mi, một tay nhổ núi Thái Sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường Giang, Hồ Động Đ́nh, oan khí bốc lên tới trời.

Ngọc Hoàng Thượng Đế sai Thiên binh, Tiên tướng trợ chiến cũng bị bại. Ngài phải sai Thần Du Liệt sang Tây phương cầu cứu Phật Như Lai. Đức Phật sai mười tám vị Kim Cương, ba ngàn La Hán trợ chiến cũng bị bại. Cuối cùng Ngài truyền Quan Thế Âm Bồ Tát tham chiến. Nữ Vương Phật Nguyệt với Quan Âm đấu phép ba ngày ba đêm bất phân thắng bại. Sau Quan Thế Âm thuyết pháp Nữ Vương Phật Nguyệt giác ngộ bỏ đi tu.

Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng hai câu đối:

            Tích trù Động Đ́nh uy trấn Hán,

            Phương lưu thanh sử sức phù Trưng.

Nghĩa Là: Một trận Động Đ́nh uy trấn Hán. Tên c̣n trong sử sức phù Trưng.

Như thế tôi đă t́m ra được: Đạo thờ Vua Bà tại năm Tỉnh Nam Trung Quốc là di tích của ḷng tôn kính thờ Anh Hùng Dân Tộc của Tộc Việt trên lănh thổ cũ của người Việt c̣n sót lại. Vua Bà mà người Trung Hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là Vua Trưng.

Kết luận:

Khi đă có Nữ Tướng Phật Nguyệt đánh trận Trường Sa, Hồ Động Đ́nh. Mà có trận Hồ Động Đ́nh th́ lănh thổ thời Lĩnh Nam, phía Bắc quả tới phía Nam sông Trường Giang.

6.2. Quả có Trận Trường Sa, Hồ Động Đ́nh năm 39 sau Tây Lịch

Huyền sử nói rằng: Khi Bà Trưng Nhị cùng các Tướng Trần Năng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu Lan, Lại Thế Cường đánh Trường Sa vào đầu năm Kỷ Hợi (39 sau Tây lịch). Trong trận đánh này, Nữ Tướng Trần Thiếu Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh sông Thẩm Giang (8). Thẩm Giang chính là đoạn sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với Hồ Động Đ́nh.

Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng: Các Sứ Thần Triều Lư, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ vật đến cúng Miếu thờ Bà Trần Thiếu Lan. Năm 1980 tôi đến đây t́m hiểu. Không khó nhọc tôi t́m ra trong cuốn Địa phương chí, do sở du lịch Trường Sa cấp,  một đoạn chép:

Miếu thờ Liệt Nữ Trần Thiếu Lan ở đầu sông Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Tượng đồng bị nấu ra. Vệ binh đỏ phá luôn cả bia đá.

Tôi t́m tới nơi, th́ miếu chỉ c̣n lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn  c̣n. (9).

Kết luận:

Thời Lĩnh Nam quả có việc Trưng Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Trần Thiếu Lan, Lại Thế Cường đánh trận Trường Sa. Trong trận, Nữ Tướng Trần Thiếu Lan Tuẫn Quốc. Khi có trận đánh này, th́ lănh địa thời Lĩnh Nam quả gồm có Hồ Trường Sa, Hồ Động Đ́nh.

6.3. Quả có trận Bồ Lăng, năm 42 sau Tây  lịch.

Huyền Sử kể rằng: Ba Tướng họ Đào là Chiêu Hiển, Đô Thống và Tam Lang được Vua Trưng trao cho trấn tại Tượng Quận (Vân Nam). Nhưng v́ quân ít, thế cô ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá chỉ huy. Ba ông đă tự vận. Hiện tại Đền thờ của ba ông có đôi câu đối:

            Tượng Quận dương uy nhiêu Tướng lược,

            Bồ Lăng tuẫn tiết tận thần trung.

Nghĩa là: Trận Tượng Quận dương oai, rơ tài Tướng giỏi. Bến Bồ Lăng Tuẫn Tiết, tỏ ra Thần Trung.

Hầu hết các Sử Gia đều cho rằng: Bồ Lăng tức là Bến Bồ Đề, ngoại ô Thăng Long. Vả lại lănh thổ Việt Nam hồi đó đâu có rộng vậy?

Tôi không tin lư luận này. Tôi quyết có trận Tượng Quận. V́ sao? V́ Ba Ngài chiến đấu tại Tượng Quận, khi Tượng Quận thất thủ. Tuẫn Tiết th́ Tuẫn Tiết tại chỗ, có đâu rút từ Tượng Quận về tới Long Biên (Hà Nội) trải mấy ngh́n cây số, rồi mới tự tử? Vả cái tên Bến Bồ Đề mới xuất hiện vào năm 1427-1428 khi Vua Lê Thái Tổ vây Đông Đô (Thăng Long).

V́ vậy, trong dịp Hè năm 1982, tôi cầm đầu Phái đoàn CMFC sang Vân Nam, Trung Quốc, để nghiên cứu về một giống trà có khả năng trị tuyệt chứng Cholestérol, Triglycéride. .. Lợi dụng dịp này, tôi quyết t́m cho ra sự thực.

Ghi chú của Tăng Hồng Minh:

Phái Đoàn gồm:

Trưởng Đoàn: Bác Sĩ Trần Đại Sỹ.

Thành Viên: Bác Sĩ Pascale Vareilla (Biologie), Claude Tarentino (Anatomie),  Antonio Fernandes (Cardiologie) .

Các Dược Sĩ : Valérie Cordinante, Jean Marie Limager.

Kỹ Sư Canh Nông: Antoine Reynaukt và một diễn viên điện ảnh Hương Cảng.

Trong chương tŕnh Phái Đoàn chỉ công tác tại các vùng thuộc Vân Nam như: Chiêu Dương, Đông Xuyên, Khâu Bắc, Nguyên Dương, Bảo Sơn, Điền Bắc, Côn Minh, rồi dùng phi cơ từ Côn Minh trở về Paris. Nhưng khi tới Đông Xuyên, Giáo Sư Trần Đại Sỹ t́m ra dấu vết cuộc chiến giữa quân Vua Trưng và quân Hán, mà không rơ ràng cho lắm. Ông dẫn Phái Đoàn trở lại Côn Minh, sau khi thảo luận với Giáo Sư Sử Học Đoàn Dương của Đại Học Văn Sử, được Giáo Sư Đoàn cho biết:

Trong truyền thuyết dân gian nói rằng hồi đầu Thế Kỷ Thứ Nhất có trận đánh giữa quân Vua Bà với quân Hán tại Bồ Lăng.

Nay Bồ Lăng nằm trên lănh thổ Tứ Xuyên, chỗ ngă ba sông Trường Giang và Ô Giang. Thế là Giáo Sư Trần Đại Sỹ đề nghị Phái Đoàn dùng đường thủy về Hồ Nam, sau đó đáp phi cơ từ Hồ Nam ra Hương Cảng, rồi đi Paris.

Trên đường từ Độ Khẩu (Vân Nam) đi Hồ Nam, sẽ qua...Bồ Lăng. Được đi chơi, dĩ nhiên Phái Đoàn mừng không sao tả siết!!!. Dĩ nhiên túi tiền của CMFC vơi đi dăm ba chục ngh́n Dolla nữa để chi cho Phái Đoàn.

Theo tôi với số tiền ấy, kết quả t́m được Tây Biên của Lĩnh Nam, cũng rẻ chán. Thế nhưng khi trở về Paris vụ này đồn đại ra ngoài mà một Bác Sĩ Việt Nam tên Trần L. (từng là Bộ Trưởng Y Tế hồi Việt Nam Cộng Ḥa), viết thư cho Ông Bộ Trưởng Văn Hóa Pháp, tố cáo Giáo Sư Trần Đại Sỹ lợi dụng chức vụ Trưởng Đoàn Công Tác Y Khoa, để t́m di tích cổ sử viết sách. Ông Bộ Trưởng trả lời đại ư:

Bác Sĩ Trần Đại Sĩ không dùng một xu nào của chính phủ Pháp, nên Bộ không có thẩm quyền.

Cuối thư Ông Bộ Trưởng hạ một câu:

Ví dù Bác Sĩ Trần Đại Sỹ có lợi dụng chức vụ, có dùng tiền của Bộ Văn Hóa, mà t́m tư liệu làm giầu cho Thư Viện Pháp th́ là điều đáng khuyến khích. Hơn nữa tài liệu đó làm lợi cho Việt Nam, Ông (Trần L.) phải vui mừng mới phải chứ !!!

Tăng Hồng Minh tôi là người Việt gốc Hoa, tôi xin tiết lộ một chi tiết này, để các vị độc giả Việt Nam suy nghĩ!!!

Thế là Phái Đoàn dùng tầu đi từ Độ Khẩu theo Kim Sa Giang (Trường Giang) qua Nam Khê, Giang Tân, Trùng Khánh, tới ngă ba sông Ô Giang, Trường Giang th́ cặp Bến Bồ Lăng. Tại đây tôi được sở du lịch chỉ cho xem Miếu thờ ba vị Thần, Tướng của Vua Bà. Nhưng họ không biết tên Vua Bà cùng ba vị Tướng. Cả vùng này có Đạo thờ Vua Bà (lên đồng). Hồi trước 1949 rất thịnh.

Sau cách mạng văn hóa (1965-1967) Miếu được cấp cho dân chúng ở. Hỏi hướng dẫn viên du lịch về Vua Bà, họ chỉ cho biết Vua Bà là người nổi lên chống tham quan thời Hán. Tôi đến thăm Miếu. Miếu khá lớn, chủ hộ ở trong miếu trước đây là cán bộ văn hóa Bồ Lăng.

Trước Miếu có đôi câu đối. Ông chủ hộ khoe rằng để bảo tồn di tích văn hóa, hằng năm ông phải mua sơn tô chữ cho khỏi mất:

            Khẳng khái, phù Trưng, thời bất lợi,

            Đoạn trường, trục Định, tiết...can vân.

Nghĩa là: Khẳng khái phù Vua Trưng, ngặt thời của Ngài không lâu. Đuổi được Tô Định, nhưng đau ḷng thay, phải tự vận, khí tiết ngút từng mây.

Tôi xin vào trong Miếu xem, th́ bệ thờ nay là nơi vợ chồng ông nằm ngủ. Hai bên bệ cũng có đôi câu đối.

            Giang Thượng tam anh phù nữ chúa,

Bồ Lăng Bách Tộc khốc Thần Trung.

            Nghĩa là: Trên sông Trường Giang, ba vị Anh Hùng pḥ tá Nữ Chúa. Tại Bến Bồ Lăng,  trăm họ khóc cho các  vị Thần trung thành.

            Ông chủ hộ th́ cho rằng Bách Tộc là toàn dân Trung Quốc. Tôi giảng cho ông nghe về sự tích trăm con của Quốc Tổ, Quốc Mẫu. V́ vậy chữ Bách Tộc đây để chỉ người Việt. Ông thích lắm.

            Kết luận:

Như vậy th́ quả có trận Tượng Quận. Mà có trận Tượng Quận th́ biên giới Lĩnh Nam hồi ấy giáp Ba Thục, tức Tứ Xuyên ngày nay.

7.NGHIÊN CỨU NHỮNG KHAI QUẬT

            Vào những năm 1964-1965, Giáo Sư Luật Khoa Vũ Văn Mẫu đang soạn thảo tài liệu về cổ luật Việt Nam. Người giúp Giáo Sư Mẫu đọc sách cổ là Hoàng Triều Tiến Sĩ Nguyễn Sỹ Giác. Cụ Giác tuy thông Kinh Điển, Thư Tịch cổ, nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng phương pháp phân tích, tổng hợp Tây phương. Cụ giới thiệu tôi với Giáo Sư Mẫu. Tôi đă giúp Giáo Sư Mẫu đọc, soạn các Thư Tịch liên quan đến cổ luật. Chính v́ vậy tập tài liệu ‘’Cổ Luật Việt Nam và Tư Pháp Sử’’ có chương mở đầu ‘’Liên hệ giữa nguồn gốc Dân Tộc và Cổ luật Việt Nam’’ (10)

            Bấy giờ tôi c̣n trẻ, không đủ tài liệu khai quật của Trung Quốc, của Bắc Việt Nam và bấy giờ những lư thuyết về AND chưa có hệ thống, nên có nhiều chi tiết sai lầm. Hôm nay đây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng Triều Tiến Sĩ Nguyễn Sỹ Giác, anh linh Giáo Sư Vũ Văn Mẫu. Tôi xin lỗi các vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các sinh viên về những sai lầm đó.

            Triều Đại Hồng Bàng thành lập từ năm 2879 năm trước Tây Lịch, tương đương với Thời Đại Đồ Đá Mài (le néolithique), tức cuối Thời Đại Văn Hóa Bắc Sơn (11). Trong những khai quật về Thời Đại này tại Bắc Việt, Đông Vân Nam, Quảng Đông, Hồ Nam, người ta đều t́m được những chiếc ŕu thiết diện h́nh trái soan, trong khi tại Nhật, Bắc Trường Giang chỉ t́m được loại ŕu thiết diện h́nh chữ nhật, chứng tỏ vào thời đó có một thứ Văn Hóa Tộc Việt giống nhau.

            Sang Thời Đại Văn Hóa Đông Sơn (12) hay Đồ Đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đă t́m được trống đồng Đông Sơn trên bờ sông Mă Tỉnh Thanh Hóa.

            Sự thật trống đồng đă t́m thấy ở toàn bộ các Tỉnh Nam Trường Giang như Hồ Nam,  Quư Châu, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Nam Dương, Lào (13), Bắc và Trung Việt.  Nhưng ở Nam Dương, Lào rất ít. Nhiều nhất ở Bắc Việt, rồi tới Vân Nam, Lưỡng Quảng. Phân tích thành phần gần như giống nhau. Đồng 53%. Thiếc 15-16%. Ch́ 17-19%. Sắt 4%. Một ít vàng bạc.

            Khảo về y phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ, qua các Thời Đại cho đến hết Thế Kỷ Thứ Nhất sau Tây lịch, tôi thấy trong các vùng Nam Trường Giang cho đến Trung Bắc Việt cùng Lào, Thái đều giống nhau. Bây giờ dùng hệ thống ADN kiểm những bộ xương, kiểm máu người sống chúng tôi đă biết được sự khác biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc.

            Kết luận:

            Tộc Việt quả có lănh địa Bắc tới Hồ Động Đ́nh, Tây tới Tứ Xuyên như cổ sử nói.

8. TỔNG KẾT

            Sáu vấn đề tôi nêu ra ở trên, rồi đi t́m, tất cả đều c̣n đấy đủ di tích. Như vậy: Biên giới cổ của Việt Nam, với các Triều Đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam phía Bắc quả tới Hồ Động Đ́nh, phía Tây giáp Tứ Xuyên.

V.KẾT LUẬN

            Thưa Quư vị.

            Quư vị đă cùng tôi đi vào những chi tiết từ huyền thoại, huyền sử, cổ sử, cùng triết học, cho tới tin học, y học để t́m về nguồn gốc Dân Tộc Việt Nam, về biên giới cổ của Tộc Việt.

            Trong chính sử Trung Quốc, Việt Nam đều ghi rơ ràng nguồn gốc Tộc Việt, nhưng cái nguồn gốc đó căn cứ vào Cổ Thư của người Trung Hoa, nên hoàn toàn sai lạc. Bởi Cổ Thư cho rằng người Trung Hoa tự sinh ra, rằng người Việt chẳng qua do những người Trung Hoa di chuyển xuống lưu ngụ. Sự thực nhờ hệ thống ADN, chúng ta biết rằng chính những người ở Châu Phi đến Đông Nam Á trước, rồi di chuyển lên Hoa Nam. Tại Hoa Nam giống người này lại hợp với giống người từ Châu Phi sang Châu Âu, rồi từ Châu Âu vào Trung Á, hợp với người Hoa Nam mà thành Tộc Hán.

            Nhưng ngược lại, do Cổ Thư Trung, Việt hay do ADN, chúng ta cũng biết rất rơ biên cương nước Việt thời lập quốc.

            Hồi thơ ấu, tôi sống bên cạnh những Nhà Nho, chỉ đọc sách chữ Hán của người Hoa,  người Việt viết. Mà những sách này đều chép rằng Tộc Việt gồm có Trăm Họ khác nhau,  mang tên Bách Việt. Những tên Âu Việt, Lạc Việt, Đông Việt, Nam Việt, Việt Thường đều thuộc Bách Việt cả. Cái tên Trăm Họ hay Trăm Việt (Bách Việt) phát xuất từ huyền thoại Vua Lạc Long sinh ra trăm con. Trăm có nghĩa là toàn thể, tất cả chứ không hoàn toàn là con số như ta tưởng ngày nay (14).

            Các Vị Cổ Học, học Cổ Sử, rồi coi lănh địa Tộc Việt bao gồm phía Nam sông Trường Giang lấy mốc là Hồ Động Đ́nh với sông Tương, núi Ngũ Lĩnh là đương nhiên. Chính hồi nhỏ khi học tại Trường Pháp, vào thời kỳ 13-14 tuổi, tôi chỉ được học vài trang ngắn ngủi về nguồn gốc Tộc Việt, trong khi đó gia đ́nh cho tôi đọc mấy Bộ Sử dài hàng mấy chục ngh́n trang của Hoa, của Việt (Nếu dịch sang chữ Việt số trang gấp bốn, sang Pháp, Anh văn số trang gấp năm sáu). Chính tôi cũng nh́n nguồn gốc Tộc Việt, lănh thổ Tộc Việt tương tự như các Nhà cổ học. Nay tôi mới chứng minh được.

            Phải chờ đến khi tôi ra Trường (1964). Bấy giờ Giáo Sư Vũ Văn Mẫu Thạc Sĩ Luật Khoa nhờ Hoàng Triều Tiến Sĩ Nguyễn Sỹ Giác sưu tầm tài liệu Cổ Luật. Cụ Giác học theo lối cổ, không biết những phương pháp quy nạp, tổng hợp nên giới thiệu Giáo Sư Mẫu với tôi.  Ngay từ lần đầu gặp nhau, mà một già một trẻ đă có hai cái nh́n khác biệt. Giáo Sư Mẫu trên 50 tuổi mà lại có cái nh́n rất trẻ, tôi mới có 25 tuổi lại có cái nh́n rất già về nguồn gốc Tộc Việt. Qua cuộc trao đổi sơ khởi, bấy giờ tôi mới biết có rất nhiều truyền thuyết nói về nguồn gốc Dân Tộc Việt, mà các tác giả thiếu cái học sâu xa về cổ học Hoa-Việt đưa ra. V́ vậy tôi đă sưu tầm tất cả những ǵ trong Thư Tịch cổ, giúp Giáo Sư Mẫu đem viết thành tài liệu giảng dạy. Nhưng sự sưu tầm đó không đầy đủ, v́ chỉ căn cứ trên Thư Tịch cổ. Nay tôi mới biết có quá nhiều sai lầm, tôi xin lỗi các đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi Quư vị.

            Hồi bấy giờ tôi sống ở Sài G̣n, thuộc Việt Nam Cộng Ḥa đang là nước chống cộng,  nên tôi không thể sang Trung Quốc, cũng như về Bắc t́m kiếm thêm tài liệu. Phải chờ đến năm 1976 làm việc cho CMFC, hàng năm dẫn các đồng nghiệp sang Trung Quốc nghiên cứu, trao đổi y học, tôi mới có dịp t́m kiếm lại di tích xưa trong Thư viện, trong Bảo tàng viện, trên bia đá cùng Miếu mạo, Đền Chùa và nhất là đến tại chỗ nghiên cứu. Gần đây nhờ các đồng nghiệp dùng hệ thống ADN, tôi mới biết được nguồn gốc Tộc Việt, biên cương thời lập quốc của Tộc Việt.  

Hôm nay tôi xin kết luận với các bạn rằng:

            Người Trung Hoa không phải là con trời như những văn gia cổ của họ viết, dù ngày nay họ c̣n nghĩ như vậy.

Họ cũng không tự sinh ra, rồi tản đi Tứ phương.

Không hề có việc người Trung Hoa trốn lạnh hay v́ lư do chính trị di cư xuống vùng đất hoang, tạo thành nước Việt. Trong lịch sử quả có một số người Trung Hoa di cư sang Việt Nam sau những biến cố chính trị. Như ngày nay người Việt di cư đi sống khắp thế giới.

Lại càng không có việc người Việt gốc từ ḍng giống Mă Lai như một vài người ngố ngếch đưa ra.  

Theo sự nghiên cứu bằng hệ thống ADN, từ cổ, giống ngươi Trung Hoa, do giống người từ Đông Nam Á đi lên. Những người Đông Nam Á lại đến từ Châu Phi qua ngă Nam Á vào thời gian hơn 20.000 năm trước.

Người Phi Châu đến Bắc Trung Hoa do ngă Âu Châu rồi vào Trung Á, khoảng 15.000 năm. Rồi hai giống người này tạo thành Tộc Hoa.

Tộc Việt sống rải rác từ phía Nam sông Trường Giang, xuống măi Vịnh Thái Lan.

Biên giới nước Việt thủa lập quốc gồm từ Nam sông Trường Giang đến Vịnh Thái Lan, Đông tới biển. Tây tới Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày nay.

Đến đây tôi xin phép các vị Giáo Sư, Quư Khách, các Sinh Viên cho tôi ngừng lời. Xin hẹn lại Quư Vị đến tháng 11.1992 tôi sẽ tŕnh bày trước Quư Vị về nguồn gốc Triết Việt.

Trân trọng kính chào Quư Vị.

Giáo Sư Trần Đại Sỹ

Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ.

Chú Giải của Tăng Hồng Minh:

1.- Tiêu biểu mới nhất là một nhóm thức giả do Nhà văn Vương Kỳ Sơn đứng chủ biên, đă xuất bản cuốn Việt Nam Đệ Ngũ Thiên Niên Kỷ vào năm 1994 tại Hoa Kỳ.

2.- Sau này được tôn Thụy Hiệu là Lục Dương.

3.- Như vậy Vua Lạc Long lấy con gái của anh con bác.

4.- Độc giả có thể t́m đọc tài liệu nghiên cứu này bạt Quyển 1.Anh Hùng Lĩnh Nam do Nam Á Paris xuất bản 1987 mang tên ‘’Bản Phụ Chú Nghiên Cứu Về Nỏ Thần’’.

5.- Phương pháp mà các Giáo Sư Tarentino, Vareilla Pascale dùng để biện biệt những bộ xương khai quật trong cổ mộ vùng Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Châu, Quư Châu không khác các chuyên viên Hoa Kỳ trong Ủy Ban t́m kiếm Tử Sĩ Hoa Kỳ tại Việt Nam đă sử dụng. Có điều, các chuyên viên Hoa Kỳ gặp nhiều khó khăn hơn, v́ phải đi vào chi tiết từng cá nhân, c̣n IFA chỉ phân Chủng Loại.

6.- Xin xem Cẩm Khê Di Hận do Nam Á Paris xuất bản 1992, để biết hai trận Hồ Động Đ́nh. Một trận do Chu Tái Kênh, Đinh Xuân Hoa, Phật Nguyệt, Đinh Bạch Nương,  Đinh Tĩnh Nương, Quách Lăng đánh với Lưu Long, Mă Viện. Một trận do Hoàng Thiều Hoa cùng với các Tướng trên đánh với mười hai Đại Tướng quân Hán.

7.- Tư Mă Thiên, Sử Kư, Quyển 1, Ngũ Đế Bản Kỷ, Trung Hoa Thư Cục xuất bản 1959 trang 3-6.

8.- Độc giả muốn biết chi tiết trận đánh lịch sử này, xin đọc Động Đ́nh Hồ Ngoại Sử,  cùng tác giả, do Nam Á Paris xuất bản 1990.

9.- Xin đọc ‘’Mùa Xuân Trên Hồ Động Đ́nh tưởng nhớ Trưng Vương’’ trong phần bạt Anh Hùng Lĩnh Nam, do Nam Á xuất bản 1987.

10.- Vũ Văn Mẫu, Cổ Luật Việt Nam và Tư Pháp Sử, Quyển thứ nhất, tập thứ 1, trang 9-51.

11.- Chữ văn hóa Bắc Sơn ở đây chỉ có nghĩa rằng cuộc khai quật ở núi Bắc Sơn (Lạng Sơn), đă t́m thấy những cổ vật đồ đá. (Thời Kỳ Đồ Đá)

12.- Chữ văn hóa Đông Sơn chỉ cuộc khai quật ở Đông Sơn, đă t́m thấy đồ đồng. (Thời Đồ Đồng).

13.- Hè 1992 sau khi cùng Phái Đoàn IFA du khảo về loại cây trị cholestérol ở Vân Nam, thời gian c̣n lại, Giáo Sư Trần Đại Sỹ đi khảo cứu xương người cùng các khai quật ở Vân Nam, Quảng Đông Trung Quốc, các Tỉnh Bắc Thái như Nùng Khai, Thanon, U Bon, U Don Tha Nị Giáo Sư Trần Đại Sỹ đă t́m lại được hai trống đồng thời Vua Trưng, ở Quảng Đông, để trong bảo tàng viện địa phương. Ông đă mất rất nhiều tiền, cùng trăm ngàn khó khăn mới mua và đưa về Paris.

14.- Chữ trăm trong ngôn ngữ Việt có nhiều nghĩa. Có nghĩa là đời người như: Trăm năm trong cơi người ta. Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau (Kiều). Trăm năm xe sợi chỉ hồng. Bắt người tài sắc buộc trong khung trời. Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng. Hễ ai có bạc tôi bồng trên tay. (ca dao). Có nghĩa là Chết: Khi nào cụ tôi trăm năm đi rồi. Nhân sinh bách tuế vi kỳ (Người ta sinh ra lấy trăm năm làm hẹn) Trăm năm như cơi trời chung, Có nghề cũng phải có công mới thành. (ca dao). Có nghĩa là tất cả: Trăm họ, hay trăm bệnh, Trăm hoa đua nở mùa xuân, Cớ sao cúc lại muộn buồn thế kia? Trăm dâu đổ đấu tằm. Trăm con trong huyền sử Việt hay Bách Việt có nghĩa này.

Tài liệu nghiên cứu chính:

SÁCH CHỮ  HÁN

Tư Mă Thiên, Sử Kư, Trung Hoa Thư Cục Thượng Hải xuất bản 1959.

Ban Cố, Tiền Hán Thư, Trung Hoa Thư Cục xuất bản 1959.

Phạm Việp, Hậu Hán Thư, Trung Hoa Thư Cục xuất bản 1959.

Hoài Nam Tử, Quyển 18, Trung Hoa Thư Cục Đài Bắc xuất bản 1920.

Cố Dă Vương, Địa Dư Chí, Cẩm Chương Thư Cục, xuất bản 1920.

Trần Luân Quưnh, Hải Quốc Kiến Văn Lục, Cổ Bản, Thư Viện Paris.

Lê Quư Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, Cổ Bản của Thư Viện Paris.

Lê Quư Đôn, Đại Việt Thông Sử, Cổ Bản của Thư Viện Paris.

Phan Huy Ích, Lịch Triều Biến Chương Loại Chí, Cổ Bản của Thư Viện Paris.

Quốc Sử Quán, Hoàng Việt Địa Dư Chí, bản của Thư Viện Paris.

Quốc Sử Quán, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản của Thư Viện Paris.

Địa Đồ Xuất Bản Xă, Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc Phân Tỉnh Địa Đồ Tập,  Bắc Kinh 1974.

Đại Học Văn Khoa Hồ Nam, Hồ Nam Lịch Đại Khảo Chứng 1980.

Cùng rất nhiều tài liệu không tác giả, lưu trữ tại Thư Viện, Bảo Tàng Viện Hồ Nam,  Quư Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam.

SÁCH CHỮ PHÁP

Léonard Aurouseau. La première conquête chinoise des pays anamites, BEFEO XXIII.

Claude Madrolle, Le Tonkin Ancien, BEFEO,  XXXVII.

SÁCH CHỮ VIỆT

Đào Duy Anh, Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam, Hải Ngoại 1946.

 

 

 

 

 

BANG GIAO VIỆT-HOA KHÔNG NGƯNG SỐNG GIÓ

BÀI HỌC QUÂN SỰ NĂM 1979 LƯ DO VÀ HẬU QUẢ

LÂM LỄ TRINH

            Để bao vây Trung Cộng và làm suy yếu thế lực của Hoa Kỳ tại Á Châu, tháng 6.1969 Leonid Brezhev đề nghị với các quốc gia, từ Trung Đông đến Nhật Bổn, h́nh thành một tổ chức an ninh chung bảo vệ ḥa b́nh và an lạc trong khu vực. Riêng ở Đông Dương, chủ đích của Nga là hất ảnh hưởng Mỹ và Tàu ra khỏi Bán Đảo, kiểm soát Vịnh Cam Ranh và các Hải Cảng chiến lược, hỗ trợ các đảng và thể chế Max, đồng thời đặt các nước Đông Dương trong ṿng lệ thuộc Điện Cẩm Linh bằng cách viện trợ quân sự và kinh tế. Kế hoạch này thành công. Việt Nam là trường hợp điển h́nh. Lê Duẫn đă trở nên con gà ṇi của Mạc Tư Khoa. Sau ngày ‘’giải phóng Sài G̣n’’, Liên sô tăng số cố vấn tại Lào từ 100 lên 500, giúp 500 triệu mỹ kim cho ngân sách Việt Nam tài khóa 1976 và 3 tỷ đô la cho kế hoạch ngũ niên 1976-1980 của Hà Nội. Bắc Kinh trong lúc đó, chỉ viện trợ tượng trưng 200 triệu, báo tin không cấp ngân khoảng mới cho 1977 và ngày 27.9.1976, tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, Ngoại Trưởng Kiều quán Hoa một mặt tố Nga trám khoảng trống ở Á Châu và mặt khác, cảnh cáo các thành viên Đông Á đừng bao giờ ‘’đón cọp vào ngă sau trong khi đuổi chó sói ra cửa trước’’ Với ước mong được thu nhập vào COMECON, Hội đồng tài trợ kinh tế hỗ tương cộng sản, Hà Nội theo sát con đường Sô Viết chống Tàu. Khi đảng cộng sản Việt Nam nhóm Đại hội lần thứ 4 tại Hà Nội cuối năm 1976, dưới sự giám sát của lư thuyết gia Mikhail A. Suslov Trưởng phái đoàn Sô Viết, th́ đa số ủy viên trong chính trị bộ đă nối đuôi Lê Duẫn thần phục Mạc Tư Khoa: Vơ nguyên Giáp, Trần quốc Hoàn, Văn tiến Dũng, Nguyễn văn Linh, Tố Hữu, Đỗ Mười. Những phần tử như Lê đức Thọ, Nguyễn duy Trinh,  trước kia đứng giữa, nếu không nói là thiên Bắc Kinh, đều chuyển hướng, Hoàng văn Hoan bị khai trừ, trốn sang Tàu và lănh án tử h́nh khiến diện. Một số không ít như Phạm văn Đồng, Phạm Hùng, Lê thanh Nghị, Vơ chí Công và Chu huy Mân phải đổi phía để sống c̣n. Ngay cả Trường Chinh cũng tỏ ra ôn ḥa hơn.

            Cuối năm 1977, sau khi tham khảo ư kiến Trung Cộng, Cam Bốt đoạn giao với Việt Nam. Đầu năm 1979, số Cố vấn và Chuyên viên Sô Viết tại Việt Nam tăng từ 5.000 lên 8.000. Nhiều diễn biến dồn dập xảy ra, khiến cho Bắc Kinh và Hà Nội không tránh được đụng độ trực tiếp.

LƯ DO ĐỤNG ĐỘ VIỆT-HOA.

1- Liên Sô sử dụng Vịnh Cam Ranh và kư Hiệp ước thân hữu với Việt Nam.

            Tháng 6.1978, không khí căng thẳng khi Phó Thủ Tướng Đặng tiểu B́nh báo tin hủy bỏ viện trợ cho Việt Nam, phản đối việc trục xuất 110.000 người Việt gốc Hoa và công bố Trung Cộng đă giúp cho cộng sản Việt Nam hơn 20 tỷ mỹ kim từ 1950 đến 1978. Hà Nội liền tố ngược các lănh tụ Tàu là phản động. Hai quốc gia cộng sản Albania và Lào cũng hùa theo chỉ trích Bắc Kinh. Đồng thời, Phạm văn Đồng lên tiếng xin b́nh thường hóa bang giao với Hoa Kỳ. Mười hôm sau, giới truyền thông rầm rộ tung tin Liên Sô được phép lập căn cứ quân sự tại Cam Ranh và Đà Nẵng. Phần thưởng của sự nhân nhượng này là Mạc Tư Khoa bật đèn xanh cho Hà Nội xúc tiến thực hiện và điều khiển ‘’liên bang đông dương’’.  

            Ngày 3.11.1978, Nga và Việt kư hiệp ước thân hữu và hợp tác, trong đó điều 6 đặc biệt ghi rằng đôi bên sẽ áp dụng ‘’các biện pháp thích nghi và hữu hiệu để bảo vệ ḥa b́nh và an ninh’’ nếu một trong hai nước bị đe dọa hay tấn công. Trong dịp viếng Thái Lan, Đặng tiểu Binh sỉ vả Việt Nam là ‘’Cuba của phương Đông’’, bắt tay với đế quốc để xây mộng bá chủ và đe dọa Thái B́nh Dương và Thế Giới.

2- Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt Tại Hội nghị Geneve 1954, Chu Ân Lai thuyết phục Phạm văn Đồng cho rút quân khỏi Cam Bốt và công bố tôn trọng chủ quyền nước này.

            Năm 1958, Bắc Kinh và Nam Vang trao đổi Sứ Thần và kư hiệp ước hữu nghị và bất xâm phạm. Tháng 11.1963, sau khi đảo chánh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, Sihanouk yêu cầu các Cơ quan Mỹ rời xứ Chùa Tháp và Trung Cộng cảnh cáo Hoa Kỳ không được xâm nhập đồng minh nhược tiểu này. Tháng 3.1970, Tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk. Một tháng sau, các Dân Tộc Đông Dương nhóm thượng đỉnh tại Guangzhou gồm có Bắc Việt, Pathet Lào và Khờ me đỏ (lúc đó c̣n liên kết với Sihanouk). Khờ me đỏ nhận viện trợ của Bắc Kinh và tuy không tin Hà Nội, vẫn liên tục cấp nơi ẩn nấp cho các lực lượng việt cộng mỗi khi chúng bị Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa đẩy lui. V́ lư do lịch sử, địa dư và chiến thuật, Cam Bốt đă từng là chư hầu của Việt Nam. Miên luôn luôn lo sợ bị nuốt trửng ngay trong những năm cộng tác thân thiện với Hà Nội (1970-1975). Sau tháng 4 năm 1975, Khờ me đỏ hoàn toàn trông cậy vào sự che chở của Trung Cộng. Tháng 9 năm 1975, Chu ân Lai sắp xếp cho Sihanouk trở về Nam Vang ‘’để đuổi Bắc Việt ra khỏi xứ’’ nhưng ê kíp Pon Pot, Ieng Sary và Khiêu Samphan nhất quyết đốt giai đoạn biến Cam Bốt đầu hôm sớm mai thành một ‘’nước Xă Hội Chủ Nghĩa vẹn toàn’’, bất chấp lời khuyên của Chu. Những biện pháp quá khích được đem ra thi hành gấp làm cho xứ Chùa Tháp hỗn loạn. Tháng Chạp 1976, khi Phái đoàn chuyên viên Tàu của Fang Yi sang giúp Miên th́ đă quá chậm, quần chúng kiệt sức, thợ thuyền, công chức và trí thức bị tiêu diệt, quân đội tan ră, gần 4000 lính miên (do việt cộng huấn luyện năm 1976) bị tẩy trừ. Từ năm 1975 cho đến 1978, chính phủ Khờ me đỏ đ̣i bộ đội Việt rời xứ nhưng các đơn vị này chỉ di tản về biên giới và tại đây, hai bên nhiều lần đụng độ đẫm máu.

Theo sự tiết lộ của Hoàng Tùng, Tổng biên tập báo nhân dân và Ủy viên chính trị bộ Bắc Bộ Phủ đă có ư đồ chiếm Cam Bốt từ năm 1970-1972. Cuối năm 1976,  Đại hội 4 đảng Lao Động nhóm để đổi tên thành đảng cộng sản Việt Nam và chấp nhận đề án của Lê Duẫn xúc tiến việc thiết lập Liên bang đông dương bằng cách thuyết phục và nếu cần dùng áp lực quân sự buộc Miên Lào gia nhập. Tháng 2.1978, Ủy ban trung ương quyết nghị xóa chế độ Pol Pot qua 4 giai đoạn: Tố cáo đường lối khát máu của Khờ me đỏ và tấn công, Bắc Kinh viện trợ Nam Vang xúi dân Miên nổi loạn và tận dụng lá bài Sô Viết. Ngày 7.1.1979, với sự đồng ư và hỗ trợ vũ khí của Mạc Tư Khoa, 100.000 quân việt tràn ngập Cao Miên và toàn thắng sau hai tuần lễ. Trung Cộng không can thiệp để tránh lún vào vũng lầy chiến tranh như Hoa Kỳ. Tuy nhiên Đặng tiểu B́nh cảnh cáo rằng trong tương lai, Bắc Kinh sẽ ‘’lấy quyết định ngoài ư muốn v́ ḥa b́nh’’. Theo tạp chí tàu cộng Geng biao, 1.500 Hoa kiều bị kẹt lại ở Cam Bốt và phần đông đă gia nhập hàng ngũ Khờ me đỏ để chống Việt Nam. Ngày 8.1.1979, Hội đồng nhân dân cách mạng, do bù nh́n Heng Samrin cầm đầu được Hà Nội công nhận. Chánh quyền Thái thận trọng đứng ngoài. Lời kêu cứu của Sihanouk với Liên Hiệp Quốc rơi vào sa mạc. Pol Pot rút vào rừng để kháng chiến. Ngày 18.2.1979, Miên và Việt kư hiệp ước thân hữu và hợp tác có giá trị 25 năm, công khai hóa việc quân đội việt cộng chiếm đóng Cộng Ḥa Nhân Dân Cam Bốt và đặt chính thức xứ này dưới chiếc dù quân sự Hà Nội. Trước đó hai năm, ngày 18.7.1977. Lào và việt cộng đă kư một hiệp ước hữu nghị tương tợ. Liên bang đông dương thực hiện xong, bằng vơ lực.

3- Tranh chấp Việt-Hoa về lănh thổ .

Từ lâu, ba khu vực là đề tài căi giữa Việt Nam và Trung Cộng:

a) Một biên giới chung dài trên 797 cây số, được thực dân Pháp và Trung Hoa ấn định năm 1887 trong một thỏa ước và bổ túc năm 1895. Cuối thập niên 70, cả Hoa và Việt khiếu nại lẫn nhau về vị trí của 300 cột trụ phân ranh.

b) Vịnh Bắc Việt, c̣n gọi là Seibu Gulf, Bắc Bộ Gulf hay Gulf of Tonkin. Hai thỏa ước vừa kể không nói rơ lằn ranh thuộc phần kiểm soát của mỗi nước. Tháng 10 năm 1977, cuộc hội nghị tại Bắc Kinh không giải quyết được dứt khoát vấn đề.  

c) Gây cấn nhất là chuyện giành hai nhóm Quần Đảo Hoàng Sa (Paracels/Xisha) và Trường Sa (Spratlies/Ninsha) . Khu vực này hệ trọng cho cả Trung Cộng và Việt Nam về chiến thuật và dầu khí, Hoàng Sa và Trường Sa cùng với một số Đảo lân cận khác như Pratas Reef và Macclesfield là những trạm thông thương giữa Thái B́nh Dương và Ấn Độ Dương. Bởi thế Phi Luật Tân, Đài Loan, Nam Dương, Nhật. Brunei v.v...cũng đ̣i chia phần, Mỹ và Nga theo sát vấn đề Nga nắm thế thượng phong v́ kiểm soát được Vladivostok, Cam Ranh và Đà Nẵng. Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh công bố chủ quyền trên Trường Sa và Hoàng Sa. Mười hôm sau, Thủ Tướng Phạm văn Đồng gởi Công văn cho Chu ân Lai xác nhận chính phủ việt cộng đồng ư. Năm 1977, Đồng nói trớ lại rằng công văn này vô hiệu v́ kư trong thời chiến. Từ năm 1974 cho đến 16.2.1979, theo renmin ribao số ra ngày 14.5.1979 và bản ghi chép ‘’SRV Memorandum’’ đề ngày 16.3.1979, có tất cả 3535 vụ xô xát Việt-Hoa tại biên giới (trong sổ sách Trung Cộng) và 4333 vụ (chiếu theo tài liệu của việt cộng).

4- Hà Nội trục xuất Hoa kiều làm cho t́nh h́nh căng thẳng tột độ.

            Đa số Hoa kiều tại Việt Nam di cư từ hai Tỉnh Quảng Đông và Phước Kiến, sau trận giặc nha phiến (1840-1842). Họ cần cù làm ăn, sống đoàn kết và không tham gia chánh trị. Tại Nam Việt, trước 1975 hơn phân nửa tổng số 1.300.000 người Hoa ủng hộ Chính Phủ Quốc Gia. Sau Tết Mậu Thân 1968, từ 70 đến 80% không có thiện cảm với cộng sản. Chỉ một số ít hoạt động cho Hà Nội. Trước 1975, năm người Việt gốc Hoa được bầu vào Hạ Viện. Tại Chợ Lớn, người Hoa tổ chức thành năm Bang: Quảng Đông, Phước Kiến, Triều Châu, Hẹ và Hakka, mỗi Bang được đại diện một Bang Trưởng chọn theo lối đầu phiếu. Họ có một Pḥng Thương Mại, một Bịnh Viện đặt tên Chung Cheng, một số trường học và báo chí. Tháng 8.1956 Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm ban hành Sắc Lệnh buộc Hoa kiều bỏ Quốc tịch Tàu và nhập tịch Việt Nam nếu muốn tiếp tục hành nghề. Tháng 4.1957, thẻ lư lịch ngoại quốc bị coi như vô giá trị. Sau 30.4.1975, Hà Nội áp dụng một loạt cải cách kinh tế và xă hội để bần cùng hóa dân Nam. Hoa kiều bị thiệt hại nặng v́ có của. Chiến dịch đánh giới trung lưu mại chính compradores (1975), các quyết định liên tiếp quốc hữu hóa công kỹ nghệ và thương mại, nhiều lần đổi tiền bất chợt (1975 và 1978), việc đưa dân Bắc ào ạt định cư trong Nam v.v...làm cho thiểu số này nhanh chóng kiệt quệ. Đầu năm 1977, Việt Hoa căng thẳng. Chính quyền Hà Nội đuổi người Tàu sống tại các Tỉnh biên giới về Trung Cộng. Tháng 5.1978, trong ṿng 13 hôm, con số này vượt lên 57.000 không kể 320.000 người bị đẩy đi vùng kinh tế mới và 50.000 bị tịch thu tài sản. Nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa c̣n công bố cho phép ra đi vĩnh viễn những ai mang chiếu khán Hồng Kông, Đài Loan hay Pháp. Ngày 29 tháng 6, Việt Nam chính thức gia nhập COMECON, Bắc Kinh liền cúp viện trợ hoàn toàn, hồi hương 880 chuyên viên và đóng cửa Sứ quán. Hà Nội ra lệnh cho Ṭa tổng lănh sự Tàu ngưng hoạt động tại Thành phố Hồ chí Minh. Ba Lănh sự quán Việt ở Nam Ninh, Côn Minh và Quảng Đông cũng phải rút lui. Từ tháng 9.1978, trong tạp chí cộng sản và tờ quân đội nhân dân, nhà cầm quyền Việt Nam bắt đầu kêu gọi dân chúng sẵn sàng chống lại ‘’chủ nghĩa bành trướng của nước lớn và ư đồ bá quyền của bọn Hán phong kiến’’. Liên hệ Việt-Hoa ‘’môi hở răng lạnh’’ tan thành mây khói. Câu nói của Hồ ‘’Việt và Hoa vừa là bạn, vừa là anh em’’ chua cay hơn lúc nào hết.

ĐẶNG TIỂU B̀NH CHUẨN BỊ CHIẾN TRANH

            Chu ân Lai qua đời đầu năm 1976 và Mao trạch Đông, chín tháng sau. Nội t́nh Trung Cộng xáo trộn v́ ba sự kiện hệ trọng:

1. Chiến dịch sôi nổi chống nhóm Tứ quái của Jiang Qing, vợ Mao đầu năo xách động cách mạng văn hóa.

            2. Việc thi hành chậm trễ kế hoạch bốn hiện đại hóa do Chu đề xướng để canh tân kỹ nghệ, canh nông, quốc pḥng và khoa học.

            3. Sự tranh quyền ráo riết giữa Đặng tiểu B́nh và Tổng bí thư Hoa quốc Phong, lănh tụ của ‘’phe bất cứ ǵ’’ (bất cứ ǵ Chủ Tịch Mao nói và làm đều đúng cả)

            Cuối năm 1978, sau hai lần bị khai trừ, Đặng phục hồi quyền lực, nắm đa số trong chính trị bộ và ủy ban trung ương đảng cộng sản, giữ chức Tổng tư lệnh quân đội, thi hành chính sách của Chu và xét lại đường lối Mao. Đặng bắt tay nghiên cứu cách giải quyết khủng hoảng với láng giềng Việt Nam. Trung Cộng cảm thấy bị đe dọa trong quyền lợi và thách đố bởi một nước đàn em hung hăng, phản bội và tự hào là nước mạnh quân sự thứ ba trên địa cầu.

            Theo Giáo Sư Irving Janis và Leon Mann, Đặng tiểu B́nh hành động thực tế và thận trọng qua 3 giai đoạn. Trước hết, thu thập đầy đủ dữ kiện bên ngoài (chiến lược toàn cầu của nước Tàu, chiến lược Đông Dương của Việt Nam, sự nhúng tay của Liên Sô, vấn đề Cam Bốt,  tranh chấp biên giới, Hoa kiều tại Việt Nam, yếu tố Hoa Kỳ, dư luận thế giới) và dữ kiện bên trong như, lợi ích và các giá trị của Trung Cộng, phản ứng tâm lư quần chúng trong nước, khả năng của quân đội Tàu, ảnh hưởng chiến tranh đối với mức phát triển kinh tế quốc gia v.v... Thứ nữa, tham khảo ư kiến và đạt được sự đồng thuận của các cơ cấu trong đảng cộng sản,  chính trị bộ, ủy ban trung ương và quân ủy hội. Sau hết hành động để giữ vững quyết định đến cùng.

Hà Nội kư hiệp ước hữu nghị với Liên Sô và cưỡng chiếm Nam Vang là hành động khiêu khích thêm, buộc Bắc Kinh phải trả đũa. Ngày 15.12.1978, Hoa Kỳ công nhận Trung Cộng. Đặng tiểu B́nh liền bay qua Hoa Thịnh Đốn hội kiến với Tổng Thống Carter, báo tin riêng sẽ tấn công Việt Nam và trấn an Mỹ rằng nhà cầm quyền nước ông biết tự chế. Ngày 1.1.1979, hai nước bang giao chính thức. Đặng cũng viếng Nhật và một số quốc gia Đông Á để ḍ xét phản ứng. Tất cả đều lo ngại về ư đồ tương lai của việt cộng, đồng minh của Mạc Tư Khoa. Trở về Bắc Kinh, Đặng điều chỉnh kế hoạch. Thay v́ gởi quân qua Cam Bốt giúp Khờ me đỏ và để tránh mang tiếng với thế giới là ‘’mưu đồ bành trướng’’, Trung Cộng quyết đánh thẳng vào Việt Nam dưới h́nh thức ‘’phản công tự vệ’’, không dùng hải lục không quân, trong một thời gian giới hạn và chỉ nhắm vào vùng biên giới. Đặng muốn dạy cho nhóm lănh tụ tại Bắc bộ phủ ‘’một bài học quân sự đích đáng’’ Mục tiêu thật của ‘’sự trừng phạt’’ là ǵ? Tiêu hủy vài sư đoàn, căn cứ chiến lược hay chiếm một giăi đất biên pḥng của đối phương? Đặng không cho biết thâm ư. Dù sao, theo Học Giả King C. Chen,  ‘’chiến tranh trừng phạt, The Punitive War’’ tượng trưng cho chính sách đối ngoại của Bắc Kinh tại Á Châu từ năm 1949. Hành quân năm 1979 chống Việt Nam được chuẩn bị chu đáo như cuộc đụng độ Hoa-Ấn năm 1962 và không hấp tấp như trường hợp Trung Cộng tham chiến ở Triều Tiên hay vụ Nga Sô can thiệp ở Tiệp Khắc và Hung Gia Lợi.

BÀI HỌC QUÂN SỰ 1979.

            Năm 1938, Mao giải thích như sau quan điểm của Lê nin về chiến tranh:

‘’Khi chính trị mở rộng đến mức không c̣n tiến tới được bằng đường lối thông thường th́ chiến tranh bùng nổ để san bằng các trở ngại gặp phải’’

Lê nin từng viết:

‘’Chiến tranh chỉ là chính trị nối tiếp bằng những phương tiện khác’’.

Câu này dựa vào ư kiến của Karl Von Clausewitz:

‘’Chiến tranh không phải là hành vi đơn giản của chính sách mà là một lợi khí chính trị đích thực, một sự tiếp tục của hoạt động chính trị với phương thức khác’’.

Cuộc chiến để sát phạt Việt Nam, dù núp dưới danh xưng phản công tự vệ, được khởi xướng đúng theo chủ trương trên đây. Các lănh tụ Trung Cộng đă cân nhắc quyết định của họ hai năm (1977-1979), với hy vọng b́nh thường hóa bằng vơ lực mối bang giao Hoa-Việt.  Muốn thành đạt, chiến tranh nhân dân cần hội một số điều kiện, đảng và quân thống nhất, quần chúng hỗ trợ, đất nước hậu tiến, vũ khí quy ước, kỹ thuật lạc hậu, ngoại xâm đe dọa và đấu tranh trường kỳ.

Trước tháng 2.1979. Trung Cộng có 3.600.000 quân nhân tại ngũ và 175 sư đoàn tại vùng chiến thuật. Vơ khí gồm có 10.000 chiến xa, 20.000 giàn phóng hỏa tiễn, 16.000 đại bác và phương tiện chuyên chở rất lạc hậu. Hải Quân có 30.000 thủy thủ, 75 tiềm thủy đỉnh. Hạm đội Bắc Hải có 300 chiến hạm, Đông Hải 450 chiến hạm và Nam Hải 300 chiến hạm. Lực lượng không quân có 400.000 phi công, 5000 chiến đấu cơ cũ và lỗi thời, loại Mig 15, 16, 19 và 80 Mig 21. Đặng tiểu B́nh là Tổng tư lệnh hành quân, với  2 phụ tá Xu Xiangqian và Nie Rongzhen, Tướng Gen Biao giữ chức Tham mưu trưởng. Về phía Việt Nam, tổng quân số lên đến 600.000 phân chia 200.000 tại Cam Bốt, 100.000 tại Lào, 100.000 tại Nam Việt và 200.000 ở Bắc Việt. Xung quanh Hà Nội, có 5 sư đoàn và 4 lữ đoàn. Dài theo biên giới Trung Cộng, Việt Nam có 150.000 dân quân tổ chức thành 6 sư đoàn địa phương và một trung đoàn. Không lực Việt có 300 chiến đấu cơ (70 Mig 19, 21 Mig 70 và một số F5 tịch thu của Mỹ năm 1975). Hải Quân Việt có 2 chiếc PETYA Sô viết với hỏa tiễn chống tiềm thủy đỉnh và 60 tàu tuần tiểu.

Cuộc ‘’hành quân sát phạt’’ kéo dài 16 ngày, chia thành 2 giai đoạn:

1. Từ 17 đến 26.2.1979. Ngày 17 tháng 2 lúc 5 giờ sáng, theo chiến thuật ‘’biển người’’ 100.000 Tàu cộng, được chiến xa hỗ trợ, tràn vào Lạng Sơn, (phía Đồng Đăng), Cao Bằng, Đồng Khê, Mông Cáy và Lào Cai sau khi pháo kích mănh liệt. Sự tiến quân, mau lẹ lúc đầu, lần hồi bị địa phương quân Việt chận lại và bao vây. Các đơn vị chính quy Việt Nam tập trung về phía Nam Cao Bằng và Lạng Sơn để đánh tiêu hao những sư đoàn đối phương. Số tổn thương của hai bên đều nặng nhưng khó kiểm chứng. Phía Trung Cộng chiếm được Lào Cai, Cao Bằng và chuẩn bị tấn công Lạng Sơn nhưng không có ư định tiến về Hà Nội. Đồng thời Bắc Kinh công bố sẽ rút quân đội ‘’sau khi hoàn tất mục tiêu’’. Trong thời gian đó, Liên Sô đưa 7 chiến hạm tuần tiểu dài theo hải phận Việt Nam và ngày 21  tháng 2, gởi tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak vào Nam Hải. Vũ khí Nga được không vận từ Calcutta và một phái đoàn quân sự Sô Viết bay qua Hà Nội. Mạc Tư Khoa yêu cầu Tàu rút binh.

2. Từ 27.2 đến 5 tháng 3. Chiến cuộc tiếp diễn ở Lào Cai, Cao Bằng và Móng Cái nhưng tập trung mạnh nhất vào Lạng Sơn, cách Đèo hữu nghị lối 10 dặm và Hà Nội 85 dặm. Với hai sư đoàn mới, đến từ Đồng Đăng và Lộc B́nh. Trung Cộng vất vả tấn công các ngọn đồi quanh Tỉnh, việt cộng chống cự mănh liệt và c̣n đột nhập vào ba Thị Trấn Guangxi,  Malipo và Ninping ở bên kia biên giới. Ngày 3 tháng 3, Lạng Sơn thất thủ, Đồng Đăng và Cẩm Dương bị san bằng nhưng các đơn vị Việt tiếp tục đánh tại Lộc B́nh và Móng Cái. Ngày 5 tháng 3, chính quyền Bắc Kinh một mặt công bố đă chiếm được các Tỉnh lỵ Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai và 17 Quận, gây thiệt hại nặng cho 4 sư đoàn Việt và mặt khác, cảnh cáo Hà Nội không được cản trở sự rút lui của quân đội nhân dân Trung Cộng Cùng một ngày, Bắc bộ phủ tổng động viên toàn quốc. Ngày 7 tháng 3, Việt Nam xác nhận đồng ư cho đối phương rút quân ‘’để tỏ thiện chí ḥa b́nh’’.

Tại Nga Thủ Tướng Kosygin và Tổng bí thư Brezhev cực lực lên án Trung Cộng, tiếp tục cho không vận vơ khí và canh chừng hải phận Việt Nam. Cuba cho biết sẵn sàng gởi quân trợ chiến Hà Nội. Tại Liên Hiệp Quốc với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Khối Asean kiến nghị đ̣i ‘’các lực lượng ngoại quốc rút ra khỏi khu vực’’ mà không lên án Bắc Kinh. Ngày 16.3.1979, không c̣n đơn vị Tàu cộng nào ở Việt Nam. Theo tinh thần kiến nghị Asean th́ Việt Nam tại Cam Bốt cũng phải hồi hương quân đội chiếm đóng. Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc rốt cuộc không có ra quyết nghị nào. Một Nhà ngoại giao chua chát phê b́nh: ‘’Khi tranh chấp xảy ra giữa các đại cường, Liên Hiệp Quốc biến mất’’.

THẨM LƯỢNG ‘’bài học quân sự 1979’’

 1 - Thiệt hại của Đôi bên .

Dưới đây là bản kê khai thiệt hại căn cứ vào tài liệu mỗi phía, trích từ quyển sách ‘’Chinao’s War With Việt Nam 1979’’ của Giáo Sư King G. Chen, trang 114:

 

Trung Quốc

Việt Nam

Tử thương

26.000

30.000

Bị thương tích

37.000

32.000

Tù chiến tranh

260

1.638

Chiến xa, quân xa

420

185

Bích kích pháo, súng

66

200

Giàn hỏa tiễn

0

6

            Hoa lẫn Việt đều tuyên bố thắng trận nhưng không xứ nào hoàn thành mục tiêu chính yếu. Trung Cộng không hủy được một sư đoàn Việt nào, không chấm dứt được xung đột tại biên giới, không ép được các đơn vị Việt rút khỏi Cam Bốt và cũng không thuyết phục nổi Việt Nam thay đổi can thiệp bằng vơ lực để chống Trung Cộng tại Việt Nam. Mặt khác, Khối Asean đă lên tiếng ủng hộ Tàu trong cố gắng chận chủ nghĩa bành trướng của cộng sản Việt tại Đông Á và dưới khía cạnh này, gây thiệt hại cho nến kinh tế Việt không ít. Ngày 26.3. 1979, Jiefangjun Bao viết trong bài xă luận:

‘’Cuộc chiến 1979 đă làm sáng tỏ những ư kiến sai lệch về vấn đề chiến tranh và một số vấn đề khác’’.

Không thấy báo xác định rơ vấn đề ǵ. Sáu tháng sau, nhân lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, Tổng trưởng quốc pḥng Xu Xiangqian tŕnh bày quan điểm trong tạp chí ‘’quân đội’’:

‘’Như chúng ta biết, trong lịch sử chiến tranh, có nhiều cuộc thất trận không v́ nhân lực yếu hay vơ khí kém, nhưng bởi tư tưởng quân sự lạc hậu và chính sách đối với Hoa kiều. Tuy nhiên, Bắc Kinh đă gây ra tại Hà Nội sự thực tâm của Mạc Tư Khoa là chỉ huy sai lầm’’.

Một kết luận thực tế là năm 1979, tại Việt Nam, các lănh tụ Trung Cộng vừa dạy đối phương và vừa thu thập một bài học hữu ích:

Quân đội Trung Cộng không thể thắng một cuộc chiến tân tiến trước khi được hiện đại hóa về vơ khí và chiến lược.

Đối với Việt Nam, hậu quả của cuộc chiến nặng nề hơn, về nhiều phương diện:

1. Trong ṿng một năm, 1979-1980, v́ lư do an ninh và cũng v́ nhu cầu chiếm đóng Miên và Lào, ngân sách quốc pḥng tăng rất mạnh. Lục quân vượt từ 600.000 bộ binh lên một triệu. Hải Quân từ 3.000 thủy thủ lên 12.000 và Không Quân từ 12.000 phi công lên 15.000 không kể ngân khoảng khổng lồ để mua vơ khí, tàu chiến và phi cơ.

            2. Nội bộ đảng cộng sản Việt Nam chi rẽ trầm trọng, các phần tử thân Bắc Kinh bị khai trừ thẳng tay. Hoàng văn Hoan, bạn nối khố của Hồ, Tướng Chu văn Tấn và Lê quang Ba,  Lư Báu, Lê hiển Mai (trong ủy viên trung ương), Trần đ́nh Tri, Tổng thư kư Quốc Hội, Tổng bí thư Trường Chinh bay chức và bị đưa qua giữ ghế Chủ Tịch nước, một hư vị.

            3. Về kinh tế, hai kế hoạch ngũ niên 1976-1980 và 1981-1985 thất bại thê thảm. Đồng bạc phá giá 100%. Giá sinh hoạt tăng phi mă. Lợi tức đầu người dước 300 Mỹ kim năm 1984.  Ngày 30.4.1984, tại phiên họp ở La Mă. Chương tŕnh Liên Hiệp Quốc về thực phẩm cắt bỏ 5, 3 triệu đô la cho Việt Nam.

2 - Hậu quả quốc tế .

A ) Thái Độ của Khối Asean: Từ 1979, chính sách của Asean có tính cách liên tục.

            Trong thời gian tháng 2 đến tháng 8 năm 1979, phần đông các nước thành viên âm thầm tán đồng cuộc hành quân của Bắc Kinh, nhưng sau đó kêu gọi chính thức chấm dứt xung đột. Từ tháng 9.1979 đến tháng 6.1982, Asean khuyến cáo Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt để quốc gia này tổ chức bầu cử tự do. Việc Trung Cộng ngưng xô xát với Việt Nam giúp xúc tiến giải pháp. Từ tháng 6.1982 về sau, Asean vận động thành lập một liên minh chính trị do Sihanouk lănh đạo trong khi vẫn bị áp lực Hà Nội. Kết quả là tháng 7.1982, Hội nghị ngoại trưởng ba nước Đông Dương ra thông báo đề nghị rút một phần quân Việt khỏi Cam Bốt, lập một hành lang an ninh giữa Thái-Miên và tổ chức Hội nghị Đông Á.

B ) Các quốc gia khác trên thế giới:Khi chiến tranh Hoa-Việt nổ lớn, Tiệp khắc, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Bulgarie, Cuba và Lào chỉ trích mạnh Bắc Kinh.

Nhật và Tây Đức cắt viện trợ v́ Việt Nam chiếm Cam Bốt. Ấn Độ công nhận chính phủ Heng Samrin để phản đối Trung Cộng. Nam và Bắc Hàn im lặng, giữ thế trung lập. Mỹ có cảm t́nh với Đặng tiểu B́nh v́ lo ngại Liên sô bành trướng, theo dơi t́nh h́nh và khuyên hai đối phương tự chế.

***

            Ba yếu tố căn bản đă ảnh hưởng sâu đậm cuộc chiến 1979: Quyền lợi quốc gia và chiến lược. Ư thức hệ cộng sản và ḷng ái quốc. Một số vấn đề đă khích động nhóm người lănh đạo có trách vụ quyết định. Tuy nhiên không một ai nghĩ rằng nước Tàu thực sự bị đe dọa về mặt an ninh vào thời khoảng đó. Trung Cộng và Việt Nam không đi đến chiến tranh toàn diện v́ cả hai thuộc phe Xă Hội Chủ Nghĩa. Tinh thần yêu nước và ‘’mặc cảm huynh đệ tự tôn’’ thúc đẩy Bắc Kinh đ̣i hỏi đất đai, với mong ước tái lập ảnh hưởng cũ trong vùng. T́nh anh em lâu đời giữa hai quốc gia láng giềng ngăn họ kéo dài một cuộc chiến đẫm máu. Bởi thế, sự đọ sức được giữ ở mức trung, may thay.

            Điểm khác đáng lưu ư là vai tṛ của lănh đạo. Đúng thế, lănh đạo đẻ ra chánh sách và chánh sách vẽ đường cho ngoại giao. Nhân cách Đặng tiểu B́nh chi phối cuộc khủng hoảng 1979 được mệnh danh ‘’chiến tranh của Đặng tiểu B́nh’’. Đặng mưu trí, nhẫn nại, liều lĩnh và thực tiễn. Đối diện là Lê Duẫn, không có kinh nghiệm sâu sắc về nước Tàu v́ ở tù ngoài Côn Đảo trong giai đoạn Việt Minh kháng chiến 1940-1950 với sự ủng hộ duy nhất và nhiệt t́nh của Bắc Kinh. Duẫn lên nắm quyền sau Trường Trinh giữa thập niên 50 và nhờ Nga hỗ trợ để giữ ghế khi Hồ qua đời năm 1969. Duẫn không uyển chuyển và kiên gan như Hồ nên lao ḿnh vào một cuộc chiến mà Hồ có thể tránh khỏi.

            Một bài học quân sự thứ hai? Tháng 4.1985, quân đội cộng sản Việt Nam tảo thanh biên giới Thái-Miên, Son Sann hù dọa Hà Nội rằng Trung Cộng chuẩn bị một bài học khác. Mùa Đông 1984-1985, Việt Nam thành công dẹp phiến loạn Miên. Lại có tin đồn giống như thế. Tại Bắc Kinh, Đặng tiểu B́nh, Lư chấn Nhiệm và Hoàng Hoa không bỏ hẳn ư định này.  Giới truyền thông Tây Phương, chính giới Hoa Kỳ và Nghị Sĩ Henry Jackson cũng tiên đoán bi quan.

            Ngày nay, t́nh h́nh thế giới có nhiều biến chuyển. Liên Sô và cộng sản Đông Âu đă sụp đổ. Trung Cộng và Việt Nam đang đổi mới kinh tế để cứu nguy chế độ. Bang giao giữa hai nước sáng sủa hơn sau ngày Lê Duẫn về chầu Các Mác vào tháng 7.1986 và quân đội việt cộng bị buộc rời Cam Bốt. Tuy nhiên, hai nước chưa giải quyết được một số tranh chấp gay cấn vẫn có nguy cơ nổ lớn. Ảnh hưởng của chính quyền Hà Nội c̣n mạnh tại Đông Dương. cộng sản đă cho định cư 200.000 dân Việt tại Miên và 100.000 tại Lào.

            Trung Hoa (thành công hay thất bại) măi măi sẽ là mối ám ảnh của nước Việt Nam bé nhỏ. Ngược lại, Việt Nam luôn luôn là khúc xương khó nuốt của anh chàng khổng lồ phương Bắc. Đồng sàng nhưng dị mộng. Buộc phải sống chung ḥa b́nh.

LÂM LỄ TRINH

Đầu Xuân Mậu Dần

Thủy Hoa Trang,

Huntington Beach, Californie

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÍ ẨN VỀ VIỆC ĐẢNG CSVN LĂNH ĐẠO NHÀ NƯỚC CẮT LĂNH THỔ-LĂNH HẢI CHO TRUNG QUỐC

Bản Điều Trần của Yên Tử Cư Sỹ TRẦN ĐẠI SỸ

 

Lời Giới Thiệu: Trong mấy tháng gần đây, nội địa Việt Nam cũng như hải ngoại đều rúng động v́ tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng cộng sản Việt Nam đă nhượng lănh thổ,  lănh hải cho Trung Cộng. Đau đớn nhất là địa danh lịch sử Nam Quan, đi vào tâm tư, là niềm tự hào của Tộc Việt, nay đă ở trong lănh thổ Trung Cộng. Ngay cả hang Pak bo, là thánh địa của đảng cộng sản, trước kia ở cách biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gần như nh́n vào lănh thổ Trung Cộng. Trong suốt 25 năm qua Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, v́ kư khế ước làm việc với Liên Hiệp các Viện Bào Chế Châu Âu(AEP) và Ủy Ban Trao Đổi Y Học Pháp-Hoa (CMFC), trong đó có điều căn bản là ‘’không được viết, lược thuật những ǵ với báo chí về Trung Cộng và Việt Nam hiện tại. Không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung Cộng và Việt Nam’’, nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều ǵ mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung Cộng hay Việt Nam. Tuy nhiên ông đă được một cơ quan (chúng tôi dấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này. Theo luật lệ hiện hành, mà Bác Sĩ Trần Đại Sỹ phải tuân theo. Rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôi,  (IFA).

Kính thưa Ngài...

Kính thưa Quư Ngài...

Kính thưa ông Giám Đốc...

Kính thưa Quư liệt vị,

Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17.3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để tŕnh bày những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á Châu Thái B́nh Dương. Hôm nay chúng tôi lại được gửi tới tŕnh bày về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cắt nhượng lănh thổ, lănh hải cho Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc, gọi tắt là Trung Quốc. Đây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô tư. V́:

Thứ nhất: Tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc gịng dơi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, v́ Ngài thắng Mông Cổ liên tiếp trong 3 lần, vào Thế Kỷ 13. Mà nay tôi phải nói về những người đem lănh thổ Việt nhượng cho Trung Cộng, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.

Thứ nh́: Ngoài chức vụ Giáo Sư Y Khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đă viết trên mười bốn ngh́n trang, thuận huân công của các Anh Hùng Tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước. Mà suốt trong năm ngh́n năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Đặng Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung Hoa, bị Tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lănh thổ Việt bị cắt cho Trung Cộng.

Thứ ba, các sinh viên Việt Nam muốn du học Pháp, thường bị vài tổ chức đ̣i phí khoản 20 ngh́n USD mỗi đầu người. Một vị Đại Sứ của Việt Nam tại Âu Châu, mời tôi về nước, (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đă biết rất rơ những ǵ phải làm, những ǵ phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả. Thế nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân Sơn Nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của công an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong khoảng 98 phút, bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một h́nh thức khủng bố.

Thưa Quư Vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ, v́ tôi biết rất rơ kiến thức, mục đích của họ. Trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội ǵ để kết tội tôi. Hơn nữa tôi giữ trong tay một Ủy nhiệm thư, theo Công Pháp Quốc Tế, họ không thể công khai vi phạm. (1)

Ghi chú: (1): Trong lần về Việt Nam này, chúng tôi thuê xe đi Lạng Sơn. Khi tới trạm biên giới mới, chúng tôi xin sang lănh thổ Trung Cộng mới (Nam Quan cũ ) th́ bị công an Việt Nam từ chối. Chúng tôi đặt vấn đề: Chúng tôi mang thông hành Liên Âu, có visa hợp pháp vào Việt Nam bằng cửa hữu nghị. Chúng tôi xin chụp h́nh cửa khẩu mới, th́ họ không cho. Chúng tôi đành trở về, rời Tân Sơn Nhất, rồi đi Quảng Châu. Từ Quảng Châu đi Nam Ninh. Từ Nam Ninh thuê xe tới Bằng Tường là đất Trung Cộng đối diện với Nam Quan. Rồi vào Nam Quan cũ. Đứng trước vùng đất thiêng của Tổ Tiên nay vĩnh viễn trở thành đất của người. Tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan công an Trung Quốc tưởng tôi là người Hoa. Anh ta hỏi:

Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp ḿnh dạy bọn Nam man bài học à?

Tôi lắc đầu, khóc tiếp. Anh an ủi:

Thôi, người thân của Tiên sinh đă hy sinh dưới cờ thực, nhưng nay bọn Nam man đă dâng đất này tạ tội rồi. Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiều.

Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh công an bỏ mặc tôi. Khóc chán, tôi trở sang Bằng Tường, kiếm một cơ sở mai táng (xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữ Hán như sau:

            Thử địa cựu Nam Quan,

Biên địa ngă cố hương.

Kim thuộc Trung Quốc thổ,

Khấp, khốc, kư đoạn trường.

Lê Hoàn bại Quang Nghĩa.

Thường Kiệt truy Bắc phương,

Hưng Đạo đại sát Đát,

Lê Lợi trảm Vương Thông.

Nam xâm, Càn Long nhục,

Gươm hồng Bắc B́nh Vương.

Ngũ thiên niên dỉ tải,

Hoa, Việt lập dịch trường.

Mao, Hồ t́nh hữu nghị,

Nam, Bắc thần xỉ thương,

Huyết lệ vạn dân cốt,

Hồng kỳ thích ô hoang.

Đại Việt vong quốc nhân Trần Đại Sỹ. Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001

Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m. Công an cán bộ Trung Cộng xúm lại xem. Nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ư trong thơ mà thôi. Xin tạm dịch:

Đất này xưa gọi là Nam Quan,

Vốn là biên địa cố hương của ḿnh.

Hiện nay là đất Trung nguyên,

Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay?

Vua Lê thắng Tống chỗ này,

Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,

Thánh Trần Sát Đát liên miên,

Lê Lợi giết bọn Thành Sơn bên đồi,

Càn Long chinh tiểu than ôi,

Quang Trung truy sát muôn đời khó quên.

Năm ngh́n năm cũ qua rồi,

Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoa.

Ông  Hồ kết bạn ông Mao,

Sao răng lại cắn, máu trào môi sưng.

Vạn dân xương trắng đầy đồng,

Để lại trên lá cờ hồng vết nhơ.

Người nước Đại Việt vong quốc tên Trần Đại Sỹ, khóc đề thơ ngày 6 tháng 9 năm 2001

            Câu 5: Vua Tống Triệu quang Nghĩa sai Hầu nhân Bảo, Tôn toàn Hưng sang đánh Việt Nam, bị Vua Lê Hoàn đánh bại.

            Câu 6: Năm 1076, Vua Tống thần Tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánh Đại Việt, bị Thái Úy Lư Thường Kiệt đánh đuổi.

            Câu 8: Tước của Vương Thông là Thánh Sơn Hầu.

            Câu 10: Vua Quang Trung c̣n có Tước phong là Bắc B́nh Vương.

            Câu 14: Hồi 1947-1969 Chủ Tịch Trung Cộng là Mao trạch Đông, Chủ Tịch Bắc Việt là Hồ chí Minh kết thân với nhau. Việt-Hoa ví như răng với môi. V́ sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hồ. Năm 1978, Đặng tiểu B́nh đem quân tàn phá các Tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ṛng ṛng.

Tháng 9 vừa qua, đảng cộng sản Việt Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhất, v́ năm 1997 tôi đă viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm Trung Cộng của Tổng bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Vơ văn Kiệt. Nhất là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ Tịch Trung Cộng Giang trạch Dân. Tôi viết dưới h́nh thức hài hước cho tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong ở Virginia, USA, Số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết tŕnh của tôi với Quư Vị cuối năm 1997. Như Quư Vị biết về cộng sản, khi họ kết tội ai phản động, có nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấy. (2)

Ghi chú (2): Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rơ ai chủ trương, ai kết tội tôi. Nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết trên, tôi đă tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm, khiếm họ sợ hăi mà thôi. Điều tuyệt mật đó là vụ:

Ông Lê đức Anh bị Trung Cộng đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại. Rồi cũng do Trung Cộng trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm, những vụ đầu độc cùng một phương pháp.

Trong kỳ Đại hội 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Bộ trưởng bộ ngoại giao, ông Đào duy Tùng ứng viên Tổng bí thư đảng cộng sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương thức. Nhưng tôi không biết ai đă làm công việc đó.

Gần đây nhất một Bác sĩ Việt Nam từng dính dáng với phong trào Trương như Tảng. Sau đó đă tỵ nạn lần thứ nh́ sang Canada năm trước đây, nghe tin bác sĩ Dương quỳnh Hoa từ Việt Nam qua Pháp. Ông lén từ Canada sang Paris gặp bà mưu kiếm ít xôi thịt từ Trung Cộng.  Khi trở về Canada ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miền cực lạc.

Kính thưa Quư Vị,

Tuy tôi đă tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua. Nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:

‘’Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt Nam họ đă nộp lănh hải, lănh thổ cho Trung Quốc. Tôi cũng không v́ ḷng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi tŕnh bày hôm nay hoàn toàn vô tư’’.

1. Những tranh chấp biên giới trong quá  khứ.

Trước hết tôi xin tŕnh bày một vài nét về tranh chấp lănh thổ Việt-Hoa trong quá khứ gần đây nhất:

Trong thời gian từ 1010 đến 1225, dưới Triều Lư, bên Trung Hoa là Triều Tống. Đại Việt là nước nhỏ, hằng năm phải tiến cống Trung Hoa một số sản vật tượng trưng: Voi, ngà voi, hương liệu, đôi khi một vài vật dụng bằng vàng, bạc. Trong thời gian trên, trước sau có 18 lần đụng độ, tranh chấp biên giới. Trong 18 lần đó, có 6 lần quân Việt vượt biên đánh sang Trung Hoa. Quan trọng nhất là cuộc tiến quân năm 1075-1076, quân Việt tiến tới vùng thuộc Quảng Đông, Quảng Tây, Quư Châu, Hồ Nam hiện thời. Sau đó Trung Hoa mang 40 vạn quân và 50 vạn dân phu sang trả thù. Quân Trung Hoa đă tiến chiếm lănh thổ Đại Việt tới cách Thủ Đô Thăng Long (Hà Nội ) có 25 cây số, rồi bị đánh bật về biên giới.

Về việc đánh Tống có 6 lần, th́ trong đó có 5 lần đánh sang lănh thổ Trung Hoa và một lần kháng chiến chống quân Tống xâm lăng.

1.1 -Lần thứ nhất

Năm 1022, do Vua Lư Thái Tổ ban chỉ, Khai Thiên Vương Tổng Chỉ Huy, đánh sang Trại Như Hồng của Tống đốt kho đụm rồi rút về, để trừng phạt quân Tống tại đây thường vượt biên sang Trấn Triều Dương của Đại Việt cướp bóc. Trần Triều Dương nay thuộc Tỉnh Hạ Long. Trại Như Hồng thuộc Quảng Tây Nam Lộ. Đại Việt toàn thắng. Cuộc chiến tranh có tính cách trừng phạt một Khê Động. Tống triều im lặng.

1.2 -Lần thứ nh́ 

Năm 1058, Tướng Tống là Lư Tự đêm quân vượt biên, cướp phá trên lănh thổ Việt.  Việt ra quân đánh tràn sang Châu Thất Nguyên của Tống. Cuộc ra quân do Khai Quốc Vương lănh đạo, Tổng Chỉ Huy là Công Chúa Lĩnh Nam Bảo Ḥa và Pḥ Mă Thân Thừa Quư. Mục đích chiếm lại mấy Châu Động đă mất về Tống, do các biên thần Tống chủ trương. Giết chết Lư Tự. Toàn thắng. Cuộc chiến có tính cách tự vệ, dằn mặt các biên thần Quảng Tây. Tống triều không chủ trương.

1.3 -Lần thứ ba

Dưới thời Vua Thái Tông, do Khai Quốc Vương lănh đạo (1053), mục đích chiếm lại lănh thổ thời Vua Hùng, Vua An Dương, Vua Trưng, bị người Hán chiếm mất (nay thuộc Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quư Châu, Hồ Nam), rồi đẩy dân Việt về sống ở vùng Bắc Cương Thành 207 Trang Động. Cuộc khởi binh thành công, đưa Nùng Trí Cao lên làm Vua, lấy lănh thổ vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Quư Châu lập thành nước Đại Nam. Cuộc ra quân này, tôi đă thuận chi tiết trong bộ Anh Linh Thần Vơ Tộc Việt. Nhưng khi Nùng Trí Cao thành công, lại trở mặt với Đại Việt. Nên khi quân Tống đánh Cao, Đại Việt không tiếp cứu, Cao bị bại. Cuộc chiến tranh có tính các toàn diện. Đại Việt không ra mặt khai chiến với Tống. Tống biết, nhưng không dám trả thù.

1.4 -Lần thứ tư

Cũng do Khai Quốc Vương lănh đạo, diễn ra dưới thời Vua Thánh Tông. Vùng tấn công là Khâm Châu. Người Tổng Chỉ Huy là Công Chúa B́nh Dương với Pḥ Mă Thân Thiệu Thái (1059-1060). Mục đích của cuộc Bắc phạt này là chiếm lại một số Trang Động do các Bộ Tộc thiểu số tự trị, bị Tống lấn chiếm, hoặc chiêu dụ các Động Chủ phản Việt,  đem cả đất lẫn dân theo Tống. Sau khi chiếm lại các Trang đă mất, trả đất cho các Tộc bị mất, Quân Việt tiến sâu vào vùng Tả Giang, Hữu Giang, chiếm hơn mười Ải, giết nhiều Tướng Tống. Tống cực kỳ phẫn uất, nhiều Đại Thần khuyên Vua Tống nhân Tông đem quân sang đánh Đại Việt để trừng phạt, nhân đó chiếm nước đặt làm Quận Huyện. Ngặt v́ bây giờ phía Tây, Tống đang mắc họa với Hạ, phía Bắc th́ Liêu chiếm đất, đ̣i cống vàng lụa, vả Vua Tống cũng sợ Binh Hùng Tướng Mạnh của Đại Việt, nên bàn ḥa. Công Chúa B́nh Dương đ̣i nhiều điều kiện khắt khe mới chịu rút quân. Tống cũng phải nhượng. Thắng toàn diện. Chiến công oanh liệt trên thuận trong Bộ Nam Quốc Sơn Hà. Đến đây chiến cuộc leo thang. Đại Việt ra mặt khai chiến với Tống, nhưng để cho Công Chúa B́nh Dương, Pḥ Mă Thân Thiệu Thái làm.

1.5 -Lần thứ năm

Diễn ra dưới thời Vua Nhân Tông vào năm 1075, bấy giờ Vua mới chín tuổi, Linh Nhân Hoàng Thái Hậu Phụ Chính. Vua c̣n thơ, chư sự lớn nhỏ đều do Linh Nhân Hoàng Thái Hậu quyết định. Nguyên do: Vua Tống thần Tông dùng những cải cách về kinh tế, nông nghiệp, binh bị, tài chánh của Vương an Thạch từ năm 1066, đă được 9 năm, khiến binh lực trở thành hùng hậu, quốc sản sung túc. Nhà Vua muốn nhân đó tiến quân lên Bắc đánh Liêu, chiếm lại đất cũ, để rửa nhục. Nhưng Vương an Thạch lại khuyên nên đánh Đại Việt trước. Sau khi đánh bại Đại Việt, th́ Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao, Xiêm La, Đại Lư phải quy hàng. Bấy giờ dùng nhân lực, tài lực sáu nước, đem lên Bắc, th́ thắng Liêu dễ dàng. Vua nghe theo, bí mật cho các Châu Nam Biên luyện binh, tích trữ lương thảo. Cuộc chuẩn bị được ba năm, th́ bị Đại Việt biết được. Linh Nhân Hoàng Thái Hậu quyết định: Ngồi yên đợi giặc, sao bằng ḿnh ra tay trước. Mục đích cuộc hành quân là phá hết các kho lương thảo, vũ khí, thành tŕ, cầu cống, diệt các đạo quân mới huấn luyện của Nam thùy Tống. Thế là cuộc Bắc phạt nổ ra vào cuối năm 1075. Quân Việt tiến đánh 18 Ải dọc biên thùy Tống, rồi phá các Châu Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch cùng diệt viện quân ở núi Đại Giáp (nay thuộc lănh thổ Quảng Đông, Quư Châu, Hồ Nam). Nhiệm vụ chu toàn rồi, quân Việt rút về. Thắng toàn diện. Đến đây Đại Việt ra mặt khai chiến với Tống. Cả hai bên cùng đem toàn lực ra đối phó với nhau.

Cuộc ra quân  của Việt lần này quá lớn lao, phá nát kế hoạch cải cách của Tống ở Giang Nam. Quá uất hận, Tống chịu nhục, nhường Hạ ở phía Tây, cắt đất dâng cho Liêu ở phương Bắc...để cho rănh tay, rồi họ mang quân nghiêng nước sang định chiếm Đại Việt đặt làm Quận Huyện (1076-1077). Nhưng Tống lại bị thất bại phải rút quân về và chịu ḥa. Người có hùng tâm, tráng trí, lănh đạo là một thiếu phụ ở tuổi ba mươi, đó là Linh Nhân Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan. C̣n người Tổng Chỉ Huy cuộc vượt biên Bắc phạt là Lư Thường Kiệt, Tôn Đản, Lư Hoàng Chân, Lư Chiêu Văn, Lư Kế Nguyên. Tôi đă thuật trong Bộ Nam Quốc Sơn Hà.

1.6 -Lần thứ sáu

Sau cuộc Bắc phạt và giữa lúc cuộc kháng Tống của Đại Việt, chiến cuộc đang diễn ra cực kỳ khốc liệt (1076), Vương an Thạch bị cách chức Tể Tướng, giáng xuống Tri Giang Ninh Phủ, lĩnh Trấn Nam Quân Tiết Độ Sứ, Đồng B́nh Chương Sự. Lúc Vương độ giang, bị một nhân sĩ bắt con sâu bỏ lên xe rồi làm bài thơ mỉa mai như sau:

Thanh miêu, trợ dịch lưỡng phương nông,

Thiên hạ ngao ngao oán tướng công.

Độc hữu hoàng trùng thiên cảm đức,

Hữu túy xa giá, quá Giang Đông.

Dịch:

            Thanh miêu trợ dịch hại canh nông,

            Thiên hạ nhao nhao oán tướng công.

            Chỉ có sâu vàng theo tiễn biệt,

            Cùng lên xa giá, quá Giang Đông.

            Có người ví cái thất bại của Vương an Thạch cũng đau đớn như cái thấy bại của Hạng Vơ xưa, khuyên Thạch nên tự tử.

            Khi Hạng Vương mưu đuổi hươu ở Trung nguyên, bị thất bại, lui về Nam. Lúc qua sông này tự cảm thấy xấu hổ, đă tự tử, mà hậu thế kính phục. Tôi khuyên ông cũng nên tự tử để lưu danh muôn thủa. Nhưng Thạch không đủ can đảm.

            Tiếc thay, một cuộc cải cách về kinh tế, binh bị, tài chánh, xă hội, nông nghiệp như vậy,  đang trên đường thành công rực rỡ, bị tan vỡ, bị hủy bỏ chỉ v́ tham vọng đánh Đại Việt của Vương an Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xă hội Tống thay đổi, rồi với cái đà đó, th́ Tống sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng muôn đời mặt trời vẫn ở phương Đông, chứ không ngă về Tây như hồi Thế Kỷ 18 cho đến nay và bao giờ..??

            Sau cuộc ra quân của Đại Việt, trên từ Vua Tống thần Tông cho tới các Quan đều uất hận. Tống xuất quân nghiêng nước, 40 vạn binh, 50 vạn dân phu (phụ lực quân) sang đánh trả thù (1066-1067). Nhưng khi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ tiến đến cách Thăng Long 50 dặm (25 cây số) th́ bị đánh bật về Bắc. Sau đó Tống rút quân chịu ḥa.

            Tuy Tống chịu ḥa, nhưng c̣n giữ của Đại Việt các Châu Quảng Nguyên, Tô Mậu mà bọn Động Trưởng Lưu Kỳ, Vi thủ An đem cả dân lẫn đất theo Tống. Quan trọng nhất là Châu Quảng Nguyên có mỏ vàng. Năm 1078, Việt sai xứ sang Tống đ̣i đất. Tống không trả. Măi năm 1081, Việt trả tù binh trong trận 1075-1077, Tống mới trả Châu Quảng Nguyên. Năm 1084, Việt sai Binh Bộ Thị Lang Lê Văn Thịnh (Thị Lang tương đương với ngày nay là một Giám Đốc) nghị ḥa với các Đại Thần Tống, Tống chịu trả cho Việt thêm 6 Huyện, 3 Động. Việt tặng Tống con voi lớn. Danh sĩ Tống nhân chuyện này làm thơ than:

            Nhân tham Giao Chỉ tượng.

            Khước thất Quảng Nguyên kim

            (V́ tham voi Giao Chỉ, Chịu mất vàng Quảng Nguyên).

2. Vụ nhượng Đất duy  nhất trong lịch sử.

            Trong suốt thời gian từ 1010 đến 1539, ngoại giao Việt-Hoa khi đẹp, khi xấu. Hai bên xảy ra nhiều cuộc chiến, chính sự Đại Việt khi thịnh, khi suy, nhưng phía Việt chỉ chịu cống Trung Hoa một số sản phẩm tượng trưng, chứ không bao giờ nhượng đất, nhượng dân.

            Cho đến năm 1540, giặc Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, Nhà Minh sai Tướng Mao bá Ôn, Cừu Loan đem 22 vạn quân tới biên giới lấy lư do Hưng diệt kế tuyệt (trung hưng Triều Lê bị diệt, dựng lại ḍng họ Lê bị tuyệt). Mạc Đăng Dung đem một số tùy tùng lên Ải Nam Quan, tự trói ḿnh sang Minh, quỳ lạy các Tướng Minh, xin đầu hàng, chịu lệ thuộc Minh, dâng nộp sổ sách về đất đai, quân dân, quan chức. Lại cũng dâng các Động Tê Phù, Kim Lặc. Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù. Đây là lần duy nhất trong lịch sử Việt, mà bọn Mạc cắt đất cho Minh (Trung Quốc). Suốt từ năm 1540 cho đến nay, sử sách, cùng tất cả người Việt đều nguyền rủa Mạc Đăng Dung bằng tất cả những lời lẽ nặng nề nhất. Tuy Mạc dâng đất cho Minh, nhưng vẫn giữ lại Cửa Ải Nam Quan, làm ranh giới giữa Hoa-Việt.

            Về vụ việc này sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, phần Chính Biên,  Quyển 27 chép:

            Canh Tư, năm thứ 8(1540). (Mạc, năm Đại Chính thứ ...Minh, năm Gia Tĩnh thứ 19)

            ... Tháng 11, mùa Đông, Mao bá Ôn Nhà Minh đóng quân ở ngoài Cửa Ải. Mạc Đăng Dung đến Cửa quân tướng Minh, xin hàng và đem đất 5 Động hối lộ Nhà Minh.

            Trước kia, Tướng Minh là bọn Cừu Loan và Mao bá Ôn đă đến Quảng Tây, trưng tập các lang binh của thổ quan ở các Tỉnh Lưỡng Quảng, Phúc Kiến và Hồ Quảng. Lại truyền hịch đi Vân Nam sai tập họp binh lính, để chờ đợi nhật kư xuất quân.

            Bọn Cừu Loan lại bàn:

            ‘’Chia chính binh làm ba đội tiểu binh, từ Quảng Tây đi các xứ Bằng Tường, Long Châu và Tư Minh.

            Chia kỳ binh làm hai toán tiểu binh: Toán xuất phát từ Châu Quy Thuận gọi là Sơn Tiểu, toán xuất phát từ núi Ô Lôi gọi là Hải Tiểu. Kể cả chính binh và kỳ binh trên đây cộng 22 vạn người. (Chính Biên XXVII, 32)

            Lại chia quân Vân Nam ở ghềnh Liên Hoa làm ba toán tiểu binh, mỗi toán gồm 21.000 người. Tất cả đều lên đường đồng thời xuất phát’’.

            Lại truyền hịch sang ta dụ bảo về nghĩa phục hưng nước đă mất, nối lại ḍng họ đă tuyệt, sự đánh dẹp chỉ nhằm một ḿnh cha con Đăng Dung là kẻ có tội, c̣n ai biết đem Quận Huyện nào ra hàng, th́ liền được trao chức Quan ở Quận Huyện ấy để cai quản. Ai bắt hay chém cha con Đăng Dung mà ra hàng, th́ cứ tính theo từng tên tội nhân một, mỗi tên là được thưởng 2 vạn nén vàng và được cho làm Quan đến phẩm trật cao sang.

            Tướng Minh lại dụ bảo cha con Đăng Dung nếu tự trói ḿnh đợi tội, thành khẩn dâng hết các sổ sách về đất đai và nhân dân th́ được tha cho tội chết.

            Bọn Bá Ôn đóng quân dựng đồn ở gần nơi biên giới.

            Bấy giờ Đăng Doanh chết rồi, Đăng Dung được tin cả sợ, sai Sứ Giả đến Cửa quân tướng Minh, trần t́nh, nguyện xin ra khỏi bờ cơi, đầu hàng và kính cẩn vâng theo lịnh.

            Bọn Bá Ôn thiết lập Mặc Phủ và Tướng Đài ở Nam Quan chờ đợi. Đến kỳ đă định,  Đăng Dung để Phúc Hải ở lại coi giữ việc nước, c̣n ḿnh cùng với người cháu là Văn Minh cùng bè đảng là bọn Vũ Như Quế hơn 40 người do đường Nam Quan đi sang: Ai nấy buộc giây thao vào cổ, đi chân không, gieo ḿnh vào nơi Mạc phủ tướng Minh, khúm nún, phủ phục, khấu đầu lạy, dâng tờ biểu xin hàng, nộp tŕnh sổ sách, đất đai và nhân dân do ḿnh cai quản.

            Đăng Dung lại xin dâng đất các Động Tỳ Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù, An Lương thuộc Châu Vĩnh An ở Yên Quảng để lệ thuộc vào Khâm Châu Nhà Minh.  (Chính Biên XXVII, 33) Lại xin Nhà Minh ban cho Chính sóc và Ấn chương đă ban từ trước để Đăng Dung coi giữ việc nước trong khi chờ đợi mênh lệnh có thay đổi hoặc quyết định ra sao.

            Bọn Bá Ôn vâng theo lời chiếu của Vua Minh dụ bảo Đăng Dung hăy cho đái tội về nước, chờ đợi mệnh lệnh phân xử sau.

            Đăng Dung lại sai Văn Minh và Nguyễn Văn Thái đem tờ hàng biểu sang Yên Kinh.

            Lời cẩn án. Sử cũ chép đầu hàng Nhà Minh, xin nộp các Động Ty Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù và An Lương thuộc Châu Vĩnh An ở Yên Quảng cho lệ thuộc vào Khâm Châu. ( Chính biên XXVII, 34) Nay xét Khâm Châu Chí của Nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia Tĩnh (1522-1566), Đăng Dung nộp trả năm Động Ty Phù, La Phù, Cổ Sâm, Liễu Cát và Kim Lặc mà thôi, chứ không nói đến Động An Lương. Lại tra cứu đến Quảng Yên sách th́ thấy Động An Lương hiện nay là Phố An Lương thuộc Châu Vạn Ninh nước ta. Có lẽ về Động An Lương, Đăng Dung chưa từng dâng nộp, mà chỉ là sử cũ chép sai sự thật đó chăng?

Lại xét:

Trong năm Mạc Minh Đức Thứ 2, tức là năm Minh Gia Tĩnh thứ 7 (1528), sử cũ chép Đăng Dung sợ Nhà Minh hỏi tội, bén tính chuyện cắt đầt dâng hai Châu Quy, Thuận, Vua Minh nhận. Từ đó, Nam Bắc lại cho Sứ Giả đi lại thông hiếu. Nhưng nay tra cứu bản đồ nước ta th́ có Quy Hóa Châu và Thuận Châu. Hai Châu này hiện nay thuộc Tỉnh Hưng Hóa. Trong Đại Thanh Nhất Thống Chí tuy có chép Châu Quy Thuận nguyên thuộc Phủ Trấn An, Tỉnh Quảng Tây Nhà Thanh đấy thật, nhưng hai Châu mà sử cũ gọi là Quy, Thuận có lẽ tức là Quy Hóa và Thuận Châu đó thôi.

Lại xét:

Minh Sử Thông Giám Kỷ Sự: Hồi năm Mạc Đại Chính thứ 9 (1538), Mạc Đăng Dung được tin quân Minh sang đánh, cả sợ sai Sứ xin hàng, nói dối là họ Lê không có người kế tự,  cha con Đăng Dung có công với nước, được mọi người suy tôn. C̣n Đăng Dung sở dĩ không dâng được biểu chương, cho Sứ sang tiến cống, là chỉ v́ trước kia bị Trần Cung chiếm cứ Lạng Sơn làm nghẽn đường, đến sau lại bị Quan giữ biên cương đóng Cửa Ải, không tiếp nhận.

Nay, từ năm Gia Tĩnh thứ 7(1528) đến năm thứ 17 (1538) trải qua 10 năm chưa từng có Sứ đi thông hiếu, thế mà sử cũ ở năm Gia Tĩnh thứ 7, đă vội chép rằng:

‘’Đăng Dung tính chuyện cắt đất dâng nộp hai Châu Quy, Thuận từ đó Nam-Bắc lại cho Sứ Giả đi lại thông hiếu’’.

Về việc này, những điểm sử cũ chép đó đều xa sự thực, nên nay rút bớt đi mà chép phụ vào đây để tham khảo. (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản dịch của viện sử học Việt Nam, nxb giáo dục, 1998, trang 113-117)

Kính thưa Quư Vị

            Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay, về việc:

Đảng lao động Việt Nam lănh đạo nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (1945-1975)

Đảng cộng sản Việt Nam lănh đạo nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (1975-2001) nhượng lănh thổ, lănh hải cho Trung Hoa Nhân Dân Cộng Ḥa Quốc.

3. Vụ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa nhượng lănh hải cho Trung Quốc.

3.1-Kết quả của văn kiện 14.9.1958.

            Ngày 4.9.1958, chính phủ Trung Quốc tuyên cáo về lănh hải 12 hải lư kể từ đất liền của họ, có đính kèm bản đồ rất rơ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Cộng Ḥa Nhân Dân Triều Tiên. Việc Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa công nhận như sau:

            Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do Sứ Quán Trung Cộng tại Hà Nội trao, Chủ Tịch Hồ chí Minh triệu tập bộ chính trị đảng lao động Việt Nam (tức đảng cộng sản Việt Nam ẩn danh). Trong buổi họp này toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận Bản tuyên bố của Trung Cộng. Ngày 14.9.1958, Thủ Tướng Phạm văn Đồng tuân lệnh Chủ Tịch Hồ chí Minh, gửi văn thư cho Tổng lư quốc vụ viện Trung Cộng (Thủ Tướng) là Chu ân Lai, trong có đoạn:

‘’Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển’’.

Những nước liên hệ tới bản tuyên bố là:

Trung Hoa Dân Quốc(Đài Loan), Nhật Bản, Hoa Kỳ (Hạm Đội 7), Phi Luật Tân, Mă Lai,  Brunei, Indonésia, Việt Nam Cộng Ḥa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.

Thế nhưng từ hồi đó đến nay các Nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á Châu Thái B́nh Dương không hề để ư đến văn thư trên. V́ sao?

Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung Cộng, rồi cũng được các báo Trung Cộng đăng lại, mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giới cứ nh́n trên bản đồ Trung Cộng cũng như vùng Nam Hải phân định lănh hải từ 1887 mà cho rằng: Theo Quốc Tế Công Pháp th́ lănh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lư, kể từ thềm lục địa. Vụ Trung Cộng tuyên bố lănh hải 12 hải lư là chuyện b́nh thường. Cái tưởng lầm tai hại đó cho đến nay (11.2001),  những người chống đối vụ nhường đất cho Trung Cộng ở trong nội địa Việt Nam, cũng như hải ngoại chỉ kể tội vu vơ, không rơ ràng, không chứng cớ v́ nguyên do không bản đồ này.

Do kết quả không có bản đồ đính kém của Trung Cộng tuyên bố lănh hải của họ (gần như trọn vẹn vùng biển Nam Hải, đính kèm), Hoa Kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công nhận), nên suốt thời gian 1958-2001:

Hạm Đội 7 Hoa Kỳ tuần hành trong vùng lănh hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung Cộng, mà Trung Cộng vẫn ngậm bồ ḥn.

Chiến hạm của Pháp, Đức, Ư cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuần hành, hộ tống những con tàu vớt người Việt trốn chạy trong vùng, mà Trung Cộng đành im lặng.

Hôm nay tôi cần phải tŕnh bày trước các Quư Vị và làm sáng tỏ nội vụ.

3.2 -Những bí ẩn

Kính thưa Quư Vị,

Cái bí ẩn đó không có ǵ lạ cả, rất rơ ràng, rất chi tiết. Về phía các Nhà nghiên cứu Âu-Mỹ, Á Châu Thái B́nh Dương không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4.9.1958 của Trung Cộng, họ cứ nh́n vào bản đồ đă phân định từ 1887, giữa Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nh́n bản đồ của các nước vùng Nam Hải của Trung Cộng, của Trung Hoa Dân Quốc cũ, rồi cho rằng lănh hải 12 hải lư th́ chẳng có ǵ là lạ cả.

Nhưng nếu họ có bản đồ về lănh thổ đính kèm bản tuyên bố th́ họ sẽ toát mồ hôi ra. V́ bản đồ này bao gồm toàn bộ các Đảo trong Vịnh Bắc Việt, toàn bộ các Đảo ở Biển Nam Hải như Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Như vậy nếu tính lănh hải 12 hải lư, tính từ các Đảo này th́:

Lănh hải Trung Quốc ở biển Nam Hải, phía Tây sẽ sát yới bờ biển suốt miền Trung,  Bắc Việt Nam.

Phía Đông sát tới lục địa Phi Luật Tân, Brunei.

Phía Nam sát tới Indonésia, Mă Lai.

Trở lại với Chủ Tịch Hồ chí Minh, bộ chính trị trung ương đảng lao động (cộng sản) Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa hồi năm 1948, khi các vị ấy có bản tuyên bố lănh hải của Trung Cộng, th́ cũng có bản đồ chi tiết. Nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó th́ có nghĩa rằng:

Họ đồng ư nhường cho Trung Cộng toàn bộ: Các Hải Đảo của Việt Nam trên biển Nam Hải. Toàn bộ lănh hải Việt Nam cách các Đảo đó 12 hải lư, nghĩa toàn bộ biển Nam Hải.

3.3 - Bí ẩn vụ Trung Quốc chiếm Hoàng sa (Tây sa) .

Kính thưa Quư Vị, 

Từ trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng: Tại sao năm 1973, t́nh ĺnh Trung Cộng đem quân đánh Quần Đảo Hoàng Sa (Tây Sa) từ Việt Nam Cộng Ḥa. Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung Cộng bị thiệt hại gấp ba Việt Nam Cộng Ḥa. (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung Cộng). Nhưng Việt Nam Cộng Ḥa v́ quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ. Trong khi Trung Cộng có hỏa tiễn địa-địa, chiến hạm lớn đông gấp 3 Việt Nam Cộng Ḥa. Việt Nam Cộng Ḥa lại đang có nội chiến, phải đương đầu với quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, v́ vậy Việt Nam Cộng Ḥa phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa. Bấy giờ Hoa Kỳ với Việt Nam Cộng Ḥa có hiệp ước hỗ trương an ninh, Hoa Kỳ đang tham chiến tại Việt Nam, Hạn Đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa Kỳ không can thiệp, không lên tiếng bên vực Việt Nam Cộng Ḥa ?

Nay tôi xin thưa:

V́, trong cuộc mật đàm giữa Hoa Kỳ (Kissinger) và Trung Cộng (Mao trạch Đông).  Phía Trung Cộng đă trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lănh hải 4.9.1958 cùng bản đồ. Ông Kissnger đă công nhận bản tuyên bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung Cộng, th́ Trung Cộng đem hạm đội xuống chiếm Hoàng Sa.

V́, văn thư của ông Phạm văn Đồng công nhận Quần Đảo này là của Trung Cộng.  Trung Cộng chiếm Hoàng Sa chỉ là việc chiếm lại lănh thổ được hiến dâng, đă 16 năm bị Việt Nam Cộng Ḥa xâm lăng.

Cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại Quần Đảo Trường Sa (Nam Sa) hiện có quân của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Phi Luật Tân, Mă Lai, Việt Nam. Thế sao Hải Quân Trung Cộng luôn khai hỏa vào Hải Quân việt cộng. Quan trọng nhất là trận chiến tháng 3 năm 1988. Việt Nam chỉ phản đối lấy lệ?

Nay tôi xin thưa:

Do văn thư của ông Phạm văn Đồng công nhận Quần Đảo này là của Trung Cộng. Lập luận phía Trung Cộng là: Thủ Tướng Phạm văn Đồng đă công nhận vùng này là lănh hải Trung Cộng, tại sao quân đội việt cộng c̣n hiện diện tại đây? Như thế là Việt Nam xâm phạm lănh thổ Trung Cộng. Quân đội Trung Cộng phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Đài Loan đóng tại đây, mà Trung Cộng không tấn công v́ quân Đài Loan th́ cũng là quân đội Trung Quốc đóng trên lănh thổ Trung Quốc. C̣n Phi Luật Tân, Mă Lai với Trung Cộng đang tranh chấp trên Quần Đảo này chưa ngă ngũ, th́ quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung Cộng không tấn công họ, v́ như vậy Trung Cộng ỷ lớn hiếp nhỏ.  

Đối với vụ tranh chấp Trung Cộng, Việt Nam trên Đảo Trường Sa (Nam Sa) đă giải quyết bằng văn thư của Việt Nam ngày 14.9.1958. Chính v́ lư do này mà Trung Cộng chỉ chấp nhận đàm phán về vùng Đảo với từng nước, mà không chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên hệ. Có nghĩa họ gạt Việt Nam ra ngoài, v́ Việt Nam đă công nhận các Đảo này là của Trung Cộng.

3.4 - Về hoàn cảnh Mạc Đặng Dung năm 1540

            Kính thưa Quư Vị,

Ta có thể hiểu tại sao giặc Mạc lại làm công việc táng tận lương tâm, ô danh bậc nhất cổ kim trong lịch sử Tộc Việt ấy. V́:

Bấy giờ tuy Dung và con cháu đang cai trị Đại Việt. Nhưng tại Thanh Hóa con cháu Nhà Lê đă thiết lập triều đ́nh mới, đang tiến quân về Thăng Long.

Phía Bắc bị 22 vạn quân Minh dàn ra định tràn xuống đánh. V́ tính mạng bản thân gia đ́nh họ hàng bị đe dọa nên Mạc Đăng Dung phải đầu hàng Minh triều, rồi cắt đất dâng cho Minh.

3.5 - Về hoàn cảnh Đảng cộng sản Việt Nam năm 1958, và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa.

Tất cả những vị trong bộ chính trị đảng cộng sản, trong chính phủ đều biết rằng: Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Minh, giặc Mạc Đăng Dung bị lịch sử Việt Nam kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bây giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền rủa bọn Mạc.

Giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Việt Nam Cộng Ḥa, cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng đất của ḿnh sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau. Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa không có ngoại thù.

Trung Cộng không có chiến tranh với Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Không có áp lực ngoại xâm.

Năm 1958, là lúc thịnh thời nhất của Chủ Tịch Hồ chí Minh, của Đại Tướng Vơ nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt Nam vừa trải qua cuộc cải cách ruộng đất, 246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng lao động (cộng sản), dân chúng...bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng. Không c̣n kẻ nội thù.

Nhất là lúc ấy Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội Việt Nam Cộng Ḥa là Việt gian, là Ngụy. Họ phải hết sức giữ ǵn để khỏi mất chính nghĩa.

Thế sao đảng cộng sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm của Tộc Việt?

Bàn về việc kư thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông qua Quốc Hội. Bấy giờ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa cũng có Quốc Hội. Nhưng Quốc Hội không được hỏi đến, không được bàn đến và nhất là không được thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc mắc này, tôi xin Quư Vị suy đoán và trả lời.

3.6 - Một câu hỏi được đặt ra:

Vậy th́ v́ lư do ǵ mà đảng cộng sản Việt Nam lănh đạo chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa lại nhượng lănh hải cho Trung Cộng quá dễ dàng? Cho đến nay, tôi cũng không t́m ra lư do thỏa đáng.

Tôi không t́m ra v́: Tất cả những vị trong bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam dự buổi hội quyết định nhượng lănh hải, đều đă từ trần. Các vị trong nội các Phạm văn Đồng hồi ấy, không biết nay có ai c̣n sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằng Đại Tướng Vơ nguyên Giáp, vừa là Bộ trưởng bộ quốc pḥng, vừa là Ủy viên bộ chính trị là c̣n tại thế. Đại Tướng là người có học thức cao nhất bộ chính trị, từng là Giáo sư sử học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành của Đại Tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm văn Đồng kư văn kiện này Đại Tướng phải biết. Nay Đại Tướng đang đi vào những ngày cuối cùng của đời người. Nếu sĩ khí của Đại Tướng c̣n, xin Đại Tướng cho Quốc Dân biết không? (3)

Ghi chú (3): Sau vụ cải cách ruộng đất. Thấy dân chúng, cán bộ quá bất măn. Chủ Tịch Hồ chí Minh sợ có biến, vội đưa vụ sửa sai. Nhận thấy bây giờ duy có Đại Tướng Vơ nguyên Giáp là có uy tín nhất, bộ chính trị tập hợp dân chúng, cán bộ, rồi mời ông ra thay đảng...xin lỗi.

Nếu nói rằng khi kư văn kiện trên, là tự ư Thủ Tướng Phạm văn Đồng th́ không thể nào tin được. V́ chính ông Phạm văn Đồng từng than rằng: Ông là một Thủ Tướng lâu năm,  nhưng không có quyền hành ǵ, ngay cả việc muốn thay một Bộ trưởng cũng không được.Vậy th́ đời nào ông dám kư văn kiện dâng đất cho Trung Cộng.

Ví thử ông Phạm văn Đồng tự ư kư văn kiện trên, th́ năm 1977 văn kiện ấy lộ ra ngoài. Người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm văn Đồng hăy c̣n sống, sao bộ chính trị, Quốc Hội và chính phủ không truy tố ông ra ṭa về tội phản quốc? Tội này trong h́nh luật việt cộng phải xử tử h́nh. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?

Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn pḥng bộ chính trị, văn pḥng bộ ngoại giao Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không? Các vị trong bộ chính trị hiện thời có thể công bố cho Quốc Dân biết không? Nếu quư vị yên lặng, th́ muôn ngh́n năm sau, lịch sử c̣n ghi: Đảng cộng sản bán nước, mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu tài, chứ không phân biệt rằng bộ chính trị 1958 bán nước, chứ bộ chính trị 2001 không hề làm việc này.

Chúng tôi xin ngưng lời để Quư Vị thắc mắc, trước khi điều trần sang phần thứ nh́.

 

4. Vụ nhượng lănh thổ mới Đây.

Kính thưa Quư Vị,

Bây giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nh́, đó là:

Hiệp định biên giới trên đất liền Việt Nam, Trung Quốc ngày 30.12.1999.

Hiệp định phân định lănh hai Việt Nam, Trung Quốc ngày 25.12.2000.

4.1 - Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp Định.

Hai hiệp định nay đếu kư trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt Nam th́:

Ông Lê khả Phiêu làm Tổng bí thư đảng cộng sản.

Ông Trần đức Lương làm Chủ Tịch nhà nước.

Ông Nông đức Mạnh làm Chủ Tịch Quốc Hội.

Ông Phan văn Khải làm Thủ Tướng.

Ông Nguyễn mạnh Cầm làm Bộ Trưởng Ngoại Giao.

Ai chịu trách nhiệm khi kư hai hiệp định trên? Cá nhân th́ tôi không biết, nhưng có một điều tập thể th́ ai cũng khẳng định là bộ chính trị của đảng cộng sản Việt Nam. Không cần biết người kư là Chủ Tịch Trần đức Lương, Thủ Tướng Phan văn Khải hay Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn mạnh Cầm. Tôi xin khẳng định: Ai kư cũng chỉ là người tuân lệnh bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam.

Nhưng người quyết định là ai? Ông Phan văn Khải, Nguyễn mạnh Cầm ư? Hai ông này không có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê khả Phiêu quá yếu, không thể quyết định một ḿnh. Ông Trần đức Lương, Nông đức Mạnh càng không có quyền ǵ. V́ vậy tôi mới quyết đoán rằng vụ này do bộ chính trị đảng cộng sản chủ trương.  Hiện tất cả các ông trong bộ chính trị thời Lê khả Phiêu vẫn c̣n sống, rất khỏe mạnh. Khi quyết định nhượng đất biển cho Trung Cộng các ông ấy đều biết rất rơ rằng:

Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Tŕnh độ dân chủ,  phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của Tổng bí thư Lê khả Phiêu không thể so sánh với Hồ chí Minh năm 1958. Mỗi vị trong bộ chính trị bây giờ là một mảng, chứ không thể là một khối như bộ chính trị hồi 1958.

Các vị trong bộ chính trị thời Lê khả Phiêu đều biết trước rằng: Kư hiệp ước nhượng lănh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, dấu diếm đảng viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm. V́ vậy phải có nguyên do ǵ trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho Quốc Dân biết không?

Thời gian ấy (1999-2000) đảng cộng sản lấn át Chủ Tịch nhà nước, cũng như Thủ Tướng nhất. Đến nỗi Chánh văn pḥng thủ tướng chỉ v́ nói một câu không mấy lịch sự với người đàn bà có thế lực trong đảng, mà bị bắt giam không lư do, Thủ Tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoại.

Quyền gần như nằm trong tay ba ông cố vấn là cựu Tổng bí thư Đỗ Mười, cựu Chủ Tịch nhà nước Lê đức Anh và cựu Thủ Tướng Vơ văn Kiệt. Ba ông này như ba Thái Thượng Hoàng thời Trần. Tuy mang danh cố vấn, nhưng ba ông vẫn c̣n uy quyền tuyệt đối.

Cũng trong thời gian ấy, cả thế giới trừ Trung Cộng đều có chính sách ngoại giao rất đẹp với Việt Nam: Hoa Kỳ (Tổng Thống Bill Clinton), Liên Âu, các nước Asean đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt Nam. Nhất là Tổng Thống Clinton kư sắc lệnh bỏ cấm vận Việt Nam, mở cửa cho sinh viên Việt Nam sang du học Hoa Kỳ, mở cửa cho hàng Việt Nam được nhập vào Hoa Kỳ. Nói tóm lại thời gian từ năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt Nam không bị một áp lực quốc tế nguy hiểm nào, đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng để được viện trợ vũ khí, để được che chở.  

Cũng thời gian trên, Việt-Trung không có tranh chấp lănh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh. Vậy v́ lư do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung Cộng?

4.2 - Chi tiết vụ cắt Đất.

Vụ cắt đất kư ngày 30.12.1999, th́ tôi được biết tin chi tiết, do hai kư giả Trung Cộng là bạn với tôi thông báo vào ngày 9.1.2000. Nghĩa là 10 ngày sau. Hai anh thuận lại, theo tinh thần bản hiệp định th́: Việt Nam nhường cho Trung Quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước), thuộc hai Tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là:

Nhượng vùng Cao Bằng, sát với hang Pak-bo, nơi Chủ Tịch Hồ chí Minh ẩn thân lănh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thành thánh địa của đảng cộng sản Việt Nam. Trước khi nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới.

Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc Tỉnh Lạng Sơn nơi có Cửa Ải Nam Quan.

4.3 - Ảnh hưởng vụ cắt đất.

4.3.1 - Mất biểu tượng năm ngh́n năm của tộc Việt.

Thưa Quư Vị,

Khu Ải Nam Quan này là vùng đất thiêng, là Thánh địa trong mấy ngh́n năm của người Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng Ải Nam Quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lănh thổ, cho tinh thần tự chủ, cho niềm tự hào của họ. Đây là vùng đất đi sâu vào lịch sử, văn học và tâm tư toàn thể người Việt. Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ Tịch Mao trạch Đông và Chủ Tịch Hồ chí Minh. Chủ Tịch Mao trạch Đông đă nói:

‘’Cái tên Ải Nam Quan nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa-Việt làm xấu t́nh hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam Quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung Cộng luôn hướng mắt nh́n về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại coi như mắt của nhân dân Việt ở phương Nam luôn nh́n về Bắc với t́nh hữu nghị’’.

Chủ Tịch Hồ chí Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung Cộng in trên bản đồ địa danh Mục Nam Quan mà thôi. C̣n phía Việt Nam trên bản đồ hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam Quan hay cửa Hữu Nghị.

4.3.2 - Mất cửa ngơ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt.

Tôi đă nhiều lần từ Việt Nam sang Trung Cộng bằng cửa Ải này và ngược lại. Lănh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Đây là cửa họng giao thông của Việt-Trung bằng đường bộ. Suốt hơn mấy ngh́n năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính v́ vậy mà con đường Quốc Lộ xuyên Việt mang tên Quốc Lộ 1, được đánh số cây số 0 từ đầu cây cầu Nam Quan. Tất cả Thư tịch Việt Nam đều chép rằng:

Con đường Bắc Nam khởi từ Ải Nam Quan. Hoặc Lănh thổ Việt Nam, Bắc giáp Trung Cộng, khởi từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, theo h́nh chữ S.  

Bấy giờ nếu Qúy Vị vào Website của bộ ngoại giao Việt Nam, Quư vị sẽ không thấy hàng chữ trên, mà chỉ thấy câu: Lănh Thổ Việt Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc.

Thưa Quư Vị,

Cái cây số 0 đó là cây số 5 cũ đấy. Cột cây số 0 bây giờ ở phía Nam cột 0 cũ 5 cây số. Từ cây số 0 đến cây số 5 nay thuộc Trung Cộng. Sát cây cầu Nam Quan, phía bên Trung Cộng cũng như Việt Nam, đều có nhiều cơ sở:

Cơ sở Hải Quan. Băi đậu xe tải, để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế. Cơ sở di chú của công an để kiểm soát Passeport. Đồn của quân đội để tuần pḥng, bảo vệ lănh thổ.  Hàng chục cơ quan, khác như bưu điện, ngân hàng, công ty điện, nước. Về phía dân chúng, hàng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn.

Các cơ sở phía Nam thuộc Việt Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1978, quân đội Trung Cộng đă san bằng hết. Kể cả cây cột biên giới. Tuy vậy sau chiến tranh, đă xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đă xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30.12.1999 kư th́ toàn bộ khu này thuộc Trung Cộng. Những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một ṭa nhà duy nhất.

4.3.3-  Mất dân, mất di tích lịch sử.

Đi sâu vào khu vực phía Nam của Nam Quan ít cây số nữa là Quận Lỵ Đồng Đăng,  rồi tới Tỉnh Lỵ Lạng Sơn. Đây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của Tộc Việt: Động Tam Thanh, Tượng Núi Tô Thị, Thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng Sơn xưa là Thủ đô của con cháu giặc Mạc Đăng Dung, mà năm 1540 đă dâng đất cho Trung Cộng, để được bao che cát cứ quân phiện một thời gian. Trong chiến tranh Hoa-Việt 1978, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san bằng. Chắc Quư Vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Qúy Vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung Cộng đă làm ở Lạng Sơn. Kinh khiếp nhất là Động Nhất thanh, Nhị Thanh, Tam Thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào làm hư hại rất nhiều.

Đi sâu vào phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi Lăng, nơi mà quân Trung Cộng vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về Thủ Đô Thăng Long của Việt Nam xưa. Tại đây đă diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của triều đại Tống, Mông Cổ, Minh, Thanh bị giết và cũng tại đây, có không biết bao nhiêu Tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những Tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa th́ đầu vẫn bêu tại một mơm núi, gọi là núi Đầu Quỷ. Tại Ải Chi Lăng, núi Đầu Quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sử. Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1978, khi các tướng hồng quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc truyện cũ th́ họ toát mồ hôi lạnh, phải ngưng lại. May mắn thay khu này vẫn c̣n thuộc Lănh Thổ Việt.

Trở lại vùng đất mà đảng cộng sản Việt Nam đă nhượng cho Trung Cộng, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm ngh́n năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng,  chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung Quốc đánh sang. Có không biết bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ng̣i về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng hănh diện đời họ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung Cộng, kẻ thù năm ngh́n năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc tới. Thương tổn tinh thần quá lớn. Gần đây nhất, trong chiến tranh 1978, phía Việt cũng như Trung Cộng, chôn trên Lănh Thổ ḿnh, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả ḿn. Sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công sự chiến đấu dọc biên giới thành bốn ṿng đai. Mấy chục ngh́n chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn c̣n. Trong khu vực này dân chúng, gia đ́nh liệt sĩ đă ghi dấu tưởng niệm thân nhân họ. Nay trao cho Trung Cộng, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lănh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung Cộng bất đắc dĩ. Các ṿng đai pḥng thủ bị mất. Dân tộc Việt Nam mất mát về an ninh quá nhiều.

4.4 - Vụ cắt lănh hải.

Hiệp định phân định lănh hải Việt-Trung ngày 25.12.2000. Từ giữa Thế Kỷ Thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rơ Lănh Hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào Thế Kỷ Thứ 15, Việt Nam đă định Lănh Hải qua vụ Nhà Vua sai vẽ Hồng Đức bản đồ. Theo bản đồ này th́ các Quần Đảo Hoàng Sa (Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) thuộc Đại Việt, và hai Quần Đảo đó đều thuộc Việt Nam cho đến khi bộ chính trị thời 1958 trao cho Trung Cộng (trên lư thuyết).  Vào những thời kỳ ấy (1500-1887), Thủy quân cũng như thương thuyền tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển là bao, nên chưa có những đụng chạm. Sau khi Triều Nguyễn của Việt Nam kư ḥa ước 1884, công nhận quyền bảo hộ của Pháp, th́ người Pháp mới định rơ Lănh Hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt Nam, đă kư với Thanh triều ḥa ước 1887, định rơ Lănh Hải trong Vùng Vịnh Bắc Việt. Đối với ḥa ước này, Việt Nam đă chịu khá nhiều thiệt hại, v́ mất một số Đảo, mà dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên Đảo này vẫn c̣n nói tiếng Việt, ẩm thực theo Việt và dùng y phục Việt. Chúng tôi đă từng thăm vùng này hồi 1983. Tuy nhiên với ḥa ước 1887 Lănh Hải Vịnh Bắc Việt được phân chia như sau: Trung Cộng 38% Việt Nam 62%. Đối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rơ t́nh trạng giữa Trung Hoa và Việt Nam, họ thấy Thanh triều chấp nhận 38%, th́ họ cho rằng ḿnh thắng thế. C̣n Thanh triều khi đạt được 38%, th́ họ coi như một món quà trên trời rơi xuống. V́ trong quá tŕnh lịch sử, Trung Cộng vẫn coi Vịnh Bắc Việt là của Việt Nam.

Chứng cớ: Vùng đất Hợp Phố là đất cực Nam của Trung Cộng, thế nhưng lại có Hải Cảng Bắc Hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt Nam. Nếu là đất của Trung Cộng họ phải gọi là Thị Xă Nam Hải chứ? Rơ ràng vùng này là đất cũ của Việt Nam.  

Vùng Vịnh nằm ở phía Nam Trung Cộng, phía Tây Đảo Hải Nam, phía Bắc Việt Nam mà Pháp-Hoa kư ḥa ước 1887 đó, Việt Nam là Vịnh Bắc Việt. Trung Cộng cũng gọi là Vịnh Bắc Bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy th́ rơ ràng Vịnh này của Việt Nam. Nếu của Trung Cộng th́ họ phải gọi là Vịnh Nam Bộ chứ?

Bây giờ đến hiệp định Việt-Hoa 25.12.2000 th́ vùng Vịnh Bắc Bộ được chia ra như sau: Việt Nam 53% Trung Cộng 47%. So với trước 1887 th́ Việt Nam chỉ mất có 38%, nay mất thêm 9% nữa.

4.5 - Ảnh hưởng vụ cắt lănh hải.

4.5.1 - Mất lănh hải, quốc sản.

Theo hiệp định này th́ rơ ràng đảng cộng sản Việt Nam đă nhường cho Trung Cộng tới 9% Lănh Hải vùng Vịnh Bắc Việt. Cái đau đớn là vùng nhượng là vùng: Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực là những loại hải sản quư. Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt và dầu lửa. Một số Đảo trong vùng nhượng, thuộc Trung Cộng.

4.5.2 - An ninh quốc gia bị đe dọa.

Nếu vụ nhượng đất nguy hại về phương diện tinh thần, kinh tế, th́ vụ nhượng Lănh Hải lại nguy hại về an ninh. V́ Trung Cộng có thể dùng các Đảo này làm phi trường quân sự, căn cứ Hải Quân để uy hiếp Hà Nội và các Tỉnh Trung Châu Bắc Việt và miền Trung, miền Nam Việt Nam. Tin của ECL ghi lại, trong những cuộc hội đàm Hoa-Việt về Lănh Hải, Trung Cộng đ̣i cho được mấy Đảo nhỏ trong vùng. Cũng những tin của ECL về các cuộc họp của bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam th́ việc chủ trương nhượng các Đảo do quyết định của toàn thể, không do ba ông cố vấn Đỗ Mười, Lê đức Anh hay Vơ văn Kiệt. Để tỏ ư hoàn toàn quy phục Trung Cộng, bộ chính trị bấy giờ, nhóm quân đội mạnh, chủ chốt có ba vị Tướng là Lê khả Phiêu, Phạm văn Trà, Phạm thanh Nhàn. Trong tài liệu này, có phần ước tính t́nh h́nh Trung Cộng, Việt Nam, đại lược như sau:

Trung Cộng không có khả năng dùng không quân tấn công vào Hà Nội và các Tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. V́ khoảng cách từ các phi trường Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam quá xa. Phi cơ chỉ có thể tới oanh tạc, nhưng trở về th́ không đủ nhiên liệu.  

Nếu Trung Cộng tấn công bằng đường bộ, th́ ít nhất phải có một triệu quân. Với một triệu quân mỗi ngày cần 10.000 lượt ô tô tiếp tế. Mà đường bộ th́ các ngă Lai Châu, Lào Cai,  Hà Giang không dùng được. Chỉ có ba ngă chính tạm dùng. Một là Lạng Sơn, hai là Hạ Long (Quảng Yên cũ) ba là Cao Bằng. Ba ngă đó đường xá gồ ghề, núi non hiểm trở. Với 10.000 lượt xe, th́ chỉ ba ngày là đường nát hết.

Địa thế hiểm trở, khúc khuỷu của ba con đường này, chỉ cần ba người đóng một chốt,  cũng đủ cản trở một ngày tiếp tế.

Trong bối cảnh chiến tranh Hoa-Việt xẩy ra, th́ Hà Nội cũng như bộ chính trị, Bộ tổng tư lệnh có thể chuyển vào Thành phố Hồ chí Minh.

Trường hợp đó bắt buộc Trung Cộng phải dùng đường biển tiếp tế, chuyển quân. Hải Quân Cảng lớn sử dụng sẽ là Bắc Hải, Quảng Châu, Hải Nam. Cả ba cùng xa, rất khó khăn’’.

Bấy giờ Trung Cộng được mấy Đảo trong Vịnh Bắc Việt, rất gần với thềm lục địa của Trung Châu Bắc Bộ, miền Trung và miền Nam. Nếu như Trung Cộng thiết lập căn cứ Không quân, Hải Quân, trạm tiếp vận tại đây, th́ toàn bộ Lănh Thổ Việt Nam bị uy hiếp nặng nề. Ông Lê khả Phiêu, Phạm văn Trà, Phạm thanh Nhàn đều là Tướng lănh, từng cầm quân trên 40 năm, th́ các ông phải biết rơ điều đó. Biết, nhưng các ông vẫn làm, th́ có nghĩa là các ông muốn: ‘’Việt Nam vĩnh viễn nằm trong ṿng kềm tỏa của Trung Cộng’’. C̣n như các ông ấy làm việc đó để được ǵ, cho ai, v́ ai th́ tôi chịu.

 

5. Kết luận.

Kính thưa Quư Vị,

Cảm ơn Quư Vị đă kiên nhẫn ngồi nghe chúng tôi điều trần. Trước khi chấm dứt,  chúng tôi xin có đôi gịng kết luận.

5.1 - Phần thứ nhất.

Theo những huyền thoại cổ th́ vị Hoàng Đế lập quốc Việt Nam và Trung Hoa là anh em cùng cha khác mẹ, Lănh Thổ Việt Nam Bắc tới Động Đ́nh Hồ, tức bao gồm phần Hoa-Nam, kể từ sông Trường Giang đến Vịnh Thái Lan. Thế nhưng trải gần 5 ngh́n năm, bị Trung Hoa chiếm dần, cuối cùng chỉ c̣n lại phần lănh thổ hiện nay. Trong thời gian ấy, bất cứ triều đại nào, vị Vua nào của Trung Hoa cũng muốn chiếm Việt Nam đặt làm Quận Huyện. Tính chung, Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ gần ngh́n năm. Cho nên bất cứ người Việt Nam sinh ra đều biết rằng họ luôn luôn phải cảnh giác với cái họa Trung Hoa đe dọa hóa, cho nên trong giáo dục, trong văn học, trong tín ngưỡng, người Việt luôn đề cao các Anh Hùng chống xâm lăng Trung Quốc. Thời nào cũng thế, người Việt có thể chia rẽ, chém giết nhau, nhưng khi có họa xâm lăng của Trung Quốc th́ tất cả quên hết để cùng nhau giữ nước.  

Nhưng không ngờ! Chúng tôi không bao giờ tưởng nổi!

Toàn thể người Việt trong nước cũng như ở ngoại quốc cũng không thể tin được rằng: Đảng cộng sản từ năm 1930 đến nay 2001, lúc nào cũng nêu cao ngọn cờ yêu nước. Họ vỗ ngực tự tôn rằng họ với Trung Cộng bang giao trên thế b́nh đẳng. Việt Nam với Trung Cộng luôn luôn thân với nhau như môi với răng.

5.1.1- Họ kết tội Pháp là Thực dân, những người thân Pháp là Việt gian. Họ nhục mạ Triều Nguyễn (1802-1945)

V́ Triều Đ́nh này từng kư Ḥa ước vào năm 1862 và 1884, nhượng 6 Tỉnh miền Nam cho Pháp. Trong những phần trên, tôi không kể việc Triều Nguyễn kư hiệp ước nhượng đất cho Pháp. Bấy giờ nước Pháp trên đường đi t́m thuộc địa, đă khai chiến với Triều Nguyễn. V́ gươm đao, ghe thuyền không thể chống lại với liên thanh, đại liên, chiến hạm. Triều Nguyễn bị bại trận mà phải nhượng đất, chứ không vị Vua nào muốn như thế. Năm 1955, Pháp trả lại tất cả đất cho Việt Nam. Hiện người Pháp không làm chủ một thước đất nào trên Lănh Thổ Việt Nam, mà chỉ có mấy chục vạn người Việt đang làm chủ nhiều khu đất trên nước Pháp.

5.1.2- Họ kết tội Hoa Kỳ là Đế quốc, tất cả những người Việt thân Hoa Kỳ là Ngụy.

Trong khi Hoa Kỳ không hề ép bất cứ chính quyền Việt nào, người Việt nào nhượng cho Hoa Kỳ một thước đất. Hiện không có một người Hoa Kỳ nào được làm chủ một thước đất trên lănh thổ Việt Nam, mà chỉ có gần hai triệu người Việt Nam làm chủ không biết bao nhiêu đất trên khắp các Tiểu Bang Hoa Kỳ.

5.2 - Phần thứ nh́.

5.2.1- Năm 1540, họ Mạc dâng Đất cho Minh triều

V́ bị Triều Lê Trung Hưng ép phía Nam, bị 22 vạn quân Minh ép phía Bắc. Năm 1862, 1884 Triều Nguyễn nhường 6 Tỉnh miền Nam cho Pháp v́ bại trận, Tại sao?

Năm 1958, vào thịnh thời của Chủ Tịch Hồ chí Minh, của bộ chính trị đảng cộng sản.  Miền Bắc không bị miền Nam ép, không có chiến tranh với Trung Cộng, mà Chủ Tịch Hồ chí Minh và bộ chính trị lại chấp nhận nhượng vùng biển rộng lớn, trong đó có hai Quần Đảo Hoàng Sa (Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) cho Trung Cộng?

Năm 1999, 2000, trong nội địa Việt Nam không có chiến tranh, cũng chẳng có đối lập.  Hoa Kỳ, Liên-Âu đang theo đuổi chính sách ngoại giao mềm dẻo với Việt Nam. Việt-Hoa không có chiến tranh. Thế mà bộ chính trị lại cắt đất, cắt biển dâng cho Trung Cộng? Dâng v́ lư do ǵ? Để được ǵ? Họ có thể dâng bất cứ phần đất nào. Cớ sao họ lại dâng vùng Nam Quan, là vùng đất thiêng, mang tự hào của người Việt?

Theo Hiến pháp của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, của Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, bên cạnh chính phủ lúc nào cũng có Quốc Hội. Thỏa ước kư với Hoa Kỳ họ đưa ra Quốc Hội phê chuẩn. Thế nhưng ba lần cắt đất, Quốc Hội không được quyết định, không được bàn và cũng không được biết. Liệu bây giờ, vụ việc nổ tung, họ có đem hai hiệp định 1999-2000 ra cho Quốc Hội phê chuẩn không? Nếu như họ đem ra, th́ tôi tin rằng không có vị đại biểu nào dám bỏ phiếu thuận. Giả như Quốc Hội bác bỏ, th́ liệu Trung Cộng có chịu trả đất ở biên giới phía Bắc không? Họ có chịu rút người, rút bộ máy hành chánh đă đặt gần hai năm qua về không? Nếu như họ không rút, th́ Quốc Hội Việt Nam cũng chẳng làm ǵ được, v́ mấy ông Tướng trong quân đội đă dâng th́ liệu các ông có dám đem quân tái chiếm chăng?

Trong mấy năm qua, chúng tôi rất bất măn, v́ trong việc bang giao tại Á Châu, Quư Vị có khuynh hướng coi Việt Nam như một thuộc quốc, đôi khi c̣n tệ hơn, coi như một Tỉnh của Trung Cộng. Hôm nay đây chúng tôi xin lỗi Quư Vị! Quư Vị có cái nh́n đúng. Chúng tôi nh́n sai, sai hoàn toàn

Suốt năm năm qua, Việt Nam trở thành thuộc địa Trung Cộng về phương diện văn hóa. Nhất là từ khi Trung Cộng tiếp thu Hương Cảng. Phin ảnh, âm nhạc Trung Cộng chiếm lĩnh hoàn toàn trên hệ thống truyền thanh, truyền h́nh và báo chí. Phin ảnh, âm nhạc Việt Nam gần như bị đào thải. Mở bất cứ tờ báo chuyên về kịch ảnh, truyền h́nh, cũng chỉ thấy giới thiệu phin Hương Cảng, Trung Cộng. Đi đâu cũng thấy giới trẻ luận bàn về những phin Trung Cộng, những diễn viên, ca sĩ, người mẫu Hương Cảng, Trung Cộng mà không biết ǵ về những diễn viên ca sĩ, người mẫu Việt đói khổ quá đến độ phải đi làm gái điếm. Báo chí Việt Nam trong thời gian từ 30 tháng 10 đến nay 9.11 năm 2001, không ngớt tường thuật một dây gái điếm trên 200 người tại Thành phố Hồ chí Minh, toàn diễn viên, ca sĩ, người mẫu danh tiếng, do tú bà Huỳnh thị ngọc Quỳnh làm chủ. Mỗi lần đi khách như vậy, họ chỉ được 50 USD đến 150 USD, mà lại phải chia cho tú bà 30%. Rút cuộc họ chỉ được hưởng rất ít.  

Các sách Trung Cộng được dịch, bán tự do: Từ tiểu thuyết tới sách tham khảo, dĩ chí cả bói toán, phong thủy. Nhà xuất bản văn học vừa cho dịch, xuất bản hai bộ tiểu thuyết của Kim Dung, mà từ trước đến nay bị coi là quốc cấm. Trong khi nhà nước Việt Nam hô hào giao lưu văn hóa với người Việt ở nước ngoài, nhưng họ chỉ muốn đem sách trong nước ra ngoài bán, mà họ không cho đem sách của người Việt ở ngoại quốc vào trong nước, dù là sách khoa học, kỹ thuật, y học, tin học. Trước sau họ cho xuất bản không quá 10 quyển sách của người Việt hải ngoại, mà đa số sách đó nói xấu về Việt Nam Cộng Ḥa, hoặc bôi nhọ xă hội người Việt ở ngoại quốc. Đi đâu cũng thấy người lớn, trẻ con luận bàn những nhân vật trong các bộ sách:

1/ Mười đại hoàng đế Trung Hoa.

2/ Mười đại thừa tướng Trung Hoa.

3/ Mười đại gian thần Trung Hoa.

Trong khi đó không ai bàn, không ai nói tới những Anh Hùng, Anh Thư Trưng Trắc, Lê Hoàn, Lư Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ từng thắng Trung Hoa bảo vệ đất nước.

Chúng tôi muốn biết các vị có nhận thấy sự bất thường trong thông tin tại Việt Nam hiện giờ không? Hiệp định kư nhượng đất kư ngày 30.12.1999, sau đó diễn ra:

Cuộc trao đất, cuộc trao dân, các cơ sở hành chánh, quân sự Việt Nam phải rút khỏi khu nhượng địa, rất ồn ào, các chính quyền vùng bị nhượng từ cấp Xă, Huyện, Tỉnh được thông báo, được chỉ thị rộng răi.

Suốt gần hai năm qua, có hàng triệu người Việt băng qua các cửa khẩu đă nhượng cho Trung Cộng, th́ họ phải biết rất rơ khu đất thiêng bị mất. Như vậy th́ cuộc nhượng đất này đâu có thể bưng bít? Báo chí trong nước cấm không được đăng tải là lẽ thường. Thế sao không ai thông báo cho người Việt hải ngoại? Măi tới những ngày gần đây mới thấy trên Internet từ trong nước gửi ra ba bài của Đỗ việt Sơn, Lê chí Quang và Quang Chính, nói lờ mờ về vụ này. Chúng tôi bết cái bí ẩn đó là lớp người mới bất măn với lớp người cũ trong bộ chính trị. Họ muốn quy trách cho cá nhân, trong khi chính đảng cộng sản mới là những người chủ động.

Thưa Quư Vị, Phần điều trần của tôi đến đây chấm dứt. Chúng tôi đợi những thắc mắc của Quư Vị.

Giáo Sư Trần Đại Sỹ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VÀI SỬ LIỆU VỀ ẢI NAM QUAN

Trần Gia Phụng

            theo định nghĩa, Ải là chỗ đất hẹp và hiểm trở nằm ở giáp ranh giữa hai vùng núi, hay biên giới giữa hai nước, dùng làm đường thông thương qua lại. (1) Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc có câu:  ‘’Bóng cờ tiếng trống xa xa. Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa pḥng.’’ (câu 15 và 16)

            Như thế, trước hết chữ ‘’Ải Nam Quan’’ cần được hiểu là ngọn ải có đường đèo hẹp qua lại giữa Việt Nam và Trung Hoa ở vùng Nam Quan, Tỉnh Lạng Sơn. Vùng Nam Quan nguyên thủy tên là Pha Lũy. Các Bộ Chính Sử bắt đầu đề cập đến Ải Pha Lũy khi chép việc Trương Phụ đem quân tấn công nước ta năm 1406 (Bính Tuất), tuy quân Trung Hoa đă qua lại Ải này trước đó nhiều lần. Theo Bộ Cương Mục, Ải Pha Lũy (Nam Quan) ở Xă Đồng Đăng,  Huyện Văn Uyên, Tỉnh Lạng Sơn. (2) Như vậy, Ải Pha Lũy về sau gọi là Ải Nam Quan, là cảnh quan thiên nhiên vùng đồi núi hiểm trở có ngọn đèo qua lại giữa hai nước Việt-Hoa phía Bắc Lạng Sơn.

            Để làm ranh giới giữa hai nước, trên đỉnh của ngọn ải hay Đèo Pha Lũy, trước kia người Trung Hoa xây dựng một cửa hay cổng lớn và đặt tên là ‘’Nam Quan’’ (cửa về phương Nam) hay ‘’Đại Nam Quan’’ (cửa lớn về phương Nam). Người Pháp gọi cửa này là ‘’Porte de Chine’’ nghĩa là ‘’Cửa Trung Hoa’’. Từ đó mới có chữ Nam Quan và người Việt quen gọi là Ải Nam Quan thay v́ Ải Phá Lũy. Đối diện ngay với chiếc Ải này là những công tŕnh kiến trúc của Việt Nam. Ải Nam Quan mang ư nghĩa thứ nh́ là các công tŕnh kiến trúc của Trung Hoa và của Việt Nam.

Bài viết này xin đưa ra vài sử liệu về cả khu vực ngọn ải và những công tŕnh kiến trúc tại ngọn Ải này. Một trong những tài liệu địa lư đầu tiên của Việt Nam là sách Dư Địa Chí. Dư Địa Chí c̣n có tên là An Nam Vũ Cống, do Nguyễn Trăi (1380-1442) khởi thảo, tŕnh Vua Lê Thái Tông (trị vị 1434-1442) năm 1435. Nhà Vua sai người chú thích, cẩn án và bàn luận thêm. Sau đời Nguyễn Trăi, c̣n có người viết tiếp theo, nhưng phần chính cho đến đầu đời Nhà Lê là do Nguyễn Trăi soạn. Sách này có viết về Lạng Sơn, nhưng hoàn toàn không đề cập đến Ải Nam Quan (theo cả hai nghĩa). Cần phải chú ư đến điểm này, v́ theo truyền thuyết, Nguyễn Trăi đă tiến chân cha là Nguyễn Phi Khanh đến Ải Nam Quan khi Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Trung Hoa theo gia đ́nh Hồ Quư Ly năm 1407. Phải chăng đó là vấn đề gia đ́nh riêng tư, nên Nguyễn Trăi đă không đề cập đến trong sách của ḿnh?

I. TÀI LIỆU

1.Vân Đài Loại Ngữ (1773)

            Vân Đài Loại Ngữ (lời nói chia theo từng loại ở nơi đọc sách) (3) do Lê Quư Đôn soạn và đề tựa năm 1773. Lê Quư Đôn (1726-1784) đỗ Bảng Nhăn (thứ nh́ khoa thi Tiễn Sĩ sau Trạng Nguyên) năm 1752. Ông làm Quan dưới Đời Vua Lê Hiển Tông (Niên hiệu là Cảnh Hưng, trị vị 1740-1786), đă đi Sứ Trung Hoa năm 1760. Sách Vân Đài Loại Ngữ gồm có 9 quyển nói về 9 loại, trong đó quyển thứ 3 là ‘’Khu Vũ Loại’’. Khu Vũ Loại có 90 mục. Mục thứ 81 chép lại hai bài kư của người Trung Hoa liên quan đến Ải Nam Quan. Đó là Bài ‘’Trùng Tu Nam Quan Kư’’(Bài viết về việc trùng tu Cửa Nam) của Tuần Phủ Quảng Tây là Lư công Phất đời Ung Chính  Nhà Thanh. (4) và bài ‘’Tuần Duyên An Nam Biên Ải Kỳ’’ (Bài Kư về việc Tuần Biên Cửa Ải Nam Quan) của Hoàng nhạc Mục nói về việc tuần tra biên Ải dọc biên giới Hoa-Việt. Lê Quư Đôn  nói rơ đă sưu tầm được hai bài kư này nhân lúc đi Sứ năm 1760. Bài ‘’Trùng Tu Nam Quan Kư’’ cho biết viên Án Sát Quảng Tây là Cam nhữ Lai sửa sang công tŕnh kiến trúc Nam Quan của Trung Hoa từ mùa Xuân đến mùa Đông năm Ất Tỵ (1725) dưới đời Ung Chính. Bài kư mô tả: ‘’Cửa quan này tường cao, lầu kín, nơi khám xét, nơi đóng quân, nơi canh pḥng đều đầy đủ chỉnh tề, ’’(5)

2. Tấm bia của Nguyễn Trọng Đang (1785)

nguyễn Trọng Đang là Đốc Trấn (tương đương với Tỉnh Trưởng) Trấn (sau đổi thành Tỉnh) Lạng Sơn. Dưới đây là bản dịch tấm bia do ông Nguyễn Trọng Đang lập và đặt ngay tại Ải Nam Quan năm 1785:

‘’Khi nước ta có cả đất Ngũ Lĩnh, Cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau này thay đổi thế nào không rơ, gần đây lấy Châu Văn Uyên, Trấn Lạng Sơn làm Cửa quan, có Đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, h́nh như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh (6) Nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Ḥa nhà Lê nước ta) (7) Đài không có Quán, hai bên Tả Hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo cũ vậy. Nhà Lê ta Trung Hưng đời thứ 14, Vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 (1780), là năm Canh Tư, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càng Long (8) Nhà Thanh, Đang tôi giữ chức Đốc Trấn qua 5 năm Giáp Th́n (1784), sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, Đài mới có vẻ hoàng tráng. Trước kia Đang tôi đi Sứ về, được lĩnh Trấn này, tạ sứ trở về một lần, hạ sứ, cống sứ tiến quan hai lần, tôi thường phải đón tiếp. Tự nghĩ nước ta, dùng lễ văn thông với Trung Quốc, hiện nay Đức Đại Hoàng Đế, sủng mạnh thường ban, ngoài việc thuế cống sứ thần thời thượng phụng mạng đi lại, nên sửa sang Đài quán cao rộng cho được xứng đáng với t́nh nghi, đem việc tâu về Triều, đă được phê chuẩn, mới ủy cho Thập Nhị Hiệu Phiên Thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có 4 Dịch Trưởng trông nom công việc, khởi công từ mùa Hạ năm Giáp Th́n (1784). Đài cũ rồi, được cao rộng mới từ đấy, việc làm phải theo thời thế, không dám làm hơn người trước. Mùa Đông năm ấy, Đang tôi được triệu về Kinh, sau nhân sứ sang Trung Quốc khánh hạ trở về, mùa Xuân năm Ất Tỵ (1785), vâng mệnh đón tiếp Phó Sứ Nguyễn Đường Chi là cháu tôi vậy, đă may được vâng hưu mệnh, làm vinh dự cho cả chú và cháu. Kịp đến cửa quan, th́ Đài cũng vừa hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá, nên mới kể ngạch khái như trên. Sau này kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia này vậy.

Chức Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, Hàn Lâm Viện Thị Giảng, Tước Lạp Sơn Bá, Nguyễn Trọng Đang, hiệu là Thanh Chương, tự là Chú Du kư tên.

Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 (1785) là năm Ất Tỵ, mùa Xuân, trước ngày vọng (ngày 15) ba ngày.’’(9)

Xin lưu ư đến câu cuối cùng của bài văn bia: ‘’Sau này kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia này vậy’’. Xem xét ở bia này để nhớ rằng: ‘’...gần đây lấy Châu Văn Uyên, Trấn Lạng Sơn làm Cửa quan, có Đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào...nên sửa sang đài quán cao rộng cho được xứng đáng với t́nh nghi, đem việc tâu về Triều, đă được phê chuẩn, mới ủy cho Thập Nhị Hiệu Phiên Thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có 4 Dịch Trưởng trông nom công việc, khởi công từ mùa Hạ năm Giáp Th́n (1784)...Kịp đến cửa quan, th́ đài cũng vừa hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá...’’

Điều này có nghĩa là ngay tại Cửa quan, ngoài kiến trúc của Trung Hoa c̣n có kiến trúc của Việt Nam. Các tấm ảnh chụp đầu Thế Kỷ Thứ 20 cho thấy các kiến trúc này vẫn c̣n tồn tại. Bài văn bia này được t́m thấy trong Phương Đ́nh Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu,  không biết tấm bia của Nguyễn Trọng Đăng ngày nay c̣n được lưu giữ hay đă bị cất giấu hoặc phá hủy?

3. Bài thơ của Nguyễn Du (1813)

            năm 1813 (Quư Dậu), Nguyễn Du (1765-1820) vừa được phong hàm Cần Chánh Điện Học Sĩ, (10) vâng lệnh Vua Gia Long trị v́ (1802-1820), làm Chánh Sứ sang Nhà Thanh (Trung Hoa). Trên đường đi Sứ, ông sáng tác nhiều bài thơ chữ Nho và sau tập hợp lại thành sách Bắc Hành Tạp Lục.

Bắc Hành Tạp Lục gồm 110 đề mục và có nhiều đề mục Thi Sĩ Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120  bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự của ḿnh khi tiến qua Ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa. Đó là bài ‘’Nam Quan Đạo Trung’’ và ‘’Trấn Nam Quan’’. Riêng bài Trấn Nam Quan nói rơ biên giới giữa nước ta và Trung Hoa nằm ngay ở nơi mặt Ải. Nguyên văn bài thơ như sau:

 

TRẤN NAM QUAN

                                                Lư Trần cựu sự yểu nam tầm

                                                Tam bách niên lai trực đáo câm (kim)

                                                Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện

                                                Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm

                                                Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ

                                                Thiên cận tài tri giáng trạch thâm

                                                Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu

                                                Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm (11)

Dịch nghĩa:

TRẤN NAM QUAN

                                                Việc cũ đời Lư, Trần xa xôi mờ mịt khó t́m

                                                Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ

                                                Hai nước (Việt-Hoa) chia đều từ mặt lũy lẻ loi

                                                Một cửa oai hùng trấn đóng giữa ḷng muôn núi

                                                Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai

                                                Trời gần mới biết ơn mưa móc cao dày

                                                Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc

                                                Nhạc vua bên tai c̣n nghe văng vẳng.

            Mục đích chính của bài thơ này để nói lên tâm sự của người đi Sứ, trong đó bốn câu cuối diễn tả ḷng Trung quân ái quốc của ông. Tuy nhiên, bốn câu đầu lại nêu ra một thực tế lịch sử và biên giới giữa hai nước. Nguyễn Du xác nhận chuyện biên giới từ đời Lư-Trần trở về trước không được rơ ràng: ‘’Lư Trần cựu sự yểm nan tầm’’ (Việc cũ đời Lư-Trần xa xôi mờ mịt khó t́m), nhưng 300 năm sau đó, thẳng cho tới thời Nguyễn Du: ‘’Tam bách niên lai trực đáo câm’’ (Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), th́ hai nước Việt-Hoa đă chia đều mặt Ải này, ‘’Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện’’ (Hai nước ‘Việt-Hoa’ chia đều từ mặt lũy lẻ loi). Nguyễn Du là người đi Sứ. Ông ghi nhận lại những ǵ mắt thấy tai nghe trên đường đi. Thơ của ông không có mục đích tuyên truyền mà chỉ để giải khuây, hay diễn tả tâm trạng của ḿnh trên bước đường hành sứ. Chính ông bước qua Cửa Ải để tiến vào nước Trung Hoa. Chính ông chứng kiến rơ ràng tận mắt tại chỗ Ải Nam Quan là biên giới phân chia hai nước. Đó là một thực tế không thể chỗi căi được.  

            Bài thơ của Nguyễn Du viết năm 1813 có thể xem là bản ‘’Tuyên Ngôn về Biên Giới’’ Việt-Hoa có giá trị hơn là các cột mốc biên giới, v́ cột mốc bằng đá hay bằng xi măng có thể bị dời đi dời lại, hoặc bị thủ tiêu (thật sự cộng sản đă thủ tiêu), và những công tŕnh xây dựng của chính quyền Việt Nam có thể bị phá hủy, nhưng lời thơ của người đi sứ,  ngang qua Cửa Ải và ghi lại rằng hai nước đă chia đều mặt Ải này (tức mặt Ải này là biên giới giữa hai nước) là một thực tế bất di dịch không chỗi căi vào đâu được. ‘’Trăm năm bia đá th́ ṃn, Ngàn năm ‘thơ thánh’vẫn c̣n trơ trơ’’

4. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821)

            Sách này do ông Phan Huy Chú (1782-1840) soạn. Ông là con của Phan Huy Ích (1750-1822). Ông học rộng biết nhiều, nhưng thi Hương hai khóa (1807 và 1819) vào đầu đời nhà Nguyễn đều hỏng và chỉ được xếp hạng tú tài. Năm 1821, ông được bộ nhiệm làm Hàn Lâm Viện Biên Tu. Cũng trong năm này, ông tŕnh lên Triều Đ́nh Bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, được xem là Bộ Bách Khoa Toàn Thư về văn hóa nước ta. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí gồm 49 quyển, chia làm 10 phần, trong đó phần 1 là Địa Dư Chí từ quyển 1 đến quyển 5.

            Trong quyển 4 khi tŕnh bày về Tỉnh Lạng Sơn, Phan Huy Chú viết: ‘’Lạng Sơn, Nam giáp An Quảng, Bắc Giáp Ải Quan, Tây tiếp Kinh Bắc, Đông liền Cao Bằng...’’(12) Phan Huy Chú chỉ viết đơn giản ‘’Bắc giáp Ải Quan’’, điều đó có nghĩa là Ải Nam Quan là biên giới phía Bắc của Lạng Sơn.

5. Phương Đ́nh Địa Chí (1865)

nguyễn Văn Siêu (1799-1872), tự Tốn Ban, hiệu Phương Đ́nh, người Thôn Dũng Thọ, Huyện Thọ Xương, Tỉnh Hà Nội, đỗ Cử Nhân Trường Thi Thăng Long năm 1825, đỗ Phó Bảng tại Kinh Đô Huế năm 1838, làm Quan đến chức Án Sát, rồi cáo quan về quê dạy học. (13)

Nguyễn Văn Siêu học bác uyên thâm, nghiên cứu rộng răi. Tương truyền rằng Vua Tự Đức đă sắp ông là người đứng đầu trong bốn văn tài lỗi lạc nhất dưới triều đại ḿnh:

‘’Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy bất thịnh Đường’’

(Văn chương mà như của các ông Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát làm cho văn học đời Tiền Hán không c̣n (làm khuông mẫu nữa) thơ mà đến mức của các vị Tùng Thiện Vương, Tuy Lư Vương làm cho thơ thời thịnh Đường mất luôn giá trị) (14)

Nguyễn Văn Siêu được Vua Tự Đức tŕ vị (1847-1883) cử sang giao thiệp với Nhà Thanh (Trung Hoa) năm 1849. Trên đường đi sứ, ngang qua Ải Nam Quan, Nguyễn Văn Siêu không cảm tác thành thơ như Nguyễn Du, mà ghi lại toàn cảnh Nam Quan và bài văn bia của Đốc Trấn Nguyễn Trọng Đang lưu lại đời sau trong quyển sách về địa lư nổi tiếng của ông là Phương Đ́nh Dư Địa Chí (có sách viết là Phương Đ́nh Địa Loại Chí). Phương Đ́nh Dư Địa Chí được đề tựa vào năm 1865, gồm 5 quyển. Trong quyển thứ 5, mục viết về Tỉnh Lạng Sơn,  Nguyễn Văn Siêu mô tả Ải Nam Quan như sau:

‘’...ở Địa phận hai Xă Đồng Đăng và Bảo Lâm, Châu Văn Uyên, phía Bắc giáp địa giới Châu Bằng Tường Tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, hai bên Tả Hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một Cửa quan, có cánh cửa có khóa, chỉ khi có việc Sứ mới mở, tên là Cửa Nam Quan (một tên là Đại Nam Quan, một bên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan. Sử kư chép: Năm thứ 8 niên hiệu Nguyên Ḥa Nhà Lê (1540), Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là lũ Nguyễn Như Quế qua cửa Trấn Nam Quan, đến Mạc phủ Nhà Minh dâng biểu xin hàng, cái tên Trấn Nam mới thấy từ đây) Có Ngưỡng Đức Đài, khi trước lợp cỏ, năm thứ 34, niên hiệu Cảnh Hưng Quan Đốc Trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại...’’ (15)

Xin lưu ư đến câu viết của Nguyễn Văn Siêu: ‘’ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa khóa, chỉ khi có việc Sứ mới mở, tên là cửa Nam Quan...’’ Câu này có nghĩa là biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa nằm ngay mặt cửa Ải, v́ ‘’chỉ khi có việc sứ mới mở’’ có nghĩa là mở Cửa Ải là đi qua nước khác. Sự ghi nhận của Nguyễn Văn Siêu thêm một lần nữa xác nhận câu thơ của Đại Thi Hào Nguyễn Du: ‘’Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện’’ (Hai nước chia đều từ mặt lũy lẻ loi).

6. Đại Nam Nhất Thống Chí (1882)

Đại Nam Nhất Thống Chí có hai bộ: Bộ thứ nhất soạn dưới đời Vua Tự Đức. Bộ thứ nh́ soạn dưới đời Vua Duy Tân trị vị (1907-1916). Bộ thứ nh́ được khắc in năm 1909, chỉ viết về các Tỉnh Trung Kỳ nên thiếu sót, xin không nói đến ở đây.

Bộ Đại Nam Nhất Thống Chí thứ nhất do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn bắt đầu soạn năm 1865 và xong năm 1882, tức hoàn toàn dưới triều đại Vua Tự Đức và Bộ này được soạn sau Bộ Phương Đ́nh Dư Địa Chí, Bộ này có hai bản dịch: Bản dịch của Văn Hóa Tùng Thư thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục (Việt Nam Cộng Ḥa ), xuất bản ở Sài G̣n các năm 1964-1965. Bản dịch khác của Viện sử học Hà Nội vào đầu thập niên 70, mới được nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế tái bản.

Sau đây được trích từ Đại Nam Nhất Thống Chí viết về Ải Nam Quan:

‘’Cách Tỉnh Thành Lạng Sơn 31 dặm về phía Bắc, (16) thuộc Châu Văn Uyên, phía Bắc giáp Châu Bằng Tường (Pingxiang/P’inghsiang) Tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh Nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) Nhà Thanh, Án Sát Tỉnh Quảng Tây là Cam nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là ‘’Đại Nam Quan’’, phía Đông là một dải núi đất, phía Tây là một dải núi đá, đều dựa vào chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, (17) Cửa quan đặt ở quăng giữa có biểu đề ‘’Trấn Nam Quan’’, dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của Sứ Bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề bốn chữ ‘’Trung ngoại nhất gia’’, dựng từ năm Tân Sửu (1781) đời Càng Long Nhà Thanh. Phía Bắc cửa có ‘’Chiêu đức đài’’, đàng sau đài có ‘’Đ́nh tham đường’’ (nhà giữ ngựa) của nước Thanh, phía Nam có ‘’Ngưỡng đức đài’’ của nước ta, bên Tả bên Hữu, có hai dăy hành lang, mỗi khi Sứ Bộ đến Cửa quan th́ dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ’’(18)

Sau khi mô tả Ải Nam Quan, các Sử Gia Nhà Nguyễn đă đưa ra nhận xét như sau: ‘’Trấn Nam Quan không rơ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam Sử cũng như Bắc Sử đều không có minh văn. Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang sửa lại ‘’Ngưỡng Đức Đài’’, lập bia ghi đại lược nói:

’Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, Quan Ải trước ở đâu không rơ, là v́ diên cách thế nào không ghi đủ, Gần đây lấy địa giới Châu Văn Uyên Trấn Lạng Sơn làm Cửa quan, Cửa quan có ‘’Ngưỡng Đức Đài’’ không rơ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh Nhà Minh. Văn bia ấy nay vẫn c̣n. (19)

7. Bản Đồ Nhà Thanh năm 1764 (người Pháp in lại năm 1886)

Bản đồ này được t́m thấy trong Đại Thanh Nhất Thống Chí. Đại Thanh Nhất Thống Chí gồn 500 quyển. Bản đồ này nằm trong quyển 365, tờ 1 và 2, in năm Giáp Thân (1764). Tác Giả G. Devéria, người Pháp, đă phiên âm những danh từ địa lư chữ Trung Hoa trong bản đồ này và in trong sách La Frontière Sino-Annamite (biên giới Hoa-Việt), Nhà xuất bản Ernest Leroux, Paris 1886, trang 28. Lối phiên âm của ông G. Devéria không theo phương pháp phiên âm Wade-Giles, v́ lúc đó phương pháp này chưa ra đời. (Giáo Sư Herbert Allen Giles ấn hành Chinese-English Dictionary năm 1912, lối phiên âm Wade-Giles mới chính thức được phổ biến.)

Trên bản đồ này, Ải Nam Quan được ghi như sau:

Gde[Grande] Porte Sud/Tchen nam Kouan

(Cửa Nam lớn tức Đại Nam Quan/Trấn Nam Quan).

Cũng trên bản đồ này, Ải Nam Quan nằm ngay trên biên giới Việt-Hoa, phía Nam Bằng Tường thuộc Phủ Thái B́nh, Tỉnh Quảng Tây, Trung Hoa. Như thế, chính phía Nhà Thanh (Trung Hoa) cũng thừa nhận rằng biên giới phía Nam của họ giáp giới với Tỉnh Lạng Sơn của Đại Việt (tức Việt Nam sau này) ở tại Ải Nam Quan.

Chú thích thêm của người viết:

Tai-ping Fou=Thái B́nh Phủ. Gde Porte Sud [Grande Porte Sud]= Cửa Nam Lớn tức Đại Nam Quan. Tchen nam Kouan=Trấn Nam Quan (Đại Việt). Pin Siang=Bằng Tường. Porte Ping-eurl ai=Cửa B́nh Nhi Ải ở Thất Khê. Porte Chouei Keou Louan=Cửa Thủy Khẩu Quan ở Cao Bằng. Long Tcheou=Long Châu. Kiang Tcheou=Giang Châu. Nan Ning Fou=Nam Ninh Phủ.

8. Bút kư của Bác Sĩ  P. NÉIS (1887)

Bác Sĩ P. Néis là một thành viên người Pháp trong phái đoàn chung Pháp-Hoa để thi hành việc cắm mốc biên giới Việt-Hoa sau khi Pháp đặt nền đô hộ tại Việt Nam bằng Ḥa ước Giáp Thân kư tại Huế ngày 6.6.1884 và sau Pháp kư với Trung Hoa hiệp ước Thiên Tân lần thứ nh́ ngày 9.6.1885. (20)

Bác Sĩ P. Néis cùng phái đoàn Pháp rời Hải Cảng Marseille (miền Nam Pháp) qua Việt Nam tháng 9.1885, đến Hà Nội ngày 1.11.1886. Sau đó, hai phái đoàn Pháp-Hoa gặp nhau lần đầu ngày 12.1.1886. Sau đó, hai phái đoàn đến Ải Nam Quan trước tiên để thực hiện công cuộc hoạch định biên giới.

Xong công việc này, Bác Sĩ P. Néis đă viết bài ‘’Sur les frontières du Tonkin’’ (về biên giới Bắc Kỳ) đăng nhiều kỳ trên báo Le Tour du monde (Ṿng quanh thế giới), Paris,  1887. Bài này được ông Walter E. J. Tips giới thiệu và dịch qua Anh ngữ, thành sách The Sino-Vietnamese Border Demarcation 1885-1887 (Cuộc phân định biên giới Hoa-Việt 1885-1887),  Nhà xuất bản White Lotus Press, Bangkok, Thái Lan, 1998.

Trong bài viết của ḿnh, về vấn đề Ải Nam Quan có đoạn Bác Sĩ P. Néis viết và được dịch ra Anh ngữ (trang 38 sách dịch) như sau:

            ‘’The Gate to China is situated at the end of a not very deep gorge; the steep hills which overlook it are rarely higher than 50 to 60 metres. Since the peace, the Chinese have reconstructed it in cut stone and it is linked by a crennellated wall with the entrenched camps which crown the hills. The Chinese commissioners strongly insist that the gate and the crennellated wall must not be the border line, they want at least a few metres of fallow terrain in front of it. We go to the place and, as a great concession on our part, of which we ourselves were later to boast incessantly, we agreed that the border would follow the brook which passes at the foot of the hills of the Gate to China, about 150 metres before the gate. This was what I would call the first demarcation meeting, six months after our departure from France and three months after our arrival in Dong-Dang!’’

            Xin tạm dịch:

            ‘’Cổng sang Trung Hoa (Ải Nam Quan) nằm ở cuối một con đèo không sâu (cao) lắm,  những đồi chung quanh ít khi cao quá 50 đến 60 thước nh́n xuống đèo. Từ khi ḥa b́nh, người Hoa đă tái xây dựng cổng này bằng đá tảng, nối liền với một tường thành có lỗ châu mai đi kèm với hào đất ṿng quanh đồi núi. Các Ủy viên Trung Hoa đă mạnh mẽ yêu cầu rằng trường thành có lỗ châu mai không thể là đường biên giới, họ muốn rằng đường biên giới cách đó vài thước, nằm trên vùng đất bỏ hoang phía trước mặt. Chúng tôi đến tận chỗ và với sự nhượng bộ lớn lao về phía chúng tôi, mà sau đó chúng tôi không ngớt khoe khoang, chúng tôi đồng ư rằng biên giới chạy theo con suối dưới chân đồi cổng Trung Hoa, cách trước mặt cổng khoảng 150m. Đó là điều tôi có thể gọi là phiên họp phân định ranh giới đầu tiên, sáu tháng sau khi tôi rời nước Pháp và ba tháng sau khi tôi đến Đồng Đăng.’’

Đoạn này cho thấy hai điều: Thứ nhất, sau khi kư các Hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhất ngày 12.5.1884 và lần thứ nh́ ngày 9.6.1885, (20) theo đó Trung Hoa thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp tại Việt Nam, rút hết quân về nước, chấm dứt chiến tranh với Pháp ở Việt Nam, th́ Trung Hoa đă tái xây dựng Ải Nam Quan một cách chắc chắn bằng đá tảng và lập môt tường thành phân cách hai bên. Trước đó, trong trận đụng độ với quân Pháp ở Đồng Đăng (Lạng Sơn), quân Trung Hoa thua chạy theo hai hướng: Một lên Thất Khê, một lên Nam Quan. Tướng Negrier chỉ huy quân Pháp, truy đuổi quân Trung Hoa lên tới Nam Quan, rồi phá Cửa Ải này ngày 22.2.1885 (tức ngày 8.1.Ất Dậu). (21)

Thứ nh́, Pháp đă tự ư nhượng bộ cho Trung Hoa khoảng 150 m, xuống đến chân đồi có Ải Nam Quan và dùng con suối tại đó làm đường phân ranh. (22)

Về vấn đề này, vừa xuất hiện thêm tài liệu của ông Trương Nhân Tuấn, một tác giả hiện ở Pháp. Vào đầu năm 2002, ông Tuấn t́m kiến trong Thư khố Aix-en-Provence ở miền Nam nước Pháp, những tài liệu liên quan đến việc hoạch định và cắm mốc biên giới Việt-Hoa.

Trong điện thư đề ngày10.5.2000 gởi cho nhiều Nhà viết nghiên cứu ở Bắc Mỹ, ông Trương Nhân Tuấn viết:

‘’Tôi có đưa lên mạng Internet một tài liệu là biên bản phân giới vùng Quảng Tây ngày 15.12.1890 giữa đại diện chính phủ bảo hộ Pháp và Nhà Thanh, lấy từ hồ sơ Phân định biên giới tại Văn Khố Đông Dương ở Aix-en-Provence. Trong phần thứ 3 của tài liệu này có ghi rơ: 1er. borne: sur le chemin de Nam Quan à Dong-Dang (à 100m au S. de la porte).’’

Có nghĩa là: Cột thứ nhất: Trên đường đi Nam Quan về Đồng Đăng (ở 100 thước phía Nam của cổng). Con số 100 m và 150 m ở vùng đất Nam Quan rất quan trọng. Một bên ông P. Neis là người trong cuộc kể lại ngay sau khi thi hành xong công vụ hoạch định biên giới, một bên khác theo lời ông Trương Nhân Tuấn, là biên bản trong hồ sơ phân định biên giới. Sự sai biệt này cần có thêm nhiều tài liệu khác mới làm rơ được. Dầu sao, rơ ràng là người Pháp đă nhượng bộ người Trung Hoa và chấp nhận biên giới Việt-Hoa không phải ở ngay mặt Cửa Ải Nam Quan như ngày trước, mà cách trước mặt Ải về phía Nam một khoảng từ 100 đến 150 thước.

9. Cộng sản Trung Hoa lấn thêm 300 thước (trước 1975)

Trong sách Les Frontières du Vietnam: Histoire des frotières de la péninsule indocchinoise (Biên Giới Việt Nam: Lịch sử các biên giới Bán Đảo Đông Dương) của các tác giả thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Lịch Sử và Văn Hóa Bán Đảo Đông Dương ở Paris, ấn hành do sự chủ biên của P. B. Lafont, Nhà xuất bản L’Harmattan, Paris 1989 có bài của ông Antoine Dauphin nhan đề ‘’La frontière Sino-Vietnamien de 1895-1896 à nos jours’’ (Biên giới Hoa-Việt từ 1895-1896 đến ngày nay). Trong bài này, mục ‘’La frotimère des anne1ées 50 à nos jours’’ (Biên giới từ những năm 50 đến nay), trang 112. có đoạn viết:

‘’Lors de la construction, par l’aide chinoise, d’ouvrages ‘’d’amitiè’’ en territoire vietnamien, la partie chinoise aurait, dit aujourd’hui Hanoi, profité de ces travaux pour repousser plus au sud la ligne frontière. Ainsi par example, lors de la restauration de la voie ferréee de Yên Viên à Đồng Đăng, le point de jonction de la voie chinoise et de la voie vietnamienne aurait été reporté à 300 mètres à l’intérieur du territoire vietnamien, les Chinois déclarant que ce point de jonction marquait la frontière.

-   Des bornes-frontiè res auraient été déplacées.

-  Des terres vietnamiennes mises en culture par les Chinois auraient été accaparées,  etc.’’

Xin tạm dịch:

            ‘’Từ công cuộc, bằng viện trợ Trung Hoa, những công tŕnh ‘’hữu nghị’’ trên lănh thổ Việt Nam, phía Trung Hoa đă theo lời của Hà Nội ngày nay (1989), lợi dụng các công tŕnh này để đẩy thêm biên giới xa hơn nữa xuống phía Nam. Ví dụ, từ khi tái thiết đường xe lửa từ Yên Viên-Đồng Đăng, điểm tiếp hợp giữa hai đường xe lửa Trung Hoa và Việt Nam được dời đến 300 thước vào bên trong lănh thổ Việt Nam, người Trung Hoa tuyên bố rằng điểm tiếp hợp đó đánh dấu biên giới (giữa hai nước).

Nhiều cột mốc biên giới đă được dời chỗ.

Nhiều đất đai (trong lănh thổ) Việt Nam đă được người Trung Hoa khai hoang trồng trọt và chiếm đoạt.’’

Như thế, theo tài liệu này, người Trung Hoa đă chiếm sâu vào nội địa Việt Nam thêm 300 thước, hay nói cách khác Ải Nam Quan đă lùi sâu vào nội địa Trung Hoa thêm khoảng 300 thước từ khi lập đường xe lửa vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60.

Để hiểu rơ vấn đề này hơn, có lẽ chúng ta cần theo dơi bài viết của ông Lư công Luận từ Hà Nội ngày 4.2.2002, được Việt Báo Online, California, đăng lại số 2496, ngày 6.2.2002. Ông Lư công Luận viết:

‘’Chuyện về Ải Nam Quan thật sự là bi hài có một không hai trong lịch sử nhân loại. Thời chống Mỹ, để dễ bề tiếp tế Bắc Việt, cộng sản Trung Quốc cùng cộng sản Bắc Việt thỏa thuận làm hệ thống đường sắt nối liền Trung-Việt. Phía Trung Quốc làm đường ray (rộng hơn 1,2 m) đến biên giới mà thôi. C̣n phía bên Việt Nam cũng làm đường ray (rộng chưa tới 0,9) đến biên giới. Đổi bánh ray sẽ thực hiện ở biên giới. Nhưng thời chiến tranh, phía Bắc Việt thiếu thốn đủ thứ và tŕnh độ kỹ thuật kém, nên khi Trung Quốc đă hoàn tất xong th́ bên Việt Nam vẫn chưa xong. Thế là, ‘’Bác’’ Mao nói với ‘’Bác’’ Hồ rằng: ‘’Hiện nay, nguyên vật liệu của Trung Quốc c̣n thừa, Trung Quốc làm hộ cho Việt Nam một đoạn. Hơn nữa, đổi bánh hoặc toa ở biên giới núi non cách trở, không tiện. Tốt nhất đổi vào khu vực Việt Nam bằng phẳng hơn cho tiện. Khi nào ḥa b́nh rồi tháo dỡ ra cũng được.’’, ‘’Bác’’ Hồ vui vẻ nhận lời. Cụm từ ‘’vui vẻ nhận lời’’ măi về sau này, từ năm 1979 đến nay đă làm cho nhân dân ta khóc ṛng. Đoạn đường ray Trung Quốc trên đất Việt có người nói là 400m, có người 4km, theo tôi 400m th́ đúng hơn. Đến năm 1979, Trung Quốc xua quân qua chiếm nước ta, đến khi rút về cho quân đội nhổ cột mốc cắm vào điểm cuối đường ray Trung Quốc tạo nên đường biên mới. Tôi đă hỏi nhiều người ngày xưa đi du học Trung Quốc, Liên Sô và Đông Âu bằng tàu lửa, người ta cũng công nhận đổi toa ở trong nội địa Việt Nam, đi măi tới biên giới có đồn canh Việt Nam và đồn canh Trung Quốc đối diện. Đến khi hai bên đă hữu ḥa rồi, bên Việt Nam định xây lại đồn biên pḥng tại Ải Nam Quan được trả lời, đất Việt Nam kéo dài tới nơi có đường ray Việt Nam thôi, chớ làm sao trên đất Việt có đường ray Trung Quốc được.’’

Cả hai tài liệu, một do người ngoại quốc viết năm 1989, một do một đảng viên kỳ cựu ở trong nước viết năm 2002, đều xác nhận cộng sản Trung Hoa đă lấn thêm đất khi lập địa điểm chuyển hàng viện trợ. Tác giả Antoine Dauphin nói rằng cộng sản Trung Hoa lấn thêm 300 thước. Với âm mưu lấn đất của cộng sản Trung Hoa, nói là 300 thước nhưng biết đâu có thể c̣n hơn nữa? Cộng chung với vùng đất mà Pháp đă nhượng bộ khi phân định biên giới năm 1887 (150m), th́ biên giới mới cách Ải Nam Quan 450 thước (150+300), tức non nửa cây số. Không ai được biết chiều kia dài bao nhiêu để biết số diện tích đất thực sự đă mất.

Ngang đây, có lẽ cần t́m hiểu v́ sao ông Hồ chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam chịu nhượng cho đảng cộng sản Trung Hoa làm căn cứ chuyển hàng sâu thêm vào nội địa Việt Nam 300m? Trước hết, vào năm 1957, theo chủ trương chung sống ḥa b́nh của Bí thư thứ nhất của đảng cộng sản Liên Sô là Nikita Khrushev, Liên Sô đề nghị hai miến Bắc và Nam Việt Nam cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt. Chính phủ Bắc Việt quyết liệt phản đối. (23) Sau đó, tại Hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13.5.1959, ủy ban trung ương đảng lao động (tức đảng cộng sản) ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng vũ lực) và đưa miền Bắc tiến lên Xă Hội Chủ Nghĩa. (nghị quyết đăng trên nhật báo nhân dân (Hà Nội) ngày 14.5.1959) Nghị quyết trên đây được lập lại trong Đại hội 3 đảng lao động, khai diễn từ ngày 5.9 đến ngày 10.9.1960, mệnh danh là ‘’đại hội xây dựng chủ nghĩa xă hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà’’, đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng lao động là xây dựng miền Bắc tiến lên Xă Hội Chủ Nghĩa và ‘’giải phóng’’ miền Nam bằng vơ lực. (24) Nói cách khác, ông Hồ chí Minh và đảng lao động chủ trương quyết tâm dùng quân sự đánh chiếm miền Nam.

V́ chủ trương như thế, Bắc Việt rất cần viện trợ quân sự cũng như kinh tế của Liên Sô và cộng sản Trung Hoa. Riêng hàng hóa từ Liên Sô qua Việt Nam không thể vận chuyển bằng hàng không v́ quá đắt, cũng không thể vận chuyển bằng hàng hải v́ bờ biển phía Đông Liên Sô thường bị đóng băng và tàu bè chạy trên biển dễ bị phía Hoa Kỳ phát  hiện. Chỉ có con đường thuận lợi duy nhất là bằng xe lửa trên đường bộ qua Trung Hoa, đến Việt Nam, vừa rẻ tiền, vừa kín đáo, vừa an toàn.

Do tham vọng đánh chiếm miền Nam, Bắc Việt mới thỏa  thuận để cộng sản Trung Hoa đặt đường hỏa xa sâu trong nội địa Việt Nam và lập trạm tiếp hợp 300 thước cách đường biên giới cũ thời Pháp thuộc. Trạm tiếp hợp là địa điểm chuyển giao hàng, tức đổ hàng từ xe lửa Trung Hoa xuống, rồi chuyển vận hàng lên xe lửa Việt Nam để chở về Hà Nội phân phối.  Có một khác biệt lớn giữa đường sắt Việt Nam và đường sắt Trung Hoa là đường sắt Việt Nam rộng khoảng 0,9m trong khi đường sắt Trung Hoa rộng 1,2m.

Nếu địa điểm chuyển hàng nằm trên phần đất Việt Nam th́ sợ Hoa Kỳ dùng máy bay oanh tạc. Có thể cộng sản Việt Nam lúc đó thỏa thuận với cộng sản Trung Hoa rằng địa điểm chuyển hàng, tuy nằm ở phía Nam Ải Nam Quan trên 300 thước, nhưng cắm cờ cộng sản Trung Hoa, để cho biết rằng đây là phần đất của Trung Hoa, th́ tránh bị Hoa Kỳ đánh phá bằng máy bay, v́ Hoa Kỳ không muốn khiêu khích Trung Hoa nhảy vào ṿng chiến như đă xảy ra ở Triều Tiên. Chính t́nh trạng mập mờ này, cộng thêm sự khác biệt về chiều rộng đường sắt, là căn bản để sau này cộng sản Trung Hoa lư luận rằng biên giới của họ đến tận cuối đường sắt của họ, tức là ngay địa điểm tiếp hợp.

Sau năm 1975, nghĩa là sau khi thành công trong việc xâm lăng miền Nam, cộng sản Việt Nam không c̣n cần viện trợ nhiều như lúc chiến tranh. Cộng sản Việt Nam bắt đầu lo ngại âm mưu xâm lấn của ‘’đồng chí’’ láng giềng phương Bắc, nên nghiêng hẳn về phía Liên Sô để nhờ Liên Sô che chở và kư với Liên Sô hiệp ước 25 năm hỗ tương và pḥng thủ ngày 3.11.1978. Cộng sản Liên Sô lại sụp đổ năm 1991. Cộng sản Việt Nam đành phải quay lại t́m hậu thuẫn của cộng sản Trung Hoa. Lần này, cộng sản Trung Hoa liền chụp lấy thời cơ, lợi dụng t́nh trạng mập mờ ở vùng Nam Quan từ mấy mươi năm nay, để buộc cộng sản Việt Nam kư hiệp ước nhượng đất.

 

10. Tài liệu của đảng cộng sản Việt Nam sau cuộc chiến 1979

Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, cộng sản Việt Nam từ bỏ chánh sách trung lập giữa hai nước cộng sản đàn anh là Liên Sô và Trung Cộng, mà hoàn toàn ngă về phía Liên Sô. Bang giao giữa Việt Nam và Trung Cộng trở nên căng thẳng. Vào giữa năm 1978, Trung ương đảng cộng sản Việt Nam ra nghị quyết và bạch thư nói rằng Trung Cộng là ‘’kẻ thù trực tiếp, kẻ thù nguy hiểm của nhân dân Việt Nam, phải đánh đổ nhóm cầm quyền phản động thân Mao ở Bắc Kinh...’’ (25)

Ngày 17.2.1979, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa đưa trên 200.000 quân tấn công Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở sáu Tỉnh biên giới. Cuộc chiến này có thể chia thành 3 giai đoạn: Thứ nhất từ 17 đến 26.2, Trung Cộng tràn quân xâm lăng Việt Nam. Thứ nh́ từ 26.2 đến 5.3 hai bên cầm cự và những trận chiến đẫm máu xảy ra. Thứ ba từ 5 đến 16.3, Trung Cộng tuyên bố đă đạt được những mục đích đề ra và quyết định rút quân về.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, cộng sản Việt Nam đưa ra thêm một tài liệu nhan đề ‘’sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua’’, lên án chính sách bành trướng của cộng sản Trung Hoa và tố cáo nhà cầm quyền Bắc Kinh ‘’tiếp tục chống Việt Nam bằng mọi thủ đoạn’’. Trong sách này, có đoạn viết:

 ’Những người cầm quyền Trung Quốc đă tuyên bố rút quân về bên kia đường biên giới, nhưng thực tế cho đến nay quân của họ tiếp tục chiếm đóng hơn mười điểm trên lănh thổ Việt Nam, xây dựng thêm công sự ở các nơi đó, vi phạm trắng trợn đường biên giới do lịch sử để lại mà cả hai bên đă thỏa thuận tôn trọng. Suốt dọc biên giới Việt-Trung, họ tiếp tục bố trí nhiều quân đoàn có pháo binh và thiết giáp yểm trợ, tăng cường các phương tiện chiến tranh, ra sức xây dựng các công tŕnh quân sự, thường xuyên diễn tập quân sự, tung các đội thám báo, biệt kích xâm nhập nhiều khu vực của Việt Nam...Có nơi họ cho bắn súng cối hạng nặng suốt ngày, có nơi họ cho một tiểu đoàn quân chính quy tiến sâu vào lănh thổ Việt Nam hơn 4 km, bắn giết dân chúng, đốt phá nhà cửa và phá hoại hoa màu...’’(26)

Những lời báo động trong tập tài liệu này cho thấy t́nh h́nh toàn thể biên giới Việt-Hoa càng ngày càng xấu đi sau cuộc chiến năm 1979. Riêng tại Ải Nam Quan, trước năm 1975, cộng sản Trung Hoa đă lấn về phía Nam cửa ải trên 300 mét so với đường biên giới cũ thời Pháp thuộc. Tài liệu trên đây không trực tiếp đề cập đến khu vực Ải Nam Quan sau cuộc chiến năm 1979, nhưng tại đây nếu cộng sản Trung Hoa không tiến tới thêm, th́ cũng không lùi lại chút nào, và chắc chắn cộng sản Trung Hoa càng ngày càng củng cố vị thế của họ tại vùng biên ải này.

11. Hiệp ước ngày 30.12.1999

Sau khi Liên Sô sụp đổ, cộng sản Việt Nam hoàn toàn mất hậu thuẫn vừa kinh tế, vừa quân sự, không c̣n đủ sức đối kháng với Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, nên phải thay đổi chính sách ngoại giao. Lúc đó, ư đồ của cộng sản Việt Nam là làm thế nào vừa duy tŕ quyền lực độc đảng độc tôn cộng sản, vừa cải cách kinh tế theo đường lối thị trường tự do mà không hại đến quyền lực và quyền lợi của đảng cộng sản. Cộng sản Việt Nam liền kiếm cách thân thiện trở lại với Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, nhằm nhờ Cộng Ḥa Nhân Dân Trung  Hoa để duy tŕ ư thức hệ và quyền lực cộng sản. Lợi dụng cơ hội này, cộng sản Trung Hoa ép cộng sản Việt Nam phải kư hiệp ước về biên giới trên đường bộ cũng như trên mặt biển,

Ngày 30.12.1999, tại Hà Nội, Bộ Trưởng Ngoại Giao Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nguyễn mạnh Cầm và Bộ Trưởng Ngoại Giao là Đường gia Truyền (Tang Jianxuan) cùng kư hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc. Hiệp ước này được Quốc Hội Bắc Kinh thông qua ngày 29.4.2000 và Quốc Hội Hà Nội thông qua 9.6.2000. Đặc biệt là khi thông qua hiệp ước biên giới này, chỉ có một số ít lănh đạo cao cấp trong Quốc Hội Hà Nội mới đọc được nội dung hiệp ước, c̣n đại đa số dân biểu không biết ǵ cả, chỉ thông qua theo lệnh của đảng cộng sản Việt Nam. (27) Nội dung hiệp ước này chưa được tiết lộ ra ngoài.

Hiệp ước này rất bí mật, nhưng trước Đại hội 9 đảng cộng sản Việt Nam (từ 19 đến 22.4.2001), ông Đỗ việt Sơn, một đảng viên cộng sản lăo thành (54 tuổi đảng, 78 tuổi đời), ở số 26/14-125 đường Tô Hiệu, Hải Pḥng, đă gởi thư vào tháng 2.2001 công khai đặt vấn đề Việt Nam nhượng bộ quá nhiều cho Trung Quốc trong hai hiệp ước trên và yêu cầu Quốc Hội và Đại hội 9 đảng cộng sản Việt Nam công khai thảo luận vấn đề này. (28) Có thể ông Đỗ việt Sơn biết được tin này qua hệ thống đảng cộng sản Việt Nam, hoặc qua những người đi cắm cột mốc biên giới để thực thi hiệp ước. Từ đó người ta mới biết đến hiệp ước và nổ ra phong trào phản đối việc kư kết hiệp ước này.

Đảng cộng sản Việt Nam đă giao cho ông Lê công Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao,  Trưởng đoàn đàm phán cộng sản Việt Nam về vấn đề biên giới với cộng sản Trung Hoa, viết bài biện minh. Trong bài ‘’hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam-Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ’’ đăng trên tạp chí cộng sản, Hà Nội, số 2 tháng 1.2001, ông Lê công Phụng giải thích tiến tŕnh đàm phán hai bên như sau:

‘’Hai nước đă kư ‘’Thỏa thuận về nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lănh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc’’ ngày 19.10.1993.. .Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đă triển khai 7 ṿng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc  gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 ṿng đàm phán cấp chuyên viên...Trong các chuyến viếng thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2.1999 của đồng chí Tổng bí thư Lê khả Phiêu, lănh đạo cao cấp hai nước đă đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để kư hiệp định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000...’’ (29)

Đọc đoạn văn này, có một câu hỏi được đặt ra là tại sao hai bên lại phải ‘’...khẩn trương đàm phán...’’? Và tại sao phải ‘’...giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để kư hiệp định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000...’’? Vấn đề biên giới, thuộc phạm vi tranh tụng đất đai, đă tranh chấp cả hàng ngàn năm nay rồi và sẽ c̣n tranh chấp cả hàng ngàn năm tới, nhưng tại sao lại phải thanh thỏa trong thời gian ngắn như thế? V́ tham vọng đất đai, muốn chiếm ngọn đèo chiến lược để sau này dễ tiến hành xâm lấn,  cộng sản Trung Hoa nôn nóng giải quyết là chuyện b́nh thường, nhưng về phía cộng sản Việt Nam sao mà vội vàng như vậy?

Sau đó, trong tài liệu Hà Nội đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế (internet), viết dưới h́nh thức phỏng vấn, do Công Ty Phát Triển Phần Mềm (VASC-Orient) thực hiện ở Hà Nội ngày 28.1.2002, ông Lê công Phụng đă đề cập đến t́nh h́nh Ải Nam Quan sau hiệp ước 30.12.1999 như sau:

‘’Chúng  ta cũng biết là Ải Nam Quan là cuối khúc sông. Nếu chúng ta bắt đầu tính biên giới từ chân tường hoặc chia đôi Cửa Mục Nam Quan (danh xưng do Mao trạch Đông đặt) thế cũng không được. C̣n cột mốc số không, nhân dân Lạng Sơn báo cáo với trung ương, chính phủ và các nhà đàm phán rằng cột mốc có từ khi những người già chưa ra đời. Chúng ta tôn trọng cơ sở pháp lư đă có, tôn trong thực tiễn, nhất là v́ lâu nay quản lư đă như vậy. Cho nên hiện nay chúng ta công nhận Mục Nam Quan là của Trung Quốc, cách cột mốc số 0 trên 200m. Tính cột mốc số không về phía Nam là lănh thổ Việt Nam. Từ cột mốc số 0 về phía Bắc là của Trung Quốc.’’(30)

Một điểm cần chú ư là ‘’cột mốc số không’’mà ông Lê công Phụng nói là cột nào, do ai dựng lên? Đó là cột mốc số không nguyên thủy thời Pháp thuộc, hay cột mốc đă dời sau chiến tranh năm 1979, hay là cột mốc số không mới được cộng sản Việt Nam dựng sau năm 2000?

Như trên đă viết, biên giới Việt-Hoa trước 1975 đă cách Ải Nam Quan 450 thước. Năm 1979, nhân chiến tranh biên giới, quân cộng sản Trung Hoa một lần nữa dời thêm các cột mốc biên giới xuống sâu vào nội địa Việt Nam. Vậy mà sau hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc ngày 30.12.1999, ông Lê công Phụng nói rằng Ải Nam Quan chỉ cách cột mốc số không trên 200 thước, vậy có đáng tin không? Điều này để độc gỉa tự trả lời. Dầu ông Lê công Phụng có biện minh thế nào đi nữa, th́ cộng sản Việt Nam cũng đă để mất Ải Nam Quan, con đường đèo chiến lược, một cảnh quan thiên nhiên đầy dấu tích lịch sử dân tộc.

II. TẠM KẾT

Tóm lại, các sử liệu trên về Ải Nam Quan dầu chưa đầy đủ, vẫn cho thấy một số điểm sau đây:

Tại vùng Pha Lũy thuộc xă Đồng Đăng, Huyện Văn Uyên, Tỉnh Lạng Sơn, có một Ải thiên nhiên, là chiếc Đèo hẹp thông thương sang Trung Hoa. Trên đỉnh Ải Pha Lũy thiên nhiên, người Trung Hoa xây dựng một cửa hay cổng lớn và đặt tên là Nam Quan (người Pháp gọi là ‘’Porte de Chine’’nghĩa là ‘’cửa Trung Hoa’’). Từ đó người Việt Nam gọi là Ải Phá Lũy là Ải Nam Quan và cái cổng của Trung Hoa cũng là Ải Nam Quan, Tuy cùng danh xưng là ‘’Ải Nam Quan’’, nhưng cần phân biệt ‘’Ải Nam Quan’’ là cảnh quan thiên nhiên và ‘’Ải Nam Quan’’ là kiến trúc nhân tạo.

Lúc đó biên giới giữa hai nước nằm ngay tại mặt cửa (cổng) Ải này. Người Trung Hoa đă xây cổng hay cửa Ải lớn rồi, nên ngay đối diện với cổng Trung Hoa, khi xây dựng các công tŕnh kiến trúc của ḿnh, chính quyền nước ta chỉ xây một dăy nhà (nhỏ hơn so với Cửa Ải Trung Hoa) để sử dụng trong việc ngoại giao, v́ không lẽ người Việt xây thêm ngay tại đó một Cửa Ải nữa? (Người hàng xóm đă xây một hàng rào, không lẽ chúng ta thêm một hàng rào nữa?)

Suốt trong lịch sử dân tộc, dựa vào vị trí thiên nhiên hiểm trở của Ải Nam Quan và của nhiều ngọn Ải khác, người Việt đă kháng cự lại các cuộc xâm lăng của Bắc phương. Tổ Tiên chúng ta chưa bao giờ nhượng bộ một tấc đất cho ngoại bang. Vua Mạc Đăng Dung giao năm Động trong ṿng tranh chấp với Nhà Minh, mà bị lịch sử lên án măi cho đến nay. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện nay đang tâm kư Hiệp ước ngày 30.12.1999 chính thức giao Ải Nam Quan cho cộng sản Trung Hoa. Khi nói cộng sản Việt Nam làm mất Ải Nam Quan,  có nghĩa là làm mất địa vực Đèo Nam Quan, một cảnh quan thiên nhiên hiểm trở làm tiền đồn chống ngoại xâm.

Trên biên giới Việt-Hoa từ Tây sang Đông, có rất nhiều Cửa Ải qua lại giữa hai nước Việt-Hoa. Riêng Ải Nam Quan chẳng những giữ một vị trí quan trọng trong địa lư, trong lịch sử, trong bang giao quốc tế, trong văn học và đặc biệt cả trong tâm khảm của người Việt.  Cường quyền và bạo lực đă tạm thời cắt Ải Nam Quan ra khỏi bản đồ nước ta, nhưng cường quyền và bạo lực không thể nào xóa bỏ h́nh ảnh Ải Nam Quan trong trái tim người Việt chúng ta. Ải Nam Quan là biểu tượng đầy tự hào của dân tộc, là hồn thiêng sông núi của đất nước. Nước ta từng bị Trung Hoa đô hộ gần một ngàn năm, rồi chúng ta giành được độc lập. Nước ta từng mất toàn bộ 6 Tỉnh Nam Kỳ năm 1874, rồi Nam Kỳ chính thức trở về với Tổ Quốc năm 1949. Lần này, vấn đề Ải Nam Quan trong thời hiện đại tuy khó, nhưng ‘’Đường đi khó, không khó v́ ngăn sông cách núi, mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông’’ (lời Nguyễn Bá Học), vấn đề là chúng ta có đoàn kết và kiên tâm giữ vững ư chí như Tổ Tiên chúng ta hay không?

                                                                                       TRẦN GIA PHỤNG

 CHÚ THÍCH:

1. *  J. F. M. Genibrel, Tự điển Việt Pháp  Dictionnaire Vietnamien-Franç ais, Deuxième Èdition, Saigon, Imprimerie de la Mission à Tân Định 1898, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài G̣n,  chụp in lại, trang 3: ‘’Ải: Endroit ètroit, Dèfilè, Frontière.’’ và ‘’Ải quan: Dèfilè des frontières, Frontière.’  * Lê Ngọc Trụ, Việt ngữ chánh tả tự vị, Nhà xuất bản Thanh Tân, Sài G̣n, 1959, trang 2: ‘’Ải: chỗ đất hiểm, hẹp nhỏ, chỗ giáp hai ngọn núi hoặc hai nước.’’ * Hoàng Phê (chủ biên) và một số tác giả, Từ Điển tiếng Việt, nhà xuất bản khoa học xă hội, Hà Nội 1988 trang 19: ‘’Ải: Chỗ qua lại hẹp và hiểm trở ở biên giới hoặc trên Đường tiến vào một nước.’’

2. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Bản dịch nhà xuất bản văn sử địa, Hà Nội 1957, trang 741.

3. Theo Giáo Sư Dương Quảng Hàm,  ‘’vân’’ là một loại cỏ chống lại sâu cắn sách,  nên sách gọi là ‘’vân biên’’, và nơi đọc sách là ‘’vân đài’’. (Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài G̣n, 1960, trang 293 (chú thích 33).

4. Ung Chính (Yung-chen): Niên hiệu duy nhất của vua Thanh thế Tông tŕ vị (1723-1735)

5. Lê Quư Đôn, Vân Đài Loại Ngữ, Phạm Vũ và Lê Hiền dịch và chú giải, Sài G̣n 1972, Tự Lực, Hoa Kỳ tái bản, không đề năm, trang 160-162.

6. Gia Tĩnh: Niên hiệu duy nhất của Vua Trung Hoa là Minh thế Tông tŕ vị (1522-1566)

7. Nguyên Ḥa: Sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh, lật đổ Nhà Lê, giết Vua Lê Chiêu Tông năm 1526 và em Lê Chiêu Tông là Vua Lê Cung Hoàng năm 1527, lập ra Nhà Mạc, th́ một cựu thần Nhà Lê là Nguyễn Kim (1468-1545) bỏ trốn qua Lào, Nguyễn Kim t́m được người con út của Lê Chiêu Tông tên Lê Duy Ninh, lập lên làm Vua tức Lê Trang Tông tŕ vị (1533-1548), Trung Hưng Nhà Lê. Lê Trang Tông lấy niên hiệu là Nguyên Ḥa. V́ các Nhà viết sử ngày trước xem Nhà Mạc là ngụy triều, nên không dùng niên hiệu của Nhà Mạc, mà chỉ dùng niên hiệu của Nhà Lê.

8. Càng Long (Ch’ien-lung/Qianlong) : Niên hiệu duy nhất của Vua Thanh cao Tông trị v́ (1736-1795).

9. Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 (1785) là năm Ất Tỵ: Vua ta ở đây là Vua Lê Hiển Tông, Niên hiệu là Cảnh Hưng, trị v́ (1740-1786). 

*  Bài văn bia này trích từ Nguyễn Văn Siêu, Phương Đ́nh Dư Địa Chí, bản dịch của Ngô Mạnh Nghinh, Nhà xuất bản Tự Do, Sài G̣n, 1960, từ trang 268-269. Phương Đ́nh Dư Địa Chí Đề tựa năm 1862, gồm 5 quyển: Quyển đầu trích lục các sách Trung Hoa viết về nước ta, Quyển 2 viết về địa lư chí nước ta thời Hậu Lê, Quyển 3 đến quyển 5 chép về thời cận kim. (Dịch giả Ngô Mạnh Nghinh, sinh năm 1893, đỗ Cử Nhân Nho Học năm 1915, cùng khoa với hai em là Ngô Trọng Nhạ sinh 1897 và Ngô Thúc Định sinh năm 1900. Về sau, ông Ngô Mạnh Nghinh đă dạy Hán văn ở Đại Học Văn Khoa Sài G̣n từ 1954-1960.)

10. Cẩn Chánh Điện Học Sĩ không phải là một chức Quan, mà là một Hàm tước, phong cho những người có công với triều đ́nh. (Trần thanh Tâm, t́m hiểu quan chức Nhà Nguyễn,  nhà xuất bản Thuận Hóa, 1996, trang 71.)

11. Bài thơ  này trích từ mục ‘’Bắc Hành Tạp Lục (1813-1814)’’, đăng trong Nguyễn Du Toàn Tập, do Mai quốc Liên chủ biên, Nguyễn quảng Tuân, Ngô linh Ngọc, Lê thu Yến hợp soạn, nhà xuất bản văn học, Hà Nội, 1996, trang 295.

12. Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Bản dịch của nhà xuất bản, khoa học xă hội, Hà Nội, 1992, trang 154.

13. Theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài G̣n, 1960, từ trang 341 (chú thích 9 trang 354).

14. Cao Bá Quát (?-1854) Hiệu là Chu Thần, người Xă Phú Thi, Huyện Gia Lâm, Bắc Ninh, đỗ Cử Nhân năm 1831, làm Giáo Thụ Quốc Oai (Sơn Tây). Ông là người tài ba và rất tự hào về sở học của ḿnh nên thường bị các quan trên đè nén. Năm 1854, Cao Bá Quát tham gia cuộc nổi dậy của Lê Duy Cự ở Sơn Tây, bị thất bại và bị bắt giết. Cuộc nổi dậy của Lê  Duy Cự thường được gọi là ‘’giặc châu chấu’’, nhân v́ trong năm đó ở Bắc Ninh và Sơn Tây bị nạn châu chấu phá hoại mùa màng, nên người ta gọi như thế (Theo Dương Quảng Hàm, từ trang 341-342, chú thích 10)

Tùng Thiện Vương (1819-1870) tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con trai thứ 10 của Vua Minh Mạng tŕ v́ (1820-1840), em của Vua Thiệu Trị trị v́ (1840-1847), và là chú của Vua Tự Đức trị v́ (1847-1883).

Tuy Lư Vương (1820-1897) tên thật là Nguyễn Phúc Miên Trinh, con trai thứ 11 của Vua Minh Mạng, em của Vua Thiệu Trị và Tùng Thiện Vương, chú của Vua Tự Đức.

15. Nguyễn Văn Siêu, Sách đă dẫn từ trang 268-269.

16. Theo các số liệu ngày nay, Ải Nam Quan cách Thành Phố Lạng Sơn khoảng 17 cây số về phía Bắc.

17. Theo Từ Điển Việt-Pháp của J. F. M. Genibrel, Nhà in Tân Định, Sài G̣n, 1898, Nhà xuất bản, Khai Trí, Sài G̣n, chụp in lại năm 1973, th́ 1 trượng = 10xích, 1 xích = 0, 487m, vậy 1 trượng = 4,87 m. Theo những dịch giả Bộ Cương Mục th́: 1 trượng = 10 thước, 1 thước tàu = 0,3333 thước tây, vậy 1 trượng = 3,33 m. ( Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản  dịch nhà xuất bản, văn sử địa, Hà Nội 1957, sách đă dẫn, trang 160.)

18. Đại Nam Nhất Thống Chí, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997, tập 4 từ trang 384-385)

19. Đại Nam Nhất Thống Chí, trang 385.

20. Tuy khoảng 2 và 3 Ḥa ước Giáp Tuất (1874) kư kết giữa Dupré và Lê Tuấn tại Sài G̣n ngày 27.1 Giáp Tuất (15.3.1874) nói rằng Việt Nam phải theo chính sách ngoại giao của Pháp và không  thần phục nước nào khác, nhưng sau đó Triều Đ́nh vẫn cử người sang Trung Hoa nhờ Nhà Thanh giúp đỡ. Tuy Nhà Thanh đang lúng túng trước cuộc xâm lăng của Tây phương, Nhà Thanh vẫn cử quân sang Việt Nam, lấy cớ tiểu trừ loạn lạc, nhưng thực tế muốn chờ cơ hội để trục lợi.

Năm 1882, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nh́ rồi tung quân đánh chiếm các Tỉnh Bắc Kỳ. Trong khi đang hành quân ở Bắc kỳ, một cánh quân Pháp do Y Sĩ Jules Harmand cùng Đô Đốc Courbet vào đánh Huế tháng 8.1883, Kinh Thành thất thủ. Cuộc thương thuyết giữa đại diện Triều Đ́nh Huế là Trần Đ́nh Túc và Nguyễn Trọng Hợp cùng Harmand và Courbet đưa đến Ḥa ước ngày 25.8.1883 (23.7. Quư Mùi), thường được gọi là Ḥa ước Quư Mùi hay Ḥa ước Harmand, gồm 27 khoảng theo đó Việt Nam chịu nhận để Pháp bảo hộ, việc ngoại giao do Pháp phụ trách, Tỉnh B́nh Thuận thuộc về Nam Kỳ, Tỉnh Hà Tĩnh trở ra thuộc Bắc Kỳ. Triều đ́nh Huế trực tiếp cai trị từ Quảng B́nh vào đến Khánh Ḥa...

Tuy Triều Đ́nh đă kư ḥa ước, nhưng các Quan ở miền Bắc vẫn muốn tiếp tục chiến đấu và nhờ quân Trung Hoa giúp đỡ. Ngoài quân cờ đen của Lưu vĩnh Phúc, quân Nhà Thanh vẫn c̣n đóng rải rác ở Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai. Pháp liền cử Trung Tá Fournier đến Thiên Tân thương thuyết và kư với Tổng Đốc Lư Hồng Chương ngày 12.5.1884 một tạm ước (Thiên Tân 1 hay Fournier) gồm 5 khoản đại ư Nhà Thanh tôn trọng những ḥa ước kư kết giữa Pháp và Việt Nam, thuận rút hết quân Trung Hoa về nước, ngược lại Pháp tôn trọng biên giới giữa Trung Hoa và Việt Nam, từ bỏ số tiền bồi hoàn chiến phí mà Trung Hoa phải chịu (riêng phần Pháp) trong chiến tranh chồng các nước Tây phương xâm lăng Trung Hoa.

Sau khi kư tạm ước Thiên Tân, theo lời yêu cầu của Việt Nam Ḥa ước ngày 6.6.1884 (13.5. Giáp Thân) giữa Jules Patenôtre đại diện của Pháp và Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Phan, đại diện Việt Nam. Ḥa ước này thường được gọi là Ḥa ước Giáp Thân hay Ḥa ước Patenôtre, gần giống Ḥa ước 1883, chỉ sửa đổi đôi chút mà thôi.

Tuy nhiên về phía Trung Hoa, quân Nhà Thanh vẫn c̣n ở Bắc Kỳ, đánh Tuyên Quang Lạng Sơn. Sứ Thần Pháp ở Trung Hoa là Jules Patenôtre lại thương thuyết với Lư Hồng Chương và kư Ḥa ước Thiên Tân lần nữa ngày 9.6.1885 (Thiên Tân 2) theo đó Trung Hoa công nhận Pháp bảo hộ Việt Nam, ngược lại Pháp trả lại Trung Hoa các vùng Hải Quân Pháp đă chiếm ở duyên hải Trung Hoa và Pháp bỏ khoản tiền bồi hoàn chiến phí trước đây Trung Hoa hứa trả cho Pháp.

21. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nhà xuất bản, Tân Việt, Sài G̣n, in lần thứ 7, 1964, trang 546.

22. Pháp tự ư nhượng bộ mà không có ư kiến về phía Việt Nam. Chẳng những thế,  Pháp c̣n nhượng bộ ở nhiều vùng khác nữa. Tác giả Charles Fourniau, trong bài ‘’La frontière sino-vietnamienne et le face à face franco-chinois à l’époque de la conquête du Tonkin’’ (Biên giới Hoa-Việt và sự đối mặt Pháp-Hoa vào giai đoạn chinh phục Bắc Kỳ),  đăng trong Les frontières du Vietnam: Histoire des frontières de la péninsule indochinoise (Biên giới Việt Nam: Lịch sử các biên giới của bán Đảo Đông Dương) của các tác giả thuộc Trung Tâm Nghiên cứu Lịch sử và Văn hóa Bán Đảo Đông Dương ở Paris, do sự chủ biên của P. B. Lafont, Nhà xuất bản L’Harmattan, Paris, 1989, trang 92, đă viết: ‘’La convention de la délimitation de la frontière signée le 26 juin 1887 acceptait donc l’abandon d’une partie des territoires ou un litige subsistait entre les deux commissions: les deux principaux étaient, l’un sur la frontière du Yunnan, le canton de Tulong, tout entier territoire de l’Empire annamite et dont les trois quarts environ, soit 750 km2, étaient laissés à la Chine, et l’autre, à l’extrémité est de la frontière du Guandong, le cap Packlung et ‘’l’enclave annamite’’. Or cette dernière concession était doublement importante: elle enlevait un territoire au Vietnam et elle determinait la fixation de la frontière maritime, et l’appartenance des iles cotières...’’

(Xin tạm dịch: ‘’Quy ước phân định biên giới ngày 26.6.1887 chấp nhận bỏ một phần lănh thổ mà mối tranh tụng c̣n tồn đọng giữa hai ủy ban: Hai sự từ bỏ chính yếu là,  một ở biên giới Vân Nam, Tổng Tụ Long, hoàn toàn trong phần đất Việt Nam mà khoảng ba phần tư diện tích, tức 750 cây số vuông. đă giao cho Trung Hoa và sự từ bỏ kia ở cực Đông biên giới Quảng Đông, Đảo Packlung (Bạch Long) và ‘’phần đất lơm vào phía Trung Hoa của Việt Nam ‘’ (Phần đất của Việt Nam lồi qua phía Trung Hoa). Như thế, sự nhượng bộ cuối cùng này mang một tầm quan trọng kép: Nó lấy đi một phần lănh thổ của Việt Nam và quyết định cho việc cố định hải phận và sự tùy thuộc về biển...

23. William J. Duiker, Ho Chi Minh, Nhà xuất bản Hyperion, New York, 2000, trang 500.

24. Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Nhà xuất bản Văn Hóa, Houston, 2000, từ trang 152-180.

25. Hoàng văn Hoan, ‘Giọt nước trong biển cả’, hồi kư viết lời tựa tại Bắc Kinh năm 1986, nhóm T́m hiểu lịch sử, Portland, Oregon, xuất bản, 1991, từ trang 426.

26. Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1981. Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, in lần thứ 2 từ trang 92-93.

27. Nguyễn thanh Giang (trong nước) trả lời phỏng vấn ngày 24.2.2002 của Đài phát thanh Little Sài G̣n, Orange Country, California. Người Việt Online, ngày 25.1.2002, mục ‘’Tin Việt Nam’’.

28. Thư này được phổ biến hạn chế, về sau được nhắc lại trong kháng thư ngày 18.11.2001 của 20 cử tri gởi các chức quyền tại Việt Nam. (Tạp chí Việt Nam Dân Chủ, tháng 12.2001, http:www.lmvntd. org/dossier/ 0111 knghi.htm.)

29. Lê công Phụng, ‘’Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam-Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ’’, đăng trên tạp chí cộng sản. Hà Nội, số 2 tháng 1.2000.

30. Bài phỏng vấn ông Lê công Phụng ngày 28.1.2002 của đại diện Công Ty Phát Triển Phần Mềm (VASC-Orient) thực hiện ở Hà Nội được đưa lên Internet theo địa chỉ   vnn.vn/pls/news/ VASC-Orient. Hiện nay, nhiều sách báo ở Bắc Mỹ đă đăng lại đầy đủ bài phỏng vấn này, trong đó có báo Truyền Thông (Communications) , St. Leonard, Quebec,  Canada, số 3, tháng 3.2002, từ trang 52-58.

 

 

Hiệp ước dâng đất và Lănh Hải Cho Trung Cộng Của Việt Nam:

NHẬN XÉT VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HÀNH ĐỘNG

Luật Sư Nguyễn Quốc Lân

note: Bài viết dưới đây được tŕnh bày tại buổi Hội Thảo của Hội Ái Hữu Cao Đẳng Quốc Pḥng và Thân Hữu tại Emerald Bay Restaurant vào ngày 24.3.2002.

Hiệp ước dâng đất và lănh hải cho Trung Cộng của chính quyền cộng sản Việt Nam đă đưa người dân Việt Nam, đặc biệt là Cộng Đồng Việt Nam tại hải ngoại vào một cái thế rất là oái oăm: Lên tiếng phản đối th́ chẳng ai nghe, nhưng không lên tiếng phản đối th́ không chịu được. Trong một hoàn cảnh éo le đó, chỉ có người Việt Nam mới thực sự xót xa cho đất nước, cho dân tộc và cho thân phận của ḿnh. Nhưng cũng chính v́ những hành động đê hèn nhất đó, chính quyền cộng sản Việt Nam để lộ rơ nguyên h́nh một mục tiêu chính của họ là để bảo vệ vị thế và tương lai của chính họ hơn là bảo vệ sự vẹn toàn của đất nước. Mặc dầu vậy, không hẳn mọi người trong số họ đều coi nhẹ cái trọng trách bảo vệ quê cha đất tổ trước một h́nh thức xâm lăng mới từ phương bắc. Đây là lực lượng mà chúng ta cần khai thác nếu chúng ta muốn c̣n có hy vọng thay đổi được t́nh h́nh.

1. Ư nghĩa của hiệp ước

Việc kư kết hiệp ước dâng đất là một hành động rơ ràng nhất cho thấy cộng sản Việt Nam đi sâu vào qũy đạo của Trung Cộng. Đương nhiên các thế lực thân Trung Cộng đang nắm chắc quyền lực trong chính quyền và đảng cộng sản Việt Nam. Nh́n từ một khía cạnh khác,  điều đó có nghĩa là sự nghi ngờ về các thế lực từ thế giới Tây phương, mà đứng đầu là Hoa Kỳ, càng ngày càng tỏ ra đậm nét hơn.

Trong nhiều năm qua, dầu dưới chính sách cởi mở và thân thiện của chính phủ Clinton, cộng sản Việt Nam vẫn rất nghi ngờ về chính sách vừa đánh vừa xoa của người Mỹ.  Một bên là ngành hành pháp luôn vận động cho chính sách ḥa giải và hàn gắn sau chiến tranh, cởi mở giao thương, cải thiện ngoại giao, để tiến tới b́nh thường quan hệ trên mọi lănh vực. Bên kia là Quốc Hội đă liên tục đặt vấn đề nhân quyền, thông qua nghị quyết lên án đàn áp Tôn Giáo hay Vinh Danh các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đă hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam, hay những tranh luận gay gắt về vẫn đề băi miễn Tu Chính Án Jackson-Vanik, hay ban hành những điều luật chống đàn áp Tôn Giáo.  

Với đặc tính đa nghi Tào Tháo lồng trong một cuộc sống mà tất cả các hoạt động chính trị hoàn toàn khống chế bởi nhà nước, các cấp lănh đạo của cộng sản Việt Nam không tránh khỏi tin rằng các chánh sách thù nghịch đó phải được sự khuyến khích, cổ vơ hay chủ động đàng sau hậu trường của chính phủ Clinton. Họ sẽ tin rằng nếu không có sự hỗ trợ từ chính phủ Clinton, làm sao mà các cơ quan chính phủ Hoa Kỳ lại có thể ngang nhiên cổ vơ cho những chính sách trái ngược nhau như vậy?

Với sự thay đổi Nội Các của Ṭa Bạch Ốc, chính phủ Bush đă có những hành động thẳng thừng đối với Việt Nam như là để yên cho thông qua dự luật Nhân Quyền cho Việt Nam hay tuyên bố cho phép người Thượng trốn sang Canpuchia được định cư ở Hoa Kỳ.  Chính quyền cộng sản Việt Nam phải nhận ra rằng đối với Trung Cộng, một đối tác kinh tế quan trọng của Hoa Kỳ mà Hoa Kỳ c̣n đối xử một cách thẳng tay và cứng rắn như vậy, th́ đối với Việt Nam, người Mỹ chắc chắn sẽ không coi trọng lắm.  

Việc ngă theo Trung Cộng dó đó chỉ là một phản ứng tất yếu nhằm bảo vệ sự sống c̣n của chế độ. Việc hiến dâng lănh thổ và lănh hải, do đó chỉ là một cái giá họ phải trả để mua lấy sự che chở của người đàn anh phương Bắc này. Trừ khi Trung Cộng bơm viện trợ kinh tế vào Việt Nam như họ đă bơm vũ khí vào chiến trường Việt Nam trước đây, chính sách ngă theo Trung Cộng chỉ là đường đi vào ngơ cụt của cộng sản Việt Nam.

2. Căn bản pháp lư của hiệp ước dâng đất

            Một khi chính quyền hay đảng cộng sản Việt Nam chính thức kư hiệp ước với Trung Cộng, hầu như không có một thế lực bên ngoài hay diễn đàn nào có quyền xét xử việc làm này. Trong không khí phản kháng lên cao, nhiều người đă nhắc đến nào là Liên Hiệp Quốc, Ṭa Án Quốc Tế, hay chính phủ Hoa Kỳ. Tất cả các định chế hay diễn đàn này đều không có một thẩm quyền hay căn bản nào để xét xử vấn đề, đặc biệt đây chỉ là một vấn đề hoàn toàn có tính cách nội bộ và song phương giữa Trung Cộng và Việt Nam.

            Có người c̣n bàn tới cả việc phân tích căn bản công pháp quốc tế, hiến pháp nước Việt Nam hay căn bản pháp lư của bản hiệp ước. Đối với chính quyền cộng sản Việt Nam, các căn bản hiến pháp hay pháp lư không bao giờ là cản trở cho những chánh sách quan trọng của họ. Cho dầu vấn đề được đặt ra một cách đứng đắn, cộng sản Việt Nam vẫn có thể không coi trọng vấn đề.

            Các cuộc vận động chính trị, biểu t́nh phản đối hay xuống đường của Cộng Đồng Người Việt tại khắp nơi có thể không có một lợi ích thiết thực nào trong việc thay đổi thực tế của bản hiệp ước.

            Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không thể làm được ǵ hết hay không nên làm ǵ hết.

3. Cần phải làm ǵ với hiệp ước dâng đất ?

            Mặc dầu chúng ta không có một căn bản pháp lư hay một diễn đàn chính trị hiệu quả nào có thể vô hiệu hóa giá trị của bản hiệp ước, chúng ta vẫn phải t́m mọi cách để đưa vấn đề ra trước dư luận để mong rằng có một cơ may nào đó chúng ta có thể tạo ảnh hưởng được với vấn đề.

            Trong hoàn cảnh chính trị khá phức tạp liên quan đến hiệp ước dâng đất, một thế lực mà chúng ta cần nên khai thác là chính nội bộ của chính quyền và đảng cộng sản Việt Nam. Cho dầu chúng ta cho rằng tập thể chính quyền cũng như đảng cộng sản Việt Nam có vô tâm, tráo trở hay phản dân hại nước đến chừng nào đi nữa, trong số họ chắc hẳn phải có những thành phần thực sự khó chịu trước việc dâng đất cho ngoại bang như vậy.

            Bỏ những nghi kỵ giữa Nam-Bắc hay hận thù từ thời chiến tranh Việt Nam qua một bên, người Việt Nam nào mà không cảm nhận được cái trọng trách thiêng liêng hơn là bảo vệ sự vẹn toàn lănh thổ. Chỉ mới năm 1979 và nhiều năm sau đó, những người cộng sản trong số họ cũng đă dám đứng lên để chống lại cuộc chiến xâm lược của Bắc Kinh bất kể những khó khăn cực độ của họ trong thời gian đó, nhất là vừa mới ra khỏi chiến tranh Việt Nam và đang tiến hành cuộc chiến tại Campuchia. Nếu chúng ta có trông mong vào một thế lực nào ngơ hầu có thể thay đổi được t́nh thế liên quan đến hiệp ước dâng đất, đây chính là thành phần mà chúng ta cần khai thác triệt để. Muốn làm như vậy, chúng ta có thể tiến hành những kế hoạch như sau:

Thứ nhất: T́m cách vận động với các thành phần Việt kiều đang có mặt tại Hoa Kỳ hay các Quốc Gia khác trên thế giới để thông tin cho họ những sự thật về hiệp ước dâng đất.  Thành phần sinh viên du học từ Việt Nam tại khắp các Trường Đại Học tại Hoa Kỳ là một mục tiêu quan trọng.

Thứ hai: T́m cách vận động với các cơ quan truyền thông quốc tế hay các chương tŕnh phát thanh về Việt Nam về phản ứng của người dân Việt Nam đối với hiệp ước dâng đất với mục đích là các thông tin này sẽ được thông báo về Việt Nam một cách liên tục và sâu rộng.

Thứ ba: T́m cách vô hiệu hóa hệ thống bức tường lửa (firewall) của hệ thống tin học tại Việt Nam để có thể truyền đạt thông tin về Việt Nam qua ngă mạng lưới điện toán. Việc phá vỡ hệ thống bức tường lửa tại Việt Nam là một điều ai cũng muốn là từ nhiều năm nay chứ không hẳn v́ vấn đề hiệp ước dâng đất này. Tuy nhiên vấn đề dâng đất quê Tổ cho ngoại bang là một việc làm có thể gây sôi sục đủ trong ḷng mỗi người Việt Nam, bất kể quan  điểm chính trị, thành phần xă hội hay dị ứng hay không dị ứng với hoạt động chính trị Kế hoạch này cần phải có một kế hoạch quy mô, phối hợp nghiên cứu hay sự hưởng ứng của mọi thành phần chuyên viên điện tử của Việt kiều từ khắp nơi trên thế giới. Mục tiêu tối hậu là vô hiệu hóa ảnh hưởng của bức tường lửa để mở cửa cho những tin tức từ bên ngoài có thể lọt vô được Việt Nam.

            Tất cả những kế hoạch này cần phải có một sự  phối hợp đồng nhất và một thông điệp duy nhất từ tất cả mọi Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại.

4. Một kế hoạch vận động cụ thể

            Để phản đối một hiệp ước mà có tác dụng quá ư là tàn khốc và khắc nghiệt cho quê hương và dân tộc như hiệp ước dâng đất này, mỗi người chúng ta đều có một hay nhiều sáng kiến muốn làm cái ǵ đó. Tôi chỉ đề nghị nơi đây một ư kiến để mọi người có thể suy nghĩ.

            Để liên tục tạo áp lực và đặt vẫn đề hiệp ước dâng đất trực tiếp với chính quyền cộng sản Việt Nam, Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại có thể tổ chức biểu t́nh trường kỳ tại khắp các Ṭa đại sứ hay Lănh sự của chính quyền Việt Nam tại tất cả các Thành Phố nơi có Cộng Đồng Người Việt. Chiến dịch này cần phải được duy tŕ một cách trường kỳ, hợp nhất và đồng loạt  tại khắp các nơi có cơ sở của chính phủ Việt Nam tại khắp nơi trên thế giới. Mục tiêu chính của chiến dịch này là:

a) Đưa vấn đề ra trước dư luận quốc tế để qua đó vấn đề có thể được loan truyền tại Việt Nam.

b) Buộc chính quyền cộng sản Việt Nam, mà đại diện là các cơ quan Đại sứ hay Lănh sự, phải trả lời về sự thực của hiệp ước dâng đất. Nếu họ không trả lời, vấn đề vẫn cứ tiếp tục được đặt ra. Nếu họ trả lời, họ nh́n nhận vấn đề cũng khó khăn, mà họ chối quanh vấn đề cũng không được bao lâu v́ vấn đề chẳng sớm th́ muộn vấn đề cũng được đưa ra ánh sáng.  

c) Dưới áp lực từ các Ṭa đại sứ hay Lănh sự từ khắp nơi trên thế giới, chính phủ cộng sản Việt Nam buộc phải có một lời giải thích sao cho khả dĩ không những đối với Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại, mà c̣n cả với các thành phần khác nhau ở trong nước.

            Chiến dịch biểu t́nh cần phải được tiến hành một cách trường kỳ. Muốn được trường kỳ, kế hoạch biểu t́nh cần phải được tính toán một cách kỹ lưỡng để có thể đủ người tham dự một cách lâu dài. Cuộc biểu t́nh có thể được bắt đầu thật đông người trong một hay hai ngày đầu, nhưng sau đó chỉ cần một số ít người thay phiên nhau túc trực để biểu t́nh. Các Cộng Đồng hay Đoàn Thể Việt Nam trong vùng liên hệ cần phải phối hợp để luân phiên nhau tham dự biểu t́nh. Có được như vậy, chiến dịch biểu t́nh mới có thể kéo dài ra và lúc nào cũng có người tham dự nhưng không một ai hay thành phần nào có thể mỏi mệt v́ tham dự chiến dịch biểu t́nh.

            Đặc tính đồng loạt trong chiến dịch này cũng rất quan trọng. Chiến dịch biểu t́nh tại khắp các nơi cần phải được hợp nhất tối thiểu là trên phương diện thời gian, nội dung, h́nh thức và mục tiêu vận động. Muốn có được sự hợp nhất này, Cộng Đồng Người Việt tại khắp nơi cần phải có một Ban Điều Hợp chính để thâu nhặt ư kiến từ khắp nơi và phác họa một kế hoạch hành động chung mà hầu hết, nếu không là tất cả, các nơi đều có thể thực hiện được.

            Chiến dịch biểu t́nh với bề thế này không phải là một công tác đơn giản, nhất là trong một hoàn cảnh thiếu sự phối hợp đồng nhất đối với các Cộng Đồng Người Việt tại khắp nơi.  Tuy nhiên, nếu thực hiện được, cơ hội tạo ra được sự hậu thuẫn từ bên trong nội bộ chính quyền cộng sản Việt Nam có thể cũng rất là cao.

5. Kết luận

            Hiệp ước dâng đất giữa Trung Cộng và Việt Nam đă đưa Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam vào một cái thế hầu như là bất lực trước một chuyện đă rồi. Một  hành động chưa từng xảy ra trong lịch sử 4.000 năm Văn Hiến của Việt Nam được thực hiện chỉ v́ một thành phần đa số trong chính quyền và đảng cộng sản Việt Nam chỉ biết an thân cố vị hơn là trách nhiệm bảo vệ sự vẹn toàn của lănh thổ Quốc Gia.

Tuy nhiên, kế hoạch vận động chống lại hiệp ước này không hẳn là vô vọng. Cộng Đồng Người Việt tại hải ngoại có thể khai thác các thành phần khác trong chính quyền cộng sản Việt Nam để tạo sự mâu thuẫn trong nội bộ của họ ngơ hầu vấn đề có thể được đưa ra xét lại bởi chính nội bộ của họ.

Các kế hoạch vận động cần phải được thực hiện một cách trường kỳ, hợp nhất và có kế hoạch hẳn hoi.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT  SỰ BỘI PHẢN NGH̀N NĂM BIA MIỆNG

Lâm Lễ Trinh

            (VNN) Sau nhiều năm che lấp sự thật bằng những lời chạy tội quanh co, bộ máy tuyên truyền khoác lác của chính phủ Hà Nội rồi cũng phải gục mặt xác nhận tin nhượng đất cho Trung Cộng bằng một hiệp ước kư lén ngày 30.12.1999 và được Ban thường vụ Quốc Hội âm thầm phê chuẩn tháng 6 năm 2000. Tin này làm dư luận phẫn nộ, ở hải ngoại cũng như trong nước. V́ quần chúng bị đặt trước một việc đă rồi.

            Trung tuần tháng chạp vừa qua, nhật báo nhân dân, cái loa của đảng cộng sản, thông báo vắn tắt rằng ngày 27.12.1999, trụ biên giới đầu tiên sẽ được cắm tại Móng Cái ở phía Đông Bắc Hà Nội. Biên giới Việt-Hoa dài 2363 cây số, sẽ được chính thức phân ranh bằng 1500 trụ khác cho ba năm tới.

            Về lănh hải, nhà cầm quyền Việt Nam đến nay vẫn im lặng thận trọng. Mặc cho quần chúng tắt tiếng kêu gào nhà nước công khai hóa nội dung của hiệp định kư ngày 25.12.2000 giữa Giang trạch Dân và Trần đức Lương. Đảng dửng dưng xem đây là một ‘’bí mật quốc gia’’

1- Biên giới trên đất liền.

Có một sự kiện, tuy nhiên không thể chỗi căi: Các hiệp định Pháp-Hoa, kư trong thập niên 80 và 90 (đặc biệt hiệp ước Thiên Tân 1886 và hiệp ước Bắc Kinh 1895) ấn định biên thùy Hoa-Việt, đă được cộng sản Việt Nam cho điều chỉnh để thỏa măn chính sách bành trướng của người anh cả phương Bắc. Sau ngày thống nhất đất nước vào tháng 4.1975 và b́nh thường hóa ngoại giao với Bắc Kinh năm 1991, Hà Nội không ngưng nhân nhượng Trung Cộng trên phương diện chính trị, kinh tế và lănh thổ. Việc cắt đất dâng cho địch được nhóm lănh tụ đầu xỏ Hà Nội mưu tính từ lâu. Trong nhiều năm, thật vậy các Tổng bí thư Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê khả Phiêu và Nông đức Mạnh cùng với Chủ Tịch nhà nước Lê đức Anh và Thủ Tướng Phạm văn Đồng đă tiếp nối triều yết thậm thọt Bắc Kinh để thỉnh thị và van xin ân huệ. Phiêu, được bộ hạ Mười, Anh, Kiệt trợ giúp, là người lập công đầu với các ông chủ Tàu phù.

V́ bộ chính trị bưng bít tin tức để giảm thiểu tối đa x́ căn đan biên giới nên hiện thời, công luận tại Việt Nam và trên thế giới chỉ có thể phỏng đoán diện tích đất Bắc Kinh thâu hoạch được trong việc thương thảo với Hà Nội. Bùi Tín, nguyên Phó biên tập báo nhân dân, đào thoát qua Paris năm 1991, cho rằng tại Lạng Sơn, Việt Nam nhượng 900 cây số vuông gồm có địa danh lịch sử Ải Nam Quan (c̣n mang tên hữu nghị quan) và Thác Bản Dốc. Theo Phạm anh Dũng, Chủ Tịch hội bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam, th́ phần đất có thể rộng hơn hàng chục lần. Tạp chí Pháp L’Express đưa ra con số 15.000 km2.

T́nh trạng sở dĩ khá mơ hồ là v́ năm 1941, để bảo đảm sự an toàn của chiến khu chống Pháp nơi biên giới Hoa-Việt, Hồ chí Minh chấp nhận cho đồng minh Trung Cộng đột nhập vào Việt Nam có nơi 500 thước, nhiều nơi đến cả cây số, hầu lập căn cứ huấn luyện cán bộ,  dưỡng quân và cất dấu vũ khí. Tháng 2.1979, để cho cộng sản Việt Nam một ‘’bài học’’ bởi trở mặt và xâm lược Cam Bốt, Đặng tiểu B́nh xua 220.000 quân vào làm cỏ 6 Tỉnh biên giới Bắc Việt: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Lai  Châu, Hà Giang và chiếm 23 Thị Trấn. Ngày 16.3.1979, sau 17 hôm kịch chiến, Tàu cộng rút lui nhưng vẫn c̣n giữ lại một vài ngọn đồi và điểm chiến lược để đặt máy ra đa và đài kiểm thính. Mặt khác, cũng nên lưu ư: Năm 1954, lợi dụng việc đưa chuyên viên qua giúp Việt Nam mở con đường hỏa xa Hà Nội-Youyiguan, Bắc Kinh cho lén dời một số mốc biên giới lối 300 thước sâu vào nội địa của nước đàn em. Sau hết, vào tháng 7 1992, nhân một vụ tranh chấp gần hữu nghị quan, Trung Cộng nuốt thêm 8.000 mẫu tây đất Việt Nam theo thủ thuật ‘’tầm ăn dâu’’.

2- Về Lănh Hải

Sự co rút của chủ quyền Việt Nam trong Vịnh Bắc Việt hay Vịnh Bắc Bộ (mà Bắc Kinh gọi là Nam Hải) cũng là một vấn đề không kém chua xót. Vùng này là một vị trí quân sự  quan trọng v́ có nhiều tài nguyên khí đốt, hải sản, du lịch và kiểm soát một con đường thông thương chiến lược hàng đầu. Lúc sinh thời, bằng một công hàm gởi ngày 14.9.1958 cho Tổng lư quốc vụ viện Chu ân Lai, Thủ Tướng Phạm văn Đồng, tuân lệnh Hồ chí Minh, đă chính thức công nhận hải phận của Trung Cộng là 12 hải lư đúng theo bản tuyên cáo 4.9.1958 được Bắc Kinh thông báo với bản đồ. Điều này thất lợi cho Việt Nam v́ năm 1985, chiếu theo Hiệp ước Patenôtre kư giữa Pháp và triều đ́nh Măn Thanh do Lư hồng Chương thay mặt, Việt Nam làm chủ 62% lănh hải trong khi phần của Trung Hoa là 38%. Nay Bắc Kinh bướng bỉnh dành đến 47% và lấn qua hải phận Việt Nam ít nữa 10.000 cây số vuông hay rộng gấp đôi, như giới phân tích gia quốc tế nhận xét. Quyết định đơn phương của Trung Cộng mở rộng bờ cơi trên biển nằm trong kế hoạch lớn hơn của nước này nắm quyền kiểm soát Ấn Độ Dương và Nam Thái B́nh Dương.

Tháng Giêng 1974, chiến hạm Trung Cộng đánh bại Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa và chiếm Quần Đảo Hoàng Sa hay Paracels (Tàu gọi là Tây Sa), Hà Nội lẫn Hoa Kỳ không can thiệp mà cũng không phản đối. Về Trường Sa, hay Spratley (tức Nam Sa trên bản đồ của Bắc Kinh) ngoài khơi Vũng Tàu, hiện Trung Cộng, Việt Nam, Mă Lai, Phi Luật Tân và Brunei đang tranh chấp lằng nhằng. Thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, sắc lệnh 174/NV ngày 13.7.1961 của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đặt Hoàng Sa thuộc Tỉnh Quảng Nam. Dưới thời Đệ Nhị Cộng Ḥa,  Nghị Định 420/BNV/HCDP/ 26 ngày 6.9.1973 của Bộ Nội Vụ sáp nhập Trường Sa vào Tỉnh Phước Tuy.

Từ khi tài nguyên của lục địa (chiếm 29% diện tích trái đất) cạn dần v́ bị khai thác quá nhiều, thế giới (đặc biệt là các đại cường) hướng mọi chú ư đến kho tài nguyên vô tận và c̣n trinh nguyên của biển cả (bao phủ 71% mặt địa cầu). Bởi thế, nhiều quốc gia tranh luận gay gắt về bề rộng của thềm lục địa và quyền sở hữu đối với các Quần Đảo kế cận. Liên Hiệp Quốc phải can thiệp để canh tân Luật Biển năm 1982 để bảo đảm quyền lợi và an ninh cho giới khai thác tài nguyên dưới đáy đại dương. Cộng sản Việt Nam hiện đang ở trong thế yếu nên bị nhiều phía chèn ép. Thay v́ tân trang quốc pḥng để chống đỡ, chúng lại c̣n t́m cách củng cố quyền lực riêng tư của đảng bằng cách kư với Bắc Kinh những hiệp ước bất b́nh đẳng, hiến nạp tài sản quốc gia.

3- Âm mưu của cánh thủ cựu

Trong đại hội 9 nhóm mùa Xuân vừa qua, cộng sản Việt Nam tránh tuyệt đối đề cập đến các vụ thương thảo thất nhân tâm về biên giới. Nhiều gương mặt đối kháng trong giới cựu đảng viên cộng sản như Trần Độ, Nguyễn thanh Giang, Hoàng minh Chính, Nguyễn ngọc Diệp, Phạm quế Dương, Bùi minh Quốc, Đỗ việt Sơn...Cùng với lối 30 nhân vật Bắc và Nam, đă gởi kiến nghị yêu cầu Quốc Hội bác bỏ các hiệp ước đă kư kết. Tiếc thay quá chậm!

V́ không c̣n được quần chúng trong nước hậu thuẫn và cần sự hỗ trợ của các quan thầy Bắc Kinh để giữ ghế và giữ quyền, cánh bảo thủ trong bộ chính trị (do Lê khả Phiêu cầm chịch) của ủy ban trung ương đảng đă âm thầm bắt tay với các đồng lơa cùng chung khuynh hướng trong Ban thường vụ Quốc Hội (do Nông đức Mạnh làm Chủ Tịch) để kư kết và thông qua hiệp ước chuyển nhượng đất đai. Không kèn không trống, thủ tục hoàn tất tháng 6 năm 2000. Một ngày Tổ Quốc để tang. Đại hội đảng và toàn thể Quốc Hội đă bị hai nhóm nhỏ nói trên lạm quyền qua mặt. Mặt khác, quần chúng không hề được hỏi ư kiến hay thông báo các giai đoạn đàm phán. Quần chúng bị lợi dụng danh nghĩa một cách bỉ ổi.

Cộng sản Việt Nam quy lụy kẻ mạnh nhưng dở tṛ bá đạo với hai lân bang cô thế.  Thua me gỡ bài cào và noi gương Bắc triều, chúng lấn đất Miên và Lào từ nhiều năm nay, bất chấp hiệp ước năm 1895 của thời Pháp thuộc ấn định ranh giới các xứ trong Liên Bang Đông Dương. Những than oán của hai nhược tiểu Miên-Lào rơi vào băi sa mạc.

4- Biện pháp đối phó sự phản bội của cộng sản.

Bức tường yên lặng mà Hà Nội dày công xây đắp quanh vấn đề biên giới Hoa-Việt nay bắt đầu rạn nức. Quần chúng Việt Nam ngày càng thêm thấm thía cái quốc nhục do cộng sản đem bao phủ trên công tŕnh dựng nước gian khổ của Tiền Nhân.

Gần bảy thập niên cầm quyền, chúng không bảo vệ đúng mức sự toàn vẹn của lănh thổ quốc gia, một trách vụ thiêng liêng đáng lư phải được minh thị ghi hàng đầu vào bản hiến pháp 1992. Chẳng những thế, chúng c̣n thông đồng với cộng sản ngoại bang. Hai đảng cộng sản việt và hoa chỉ là thiểu số trong ḷng dân tộc của họ, không đại diện đại chúng v́ không được dân bầu hợp lệ. Các hiệp định biên giới, do họ kư riêng với nhau trong thời b́nh, dựa vào một sự cấu kết bất lương, ngoài sự hay biết và chấp thuận của dân tộc Việt Nam, hoàn toàn vô hiệu và vô giá trị. Về Công Pháp Quốc Tế, về thủ tục thông thường trong xứ và về đạo lư chính trị. Nói cách khác, không thể trói buộc các Chính quyền Việt Nam hậu cộng sản.

Để đối phó, có những biện pháp đoản kỳ và trường kỳ. Điểm chính là cần đoàn kết,  hành động thực tế, liên tục, có kế hoạch và quyết tâm, trong và ngoài nước, cho đến khi thắng lợi. Nên cố gắng phối hợp bằng cách lập ra ở hải ngoại, nơi có đông đảo Việt kiều, những Ban Điều Nghiên và Phối Hợp để tổ chức biểu t́nh không ngơi nghỉ, hội thảo sâu rộng, thu thập tài liệu chính xác, phổ biến mau lẹ tin tức bằng mọi phương tiện và trong nhiều sinh ngữ, phát hành một tuyển tập đúc kết sử liệu về các vùng tranh chấp, thảo kháng thư gởi khắp nơi tố cáo mạnh mẽ sự thông đồng của cộng sản Việt-Trung. Nếu cần, đưa những Phái Đoàn tiếp xúc với Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Âu Châu, các Quốc Hội (đặc biệt trong khối ASEAN) để vạch rơ hành động bất hợp pháp của chính phủ Hà Nội, khởi tố họ trước Ṭa Án Quốc Tế hữu quyền v.v...Cấp thời, giúp triệt để đồng bào trong nước phát động quyết liệt và ráo riết một chiến dịch đ̣i nhà cầm quyền cộng sản (trong một thời gian nhất định) phải công khai điều trần v́ sao kư các hiệp ước bị dị nghị, ai chịu trách nhiệm, diện tích lănh thổ bị mất...Buộc nhà nước phải phổ biến khẩn cấp toàn văn những hiệp ước này. Kêu gọi Quốc Hội nḥm gấp đại hội biểu quyết phủ nhận hiệp ước vi hiến và bất b́nh đẳng. Đ̣i phải trưng cầu dân ư. Áp lực trung ương đảng trừng phạt minh bạch các nhân vật chủ mưu bán nước và từ đó, đấu tranh hủy bỏ điều 4 của hiến pháp dành độc quyền lănh đạo của cộng sản v́ vậy đây là cơ hội thuận tiện nhất.

***

Trong sử sách thế gian, người dân mọi nơi thường xem trách vụ hy sinh cứu Nước là điều danh dự và đương nhiên. Riêng ở Việt Nam, cộng sản dụng Nước để vinh thân ph́ gia,  no cơm ấm cật và rước địch vào nhà. Việt Nam hănh diện sản xuất nhiều Anh Tài Tuấn Kiệt nhưng bạc phước đă có những đứa con bất xứng như Mạc Đăng Dung, Hồ Quư Ly, Lê Chiêu Thống, Hồ chí Minh và công ty.

Những ai c̣n ngây thơ tin nơi thiện chí và tiềm năng canh tân của chế độ Hà Nội nay mới sáng mắt trong sự thất vọng ê chề. Đúng vậy, con người cộng sản Việt Nam (bẩm sinh lừa đảo và phản phúc) không bao giờ thay đổi. Chỉ khi nào thế trận xoay chiều, đẩy chúng ra khỏi quỹ đạo quyền lực, mọi tai ương cho Đất Nước mới chấm dứt. B́nh minh của Dân Chủ mới có cơ ló dạng trên giải đất Việt Nam đau khổ triền miên Tổ Quốc mới hồi sinh sau cơn mê sảng.

Nhà thức giả Jean Francois Revel nhận xét rất đúng:

‘’Giải pháp hay nhất để canh tân Xă Hội Chủ Nghĩa là xóa bỏ nó đi’’

Cựu Tổng Thống Nga Yeltsin, xuất thân từ cộng sản đă quả quyết:

‘’Cộng sản không thể sửa đổi, chúng chỉ có thể bị thay thế’’.

Cộng sản Việt Nam đang đào hố để tự chôn trong nghĩa trang Lịch sử bằng những hành động ngông cuồng. Cuối cùng, họ đă đánh rơi cái mặt nạ Xă Hội Chủ Nghĩa nhập cảng để hiện nguyên h́nh: Một mafia vong bổn, một tập đoàn bán nước hại dân, một nhóm tội đồ lưu xú vạn niên.

LÂM LỄ TRINH

Ngày 3.2.2002

Sau Khi Mất Đất, Việt Nam Mất Tới Biển

HƠN MỘT NỬA VỊNH BẮC VIỆT THUỘC TRUNG CỘNG

Nhóm Lướt Sóng

            Lời Giới Thiệu:

            ‘’Hơn một nửa Vịnh Bắc Việt đă thuộc về Trung Cộng’’ không phải là một tin giả. Đó là tin tức chính thức loan đi của đảng cộng sản Việt Nam trên Internet. Sau khi đă dâng đất biên giới trên bộ, bọn cộng sản lại hiến thêm vùng biển quê hương Tổ Quốc cho quan thầy.  Mục đích của chúng là cúi xin quan thầy thương xót để được tiếp tục đóng vai tṛ một chính quyền bù nh́n. Trong khi kẻ thù, truyền kiếp của dân tộc c̣n ở ngoài biên chưa thèm động binh mà mới chỉ ‘’ho’’nhẹ một tiếng, tôi tớ của chúng tại ngay Hà Nội đă vội vàng hết cắt đất, đến cắt biển cầu thân.  

Sự thực, Biển Việt Nam đă bị mất nhiều lắm, phần bị cắt với tài nguyên và hải sản có thể lên tới hai phần ba hay ba phần tư của Vịnh Biển mà Ông Cha để lại suốt mấy ngàn năm qua. Bài viết này do Ban Biên Tập Lướt Sóng nghiên cứu, sưu tầm, tuy không nặng phần pháp lư, nhưng rất chính xác và có chút tham vọng nêu ra một số tài liệu sơ khởi để t́m hiểu xem:

Gia tài bọn cộng sản ‘’cống nạp’’ quan thầy ngày nay to lớn như thế nào?

Phần ‘’Quốc Phá’’ về lâu về dài sẽ di hại tới mức độ bao nhiêu cho dân tộc và con cháu những thế hệ sau này?

Đồng bào ơi! Đă Quốc Phá tất Gia Vong. Hăy cùng đứng lên thanh toán ngay kẻ nội thù cho rảnh tay trước khi chống giặc ngoại xâm. Ngay trong lúc này, chúng ta hăy ghi lại kỹ lưỡng tên tuổi những tên bán nước để dân ta muôn đời nguyền rủa. Bọn cộng nô hèn hạ này nếu không sớm bị lật đổ, chúng sẽ tiếp tục cắt đất và dần dần nhượng cho quan thầy của chúng cho đến hết trọn Biển Đông.

Ban Biên Tập Lướt Sóng.

 

LẦN ĐẦU TIÊN CỘNG SẢN PHẢI TIẾT LỘ V̀ BỊ BẮT BUỘC

Sau một thời gian dài im lặng, đảng cộng sản Việt Nam đă phổ biến tin tức liên hệ đến hiệp định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt-Trung trong Vịnh Bắc Bộ qua hai bài viết:

Bài của Lê công Phụng, Thứ Trưởng ngoại giao.

Bài tóm tắt sự kiện, tạp chí tư tưởng văn hóa số 3 năm 2001.

Từ trước đến nay, dân chúng Việt Nam chưa khi nào được đảng cộng sản và chính quyền Hà Nội cung cấp đầy đủ tin tức hay chi tiết liên quan đến t́nh trạng biên giới trên bộ cũng như ngoài biển với Trung Cộng. Lần này, nhân dịp mừng Đại hội lần thứ 9 đảng cộng sản Việt Nam cho công bố chính thức chuyện này trên Website mới của họ vào ngày 10.4. 2001. (Website đảng cộng sản Việt Nam công tŕnh có ư nghĩa lớn lao chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 đảng cộng sản Việt Nam. Giọng điệu khoa trương của Lê xuân Tùng ủy viên bộ chính trị phụ trách công tác tư tưởng văn hóa và khoa giáo.) Phải có những lư do sâu xa bắt buộc họ phải làm như vậy. Đáng kể nhất là áp lực mạnh mẽ từ phía đảng cộng sản Trung Hoa. Có lẽ đă đến lúc Trung Cộng ra oai, muốn bạch hóa những thành tích lấn chiếm của họ. Tội ác cắt biển cầu thân của giặc cộng rất rơ ràng.

Trung Cộng lại đang tranh căi chủ quyền hải phận và không phận với Hoa Kỳ. Trong khi phi cơ Hải Quân Mỹ bay thám tính Biển Đông, gặp phi cơ chiến đấu Trung Cộng ngăn cản, đụng nhau rồi phải đáp khẩn cấp xuống Hải Nam. Việc kư kết Việt-Hoa về hải phận nhiều ít cũng tăng cường thế mạnh của Trung Cộng, đặc biệt khi đế quốc đỏ này đang hung hăng đ̣i chủ quyền tuyệt đối 80% Biển Đông và diễu vơ dương oai với các Quốc Gia Đông Nam Á,  đồng thời đe dọa xâm lăng Đài Loan.

Trong khi chính quyền Hà Nội khoa trương nền móng độc lập tự trị, người ta lại thấy chúng xum xoe hầu tiếp Hồ cẩm Đào, Phó Chủ Tịch Trung Cộng sang dự Đại hội đảng cộng sản Việt Nam kỳ 9. Chưa bao giờ trong lịch sử lại có chuyện phiên thần nhục nhă ‘’luồn cúi’’tương tự. Cho đến Việt gian Lê Chiêu Thống cũng chỉ cơng được con rắn ‘’vĩ đại’’ tới mức một Quan chức Tàu cấp Tổng đốc hàng Tỉnh (Lưỡng Quảng) mà thôi. Ngày nay, ‘’Á hoàng đế ‘’ Hồ cẩm Đào đă nghiễm nhiên ngồi giám sát chuyện họp hành quốc gia trọng sự của ‘’An Nam’’ trong suốt mấy tuần lễ tại Hà Nội. Qua các h́nh ảnh công bố, sau khi được Chủ Tịch nước là Trần đức Lương tiếp rước chào đón long trọng, người ta thấy họ Hồ luôn luôn kèm sát bên cạnh Chủ Tịch đảng cộng sản Lê khả Phiêu. V́ thể diện quốc gia và nghi lễ ngoại giao, các chính phủ từng bị chính Hà Nội gọi là bù nh́n, chưa khi nào giám công khai làm những tṛ trơ trẽm đến như vậy.

Chúng tôi xin kể tiếp câu chuyện ‘’cóng rắn cắn gà nhà’’ này bằng cách lược duyệt những diễn tiến thương thuyết hải biên hai nước. Đặc biệt, Lướt Sóng tŕnh bày một số bản đồ minh chứng cộng sản Việt Nam đă ém nhẹm v́ sợ lộ liễu quá. Hành động cắt đất cắt biển cầu thân của giặc cộng rất rơ ràng.

CHỦ QUYỀN VỊNH BẮC VIỆT TRONG THỜI CỔ

Vịnh Bắc Việt trong thời cổ hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngoài Sử Việt Nam,  Sử Trung Hoa cũng ghi nhận vùng biển này là Biển Giao Chỉ hay Giao Chỉ Dương. Không những tên biển được xác nhận rơ ràng, mà theo Nhà Địa Lư Học Edward H. H.  Schafer, ngay cả tên Đảo Hải Nam (Đảo tiếp giáp) cũng một thời có nghĩa là Tỉnh của Việt Nam. Ông viết trong cuốn sách tựa đề Châu Nhai ‘’Shore Of Pearls’’ (Berkley & London 1970, trang 9) như sau: ‘’In Han period, when it (Hainan) begins to apppear in Chinese texts, ‘’South Of The Sea’’ referred to the Vietnamese provinces, as we would style them...’’. Về hải thương, Schafer ghi nhận hầu hết sản phẩm được đưa tới bằng đường biển. Thuyền từ phía Tây Nam là Đại Việt vượt ngang Giao Chỉ Dương để đến đây. ‘’Southwest of Hainan is that great sea called ‘’Chiao Chih Ocean’’ (Shore Of Pearls, trang 78).

Cho đến Thế Kỷ Thứ 11 người Trung Hoa vẫn c̣n rất sợ hăi Vịnh Biển này không dám mạo hiểm hải hành v́ sóng gió khủng khiếp. Ngay từ thời sinh tiền, Thi Hào Đỗ Phủ đă có lần đề cập đến câu chuyện này. Tên ‘’ḱnh ba’’ (whale waves) thường ghi đậm nơi tâm trí người Trung Hoa. Một khi đă vượt biển (quá hải) ra đi,  tất phải trở về, câu ‘’cự ḱnh ba’’ lần thứ hai quả là cơn ác mộng lớn trong một đời người Trung Hoa (Shore Of Pearls, trang 79).  Một phần b́a cuốn sách ‘’Shore Of Pearls (Berkley & London, 1970), có kèm tấm Bản Đồ Hainan với Giao Chỉ Dương và (sóng gió) ḱnh ba được tŕnh bày như ở trên.  

CHỦ QUYỀN VỊNH BẮC VIỆT THEO THỎA ƯỚC 1887

            Sau khi Nhóm Trí Thức Việt Nam Hải Ngoại ra Tuyên Cáo ngày 18.12.2000, phản đối việc phân ranh bất hợp pháp lănh thổ Việt Nam, Giáo Sư Nguyễn Văn Canh đă viết thêm về vấn đề ấy. Theo đó, trong một phiên họp thương thuyết Việt-Hoa vào tháng 8.1974, phía việt cộng viện dẫn Công Ước 1887 về biên giới dựa trên kinh tuyến Greenwich, 108 độ 3 phút 13 giây Đông (hay kinh tuyến Ba Lê 105 độ 43 phút của đường kinh tuyến Đông) làm đường phân ranh lănh thổ v.v...Tuy nhiên phía Trung Cộng đă phản bác rằng đường ranh đỏ ấy có mục tiêu chỉ dẫn quyền sở hữu chủ các Đảo mà thôi, không phải là đường phân ranh về lănh thổ. V́ thế các cuộc họp không đạt được kết quả.

            Căn cứ vào đó, phía Trung Cộng kêu nài rằng Việt Nam chiếm tới 2/3 lănh thổ trong Vịnh Bắc Việt, rằng Trung Hoa phải kư hiệp ước ấy v́ ở thế yếu, do Pháp ép buộc. Nhưng không bao giờ phía Trung Cộng nói tới sự kiện rằng khi Pháp điều đ́nh với Trung Hoa, Pháp đă cắt một phần đất thuộc Lai Châu bây giờ, cho Trung Hoa nhập vào Vân Nam để đổi lấy làn ranh ấy. Riêng về việc cắt một phần lănh thổ như trên cho Trung Hoa, Pháp đă làm một việc bất hợp pháp. Mặt khác h́nh thể Việt Nam chạy theo h́nh chữ S. Từ mơm đầu chữ S, nơi giáp ranh giữa Việt Nam và Trung Hoa, Ủy Ban Pháp-Hoa Phân Định Lănh Thổ kẻ một đường màu đỏ Bắc-Nam là một điều công bằng và hợp lư. Phần lănh hải nằm về phía Tây của đường ranh thuộc Việt Nam. Phần lănh hải này thuộc Việt Nam cũng phù hợp với Thuyết Lănh Thổ Kế Cận mà Công Pháp Quốc Tế vẫn hằng nh́n nhận.

            Cuối cùng, đường màu đỏ trên bản đồ có mục đích phân chia quyền sở hữu chủ các Hải Đảo trong Vịnh, như Trung Cộng nói, nếu không phải là đường ranh phân chia lănh thổ, th́ là đường ǵ?

DIỄN TIẾN ÂM MƯU LẤN BIỂN VÀ VÙNG ‘’HAND OFF’’

Cũng theo Giáo Sư Nguyễn Văn Canh với kiểu ăn nói cố hữu của cộng sản như vậy,  Trung Cộng trong nhiều năm qua đă lạm dụng quyền hành và đơn phương nới rộng chủ quyền của ḿnh trong Vịnh Bắc Việt.

Ngày 19 và 30.8.1992, hai tàu Trung Cộng được đưa ra khơi để t́m ḍ dầu hỏa trong Vịnh Bắc Việt. Rồi ngày 30.9, tàu Nam Hải 6 được đưa vào vùng mục tiêu mà Hà Nội nói là ở 112 cây số Đông Nam Hải Cảng Ba Lạt. Tàu khác tên là Phấn Đấu 5 đă hoàn tất công tác nghiên cứu địa chất vào 30.8 tại vùng Nam Vịnh Bắc Việt. Tàu này hoạt động ngay tại cửa bể Hải Pḥng, cách Tỉnh Thái B́nh 70 dậm (khoảng 120 cây số). Dù bị việt cộng phản đối, Trung Cộng trả lời rằng các tàu khoan dầu ấy hoạt động trong phạm vi lănh thổ Trung Hoa chiếu theo làn ranh của Vịnh. Thực sự, các tàu ấy đă xâm phạm quá sâu vào phía Tây của Vịnh, sau khi vượt qua đường ranh màu đỏ.

Trong suốt 3 thập niên 70, 80, 90 bất chấp luật pháp. Trung Cộng ngang nhiên tự động vẽ ra vùng biển ‘’Hands Off Area’’ cấm Việt Nam không được động chạm đến. C̣n Trung Cộng vẫn tiếp tục gửi tàu tới thăm ḍ. Khu vực này rất rộng lớn, kéo dài 2 độ vĩ tuyến (từ 18 đến 20 độ Bắc) rộng suốt 1 độ (từ 107 đến 108 độ Đông) 120 hải lư nhân 60 hải lư bằng 72.000 hải lư vuông.

VÙNG ‘’HAND OFF’’ Có Ǵ?

Bằng đủ mọi cách âm mưu, Trung Cộng nhắm chụp dựt khu Trung Ương của Vịnh Bắc Việt. Tại sao vậy? Để trả lời, người ta chỉ có một câu độc nhất, ở đó có nhiều tiềm năng dầu khí.

Theo nguyên lư căn bản, Việt Nam đương nhiên sở hữu khu vực trung ương của Vịnh Bắc Việt theo thỏa ước 1887. Một lư lẽ khác hiện hữu c̣n mạnh mẽ hơn nhiều lần nữa: Đảo Bạch Long Vỹ của Việt Nam nằm ngay Vùng giữa Vịnh.

Ngay trước khi kỹ thuật khai thác dầu khí chưa tiến bộ, các Nhà địa chất học đă biết loại tài nguyên quư giá này thường nằm kẹt trong những lớp thủy tra thạch do sông ng̣i bồi đắp liên tục từ hàng triệu năm về trước. Trong Vịnh Bắc Việt, sông Hồng tạo ra vùng những lớp kết tầng này.

Bản đồ và tài liệu của Đặc San Petroleum News (USA, Feb.1984) chỉ cho thấy thủ đoạn của Trung Cộng âm mưu với các công ty ngoại quốc xúc tiến việc thăm ḍ và khai thác dầu lửa và khí đốt, thọc sâu vào phần biển Việt Nam.Kinh nghiệm thu hoạch nhiên liệu ở thềm lục địa phía Đông Nam-Nam Phần cho biết dầu lửa không có nhiều ở Vùng Châu Thổ Cửu Long Giang, cũng không t́m thấy gần bờ biển. Các túi dầu khí nằm tại vùng thủy tra thạch phía ngoài khơi của Côn Sơn

Vào thập niên 1970, nhiều báo cáo về tiềm năng dầu hỏa và khí đốt trong vùng biển Việt Nam đă hoàn tất. Chúng tôi xin tŕnh bày bản đồ của Selig S. Harrison chỉ rơ ràng những khu vực thủy tra thạch kết tầng và những khu vực mà các hăng dầu khí mong đợi để khai thác.  (An informative and interesting discussion of these reports can be found in Selig S. Harrison,  China. Oil and Asia: Conflict Ahead? New York, Columbia University Press, 1977 trang 42-46)

V́ thế Trung Cộng mạnh tay nhất định chiếm cho hết khu vực thủy tra thạch giữa vùng biển sâu của Bắc Phần, đúng ngay địa điểm có khả năng chứa đựng dầu khí nhiều nhất.

ĐƯỜNG  PHÂN ĐỊNH MỚI VÀ VÙNG BIỂN CHIẾN LƯỢC TRUNG CỘNG

Sau khi thi hành kế hoạch với nhiều âm mưu dài hạn qua nhiều thập niên, nay thời cơ thực chín mùi, đă đến lúc Trung Cộng ra tay chộp lấy thành quả chính thức. Trung Cộng đă ép buộc được Hà Nội kư một hiệp ước hoàn toàn có lợi cho họ. Từ sở hữu 2/3 Vịnh Biển, nay Việt Nam chỉ c̣n giữ được trên lư thuyết một nửa (hay 53%) Vịnh Bắc Việt mà thôi.  

Trên thực tế, phần sở hữu lại khác đi rất xa. Về tài nguyên dầu khí, có thể Trung Cộng đă chiếm gần trọn khu vực chính. Đặc biệt phần khai thác ngư nghiệp rất tệ hại cho Việt Nam.  Theo dự đoán như dưới đây, tài nguyên hải sản sát bờ của Việt Nam c̣n giữ được là một phần ba, nhưng phần tài nguyên vùng biển sâu đă thực sự bị cướp đoạt tới 3/4 sản lượng. Trong khi đó, hơn một nửa dân chúng Việt Nam trông chờ chính quyền bảo vệ nguồn sống muôn đời đành chịu thất vọng.

Chúng tôi xin đăng toàn thể hai bản văn của chính quyền Hà Nội (tại phần Phụ Bản) làm bằng chứng để chúng ta cùng suy luận.

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢO BẠCH LONG VỸ ĐĂ BỊ VÔ HIỆU

Thoạt nh́n, các chiến lược gia nhận ngay ra rằng Trung Cộng đă hoàn toàn siết được cổ Bắc Việt Nam (và cả Việt Nam nói chung) khi họ vô hiệu hóa hoàn toàn vị trí chiến lược của Đảo Bạch Long Vỹ.

Ngay từ lâu đời, Ông Cha ta đă chiếm Đảo này để làm thế ‘’ỷ dốc’’ cho toàn thể Đại Việt. Thời Pháp, Hải Quân họ cũng lo chuyện pḥng thủ này. Chính Lê công Phụng, Thứ Trưởng ngoại giao Hà Nội là Trưởng phái đoàn thương thuyết cũng biết vậy. Ông này viết:

Phần Vịnh phía ta có khoảng 1.300 ḥn Đảo ven bờ, đặc biệt có Đảo Bạch Long Vỹ. nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách Đảo Hải Nam khoảng 130 km...Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc pḥng...

Thế mà nay theo thỏa ước 2001, Trung Cộng đă tạo được khu ‘’biển chiến lược’’ kè sát nước ta, chỉ cách Bạch Long Vỹ 15 hải lư (hay chừng một nửa tầm hải pháo thường, không kể đến hỏa tiễn của chiến hạm mới Trung Cộng). Đó là chưa kể tàu ngụy trang đánh cá Trung Cộng c̣n được phép đến gần Đảo 7,7 Hải Lư (Bờ Nam Bạch Long Vỹ nằm trên vĩ độ 20 độ 7 phút 7 Bắc, xem thêm phần hợp tác nghề cá).

HIỆP ĐỊNH MỚI VỀ ĐÁNH CÁ Và VÙNG BIỂN KHẢ DỤNG TRUNG CỘNG

Nguyên văn hiệp định mới thiết lập ‘’vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20 độ xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30, 5 hải lư kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, bảo đảm cách bờ của mỗi nước là 30 hải lư. Đại bộ phận cách bờ của ta 35-59 hải lư và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lư’’.

Xem xét bản đồ để ước lượng, chúng ta thấy Trung Cộng đă được nghiễn nhiên thụ hưởng tới gần 2/3 mặt biển (47%+16,5%+1% (cửa Bắc Luân) = 64,5 diện tíchVịnh).

Ai cũng biết rằng để nuôi sống 1tỉ 300 triệu dân chúng thiếu thốn protéine, Trung Cộng đă từ lâu phát triển các hạm đội đánh cá xa bờ hùng hậu vào bậc nhất nh́ trên thế giới. Đối đầu lại, Việt Nam có khả năng ǵ? Nếu Trung Cộng muốn ‘’đưa bắp thịt ra oai’’, đem toàn thể hạm đội ngư thuyền viễn duyên vào lần lượt ‘’diễn hành’’trong Vịnh Bắc Việt, chỉ sau một mùa cá toàn thể các loại cá nước sâu sẽ tuyệt chủng, không c̣n một con sống sót để lại cho ngư dân chúng ta.

MỚI CHỈ 40% CỦA ĐẢO MÀ ĐĂ LẤN CHIẾM ĐƯỢC NHIỀU NHƯ VẬY SAO?

Dựa trên các yếu tố bàn thảo, Việt Nam đă sử dụng quá nhiều ‘’sở hữu tố’’ để mang ra thương thuyết. Sau khi đă đặt trên bàn: 40 triệu dân cư và gần một nửa duyên hải toàn quốc,  Việt Nam không khác chi một tay chơi non kém, dại dột ‘’tố xả láng’’ và phung phí tiền bạc trong một canh bạc khơi mào...Chúng tôi xin trở lại những chi tiết này trong một đoạn dưới.

Phân tích hiệp định, chính quyền Hà Nội phải nhận thấy rằng Việt Nam chẳng thu lại được bao nhiêu quyền lợi mà vốn liếng đă kiệt. Làm sao Việt Nam c̣n đầy đủ sức lực cho một cuộc thương thảo nhiều lần quan trọng hơn về Hoàng Sa, Trường Sa cũng như toàn thể chủ quyền Biển Đông sau này.

Phía Trung Cộng vẫn chưa chính thức bước vào cuộc thương thảo lớn trên biển Đông.  Thế mà họ thực sự đă thắng một hiệp quyết định. Trung Cộng mới chỉ đưa ra một đoạn bờ biển ngắn Liễu Châu và 40% Hải Nam lên bàn mà gặt hái ngay được một khu vực chủ quyền lớn lao ngoài biển như vậy sao? Lư ra, ai cũng phải biết rằng duyên hải c̣n lại của Trung Cộng dài gấp ít nhất là 5, 7 lần đoạn Bắc Luân-Mũi Oanh Ca chứ.

QUAN NIỆM TÀI SẢN CHUNG CỦA NHÂN LOẠI TRONG LUẬT BIỂN L.H.Q.

Dù biết rằng hôm nay Trung Cộng không thèm nói chuyện luật lệ với đàn em Hà Nội,  nhưng toàn thể thế giới văn minh tiến bộ đều đă đổi thay bộ mặt tối tăm của thiên hạ thuộc ‘’đấng con trời’’ ngày xưa. Đâu c̣n là thời đại thuộc quốc quỳ lạy thiên triều như khi xưa nữa. Ngày 10.12.1982, một thỏa ước của Liên Hiệp Quốc ‘’United Nations Convention On The Law Of Sea’’, viết tắt là UNCLOS, đă ra đời. Nội dung của thỏa ước rất lư tưởng như cho rằng Biển cả là tài sản chung của Nhân Loại’’.

V́ tài sản chung nên yếu tố dân số sinh sống tại duyên hải rất quan trọng. Nhiều yếu tố khác cũng được Luật Biển đề cập đến như: H́nh thể đáy biển nối dài ra khơi, tổng số Đảo, diện tích lănh thổ cận duyên, chiều dài bờ biển, tỷ lệ bờ biển/đất liền v.v...Những con số này được dùng để tính toán trong việc quy định vùng hải phận theo Luật Biển Liên Hiệp Quốc ngày nay.

ƯU THẾ CỦA VIỆT NAM BỊ CỘNG SẢN Bỏ QUA V̀ CẮT BIỂN CẦU THÂN

H́nh ảnh duyên hải Đảo Hải Nam với núi đă cằn cỗi. Từ trái sang là Mũi Oanh Ca,  False Hill, Flat Hill, đến núi Etna và núi nhọn Lak Pang. Hải đồ Mỹ HO No: 3153. Cho dù yêu cầu về đường Brévié trong Hiệp Ước Hoa-Pháp 1887 có bị Trung Cộng bỏ qua, những yếu tố bản pháp lư hiện hành cũng vẫn tạo nhiều ưu thế cho chủ quyền Việt Nam. Cho dù không phải là chuyên gia luật biển, chúng tôi cũng xin đơn cử một vài điều căn bản xác quyết như sau:

H́nh thể Thềm Lục Địa Việt Nam kéo dài chạy thoai thoải ra biển rơ rệt chiếm ưu thế hơn bờ biển sâu của Đảo Hải Nam.

Bạch Long Vỹ với các yếu tố dân sinh, lịch sử, kinh tế xứng đáng được hưởng quy chế một ḥn Đảo, tương tự như Hải Nam hay bất cứ một ḥn Đảo nào khác. Về địa lư, Bạch Long Vỹ là ḥn Đảo lớn rất rộng, có diện tích tới 2,5 km2 xuưt xoát Đảo Cồn Cỏ (3 cây số vuông).

Trong các sách quốc tế về Hải Hành, Đảo Bạch Long Vỹ được mô tả là một đối vật quan trọng cho người đi biển, độ cao sừng sững lên tới 186 feet. Chắc chắn không có một ‘’người được gọi là hiểu biết’’ nào lại đồng ư xếp Hải Đảo nổi tiếng Bạch Long Vỹ (Huyện Đảo này gần 1.000 dân cư) đồng hạng với một ḥn đá trơ trọi cùng quy chế tối thiểu 15 hải lư cho đặc quyền kinh tế như vậy.

Chiều dài bờ biển lục địa Việt Nam khúc khuỷu bao quanh Vịnh dài gần gấp 2 lần bờ biển đối diện của Đảo Hải Nam và Bán Đảo Liễu Châu thuộc Trung Cộng. Hai ngàn Đảo Việt Nam cũng là một con số áp đảo khi so sánh với chừng 5 Hải Đảo của Hải Nam.

Dân cư Việt Nam sinh sống tiếp cận với Vịnh Bắc Việt trong ṿng đai cách biển 60 hải lư hiện nay lên tới 40 triệu người. Dân số này nhiều gấp 4 đến 6 lần dân số duyên hải Trung Cộng, tùy theo cách tính toán. Dân Trung Hoa sống ở phía Tây Bán Đảo Liễu Châu rất thưa thớt. Dân số Đảo Hải Nam chỉ có khoảng 7 triệu người mà thôi. Nhiều lắm trong khu vực liên hệ (40% duyên hải của Đảo Hải Nam) từ Bán Đảo Liễu Châu tới Mũi Oanh Ca, dân cư không quá 3,4 triệu. Không có một Thành phố nào của Trung Cộng đáng kể là to lớn như hàng chục Đô Thị của Việt Nam.

Khảo cổ văn minh học thế giới và cả Sử Trung Hoa cũng chứng minh rằng những người Việt đă từng làm chủ trong khi người Tàu chỉ mới xuất hiện ngoài biển này từ thời Hán,  tức là mới 2 ngàn năm mà thôi. Sử Trung Hoa lại c̣n ghi rơ những chi tiết là ngoài vùng Châu Nhai phía Bắc Đảo, dân cư Đảo Hải Nam không chịu chấp nhận Hoa thuộc, luôn luôn kháng chiến dành quyền tự chủ. Cho đến thời gian gần đây, t́nh h́nh mới tạm ổn.

CHUYỆN KHÓ HIỂU: ĐƯỜNG CĂN BẢN CỦA DUYÊN HẢI VIỆT NAM

Bờ biển và Bờ đảo thường lởm chởm, chỗ lồi chỗ lơm. Các đường ranh giới v́ vậy rất ngoằn ngoèo phức tạp. Để giải quyết vấn đề chung cho các quốc gia duyên hải hay Quần Đảo,  một sự đồng ư đă được đưa vào Luật Biển Liên Hiệp Quốc cho phép các nước đó được vẽ những đoạn Đường Thẳng Căn Bản (Baselines) nối liền các mũi đất và Đảo.

(U. N. Convention on the Law of the Sea, Dec.10, 1982, pt.11, S3, 21I.L.M.1261, 1273. Kenneth R. Simmonds,  U.N. Convention on the Law of the Sea 1982 at B27 (1983).Part II,  # 3).

            Ư thức sớm sự quan trọng này nên vào ngày 12.11.1982, Việt Nam công bố một số Đường Căn Bản (mà họ gọi là Đường Cơ Sở) từ Poulo Wai đến Đảo Cồn Cỏ. Các Đường Cơ Sở trong Vịnh Bắc Việt (tức là Đảo Cồn Cỏ đến Đảo Trà Cổ) hoàn toàn không được vẽ.

            Theo Luật Gia Kriangsak Kittichaisariee, nếu chỉ kẻ bốn đoạn (162, 161, 149 và 105 hải lư) trong 10 đoạn thẳng căn bản (dài tổng cộng 850 hải lư), nội hải (internal waters) Việt Nam cũng đă chiếm tới 27.000 dậm vuông. (Law of the Sea and Maritime Boundary Delimitation in South-East Asia, Oxford University Press, 1992:16-17.) Đường Căn Bản như vậy làm gia tăng diện tích những khu vực thuộc chủ quyền quốc gia lên rất nhiều.

Giới Luật Gia cho dù đồng ư hay không về cách thức vẽ Đường Cơ Sở ấy, họ cũng đều nghĩ rằng Việt Nam rất quyết tâm trong việc bảo vệ lănh hải. Tất cả đă nhầm lẫn lớn v́ sự mềm yếu của Hà Nội ngay sau đó...Gần 20 năm đă qua đi trong một yên lặng khó hiểu chưa bao giờ người ta thấy đảng cộng sản hay nhà nước Việt Nam phổ biến các Đường Cơ Sở cho những Hải Đảo chằng chịt tại Vịnh Bắc Việt. Trong thương thảo, phái đoàn Hà Nội không dám hó hé ǵ với Bắc Kinh, để Trung Cộng mặc t́nh thao túng.

MỐI HẠI KINH KHỦNG TRONG TƯƠNG LAI NGẮN HẠN VÀ DÀI HẠN

Gần đây, dân Việt Nam bắt đầu tiêu thụ nhiều thịt hơn Tổ Tiên của họ trước đây. Người sống ở Thành Thị có thể đă quên là c̣n nhiều đồng bào với ḿnh tại Vùng Duyên Hà, Duyên Hải vẫn thường ngày chỉ có cá với cơm. Nhiều thống kê quốc tế vẫn ghi nhận trung b́nh hàng năm một người Việt Nam cần ít nhất 35 kg cá. Người Pháp đă ước lượng 2/3 (66%) số protein nuôi sống nước Việt Nam đến từ hải sản. (Nguyên văn In the 1970s,  per capital consumption of fish in Vietnam was at least 35 kilograms, and 50 percent of animal protein came from fish. (Vietnam: Fisheries and Navigation Policies and Issues, Valencia, Mark J., in Ocean Development and International Law, Printed in the UK, Vol. 21, 1990,  pp.431-445.)

            Một khi mất biển, nguồn lợi đánh cá suy giảm, tài nguyên dưới ḷng biển thuộc ngoại bang. Và...ô nhiễm sẽ tới ngay. Trung Cộng từ lâu nổi tiếng bất cần hậu quả, miễn sao vơ vét cho đầy túi tham. Tại Vịnh Bắc Việt, nay mai Trung Cộng sẽ khai thác ḷng biển để lấy dầu lửa và khí đốt. Tai nạn thảm khốc tràn dầu chắc chắn xảy ra, Việt Nam sẽ một ḿnh chịu đựng mọi khốn khổ ô nhiễm. Gió thổi, nước trôi quanh năm từ Đông Bắc xuống Tây Nam lập tức mang thần chết đến ngay bờ biển và duyên hải chúng ta. V́ địa thế trên gió, trên nước. Trung Cộng vẫn an b́nh để sống chết mặc bay.

Ngoài ra, nh́n xa về tương lai cũng không phải là chuyện viễn vông. Ḍng lịch sử dân tộc đă chẳng dài nhiều ngàn năm đấy sao? Ngày xưa, Vịnh Bắc Việt từng ăn sâu tới tận Việt Tŕ. Ngày nay, Vùng Châu Thổ Sông Hồng đang tiếp tục lấn nhanh ra biển. Trong khi chu kỳ nóng lạnh của trái đất xoay chuyển, mực nước biển hạ xuống mỗi khi băng đá gia tăng tại hai cực địa cầu...rồi sẽ có giai đoạn bờ biển kéo dài ra tới Đảo Bạch Long Vỹ. Với những điều kiện không thể cho là giả tưởng khi Vịnh Bắc Việt thâu nhỏ lại trong tương lai, Trung Cộng sẽ hoàn toàn sở hữu cả Vịnh Biển.

Xa hơn chút nữa (đến một ngày nào đó) cả hai bên bờ vùng biển một thời được gọi là ‘’Vịnh Bắc Việt’’ đều thuộc lănh thổ Trung Cộng.

ĐƯỜNG PHÂN THỦY VÀ MỘT ĐƯỜNG PHÂN RANH HỢP LƯ

Trung Cộng đă chấp nhận quan niệm cổ truyền ‘’dùng đường phân thủy làm ranh giới’’ trên lục địa (xem thông báo về hiệp ước biên giới của cộng sản Việt Nam). Đường phân thủy ngoài biển cũng phải được tôn trọng. Chúng tôi tŕnh bày đường phân thủy của Vịnh Bắc Việt v́ sự liên hệ của nó gắn chặt với địa điểm đáy biển Việt Nam (đặc biệt là Vịnh Bắc Việt) chạy dài rất xa ra ngoài khơi.

Khi Trung Cộng tranh luận kịch liệt với Nhật Bản về chủ quyền Thềm Lục Địa quanh khu vực Đảo Điếu Ngư (Daio Dao-Uotshuri- Shima 25 độ 45 phút N 123 độ 29 phút E), họ đă dùng ưu thế địa lư này và đă được một số Chuyên Gia Luật Biển bênh vực, cho là hữu lư.

Một nhận xét nữa của giới Luật Gia cũng cho thấy đoạn cuối của Đường Phân Thủy cũng không xa bao nhiêu với đường Kinh Tuyến 108 độ 3 phút 13 giây Đông (của Công Ước 1887 về biên giới đă nói ở trên).

Tại sao luật lệ không đồng nhất và Việt Nam lại bị thiệt tḥi quá nhiều như vậy. Chính quyền Hà Nội rồi ra sẽ phải trả lời câu hỏi được đặt ra rất hợp lư này.

Chỉ có sự chia cắt hợp lư hải phận mới đem lại một nền ḥa b́nh trên biển. Là một nhóm người nhỏ bé nghiên cứu một vấn đề ngoài lănh vực chuyên môn của ḿnh, Ban Biên Tập Lướt Sóng không có khả năng tŕnh luận án khó khăn như phân định Vịnh Bắc Việt. Tuy vậy, trong khi sưu tầm tài liệu, chúng tôi t́m thấy có nhiều cá nhân và tổ chức luật pháp rất quan tâm cho ḥa b́nh Thế Giới, đă đi t́m những giải pháp công bằng cho cả hai quốc gia Hoa-Việt.

CHÍNH QUYỀN CHÂN CHÍNH PHẢI QUYẾT TÂM BẢO VỆ LĂNH THỔ

Việc phân chia hải phận Vịnh Bắc Việt cũng như việc xác định chủ quyền quốc gia chúng ta trong những vùng đất, vùng biển nào khác đều quan trọng. Một chính quyền chân chính phải quyết tâm bảo vệ lănh thổ.

Công Pháp Quốc Tế đứng về phía Việt Nam. Trong tinh thần thượng tôn luật pháp, ư thức của nhân loại đang gia tăng về một trật tự cần thiết trên biển, thời gian hiển nhiên cũng đứng về phía dân tộc chúng ta. Điều cần thiết lúc này là Việt Nam phải làm sáng tỏ chính nghĩa chủ quyền của ḿnh cùng Cộng Đồng Thế giới. Nếu v́ đối phương hiếp đáp, áp bức trong bàn hội nghị mà cuộc điều giải bất thành, Việt Nam cần đưa ra vụ Vịnh Bắc Việt này (cũng như những tranh chấp các Quần Đảo Hoàng Sa, Trường Sa) ra trước Ṭa Án Quốc Tế.

Sau nữa, toàn dân trong cũng như ngoài nước hy vọng rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không nên muối mặt kư kết thêm hiệp định bất b́nh đẳng một lần nữa. Dù chót đă hứa với Bắc Kinh sẽ thỏa thuận về những tranh chấp Biển Đông trong những năm tới, cộng sản Hà Nội nên hồi tâm lại. Phải đặt quyền lợi quốc gia trên hết. Không hèn, hăy phản công lại mới được chứ.

NHẬN XÉT VÀ TUYÊN CÁO CỦA ỦY BAN BẢO VỆ LĂNH THỔ

Để thay cho phần kết luận, chúng tôi xin trích đăng một số nhận xét về t́nh trạng biên giới Việt Nam của Giáo Sư Nguyễn Văn Canh và đoạn chót Bản Tuyên Cáo của Ủy Ban Bảo Vệ Lănh Thổ như sau:

...Nội dung của các cuộc thương thuyết về phân định lănh thổ không được phổ biến. Người ta không biết rơ là phần đất nào bị mất, phần đất nào đă thu hồi được, ngoại trừ các viên chức nắm giữ quyền hành trong đảng. Dân tộc Việt Nam có quyền đ̣i hỏi đảng cộng sản Việt Nam phải công bố rơ điều này.

1. Nh́n vào thực tại về biên giới trên đất liền và trong vùng Vịnh Bắc Việt, cũng như có những bằng chứng về việc Trung Cộng lấn chiếm đất mà việt cộng hoặc không quyết tâm đ̣i lại hay không phản ứng đầy đủ và rất nhiều trường hợp chỉ phản ứng lấy lệ trong việc bảo vệ lănh thổ để khỏi bị chê trách, người ta có quyền nghi ngờ rằng đây là việc chuyển nhượng tài sản quốc gia trá h́nh. Điều này đă được t́m thấy trong văn kiện mà Phạm văn Đồng kư ngày 14.9.1958, với tư cách Thủ Tướng chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng Ḥa gửi cho Chu ân Lai, Tổng lư quốc vụ viện, nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa nh́n nhận thẩm quyền lănh thổ của Trung Cộng trên biển Đông.

2. Qua tiến tŕnh thương thảo giữa hai phe, như Hàn niệm Long, Thứ Trưởng ngoại giao Trung Cộng đặc trách Đông Nam Á và cũng là Trưởng phái đoàn thương thuyết biên giới với việt cộng từ thập niên 70, th́ đây là công việc giữa hai đảng: Cộng sản Việt Nam và cộng sản Trung Hoa. Hành pháp hay Quốc Hội chỉ là các tổ chức ngoại vi của đảng. V́ vậy việc mỗi cơ quan này có tham dự vào việc kư kết hay phê chuẩn chỉ để thực hiện mục tiêu của đảng. Đặc biệt rơ hơn là trường hợp Đỗ Mười, Tổng bí thư của đảng cộng sản Việt Nam kư thỏa hiệp tạm thời thiết lập mục tiêu, nguyên tắc cho việc kư hai hiệp ước trên, v́ Đỗ Mười không có một vai tṛ ǵ trong chính quyền. Các hiệp ước này không có giá trị ǵ đối với quốc dân Việt Nam.

3. Đảng cộng sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc chuyển nhượng bất hợp pháp đất đai này, dù v́ lư do ǵ chăng nữa, nhất là tự đặt ḿnh dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản Trung Hoa, trong mưu đồ t́m sự hỗ trợ để được tồn tại và triệt tiêu mọi lên tiếng về sự chuyển nhượng này.

4. Đối với Trung Hoa, Quốc Dân Việt Nam coi đây là một việc riêng của hai đảng cộng sản, không liên hệ ǵ đối với Quốc Dân Việt Nam. Và hai hiệp ước trên nếu Trung Cộng không trả lại những phần đất đă bị chiếm sẽ bị coi là vô hiệu.

Do đó, Trí Thức Việt Nam Hải Ngoại vào ngày 22.7.1994, sau đó là Ủy Ban Bảo Vệ Lănh Thổ trong các Tuyên Cáo vào ngày 29 tháng 4 năm 1995 và ngày 18.12.2000 đă lên tiếng về vấn đề ấy. (Lời Giáo Sư Nguyễn Văn Canh).

Cho dù nỗi ưu tư c̣n nhiều nhưng v́ khổ báo có hạn, Lướt Sóng xin tạm ngưng lại đây. Xin cảm ơn Qúy Vị đă theo dơi bài viết gây nhức nhối này.

NHÓM LƯỚT SÓNG

***

Phụ bản 1

Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá

giữa Việt-Trung trong Vịnh Bắc Bộ

Lê Công Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao

            Nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ Tịch Trần đức Lương, ngày 25.2.2000, nước ta và Trung Quốc đă kư hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ. Lễ kư kết được tổ chức với sự chứng kiến của Chủ Tịch Trần đức Lương và Chủ Tịch Giang trạch Dân. Sự kiện trọng đại mang tính lịch sử này diễn ra vào thời khắc rất đặc biệt, nhân loại đang hối hả thu hếp hành trang giă từ Thế Kỷ XX đi vào Thế Kỷ XXI và Thiên Niên Kỷ mới. Sự kiện này cũng diễn ra vào điểm đỉnh tốt đẹp của quan hệ Việt-Trung kể từ khi b́nh thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay. Nhân dân ta đón nhận việc kư kết hai hiệp định trên như một hành động đối ngoại của đảng và nhà nước trong năm 2000,  coi đó là nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng cường, thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, cũng như trong việc duy tŕ, củng cố ḥa b́nh, ổn định và hợp tác trong khu vực.

Trong các vấn đề do lịch sử để lại trong quan hệ giữa ta và Trung Quốc có 3 vấn đề liên quan đến biên giới lănh thổ là xác định đường biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Đông (mà thực chất là vấn đề chủ quyền đối với hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của ta), trong các vấn đề biên giới trên đất liền đă được giải quyết bằng việc kư kết hiệp ước trên đất liền Việt Nam và Trung Quốc ngày 30.12.1999.

Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2,  chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km2 (176 hải Lư) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km2 (119 hải lư). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km2, c̣n phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía ta có khoảng 1.300 ḥn Đảo ven bờ, đặc biệt có Đảo Bạch Long Vỹ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách Đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km.

Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc pḥng. Đặc thù của Vịnh là chiều ngang tương đối hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa hề phân định Vịnh Theo Công Ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc, th́ toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng chống lấn và trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ giữa hai nước.

Trước t́nh h́nh đó, hai nước đều có nhu cầu tiến hành đàm phán để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản và lâu dài: Một là xác định đường phân giới rạch ṛi,  phân chia vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước láng giềng, hai là giải quyết vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá tŕnh xây dựng ḷng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai đảng, hai nước theo phương châm 16 chữ mà hai đồng chí Tổng bí thư đă thỏa thuận.

Ngoài ư nghĩa về an ninh, quốc pḥng, Vịnh Bắc Bộ c̣n có ư nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phóng phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có kư các thỏa thuận cho phép thuyền buồn của hai bên được đánh bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lư, 6 hải lư và 12 hải lư tính từ bờ biển và Hải Đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này đă hết hiệu lực vào những năm 70. Trong quá tŕnh đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ,  phía Trung Quốc kiên tŕ đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh nếu không thỏa thuận được vấn đề này th́ khó có thể giải quyết được vẫn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000.

Ta không chủ trương gắn vẫn đề nghề cá mang tính kinh tế, kỹ thuật với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược lâu dài. Nhưng ta cũng nhận thức rơ là việc không giải quyết được vấn đề nghề cá có thể dẫn đến hậu quả là khó giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Lúc đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chống lấn giữa hai bên và t́nh h́nh ở đó sẽ tiếp tục sẽ mất ổn định.

Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước có Vịnh hoặc vùng biển chung cũng đă thỏa thuận lập vùng đánh cá chung và về mặt pháp lư th́ điều đó không trái với Công Ước Luật Biển năm 1982. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, ta đă đồng ư lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm phán về biên giới lănh thổ,  trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc đă được tiến hành từ đầu những năm 70.

Trong các năm 1974 và 1977-1978, hai nước đă tiến hành 2 ṿng đàm phán về phân định. Nhưng do điều kiện lúc đó nên đàm phán không có kết quả. Sau khi hai nước b́nh thường hóa quan hệ, hai bên đă quyết định thương lượng để giải quyết các vấn đề biên giới lănh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ. Hai nước đă kư thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lănh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 19.10.1993, trong đó nêu rơ phương hướng phân định Vịnh Bắc Bộ là ‘’hai bên sẽ áp dụng Luật Quốc Tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh liên quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng’’. Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến 2000, hai bên đă triển khai 7 ṿng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 ṿng đàm phán cấp chuyên viên.

Một thuận lợi hết sức lớn lao đối với quá tŕnh đàm phán là quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước không ngừng được tăng cường, ngày càng đi vào thực chất và toàn diện, lănh đạo của hai bên luôn luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao. Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2.1999 của đồng chí Tổng bí thư Lê khả Phiêu, lănh đạo cấp cao hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để kư hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Với tinh thần đó, trong năm 1998 và 1999 hai bên chủ yếu dành ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền. Năm 2000 cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ được đẩy mạnh và đi vào giải quyết thực chất (1 ṿng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp liên tiếp giữa hai Trưởng đoàn cấp chính phủ và 8 ṿng đàm phán cấp chuyên viên).

Trong quá tŕnh đàm phán, hai bên đă vận dụng các nguyên tắc như sau để giải quyết: Một là, căn cứ vào các quy định của Công Ước Luật Biển 1982 của Liên Hiệp Quốc cũng như các nguyên tắc Luật Pháp Quốc Tế và tập quán được công nhận rộng răi. Hai là hai bên tính đến các đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện diện của các Đảo, chiều dài bờ biển v.v...ba là,  việc giải quyết vấn đề phân định phải xuất phát từ thực trạng cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước, bốn là bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu cố lợi ích của nhau.

Về diện tích, phía Trung Quốc kiên tŕ chủ trương đại thể chia đôi, thừa nhận ta có thể nhỉnh hơn nhưng hơn không đáng kể. Ta chủ trương giải pháp công bằng phải phù hợp với các hoàn cảnh hữu quan trọng Vịnh như sự hiện diện của các Đảo của ta, chiều dài bờ biển của ta lớn hơn v.v...Do đó, kết quả của giải pháp phân định phù hợp với yêu cầu ta đặt ra. Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8205 km2) đường phân định cách Đảo Bạch Long Vỹ 15 hải lư, Đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực. Về khía cạnh tài nguyên, giải pháp phân định đạt được cũng bảo đảm việc phân chia lợi ích một cách công bằng. Hai bên đă phân chia rơ ràng phần thềm lục địa của ḿnh mà không bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường hợp có cấu tạo mỏ vắt qua đường phân định th́ hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó.

Cuộc đàm phán về nghề cá được khởi động muộn hơn. Cho măi đến tháng 4.2000 ta mới tán thành đàm phán nghề cá. Qua 6 ṿng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ Vĩ Độ 20 xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lư kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 23,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lư. Đại bộ phận cách bờ của ta 35-39 hải lư và có hai điểm cách bờ là 28 hải lư.  Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn). Hai bên cũng đă thỏa thuận các điều khoản liên quan đến bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh.

Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là: Vùng đặc quyền kinh tế của nước nào th́ nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung, sản lượng và số tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc b́nh đẳng,  căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ, mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ ba trong vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh. Hai bên thỏa thuận lập ủy ban liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan đến vùng đánh cá chung.

Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn 4 năm ở phía Bắc Vĩ Tuyến 20 độ cho tàu thuyền của hai bên tiếp tục được đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời gian quá độ, tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của ḿnh, trừ khi được bên kia cho phép.

Đồng thời hai bên cũng thỏa thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi cho việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu đó đánh cá th́ cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của ḿnh). Vùng này dài 10 hải kư và tính từ đường phân định rộng 3 hải lư về mỗi bên.

Về tổng thể, các giải pháp đạt được trong quá tŕnh đàm phán và được thể hiện trong hai bản hiệp định là thỏa đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các hiệp định đó là kết quả của quá tŕnh đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía.

Đối với ta, việc kư hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tiếp theo việc kư hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, có ư nghĩa rất quan trọng v́ qua đó ta đă đạt được mục tiêu là giải quyết được hai trong ba vấn đề biên giới lănh thổ tồn đọng lâu nay giữa hai nước. Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc năm 1999 và hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tạo nên một cơ sở pháp lư vững chắc để quản lư biên giới, lănh thổ, thực hiện mục tiêu là xây dựng biên giới Việt Nam-Trung Quốc thành biên giới ḥa b́nh, hữu nghị, ổn định lâu dài và tạo động lực thúc đẩy, tăng cường quan hệ hai nước.

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đă xác định trọn vẹn đường biên giới lănh hải giữa ta và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa sông Bắc Luân, phân định rơ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và phạm vi thềm lục địa của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đă ghi nhận cam kết của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên trong phạm vi các vùng biển của ḿnh. Hiệp định cũng đă đề ra cách giải quyết khi xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các mỏ tài nguyên khoáng sản nằm trong Vịnh.

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vừa mới kư với Trung Quốc này là hiệp định phân định biển thứ hai của nước ta (Hiệp định phân định biển đầu tiên là hiệp định phân định biển giữa Việt Nam và Thái Lan kư năm 1997) và là hiệp định phân định gần đây nhất trong khu vực. Do đó ư nghĩa của hiệp định này không chỉ dừng lại trong khuôn khổ quan hệ Việt-Trung mà là thực sự góp phần vào việc ổn định ḥa b́nh trong khu vực.

Hiệp định hợp tác nghề cá đă góp phần quan trọng đưa đến việc kư kết hiệp định phân định, thể hiện rơ sự nhân nhượng, thông cảm lợi ích của nhau, phù hợp với phương châm ‘’láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai’’ trong quan hệ hai nước.

 (http://www. cpv.org.vn/ tccs/022001/ 6_lecongphung. htm)
(Tạp chí cộng sản Tel: 8252061, Fax: 8222846. 19 Phạm Ngọc Thạch, Q3, TP Hồ Chí Minh

 Tel: 8225768

Tổng biên tập: Hà Đăng.)


Phụ Bản 2

Về việc kư hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định hợp tác nghề cá giữa

Việt Nam và Trung Quốc

            ngày 25 tháng 12 năm 2000, tại Bắc Kinh Trung Quốc, chính phủ Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa đă kư hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định hợp tác nghề cá giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ. Theo yêu cầu của bạn đọc, Tạp chí tóm tắt sự kiện như sau:

A. Về hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ

            Vịnh Bắc Bộ có diện tích 126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km và nơi hẹp nhất khoảng 220 km. Khác với biên giới trên bộ, đường ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc từ trước đến nay chưa được xác định. Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp và Nhà Thanh mới thỏa thuận lấy đường kinh tuyến Paris 105 độ 04’ 3’’ Đông (kinh tuyến Geenwich 108 độ 03’ 13’’ Đông) để quy thuộc chủ quyền của các Đảo ở khu vực sát cửa sông Bắc Luân.

Do đặc thù của Vịnh chưa phân định, nên toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng luôn xảy ra các tranh chấp giữa ta và Trung Quốc, nhất là về thăm ḍ tài nguyên dầu khí và về đánh cá. Do đó, rất cần đàm phán để kư kết hiệp định phân định giữa hai nước. Vào những năm 70, ta và Trung Quốc đă có hai cuộc đàm phán về vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ (vào năm 1974 và 1977-1978). Nhưng chưa có kết quả.

Sau khi hai nước b́nh thường hóa quan hệ, hai đảng hai nước đă quyết định giải quyết các vấn đề biên giới lănh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ. Với chủ trương đó,  ngày 19.10.1993 hai bên đă kư ‘’Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lănh thổ giữa nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa’’, trong đó quy định về Vịnh Bắc Bộ là ‘’hai bên sẽ áp dụng Luật Quốc Tế và tham khảo thực tiễn quốc tế theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng’’. Từ đó đến nay, vấn đề  phân định Vịnh Bắc Bộ đă được hai bên bàn bạc tại 7 ṿng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng phái đoàn đàm phán cấp chính phủ, 18 ṿng đàm phán cấp chuyên viên và một số ṿng họp không chính thức giữa các chuyên viên phân định.

Vào năm 1997, nhân dịp đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười thăm Trung Quốc và tháng 2.1999, nhân dịp đồng chí Tổng bí thư Lê khả Phiêu thăm Trung Quốc, lănh đạo cao nhất của hai đảng, hai nước đă thỏa thuận tích cực thúc đẩy đàm phán để hoàn thành việc phân định và kư hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000.

Trong quá tŕnh đàm phán, hai bên đă căn cứ vào Công Ước năm 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các nguyên tắc luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế được công nhận,  cũng như tính đến các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, thương lượng hữu nghị để giải quyết vấn đề một cách công bằng, hợp lư. Dưới sự lănh đạo chặt chẽ của bộ chính trị và chính phủ hai nước, cuối năm 2000 hai bên đă hoàn thành việc phân định dẫn đến việc kư hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vừa qua.

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ là hiệp định phân định mang tính tổng hợp. Xác định rơ biên giới lănh hải của hai nước ở ngoài cửa sông Bắc Luân, cũng như giới hạn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta và Trung Quốc ở trong Vịnh Bắc Bộ. Về diện tích tổng thể, tính theo mực nước trung b́nh th́ ta được 53,23%, Trung Quốc được 46,77% diện tích Vịnh. Đường phân định cách Đảo Bạch Long Vỹ 15 hải lư (về phía bờ Đảo Hải Nam) Đường đóng Cửa Vịnh nối mũi Oanh Ca của Trung Quốc, qua Đảo Cồn Cỏ đến bờ biển của Việt Nam. Hiệp định đă khẳng định nghĩa vụ của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lănh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ḿnh theo đường phân định. Các trường hợp đường phân định đi qua các cấu tạo địa chất có khả năng có dầu khí th́ hai bên đă thỏa thuận sau này nếu phát hiện thấy dầu khí sẽ hợp tác phân chia lợi ích một cách công bằng khi khai thác.

B.Về Hiệp định hợp tác nghề cá ở trong Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc.

Vào các năm 1957, 1961 và 1963, ta và Trung Quốc kư các thỏa thuận cho phép tàu thuyền đánh cá của hai bên được đánh cá chung trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lư. 6 hải lư và 12 hải lư tính từ bờ biển và Hải Đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này hết hiệu lực vào đầu những năm 70. Trong quá tŕnh đàm phán về phân định, phía Trung Quốc kiên tŕ đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước, luật pháp và thực tiễn quốc tế (gần ta nhất là thực tiễn kư hiệp định vùng đánh cá chung giữa Trung Quốc và Nhật Bản, giữa Úc và Indonesia), ta đă đồng ư mở các cuộc đàm phán riêng về vấn đề hợp tác nghề cá giữa hai nước ở trong Vịnh Bắc Bộ từ tháng 2 năm 2000. Tháng 9 năm 2000, nhân chuyến thăm làm việc của Thủ Tướng ta tại Trung Quốc, lănh đạo cấp cao hai nước khẳng định kư hiệp định Vịnh Bắc Bộ và hiệp định nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ vào cuối năm 2000.

Qua 6 ṿng đàm phán, hai bên đă thống nhất hiệp định về hợp tác nghề cá, trong đó nội dung chính là lập vùng đánh cá chung mọi tàu thuyền của cả hai bên đều được đánh bắt theo quy định của Ủy ban liên hợp về nghề cá. Vùng đánh cá chung này nằm ở Nam Vĩ Tuyến 20 (phía Nam Đảo Bạch Long Vỹ), có bề rộng là 30,5 hải lư kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm. Sau đó, việc hợp tác tiếp tục như thế nào là tùy hai bên hiệp thương thỏa thuận. Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là. Vùng đặc quyền kinh tế của nước nào th́ nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung, sản lượng và số tàu thuyền được phép vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc b́nh đẳng căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ, mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với nước thứ ba theo các quy định cụ thể của hiệp định.

Xuất phát từ t́nh h́nh đánh bắt của ngư dân Trung Quốc, hai bên đă đồng ư về dàn xếp quá độ trong vùng đặc quyền kinh tế của mỗi bên nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 20 cho phép tàu thuyền hai bên được tiếp tục hoạt động nghề cá trong thời hạn là 4 năm tại khu vực này. C̣n ở phía biển sát cửa sông Bắc Luân, hai bên đồng ư lập một khu đệm dài 10 hải lư và rộng 6 hải lư (3 hải lư về mỗi phía kể từ đường biên giới lănh hải) nhằm tạo thuận lợi cho việc ra vào của tàu thuyền hai bên.  

C. Việc kư Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và Trung Quốc là sự kiện quan trọng đối với nước ta cũng như quan hệ Việt-Trung.

            Với việc kư hiệp định phân định, ta đă giải quyết dứt điểm được vấn đề thứ hai trong ba vấn đề biên giới, lănh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (biên giới trên bộ. Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông). Việc phân định một cách rơ ràng biên giới lănh hải phía ngoài cửa sông Bắc Luân, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh sẽ tạo thuận lợi cho việc quản lư và duy tŕ ổn định ở trong Vịnh, góp phần tăng cường sự tin cậy giữa hai bên, thúc đẩy quan hệ hợp tác mọi mặt giữa hai nước.

Tiếp theo việc kư hiệp ước và giải quyết vấn đề biên giới với Lào, phân định vùng biển với Thái Lan, đang tích cực giải quyết một số vấn đề c̣n lại về biên giới trên đất liền và đi tới giải quyết vấn đề trên biển với Cam Bốt, giải quyết vùng chống lấn với Indonesia và đặc biệt là việc kư hiệp ước biên giới trên đất liền giữa ta và Trung Cộng năm 1999, việc kư các hiệp định phân định và hợp tác nghề cá ở trong Vịnh Bắc Bộ là bước tiến mới quan trọng trong việc xây dựng môi trường ḥa b́nh, ổn định xung quanh nước ta, tạo điều kiện cho chúng ta tập trung sức lực vào việc xây dựng và phát triển đất nước.

Việc hai nước Việt Nam-Trung Quốc hoàn thành giải quyết vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ góp phần tích cực vào việc củng cố ḥa b́nh và ổn định ở khu vực.


(http://www. cpv.org.vn/ anpham/tutuong/ 032001/13_ kyhiepdinh. htm)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CẮT ĐẤT BÁN CHO TÀU NHỮNG NGƯỜI LĂNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN ĐĂ BỘI ƯỚC VỚI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Tiến Sĩ Phan Văn Song

            Từ ngàn xưa, ở Âu hay ở Á, người lănh đạo một Quốc Gia vẫn phải được hợp thức hóa sứ mạng làm người cai trị. Ở thời Đế quốc Assyrie (Thế Kỷ 7 trước Công Nguyên) xa xưa các vị Vua đều dùng h́nh ảnh Chúa Assour để bảo đảm cái chánh thức (légitimité) của quyền lănh đạo của ḿnh. Đó là dùng thần quyền để chánh thức hóa quyền lực của ḿnh, cả ông Mose cũng phải nhờ sức đẩy của Chúa (Sáng Thế Kư 17) mới dám lănh sứ mạng dắt dân Do Thái ra khỏi Ai Cập để đi vào vùng đất  hứa. Dưới thời quân chủ Á Đông, các Vua Á Đông thường được nhận ‘’thiên mạng’’, tế trời đất, để trị v́ thiên hạ. Dân chủ hơn, các Hoàng Đế La Mă được bầu tung hô trước ba quân. Gần hơn nữa, dân chủ tân tiến hơn, những nhà lănh đạo các quốc gia tân tiến đều được phổ thông bầu phiếu để lănh nhiệm vụ cầm quyền. Cầm quyền là lănh nhiệm vụ lo cho dân có nơi ăn chốn ở, lo cho đất nước được thanh b́nh để nhân dân được ấm no hạnh phúc, lo cho giang sơn lănh thổ thừa hưởng của cha ông để lại không bị sức mẻ, không bị xâm phạm. Đó là sứ mạng. Đó cũng là khế ước, hợp đồng giữa người cầm quyền đối với người dân của họ.

            Trong đại hội 9 (4.2001) hai chữ ‘’Dân Chủ’’ mới được ghi lần đầu tiên làm một tiêu chỉ của đảng cộng sản Việt Nam, sau khi đảng này ra đời 71 năm và nửa thế kỷ nắm chánh quyền. Việc sửa đổi hiến pháp vẫn không xóa bỏ điều 4 hiến pháp cho phép đảng cộng sản được quyền đứng trên tất cả và độc quyền toàn trị. Cũng chính từ điều 4 này đă sinh ra quan liêu, tham nhũng, cho phép các ‘’quan cộng sản’’ biến thành những triệu phú, trong lúc đại đa số nhân dân phải sống trong đói rách lầm than. Tệ hại hơn nữa điều 4 hiến pháp đă cho phép Lê khả Phiêu và bộ chính trị của ông ta đă bán đất của ông cha ta cho Trung Quốc qua hai hiệp định về biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc kư ngày 30.12.1999 nhường cho Trung Quốc 720 km2, làm cho Cửa Ải Nam Quan ngày trước nằm ở biên giới bây giờ hoàn toàn nằm trong đất Trung Quốc và hiệp định phân định lănh hải kư ngày 25.12.2000 nhường cho Trung Quốc hằng ngàn cây số vuông trên biển trong Vịnh Bắc Việt. Mục đích của Lê khả Phiêu là bán đất để mua sự ủng hộ của Trung Quốc trong việc dành chức Tổng bí thư trong Đại hội 9 vừa qua mà thôi. Bán nhượng cho Trung Quốc cả trăm cây số vuông đất liền, cả ngàn cây số vuông lănh hải, với mục đích dành nhau cái chức Tổng bí thư. Cuối cùng Lê khả Phiêu vẫn mất ghế. Bút sa gà chết, khốn nỗi cả Quốc Hội ‘’đảng sai tôi gật’’ đă lỡ nhanh tay phê chuẩn rồi.

            Nói về luật học, tập đoàn cầm quyền của đảng cộng sản khi đă kư văn kiện bán nước trên, đă bội ước đối với nhân dân Việt Nam. Như vậy, nhà cầm quyền cộng sản mang tội bán nước. C̣n đối với Lịch Sử Việt Nam tập đoàn cầm quyền cộng sản đă phản bội sứ mạng quản lư ǵn giữ sự toàn vẹn non sông. Nhà cầm quyền cộng sản mang tội phản quốc.

            Nói về đạo lư, khi đă làm người cầm quyền, nhà nước cộng sản khi đă lănh sứ mạng lo cho dân, bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ, mọi việc quan trọng phải thông tin, truyền thông cho dân được biết. Khi âm thầm thương thuyết kư việc bán nhượng trên, nhà cầm quyền Việt Nam đặt để nhân dân Việt Nam trước sự ‘’việc đă rồi’’, đó là một sự lường gạt. Khi kư kết bán nhượng kia, tập đoàn cầm quyền cộng sản đă xóa bỏ một loạt những di tích đấu tranh can trường của Dân Tộc Việt, trong suốt bốn ngàn năm, đă bao lần đổ máu để ǵn giữ từng tấc đất của biên cương, họ mang tội bất hiếu với Tổ Tiên. Bội ước đối với nhân dân, nhà cầm quyền cộng sản mang tội bất tín. Việc dành nhau những chức vị trong đảng, làm nhu nhược đảng, đưa những thất bại này đến thất bại khác, tập đoàn cộng sản lănh đạo này mang tội bất trung đối với đảng của họ. Nhưng chúng ta hăy để họ xử lư với nhau. Việc đối xử với những cán bộ đảng viên tuy trung kiên với đảng, nhưng c̣n một tấm ḷng với đất nước như tướng Trần Độ, các ông Hoàng minh Chính, Trần Khuê, bà Nguyễn thị Thanh Xuân, các ông Nguyễn thanh Giang, Hà sĩ Phu, bà Dương thu Hương...v́ đă lên tiếng can gián, đả kích xây dựng nên bị bịt miệng quản thúc quản chế, như vậy là bất nghĩa. C̣n đối với những người chống đối không thuộc thành phần cộng sản, những người đấu tranh lương tâm cho Dân Chủ, cho Tự Do Tôn Giáo, như Giáo Sư Nguyễn Đ́nh Huy, năm nay đă trên 70 tuổi rồi mà c̣n phải tù chưa biết ngày ra, Thầy Thích Huyền Quang tuổi trên 80 vẫn c̣n bị quản chế, Linh Mục Nguyễn Văn Lư, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Ḥa Thượng Thích Quảng Độ kẻ ngồi tù, người quản thúc...là bất nhân.

            Bội ước, phản quốc, bất hiếu, bất tín, bất trung, bất nghĩa, bất nhân, tập đoàn cầm quyền cộng sản này đă xài hết tất cả những lá bài để tiếp tục cầm quyền. Điều 4 hiến pháp của họ có c̣n bao phép mầu nhiệm để tiếp tục làm tấm lá chắn để chính thức hóa sự lănh đạo của đảng?

            Đă bắt đầu rồi bao nhiêu tiếng phản đối, đă bắt đầu rồi bao nhiêu tiếng la thét, đă bắt đầu rồi bao nhiêu bài tố cáo nhân dân Việt Nam từ nửa thế kỷ nay tuy có đói rách tù đày khó khăn, vẫn nghiến răng chấp nhận, nhưng cái nhục bán nước cho Tầu, kể từ nay sẽ là vết dơ không thể rửa được trên khuôn mặt người Việt Nam.

            Nhân dân Việt Nam c̣n đợi bao lâu nữa? Đâu rồi những anh hùng Điện Biên chống Pháp đâu rồi những dũng sĩ chống Mỹ cứu nước, đâu rồi các anh hùng dân quân địa đầu biên giới...Nhân dân Việt Nam, sau nửa thế kỷ đấu tranh, hy sinh xương máu theo lời dụ dỗ của đảng cộng sản, kháng Nhật, chống Tây, đánh Mỹ, cưỡng chiếm miền Nam thống nhất trong đau khổ, độc lập trong thù hận, đă được hưởng cái ǵ? hay chỉ thấy ngày hôm nay, không một phát súng, bị anh láng giềng cướp vài ngàn dặm vuông đất nước của cha ông để lại.

            Phải vùng đuổi những tên việt gian bán nước ấy. Phải vùng lên lấy lại chánh quyền,  để lập lại Dân Chủ, để lập lại Tự Do, để đ̣i lại mảnh đất giang sơn đă mất.

Kính thưa Quốc Dân, Kính thưa Đồng Bào, tôi xin đề nghị: Ở quốc nội hay ở hải ngoại, chúng ta kể từ nay, hăy mang một băng tang chờ một ngày rửa nhục.

Nam Linh PHAN VĂN SONG

 Hồi Nhân Sơn Rằm tháng Chạp năm Tân Tỵ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chung quanh việc Hà Nội kư kết các hiệp định biên giới với Bắc Kinh hay:

ĐỐI NGOẠI KHÔNG ĐẦU

Âu Dương Thệ

* Tại sao nhóm cầm đầu cộng sản tại Việt Nam phải làm như vậy?

* Sách lược của Giang trạch Dân và áp lực cực mạnh của Bắc Kinh lên Hà Nội như thế nào?

* Biến cố 11.9 đă ảnh hưởng tới các quyết định của Nông đức Mạnh ra làm sao?

          Trong mấy tháng gần đây những ai quan tâm tới t́nh h́nh đất nước đều bàn luận các vấn đề liên quan tới hai ‘’Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Hoa’’ được kư kết tại Hà Nội ngày 30.12.1999 và ‘’Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Hoa’’ kư kết tại Bắc Kinh ngày 25.12.2000. Đây là hai hiệp ước hệ trọng tới hiện tại và tương lai của một nước, trong một xă hội dân chủ những người lănh đạo đă phải tŕnh bày và giải thích trước nhân dân và Quốc Hội, đồng thời các bản văn của hiệp ước phải được công bố công khai và toàn bộ. Nhưng ở Việt Nam th́ lại hoàn toàn khác:

            1.- Cho tới nay những người có quyền hành cao nhất và trách nhiệm lớn nhất như Tổng bí thư Nông đức Mạnh, Chủ Tịch nước Trần đức Lương và Thủ Tướng Phan văn Khải đều không lên tiếng về vấn đề vô cùng trọng đại này.

            2.- Cả hai hiệp ước chưa được công bố tại Việt Nam cũng như Trung Hoa, hay bất cứ tổ chức nào của Liên Hiệp Quốc.

            Một chính phủ có trách nhiệm, xét về phương diện chính trị học, phải bảo vệ quyền lợi của đất nước (lănh thổ trên đất liền và Hải Đảo) và tạo một cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Về phương diện công pháp quốc tế một chính phủ khi thi hành thẩm quyền đối ngoại, như việc đàm phán các hiệp định với các nước ngoài, có nhiệm vụ phải tường tŕnh công khai trước Quốc Hội về nội dung và diễn tiến của những cuộc đàm phán để người dân trong nước được biết tường tận và một hiệp định đă kư kết chỉ có hiệu lực khi đă thảo luận và biểu quyết công khai tại Quốc Hội. Khẩu hiệu ‘’Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra’’ một lần nữa chỉ là câu rỗng tuếch. Không những thế, việc này c̣n hoàn toàn trái với tập tục và thông lệ trong công pháp quốc tế, hiện nay các hiệp ước song phương và đa phương giữ các quốc gia đều được công bố để những ai quan tâm đều có quyền tham khảo.

          Một chính quyền không làm được đầy đủ trách nhiệm và thẩm quyền th́ chính quyền đó đă tự đánh mất tư cách và không c̣n là đại diện của dân tộc.

            Ở trong những nước văn minh, trước khi một căn nhà được xây thường có một tấm bảng lớn được dựng lên thửa đất sẽ xây nhà ghi rơ ranh giới, vị trí căn nhà, chủ nhà và chủ thầu. Để hàng xóm hay ai quan tâm đều có quyền theo dơi, nếu cần có thể tới sở địa ốc Thành phố đọc rơ các chi tiết. Một chuyện nhỏ c̣n được tổ chức chu đáo như vậy. Tại sao một vấn đề vô cùng trọng đại liên quan tới vận mạng của đất nước như thế mà những người đứng đầu và có trách nhiệm cao nhất lại không lên tiếng? V́ đâu lại để xảy ra t́nh h́nh bất b́nh thường như vậy được?

          V́ hai hiệp định này không được công bố, nên người viết không làm công việc phỏng đoán xem Việt Nam đă bị thiệt hại như thế nào, trọng tâm của bài này là t́m hiểu tại sao chế độ Hà Nội đă phải làm như vậy, nhất là từ khi Nông đức Mạnh lên làm Tổng bí thư? Nghĩa là bài này phân tích hoàn cảnh hiện nay của chế độ và t́m hiểu phe nào trong trung ương đảng đang quyết định đường lối? Bài này bổ túc cho một số bài của cùng tác giả phân tích chính sách đối ngoại của ban lănh đạo cộng sản Việt Nam đă đăng trên tạp chí dân chủ & phát triển trong các năm vừa qua.

HOÀN CẢNH CỦA CHẾ ĐỘ SAU KHI LIÊN XÔ SỤP ĐỔ

          Nh́n một cách tổng hướng, từ sau khi Liên xô sụp đổ những người lănh đạo của cộng sản Việt Nam từ Nguyễn văn Linh và Đỗ Mười trở đi bắt buộc phải ḥa với chế độ cộng sản Trung Hoa, mặc dầu trong thâm tâm một số người lănh đạo không muốn, nhưng lúc đó (vào cuối thập kỷ 80) do hậu quả của đường lối đối ngoại thiển cận cột chặt Việt Nam vào Liên Sô sau nhiều thập kỷ, không c̣n thấy có một giải pháp khác. Khi ấy Hoa Kỳ vẫn c̣n phong tỏa,  EU và Nhật chỉ mới bắt đầu buôn bán và đầu tư rất hạn chế vào Việt Nam v́ c̣n chờ đợi thái độ của Washington. Do mất sự bảo vệ và sự viện trợ to lớn của Liên Sô, nên chế độ của cộng sản Việt Nam lúc đó, như chính những người đứng đầu chế độ đă thổ lộ về sau này, như sợi chỉ treo ngàn cân. Những người cầm đầu của đảng lúc đó từ Phạm văn Đồng, Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê đức Anh và Vơ văn Kiệt đă phải thân hành sang Bắc Kinh trong các năm 1989-1991 để cầu ḥa. Cũng từ đó mô h́nh cải cách của Đặng tiểu B́nh người đă từng cho họ một ‘’bài học’’ trong chiến tranh biên giới 1979, cũng đă được họ bắt chước dưới tên gọi chính sách ‘’đổi mới’’. Từ việc để cho nông dân được tự do canh tác tới việc lập các khu công nghiệp để cho ngoại quốc đầu tư và cũng từ đó h́nh thành cái gọi là ‘’kinh tế thị trường định hướng Xă Hội Chủ Nghĩa’’. Chỉ thay đổi các từ ngữ cho có tính cách ‘’sáng tạo’’ và ‘’độc lập’’ chứ nội dung và cách đi y hệt như của Bắc Kinh.

          Đến thời Lê khả Phiêu, do tham vọng cá nhân và thiếu hậu thuẫn ở trong đảng, nên cần một chỗ dựa ở bên ngoài, ông ta đă c̣n đi xa hơn nữa và theo một tốc độ ngựa phi, nên đă đưa cả châm ngôn ‘’Bắc Kinh trụ được th́ ta cũng trụ được’’. Nghĩa là muốn địa vị của ḿnh đứng vững và chế độ tồn tại th́ phải dựa vào Bắc Kinh. Châm ngôn này cũng chỉ là cách biến thể của khẩu hiệu thời Liên xô c̣n cực thịnh ‘’Liên Sô ngày nay là Việt Nam tương lai’’, nó chỉ giải thích tư duy ỷ lại muôn thở của những người cầm đầu chế độ từ người sáng lập cho tới nay. Châm ngôn bất hũ của Lê khả Phiêu đă nhanh chóng trở thành hiện thực trên nhiều lănh vực: Cột chặt quan hệ tư tưởng của Hà Nội vào Bắc Kinh qua một số hội nghị song phương về tư tưởng ư thức hệ đă được tổ chức lần lượt ở Bắc Kinh và Hà Nội, cầm đầu phía đảng cộng sản Việt Nam là Nguyễn đức B́nh, lúc đó là ủy viên bộ chính trị phụ trách công tác lư luận trung ương. Bên cạnh đó là ủy viên bộ chính trị Nguyễn phú Trọng, người vừa thay ông B́nh làm Chủ tịch hội đồng lư luận trung ương đồng thời là Bí thư thành ủy Hà Nội, ngoài ra c̣n có cả những nhân vật cầm đầu ngành tư tưởng văn hóa khi ấy và hiện nay như Nguyễn khoa Điềm, Hồng Vinh, Hữu Thọ, Hà Đăng, Hồ tiến Nghị (ba người sau đang làm trợ lư ‘’tức ban tham mưu’’cho Nông đức Mạnh). Không những thế,  trong chuyến thăm Bắc Kinh vào sau Tết Kỷ Măo vào cuối tháng hai năm 1999, Lê khả Phiêu đă cùng với Giang trạch Dân, Chủ tịch đảng cộng sản Trung Hoa và Chủ Tịch nước Trung Hoa, đă kư một tuyên bố chung, trong đó điều hai đă ghi rơ, hai bên thỏa thuận xây dựng quan hệ giữa hai nước trong Thế Kỷ 21.

          Đúng ra về phương diện nguyên tắc, khi một hiệp định đă được đại diện hai chính phủ kư và được Quốc Hội thông qua th́ sẽ chuyển sang giai đoạn thực hiện. Nhưng hiệp định biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Hoa không những có tính cách rất quan trọng mà c̣n rất nhiều phức tạp trong việc triển khai. V́ hàng thế kỷ, ngoài những biến động của thiên nhiên do núi non hiểm trở bao bọc, các cuộc chiến tranh và liên minh giữa các chính quyền hay giữa các phe phái và giữa các sắc tộc chung sống bên cạnh nhau càng làm vấn đề ấn định biên giới phức tạp hơn. Ngoài ra, nếu trong khi đàm phán một bên ở thế bất lợi th́ bên yếu thế thường sẽ chần chừ trong việc kư kết hoặc nếu đă phải kư kết rồi th́ sẽ t́m những cơ hội thuận tiện hơn để đổi chác nhằm giảm sự bất lợi. Đây là kinh nghiệm ngoại giao và đàm phán quốc tế. V́ thế,  không phải là hiệp định kư xong là có thể chuyển sang thực hiện được ngay.

          Sự phức tạp của việc này đă được chính Vũ Khoan, khi đó là Thứ Trưởng thường trực Bộ ngoại giao (hiện nay là Bí thư trung ương, Bộ trưởng thương mại và là một trong những nhân vật chính trong phái đoàn của Nông đức Mạnh thăm Trung Hoa vào cuối tháng 11.01) nh́n nhận trong bài ‘’mốc mới trong quan hệ Việt-Trung’’ trên tạp chí cộng sản số 2 tháng 1.2000 nói về việc kư kết hiệp định. Liền sau khi hiệp định về biên giới trên đất liền giữa hai nước vừa được kư (30.12.1999) trong bài trên Vũ Khoan đă giải thích tại sao phía Hà Nội đă kư hiệp định này, các nguyên tắc đàm phán, nhưng tuyệt đối không đưa ra một h́nh ảnh rơ ràng về nội dung hiệp định. Mặc dầu vậy, có hai việc quan trọng ông đă nói rơ:

            1.- Tại sao vào giai đoạn này Hà Nội đă phải kư.

            2.- Việc thực hiện sẽ được tiến hành ra sao.

          Về điểm 1, trong tư cách là Thứ Trưởng thường trực Bộ ngoại giao, Vũ Khoan đă cho biết: ‘’Cuộc đàm phán đă diễn ra không đơn giản, kéo dài tổng cộng trên 20 năm kể từ lần đàm phán chính thức năm 1977 và đặc biệt khẩn trương trong 7 năm gần đây’’

            Phần trước đó ông Khoan c̣n nói rơ, phía cộng sản Việt Nam ai là người chủ động trong việc thúc đẩy việc kư kết: ‘’Năm 1997, nhân dịp tổng bí thư Đỗ Mười thăm Trung Quốc và tháng 2.1999 nhân dịp tổng bí thư Lê khả Phiêu thăm Trung Quốc, lănh đạo cao nhất của hai đảng, hai nước đă thỏa thuận tích cực thúc đẩy đàm phán để kư hiệp ước về biên giới trên đất liền trước năm 2000.’’

            Tiết lộ của nguyên Thứ Trưởng thường trực Bộ ngoại giao cho thấy hai việc quan trọng:

          1.- Cuộc đàm phán giữa Hà Nội và Bắc Kinh đă diễn ra chỉ hai năm sau khi cộng sản Việt Nam chiếm xong miền Nam, nhưng sau khi Việt Nam kư hiệp định thân hữu và hợp tác với Liên Sô (cũ) 1978 được Liên Sô che chở và sau đó xẩy ra chiến tranh biên giới Việt-Hoa th́ coi như không c̣n chuyện đàm phán ǵ nữa.

2.- Măi sau khi Liên Xô sụp đổ. Hiệp định thân hữu và hợp tác Việt Nam-Liên Sô vô hiệu, chế độ cộng sản Việt Nam cô thân độc mă khi ấy Hà Nội mới trở lại đàm phán với Bắc Kinh, nhất là từ thời kỳ Đỗ Mười chính thức làm Tổng bí thư và tốc độ đàm phán nhanh hơn dưới thời Lê khả Phiêu. Nghĩa là, Hà Nội ở vào tư thế rất yếu khi trở lại những cuộc đàm phán với Bắc Kinh. Nói đúng hơn, trong khi Bắc Kinh giữ thế chủ động th́ Hà Nội hoàn toàn bị động. Như vậy những diễn tiến do Vũ Khoan đưa ra phù hợp với những phân tích ở phần đầu của bài này.

          Ông Khoan c̣n cho biết một điều rất quan trọng liên quan tới các việc cần phải thực hiện để trước khi hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Hoa có thể được thực thi:

‘’Việc kư hiệp ước là một bước tiến mới. Tuy nhiên, phía trước c̣n nhiều việc phải làm. Trước hết, hai bên phải tiếp xúc tiến các thủ tục cần thiết để phê chuẩn hiệp ước. Sau đó hai bên cần lập ra ủy ban hỗn hợp về phân giới, cắm mốc và ủy ban này sẽ tiến hành phân giới, cắm mốc trên thực địa (v́ hiệp ước mới chỉ là ghi nhận những thỏa thuận nguyên tắc, bản đồ kèm theo hiệp ước ở tỉ lệ quá lớn: 1/50.000). Đồng thời hai bên c̣n phải đàm phán về một hiệp định chính thức về quản lư biên giới thay cho hiệp định tạm thời kư năm 1991. Chỉ sau đó, biên giới trên đất liền giữa hai nước mới chính thức có hiệu lực trên toàn tuyến.

            Tuy việc phê chuẩn đă được hai bên thông qua (Ủy ban thường vụ Quốc Hội Trung Hoa thông qua ngày 29.4.2000 và Quốc Hội Việt Nam thông qua 9.6.2000), nhưng không công bố thông qua như thế nào, các đại biểu có thấy mặt mũi hiệp ước hay không. Cho tới giữa tháng 11.2001 khi ủy ban hỗn hợp về phân giới, cắm mốc cấp chính phủ do Thứ Trưởng ngoại giao Lê công Phụng (Việt Nam) và Thứ Trưởng ngoại giao Vương Nghị (Trung Hoa) họp lần thứ VII tại Hà Nội (14-15.11.2001) vẫn cho thấy, tuy có đạt được một số kết quả, nhưng công việc phân giới, cắm mốc vẫn chưa kết thúc. Thật vậy, trong bản tin trên tờ nhân dân 17.11.2001, trong phần liên quan tới hiệp ước về biên giới trên đất liền, cho biết hai bên đă tập trung thảo luận công tác chuẩn bị phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền...’’.

Tuy nhiên trong đó không cho thấy là việc này đă hoàn tất để bước sang cắm mốc chính thức thực tế ở các địa điểm biên giới giữa hai nước.

          Nhưng tại sao trong thông báo chung giữa Giang trạch Dân và Nông đức Mạnh trong chuyến thăm của ông Mạnh tại Trung Hoa vào cuối tháng 11.2001 đă viết trong điểm 7  ‘’tích cực thúc đẩy và tăng nhanh tiến tŕnh công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền’’?  và chỉ sau đó hơn ba tuần viên đá đầu tiên cắm mốc biên giới đă được tổ chức ở Móng Cái vào ngày 27.12.2001.Việc ǵ đă xảy ra khiến những người cầm đầu cộng sản Việt Nam đă phải làm một cách vội vă và hấp tấp như thế.

NỘI T̀NH T̀NH TRONG NƯỚC SAU ĐẠI HỘI 9

            Muốn hiểu việc này cần nắm vững những biến cố quốc tế quan trọng trong những tháng gần đây, nhất là những sự kiện có liên quan trực tiếp tới Việt Nam và t́nh h́nh ở trong nước. Theo cách chuẩn bị kế hoạch của ban lănh đạo cộng sản Việt Nam, những vấn đề quan trọng thường có nhiều đề án khác nhau, những cơ quan tham mưu hoạch định chiến lược và những người có trách nhiệm sẽ theo dơi t́nh h́nh thường xuyên để bổ túc cho các đề án.

            Sau Đại hội 9 của đảng cộng sản Việt Nam (4.2001), trong đó Nông đức Mạnh măi vào phút chót mới được cử làm Tổng bí thư, nhiệm vụ trung tâm là làm sao phát triển kinh tế nhanh với tham vọng là cho tới năm 2020 sẽ biến Việt Nam thành một nước công nghệ tiên tiến. Nhưng nhiệm vụ trước mắt trong kinh tế cũng rất khó khăn, làm sao giải quyết được t́nh trạng tăng trưởng đang đi xuống, đầu tư ngoại quốc giảm nhanh, so với thời gian trước 1997,  nhất là Nhật và các nước Tây phương (sau khi có khủng hoảng tài chánh và kinh tế ở Đông Nam Á và Đông Á). Hàng nội địa đang bị ứ đọng v́ sức mua của nông dân (chiếm 80% dân số) rất thấp, do lợi tức của họ trong những năm gần đây bị giảm nhiều, ngoài ra xuất khẩu đang xuy giảm. Trước những bài toán hóc búa ban lănh đạo mới không dễ ǵ t́m ra một giải pháp ổn thỏa. Nếu một ban lănh đạo thống nhất ư chí và đường lối cũng không dễ giải quyết được những vấn nạn này, huống hồ một ban lănh đạo mới đang chia ba xẻ bảy, chỉ chờ dịp loại trừ nhau. Điều này từ trong tới ngoài đảng ai cũng thấy rơ trong giai đoạn tiến hành Đại hội 9 vào đầu năm qua. Khiến Tướng Vơ nguyên Giáp, một trong những người sáng lập chế độ cuối cùng c̣n sống, cũng đă thống lên tiếng kêu: ‘’Trong lúc trung ương đảng tiếp tục chuẩn bị đại hội th́ ở nhiều nơi trong đảng, trong cán bộ, bộ đội và nhân dân đang rộ lên một t́nh h́nh bất thường, lo lắng xôn xao về vấn đề nhân sự, về t́nh h́nh mất đoàn kết ngay ở cấp cao. Có những việc cơ mật trong nhà chưa biết mà bên ngoài đă hay. Người ta bàn tán ngay ở cấp cao của đảng có hiện tượng phê phán đả kích, nên những nội dung cụ thể phê phán Tổng bí thư, thậm chí có dư luận cho rằng, có sự lũng đoạt cá nhân, có mưu đồ đảo chính trong đảng...Chưa bao giờ trong đảng ta có t́nh h́nh bất thường như vậy. Tôi thực sự lo lắng và được biết nhiều đồng chí lăo thành cách mạng kể cả trong quân đội cũng hết sức lo lắng...’’

            Một cách chung, ngoài phe đứng lưng chừng, có ít nhất hai phe đứng đối chọi nhau trong trung ương đảng: Những người bảo thủ vẫn cố ḱm chặt đất nước trong ‘’định hướng Xă Hội Chủ Nghĩa’’, thành phần chủ động tập trung trong ban tư tưởng và văn hóa trung ương,  học viện chính trị quốc gia Hồ chí Minh và trung tâm các khoa học xă hội. Trong giai đoạn từ Đỗ Mười trở lại đây, họ là những bộ tham mưu chính cho các Tổng bí thư, v́ từ ông Mười cho tới Tướng Phiêu tŕnh độ học vấn quá thấp, ông Mạnh ít hiểu biết và cũng không quan tâm tới công tác này. Tuy một số người trong nhóm chẳng thích ǵ Bắc Kinh, nhưng để bảo vệ chính bản thân và sự tồn tại của chế độ, họ không c̣n con đường khác. Thành phần cấp tiến có cái nh́n thoáng hơn, nhiều người đang nhận ra sự không tưởng của chủ nghĩa Marx-Lenin và những sai lầm nguy hiểm của những mô h́nh Xă Hội Chủ Nghĩa từ kinh tế, chính trị tới giáo dục...cho tương lai của đất nước. Nhân sự của thành phần này tập trung trong một số đảng bộ ở miền Nam, những cán bộ đă sinh trưởng ở miền Nam, hoặc tuy sinh trưởng ở miền Bắc nhưng đă hoạt động ở miền Nam trước 1975 và những cán bộ được điều động vào miền Nam sau 1975. Tức là những người đă có dịp tiếp xúc với những tư tưởng và văn minh khác, không như nhiều đồng liêu của họ ở miền Bắc suốt đời chỉ biết học thuyết Marx-Lenin. Trong thành phần này, tiêu biểu rơ ràng nhất là các cán bộ lănh đạo của Thành phố Hồ chí Minh từ sau 1975 tới nay. Một số những người này đă được điều động ra Hà Nội và đă hoặc đang giữ những chức vụ quan trọng như Nguyễn văn Linh và Vơ văn Kiệt (trước đây), Phan văn Khải.  Tuy thành phần này cho tới nay vẫn c̣n rất thiểu số ở trung ương, nhưng nhiều đ̣i hỏi cải cách của họ trong kinh tế đă đạt những kết quả tốt như từ bỏ chế độ tập thể hóa nông nghiệp, khuyến khích kinh tế tư doanh...Quan trọng hơn nữa, Thành phố Hồ chí Minh ngày càng trở thành một trung tâm kinh tế phát triển nhanh nhất và quan trọng nhất trong cả nước. Tuy dân số chỉ bằng 6,6% toàn quốc, nhưng chính Thủ Tướng Phan văn Khải cho biết: ‘’Thành phố đóng góp 19,3% tổng sản phẩm trong nước, 29,4 giá trị sản xuất công nghiệp, 25% giá trị gia tăng các ngành dịch vụ, 42% kim ngạch xuất khẩu, 31,6% tổng thu ngân sách quốc gia. Thành phố đứng đầu cả nước về mức GDP b́nh quân đầu người, gấp ba lần mức b́nh quân chung’’.

            Những thành công trong kinh tế của Thành phố Hồ chí Minh đă khiến cho sức nặng chính trị của thành phố cũng được gia tăng.Không những người dân mà cả toàn đảng bộ thành phố đôi khi đă dám tỏ ra thái độ độc lập với trung ương.Có thể nêu ra hai dẫn chứng mới: Trong chuyến thăm của Tổng Thống Clinton vào tháng 11.2000, trong khi bộ chính trị đưa ra chỉ thị không được để nhân dân tham gia đón tiếp đông. Nhưng khi Clinton vào thăm Thành phố Hồ chí Minh th́ hàng chục ngàn người đă ra đường chào đón những nơi Tổng Thống Hoa Kỳ tới thăm. Vào đầu tháng 2.2001 vừa khi Bộ trưởng quốc pḥng Trung Hoa Tŕ hạo Điền tới thăm Thành phố Hồ chí Minh th́ tờ sài g̣n giải phóng, cơ quan ngôn luận đặt trực thuộc thành ủy thành phố Hồ chí Minh, lại đưa tin về cuộc họp an ninh biên giới của Việt Nam yêu cầu ‘’nhanh chóng lập cơ quan hành chánh tại Trường Sa’’. Bộ ngoại giao Bắc Kinh vội vă lên tiếng phản đối kịch liệt. Bộ ngoại giao Hà Nội đă phải xuống nước và nói là ‘’sài g̣n giải phóng chỉ là tờ báo địa phương’’.

            Vai tṛ ngày càng quan trọng của Thành phố Hồ chí Minh và thái độ có cảm t́nh với phương Tây của dân và nhiều cán bộ của thành ủy đă là những cái gai và gây e ngại cho những người cầm đầu phe bảo thủ. Họ rất sợ chính sách ‘’nói vậy mà không phải vậy’’ của nhân dân miền Nam nói chung và dân Thành phố Hồ chí Minh và đảng bộ thành phố Hồ chí Minh nói riêng. Chẳng thế mà trong đại hội của đảng bộ thành phố vào cuối năm 2000 chuẩn bị cho việc cử đại biểu đi dự Đại hội 9 Lê khả Phiêu khi đó là Tổng bí thư đă phải công khai vừa đe dọa cảnh cáo vừa kết án: ‘’[Thành phố Hồ chí Minh đang phải đương đầu] giữa hai con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Xă Hội Chủ Nghĩa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa tư bản chủ nghĩa, giữa quyết tâm giữ vững chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa trong quá tŕnh phát triển và âm mưu, thủ đoạn kiềm chế, thúc ép, ràng buộc, lợi dụng để đưa nước ta đi vào quỹ đạo khác, không c̣n là Xă Hội Chủ Nghĩa.

            Phải đề pḥng hiện tượng ‘’nói vậy mà không phải vậy’’, nói tán thành ‘’định hướng Xă Hội Chủ Nghĩa’’, ‘’độc lập tự chủ’’, ‘’phát huy nội lực’’ nhưng việc làm th́ đi theo các lời khuyên đường mật và mua chuộc vật chất của kẻ xấu, ỷ lại vào bên ngoài’’.

            Kẻ thù hiểu rằng muốn xóa bỏ chủ nghĩa xă hội ở Việt Nam th́ phải chuyển hóa đảng cộng sản, làm cho đảng cộng sản c̣n tên mà đă biến chất...’’ Cho tới nay chưa có một Tổng bí thư nào công khai kết án nặng nề như thế đối với một đảng bộ quan trọng.

            Trong khi ấy quân đội cũng bị áp lực của nhiều phe. Những năm gần đây đă cho thấy có một số vận động vừa gián tiếp vừa trực tiếp với Mỹ trong lănh vực quốc pḥng. Các phái đoàn do Bộ trưởng quốc pḥng Phạm văn Trà hoặc Tướng lănh đă đi thăm Đại Hàn và Nhật để thương thảo về hợp tác kỹ thuật quân sự hoặc bàn tính kế hoạch hợp tác an ninh trên Biển Đông (với Nhật và Đại Hàn, ai cũng biết hai nước này là đồng minh quan trọng của Mỹ ở Á Châu). Giữa tháng 3.2000, W. Cohen, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Mỹ thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên. Bắc Kinh lên tiếng lo ngại Hà Nội hợp tác với Washington, khiến Bộ ngoại giao cộng sản tại Việt Nam phải lên tiếng cải chính. Tiếp theo đó là hiệp định thương mại Việt-Mỹ được kư kết tháng 7.2000 và giữa tháng 11.2000 Tổng Thống Clinton thăm Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một Tổng Thống Mỹ thăm Việt Nam sau 1975. Mối bang giao Việt-Mỹ được cải thiện nhanh lại càng làm cho Bắc Kinh nghi ngờ và t́m cách ngăn chặn. Việc này đă xảy ra ngay vào đầu 2001. Do áp lực của Bắc Kinh, Hà Nội đă phải hủy bỏ chuyến thăm đă được thỏa thuận từ lâu của Đô Đốc Blair, Tổng Tư Lệnh của Mỹ tại Thái B́nh Dương, để tiếp long trọng Bộ trưởng quốc pḥng Trung Hoa Tŕ hạo Điền, như đă tŕnh bày ở phần trên.  

            Ngoài ra, trước Đại hội 9 hai Tướng Phạm văn Trà và Lê văn Dũng, Bộ trưởng quốc pḥng và Tổng tham mưu trưởng (khi đó) đă bị Lê khả Phiêu khiển trách công khai tại hội nghị trung ương 11 kỳ 2. Tuy nhiên trong Đại hội 9 Tướng Trà vẫn giữ được các chức vụ trong bộ chính trị và Bộ quốc pḥng, c̣n Tướng Dũng c̣n được cân nhắc làm bí thư trung ương và chủ nhiệm tổng cục chính trị. Trong hoàn cảnh này dường như hai Tướng đứng đầu hai cơ quan cao nhất trong quân đội đă bị biến thành con tin cho phe thắng thế ở trung ương.

BIẾN CỐ 11.9 VÀ ÁP LỰC RẤT MẠNH CỦA BẮC KINH

            Cho tới sau Đại hội 9 t́nh h́nh nội bộ trong trung ương cho thấy cả hai phe bảo thủ thân Bắc Kinh và phe tiến bộ dành cảm t́nh cho Tây phương, nhất là Hoa Kỳ, vẫn thủ thế với nhau. Tân Tổng bí thư Nông đức Mạnh trong những tháng đầu vẫn chưa tỏ ư gắn bó với Bắc Kinh hơn. V́ khi Chủ Tịch Quốc Hội Trung Hoa Lư Bằng thăm Việt Nam vào ngày 8-9 tháng 9 năm 2001 trong cuộc hội kiến với Nông đức Mạnh đă thúc dục là Bắc Kinh mong tân Tổng bí thư sớn sang thăm Trung Hoa. Nhưng ông Mạnh chỉ xă giao cám ơn và không tỏ ư đáp ứng yêu cầu của họ Lư. Chỉ hai ngày sau khi biến cố 11.9 xảy ra ở New York và Washington. Biến cố này đă làm rung động nước Mỹ và toàn cầu, nhưng đă tạo ra cú ‘’xốc’’ cực mạnh đến toàn bộ trung ương cộng sản Việt Nam. Phe bảo thủ rất hoan hỷ, các báo và đài đưa những bản tin dài có cảm t́nh với phe khủng bố.

            Cũng trùng vào dịp này Hạ Viện Hoa Kỳ vào ngày 7.9.2001 đă thông qua hiệp định thương mại Việt-Mỹ và với số phiếu gần như 100% đă thông qua ‘’Dự luật về nhân quyền ở Việt Nam’’, ràng buộc những viện trợ và đầu tư của Mỹ tại Việt Nam với việc thực thi nhân quyền của chế độ Hà Nội. Việc Hạ Viện Mỹ thông qua hiệp định thương mại Việt-Mỹ đúng ra phải coi là rất quan trọng, v́ Hà Nội đă mong mỏi từ lâu và nhiều lần thúc dục Mỹ. Giới doanh nhân và những thành phần cấp tiến trong đảng hy vọng là sau khi hiệp định được Quốc Hội Mỹ thông qua và Tổng Thống Mỹ phê chuẩn th́ giao thương giữa hai nước sẽ phát triển nhanh và cũng là điều kiện để ngăn chặn thế lực của Bắc Kinh ở ngay trong trung ương đảng cộng sản Việt Nam lúc nào cũng lâm le lật ngược thế cờ. Đây không phải chỉ là sự phỏng đoán, mà đă có chứng cớ rơ ràng. Hè 1999 hiệp định này coi như đă kết thúc sau nhiều năm đàm phán của hai bên và dự định sẽ được kư kết tại Auckland, Thủ Đô Tân Tây Lan, trong Hội nghị cấp cao APEC vào tháng 9.1999 dưới sự chứng kiến của Tổng Thống Clinton và Thủ Tướng Phan văn Khải. Nhưng do áp lực của Giang trạch Dân, Lê khả Phiêu đă phải hủy bỏ việc này và phải đợi cho tới sau khi Bắc Kinh thông qua được với Washington về việc Trung Hoa gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO).

            Thực tế lại không diễn ra như vậy, việc Hạ Viện Mỹ thông qua hiệp định thương mại chỉ được nhắc qua trong báo chí Việt Nam. Ngược lại, dự luật về nhân quyền ở Việt Nam do Hạ Viện Hoa Kỳ thông qua đă lại được khai thác triệt để không phải một hai ngày mà vài tuần lễ liên tiếp. Bắc Kinh và những người ủng hộ họ ở Hà Nội thấy đây là cơ hội ngàn vàng để khích động tuyên truyền chống Mỹ với mục tiêu là cô lập phe cấp tiến. Hiểu được tâm lư của người dân và nhờ nắm tất cả các phương tiện thông tin trong tay nên chỉ ít ngày sau người ta thấy hàng loạt những cuộc mít tinh, biểu t́nh do mặt trận tổ quốc tổ chức, dưới quyền của Phạm thế Duyệt, một người được coi là rất ăn ư với Lư Bằng. Cùng lúc đó là một loạt bài của nhiều trí thức Xă Hội Chủ Nghĩa thuộc ban tư tưởng và văn hóa trung ương, học viện chính trị quốc gia Hồ chí Minh, Trung tâm các khoa học xă hội lên tiếng ‘’bảo vệ chủ quyền chống lại các cuộc can thiệp vào nội bộ của Việt Nam’’. Những cơ quan này như người ta được biết từ vài năm nay đă trở thành các nơi tập trung phe thân Bắc Kinh. Họ hô hoán bảo vệ chủ quyền để đánh lạc hướng việc họ tiếp tay cho Bắc Kinh. Nhưng ở đây họ đă không biết hoặc giả vờ không biết, việc những người lănh đạo Bắc Kinh vào chính lúc đó đă ủng hộ Tổng Thống G. W. Bush trong liên minh ngoại giao chống chế độ Taliban và các nhóm khủng bố quanh Bin Laden.

            Trong việc này, giới lănh đạo Bắc Kinh đă lập lại chiến lược ngoại giao hai mặt đă từng được áp dụng vào đầu thập niên 70 đối với Việt Nam. Một mặt thúc đẩy chế độ Hà Nội dồn mọi nỗ lực đánh chiếm miền Nam, cầm chân Mỹ, mặt khác họ đi đêm với Tổng Thống Nixon hứa sẽ để cho Mỹ rút an toàn ra khỏi Việt Nam với một số điều kiện. Kết quả ra sao sau đó ai cũng biết: Từ sau chuyến viếng thăm Bắc Kinh của Tổng Thống Nixon vào tháng 2.1972, Mỹ chỉ công nhận chế độ Trung Hoa lục địa, Bắc Kinh chiếm ghế hội viên thường trực của Đài Loan trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Đầu năm 1974 Bắc Kinh đă cho nhiều tàu chiến đánh chiếm Quần Đảo Hoàng Sa đang do một số Đơn Vị Miền Nam Việt Nam đồn trú, trong sự im lặng hoàn toàn của Hà Nội.

            Những người ủng hộ Bắc Kinh trong giới lănh đạo cộng sản Việt Nam đă khích động dư luận chống Hoa Kỳ để áp đảo tinh thần những giới trong đảng có cảm t́nh với Mỹ. Không những thế họ c̣n khai thác cú xốc cực mạnh sau biến cố 11.9 để phá đề án ḥa và hợp tác với Mỹ. Những lư luận họ đưa ra là, sau biến cố 11.9 Washington sẽ theo đuổi một chiến lược an ninh mới trên toàn cầu, trong đó sẽ cực đoan hơn đối với các đối thủ của Mỹ. Ngoài ra, tư bản Mỹ đầu tư ra nước ngoài sẽ giảm đi và giao thương của Mỹ với bên ngoài cũng đi xuống.  Không những thế, biến cố 11.9 cũng sẽ làm cho Nhật và EU có những chính sách thận trọng hơn trong đầu tư và giao thương với bên ngoài. Biến cố 11.9 đă gây hoang mang trong thành phần cấp tiến. Bức tranh bi thảm về kinh tế và tài chánh của Mỹ và các nước Tây phương do phe bảo thủ vẽ ra lại đă làm chùn đi những hy vọng của cánh cấp tiến. Điều này phản ảnh sự xác nhận của Phan văn Khải trong báo cáo của chính phủ trước Quốc Hội mới đây: ‘’T́nh trạng sút giảm kinh tế toàn cầu do sự tŕ trệ của các nền kinh tế lớn trên thế giới và sự kiện 11.9.2001 tại nước Mỹ, dẫn tới cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ cầm đầu có nguy cơ kéo dài và lan rộng, làm cho cục diện chính trị và kinh tế thế giới càng thêm phức tạp. Nước ta không bị cuốn vào ṿng xoáy của những biến động đó, xong nền kinh tế phải đối mặt với nhiều khó khăn gay gắt, phần lớn sản phẩm xuất khẩu bị sụt giá, thị trường tiêu thụ bị co hẹp, đầu tư nước ngoài giảm sút, những lănh vực khác có liên quan trực tiếp tới kinh tế đối ngoại đều chịu ảnh hưởng xấu, sự ổn định kinh tế bị uy hiếp’’.

            Từ đó những áp lực mạnh trực tiếp từ Bắc Kinh và việc thuyết phục phải tăng cường hợp tác toàn diện với Bắc Kinh không c̣n gặp những phản ứng chống đối mạnh nữa. Áp lực rất mạnh của Bắc Kinh đối với Hà Nội nay không phải là sự tưởng tượng hay tuyên truyền.  Hăy để qua một bên những liên hệ nhân sự mà Bắc Kinh đă nắm được trong trung ương đảng cộng sản Việt Nam, chỉ nêu ra ở đây vài sự kiện kinh tế cho thấy ảnh hưởng của Bắc Kinh đang chế ngự lớn lao như thế nào:

            Mới từ cuối năm 1999 có 51 doanh nghiệp lắp ráp xe máy dạng linh kiện IKD của Trung Hoa ra đời ở Việt Nam. Tới cuối năm 2000, 51 doanh nghiệp này đă lắp được 1.268.819 chiếc. Trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Nhật (Honda, Suzuki và VMEP) chỉ ráp được 294.697 chiếc xe Nhật. Đồng thời các xe Trung Hoa lắp ráp ‘’giảm giá rất ngoạn mục’’, từ 17, 5 triệu đồng (1.2000) xuống chỉ c̣n 5 triệu đồng (cuối 2001).

            Trước t́nh trạng xe Trung Hoa tràn ngập thị trường, có đại biểu Quốc Hội yêu cầu tạm ngưng nhập cảng các linh kiện xe máy Trung Hoa, nhưng Phó Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đă cho biết: ‘’Chúng ta đă từng cấm nhập khẩu trứng gà từ nước láng giềng (Trung Hoa). Khi thực thi, hàng trăm ngàn tấn cao su của Việt Nam đă bị ứ đọng ở cửa khẩu và thiệt hại do ế cao su lớn hơn cấm nhập trứng gà.’’

            Một số những diễn biến nội trị và ngoại giao của giới lănh đạo cộng sản Việt Nam trong thời gian từ tháng 9 tới tháng 12.2001 tỏ ra phù hợp với các tính toán của phe bảo thủ

            Về những hoạt động nội trị: Giữa tháng 9.2001 Nông đức Mạnh đă phải để vài ngày tới một số Tỉnh ở Tây Nguyên để vừa trấn an vừa t́m cách thanh lọc các thành phần chống đối người Thượng đă nổi dậy chống các biện pháp ngược đăi và tham nhũng của cán bộ và chính quyền vào đầu năm 2001. Vào đầu tháng 10.01, giữa khi Tổng Thống Bush chuẩn bị cuộc tấn công vào phe Taliban-Bin Laden ở A Phú Hăn th́ một ‘’hội nghị toàn quốc triển khai công tác ǵn giữ an ninh và pḥng chống tội phạm trong t́nh h́nh phức tạp hiện nay’’ do Lê minh Hương, ủy viên bộ chính trị và bộ trưởng công an chủ tŕ. Tại hội nghị này Nông đức Mạnh đă đọc một diễn văn quan trọng kết án rất gay gắt các ‘’thế lực thù địch’’ và nêu rơ năm điểm:

            1.- ‘’Âm mưu và hoạt động diễn biến ḥa b́nh’’ của các thế lực trong t́nh h́nh mới.

            2.- Với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế thế giới, bên cạnh những mặt tốt, sẽ tạo cơ hội cho ‘’các thế lực thù địch lợi dụng, khoét sâu’’. Nên công an phải ‘’phân biệt rơ đối tượng đấu tranh, đối tượng cần bảo vệ, phân biệt rơ cái đúng để ủng hộ...’’

            3.- Tăng cường công tác bảo vệ nội bộ.

            4.- Dựa vào dân.

            5.- Tăng cường và thanh lọc lực lượng công an.

Từ đó có những biện pháp đàn áp được tăng cường, nhiều người dân chủ đối kháng đă bị bắt, bị quản thúc, nhất là những người đă lên tiếng cảnh cáo thế lực gia tăng của Bắc Kinh như Luật Sư Lê chí Quang, Thi Sĩ Bùi minh Quốc, Giáo Sư Trần Khuê...Cuối tháng 10 Linh Mục Nguyễn văn Lư bị kết tội 15 năm tù. Vào cuối năm hội nghị công an toàn quốc đă được tổ chức ở Thành phố Hồ chí Minh. Không lâu sau đó là vụ bắt nhóm Năm Cam và trong những ngày gần đây nhiều sĩ quan công an.

Vào cuối tháng 10, chỉ vài ngày trước hội nghị trung ương 4, ‘’hội nghị tổng kết bốn năm thực hiện chỉ thị 22 của bộ chính trị về công tác báo chí, xuất bản’’ đă được triệu tập ở Hà Nội với sự tham dự của các cơ quan chức thân thiết với Bắc Kinh là ban tư tưởng và văn hóa trung ương, học viện chính trị quốc gia Hồ chí Minh và trung tâm các khoa học xă hội.  Sau đó bộ văn hóa ra lệnh tịch thu và cấm phổ biến những tài liệu và sách của một số người dân chủ đối kháng.

Các sự kiện ngoại giao: Như trên đă tŕnh bày, khi biến cố 11.9 xảy ra cánh bảo thủ ở Hà Nội tỏ vẻ hả hê. Khi chính phủ Bush chuẩn bị cuộc chiến đánh vào A Phú Hăn th́ báo chí của cộng sản Việt Nam, nhất là tờ quân đội nhân dân, đă lên tiếng cảnh cáo và kết án. Khi thăm Tây Ban Nha (7.10), vừa đúng lúc Không Quân Mỹ mở những cuộc không kích đầu tiên vào chế độ Taliban, Thủ Tướng Phan văn Khải đă kết án việc này và đ̣i Tổng Thống Bush ‘’chấm dứt và không lập lại chiến tranh’’ Mặc dầu vài ngày trước đó (4.10) Thượng Viện Mỹ đă thông qua hiệp định thương mại với Việt Nam và hai tuần sau Tổng Thống Bush đă phê chuẩn. Trong khi Hà Nội kết án Washington th́ Giang trạch Dân đă lên tiếng ủng hộ các biện pháp chống khủng bố của Tổng Thống Bush.

Chính hành động ngoại giao khôn khéo này của họ Giang nên Tổng Thống Bush đă sẵn sàng sang dự Hội nghị thượng đỉnh APEC vào cuối tháng 10.2001 ở Thượng Hải. Măi cho tới lúc này Hà Nội mới để cho Phan văn Khải công khai tuyên bố ủng hộ các biện pháp chống và ngăn chặn khủng bố của Mỹ. Nhưng đă muộn, ông Bush đă không tiếp ông Khải, nhưng lại tỏ ra tương đắc với ông Giang trạch Dân. Chính thái độ ngoại giao thiếu khôn ngoan của Hà Nội đă làm cho chuyến đi Hoa Kỳ của Phó Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng vào đầu tháng 12.01 để cám ơn việc thông qua hiệp định thương mại đă bị thất bại. Người đứng đầu Ṭa Bạch Ốc đă không tiếp, cả đến Ngoại Trưởng Powell cũng không có th́ giờ cho phái đoàn. Mặc dù trong chuyến này Hà Nội đă bỏ ra gần 700 triệu mỹ kim để mua bốn chiếc máy bay Boeing của Mỹ. Phải thấy rằng, đối với hoàn cảnh xơ xác của chế độ Hà Nội hiện nay th́ 700 triệu mỹ kim là con số rất lớn. Của hồi môn của cô dâu nhà nghèo đă bị cự tuyệt.

Trong khi Hà Nội có thái độ cứng rắn với Washington th́ họ lại rất quyện với Bắc Kinh. Khi Trung Hoa chính thức là Hội viên của WTO vào đầu tháng 11.2001 các nhà lănh đạo Bắc Kinh  đă ăn mừng và coi như giai đoạn khởi đầu Trung Hoa trở thành một cường quốc. Vào cuối tháng 11.01 Phó chủ nhiệm ủy ban kinh tế và thương mại Trung Hoa Trương chí Cương thăm Việt Nam để dự lễ khánh thành dây truyền sản xuất thép 250.000 tấn/năm của công ty gang thép Thái Nguyên do Trung Hoa tái tài trợ. Trương chí Cương c̣n cho biết trong năm 2002 công tŕnh công ty phân đạm Hà Bắc do Trung Hoa tài trợ cũng sẽ được đưa vào sản xuất. Trong dịp này hai bên c̣n thỏa thuận là kim ngạch buôn bán giữa hai nước từ gần ba tỷ (2001) sẽ tăng lên năm tỷ (2002). Khi tiếp Trương chí Cường, Nông đức Mạnh lần đầu tiên đă nói là sắp sang thăm Trung Hoa. Như vậy rơ ràng là bằng viện trợ những công tŕnh quan trọng và gia tăng giao thương những người cầm đầu Bắc Kinh đă đánh trúng vào mong ước của giới lănh đạo Hà Nội và qua đó đặt những điều kiện có lợi lâu dài cho Trung Hoa.

Chỉ vài ngày sau Nông đức Mạnh đă có mặt ở Bắc Kinh (từ 30.11-4.12). Trong phái đoàn có một số nhân vật đáng để ư là Trần đ́nh Hoan, ủy viên bộ chính trị trưởng ban tổ chức trung ương kiêm giám đốc học viện chính trị quốc gia Hồ chí Minh, Vũ Khoan, bí thư trung ương kiêm Bộ trưởng thương mại và Hồ tiến Nghị, Trợ lư tổng bí thư (tham mưu thường trực cho ông Mạnh). Trong việc khoảng đăi ở Bắc Kinh Giang trạch Dân và Nông đức Mạnh song ca các bài tiếng Nga, sau đó ông Mạnh và những người cùng đi trong phái đoàn Hà Nội đă ca bài ‘’Việt Nam-Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông’’. Trong tuyên bố chung 10 điểm ở điểm 7 đă ghi rơ: ‘’Nhanh chóng hoàn thành các công việc đàm phán tiếp theo có liên quan tới hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ cùng với hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ sớm có hiệu lực, tích cực thúc đẩy và tăng nhanh tiến tŕnh công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền.’’

Thế rồi chỉ sau đó hơn ba tuần viên đá cắm mốc biên giới đầu tiên giữa hai nước đă được tổ chức tại Móng Cái vào ngày 27.12.2001. Mặc dầu cho tới thời điểm đó công luận không biết nội dung các hiệp định này ra làm sao.

TÍNH TOÁN CỦA BẮC KINH

Bang giao giữa hai đảng sộng sản Việt Nam-Trung Hoa trong nửa thế kỷ qua không phải như tuyên truyền ‘’vừa là đồng chí vừa là anh em’’, đúng ra phải nói là vừa là đồng chí vừa là đối thủ. Nếu phù hợp với mục tiêu của đảng th́ những người cầm đầu cộng sản Việt Nam sẵn sàng ngă theo Bắc Kinh, đó là giai đoạn từ cuối thập niên 40 tới giữa thập niên 60.  Trong những giai đoạn như vậy họ không ngần ngại ca tụng những người lănh đạo đương thời của Bắc Kinh như những thánh sống: ‘’Chính đảng cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là đồng chí Mao trạch Đông, là người đă thực hiện một cách xuất sắc nhất lời giáo huấn của Lenin vĩ đại...Lư luận này không chỉ đúng trong phạm vi Trung Quốc mà nó đă trở thành một lư luận có tính chất quốc tế, v́ những người cộng sản Việt Nam chúng ta, do đă học tập và vận dụng lư luận đó một cách sáng tạo, nên đă đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đến thắng lợi. Nếu trước đây Lenin đă nói rằng, sách lược cách mạng Nga là một mẫu mực cho tất cả mọi người cộng sản thế giới, th́ ngày nay chúng ta cũng có thể nói rằng, sách lược của cách mạng Trung Quốc là một mẫu mực về sách lược cho nhiều nước cộng sản ở Á Châu, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh’’

Trong khi ấy những người cầm đầu Bắc Kinh cũng chỉ giúp đỡ chế độ Hà Nội trong một giới hạn và theo mục tiêu có lợi cho ḿnh. Như đă tŕnh bày ở phần trên, trong khi cộng sản Việt Nam đang tận lực vào cuộc chiến ở miền Nam, Bắc Kinh biết được ư định của Tổng Thống Nixon muốn rút lui an toàn ra khỏi Việt Nam, nên Mao trạch Đông và Chu ân Lai đă thương lượng với Mỹ trên xương máu các ‘’đồng chí’’ Hà Nội, Lê Duẫn và Lê đức Thọ đă rất cay cú. Từ đó cộng sản Việt Nam ngă sang Liên Sô (cũ) và sau khi chiến thắng ở miền Nam th́ kư hiệp định thân hữu và hợp tác với Liên Sô, nhận làm đồng minh chiến lược ở phía Nam của Liên Sô trong việc bao vây Trung Hoa. Sau khi Lê Duẫn cho quân xâm chiếm Kampuchia vào cuối năm 1978 th́ Đặng tiểu B́nh cho hàng trăm ngàn quân đánh thọc sâu vào nhiều Tỉnh biên giới của Việt Nam vào đầu năn 1979 gọi là cho các ‘’đồng chí’’ một bài học. Trong lời mở đầu hiến pháp 1980, thay v́ ca tụng Mao, bây giờ Lê Duẫn đă để cho viết chống ‘’chủ nghĩa đại bá phương Bắc’’. Nhưng khi Liên Sô tan ră, Hà Nội lại phải xin cầu ḥa với Bắc Kinh. Một trong những điều kiện đầu tiên người anh cả vĩ đại đưa ra là phải hủy bỏ những đoạn chống Trung Hoa trong hiến pháp 1980. Chính v́ thế trong hiến pháp 1992 Đỗ Mười đă phải làm theo đ̣i hỏi của Bắc Kinh.

Những người cầm đầu Bắc Kinh rất nhạy cảm và theo dơi sát những biến động trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam cũng như những tính toán đối ngoại của Hà Nội và họ đă chuẩn bị những đối sách. Sau khi hiệp định thương mại Việt-Mỹ được kư kết tháng 7.2000 Bắc Kinh tiên liệu được rằng, Quốc Hội Mỹ sẽ phê chuẩn hiệp định thương mại với Việt Nam trong năm 2001 và khi đó triển vọng hợp tác Việt-Mỹ không chỉ trong kinh tế thương mại, mà có thể trong nhiều lănh vực khác sẽ mở rộng và nhanh.

Quan trọng hơn nữa, qua những tin tức được cung cấp từ một số ủy biên bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam thân Bắc Kinh, Giang trạch Dân, hiểu được rơ nội t́nh trung ương của chế độ Hà Nội về những cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng ngă theo Mỹ và Tây phương và bên kia quay đầu về hướng Bắc.

Nếu Mỹ thông qua hiệp định thương mại và hiệp định này được triển khai th́ các thành phần thiện cảm với Tây phương, đặc biệt trong các giới chuyên viên, đảng viên trung cấp, nhiều đảng bộ ở miền Nam sẽ ảnh hưởng tới một số người ở trung ương và trong bộ chính trị. Khi đó phe thân Bắc Kinh sẽ khó có thể xoay sở để duy tŕ đường lối thân Bắc Kinh như hiện nay. Trong điều kiện đó, việc đàm phán về ấn định các mốc biên giới sẽ gặp nhiều khó khăn, chưa nói chi đến việc khi nào sẽ tiến hành việc cắm mốc. Sau khi Lê khả Phiêu, một người thân tín của Bắc Kinh, đă bị mất chức Tổng bí thư trong Đại hội 9, những người lănh đạo Bắc Kinh rất bồn chồn. Chính v́ thế, chỉ mới vài tháng sau khi Nông đức Mạnh nắm chức Tổng bí thư, Lư Bằng trong chuyến thăm đầu tháng 9 đă thúc dục ông Mạnh nên sang gặp các người lănh đạo Bắc Kinh sớm, như đă nói ở trên. Khi Hạ Viện Mỹ thông qua Dự luật về nhân quyền ở Việt Nam và biến cố 11.9 xảy ra Bắc Kinh đă nhận thấy ngay đây là cơ hội ngàn vàng nên đă khai thác và khuấy động triệt để. Một mặt để cho những người thân tín của ḿnh ở Hà Nội đàn áp tinh thần các thành phần thân Mỹ và Tây phương, mặt khác hứa hẹn viện trợ những công tŕnh công nghiệp lớn và gia tăng giao thương với Việt Nam (như đă tŕnh bày ở trên).

Như mọi người đều thấy, những vận động và áp lực rất mạnh của Bắc Kinh đă chuyển động được những người cầm đầu cộng sản Việt Nam. Kết quả ai cũng thấy là Nông đức Mạnh đă phải cho tiến hành ngay việc đặt mốc vào cuối năm 2001 chỉ vài tuần sau chuyến thăm của ông tại Bắc Kinh. Chuyến thăm đáp lễ mới đây của Giang trạch Dân tại Việt Nam vào cuối tháng 2.2002 chỉ cốt giữ thể diện cho ông Mạnh và củng cố thêm thế lực của phe thân Bắc Kinh trong trung ương cộng sản Việt Nam, đồng thời vỗ về Hà Nội sau cuộc đi thăm của Tổng Thống G. W. Bush nhân dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập bang giao giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa. Mới đây có tin là Phan văn Khải sẽ c̣n được giữ lại thêm một nhiệm kỳ làm Thủ Tướng. Nếu tin này đúng có nghĩa là phe thân Bắc Kinh trong giới lănh đạo cộng sản Việt Nam đang thắng thế nên họ có thể để ông Khải tiếp tục giữ chức vụ Thủ Tướng mà không có cản trở ǵ lớn. Theo sự tính toán của họ, Phan văn Khải vẫn có cảm t́nh ở đảng bộ thành phố Hồ chí Minh và nhiều đảng bộ khác ở miền Nam, cho nên để cho ông Khải tiếp tục làm Thủ Tướng một giai đoạn nữa sẽ không làm mất mặt quá lớn cho những đảng bộ này và lại c̣n vẫn giữ được bộ mặt ‘’tiến bộ’’ để thương lượng với Tây phương. Mặt khác họ cũng đă nhận thấy ông Khải chỉ là chuyên gia về kinh tế chứ không phải một  nhà chiến lược chính trị,  lại càng không phải là một người lănh đạo có tư tưởng độc lập và không chủ động trong các quyết định.

CÁI KHUNG NHỎ Đ̉I PHỦ LÊN CÁI KHUNG LỚN

Nếu theo dơi các hoạt động đối ngoại suốt trên 70 năm đảng cộng sản Việt Nam ra đời và trên nửa thế kỷ đảng này nắm chính quyền chưa bao giờ những người cầm đầu đảng cộng sản Việt Nam theo đuổi và thực hiện một đường lối đối ngoại khôn ngoan, trong đó lợi ích lâu dài cho đất nước và sinh mệnh của nhân dân là ưu tiên. Ngược lại, chỉ thấy những chính sách và thủ đoạn ngoại giao (thoạt nh́n qua th́ thấy rất ngoạn mục, tưởng như khôn ngoan) nhưng đích thực lại chỉ mang lợi ích rất cục bộ cho riêng đảng, nhất thời, cốt sao cứu đảng trước những nguy cơ, c̣n lợi ích đại cuộc không được lưu ư tới.

Thay v́ đặt sự sinh tồn của đảng trong khuôn khổ sự sinh tồn của đất nước, những người cầm đầu cộng sản Việt Nam, qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau từ 1945 tới nay, lại làm ngược lại, đặt sự sinh tồn và quyền lợi của đất nước trong khuôn khổ sự tồn vong của đảng cộng sản Việt Nam. Đúng ra, đất nước, tổ quốc là một cái khung lớn bao trùm, trong đó các đoàn thể và các chính đảng chỉ là một cái khung nhỏ trong cái khung lớn quốc gia. Những người đứng đầu cộng sản Việt Nam đă làm ngược đời, trái với tự nhiên, là bắt cái khung quốc gia vô cùng to lớn đó phải khép vào cái khung chật hẹp của một đảng. Một việc làm trái tự nhiên, ngược đời, trái quy luật xă hội đă lại được ca tụng, được thi thố suốt cả nửa thế kỷ ở Việt Nam. Kết quả ra làm sao cho đất nước và nhân dân nay ai cũng thấy rơ. V́ đặt quyền lợi của đất nước dưới quyền lợi của đảng, nên họ đă phải t́m cách thi thố những tiểu xảo ngoại giao với hết cường quốc này tới cường quốc kia. C̣n đối với nhân dân ở trong nước th́ họ lại trưng lên những khẩu hiệu ái quốc mị dân, khích động tinh thần dân tộc cực đoan, đưa nhân dân hết vào cuộc chiến tranh tàn bạo này tới cuộc chiến tranh tàn khốc khác, khiến cho đất nước vừa thoát khỏi cùm kẹp thực dân này lại rơi vào ách của bá quyền khác.  

Hiệp định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Hoa được kư kết tại Hà Nội ngày 30.12.1999 và hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Hoa kư tại Bắc Kinh ngày 25.12.2000 dưới thời Lê khả Phiêu và việc Nông đức Mạnh trước áp lực quá mạnh của Bắc Kinh đă phải vội vă cho đặt các mốc ở biên giới Việt-Trung từ cuối năm 2001 đă lại phản ảnh rất rơ chủ trương coi sự sinh tồn của đảng cao hơn quyền lợi của đất nước và cho thấy sự hoàn toàn bị động trong các hoạt động đối ngoại của nhóm lănh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay đối với chế độ Bắc Kinh. Điều đó có nghĩa là, trong các cuộc đàm phán với Bắc Kinh. Hà Nội đă phải nhân nhượng nhiều, không bảo đảm được sự toàn vẹn lănh thổ và lănh hải. Chính điều này giải thích lư do tại sao những người cầm đầu cộng sản Việt Nam vẫn im hơi lặng tiếng không dám công bố các hiệp định này trước nhân dân Việt Nam và công luận quốc tế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LƯ BIÊN GIỚI VIỆT-TRUNG

Luật Sư Nguyễn Xuân Phước

Dân sinh yếu nhược lôi theo mối nhục vong quốc

Dân anh dũng càng đưa ta tới đài vinh quốc

            Hai hiệp ước biên giới liên quan đến lănh thổ và lănh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc đă được hai đảng cộng sản âm thầm kư kết ngày 30.12.1999 và 25.12.2000. Hai hiệp ước này đă được quốc hội cộng sản Việt Nam thông qua cũng một cách âm thầm. Các tin tức về việc kư kết hiệp định biên giới, cho đến khi kư kết xong và được Quốc Hội thông qua cũng được giữ bí mật. Nội dung các hiệp ước này không được công bố cho nhân dân trong nước biết. Nhân dân không biết được bản đồ mới của Việt Nam ngày nay ra sao. Thông tin chỉ được nhà nước tiết lộ sau khi làm lễ cắm mốc biên giới. Báo chí trong nước như tờ nhân dân (27.12.2001) hoặc:vnexpress. com(http: //vnexpress. net/Vietnam/ Xa-hoi/2001/ 12/3B9B 7CE1/) chỉ làm một bản tin rất ngắn có nội dung giống nhau.

            Mặc dù bị bưng bít những tin tức về hiệp ước biên giới cũng lọt ra ngoài. Hơn một năm qua, các nhà đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước và các nhà nghiên cứu ở hải ngoại và giới truyền thông không ngừng lên tiếng cảnh báo về sự việc đảng cộng sản sẽ dùng hiệp ước biên giới mở đường máu t́m sinh lộ cho bế tắc chính trị hiện nay. Mọi người đều e rằng đảng sẽ không ngần ngại bán đứng đất đai của đất nước để đổi lấy chế độ bảo hộ chính trị do Trung Quốc đỡ đầu.

            Qua tin tức buổi lễ hiến đất được cơ quan tuyên truyền của đảng cộng sản dè dặt loan tải, những quan ngại của những người đấu tranh cho dân chủ đă trở thành sự thật. Bài viết này có mục đích duyệt xét lại một số vấn đề pháp lư chung quanh việc kư kết các bản hiệp ước này và các hậu quả pháp lư của nó. Có lẽ bài viết không trả lời hết mọi câu hỏi. Tuy nhiên,  người viết mong sẽ giải đáp một vài ưu tư có tính cách khẩn cấp như ‘’hiệp ước nầy có giá trị quốc tế hay không? Liệu chúng ta có thể phủ nhận hiệp ước nầy được hay không? v.v...

NỘI DUNG HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI VIỆT TRUNG

            Về hiệp ước lănh hải, chúng ta được biết hiệp ước này được kư kết vào ngày 25.12. 2000. Qua một số bài vở hiếm hoi chúng ta biết được sơ sơ về nội dung của hiệp ước này,  được gọi là hiệp định ‘’phân định Vịnh Bắc Bộ’’. Theo ông Lê công Phụng, Thứ Trưởng ngoại giao, người đặc trách lo việc đàm phán hiệp định cho biết là, chiếu theo hiệp định Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam được 53, 23% và Trung Quốc được 46, 77% diện tích Vịnh. (tạp chí cộng sản số 2 tháng 1.2001.)

            Theo tài liệu của Kỹ Sư Nguyễn Đ́nh Sài  th́ hiệp ước phân định Vịnh Bắc Bộ chấm dứt hiệp ước giữa Pháp và Thanh triều. Diện tích khác biệt giữa hai hiệp ước là hơn 5.000 km2 lănh hải nay thuộc về Trung Quốc.

            Theo ông Ngô Nhân Dụng, Báo Người Việt (http://www. nguoi-viet. com /uni/ 0123/ BINHLUAN.HTM- BINH0201221) th́: ‘’trên pháp lư, văn kiện lịch sử kư năm 1895 giữa Nhà Thanh bên Trung Quốc và chính quyền Pháp ở Việt Nam công nhận trong Vịnh Bắc Việt phần thuộc Việt Nam chiếm 64%, Trung Quốc được 36%. Nay, cộng sản Hà Nội công nhận nước Việt Nam chỉ được 53%, c̣n  Trung Quốc hưởng 47%.’’

            C̣n hiệp ước về lănh thổ, th́ đảng cộng sản hoàn toàn không tiết lộ chi tiết. Tuy nhiên, theo ông Trần dũng Tiến, nhà đấu tranh dân chủ và là cựu chiến binh, quân đội Bắc Việt, th́ hiệp định biên giới  đă kư kết ngày 30.12.1999, ngày cuối cùng của Thiên Niên Kỷ. Hiệp ước này cắt cho Trung Quốc rất nhiều địa danh lừng lẫy trong lịch sử: Thác Bản Giốc,  Suối Phi Khanh, Ải Nam Quan, Ải Chi Lăng. Tất cả nay đă thuộc Trung Quốc.

            Theo Bác Sĩ Trần Đại Sỹ th́ ‘’Việt Nam nhường cho Trung Quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nước), thuộc hai Tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là: Nhượng vùng Cao Bằng, sát tới hang Pak bó, nơi Chủ Tịch Hồ chí Minh ẩn thân lănh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thành thánh địa của đảng cộng sản Việt Nam. Trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km) nay nằm sát biên giới. Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc Tỉnh Lạng Sơn nơi có cửa Ải Nam Quan’’

            Theo bạn Dieuvan đăng tải trên ‘’Soc.Culture. Vietnamese’’ th́ chúng ta phải t́m hiểu nội dung hiệp ước qua các Websites của Trung Quốc. Bạn Dieuvan viết: ‘’Theo tài liệu của cộng sản Việt Nam trước năm 1979 biên giới Việt Nam-Trung Cộng dài 1.300 km nhưng theo tài liệu của CIA world Book ghi nhận sau năm 1979 c̣n lại là 1.281. Bây giờ sau khi kư kết bản thương ước mà được gọi là hiến đất của cộng sản Việt Nam biên giới chính thức mà Trung Cộng đưa ra con số là 1.200 chẵn như vậy đường biên giới thu nhỏ lại từ 1.300 km xuống 1.281 km bây giờ c̣n 1.200 km’’. Theo tính toán của bạn Dieuvan th́ ‘’đại khái chúng ta mất 81km X 26km = 2106 sq km.’’ Bạn Dieuvan kết luận như sau: ‘’Tổng cộng toàn cơi Việt Nam = 329.560 sq km trừ đi 2.106 bây giờ c̣n 327.454 sq km.’’

            Do tính chất bí mật của hiệp định biên giới, toàn thể nhân dân trong và ngoài nước phải dọ dẫm giải mă những tín hiệu mất nước mà họ t́m được trên Internet. Nói cho ngay, nếu những hiệp ước này đem về mối lợi lớn cho Việt Nam th́ hệ thống thông tin tuyên truyền của cộng sản chắc đă không bỏ qua cơ hội ngàn vàng để ca tụng thắng lợi của đảng. Ngược lại,  qua thái độ lén lút và hành vi dấu diếm của đảng cộng sản trong việc kư hiệp định, chúng ta có thể quả quyết được rằng đây không phải là một ‘’thắng lợi to lớn’’để cho đảng hănh diện.

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LƯ ĐỂ Ư LIÊN QUAN ĐẾN HIỆP ĐỊNH BIÊN GIỚI

1.Giá Trị Pháp Lư đối Với Nhân Dân và Hiến Pháp

Hiệp định quốc tế là hợp đồng giữa hai quốc gia. Điều tiên khởi để cho một hiệp ước có giá trị là chính phủ và người đại diện chính phủ đi kư kết đều phải có đủ tư cách pháp nhân, tính cách hợp pháp và chính thống để đại diện cho quốc gia hay nhân dân. Những yếu tố pháp lư nầy giúp cho hiệp ước có giá trị chắc chắn (certainty), vĩnh cửu và tính chất khả thi.

            Vấn đề giá trị đại diện của đảng cộng sản đă được bàn rất nhiều và đặc biệt trong những năm gần đây đă được phong trào dân chủ trong nước ‘’bàn’’đến cách triệt để. Ở đây người viết xin bàn lướt qua vấn đề này.

A. Tính chất hợp pháp của hiến pháp

            Trong bài viết: ‘’Tính Chất Bất Hợp Pháp Của Hiến Pháp Việt Nam Hiện Nay’’,  người viết chứng minh rằng các hiến pháp cộng sản Việt Nam từ 1959 trở đi không có giá trị v́ thủ tục thực hiện các hiến pháp này không tuân theo quy định của điều 70 của hiến pháp 1946. Điều 70 của hiến pháp 1946 đ̣i hỏi mọi thay đổi hiến pháp phải được toàn dân phúc quyết, tức là phải trưng cầu dân ư. V́ tất cả các hiến pháp từ 1959 đến nay không được trưng cầu dân ư nên các hiến pháp không có hợp hiến, không có giá trị. Do đó, một chính quyền dựa trên một hiến pháp không có giá trị th́ chính quyền đó không có tư cách pháp nhân, không có tính cách hợp pháp và không có năng lực pháp lư để đại diện cho nhân dân.

B. Tính chất  bất hợp pháp của chế Độ

            Trong một chế độ được gọi là dân chủ hay Cộng Ḥa (republic), nhà cầm quyền phải được công dân bầu lên bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu tự do trong sạch. Chế độ gọi là ‘’Cộng Ḥa’’ khác với chế độ ‘’quân chủ’’ ở vai tṛ của người dân trong việc quyết định người cầm quyền. Trong chế độ quân chủ, người cai trị nắm quyền không do lá phiếu của người dân. Nhà Vua lên ngôi bằng sức mạnh, bằng sự thần phục của mọi người và bằng huyết thống. Do đó, đă là chế độ Cộng Ḥa, dù Cộng Ḥa xă hội hay Cộng Ḥa không xă hội, quyền lực của nhà nước phải được người dân ủy nhiệm bằng lá phiếu của họ qua một cuộc phổ thông đầu phiếu tự do dân chủ.

            Quan niệm về chính thể Cộng Ḥa (như trong cụm từ Cộng Ḥa xă hôi chủ nghĩa Việt Nam) như nói trên, th́ một chính phủ đại diện cho dân phải được nhân dân lựa chọn bằng những cuộc tổng tuyển cử tự do dân chủ có định kỳ. Trong suốt 55 năm lănh đạo đất nước,  đảng cộng sản chỉ tổ chức một cuộc phổ thông đầu phiếu duy nhất là cuộc tổng tuyển cử năm 1946. Sau đó, họ quên làm tổng tuyển cử tự do. Ngay cả khi xua quân vào miền Nam năm 1960 họ đă nhân danh mục đích thực hiện cuộc tổng tuyển cử cho hai miền Nam-Bắc. Sau khi chiến thắng, họ cũng không thực hiện cuộc tổng tuyển cử có quốc tế quan sát theo quy định của hiệp định đ́nh chiến kư tại Geneve năm 1954. Đối với chế độ cộng sản bầu cử chỉ là h́nh thức, khả năng cướp chính quyền bằng bạo lực mới quan trọng.

            Khả năng ‘’cướp chính quyền’’ là lư do duy nhất để cho chế độ này biện minh sự độc quyền lănh đạo đất nước. Năm 1945 họ đă ‘’cướp’’ chính quyền từ các đảng phái quốc gia và từ Triều Đ́nh Huế. Năm 1959 đảng cộng sản đă chính thức ‘’cướp’’ quyền từ nhân dân bằng cách loại bỏ vai tṛ của công dân trong việc thay đổi hiến pháp. Với các hiến pháp tự ban hành, từ hiến pháp 1980 trở đi, họ đă chính thức thêm điều 4 hiến pháp quy định vai tṛ lănh đạo độc quyền của đảng cộng sản. Đó là quyền lănh đạo đất nước muôn đời. Trên bản chất đây là chế độ quân chủ. Do đó, điều 4 hiến pháp đă phủ định chế độ Cộng Ḥa và chữ Cộng Ḥa xă hội đă hoàn toàn không có ư nghĩa pháp lư trong hiến pháp.

            Trong thời đại dân chủ, quan điểm chính trị dựa vào khả năng ‘’cướp chính quyền’’ bằng bạo lực tự nó đă mất đi tính dân chủ, chính thống và hợp pháp. Do đó, một chính quyền không do dân bầu ra bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ, không có tư cách pháp nhân để đại diện nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. Do tính chất bất hợp pháp của nhà cầm quyền, tất cả hiệp ước do họ kư kết đều không có giá trị và giá trị thực thi của các hiệp ước này cũng chấm dứt khi chế độ mới duyệt xét và quyết định dựa vào khả năng của chế độ mới đối phó với những hậu quả kinh tế quân sự hay ngoại giao do quyết định phủ nhận các hiệp ước đó gây ra.

C. Thẩm quyền kư hiệp ước quốc tế

            Vấn đề thứ hai là người đại diện đặt bút kư tên trong hiệp ước có phải là người có thẩm quyền để kư kết theo quy định của hiến pháp. Ở đây chúng ta giả thiết là hiến pháp hiện nay hợp pháp và chúng ta phải xét người đại diện kư kết có đủ thẩm quyền do hiến pháp đó quy định hay không.

            Theo chương VII điều 103 khoản 10 của hiến pháp 1992, Chủ Tịch nhà nước có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: ‘’Cử, triệu hồi Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam,  tiếp nhận Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài, tiến hành đàm phán, kư kết điều ước quốc tế nhân danh nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nhà nước khác, quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần tŕnh Quốc Hội quyết định.’’

            Trong khi đó, chương VIII điều 112 khoản 8 quy định quyền hạn và nhiệm vụ của chính phủ như sau: ‘’Thống nhất quản lư công tác đối ngoại của nhà nước, kư kết tham gia,  phê duyệt điều ước nhân danh chính phủ, chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kư kết hoặc tham gia, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài.’’

            Chiếu theo những điều khoản trên của hiến pháp 1992 chỉ có Chủ Tịch nhà nước là người có thẩm quyền kư kết các hiệp ước liên quan đến các vấn đề thuộc tầm mức quốc gia,  tức là nhà nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, như vấn đề biên giới hiện nay và chính phủ (Thủ Tướng và các Bộ Trưởng) có thẩm quyền kư kết các vấn đề liên quan đến quan hệ ngoại giao với chính phủ các nước. Vấn đề ‘’nhân danh chính phủ’’ là những vấn đề có tính cách thủ tục và nghi lễ giữa hai nước.

            Do đó, những hiệp ước liên quan đến quốc gia, như hiệp định về lănh thổ và lănh hải,  do Bộ Trưởng Ngoại Giao kư kết đều không có giá trị pháp lư v́ chúng không hợp hiến, cho dù những hiệp định đó được Quốc Hội thông qua.

            Ở đây chúng ta có thể xem lại ai là người đại diện cho Việt Nam kư kết các hiệp ước biên giới nói trên. Theo kiến nghị thư của 20 cử tri yêu cầu Quốc Hội không thông qua hiệp định biên giới Việt-Trung th́ hiệp định biên giới đường bộ được kư kết tại Hà Nội khi Đường gia Truyền, Bộ Trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc bay qua Việt Nam năm 1999. Tài liệu và hệ thống tuyên truyền của đảng cộng sản Việt Nam hoàn toàn không tiết lộ ai đă đại diện bên Việt Nam để kư kết. Tuy nhiên theo thông lệ ngoại giao th́ phía Việt Nam phải là Bộ Trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm và điều này được xác nhận bởi bản tin của Bộ ngoại giao Trung Quốc. (http://www. fmprc.gov. cn/eng/4470. html)

            Về phần hiệp ước phân định Vịnh Bắc Bộ, theo Thứ Trưởng Lê công Phụng cho biết hiệp ước này được kư vào ngày 25.12.2000 với sự chứng kiến của Chủ Tịch nhà nước Trần đức Lương và Giang trạch Dân. Bài viết này không nói rơ ai là người hạ bút kư đại diện cho Việt Nam. Nếu nói là ông Trần đức Lương với tư cách là nhà nước chỉ để chứng kiến, th́ người hạ bút chắc không phải là ông Lương. Hơn nữa nếu ông Lương kư th́ tại sao ông Lê công Phụng không nói rơ là ông Trần đức Lương kư, mà phải nói là ông Lương ‘’chứng kiến’’?

            Nếu sự kiện xảy ra như lư giải th́ ông Chủ Tịch nhà nước Trần đức Lương đă không kư vào bất cứ một hiệp ước nào và như thế, chiếu theo chương VII điều 103 khoản 10 của hiến pháp 1992, th́ các hiệp ước này không có giá trị đối với hiến pháp Việt Nam. Giá trị pháp lư của một hiệp ước bất hợp pháp đối với quốc tế.

            Thông thường, để tránh trường hợp căi vă về giá trị thực thi của hiệp ước, khi một nước kư kết một hiệp định với một nước khác, nước đó phải có bổn phận nghiên cứu tư cách pháp nhân của người đại diện quốc gia, cũng như thực thi của những điều khoản mà hai bên đồng ư. Trong trường hợp này, Trung Quốc có trách nhiệm làm công tác sưu tra đó. Nói một cách khác, nếu những hiệp ước lănh thổ Việt-Trung đều do ông Bộ Trưởng ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm kư kết, th́ Trung Quốc đă kư kết những hiệp ước hoàn toàn không có giá trị và với bộ phận nghiên cứu pháp luật của Trung Quốc họ phải biết là họ đă kư kết những hiệp ước hoàn toàn không có giá trị theo luật pháp Việt Nam.

            Trên thực tế, dù chúng ta chứng minh rằng những hiệp ước nầy không có giá trị, giá trị cưỡng hành hiệp ước luôn luôn tùy thuộc vào thái độ quyết liệt của nước mạnh kư tên trong hiệp định. Lịch sử cho thấy những hiệp ước bất b́nh đẳng giữa Việt Nam với thực dân Pháp kư kết từ cuối Thế Kỷ Thứ 19 có hiệu lực cho đến khi Pháp không c̣n đủ khả năng quân sự,  kinh tế và ngoại giao để thực hiện các hiệp ước đó tại Đông Dương.

            Điều này cũng đang xảy ra cho việc giải quyết biên giới giữa Palestine, các nước Ả Rập và Do Thái và hầu hết các quốc gia có tranh chấp về biên giới.

Do nguyên tắc ‘’mạnh được yếu thua’’vẫn là nguyên tắc lỏi cốt trong bang giao quốc tế, một hiệp ước quốc tế, hợp pháp hay không hợp pháp, có hiệu lực cưỡng hành hay không đều tùy thuộc khả năng quân sự, kinh tế và ngoại giao của các nước kư tên. Do đó, những lư luận liên quan đến giá trị hợp pháp của hiệp ước đều có giá trị nghiên cứu pháp lư, ngoại giao và biện giải giá trị chính nghĩa. C̣n giá trị thực tiễn của nó hay giá trị quân sự rất giới hạn.

Vấn đề được đặt ra là với một hiệp ước dâng đất cho Trung Quốc như thế, khi chính quyền dân chủ, Việt Nam có quyền hủy bỏ các hiệp ước biên giới bất công đó hay không?

Câu trả lời tất nhiên là có. Tuy nhiên, như đă tŕnh bày ở trên, quyền phủ nhận những hiệp ước bất hợp pháp và bất lợi cho chúng ta luôn luôn bị giới hạn bởi sức mạnh quân sự,  kinh tế và ngoại giao của chúng ta trong tương quan quyền lực đối với Trung Quốc.

KẾT LUẬN

Mặc dù nhà nước cộng sản Việt Nam không có tư cách pháp nhân, tính chất hợp pháp để đại diện Việt Nam kư các hiệp ước biên giới dâng đất cho Trung Hoa và thủ tục kư kết hoàn toàn bất hợp hiến, sự kiện họ nắm chính quyền tạo cho họ một thẩm quyền tạm thời để thực hiện hiệp ước đó.

Đối với Trung Quốc đây là điều lợi lớn. Họ không tốn một giọt máu mà chiếm được hàng ngàn kilomét vuông lănh thổ và hơn 5.000 kilomét vuông lănh hải.

Trên mặt trận bang giao quốc tế, đối với vấn đề tranh chấp biên giới, chiếm giữ đất luôn luôn là thế thượng phong và để bảo vệ Tổ Quốc th́ máu là chính và giấy mực là phụ.

Do đó, cho dù Trung Quốc biết là phía Việt Nam không có tư cách pháp nhân, hiến pháp cộng sản Việt Nam không hợp pháp, một khi họ đă được dâng đất họ sẽ không bao giờ trả lại. Như thế, qua hiệp ước biên giới, cộng sản Việt Nam đă ngu xuẩn, đưa sinh mệnh Dân Tộc vào một con đường cùng cực kỳ hiểm nghèo mà thế hệ mai sau phải đem máu đào để trả.

Nói như nhà văn tranh đấu Dương thu Hương: ‘’Ḷng yêu nước của nhân dân là mỏ vàng ṛng mà đảng cộng sản dành độc quyền khai thác’’. Đảng cộng sản đă khai thác mỏ vàng ṛng này bằng cách sử dụng xương máu của các thế hệ thanh niên 45, 54, 75 để xây dựng và bảo vệ một chế độ độc tài dốt nát và liên tục tụt hậu. Nhưng sử dụng xương máu của thế hệ thanh niên ngày qua và ngày nay vẫn chưa đủ, với các hiệp định biên giới vừa kư kết, họ lại tiếp tục lén lút bán xương máu của thế hệ 2000 và con cháu mai sau để đánh đổi lấy việc duy tŕ ngai vàng ngày hôm nay. Đây là hành vi mà mọi người Việt yêu nước,  không phân biệt chính kiến, đều tuyệt đối không thể chấp nhận. Thái độ quyết liệt đối với vấn đề chế độ cộng sản Việt Nam dâng đất cho Trung Hoa là thước chuẩn đo ḷng yêu nước của mọi người dân Việt chân chính yêu nước và chế độ độc tài bán nước hại dân.

Luật Sư Nguyễn Xuân Phước 

26.1.2002
nxplaw@yahoo. com

Tham khảo:  http://www.geocitie s.com/hannamquan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

V̀ SAO CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG CÔNG BỐ HIỆP ĐỊNH BÁN ĐẤT

Phạm Văn Thanh

      

Một trong những vị Tổng Thống Hoa Kỳ đóng góp nhiều nhất cho việc thống nhất đất nước và dựng nên nếp kỷ cương xă hội Hoa Kỳ là Tổng Thống Abraham Lincoln. Trong những bài diễn văn nổi tiếng của ông, ông thường đề cập về ‘’tinh thần trách nhiệm’’ mà toàn dân Việt Nam có thể mượn một câu để nói thẳng với những người lănh đạo của chính quyền cộng sản Việt Nam rằng: ‘’You can not escape the responsibility of tomorrow by evading it today’’(Các người không thể thoát khỏi trách nhiệm sau này dù các người hiện đang lẩn tránh nó). Dù lặng thinh hay t́m đủ mọi cách để trốn tránh trách nhiệm ‘’cắt đất, cắt biển’’ dâng cho Trung Quốc th́ tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam cũng không thể chối bỏ trách nhiệm hoàn toàn trong hành động bội phản này trước Anh Linh Tổ Tiên và trước lịch sử Dân Tộc Việt Nam.

            Mặc cho làn sóng phản đối dâng cao, mặc những lời tố cáo đầy phẫn nộ của người Việt hải ngoại và quốc nội, tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam vẫn ‘’câm như hến’’ không công bố văn kiện chính thức trước toàn dân. Có thể, họ chẳng thèm đếm xỉa đến dư luận quần chúng, khinh thường người dân và chẳng coi ‘’ư dân’’có giá trị ǵ? Có thể tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam sợ trưng bày sự thật th́ hậu quả gây ra c̣n bất lợi cho họ gấp bội và họ sẽ vô phương bào chữa nên tốt hơn hết là bảo toàn tối đa để ‘’mập mờ đánh lận con đen’’ hầu kéo dài thời gian ‘’ăn trên ngồi trốc’’ lâu chừng nào tốt chừng đó. Tập đoàn lănh đạo chính quyền cộng sản Việt Nam lặng thinh v́ nhiều lư do.

            Thứ nhất, nếu tŕnh bày rơ ràng nội vụ ‘’bán đất, bán biển’’ trước toàn dân, họ sẽ phơi bày chứng cớ chi tiết, chính xác về hành động phản bội của họ đối với Tổ Quốc. Thứ hai, bật mí văn kiện bán nước, sẽ làm sụp đổ chế độ cộng sản Việt Nam nhanh hơn v́ nội vụ có thể c̣n tệ hại cho đất nước Việt Nam hơn cả những ǵ chúng ta hiện nay được biết. Mặt khác, những người yêu nước quốc nội và hải ngoại có phẫn uất cách mấy mà không nắm được sự thật, chứng từ, tài liệu tham khảo trong tay cũng khó mạnh miệng phản đối. Thêm vào đó, cộng sản cố bưng bít sự thật về các hiệp ước để t́m cách tuyên truyền ngược lại, đổ vấy cho chúng ta là ‘’ngậm máu phun người’’. Ảnh hưởng tâm lư c̣n quan trọng hơn khi họ biết chúng ta chỉ dựa vào vài chi tiết chưa chính thức hay xác thực nên có thể thuyết phục được một số người, nhưng một số khác sẽ lưỡng lự ‘’bán tín bán nghi’’ về những ǵ chúng ta tố cáo mà chờ kiểm chứng. Ảnh hưởng chính trị  do nó gây nên sẽ làm tŕ trệ cuộc đấu tranh của toàn dân v́ người dân quốc nội vẫn phân vân chưa cương quyết đứng lên đạp đổ chế đội hại dân hại nước cộng sản Việt Nam. Đó chính là chủ đích của tập đoàn lănh đạo chính quyền cộng sản Việt Nam khi họ cố t́nh dấu diếm bằng chứng về các hiệp ước bán đất, bán nước trước toàn dân. Điều dễ hiểu, nếu các bản hiệp ước kư kết với Trung Quốc là có lợi cho Việt Nam hoặc công bằng cho cả hai phía th́ tại sao tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam không dám công bố cùng giải thích minh bạch các văn kiện họ đang thảo luận hoặc đă kư kết để toàn dân biết, mổ xẻ lợi hại và góp ư kiến? Nếu quả thật chính quyền cộng sản Việt Nam được lợi khi kư hiệp ước lănh thổ và lănh hải với Trung Quốc th́ đó là ‘’công’’ của chế độ mà việc chính thức công bố kết quả hiệp ước sẽ là bằng chứng hùng hồn nhất biện minh cho chế độ và đảng cộng sản Việt Nam. Điều này sẽ giúp bảo vệ chế độ, bồi đắp cho chế độ cộng sản thêm vững bền hơn và gây thiệt hại về uy tín cho nhóm chống đối quốc nội và hải ngoại rất nhiều v́ đă ‘’vu oan giá họa’’ cho chế độ. Căn cứ vào lẽ đó chúng ta có thể khẳng định rằng những văn kiện đă kư gây thiệt hại lớn lao cho chủ quyền quốc gia và lănh thổ của đất nước ta nên cộng sản Việt Nam không dám công bố.

            Nói cho ra lẽ, chứ đă tự nguyện bán nước th́ đời nào cộng sản Việt Nam c̣n dám chính thức công bố nội dung các hiệp ước nhục nhă phản quốc đó trước ánh sáng công lư? Tuy nhiên, không cần họ phải nêu ra bằng chứng, chúng ta cũng thừa hiểu rằng đảng cộng sản Việt Nam bán nước khi sai Thủ Tướng Phạm văn Đồng kư công hàm thừa nhận chủ quyền Trung Quốc trên Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1958. Chỉ một lời thú tội nhỏ nhặt của Thứ Trưởng ngoại giao Lê công Phụng rằng lănh thổ biên giới chỉ mất 114 km2 chứ không phải 720 như tố cáo là chúng ta đă biết cộng sản Việt Nam bán đất cho Trung Quốc.  Bán một tấc đất cho ngoại bang cũng mang tội lớn đối với Tổ Tiên rồi huống hồ diện tích đất biên giới bị nhượng cho Trung Quốc có thể c̣n lớn hơn 720 cây số vuông gấp nhiều lần v́ không ai biết rơ chi tiết. Thử hỏi, một cường quốc lớn như Trung Cộng c̣n mặt mũi nào chính thức cử hành lễ cắm mốc biên giới rềnh ràng nếu họ bị thất thế trong các hiệp ước kư kết để mất đất vào tay Việt Nam? Chỉ việc chính thức cắm mốc biên giới chứng tỏ Trung Quốc hân hoan nhận phần đất ‘’cống’’ như món quà của Việt Nam và thái độ kẻ cả vỗ vai khen ngợi các nhà lănh đạo cộng sản Việt Nam cho thấy Trung Quốc rất hài ḷng với hiệp ước này và tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam nhu nhược tham quyền cố vị, làm chuyện phản quốc chứ không thể bắt buộc một dân tộc anh hùng, từng bao lần đánh bại muôn vạn hùng binh của họ trong quá khứ, chịu khuất phục, ‘’lép vế một bề’’ để cúi đầu chấp nhận hiệp ước bán nước. Do đó, dù hồ hởi nhận đất mà Trung Cộng vẫn ngại phản ứng của nhân dân Việt Nam nên cuối năm 2001, Trung Cộng đă tung một quả bóng thăm ḍ phản ứng và dư luận dân Việt bằng cách đăng quảng cáo du lịch Thác Bản Giốc và Ải Nam Quan trên Internet nhằm mục đích vừa khoe chiến lợi phẩn cho thế giới biết vừa cảnh cáo dân Việt rằng từ nay trở đi vùng đất này thuộc về Trung Quốc thật sự rồi. ‘’Ai được? Ai mất?’’ đă rơ rành rành với sự thật không thể chỗi căi là hai thắng cảnh này từ mấy ngàn năm thuộc phần đất của Việt Nam, chỉ có điều chúng ta không biết chính xác Việt Nam mất bao nhiêu đất, mất những vùng nào hoặc hậu quả liên hệ về sau nghiêm trọng ra sao mà thôi. Dù ‘’chân lư có bị vùi xuống bùn đen th́ nó cũng tự ngoi lên’’ cây kim bọc giẻ nhiều lớp th́ lâu ngày nó cũng ḷi ra và chẳng sớm th́ chầy, sự thật sẽ được sáng tỏ. Tuy nhiên, ngay cả lúc chính quyền cộng sản Việt Nam c̣n giữ nội vụ trong ṿng bí mật, tâm hồn tập đoàn lănh đạo cũng không thể nào yên ổn phần v́ mắc cảm tội lỗi, phần v́ sự thật không thể chối bỏ phần v́ lương tâm cắn rứt nếu họ c̣n chút lương tri. Những người bán nước có cố t́nh nhắm mắt, bịt tai trước ḷng phẫn uất của nhân dân th́ ‘’con mắt của Cain’’ cũng vẫn hiện ra trước mắt tập đoàn bán nước trong trí tưởng, trong tiềm thức họ lúc ngủ khi thức.

            Đ̣i hỏi tập đoàn bán nước hối hận về hành động họ đă làm và tự xử v́ tinh thần trách nhiệm gây nên tội của họ, chúng ta có lẽ hơi quá lạc quan và hy vọng hăo huyền là họ biết tự giác và ư thức đúng sai. Chính triết gia Plato đă nói ‘’Chiến thắng khó khăn và vinh quang nhất là chiến thắng chính ḿnh’’ do đó, đ̣i hỏi tập đoàn lănh đạo ‘’vô trách nhiệm’’ cộng sản Việt Nam ư thức trách nhiệm ‘’bán nước’’ của họ mà tự xử th́ thật ngây thơ. Tuy nhiên,  ‘’lương tâm mù quáng’’ nên chúng ta cũng khơi ra một sinh lộ cho những người lănh đạo cộng sản Việt Nam quay về với dân tộc một khi lương tâm họ ‘’thức tỉnh’’. Thật may mắn nếu họ biết hối lỗi kịp thời, làm sáng tỏ nội vụ, trả lời trước toà án tổ quốc và thực thi được điều ǵ khả dĩ gột rửa phần nào tiếng xấu muôn đời. Nếu không, dù có đi đến đâu, chân trời góc bể nào, trốn chui trốn nhủi ở đâu đó, họ cũng khó thoát khỏi lưỡi kiếm công lư của lịch sử trừng phạt sẽ giáng xuống đầu bất cứ lúc nào. Tinh thần đấu tranh quyết liệt của toàn dân ta sẽ áp lực tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam phải nhận thức một điều: ‘’Chế độ thất nhân tâm không thể tồn tại dù có sắt máu cách mấy’’. Thời đại nào nước ta cũng có nhiều nhân tài sẵn sàng lănh nhận trách nhiệm do toàn dân giao phó, làm việc thật sự v́ dân v́ nước mà mọi người kính phục yêu mến do từ ‘’tư cách, đạo đức, khả năng lănh đạo và ḷng yêu nước thương dân’’ của họ mà không phải v́ bạo lực xe tăng, súng đạn. Toàn dân ta đ̣i hỏi những người lănh đạo cộng sản Việt Nam bất tài thiếu đức, đưa đất nước tụt hậu, nhân dân đói khổ, xă hội băng hoại, ḷng dân ta than thán trả lời trước nhân dân và giao quyền định đoạt tương lai dân tộc lại cho dân Việt.

            Lịch sử từ Đông sang Tây chứng minh rằng một triều đại đến thời suy tàn, người lănh đạo thường hành động mất lương tri khiến ḷng dân oán hận, thế nước loạn ly như cuối thời Nhà Tần ở Trung Quốc, Pol Pot ở Cao Miên hay Đức ở Âu Châu. Tần thủy Hoàng đốt sách,  chôn học tṛ nhằm dập tắt tư tưởng phản kháng của thành phần trí thức mấy ngàn năm về trước. Pol Pot sát hại hàng triệu dân lành trong những cánh đồng ma quạnh để loại bỏ một lớp dân có tư tưởng khó ‘’tẩy năo’’ khi chiếm được Nam Vang năm 1975. Hitler cũng muốn xóa bỏ vết tích và giá trị văn hóa của nhân dân Đức, Do Thái khi thiêu hủy những sách vở văn hóa thuần túy để thay bằng tư tưởng độc tài, khát máu phát xít, giết hại 6 triệu dân Do Thái trong những ḷ thiêu người, pḥng hơi ngạt trong thế chiến thứ hai. Thế giới lên án, lương tâm nhân loại lên án và những chế độ tàn ác phi nhân khủng khiếp đó đă sụp đổ sau đó không lâu. Ngày nay, tập đoàn cộng sản Việt Nam cũng thi hành phương sách độc đoán, bất nhân bằng cách thiêu hủy những sách báo, tác phẩm xây dựng, nói lên sự thật v́ nghĩ đến tương lai dân tộc của cán bộ trí thức cấp tiến, của những cử tri, những vị lăo thành Hà Nội...Chỉ có chế độ độc tài,  đảng trị thất nhân tâm mới muốn tước quyền tự do, bịt miệng, bóp nghẹt tư tưởng xây dựng, ư nghĩ chân chính của những người tâm huyết yêu quê hương dân tộc mà thôi. Sở dĩ chế độ cộng sản Việt Nam sợ sự thật v́ tập đoàn lănh đạo có khi nào hành động chân chính theo Vương đạo đâu? Có thương dân đâu mà phải thật tâm lo lắng cho hạnh phúc và đời sống ấm no của người dân? Có yêu nước đâu mà phải bảo vệ chủ quyền quốc gia và bảo toàn lănh thổ? Có tinh thần trách nhiệm đâu mà biết tủi nhục khi cắt đất, cắt biển dâng cho ngoại bang? Tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam vẫn ngoan cố t́m đủ cách để bám vào quyền hành bằng bạo lực, kể cả hành vi phản bội tổ quốc, nhằm mong Trung Cộng bảo vệ quyền lợi và cương vị của họ. Nhưng chắc chắn rằng họ không thể tồn tại khi không được hậu thuẫn của nhân dân, không tạo được t́nh đoàn kết dân tộc để gây nên sức mạnh của chính nghĩa. Chế độ độc tài đó không thể tồn tại khi vơ vét của cải quốc gia tạo nên do mồ hôi nước mắt của dân chúng, xương máu của các chiến sĩ từng hy sinh bảo vệ từng tấc đất quê Cha. Thê thiết hơn là chính sự bất tài, thiếu đức của tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam sẽ đưa cả dân tộc xuống hố thẳm lạc hậu, bần cùng, tủi hổ. Hăy nghĩ lại và can đảm sửa đổi những sai lầm, tham vọng, thói hư hầu thực sự phục vụ quốc gia dân tộc và để lại cho đời chút ǵ hữu ích mà người dân biết ơn! Lịch sử sẽ công bằng đối với mọi người và công lư sẽ chẳng thiên vị ai. ‘’Các người có thể lẩn tránh công lư, bóp méo lịch sử hôm nay nhưng các người không thể đổi sai thành đúng, xấu thành tốt và bắt nhân dân kính phục như những vị anh hùng dân tộc mai sau.’’.

            Chúng ta không hiểu tại sao những kẻ gian manh, qủy quyệt như tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam có thể tin được một nước luôn t́m cách sát nhập nước ta vào Trung Quốc, đă từng đô hộ nước ta cả ngàn năm và đă từng làm cỏ dân ta như ‘’nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn’’ trong quá khứ? Nếu Trung Quốc đáng tin là người bạn trung thành, tử tế th́ họ phải tỏ ra công bằng như trả lại vùng đất Lưỡng Quảng, Vân Nam vốn của Việt Nam lại cho nước ta chứ sao lại chèn ép Việt Nam để bắt nhượng thêm đất, thêm biển cho họ? Đó không phải là hành động của một người bạn ‘’tốt’’ mà là hành vi lợi dụng bạn ḿnh của một người bạn ‘’tồi’’. Đó chính là hành động của kẻ thù, mà dă tâm thôn tính Việt Nam bằng cả quân sự, chính trị và kinh tế đă được chứng minh quá rơ ràng. Trong thời đại này, trong khi các đế quốc cận đại không c̣n giữ tấc đất nào của các nước thuộc địa th́ Trung Quốc đă chiếm đoạt và sát nhập Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Ngoại Mông vào Trung Hoa. Trung Quốc đă chiếm đoạt Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nhằm mưu đồ bành trướng quân lực để trở thành bá chủ Á Châu. Sự thật hiển nhiên là tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam nhắm mắt kư kết hai hiệp ước bán nước nói trên cho lợi ích cá nhân và đảng. Họ v́ quyền lợi riêng tư giữa ‘’Môi’’ với ‘’Răng’’ mà không v́ quyền lợi của tổ quốc, nhân dân Việt Nam và ấu trĩ hơn nữa là đă ‘’giao trứng cho ác’’ đặt sinh mạng chính họ và vận mệnh quốc gia trong tay của kẻ thù dân tộc. Anh em ruột thịt mà c̣n giết nhau v́ đế quyền th́ anh em từ mấy ngàn năm trước, thân t́nh lại đứng vững hay sao? Bộ Tộc Bách Việt phát xuất từ lưu vực sông Dương Tử bên Tàu có thật đi nữa đă từng bị Hán Tộc đánh đuổi truy diệt đến nỗi phải chạy dần xuống phương Nam. Việt Tộc và Hán  Tộc có là anh em với nhau đi nữa cũng đă chém giết nhau từ mấy ngàn năm lịch sử. Trừ phi các nhà lănh đạo cộng sản Việt Nam muốn dâng cả nước Việt Nam cho Tàu để ‘’về nguồn’’ và toàn dân Việt có chung một tinh thần bạc nhược chẳng dám nêu một lời phản kháng th́ không nói làm ǵ: ‘’số mệnh dân tộc’’ đến đây là tận.

            Một khi c̣n những người yêu nước, c̣n những người bất khuất, c̣n gần 80 triệu con cháu của Trưng, Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung th́ không dân tộc nào có thể áp đặt ṿng ‘’kim cô’’ trên đầu dân tộc ta được.

            Toàn dân ta đă quyết liệt phản đối những hiệp ước nhượng đất và lănh hải bằng những tuyên cáo, văn thư, biểu t́nh v.v...và chúng ta sẽ tiếp tục phản đối, theo dơi nội vụ cho tới khi nào mọi quốc gia trên thế giới nghe được nguyện vọng của toàn dân ta, các cơ quan Liên Hiệp Quốc, Ṭa Án Quốc Tế chấp nhận những thỉnh cầu chính đáng của dân tộc Việt Nam đối với âm mưu đen tối của chính quyền cộng sản Việt Nam và chính quyền Trung Quốc. Đảng cộng sản không do dân bầu, chính quyền cộng sản Việt Nam được chỉ định đă hại dân hại nước từ bao năm, nay lại mang tội bán nước cầu vinh, chế độ cộng sản Việt Nam không c̣n lư do để tồn tại. Nếu tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam không rút lui, toàn dân ta sẽ kéo họ xuống để bầu lên những người tài đức lănh đạo đất nước. Những kẻ phản quốc, những đứa con hư hỏng sẽ bị Quốc Tổ răn đe, sửa phạt, khai trừ để con cháu Lạc Hồng lại trở nên xứng đáng với Tổ Tiên giống ṇi.

Phạm Văn Thanh

20.2.2002

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tâm thư về biên cương lănh hải

ẢI NAM QUAN THUỘC VỀ VIỆT NAM-NAM QUAN MÔN THUỘC TRUNG HOA

Nông Bản Nhân

19.4.2002

Thân gởi Quư Anh Chị em đối tác dân chủ,

            Trước hết tôi cảm ơn nỗ lực vận động Cộng Đồng Quốc Tế của Diễn Đàn Dân Chủ cũng như Quư Anh chị em ở khắp nơi nhằm bảo vệ các đối tác trong nước như Giáo sư Trần Khuê, Luật gia Lê chí Quang và Bác sĩ Phạm hồng Sơn. Nỗ lực nhiệt thành giúp đỡ này tạo được ấn tượng cao quư trong các đối tác dân chủ và chắc chắn thêm nhiều tài liệu sẽ được gởi lên Dân Chủ net, để phổ biết rộng răi hơn. Sự hợp tác hỗ tương bất vụ lợi v́ dân chủ của Anh chị em trong và ngoài nước khích lệ đồng bào và nhờ đó họ thấy viễn ảnh dân chủ thực sự nằm trong tầm tay khả đạt.

            Tôi cũng thấy sự hợp tác của Diễn Đàn Dân Chủ cùng các tổ chức khác thực hiện hội luận về án trạng đảng cộng sản Việt Nam măi quốc cầu vinh vào thượng tuần tháng 6 này là một việc làm vô cùng quan trọng bởi v́ nhiều đồng bào trong cũng như ngoài nước c̣n chưa biết hoặc biết không rơ về quốc nạn này. Tôi không dám cống hiến ǵ cho hội luận, nhưng chỉ xin làm sáng tỏ một vấn đề mà chưa ai đưa ra câu trả lời thỏa đáng: Ải Nam Quan của Việt Nam hay Trung Hoa ?

            Nhiều người đă bàn luận về vấn đề Ải Nam Quan của ta hay của Tàu? Sự trao đổi bắt đầu từ mối ưu tư chung cho quyền lợi tối thượng của dân tộc nhưng h́nh như lại đi vào ngơ cụt v́ nhiều người đọc lại Sử Kư và cổ liệu Việt Nam như Đại Nam Nhất Thống Chí, Phương Đ́nh Dư Địa Chí v.v...bắt đầu tỏ vẻ nghi ngờ điều ḿnh học từ xưa là ‘’Đất nước Việt Nam h́nh chữ S trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau’’. Kư giả Tú Gàn ở Mỹ cùng các ông Trương Nhân Tuấn và Tôn Thất Vinh ở Pháp dựa vào Sử thư Việt Nam và tài liệu như Les frontières de la péninsule indochinoise của Lafont song song với sơ đồ các cột mốc Procès Verbal de la Commission d'Abornment de la Frontière Sino-Anamite, Section Est du Kouang Si lập ngày 21.8.1891 để ‘’xác định rằng Ải Nam Quan không bao giờ là của Việt Nam’’bởi v́ ‘’không hề thấy có tài liệu nào nói rằng Ải Nam Quan của Việt Nam. Các sách đều chỉ nhắc đến các tranh chấp về  phần đất thuộc khu vực Đồng Đăng trước Ải Nam Quan mà thôi’’(22.3.2002).

Một vị mang bút hiệu Bàn Tân Định có vẻ binh vực đảng cộng sản Việt Nam trong bài ‘’Bàn về biên giới Việt Nam-Trung Quốc: Vấn đề dữ kiện’’ với kết luận vô cùng mập mờ: ‘’Nhưng xét một cách tổng quan, qua Chính Sử của Việt Nam, khó có thể nói toàn bộ Ải Nam Quan là thuộc về Việt Nam’’ Trong khi đó Nhà viết sử Trần Gia Phụng ở Canada đă xuất bản một cuốn sách liên quan đến vấn đề ‘’Chuyện một chiếc Ải đă mất’’ ám chỉ vô cớ  là Việt Nam ít ra cũng làm chủ một phần ‘’kiến trúc’’ Ải Nam Quan ‘’Giáo Sư Nguyễn Văn Canh cũng không dám có lời nào để nhận định xem Port de China Gate có phải là cửa khẩu Việt Nam hay không’’ khi đưa ra tấm h́nh cũ ‘’Port de China’’ (mà kư giả Tú Gàn viết là ‘’tấm h́nh của Ải Nam Quan’’) do W. Robert Moose in trong Nationnal Geograpic Magazine. Vào ngày 21.1.2002, Kỹ Sư Nguyễn Đ́nh Sài của Hội Chuyên Gia Việt Nam phổ biến  tài liệu ‘’Nghĩa vụ bảo vệ bờ cơi Việt Nam’’ được đánh giá là nghiên cứu công phu với kết luận sai lệch ‘’Ải Nam Quan đă nằm sâu trong ‘’nội địa’’ Trung Quốc đến vài cây số’’. Sau đó vào ngày 14.3.2002 Chuyên gia Nguyễn Ngọc Danh cũng của hội này tổng kết lại các tài liệu vừa kể và tất cả các bài phân tích được công bố gần đây mặc dầu viện dẫn Sử kư cổ thư đều suy diễn Ải Nam Quan là một ‘’cái đồn’’ hay ‘’Một chiếc Ải’’hay thành quách biên pḥng cho nên đă đưa ra những khẳng định sai trái.

Hầu hết các tài liệu liên quan đến vấn đề chủ quyền Ải Nam Quan chia thành hai trường phái: Một là ‘’xác định rằng Ải Nam Quan không bao giờ là của Việt Nam’’ hai là bàn luận thiếu minh bạch khiến cho đồng bào vô cùng hoang mang. Hai trường phái này tuy tương phản nhưng đều có nguồn gốc từ sự ưu tư đến tiền đồ dân tộc trước quốc nạn đảng cộng sản Việt Nam măi quốc cầu vinh. Có vị muốn xác định rơ ràng biên cương Quốc Gia để truy ra các phần đất đă mất, có vị đứng trước các bằng chứng được tŕnh bày lại không biết biện luận như thế nào cho điều ḿnh học từ xưa là ‘’đất nước Việt Nam h́nh chữ S trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau’’ cho nên chọn tư thế tránh né hay bàn luận qua loa bởi v́ nặng ḷng với Ải Nam Quan cho nên không lẽ bây giờ phải xác nhận Ải Nam Quan là của Trung Hoa.

Rất tiếc là hiện nay nhiều bậc thức giả chưa lên tiếng về vấn đề này khiến đồng bào tiếp tục hoang mang. Đứng trước t́nh trạng này, tôi xin mạo muội đem chút kiến thức thô thiển để chứng minh là cả hai trường phái ưu tư với tiền đồ dân tộc kể trên không bên nào sai cả chỉ v́ cả hai đều hiểu lầm chữ Ải và chữ Quan cho nên khi ghi chép về đoạn biên thùy này, Sử sách của Ông Cha chúng ta bằng nguyên văn Hán ngữ cũng như Cổ thư của Tàu thận trọng chỉ dùng danh từ Nam Quan, Trấn Nam Quan hay cửa Nam Giao v.v...khi nói về cửa khẩu này, nhưng hiện nay nhiều người cộng thêm chữ Ải vào rồi cưỡng ép Sử sách khiến đồng bào vốn đang bàng hoàng trước tin đảng cộng sản Việt Nam măi quốc cầu vinh lại càng hoang mang hơn.

Trả lời của tôi cho câu hỏi ‘’Ải Nam Quan của ta hay tàu?’’ là Ải Nam Quan của Việt Nam và Nam Quan Môn của Trung Hoa. Các bạn có lẽ ngạc nhiên về câu trả lời này nhưng tôi xin giải thích là hai cụm từ Ải Nam Quan và Nam Quan có gốc Hán-Việt. Chữ Ải ở đây nằm trong bộ Phụ có nghĩa là ‘’nơi chật hẹp, chỗ hiểm thế’’. Chữ Quan ở đây năm trong bộ Môn có nghĩa là ‘’then cửa’’ và ở vùng biên giới thường được dùng như cửa khẩu (khẩu có nghĩa là chỗ ra vào) v́ vậy chúng ta mới nghe câu ‘’bế quan (đóng cửa ‘’khẩu’’ tỏa cảng) chứ không có từ ‘’bế ải’’.

Ải: Nơi chật hẹp, chỗ hiểm thế. Quan: Then cửa. Môn: Cửa. Quan Ải: Vùng hiểm yếu (ải) có cổng gác (then cửa)

Có  lẽ v́ quên nguồn gốc Hán ngữ của chữ Ải là ‘’nơi chật hẹp, chỗ hiểm thế’’cho nên nhiều Học giả Việt Nam dùng chữ Ải theo nghĩa sai lầm là cửa khẩu hay ‘’cái đồn’’ hay thành quách biên pḥng mang tên Nam Quan. Do sai lầm này mà chúng ta thấy Nhà viết sử Trần Gia Phụng đă xuất bản cả một tập sách để bày vẻ thêm là ‘’Ải Nam Quan gồm hai phần kiến trúc (một của tàu, một của ta)’’, Kỹ Sư Nguyễn Đ́nh Sài khẳng định là ‘’Ải Nam Quan đă nằm sâu trong ‘’nội địa’’Trung Quốc đến vài cây số’’. Chuyên gia Nguyễn Ngọc Danh cố gắng ‘’chứng minh rằng cho đến ngày gần đây (ít ra là năm 1954) Ải Nam Quan c̣n nằm trên lănh thổ Việt Nam’’. Kư giả Tú Gàn cùng các ông Trương Nhân Tuấn và Tôn Thất Vinh ‘’xác định rằng Ải Nam Quan không bao giờ là của Việt Nam’’ hay tác giả Bàn Tân Định viết ‘’khó có thể nói toàn bộ Ải Nam Quan là thuộc về Việt Nam’’ những lập luận này trở nên vô nghĩa nếu các Học giả hiểu đúng nghĩa của chữ Ải là ‘’nơi chật  hẹp, chỗ hiểm thế ‘’ chứ không phải là cửa khẩu, ‘’cái đồn’’hay thành quách biên pḥng.

Khi nhận ra sự khác biệt giữa từ ngữ Hán văn như đă tŕnh bày th́ chúng ta mới hiểu sự minh bạch của cụm từ Biên Ải là vùng ranh giới (biên) hiểm thế (Ải) (chứ không phải là thành quách hay cửa khẩu biên giới) cũng như Yếu Ải có nghĩa là nơi hiểm thế (Ải) hệ trọng (Yếu) (chứ không phải là thành quách hay cửa khẩu hệ trọng) và cũng nhờ hiểu được chữ Trấn trong Trấn Nam Quan (xin đừng hiểu lầm chữ Trấn ở đây theo nghĩa ‘’đơn vị hành chánh khu vực’’ như trong chữ Thị Trấn tức là Thành Thị để rồi thay thế lẫn lội ư nghĩa đó với chữ Ải bởi v́ Trấn Nam Quan hoàn toàn không có nghĩa là Ải Nam Quan).  

Nhờ sự phân biệt nguồn gốc từ ngữ kể trên chúng ta biết được Nam Quan có nghĩa chính xác là then cửa (khẩu) phía Nam và phía Nam ở đây là phía Nam của Trung Hoa, trong khi đó, Ải Nam Quan có nghĩa chính xác là vùng hiểm thế (Ải) cạnh then cửa (khẩu) phía Nam (Nam Quan). Thực ra người Tàu gọi cửa khẩu này Nam Quan Môn (Môn là cửa) và v́ là cửa khẩu cho nên được xây dựng tu bổ như sử sách đă ghi, ngược lại Ải Nam Quan là vùng đất hiểm thế chứ không phải là một thành quách được kiến trúc như nhiều học giả đă hiểu lầm. Do đó điều chúng ta học từ xưa là ‘’đất nước Việt Nam h́nh chữ S trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau’’ rất đúng bởi v́ Ải Nam Quan là vùng biên giới hiểm thế của Việt Nam nằm phía Nam của Nam Quan Môn (cửa ‘khẩu’ phía Nam hay Port de Chine) thuộc Trung Hoa. Ông Cha của chúng ta đă dùng từ ngữ rất chính xác cho nên khi đọc cổ sử chúng ta thấy ngay sự phân định rơ  rệt về hai chữ Ải và Quan. Đại Nam Nhất Thống Chí có đoạn ghi:

‘’Cửa Nam Giao: Cách Tỉnh Thành 31 dặm về phía Bắc, ở địa phận hai Xă Đồng Đăng và Bảo Lâm thuộc Châu Văn Uyên, phía Bắc giáp địa giới Châu Bằng Tường, Tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa này dựng năm Gia Tĩnh Nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 Nhà Thanh, Án Sát Tỉnh Quảng Tây là Cam nhữ Lai tu bổ lại,  có tên nữa là ‘’Đại Nam Quan’’, phía Đông là một dải núi đất, phía Tây là một dải núi đá, đều dựa vào chân núi xây gạch làm tường gồm 119 trượng, Cửa quan đặt ở quăng giữa, có biểu đề ba chữ ‘’Trấn Nam Quan’’ dựng từ năm Ung Chính thứ 6 triều Thanh, có một cửa khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ ‘’Trung ngoại nhất gia’’, dựng từ năm Tân Sửu đời Càn Long Nhà Thanh. Phía Bắc cửa có Chiêu Đức Đài,  đằng sau Đài có Đ́nh tham đường (nhà dừng ngựa) của nước Thanh, phía Nam có Ngưỡng Đức Đài của nước ta, bên Tả bên Hữu đài có 2 dăy hành lang, mỗi khi Sứ Bộ đến Cửa quan th́ dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ’’.

Xét: Trấn Nam Quan không rơ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam Sử và Bắc Sử đều không có minh văn. Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang sửa lại Ngưỡng Đức Đài, lập bia ghi việc, đại lược nói:

‘’Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rơ, là v́ diên cách thế nào không ghi đủ. Gần đây lấy địa giới Châu Văn Uyên Trấn Lạng Sơn làm cửa quan, cửa quan có Ngưỡng Đức Đài  không rơ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh Nhà Minh’’.  Văn bia ấy nay vẫn c̣n’’.

Lại xét: Niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) ngang với niên hiệu Nguyên Ḥa (1533-1566) Nhà Lê Trang Tông, văn bia cũng nói có lẽ thôi. Sử chép: Năm Nguyên Ḥa thứ 8 Mạc Đăng Dung cùng bầy tôi là bọn Nguyễn Như Khuê dâng biểu xin hàng ‘’Đến đây mới thấy sử chép tên Trấn Nam Quan’’

Phương Đ́nh Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu ghi lại ở quyển 5: ‘’Cửa quan có ở Ải Nam Quan: Tại địa phận hai Xă Đồng Đăng và Bảo Lâm, Châu Văn Uyên, phía Bắc giáp địa giới Châu Bằng Tường Tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, hai bên Tả Hữu núi cao ngất, ở giữa mở một Cửa quan, có cánh cửa có khóa, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là Nam Quan (một tên là Đại Nam Quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan’’.

Sử kư chép: Năm thứ 8 niên hiệu Nguyễn Ḥa Nhà Lê, Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là lũ Nguyễn Như Quế qua Cửa Trấn Nam Quan đến Mạc phủ Nhà Minh dâng biểu xin hàng, cái tên Trấn Nam Quan mới thấy từ đây), có Ngưỡng Đức Đài, khi trước lợp cỏ, năm thứ 34 niên hiệu Cảnh Hưng, Quan Đốc Trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại, có văn bia như sau:

‘’Khi nước ta có cả đất ngũ Lĩnh, cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau này thay đổi thế nào không rơ, gần đây lại lấy Châu Văn Uyên Trấn Lạng Sơn làm Cửa quan, có Đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, h́nh như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh Nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Ḥa Nhà Lê nước ta). Đài có quán hai bên Tả Hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê ta Trung Hưng đời thứ 14, Vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 là năm Canh Tư (ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long Nhà Thanh). Đang tôi làm giữ chức Đốc Trấn qua 5 năm là năm Giáp Th́n, sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng...’’

Như đă tŕnh bày, Nam Quan Môn nằm ở Châu Bằng Tường (Quảng Tây) v́ là cửa khẩu cho nên được Trung Hoa xây dựng tu bổ như sử sách ghi chép. Ngược lại, Ải Nam Quan là vùng đất biên giới hiểm thế chứ không phải là một thành quách được kiến trúc như nhiều học giả đă hiểu lầm. Hai nguồn sử liệu chính kể trên cho chúng ta biết trên vùng đất hiểm thế Ải Nam Quan, Việt Nam có dựng một đài đối diện Nam Quan Môn mang tên Ngưỡng Đức ‘’có quán hai bên Tả Hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa.’’ Đài Ngưỡng Đức ở ‘’Châu Văn Uyên (Châu Cao Lộc có Xă Đồng Đăng, Xă Bảo Lâm) Trấn Lạng Sơn’’ đă được Đốc Trấn Nguyễn Trọng Đang ‘’sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, Đài mới có vẻ hoành tráng’’ vào năm Giáp Th́n 1774.

Đại Nam Nhất Thống Chí và Phương Đ́nh Địa Dư Chí ghi rơ cửa khẩu mang tên Nam Quan của Trung Hoa nằm ở Châu Bằng Tường (Quảng Tây) không phải và cũng không bao gồm Ngưỡng Đức Đài của Việt Nam nằm đối diện về phía Nam ở Châu Văn Uyên (Lạng Sơn) và chắc chắn không mang tên ‘’Ải Nam Quan’’ (như nhiều Học giả hiện nay gán tiếng) cũng như chưa bao giờ là một ‘’cái đồn’’ chung của Tàu và Việt ‘’gồm hai phần kiến trúc (một của Tàu, một của Ta)’’

Đại Nam Nhất Thống Chí và Phương Đ́nh Dư Địa Chí cũng như các tài liệu của Pháp và Thanh triều đều chứng minh cho chúng ta thấy Nam Quan Môn (cửa ‘khẩu’ phía Nam) của Trung Hoa c̣n có tên là Cửa Nam Giao, Đại Nam Quan, Trấn Di Quan, Trấn Nam Quan hay Porte de Chine được dùng như mốc điểm chứ không bao trùm Ải Nam Quan vốn là vùng hiểm thế (Ải) cạnh Nam Quan. Sử sách và tài liệu Cổ thư tuyệt đối không gọi Nam Quan Môn (cửa ‘khẩu’ phía Nam) của Trung Hoa là Ải (vùng hiểm thế) Nam Quan bởi v́, như đă bàn ở trên, Ải Nam Quan có nghĩa là vùng hiểm thế (Ải) của Việt Nam cạnh cửa (khẩu) phía Nam (Nam Quan Môn) của Trung Hoa. Tôi có thể tŕnh thêm sử sách ở đây để minh chứng cho vấn đề nhưng giới hạn của một tâm thư không cho phép. Tuy vậy, bạn vẫn có thể tham khảo thêm Bắc Thành Dư Địa Chí, Quảng Châu Kư, Tần Thư Địa Lư Chí, Lĩnh Biểu Lục Dị v.v..., để thấy Sử liệu Hán ngữ của Ta lẫn Tàu phân định rơ rệt sự khác biệt giữa Nam Quan Môn hay cửa khẩu phía Nam Trung Hoa và Ải hay vùng hiểm thế của Việt Nam cạnh Nam Quan Môn. Do đó tôi xin xác nhận lại câu trả lời trước đây là Ải Nam Quan của Việt Nam và Nam Quan Môn của Trung Hoa. Tựu trung sự tranh luận v́ ḷng yêu nước của nhiều học giả trước đây chỉ xoay quanh sự lẫn lộn giữa từ ngữ Hán văn tương tự như ngày xưa khi các bậc đi trước đă bàn thảo sôi nổi là Kiều thương nhớ ai khi ngắm trời về đêm thấy ‘’Nửa vần trăng khuyết, ba sao giữa trời’’ cho đến khi vỡ lẽ là câu văn đó diễn tả những nét Hán ngữ của chữ Tâm (Thúc Kỳ Tâm là tên của Thúc Sinh). Và khi biết được Ải Nam Quan là của Việt Nam, chúng ta mới thấy sự hèn hạ tồi bại của đảng cộng sản Việt Nam khi dâng ít nhất 100m bề ngang của vùng đất thiêng liêng này cho Trung Hoa để được Bắc Kinh bảo bọc. Thứ Trưởng ngoại giao cộng sản Việt Nam Lê công Phụng tiết lộ rằng đảng cộng sản Việt Nam đă cắm cột mốc số không cách cửa khẩu Trung Hoa ‘’trên 200m’’ tức là chúng ta mất trên 100m đất bề ngang bởi v́ theo hiệp ước Thiên Tân và công ước 1887 giữa Pháp với triều Thanh th́ cột mốc biên giới Việt Nam ở đây (số 18 có tên là Nam Quan) chỉ cách Cửa khẩu Trung Hoa đúng 100m (à 100m au S de la porte). Đảng cộng sản Việt Nam dâng đất cho Trung Quốc nhưng lại nhẫn tâm cướp đoạt  ruộng vườn của nông dân và cơ sở tôn giáo của nhân dân trong nước. Đồng bào nhiều nơi đă lên tiếng phản đối và sớm muộn ǵ quân đội và nhân dân cũng sẽ lên tiếng bảo vệ quyền lợi của nhân dân chống lại thiểu số đảng viên cầm quyền bán nước cầu vinh.  T́nh h́nh sôi động gần đây trong nhân dân cũng như quân đội cho thấy đồng bào không ngồi yên để cho đảng cộng sản Việt Nam măi quốc cho Trung Hoa nhằm thủ lợi và có lẽ cũng v́ thế cho nên đảng chưa dám bắt Quốc Hội thông qua ‘’hiệp định phân định lănh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa’’ bởi v́ bộ mằt phản quốc hèn hạ của đảng cộng sản Việt Nam lộ nguyên h́nh trong hiệp định về lănh hải này với sự dâng hiến cho Bắc Kinh trên 10 ngàn cây số vuông mặt biển.

Đồng bào ở hải ngoại có lẽ không tường tận về việc đảng cộng sản Việt Nam đă chuẩn bị tư tưởng trong nước vài năm trước đây cho kế hoạch phản quốc hiện nay qua nỗ lực cưỡng hiếp lịch sử. Sau khi thay đổi hiến pháp vào năm 1992 để xóa tên kẻ thù là ‘’bá quyền Trung Quốc’’ và nhằm chuẩn bị cho việc bán nước, các kiện tướng sử gia được đảng ra lệnh phán xét lại sử liệu để cầu thân với Tàu. Giáo sư sử học Trường đại học tổng hợp Hà Nội Phan huy Lê khai bút trong phần giới thiệu Đại Việt Sử Kư Toàn Thư do nhà xuất bản văn hóa thông tin ở Hà Nội phát hành vào năm 2000 bằng cách phê b́nh là Sử Gia Đại Việt Sử Kư Toàn Thư đă sai lầm khi xem Triệu Đà và nước Nam Việt bao gồm Bắc Phần và Bắc Trung Phần, Quảng Đông và Quảng Tây như một triều đại chính thống của Việt Nam. Ngoài Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, Việt Sử Thông Luận của Lê Tung cũng xác nhận sự chính thống và biên cương của Nam Việt bao gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây (Lưỡng Quảng) với ước mơ chinh phục lại vùng đất đó của Vua Quang Trung, tuy vậy, Phan huy Lê vẫn phủ nhận việc này trong chiều hướng Việt Nam chưa từng có chủ quyền ở Lưỡng Quảng vốn đang nằm trong tay Trung Quốc.

Trong khi đó trung tâm nghiên cứu Hán-Nôm của Viện khoa học xă hội dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản Việt Nam đă tổ chức một hội nghị về Nhà Mạc vào năm 2000 để rửa ba trọng tội ‘’cướp ngôi, dâng đất, đầu hàng giặc’’ mà lịch sử Việt Nam khắc ghi khinh tởm.  Mục đích của hội nghị này là để chuẩn bị tư tưởng trong nước trước khi đảng chính thức dâng nhượng biên thổ lănh hải cho Trung Quốc như họ Mạc đă làm cách đây gần 500 năm. Đảng cộng sản Việt Nam lo sợ nhân dân và quân đội phản kháng hành động măi quốc cầu vinh cho nên cố gắng một cách tuyệt vọng để chạy tội quá khứ của Mạc Đăng Dung và từ đó rửa đại tội bán nước hiện nay của đảng. Trong hội nghị này Giáo sư Trần Khuê đưa ng̣i viết đi quá xa với bút pháp tưởng chừng chặt chẽ trong nhăn quan của độc giả kém hiểu biết nhưng thực sự chứa đựng đầy mâu thuẫn lịch sử như lối lư luận đồng hóa chính sách ngoại giao uyển chuyển của Hoàng Đế Quang Trung sau chiến thắng Đống Đa với hành động đê hèn măi quốc cầu vinh của Mạc Đăng Dung để kết luận ‘’tôi có thể khẳng định Nhà Mạc không hề mắc tội bán nước’’ (Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, nhà xuất bản Đà Nẵng 2000, trang 44). Làm sao một Sử gia khách quan có thể đồng hóa chính sách đối ngoại ḥa b́nh trong uy thế oai hùng song song với thái độ khinh thường Nhà Thanh của Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ với hành động đốn mạt mang gông cùm, mặc đồ tù nhân để dâng đất cho Bắc Kinh của họ Mạc.

Từ hội nghị rửa tội cho Mạc Đăng Dung này, đảng cộng sản Việt Nam ngụy luận nhập nhoạng rằng Đại Sĩ Phu Nguyễn Bỉnh Khiêm mà c̣n phục vụ Mạc Đăng Dung th́ thành phần trí thức cũng như nhân dân, quân đội các cấp hôm nay không nên chống lại đảng khi đảng bán nước cho Trung Quốc để được Bắc Kinh bảo bọc họ Mạc như ngày xưa. May mắn thay cho tiền đồ dân tộc là nhân dân và quân đội hôm nay không dễ bị đảng lừa cho nên chúng ta mới thấy phong trào phản đối cộng sản Việt Nam măi quốc cầu vinh bùng nổ khắp nơi. Đặc biệt hơn là chính những người vốn từng bào chữa cho Mạc Đăng Dung trước đây như Giáo sư Trần Khuê đă nhận thấy bị đảng cộng sản Việt Nam gian lận tri thức cho nên nhanh chóng lên tiếng phê b́nh hành động bán nước của đảng. Họ đă bị đảng đàn áp nhưng nhờ nỗ lực hành động can thiệp của Diễn Đàn Dân Chủ và các tổ chức khác mà đảng chưa dám ra tay thủ tiêu họ.

Đảng cộng sản Việt Nam đă chuẩn bị bán nước của nhân dân cho Trung Cộng một cách chu đáo như kể trên và ban đầu tưởng chừng như có thể trốn tránh được vết nhơ trọng tội măi quốc qua xảo thủ cưỡng ép tư tưởng và giấu giếm thông tin. May mắn là dân tộc có được Cộng Đồng kiều bào hải ngoại với phương tiện truyền thông đại chúng đă phá thủng lưới chắn thông tin và kết hợp với nhân tố trong nước nhằm lên tiếng phản đối hành động măi quốc cầu vinh ô nhục của đảng cộng sản Việt Nam. Chính sự phản đối toàn thế giới của người Việt hải ngoại bắt buộc đảng phải ra lệnh cho Thứ Trưởng ngoại giao Lê công Phụng lên tiếng trên Internet (chứ không phải trên mặt báo chí trong nước) về vấn đề này. Tôi thực sự cảm ơn Lê công Phụng v́ đă bật mí khá nhiều chi tiết về trọng tội bán nước cũng như bề sâu ngu dốt về lịch sử và công pháp quốc tế của nhóm cầm quyền đảng cộng sản Việt Nam. Theo Phụng ‘’cái quan trọng nhất’’ của cuộc đàm phán lănh hải và lănh thổ Việt-Hoa ‘’là xác định mục tiêu của đảng, của chính phủ’’ để ‘’bám sát mục tiêu’’ chứ không phải để bảo vệ quyền lợi của nhân dân và đất đai của Tổ Tiên. Do đó v́ quyền lợi tồn vong thực tiễn, đảng cộng sản Việt Nam đă không ngần ngại dâng hơn 100 thước đất bề ngang ở Ải Nam Quan cũng như một nửa thác Bản Giốc vốn nằm cách biên giới ít nhất 5 cây số theo bản đồ Cao Bằng trong thời Pháp thuộc và trên 10 ngàn cây số vuông của Vịnh Bắc Bộ cho Trung Cộng theo lời thố lộ của Lê công Phụng. Khi bàn về biên giới th́ đảng ra vẻ hiểu biết về hiệp ước Thiên Tân giữa Pháp và Trung Hoa nhưng khi nói đến lănh hải th́ đảng lư luận rằng hiệp ước này thiếu chính xác và viện dẫn Công Ước Quốc Tế về Luật Biển năm 1982 để nhường thêm cho Bắc Kinh 9% diện tích Vịnh Bắc Bộ nơi có nhiều tiềm năng dầu hỏa và khí đốt.  

Chiều sâu ngu dốt vô giới hạn của nhóm cầm quyền đảng cộng sản Việt Nam lộ rơ qua lời phát biểu của Lê công Phụng khi ông này phân tích ‘’từ trước tới nay chưa có đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc’’‘’đường quản lư hành chính’’ giữa Pháp và Nhà Thanh ‘’không xem (như một cơ sở) bởi lẽ nó hoàn toàn không phù hợp với Luật Pháp Quốc Tế, tức là Công Ước Quốc Tế về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982’’.  Rơ ràng là đảng cộng sản Việt Nam không hiểu rơ hiệp ước Thiên Tân, Công ước 1887 giữa Pháp và Nhà Thanh cùng Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 1982 mà dám công khai dùng các tài liệu này để ngụy biện cho hành động đê hèn dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng.

Công ước 1887 giữa Pháp va Nhà Thanh xác định rơ ràng biên giới trên Vịnh Bắc Bộ như sau:

 ‘‘Au Kouang-Tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l'est et au nord-est de Monkai, au-delà de la frontière telle qu'elle a été fixée par la Commission de delimitation, sont attribués à la Chine. Les iles qui sont à l'est du meridien de Paris 105 degré 43' de longitude est, c'est-à-dire de la ligne nord-sud passant par la pointe orientale de l'ile de Tch'a Kou ou Puanchan (Tra-co) et formant la frontière, sont également attribuées à la Chine. Les iles Go-tho et les autres iles qui sont à l'ouest de ce meridien appartiennent à l'Annam.’’

Đường quản lư hành chánh được mô tả kỹ lưỡng và được xác định là lập thành biên giới (formant la frontière) trên Công Ước 1887 do Pháp và Trung Hoa kư kết vậy mà đảng cộng sản Việt Nam qua Lê công Phụng tuyên bố rằng ‘’từ trước tới nay chưa có đường biên giới trên Vịnh Bắc Bộ  giữa Việt Nam và Trung Quốc’’.

Thực sự  đảng cộng sản Việt Nam cũng không ngu dốt đến như vậy bởi v́ vào tháng 8.1974 khi Bắc Kinh đ̣i phân chia Vịnh Bắc Bộ, Hà Nội dưới ô dù bảo vệ của Mạc Tư Khoa đă thẳng thừng khước từ với lư luận là đường biên giới trong Vịnh đă được Pháp và Thanh triều quy định rơ ràng từ xưa. Nhưng hiện nay v́ cần phải tiếp tục đàn áp nhân dân và quân đội trước tiến tŕnh dân chủ hóa đất nước cho nên đảng cộng sản Việt Nam phải ca ngợi hành động bán nước của Mạc Đăng Dung và quên đi đường biên giới trong Vịnh Bắc Bộ được ghi trên Công ước 1887 để dâng đất nhượng biển cầu thân với Bắc Kinh.

Đảng cộng sản Việt Nam cũng cố gắng lạm dụng Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 1982 để chạy tội măi quốc cầu vinh. Nhưng nhóm lănh đạo đảng càng chứng tỏ sự đần độn ầu trĩ khi viện dẫn Công ước phức tạp này cùng ‘’điều kiện tự nhiên của Vịnh Bắc Bộ và quan trọng nhất là địa lư về phía Việt Nam và về phía Trung Quốc và nguồn lợi trong Vịnh’’ (lời của Lê công Phụng) để nhường cho Bắc Kinh một vùng biển trên 10 ngàn cây số vuông nơi có hầu hết toàn bộ tiềm năng dầu hỏa và khí đốt trong Vịnh. Quyền lợi của nhân dân Việt Nam song song với biển trời bao la của Tổ Tiên trong Vịnh Bắc Bộ bị mất trắng nhưng đảng cộng sản Việt Nam vẫn ngụy biện cho hành động bán nước này như đă cố gắng đánh bóng Mạc Đăng Dung là thực  tiễn và phù hợp với luật quốc tế. Nhóm lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam măi quốc hoặc là không biết hay cố t́nh che dấu một yếu tố quan trọng trong Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 1982 được dùng để phân định ranh giới lănh hải, mật độ dân chúng trong vùng tranh chấp. Nếu chỉ dựa riêng vào yếu tố thực tế quan trọng này, Việt Nam vẫn xác định được chủ quyền hầu hết Vịnh Bắc Bộ bởi v́ mật độ dân chúng của Việt Nam tiếp cận Vịnh Bắc Bộ vượt trội hơn Trung Cộng khá xa.

Đảng cộng sản Việt Nam đă lộ nguyên h́nh một lũ bán nước cầu vinh đang cố ngụy biện một cách tuyệt vọng nhằm chống đỡ tiến tŕnh dân chủ hóa đất nước. Nhân dân ba miền và quân đội các cấp đang truy sách đảng về hành động măi quốc cầu thân Bắc Kinh. Tôi hy vọng đồng bào hải ngoại tiếp tục trợ lực dân tộc vốn đang gặp nguy cơ bị lịch sử bỏ rơi v́ đảng cộng sản Việt Nam đàn áp bắt phải đi ngược lại với trào lưu phát triển của nhân loại trong ṿng một phần tư thế kỷ vừa qua. Sự hy sinh trong chính tâm vị quốc bất vụ lợi của những nhân tố dân chủ trong và ngoài nước hiện nay sẽ góp phần rửa sạch vết nhơ lịch sử lần thứ hai do đảng cộng sản Việt Nam tạo ra làm hoen ố trào lưu sinh tồn của dân tộc.

Ngôn bất tận ư cho nên tôi xin dừng bút ở đây. Tôi kính xin gởi lời chúc tốt lành đến tất cả Quư Anh chị em đang vận động dân chủ cho đất nước và xin cầu chúc cho hội luận của các bạn về án trạng đảng cộng sản Việt Nam măi quốc cầu vinh được thành công mỹ măn.

Thành Kính

          Nông Bản Nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÙNG VƯƠNG DỰNG NƯỚC, CỘNG SẢN BÁN NƯỚC

ĐÂU LÀ CON ĐƯỜNG CỦA CHÚNG TA ?

Chu Vũ Ánh

I. Hùng vương dựng nước, cộng sản bán nước

Kính thưa đồng bào,

            Cách đây hơn một tháng, ngày 10 tháng 3 Âm Lịch, chúng ta làm lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, để tưởng nhớ tới công đức dựng nước của Tiền Nhân. Buổi Hội luận hôm nay, ‘’Hội luận Quốc Nạn, đảng cộng sản dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng ‘’, buổi hội luận nói lên tinh thần Quốc Gia, Dân Tộc, tố cáo hành động bán nước, cầu vinh của cộng sản Việt Nam.

            Nhớ Tổ Hùng Vương, là dịp để chúng ta tưởng nhớ tới những Vĩ Nhân sáng nghiệp. Chiến Sĩ Anh Hùng, những Liệt Sĩ Cách Mạng đă dựng nên nước Việt từ Ải Nam Quan tới mũi Cà Mau. Nhớ Vua Hùng, nói đến tinh thần Quốc Gia, Dân Tộc có nghĩa là căm giận những phường buôn dân, bán nước, là tố cáo mạnh mẽ hành động của đảng cộng sản Việt Nam dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng.

            Trải qua 5.000 năm lịch sử, trong đó có 1.000 năm Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc,  Dân Tộc ta vẫn tiếp tục tranh đấu kiên cường để tồn tại, đứng vững cho tới ngày hôm nay: Từ lúc Vua Hùng dựng nước, qua những cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu cho tới khi Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán, giành độc lập, ư thức Quốc Gia Dân Tộc đă giúp chúng ta chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc và xây dựng một nước Việt Độc Lập Tự Chủ, tiếp nối qua những Triều Đại Đinh, Lê, Lư, Trần, Nguyễn. Dân Việt không ngừng bảo vệ và bồi đắp giang sơn gấm vóc. Nhưng giận thay, ngày nay bọn cộng sản Việt Nam lại dâng đất, nhượng biển cho ngoại bang.

            Xưa Kiều Công Tiễn lợi dụng lúc đất nước mới thành lập, phải trái chưa minh, kỷ cương chưa vững, ḷng người chưa định, t́n cách giết Vua, bán nước. Lê Chiêu Thống xem ngôi báu hơn quyền lợi Quốc Gia Dân Tộc, quỵ lụy Bắc phương, dẫn quân ngoại bang về giày xéo Quê Hương.

            Ngày nay, cộng sản cố t́nh đánh lận con đen, bôi nhọ sự thật, xuyên tạc lịch sử, làm cho ḷng người ly tán, trật tự đảo điên, thậm chí chúng c̣n đặt quyền lợi của cá nhân, đảng phái trên quyền lợi Quốc Gia Dân Tộc, để bám víu vào quyền hành, chúng đă không ngần ngại dâng đất,  nhượng biển cho Trung Cộng. Ngày xưa Vua Hùng dựng nước, ngày nay cộng sản bán nước.

Nhưng gịng lịch sử Việt không ngừng ở đây. Tập đoàn cộng sản Việt Nam sẽ bị chung số phận như những kẻ đă từng phản bội nhân dân, bán nước cầu vinh. Đó là số phận của Lê Chiêu Thống của Mạc Đăng Dung.

            Ngày xưa Ngô Quyền, Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ đă thay mặt cho uy quyền Quốc Gia Dân Tộc trừng trị nghiêm ngặt những kẻ nội thù và dạy những bài học đích đáng cho kẻ ngoại xâm.

            Ngày nay dân tộc Việt không thể yếu hèn đều cho tập đoàn cộng sản Việt Nam hại dân, bán nước, tiếp tục ngồi trên cổ nhân dân và tiếp tục gây tai họa cho đất nước.

            Nước Việt không thể tiếp tục nằm trong bóng đêm của cộng sản. Nước Việt phải là Lạc Việt của Hồng Bàng, là Đại Cồ Việt của Vạn Thắng Vương, là Đại Việt Anh Dũng của Đinh, Lê, Lư, Trần.

            Bởi lẽ đó, tin tưởng vào tinh thần kiên cường, bất khuất của giống ṇi, tin tưởng vào lịch sử của một dân tộc đă hội đủ điều kiện tự chủ và tự cường gần năm ngàn năm, chẳng v́ một nghịch cảnh nhất thời, mà mất hết lẽ sống và sức sống, dân Việt nhất quyết dẹp thù trong chống giặc ngoài, nhất quyết lật đổ chế độ cộng sản, để giành quyền bảo toàn lănh thổ và lănh hải. Đó là việc mà Lư Thường Kiệt, Nguyễn Huệ đă làm. Không lẽ chúng ta, con dân đất Việt, từ hải ngoại đến quốc nội, lại hững hờ, lặng lẽ ngồi nh́n bọn cộng sản Việt Nam, đang quỵ lụy trước ngoại bang, bán dần, bán ṃn quê hương xứ sở yêu dấu của chúng ta để dễ bề tham quyền cố vị.  

            Ngày xưa Trần Hưng Đạo đă chứng minh hùng hồn, nếu quân dân đồng ḷng th́ có thể chiến thắng cả kẻ thù hung bạo như đế quốc Mông Cổ và có thể bảo toàn bờ cơi. Ngày nay,  chúng ta trong và ngoài nước, dân và quân đoàn kết, sẽ có thể khai trừ đảng cộng sản bán nước cầu vinh, sẽ lấy lại sự vẹn toàn lănh thổ, lănh hải cùng ấm no hạnh phúc cho toàn dân.

            Kính thưa quư đồng bào,

            Chúng ta hăy mạnh mẽ tố cáo hành động bán nước của chính quyền cộng sản Việt Nam và chính sách thâm độc của Trung Cộng, Trung Cộng luôn dùng áp lực quân sự, chính trị và kinh tế để bắt ép Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng, Lê khả Phiêu, Trần đức Lương, Nông đức Mạnh phải nhường đất và hải phận cho Trung Hoa qua các hiệp ước và quốc thư.

            Năm 1954 khi sửa chữa đường xe lửa Việt-Hoa, Trung Cộng đă chiếm một số lănh thổ Việt Nam.

            Năm 1958 Trung Cộng vẽ lại địa danh hải phận, bắt Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng và đảng cộng sản Việt Nam chấp nhận.

            Năm 1974 Trung Cộng dùng Hải Quân đánh chiếm Quần Đảo Hoàng Sa.

            Năm 1979 Trung Cộng đánh vào các Tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Khi chiến tranh chấm dứt, quân Trung Cộng vẫn ở lại một số địa điểm, không chịu rút quân về nước.

            Ngày nay qua hiệp ước hải phận, ‘’Hợp tác đánh cá’’, Trung Cộng muốn biến Vịnh Việt Nam thành một Hải Đảo của Trung Cộng, để mai này cả trăm, cả ngàn tàu đánh cá, hay tàu quân sự của Trung Cộng ngày đêm tràn ngập Vịnh Bắc Việt. Tại đất liền, Trung Cộng dùng chính sách gặm nhấm, nay chiếm Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, mai này chiếm Cao Bằng, Lạng Sơn, biến nước ta thành một Quận Lỵ của Trung Cộng như Tây Tạng, Tân Cương. Cộng thêm chính sách kinh tế, hàng Trung Cộng sẽ tràn ngập vào Việt Nam giết chết nền kinh tế phôi thai của Việt Nam.

            Chính sách xâm lấn đất đai của Trung Cộng làm mất an ninh không chỉ ở Việt Nam,  mà c̣n đe dọa toàn khu vực Á Châu, gần đây nhất Trung Cộng lại chiếm đất của nước Trung Á. Ngày nay Trung Cộng chiếm đất Việt Nam, ngày mai Trung Cộng sẽ chiếm đất Bắc Hàn,  Miến Điện, Lào, Cam Bốt.

Để chứng tỏ chính sách quan thầy của ḿnh, trong cuộc viếng thăm Việt Nam kỳ rồi Giang trạch Dân đă ra bờ biển Thuận Hải tắm, trên không th́ máy bay bay lượn, dưới biển th́ từng đoàn từng lũ, lănh tụ đảng cộng sản Việt Nam theo hầu, hành động này giống như Tô Định ngày xưa qua chiếm nước ta.

Kính thưa đồng bào,

Trước t́nh trạng này, mọi người trong chúng ta hăy viết thư cho đại diện những Cơ quan quốc tế, như Liên Hiệp Quốc, Ṭa Án Quốc Tế, hay kư vào những kháng thư có sẵn, soạn thảo bởi những tổ chức người Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ. V́ bất cứ một hiệp ước quốc tế nào liên quan đến vấn đề lănh thổ và lănh hải phải được bàn luận kỹ lưỡng, công khai, với sự thông báo cho dân và cho dư luận, trước khi được kư kết, ở những nước dân chủ, đôi khi c̣n phải được trưng cầu dân ư. Hai hiệp ước về lănh thổ và lănh hải được kư kết giữa chính quyền cộng sản Việt Nam và chính quyền Trung Cộng không theo đúng những tinh thần nêu trên. Hơn thế nữa, chính quyền cộng sản Việt Nam kư 2 hiệp ước trên với mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi của một tiểu số lănh đạo, đang bị dân Việt chống đối ở khắp nơi.

Việc viết kháng thư hay kư vào kháng thư c̣n có mục đích vận động dư luận toàn dân và thế giới về tính chất đi ngược lại ḷng dân, phản tự do, dân chủ của chính quyền cộng sản Việt Nam và đồng thời đặt những bước đầu căn bản cho một chính quyền hậu cộng sản mai sau có thể phủ nhận hai hiệp ước mà cộng sản Việt Nam kư kết với Trung Cộng. Nhớ Tổ Hùng Vương, tố cáo cộng sản Việt Nam bán nước chỉ là bước đầu để chúng ta giương cao Ngọn Cờ Chính Nghĩa, dựng lại Uy Quyền Quốc Gia, lật đổ chế độ cộng sản. Muốn lật đổ chế độ toàn trị cộng sản chúng ta cần t́m hiểu lại t́nh h́nh Việt Nam trong thời gian qua và định ra con đường tranh đầu tương lai cho chúng ta.

II. T́nh h́nh Việt Nam trong thời gian qua

Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam, cộng sản Việt Nam đă đi từ sai lầm này tới sai lầm khác, chiếm Cam Bốt, gây hấn với Trung Cộng, làm xụp nền kinh tế cả nước, đưa cả triệu người đi học tập cải tạo. Cộng sản Việt Nam không đủ khả năng xây dựng đất nước, nhưng đă tỏ ra đầy mánh khóe và xảo quyệt để chống đỡ, giải quyết những khó khăn, giải tỏa những chống đối từ phía nhân dân.

            Năm 1979, sau khi chiếm Cam Bốt, bị áp lực quốc tế, cùng lúc Trung Cộng gây chiến phía Bắc, trong nước nạn đói đe dọa, nhân dân bất măn, cộng sản Việt Nam đă hóa giải các khó khăn bằng cách cho cán bộ tổ chức vượt biên, trước lấy tiền và vàng cứu đảng và trả lương cho quân đội, sau giảm bớt chống đối về phía nhân dân.

            Năm 1986 bị đói đưa đến nguy cơ sụp đổ cả chế độ, cộng sản Việt Nam dùng chiêu bài mở cửa và cải cách theo Nga, trong nước bắt chước theo Trung Cộng khoán đất cho dân canh tác để thu thuế, do đó kinh tế cả nước tạm thoát cơn nguy.

            Đến năm 1990, Nga Sô và Đông Âu sụp đổ, cả bộ máy nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam rúng động, cộng sản Việt Nam vội vàng xiết chặt về chính trị, nhưng về kinh tế vẫn dùng chiêu bài cải cách và mở cửa để kêu gọi ngoại quốc đầu tư. Phong trào văn nghệ sĩ ‘’nói thật, nói thẳng’’ chưa khởi sắc đă bị cấm đoán, bịt miệng trở lại, ng̣i viết lại tiếp tục bẻ cong để đề cao và ca ngợi chế độ. V́ muốn có ưu tiên và giữ chỗ trước, nên các nguồn đầu tư nước ngoài bắt đầu đổ vào Việt Nam. Đồng thời các nước tân tiến cũng muốn dùng kinh tế để thay đổi chính trị ở Việt Nam, người Việt hải ngoại cũng đă tạm ổn định đời sống để có thể gởi tiền và thuốc men về giúp đỡ gia đ́nh và người thân, nên mỗi lần cộng sản Việt Nam gặp ngặt nghèo, th́ số tiền và số thuốc gửi về chính là thuốc hồi sinh cho cộng sản.

            Cộng sản Việt Nam một mặt cấu kết với ngoại nhân khai thác cạn nguồn tài nguyên,  mặt khác dung túng cán bộ, bè phái gia đ́nh mặc t́nh tham nhũng, hối lộ, vơ vét của dân và tài sản quốc gia. Tiền người Việt gởi về hôm trước tới người dân, th́ hôm sau đă lọt vào tay cán bộ, công an. Cải cách và cởi mở chỉ là một b́nh phong lừa gạt dân và che mắt ngoại quốc, c̣n sự thật th́ cửa quyền, tham ô mặc sức lộng hành. Kết quả cho thấy là phần đông công ty ngoại quốc đầu tư ở Việt Nam trong thời gian qua đều lỗ lă và nguồn đầu tư vào Việt Nam đă giảm xuống trông thấy. Ngược lại, đảng cộng sản Việt Nam có cơ may gần 3 triệu người Việt sống tại nước ngoài phần đông đă an cư lạc nghiệp, nhờ làm ăn cần cù, môi trường thích hợp, đầu óc học hỏi và sáng tạo đă có thể tương đối đứng vững chắc ở quốc gia tạm trú, mặc dầu biết gởi tiền về giúp gia đ́nh là gián tiếp nuôi sống đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam, nhưng v́ t́nh thân ruột thịt và nghĩa nặng quê hương, người Việt hải ngoại vẫn chắt chiu từng đồng gởi về nước. Hiện nay đảng cộng sản đă trở thành giàu có nhất nước, cán bộ phe đảng và gia đ́nh mặc t́nh ḅn rút và thao túng kinh tế cả nước.

            Với chủ trương cố hữu ‘’bất chấp mọi thủ đoạn và hậu quả, miễn sao đạt được mục tiêu’’, đảng cộng sản Việt Nam đă vượt qua nhiều nguy cơ có thể đưa đảng và chế độ sụp đổ.  Nhưng ngược lại, đảng cộng sản Việt Nam đă phạm nhiều lỗi lầm nghiêm trọng trước lịch sử và dân tộc. Từ thời Hồ chí Minh, cộng sản Việt Nam đă manh tâm bán đứng và thủ tiêu các Nhà ái quốc hay Lănh tụ tôn giáo như Cụ Phan Bội Châu, Tạ Thu Thâu, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ v.v...

            Năm 1958 Hồ chí Minh, Phạm văn Đồng chấp nhận nhượng hải phận cho Trung Cộng. Hậu quả là thế hệ cộng sản cầm quyền nối tiếp sẵn sàng nhượng đất, nhượng lănh hải để bám chặt vào chính quyền, buôn dân bán nước, không chút ngượng ngùng và tủi hổ. Đảng cộng sản Việt Nam đă đẩy đất nước vào chỗ tận cùng đen tối của lịch sử, đưa dân đến thảm trạng phân hóa trầm trọng, đưa xă hội đến chỗ tụt dốc không ḱm hăm, hối lộ khắp nơi, đĩ điếm, nghiện hút, chém giết, lừa đảo lan tràn, không phải chỉ là ngoài quần chúng, mà nhất là trong hàng ngũ, gia đ́nh cán bộ cao cấp.

            Một thiểu số lănh đạo tham quyền cố vị vẫn tiếp tục dùng mọi cách củng cố quyền lực, bất chấp mọi thủ đoạn gian ác, mọi phương tiện bỉ ổi phương hại tới dân, tới nước và lư thuyết Mác Lê hay cái gọi là ‘’tư tưởng’’ Hồ chí Minh chỉ được sử dụng như b́nh phong để che dấu những hành động sai trái của ḿnh. Một số cựu đảng viên, tướng lănh và trí thức, nh́n thấy cái sai trái của nhóm lănh đạo, đă lên tiếng phảng kháng, nhưng vẫn không dám nh́n thẳng vào sự thật, không hướng tầm nh́n về tương lai, mà vẫn hồi tưởng về quá khứ trong giai đoạn chiến tranh giải phóng, thời kỳ đảng và cán bộ chưa có cơ hội tham nhũng, tác oai tác quái, mặc t́nh lừa dối và phỉnh gạt nhân dân.

            Đa số đảng viên từ trung cấp tới cao cấp, các cán bộ phụ trách mọi ngành trong cơ quan nhà nước đều nhận thấy có ǵ bất ổn trong lư thuyết và đường lối của đảng, nhưng phần lớn đảng viên hạ tầng, lớp hy sinh nhiều v́ chủ nghĩa, v́ chiêu bài ái quốc, giành độc lập, lớp bị huyễn dụ từ thời niên thiếu đến lúc về già, khi đảng cộng sản bị rơi mặt nạ, hiện nguyên h́nh là bọn Mafia đỏ, sẵn sàng nhượng đất để giữ quyền, cầu vinh, theo chân ngoại quốc để t́m bổng lộc cho gia đ́nh và bè phái. Khi nhận biết th́ đă muộn. Họ không đủ can đảm và tự trọng để rút khỏi đảng, hơn nữa v́ miếng cơm manh áo của gia đ́nh và bản thân, họ vẫn phải tiếp tục phục vụ cho đảng và nhà nước, mặc dầu trong ḷng bất ổn, như cái bất ổn của một lư tưởng sai lầm.

Đại đa số nhân dân trong nước, sau cuộc chiến thương tàn hàng bao chục năm, mọi người đều chán ghét chiến tranh, mong đất nước thanh b́nh, yên ổn làm ăn, xây dựng lại quê hương. Họ nghĩ rằng chế độ nào cũng được, miễn là không c̣n chiến tranh, th́ đời sống sẽ dễ thở. Đến lúc đảng cộng sản trở mặt, nuốt những lời hứa ‘’ḥa giải, ḥa hợp’’, dẹp bỏ Mặt trận giải phóng miền nam, lưu đày hàng trăm ngàn Quân Cán Chính của chế độ Việt Nam Cộng Ḥa trong những trại ‘’học tập’’, đánh tư bản, mại sản, lùa dân đi ‘’kinh tế mới’’. Đến lúc này nhân dân cả nước mới thức tỉnh, nhưng đă quá muộn.

Thế hệ trung niên, kinh qua nhiều trận chiến, trở nên mệt mỏi, mất tinh thần đấu tranh,  một số có cơ hội t́m đường vượt biên ra nước ngoài. Thế hệ trẻ, trưởng thành trong chế độ cộng sản, từ lúc cắp sách đến trường, đă bị nhồi sọ thuyết Mác Lê, một học thuyết mà Trần văn Giàu, một trí thức cộng sản, cũng phải thú nhận ‘’thầy không muốn dạy, tṛ không muốn học’’, nhưng thày tṛ vẫn phải làm tṛn ‘’bổn phận’’với đảng và nhà nước. Trong nhà trường th́ gian lận, ra ngoài xă hội, nếu không mánh mung th́ thất nghiệp, hoặc không đủ sống. Song song nhà nước cộng sản phần th́ bất lực, phần khác th́ dung túng, để xă hội trở nên băng hoại, dễ bề đưa tuổi trẻ vào buông thả, ăn chơi, quên bổn phận với quốc gia dân tộc

Sau 1975, hàng triệu đồng bào từ Bắc chí Nam, đă từ bỏ chế độ, t́m đường vượt biên,  phần đông lúc ra đi đều hy vọng có ngày về phục hưng sứ sở. Ngày tháng trôi qua, ư chí ṃn mơi, ngoại trừ một số vẫn tiếp tục đấu tranh, chống lại chế độ trong nước. Nh́n chung từ quốc nội cho tới hải ngoại, kể cả thành phần đấu tranh hay có cảm t́nh với cộng sản trước năm 1975 và phần đông anh chị em lao động ở các quốc gia Đông Âu, đều có chung một ước muốn là được góp phần xây dựng, cải tiến xă hội, đưa đất nước thoát khỏi nghèo đói, bất công, nhưng đảng cộng sản Việt Nam vẫn ngoan cố, duy tŕ độc đoán, độc tài, độc đảng loại dân ra khỏi công cuộc xây dựng đất nước.

III Con đường của chúng ta

            Lịch sử dân tộc Việt của 5 ngàn năm dựng quốc và kiến quốc, đất nước chúng ta bị đô hộ cả ngàn năm, Tổ Tiên chúng ta ngoài việc dựng quốc, kiến quốc, c̣n phải lo chống ngoại xâm. Trong quá khứ, việc thay đổi triều đại, phần lớn là việc của cung đ́nh. Ngày hôm nay, để thay đổi chế độ, đi đến tự do, dân chủ, ngoài việc đối phó với áp lực quốc tế, chúng ta c̣n phải đối phó với đảng cộng sản Việt Nam, với chế độ cộng sản, một chế độ độc tài, dă man, quỷ quyệt và gian xảo hơn nhiều chế độ phong kiến, mưu mô và tàn ác hơn cả ngoại bang.

            Nhưng, đất nước tụt hậu, cộng đảng mặc t́nh thao túng, nhân dân ly tán, xă hội đồi trụy, trong đó có một phần trách nhiệm của chúng ta. Chúng ta phải chịu một phần nào trách nhiệm tùy theo vai tṛ và vị thế của mỗi người, ‘’Quốc Gia hưng vong, Thất phu hữu trách’’ Chúng ta nên tự đặt câu hỏi: ‘’Phải chăng đảng cộng sản lộng quyền, buôn dân bán nước, là v́ chúng ta, mọi thành phần xă hội, từ trí thức tới b́nh dân, đều thờ ơ thụ động, hay làm chưa hết bổn phận, hoặc thậm chí c̣n có kẻ nhắm nước đục thả câu, mưu cầu lợi riêng, trực tiếp hoặc gián tiếp giúp cộng sản khủng bố, đàn áp và xuyên tạc những phong trào đ̣i tự do dân chủ và tự do tôn giáo ở quốc nội cũng như ở hải ngoại’’. Sau hơn một phần tư thế kỷ từ ngày cộng sản áp đặt chế độ độc tài trên toàn đất nước, Cộng Đồng Người Việt hải ngoại trong công cuộc chống lại bạo quyền cũng đă đạt được một số kết quả, như tố cáo tội ác cũng như chính sách đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền, trước dư luận quốc tế, lật mặt nhiều tổ chức tay sai của cộng sản ở hải ngoại nhằm khuynh đảo Cộng Đồng Việt Nam v.v...Ngược lại, sau một thời gian dài hoạt động, nh́n chung, mặc dầu đă có một số thay đổi, nhưng các Tổ Chức người Việt vẫn hoạt động rời rạc, không có một kế hoạch thống nhất, thụ động và chỉ bùng lên khi bị cộng sản tấn công, nói cách khác đi là ở thế thủ chống đỡ hơn là thế công tiến đánh.

            Muốn chấm dứt chế độ cộng sản, chúng ta cũng như các Tổ Chức, Hội Đoàn cần phải thay đổi cách suy nghĩ, trước phải kiện toàn Tổ Chức, giành lại thế chủ động với cộng sản,  thống nhất hành động và thông tin thường xuyên với nhau, để trong trường hợp có thể thống nhất Tổ Chức hoặc làm việc chung trong thế Liên Hiệp. Được như thế, chúng ta mới nâng cao được chánh nghĩa trước Cộng Đồng Quốc Tế và nhân dân trong nước, mới có thể đi tới việc lật đổ bạo quyền trong tương lai.

            Với bọn chóp bu cộng sản, chúng ta kiên tŕ tấn công bằng mọi mặt, tố cáo trước công luận thế giới và đồng bào quốc nội, quốc ngoại về mọi hành vi phản dân hại nước, nhượng đất, bán quyền, học thói phường chèo, giả danh cải cách, đánh lừa dư luận.

            Với thành phần cựu đảng viên cộng sản, công an, quân đội, chúng ta cần sáng suốt vận động và minh chứng là chủ nghĩa cộng sản chỉ là chủ nghĩa không tưởng, mà trên thực tế nó đă được thực hiện bởi nhiều đảng cộng sản, trên nhiều quốc gia khác nhau, nhưng đều có một hậu quả chung là đă đưa đến một chế độ độc đoán, độc tài, toàn trị giống nhau, biến xă hội con người thành địa ngục trần gian, nơi đó con người nhân danh chủ thuyết, mặc t́nh dùng bạo lực để đàn áp, bóc lột, thủ tiêu, ngay đối với cả bà con cũng như đồng bào ruột thịt của ḿnh.

            Song song, chúng ta phải vận động khéo léo thành phần cán bộ trung cấp, phân tích rạch ṛi, phải trái, theo dơi khít khao và vạch ra sai lầm trong chính sách của đảng cộng sản,  lật tẩy những tṛ mỵ dân, lừa đảo, tước đoạt công lao, mồ hôi nước mắt của nhân dân.

            Tại học đường, chúng ta thường nghe nói ‘’Tuổi trẻ là rường cột của Quốc Gia trong tương lai’’ Đúng vậy, nhưng trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử, tuổi trẻ, ngoài việc học, c̣n phải chịu hy sinh. Tuổi trẻ có dấn thân, xă hội mới trở ḿnh. Tuổi trẻ có tài cán, can đảm, đất nước mới thăng hoa. Những người cùng lứa tuổi chúng ta, trên 50 trong cũng như ngoài nước, phần đông cũng đă có con em đến tuổi trưởng thành, chính chúng ta cũng đă trải qua thời gian dưới mái trường, đều hiểu rằng tuổi trẻ vô tư, hồn nhiên bất vụ lợi, nhưng sẽ phẫn nộ trước bất công, sẵn sàng hy sinh để phá bỏ mọi áp bức, nếu chúng nhận ra sự thật bị che đậy, lẽ phải bị xuyên tạc. Bởi lẽ đó, chúng ta nên bỏ nhiều thời giờ lưu ư đến tuổi trẻ, có những bài vở, cả tiếng Việt lẫn ngoại ngữ, khuyến khích tinh thần học hỏi, nghiên cứu sự thật về lịch sử, hiểu biết về thế giới bên ngoài. Thế hệ Nguyễn Thái Học, Nguyễn Thị Giang, Trương Tử Anh, Lư Đông A đă đóng góp nhiều cho tiền đồ của Dân Tộc. Đặc biệt đối với anh chị em lao động ở Đông Âu, cũng như thành phần du học sinh, nếu có dịp tiếp xúc, chúng ta cần ôn ḥa,  kiên nhẫn trao đổi ư kiến, chắc chắn chúng ta sẽ thu thập được nhiều mới lạ và hiểu thêm được tâm t́nh giới trẻ trong nước, đồng thời chúng ta cũng có cơ hội tŕnh bày tâm tư của chúng ta về quê hương dân tộc, bởi v́ sự thật luôn luôn là sự thật, dù được tŕnh bày dưới quan điểm nào chăng nữa. Tự do, dân chủ, nhân quyền là tiến tŕnh không thể đảo ngược lại được của loài người, có những giá trị phổ quát cho mọi người trên toàn cầu, mà không một bạo lực hay cường quyền nào có thể che đậy và bưng bít được.

            Như phần trên đă tŕnh bày, chúng ta những người Việt hải ngoại cũng cần điểm lại việc làm cũng như thành quả sau 27 năm vừa qua. Chúng ta phần đông không thích làm chuyện nhỏ, việc lớn th́ không chung sức để làm, nên kết quả chẳng được là bao. Nếu mỗi người trong chúng ta, sống tại các nước tự do, dân chủ có cơ hội về thăm nhà, đều đóng được vai tṛ Sứ giả của dân chủ, không cần phổ biến rộng răi, có hại đến bản thân, nhưng chúng ta có thể tŕnh bày sự việc một cách kín đáo với người thân, người tín cẩn. Số tiền người Việt gởi về nhà hàng năm lên tới 2,5 tỷ đô la, gần bằng 1/8 tổng sản lượng cả nước và chỉ lọt vào túi giới lănh đạo cao cấp cùng gia đ́nh cộng sản, không giúp phát triển đất nước.

            Trong khi nước Tây Ban Nha, sau khi thoát khỏi nạn độc tài, thay đổi chế độ, cải cách kinh tế, chỉ nhận sự giúp đỡ của Liên Hiệp Âu Châu bằng 1/10 tổng sản lượng quốc gia, thế mà trong thời gian qua đă đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao nhất Âu Châu.

            Gần đây, Liên Hiệp Quốc có khích lệ cộng sản Việt Nam về kết quả ‘’cứu đói, giảm nghèo’’. B́nh tâm suy nghĩ lại, chúng ta không khỏi bất b́nh, v́ thành quả cứu đói giảm nghèo, chính là công lao của người Việt hải ngoại, của những anh chị em lao động Đông Âu, đă gom từng đồng lương khốn khó gửi về cho gia đ́nh. Cộng sản lại một lần nữa cướp công của người khác. Chúng ta giúp gia đ́nh, nhưng vô t́nh giúp cộng sản. Người xưa thường khuyên: ‘’Ai nghèo nên giúp đỡ cần câu, chứ không nên cho cá.’’. Ngoại trừ những người già, ngoài tuổi lao động, c̣n lại, nếu chúng ta giải thích, th́ với số tiền giúp đỡ từ bên ngoài, người thân chúng ta có thể tạo dựng cơ sở làm ăn, ít th́ có thể cộng tác với những người khác, làm chung. Trước là gia đ́nh có phương tiện sinh sống, sau là tạo nhân tố cho một xă hội nhân sự độc lập, góp phần xây dựng cho xă hội dân chủ trong tương lai.

            Lịch sử cận đại cho chúng ta thấy là hai nước Nhật Bản và Tây Đức, hai Quốc Gia bại trận, mặc dầu cơ sở vật chất bị tàn phá, nhưng yếu tố con người, ư chí tiến thủ, độc lập vẫn được bảo toàn, với bàn tay cần cù, với tŕnh độ dân trí cao và nhất là với giới lănh đạo sáng suốt, hai Quốc Gia trên đă trở thành cường quốc thứ nh́, thứ ba trên thế giới.

            Nếu chúng ta có can đảm bắt đầu làm từ việc nhỏ, việc lớn bắt tay làm chung, chắc chắn sẽ có một ngày không xa, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, phong trào đấu tranh v́ tự do, dân chủ, nhân quyền sẽ lớn mạnh. Ngày đó sẽ không c̣n bạo quyền.

Bất cứ một chủ nghĩa nào cũng được đề xướng bởi một người, hay một số người, sau đó, nếu nó có hấp lực th́ được truyền bá và áp dụng bởi một tiểu số lúc ban đầu. Tiểu số này kết hợp thành tổ chức hay một đảng chính trị để tranh đấu và truyền bá cho chủ thuyết mà ḿnh tin tưởng. Khi chủ thuyết được áp dụng cho quảng đại quần chúng, có những cơ sở văn hóa, chính trị, kinh tế vừa làm nhiệm vụ giải thích, áp dụng, vừa biến đổi đời sống thường nhật của dân chúng, cho hợp với mô h́nh xă hội mà chủ thuyết đề ra. Nếu mô h́nh này thích hợp mang lại lợi ích, công bằng cho đa số, nó sẽ được đa số ủng hộ, sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển.

Theo Lê chí Quang, Nhà luật sư trẻ, can cường, đang bị cộng sản Việt Nam quản thúc: ‘’Thiên đường của chúng ta là Tự Do. Chúng ta sẽ đi theo con đường của chúng ta, dù phải gian khổ khó khăn, nhưng cuối cùng con đường của chúng ta nhất định tới đích. Đó là quy luật của cuộc sống này’’ Trên con đường đó, chúng ta cũng nên rút tỉa kinh nghiệm quá khứ, ngơ hầu quy tụ đông đảo sức phản kháng của dân, quốc nội cũng như hải ngoại, đi từ thế thủ sang thế công, để lật đổ bạo quyền dành lại Tự Do Dân Chủ cho toàn dân.

Chu Vũ Ánh

 

 

HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI VIỆT-HOA 1999

----------

Quốc Hội

Nghị quyết 36/2000/QH10 ngày 09.6.2000 về việc phê chuẩn hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa.

Quốc Hội nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

            Căn cứ vào điều 84 của hiến pháp nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992.

Theo đề nghị của Chủ Tịch nước.

Sau khi xem xét báo cáo của chính phủ, báo cáo của ủy ban đối ngoại của Quốc Hội và ư kiến của các đại biểu Quốc Hội về việc phê chuẩn hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam  và nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa.

QUYẾT NGHỊ

            1.- Phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa.

            2.- Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khẳng định quyết tâm cùng nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa xây dựng đường biên giới Việt Nam-Trung Quốc thành đường biên giới ḥa b́nh, ổn định và bền vững măi măi, góp phần giữ ǵn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, b́nh đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại ḥa b́nh.

            3.- Giao chính phủ chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền triển khai sớm các việc làm cần thiết để kư kết nghị định thư phân giới, cắm mốc và xác định bản đồ chi tiết, bố trí ngân sách thực hiện hiệp ước, sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành liên quan tới quản lư đường biên giới, địa giới hành chính, sớm ổn định đời sống của nhân dân ở khu vực biên giới, cùng các cơ quan có thẩm quyền liên quan của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa nghiêm chỉnh thực hiện hiệp ước và xử lư đúng đắn, kịp thời những vấn đề phát sinh.

            Chính phủ tiến hành thủ tục đối ngoại về phê chuẩn hiệp ước và thông báo, hướng dẫn các cơ quan hữu quan thi hành hiệp ước này.

            Nghị quyết này đă được Quốc Hội nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa 10, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 9 tháng 6 năm 2000.

Chủ Tịch Quốc Hội Nông đức Mạnh

***

Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa

Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (dưới đây gọi là ‘’hai bên kư kết’’).

            Nhằm giữ ǵn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

            Với ḷng mong muốn xây dựng đường biên giới ḥa b́nh, ổn định và bền vững măi măi giữa hai nước.

            Trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, b́nh đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại ḥa b́nh.

            Trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau và hiệp thương hữu nghị.

            Đă quyết định kư kết hiệp ước này và thỏa thuận các điều khoản sau:

            Điều I: Hai bên kư kết lấy các công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận cũng như các thoả thuận đạt được trong quá tŕnh đàm phán về vấn đề biên giới Việt-Trung,  đă giải quyết một cách công bằng, hợp lư vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.

            Điều II: Hai bên kư kết đồng ư hướng đi của đường biên giới trên đất liền giữa nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa được xác định từ Tây sang Đông như sau:

            Giới điểm số 1 ở điểm có độ cao 1875 của núi Khoan La San (Thập Tầng Đại Sơn),  điểm này cách điểm có độ cao 1439 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1691 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3,70 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm ở độ cao 1208 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2 km về phía Nam.

            Từ giới điểm số 1, đường biên giới theo đường phân thủy giữa các nhánh thượng lưu sông Nậm Mo Phí và sông Nậm Sa Ho đổ vào lănh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu sông Chỉnh Khang đổ vào lănh thổ Trung Quốc, hướng chung Bắc-Đông Bắc chuyển Đông,  qua các điểm có cao độ cao 1089, 1275, 1486 đến điểm có độ cao 1615, sau đó tiếp tục theo đường phân thủy kể trên, hướng chung là hướng Bắc chuyển Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1221 đến điểm có độ cao 1264, tiếp đó theo sống núi, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 1248, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Đông Bắc đến giới điểm số 2. Giới điểm này ở giữa sông Nậm Nạp (Tháp Nọa), cách điểm có độ cao 1369 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,70 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 1367 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,87 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1256 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Đông-Đông Nam.

            Từ giới điểm số 2, đường biên giới xuôi theo sông Nậm Nạp (Tháp Nọa), hướng Bắc chuyển Đông Bắc đến hợp lưu sông này với sông Tả Ló Phi Ma (Nam Mă), sau đó tiếp tục xuôi theo sông, hướng Bắc đến hợp lưu của nó với sông Đà (Lư Tiên), rồi xuôi sông Đà (Lư Tiên), hướng Đông đến hợp lưu sông này với sông Nậm Là (Tiểu Hắc), tiếp đó ngược sông Nậm Là (Tiểu Hắc) đến giới điểm số 3. Giới điểm này ở hợp lưu sông Nậm Là (Tiểu Hắc) với suối Nậm Na Phi, cách điểm ở độ cao 978 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,87 km về phía Tây-Tây Nam, cách điểm có độ cao 620 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,50 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1387 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 4,40 km về phía Đông-Đông Bắc.

            Từ giới điểm số 3, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng Tây Bắc đến điểm có độ cao 1933, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh thượng lưu các suối Là Pơ, Là Si, Á Hu, Nậm Sau, Nậm Khô Ma, Nậm Hà Xi, Nậm Hà Nê, Nậm X́ Lùng, Nậm Hạ,  Nậm Nghe, Nậm Dền Tháng, Nậm Pảng Đổ vào lănh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu các sông Zhe Dong, Ha Luo Luo Ba, Da Tou Luo Ba, Mo Wu Luo Ba, Na Bang, Ge Jie, Da Luo, Nam Bu, Giao Beng Bang, Giao Cai Ping, Nam Nan, Jin Thui đổ vào lănh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam rồi chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1690, 1975, 1902, 2121, 2254, 2316, 1831, 3074, 2635, 2199, 2133, 2002, 1800 đến điểm có độ cao 1519, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Đông đến chỏm núi không tên, rồi theo sống núi nhỏ,  hướng Đông đến giới điểm số 4. Giới điểm này ở giữa suối Nậm Lé (Cách Giới), cách điểm có độ cao 1451 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,05 km về phía Bắc-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 845 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,90 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1318 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,62 km về phía Tây Nam.

            Từ giới điểm số 4, đường biên giới xuôi theo suối Nậm Lé (Cách Giới), hướng chung Đông Bắc chuyển Tây Bắc đến hợp lưu suối này với sông Nậm Na, hướng Đông Nam chuyển Đông đến hợp lưu sông này với sông Nậm Cúm (Đằng Điều), rồi theo một khe nhỏ, hướng chung Đông Bắc đến đầu nguồn suối Phin Ho (Đằng Điều), rồi theo một khe nhỏ, hướng chung Đông-Đông Bắc đến giới điểm số 5. Giới điểm này ở điểm gặp nhau giữa khe kể trên với sống núi, cách điểm có độ cao 2283 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,62 km về phía Đông-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 2392 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,45 về phía Nam-Đông Nam, cách điểm có độ cao 2361 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Tây.

            Từ giới điểm số 5, đường biên giới theo sống núi, hướng Nam đến điểm có độ cao 2413, sau đó theo đường phân thủy giữa các suối Tả Pao Hồ, Thèn Thẻo Hồ, Oanh Hồ, Nậm Nùng, Nậm Lon trong lănh thổ Việt Nam và các sông San Cha, Tai Zang Zhai, Man Jiang,  Wu Tai, Shi Dong, Ping, Zhong Liang và Cha trong lănh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 2468, 3013, 2539, 2790 đến giới điểm số 6. Giới điểm này ở điểm có độ cao 2836, cách điểm có độ cao 2381 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 2531 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3,00 km về phía Đông-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 2510 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 3,05 km về phía Nam-Tây Nam.

            Từ giới điểm số 6, đường biên giới theo sống núi, hướng Tây Nam đến một điểm gần yên ngựa phía Đông Bắc điểm có độ cao 2546 trong lănh thổ Việt Nam, sau đó theo khe,  hướng Đông Nam đến đầu nguồn suối Lũng Pô (Hồng Nham), rồi xuôi theo suối Lũng Pô (Hồng Nham) và hạ lưu của nó, hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu suối này với sông Hồng với sông Nậm Thi (Nam Khê), tiếp đó ngược sông Nậm Thi (Nam Khê), hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu sông Nậm Thi (Nam Khê) với sông Bá Kết (Bá Cát), rồi ngược sông Bá Kết (Bát Tự), hướng chung là hướng Bắc đến hợp lưu sông này với một nhánh suối không tên, sau đó ngược nhánh suối không tên đó, hướng Bắc đến giới điểm số 7. Giới điểm này ở giữa nhánh suối không tên nói trên, cách điểm có độ cao 614 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,00 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 595 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 463 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Đông.

            Từ giới điểm số 7, đường biên giới rời suối, hướng Đông Bắc, đến điểm có độ cao 143, sau đó hướng Đông Bắc, cắt qua một khe rồi bắt vào sống núi, hướng Bắc, qua các điểm có độ cao 604, 710, 573, 620, 833, 939, 1201 đến điểm có độ cao 918, rồi theo hướng phân thủy giữa các nhánh sông trong lănh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lănh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1158, 1077, 997, 1407, 1399, 1370, 1344, 1281, 1371, 1423, 1599, 1528, 1552, 1372, 1523, 1303 đến điểm có độ cao 984, sau đó theo sống núi nhỏ,  hướng chung là hướng Nam đến giới điểm số 8. Giới điểm này ở hợp lưu sông Xanh (Qua Sách) với một nhánh phía Tây của nó, cách điểm có độ cao 1521 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3,85 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1346 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 3,82 km về phía Nam-Tây Nam, cách điểm  có độ cao 1596 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,27 km về phía Tây-Tây Bắc.

            Từ giới điểm số 8, đường biên giới xuôi sông Xanh (Qua Sách), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu sông này với sông Chảy, rồi ngược sông Chảy, hướng chung Đông Nam, đến giới điểm số 9. Giới điểm này ở hợp lưu sông Chảy với sông Xiao Bai, cách điểm có độ cao 1424 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,95 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 1031 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,00 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1076 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Nam.

            Từ giới điểm số 9, đường biên giới rời sông, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi,  hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 741 đến điểm có độ cao 1326, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh của sông Chảy đổ vào lănh thổ Việt Nam và các nhánh của sông Xiao Bai đổ vào lănh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1681, 1541, 1716, 2002, 1964, đỉnh núi không tên (Đại Nham Động) đến điểm có độ cao 1804, từ đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến điểm có độ cao 1623, sau đó theo đường phân thủy giữa suối Nàn Xỉn trong lănh thổ Việt Nam và sông Xiao Bai trong lănh thổ Trung Quốc, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1638 đến điểm có độ cao 1661, rồi theo khe, hướng Đông Bắc xuống giữa suối Hồ Pả, tiếp đó xuôi suối này đến hợp lưu suối này với một nhánh khác của nó, rồi rời suối bắt vào sống núi, rồi theo sống núi hướng Tây-Tây Bắc, qua điểm có độ cao 1259 đến giới điểm số 10. Giới điểm này ở một sống núi,  cách điểm có độ cao 1461 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,25 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1692 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,90 km về phía Đông,  cách điểm có độ cao 1393 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,10 km về phía Nam.

            Từ giới điểm số 10, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến điểm có độ cao 948, sau đó theo sống núi, hướng Đông Bắc chuyển Đông, qua điểm có độ cao 1060 đến giới điểm số 11. Giới điểm này ở hợp lưu suối Đỏ (Nam Bắc) với một nhánh suối phía Tây Nam của nó (Qua Giai), cách điểm có độ cao 841 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,70 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 982 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 906 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,15 km về phía Nam-Tây Nam.  

            Từ giới điểm số 11, đường biên giới xuôi suối Đỏ (Nam Bắc) đến hợp lưu suối này với suối Nậm Cư (Nam Giang), sau đó ngược suối Nậm Cư (Nam Giang) đến giới điểm số 12. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nậm Cư (Nam Giang) với một nhánh phía Tây Bắc của nó,  cách điểm có độ cao 1151 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,80 km về phía Bắc-Tây Bắc,  cách điểm có độ cao 986 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Đông Nam,  cách điểm có độ cao 858 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Tây.

            Từ giới điểm số 12, đường biên giới rời suối, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi,  hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 1071 đến điểm có độ cao 1732, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lănh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lănh thổ Trung Quốc, hướng chung là hướng Đông chuyển Bắc rồi Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1729,  2071, 1655, 1705, 1423 đến giới điểm số 13. Giới điểm này ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 993 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,55 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1044 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,15 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1060 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,70 km về phía Đông Nam.

            Từ giới điểm số 13, đường biên giới tiếp tục theo đường phân thủy nói trên, hướng Đông đến điểm cách điểm có độ cao 1422 khoảng 0,70 km về phía Tây Nam, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đi đến một điểm nằm trên đường phân thủy và cách điểm có độ cao 1422 khoảng 0,90 km về phía Bắc-Đông Bắc khu vực có diện tích 7700 m2 giữa đường đỏ nêu trên và đường phân thủy thuộc Trung Quốc, từ đây đường biên giới tiếp tục theo đường phân thủy nói trên, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 1397, 1219, 657, 663 đến một chỏm núi không tên phía Đông Nam điểm có độ cao này, sau đó theo khe, hướng Bắc đến suối Nà La, rồi xuôi theo suối này hướng Đông Bắc đến giới điểm số 14. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nà La với sông Lô (Pan Long), cách điểm có độ cao 922 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3,20 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 187 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Đông.

            Từ giới điểm số 14, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước qua điểm có độ cao 428 đến yên ngựa giữa điểm có độ cao 1169 trong lănh thổ Việt Nam và điểm có độ cao 1175 trong lănh thổ Trung Quốc, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc chuyển Tây Bắc, qua các điểm có độ cao 1095, 1115, 1022, 1019, 1094, 1182, 1192, 1307, 1305, 1379 đến điểm có độ cao 1397, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc, qua các điểm có độ cao 1497, 1906, 1825, 1952, 1967, 2122, 2038 đến giới điểm số 15. Giới điểm này ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 2289 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,70 km về phía Nam-Tây Nam.

            Từ giới điểm số 15, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua điểm có độ cao 2076, sau khi cắt qua một con suối đến một chỏm núi không tên, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước, qua các điểm có độ cao 1887, 1672 đến điểm có độ cao 1450, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Nam chuyển Đông rồi hướng Bắc chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1438, 1334, 716, 1077 đến giới điểm số 16. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1079 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2, 40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1026 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 3,25 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1521 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Tây-Tây Bắc.

            Từ giới điểm số 16, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Bắc, qua các điểm có độ cao 1578, 1503, 1493, 1342, 1296 đến điểm có độ cao 606, rồi theo sống núi nhỏ, hướng Bắc-Tây Bắc chuyển Đông Bắc đến giới điểm số 17. Giới điểm này ở giữa sông Miện (Babu), cách điểm có độ cao 654 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3,30 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1383 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 4,10 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 882 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,70 km về phía Nam-Đông Nam.

            Từ giới điểm số 17, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước,  hướng chung Đông-Đông Bắc, đến điểm có độ cao 799, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 998, 1096, 1029, 1092, 1251 đến điểm có độ cao 1132, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến điểm có độ cao 1628, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1647, 1596, 1687, 1799, 1761, 1796 đến giới điểm số 18. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1568, cách điểm có độ cao 1677 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1701 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,70 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1666 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,55 km về phía Tây Nam.

            Từ giới điểm số 18, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông-Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1771, 1756, 1707, 1500, 1683, 1771, 1651, 1545, 1928, 1718 đến điểm có độ cao 1576, sau đó theo hướng Tây Bắc vượt qua hai khe, qua điểm có độ cao 1397, rồi bắt vào sống núi, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Tây Bắc chuyển Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1748 đến điểm có độ cao 1743, sau đó tiếp tục theo sống núi,  hướng Đông chuyển Bắc-Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1806, 1650, 1468, 1516, 1344,  1408 đến một chỏm núi không tên phía Tây Bắc của điểm có độ cao này, rồi theo sống núi,  hướng Đông Bắc đến giới điểm số 19. Giới điểm này ở giữa sông Nho Quế (Pu Mei), cách điểm có độ cao 1477 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,60 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1464 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông-Đông Bắc,  cách điểm có độ cao 1337 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 19, đường biên giới xuôi sông Nho Quế (Pu Mei), hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam đến giới điểm số 20. Giới điểm này ở giữa sông Nho Quế (Pu Mei),  cách điểm có độ cao 1062 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1080 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 5,20 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1443 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,85 km về phía Nam.

            Từ giới điểm số 20, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Bắc đến điểm có độ cao 801, sau đó theo đường thẳng, hướng Đông Nam khoảng 2,4 km đến điểm có độ cao 1048, theo hướng Đông Nam cắt khe bắt vào sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1122, 1170, 1175 đến điểm có độ cao 1641,  sau đó theo sống núi, hướng Tây Bắc, cắt khe, rồi bắt vào sống núi hướng Bắc-Đông Bắc qua các điểm có độ cao 1651, 1538 đến giới điểm số 21. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1697, cách điểm có độ cao 1642 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,85 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1660 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 1650 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,40 km về phía Nam-Tây Nam.

Từ giới điểm số 21, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước,  hướng chung Đông Nam đến điểm có độ cao 1591, sau đó theo sống núi hướng Nam-Đông Nam qua các điểm có độ cao 1726, 1681, 1699 đến điểm có độ cao 1694, tiếp đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước, hướng Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1514, 1486 đến điểm có độ cao 1502, rồi theo sống núi, hướng Nam chuyển Đông Nam qua các điểm có độ cao 1420, 1373, 1365 đến một chỏm núi không tên phía Bắc-Tây Bắc điểm có độ cao 1383 trong lănh thổ Việt Nam, từ đó đường biên giới theo đường thẳng hướng Đông-Đông Bắc đến một chỏm núi nhỏ, sau đó lại theo đường thẳng tiếp tục theo hướng này đến giới điểm số 22. Giới điểm này ở giữa con sông không tên (Yan Dong), cách điểm có độ cao 1255 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,45 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1336 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 956 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,22 km về phía Tây-Tây Nam.

Từ giới điểm số 22, đường biên giới xuôi theo sông không tên nói trên (Yan Dong),  hướng Đông Bắc, sau đó rời sông, qua điểm có độ cao 888, bắt vào sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Nam-Tây Nam, qua điểm có độ cao 1091, một chỏm núi không tên phía Đông điểm có độ cao 1280 trong lănh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1288, 1282, 1320,  1212, 1218, 1098, 1408 đến điểm có độ cao 1403, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước, hướng chung là hướng Nam chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1423,  1378 đến điểm có độ cao 451, sau đó theo sống núi, hướng Đông đến giới điểm số 23. Giới điểm này ở giữa suối Cốc Pàng, cách điểm có độ cao 962 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3, 10 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 680 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2, 55 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 723 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1, 60 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 23, đường biên giới rời suối theo khe hướng Đông, rồi theo con đường mé Nam sống núi hoặc trên sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 914, 962, 901 đến điểm có độ cao 982, sau đó ngược sườn núi hướng Đông Bắc bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 819,  877 đến giới điểm số 24. Giới điểm này nằm ở một chỏm núi không tên, cách điểm có độ cao 783 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,53 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1418 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,15 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 779 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Đông Nam.

Từ giới điểm số 24, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước,  hướng Bắc-Tây Bắc chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1212, 1506, 1489, 1461 đến điểm có độ cao 921, sau đó theo hướng Đông-Đông Nam cắt suối Khui Giồng, rồi bắt vào sống núi, sau đó theo sống núi hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1265, 1191,  1301 đến giới điểm số 25. Giới điểm này ở giữa sông Gậm (Bai Nam), cách điểm có độ cao 798 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 755 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 936 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,45 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 25, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 908, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 1196, chỏm núi không tên ở phía Bắc-Tây Bắc điểm có độ cao 1377 trong lănh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1254, 1297, 1274, 1262, 994, 1149, chỏm núi không tên ở phía Đông điểm có độ cao 1302 trong lănh thổ Việt Nam, các điểm có độ cao 1013, 1165, 829 đến giới điểm số 26. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1028, cách điểm có độ cao 1272 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1, 65 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 893 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1, 35 km về phía Tây-Tây Bắc.

Từ giới điểm số 26, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước,  hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 662, rồi theo đường thẳng hướng Đông khoảng 0,5 km đến một chỏm núi không tên, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Bắc chuyển Đông-Đông Bắc, qua điểm có độ cao 934, 951 đến điểm có độ cao 834, tiếp đó là theo khe hướng Đông-Đông Bắc, cắt suối Na Thin, rồi theo sống núi qua điểm có độ cao 824 đến điểm có độ cao 1049, sau đó theo sống núi và khe, hướng Đông Nam, cắt một sống núi nhỏ,  rồi xuôi theo khe hướng Đông đến giới điểm số 27. Giới điểm này ở giữa suối Nà Ŕ, cách điểm có độ cao 772 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,65 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 848 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Đông Nam.

Từ giới điểm số 27, đường biên giới rời suối, ngược khe lên sống núi, hướng Đông-Đông Bắc đến điểm có độ cao 706, sau đó theo sống núi, hướng Bắc chuyển Đông-Đông Nam, qua các điểm có độ cao 807, 591, 513, 381 đến điểm có độ cao 371, sau đó theo sống núi, hướng Đông đến giữa suối Pai Ngăm (Ping Mèng), rồi ngược suối này về hướng Bắc khoảng 0,2 km, rời suối theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước, qua các điểm có độ cao 591, 722, 818, 706, 890 đến giới điểm số 28. Giới điểm này ở điểm có độ cao 917, cách điểm có độ cao 668 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,55 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 943 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,75 km về phía Nam-Đông Nam, cách điểm có độ cao 955 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,90 km về phía Đông-Đông Bắc.

Từ giới điểm số 28, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 790, 803, 601, 524, 934, chỏm núi không tên ở phía Nam điểm có độ cao 1025 trong lănh thổ Trung Quốc, các điểm có độ cao 871, 964 chỏm núi không tên phía Nam điểm có độ cao 855 trong lănh thổ Trung Quốc, các điểm có độ cao 978, 949 đến điểm có độ cao 829, sau đó theo sườn núi, hướng Đông đến giới điểm số 29. Giới điểm này ở điểm có độ cao 890, cách điểm có độ cao 1007 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,50 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1060 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1047 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,45 km về phía Tây Nam.  

Từ giới điểm số 29, đường biên giới theo sườn núi phía Nam điểm có độ cao 1073 trong lănh thổ Trung Quốc, hướng Đông đến điểm có độ cao 1077, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 1104, 1115, 1073, 942, 832, 1068, 1066, 1030, 1028, 982, 1021, 826, 911 đến giới điểm số 30. Giới điểm này ở một con đường nhỏ, cách điểm có độ cao 770 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Tây, cách điểm có độ cao 764 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,75 km về phía Bắc-Tây Bắc,  cách điểm có độ cao 888 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 30, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Bắc, cắt qua một suối không tên đến điểm có độ cao 715, rồi theo mé Nam và mé Đông một con đường của Trung Quốc, hướng Đông chuyển Bắc-Đông Bắc, cắt qua một con đường từ Việt Nam sang Trung Quốc, rồi theo dốc núi mé Tây Nam điểm có độ cao 903 trong lănh thổ Trung Quốc bắt vào sống núi, hướng Đông Nam đến giới điểm số 31. Giới điểm này có điểm có độ cao 670, cách điểm có độ cao 770 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 823 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,60 km về phía Bắc-Tây bắc, cách điểm có độ cao 976 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,80 km về phía Tây Nam

Từ giới điểm số 31, đường biên giới đi theo sống núi, hướng chung Đông Nam qua điểm có độ cao 955 đến điểm có độ cao 710, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước, qua điểm có độ cao 940 đến điểm có độ cao 780, rồi theo sống núi, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 780 đến điểm có độ cao 625, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông đến giới điểm số 32. Giới điểm này ở giữa sông Bắc Vọng (Ba Bang), cách điểm có độ cao 792 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,35 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 808 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,85 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 822 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Nam-Tây Nam.

Từ giới điểm số 32, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 890, 667, 906, 691, 854, 884, 701, 884, 783,  619, 856, 591, 907, 651, 580, 785, 925, 950 đến giới điểm số 33. Giới điểm này ở giữa sông Quây Sơn (Nam Tan), cách điểm có độ cao 922 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,65 km về phía Bắc-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 685 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 965 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Đông-Đông Nam.

Từ giới điểm số 33, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 612 đến điểm có độ cao 624, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua các điểm có độ cao 521, 725, 845, 825, 755, 726, 516, 735, 902, 764, 573, 993,  627 đến giới điểm số 34. Giới điểm này ở điểm có độ cao 505, cách điểm có độ cao 791 trong lănh thổ Việt Nam  khoảng 1,60 km về phía Bắc-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 632 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,80 km về phía Đông-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 655 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,65 km về phía Nam-Tây Nam.

Từ giới điểm số 34, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước qua điểm có độ cao 878 đến điểm có độ cao 850, sau đó theo sống núi hướng chung là Đông Nam chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 837, 758, 712, 492, 695, 449 đến điểm có độ cao 624,  rồi tiếp tục theo sống núi, hướng chung Đông-Đông Nam chuyển Tây Nam,  qua các điểm có độ cao 731, 737, 805, 866, 752, 605, 815 đến giới điểm số 35. Giới điểm này ở cách điểm có độ cao 709 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,90 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 782 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 794 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,45 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 35, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến giữa sông Quây Sơn, sau đó xuôi sông này, hướng chung Đông Nam đến giới điểm số 36.Giới điểm này ở giữa sông Quây Sơn, cách điểm có độ cao 660 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1, 20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 589 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Tây, cách điểm có độ cao 613 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,50 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 36, đường biên giới rời sông theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước qua các điểm có độ cao 597, 653, 560, 367, 629, 717, 685, 746 đến giới điểm số 37. Giới điểm này ở điểm có độ cao 620, cách điểm có độ cao 665 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1, 80 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 640 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về phía Tây-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 592 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,90 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm số 37, đường biên giới theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Tây-Tây Nam, qua điểm có độ cao 336 đến một chỏm núi không tên, sau đó theo sống núi, hướng Đông Nam đến một yên ngựa, rồi theo khe, hướng Tây Nam đến đầu một con suối không tên, sau đó xuôi theo suối đó, hướng Tây Nam rồi rời suối, theo hướng Tây Nam qua điểm có độ cao 348 đến một yên ngựa, tiếp đó theo hướng Tây qua một lũng nhỏ đến giới điểm số 38. Giới điểm này cách điểm có độ cao 723 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Đông-Đông Nam, cách điểm có độ cao 685 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,35 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 630 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,00 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 38, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 635, 656, cắt suối Luộc, qua điểm có độ cao 627 đến chỏm núi không tên ở phía Tây Bắc điểm có độ cao 723 trong lănh thổ Trung Quốc, sau đó hướng Nam-Đông Nam, qua điểm có độ cao 412 bắt vào sống núi, hướng chung là hướng Nam, qua các điểm có độ cao 727, 745, 664, 487, 615, 473, 586 đến giới điểm số 39.Giới điểm này ở giữa đường ṃn, cách điểm có độ cao 682 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,20 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 660 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 612 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,30 km về phía Tây-Tây Bắc.

Từ giới điểm số 39, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước qua điểm có độ cao 303 đến điểm có độ cao 558, sau đó theo sống núi, hướng chung là Tây Nam, qua các điểm có độ cao 591, 521 đến giữa một con suối không tên, rồi xuôi theo suối này,  hướng Tây Nam đến hợp lưu của nó với một con suối khác, tiếp đó rời suối bắt vào sống núi,  hướng chung Tây Bắc chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 602, 657, 698, 565 đến giới điểm số 40. Giới điểm này ở giữa sông Bắc Vọng (Ba Wang), cách điểm có độ cao 689 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3,05 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 529 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,06 km về phía Đông-Đông Nam, cách điểm có độ cao 512 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,95 km về phía Tây Bắc.

Từ giới điểm số 40, đường biên giới xuôi sông Bắc Vọng (Ba Wang), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu của nó với sông Bằng Giang, sau đó ngược sông Bằng Giang,  hướng chung Tây Bắc đến giới điểm số 41.Giới điểm này ở giữa sông Bằng Giang, cách điểm có độ cao 345 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,45 km về phía Đông-Đông Nam, cách điểm có độ cao 202 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,05 km về phía Nam-Tây Nam, cách điểm có độ cao 469 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,35 km về phía Bắc-Đông Bắc.

Từ giới điểm số 41, đường biên giới rời sông, hướng Tây đến điểm có độ cao 153, sau đó theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 332, 463, 404, 544,  303 đến điểm có độ cao 501, rồi tiếp tục theo sống núi, hướng Đông chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 255, 259 đến điểm có độ cao 472, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 600, 552, 550, 530, 323, 552, 550, 530, 323, 514 đến một chỏm núi không tên ở phía Đông Nam điểm có độ cao 597 trong lănh thổ Việt Nam, lại theo sống núi hướng Tây Nam, cắt khe, rồi theo sườn núi mé Đông Nam điểm có độ cao 658 trong lănh thổ Việt Nam, hướng chung là hướng Tây đến điểm có độ cao 628, từ đây đường biên giới theo sống núi hướng Nam, qua các điểm có độ cao 613, 559 đến một điểm ở sống núi, sau đó theo đường thẳng, hướng Đông Nam đến giới điểm số 42.Giới điểm này ở điểm có độ cao 417, cách điểm có độ cao 586 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 494 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Bắc-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 556 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,85 km về phía Nam-Tây Nam.

Từ giới điểm 42, đường biên giới theo hướng Đông Bắc đến một chỏm núi không tên, sau đó theo đường thẳng hướng Đông đến một chỏm núi không tên khác, từ đó đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 567, 506, 517,  534, 563 đến điểm có độ cao 542, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến điểm có độ cao 570, sau đó lại theo sống núi, hướng Đông Nam chuyển Nam, qua điểm có độ cao 704 đến giới điểm số 43.Giới điểm này ở giữa những con suối không tên, cách điểm có độ cao 565 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,80 km về phía Đông-Đông Nam, cách điểm có độ cao 583 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,10 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 561 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,87 km về phía Tây-Tây Nam.

Từ giới điểm số 43, đường biên giới xuôi theo suối không tên về hướng Đông Nam khoảng 0,5 km, sau đó rời suối này theo hướng Đông, cắt qua một sống núi nhỏ đến khe,  chuyển hướng Nam-Đông Nam xuống giữa con suối nói trên, tiếp đó xuôi theo suối này,  hướng Nam, đến hợp lưu của suối này với một nhánh suối khác, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước qua các điểm có độ cao 632, 637 đến giới điểm số 44. Giới điểm này ở giữa đường pḥng hỏa, cách điểm có độ cao 666 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0, 50 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 943 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,56 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 710 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,30 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 44, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước (trong đó đoạn nào theo đường pḥng hỏa th́ theo trung tuyến của đường pḥng hỏa) qua các điểm có độ cao 637, 383 đến điểm có độ cao 324, sau đó theo sống núi nhỏ, hướng Nam-Tây Nam đến giữa nhánh phía Tây suối Khuổi Lạn, cách điểm có độ cao 293 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,90 km về phía Đông-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 323 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,42 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 322 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,60 km về phía Tây-Tây Nam.

Từ giới điểm số 45, đường biên giới rời suối bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông-Đông Nam đến điểm có độ cao 245, sau đó theo đường thẳng, hướng Nam, đến giữa sông Kỳ Cùng (B́nh Nhi), tiếp đó ngược sông Kỳ Cùng (B́nh Nhi), hướng chung Tây Nam đến giới điểm số 46. Giới điểm này ở giữa sông Kỳ Cùng (B́nh Nhi), cách điểm có độ cao 185 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,55 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 293 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,22 km về phía Nam-Tây Nam, cách điểm có độ cao 270 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,45 km về phía Tây-Tây Bắc.

Từ giới điểm số 46, đường biên giới rời sông, hướng Nam, bắt vào sống núi đến điểm có độ cao 269,  sau đó theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Đông Nam, tiếp đó theo hướng Nam, qua các điểm có độ cao 303, 304, 321, 284 đến giới điểm số 47. Giới điểm này ở ngă ba suối, cách điểm có độ cao 329 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,85 km về phía Nam Đông Nam, cách điểm có độ cao 313 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,65 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 251 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,20 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 47, đường biên giới rời suối bắt vào sống núi nhỏ, hướng Đông Nam,  qua mé Tây Nam điểm có độ cao 255 trong lănh thổ Trung Quốc, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung là hướng Nam qua các điểm có độ cao 281, 357 đến điểm có độ cao 344, sau khi cắt một suối không tên, ngược dốc bắt vào sống núi, rồi theo sống núi qua điểm có độ cao 409, sau đó theo đường thẳng, hướng Nam đến điểm có độ cao 613, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến giới điểm số 48. Giới điểm này ở điểm có độ cao 718,  cách điểm có độ cao 658 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,44 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 832 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,50 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao  836 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,65 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 48, đường biên giới theo sống núi, hướng Đông Nam đến điểm có độ cao 852, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến điểm có độ cao 695, rồi lại theo sống núi, hướng Tây Nam chuyển Nam, qua các điểm có độ cao 702, 411, cắt một con đường, qua điểm có độ cao 581 đến giới điểm số 49. Giới điểm này ở điểm có độ cao 549, cách điểm có độ cao 436 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 511 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,45 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 557 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,40 km về phía Tây Nam.

Từ giới điểm 49, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước,  hướng chung là Nam-Đông Nam rời chuyểm Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 359, 364,  406 đến giới điểm số 50. Giới điểm này ở điểm có độ cao 610, cách điểm có độ cao 618 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây-Tây Nam, cách điểm có độ cao 395 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,90 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 730 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,80 km về phía Nam.

Từ giới điểm số 50, đường biên giới theo sống núi, hướng Bắc-Đông Bắc đến một chỏm núi không tên ở phía Tây điểm có độ cao 634 trong lănh thổ Việt Nam, sau đó theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước qua điểm có độ cao 758 đến điểm có độ cao 742,  rồi theo sống núi, hướng chung Đông-Đông Nam qua các điểm có độ cao 540, 497, 381 đến giới điểm số 51. Giới điểm này ở giữa suối Khuổi Đẩy, cách điểm có độ cao 388 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,60 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 411 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,75 km về phía Nam-Đông Nam.

Từ giới điểm số 51, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước qua các điểm có độ cao 451, 427 đến điểm có độ cao 475, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Đông, qua các điểm có độ cao 499, 506, 511, 475, 477, 483, 486 đến điểm có độ cao 438, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến giới điểm số 52. Giới điểm này ở điểm có độ cao 392, cách điểm có độ cao 389 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,10 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 356 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,65 km về phía Đông-Nam, cách điểm có độ cao 408 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,70 km về phía Nam-Tây Nam.

Từ giới điểm số 52, đường biên giới theo sống núi, hướng chung là hướng Đông chuyển Đông-Nam rồi Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 396, 402, 351, 361, 494, 476, 387, 432, 444, 389,  488, 480, 347 đến giới điểm số 53.Giới điểm này ở điểm có độ cao 248, cách điểm có độ cao 813 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,00 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 331 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,75 km về phía Nam-Tây Nam cách điểm có độ cao 328 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,05 km về phía Đông-Đông Nam.

Từ giới điểm 53, đường biên giới theo sống núi, hướng chung Đông Nam chuyển Tây Nam, qua các điểm có độ cao 401, 398, 409, 498, 509, 425, 456, 404, 475, 502, 721, 704, 939, 1282 đến điểm có độ cao 1358, sau đó tiếp tục theo sống núi, hướng Nam chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 851, 542 đến giới điểm số 54.Giới điểm này cách điểm có độ cao 632 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,70 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 473 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,40 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 545 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,50 km về hướng Nam.

Từ giới điểm số 54, đường biên giới theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước,  hướng chung Đông-Đông Nam, qua các điểm có độ cao 370, 344, 366, 337 đến điểm có độ cao 435, sau đó theo sống núi, hướng chung Đông-Nam, qua điểm có độ cao 401, 440, 351, 438, 470,  612, 640, 651, 534, 525 đến giới điểm số 55. Giới điểm này ở điểm có độ cao 523,  cách điểm có độ cao 551 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông Nam, cách điểm có độ cao 480 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 528 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,14 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 55, đường biên giới theo sống núi, hướng Đông-Đông Nam, qua các điểm có độ cao 506, 577, 670 đến điểm có độ cao 788, từ đó theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lănh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lănh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam, qua các điểm có độ cao 870, 825, 894, 855, 736, 706, 1029 đến giới điểm số 56. Giới điểm này ở điểm có độ cao 705, cách điểm có độ cao  863 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,80 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 861 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 1,00 km về phía Bắc-Đông Bắc, cách điểm có độ cao 913 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,20 km về phía Tây-Tây Nam.

Từ giới điểm số 56, đường biên giới theo đường phân thủy giữa các nhánh sông trong lănh thổ Việt Nam và các nhánh sông trong lănh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 652, 975, 875, 835, 1150, 1082 đến giới điểm số 57. Giới điểm này ở điểm có độ cao 882, cách điểm có độ cao 638 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 3,55 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 1265 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,95 km về phía Nam-Tây Nam, cách điểm có độ cao 1025 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,20 km về phía Tây-Tây Nam.

Từ giới điểm số 57, đường biên giới theo sống núi, hướng Tây Nam đến điểm tiếp nối với một khe, rồi theo khe, hướng Nam-Đông Nam, đến giữa suối Tài Vằn, sau đó xuôi suối này và hạ lưu của nó là suối Nà Sa đến giới điểm số 58. Giới điểm này ở hợp lưu suối Nà Sa với một nhánh sông nằm ở phía Đông, cách điểm có độ cao 423 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Đông, cánh điểm có độ cao 447 trong lănh thổ Việt Nam  khoảng 0, 75 km về phía Nam, cách điểm có độ cao 320 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,45 km về phía Tây.

Từ giới điểm số 58, đường biên giới ngược nhánh sông phía Đông nói trên đến ngă ba sông Đồng Mô, rồi ngược sông Đồng Mô, Bỉ Lao, Cao Lạn đến giới điểm số 59. Giới điểm này ở hợp lưu hai con suối Cao Lạn và Phai Lầu, cách điểm có độ cao 1052 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,10 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 1052 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,10 km về phía Bắc, cách điểm có độ cao 600 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,57 km về phía Đông, cách điểm có độ cao 602 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,00 km về phía Tây.

            Từ giới điểm số 59, đường biên giới ngược suối Cao Lạn hướng Đông Nam, sau đó rời suối đi theo đường thẳng hướng Đông-Đông Nam đến một chỏm núi không tên phía Bắc điểm có độ cao 960 trong lănh thổ Việt Nam, rồi theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm hiệp ước đến giới điểm số 60. Giới điểm này ở điểm có độ cao 1100, cách điểm có độ cao 1156 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,10 km về phía Bắc-Tây Bắc, cách điểm có độ cao 683 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 2,65 km về phía Tây Nam, cách điểm có độ cao 1094 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 0,95 km về phía Nam-Tây Nam.

            Từ giới điểm số 60, đường biên giới theo sống núi nhỏ hướng Đông Bắc, xuống khe,  rồi theo khe hướng chung là hướng Đông Bắc chuyển Đông-Đông Nam, đến một nhánh thượng lưu sông Ka Long, sau đó xuôi theo sông này, hướng Đông-Đông Bắc, đến giới điểm số 61. Giới điểm này ở hợp lưu sông Ka Long với một sông khác (Bắc Luân), cách điểm có độ cao 561 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 2,20 km về phía Đông Bắc, cách điểm có độ cao 117 trong lănh thổ Việt Nam khoảng 0,95 km về phía Tây Bắc, cách điểm có độ cao 224 trong lănh thổ Trung Quốc khoảng 1,60 km về phía Nam-Tây Nam.

            Từ giới điểm số 61, đường biên giới xuôi theo trung tuyến luồng chính tầu thuyền đi lại của sông Ka Long, Bắc Luân, đến điểm cuối của nó, bắt vào giới điểm số 62. Giới điểm này là điểm tiếp nối đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lănh hải của hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

            Các cồn, băi nằm hai bên đường đỏ của các đoạn biên giới theo sông suối trên bản đồ đính kèm hiệp ước đă được quy thuộc theo đường đỏ.

            Đường biên giới trên đất liền giữa hai nước mô tả ở điều này được vẽ bằng đường đỏ trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 do hai bên cùng xác định, độ dài và diện tích dùng trong mô tả đường biên giới được đo từ bản đồ này.Bộ bản đồ nói trên đính kèm hiệp ước này là bộ phận cấu thành không thể tách rời của hiệp ước.

Điều III: Hai bên kư kết đồng ư vị trí chính xác điểm gặp nhau của đường biên giới giữa ba nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa và Cộng Ḥa dân chủ nhân dân lào sẽ do ba nước thỏa thuận xác định.

Điều IV: Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc nói tại Điều II của hiệp ước này phân định vùng trời và ḷng đất giữa hai nước

Điều V: Hai bên kư kết đồng ư, trừ khi đă được hiệp ước này quy định rơ ràng,  đường biên giới Việt-Trung nói tại Điều II, đối với những đoạn lấy sông suối làm biên giới th́ ở những đoạn sông suối tầu thuyền không đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của ḍng chảy hoặc của ḍng chảy chính, ở giữa những đoạn sông suối tầu thuyền đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của luồng chính tầu thuyền đi lại.Vị trí chính xác trung tuyến của ḍng chảy, của ḍng chảy chính hoặc của trung tuyến luồng chính tầu thuyền đi lại và sự quy thuộc của các cồn, bải trên sông suối biên giới sẽ được hai bên kư kết xác định cụ thể khi phân giới, cắm mốc.

Tiêu chuẩn chính để xác định ḍng chảy chính là lưu lượng ḍng chảy ở mực nước trung b́nh.Tiêu chuẩn chính để xác định luồng chính tầu thuyền đi lại là độ sâu của luồng tầu thuyền đi lại, kết hợp với chiều rộng và bán kính độ cong của luồng tầu thuyền đi lại để xem xét tổng hợp.Trung tuyến của luồng chính tầu thuyền đi lại là trung tuyến mặt nước giữa hai đường đẳng sâu tương ứng đánh dấu luồng chính tầu thuyền đi lại.

Bất kỳ sự thay đổi nào có thể xảy ra đối với sông suối biên giới đều không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới Việt-Trung đă được xác định trên thực địa cũng như sự quy thuộc của các cồn, băi, trừ khi hai bên kư kết có thỏa thuận khác.Những cồn, băi mới xuất hiện trên sông suối biên giới sau khi đường biên giới đă được xác định trên thực địa sẽ được phân định theo đường biên giới đă được xác định trên thực địa.Nếu các cồn, băi mới xuất hiện nằm trên đường biên giới đă được xác định trên thực địa th́ hai bên kư kết sẽ bàn bạc xác định sự quy thuộc trên cơ sở công bằng, hợp lư.

Điều VI:

1.- Hai bên kư kết quyết định thành lập ủy ban liên hợp phân giới và cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam-Trung Quốc dưới đây gọi là (ủy ban liên hợp phân giới, cắm mốc) và giao cho ủy ban này nhiệm vụ xác định trên thực địa đường biên giới Việt-Trung như đă nêu trong Điều II của hiệp ước này và tiến hành công việc phân giới, cắm mốc, cụ thể là xác định vị trí chính xác của đường sống núi, đường phân thủy, trung tuyến của ḍng chảy hoặc ḍng chảy chính, trung tuyến luồng chính tầu thuyền đi lại và các đoạn đường biên giới khác,  xác định rơ sự quy thuộc của các cồn, băi trên sông suối biên giới, cùng nhau cắm mốc biên giới, soạn thảo nghị định thư về biên giới trên đất liền giữa hai nước, gồm cả hồ sơ chi tiết về vị trí các mốc biên giới, vẽ bản đồ chi tiết đính kèm nghị định thư thể hiện hướng đi của đường biên giới và vị trí các mốc giới trên toàn tuyến, cũng như giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến việc hoàn thành các nhiệm vụ kể trên.

2.- Ngay sau khi có hiệu lực, nghị định thư về biên giới trên đất liền giữa hai nước nói tại khoản 1 Điều này trở thành một bộ phận của hiệp ước này và bản đồ chi tiết đính kèm nghị định thư này thay thế bản đồ đính kèm hiệp ước này.

3.- Ủy ban liên hợp phân giới, cắm mốc bắt đầu công việc ngay sau khi hiệp ước này có hiệu lực và chấm dứt hoạt động sau khi nghị định thư và bản đồ chi tiết đính kèm về đường biên giới trên đất liền giữa hai nước được kư kết.

Điều VII: Sau khi nghị định thư về biên giới trên đất liền giữa hai nước và bản đồ  chi tiết đính kèm có hiệu lực, hai bên kư kết sẽ kư kết hiệp ước hoặc hiệp định về quy chế quản lư biên giới giữa hai nước để thay thế hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới giữa chính phủ nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và chính phủ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa kư ngày 07 tháng 11 năm 1991.

            Điều VIII: Hiệp ước này được hai bên kư kết phê chuẩn và có hiệu lực kể từ ngày trao đổi các văn kiện phê chuẩn.Các văn kiện phê chuẩn sớm được trao đổi tại Bắc Kinh.

            Hiệp ước này được kư tại Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 1999 thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.

Đại diện toàn quyền

Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Nguyễn mạnh Cầm.

Đại diện toàn quyền

Nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa

Đường gia Truyền.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HĂY CẢNH GIÁC VỚI BẮC TRIỀU

Lê Chí Quang

            Thứ Tư, ngày 5.9.2001, một ngày đầu Thu, trời nắng nhẹ, không khí dịu mát như thể ủng hộ học sinh trong ngày khai giảng năm học mới. Từ các Cơ quan bảo vệ pháp luật, từng đoàn xe đặc chủng, ô tô, mô tô, nối đuôi nhau tỏa về từng ng̣c ngách của Thành Phố trong một chiến dịch vây bắt những người dân chủ tại Hà Nội, chỉ v́ họ ngây thơ dám xin thành lập Hội Nhân Dân Việt Nam ủng hộ đảng và nhà nước chống tham nhũng (Hội này do ông Phạm quế Dương và Trần Khuê xin thành lập, ngày 2.9.2001). 6 giờ 30 phút sáng, tốp công an đầu tiên ập vào nhà ông Đại tá Phạm quế Dương, khi ông c̣n chưa ngủ dậy. Họ áp giải ông đi lên công an và họ c̣n cho ém khoảng 10 công an tại nhà để phục tất cả những người đến chơi nhà ông. Hôm đó 8 giờ 15 phút, ông Trần Khuê và bạn ông là bà Nguyễn thị Thanh Xuân cũng chung số phận. Sau đó họ bị trục xuất về Thành phố Hồ chí Minh. 9 giờ 30 phút Nguyễn vũ B́nh từ nhà tôi đến chơi nhà ông Chính cũng bị triệu tập lên công an quận Đống đa. Tất cả những người trên trong giấy triệu tập của công an đều ghi rơ: ‘’hỏi việc có hoạt động liên quan đến an ninh quốc gia’’.

            Cả thảy những người bị triệu tập và được mới lên công an để làm việc trong ngày hôm đó, và những ngày tiếp theo là khoảng 20 người. Những người được mời là người thân trong gia đ́nh hoặc bạn bè đến thăm những người có tên nêu trên. Họ được mời dưới h́nh thức công an viết giấy ngay tại chỗ, hoặc đến tận nhà và nếu không đi th́ lập tức họ bị áp giải ngay. Cũng trong ngày hôm đó, điện thoại nhà các ông Hoàng minh Chính, Nguyễn thanh Giang, Hoàng Tiến, Nguyễn khắc Kính, Trần dũng Tiến và Nguyễn vũ B́nh bị cắt. (điện thoại nhà ông Phạm quế Dương bị cắt trước hàng tháng, khiếu nại không ai trả lời). Ngày 5.9 được gọi là ngày Thứ Tư đỏ.

            Tại sao Cơ quan công an lại phải huy động một chiến dịch rộng lớn nhất từ trước đến nay để câu lưu những người chủ trương thành lập và tham gia ‘’Hội chống tham nhũng’’. Việc làm này, trước tiên xét dưới góc độ pháp lư, th́ đây là việc làm trắng trợn vi phạm pháp luật Việt Nam, cụ thể là: Xâm phạm quyền tự do lập hội của công dân, theo điều 69 của hiến pháp,  điều 123 và 129 của bộ luật h́nh sự (Tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân) và cũng là việc làm vi phạm Công ước về nhân quyền mà Việt Nam đă tham gia kư kết ngày 24.9.1982. Nếu chống tham nhũng là hợp ư đảng, ḷng dân, đúng chủ trương của đảng và nhà nước, th́ tại sao Cơ quan công an lại cho câu lưu họ? Hay là v́ những người này là những người dân chủ tiến bộ, đă có nhiều bài viết công khai góp ư, phê phán nhiều đường lối sai lầm của đảng và nhà nước, mà bị công an cho là bọn ‘’diễn biến ḥa b́nh’’ nên đă liệt kê họ trong sổ đen...!

            Tại sao xin thành lập hội để ‘’giúp đảng và nhà nước chống tham nhũng’’ và  ‘’không hoạt động chính trị’’ mà lại bị công an đàn áp dữ dội như vậy? Xin hăy nghe ư kiến của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang trả lời phỏng vấn Đài RFI hôm 10.9 ta sẽ thấy rơ:

            Thứ nhất: Đây là việc làm của những lực lượng bảo thủ trong nội bộ đảng muốn dằn mặt tân Tổng bí thư Nông đức Mạnh và những gương mặt trẻ trung sáng suốt và tiến bộ trong bộ chính trị là chớ có t́m cách thoát ra khỏi ảnh hưởng của họ.

Thứ hai: Việc làm này nhằm phá hoại hiệp định thương mại Việt-Mỹ, phá hoại quan hệ Việt-Mỹ và làm xấu mặt Việt Nam trên trường quốc tế để thế giới tẩy chay Việt Nam ḥng làm Việt Nam chui vào ống tay áo của Trung Quốc.

Thứ ba: Họ (tức những người chủ trương thành lập Hội chống tham nhũng) hơi ngây thơ khi xin thành lập Hội. V́ chống tham nhũng là chống ai? Là chống lại những kẻ lợi dụng đảng để tham nhũng và vơ vét. Là chống lại họ, làm quyền lực của họ có thể bị lung lay nên họ phải ra tay một cách hoảng hốt. Đảng kêu gọi chống tham nhũng là để mỵ dân thôi, một khi có một tổ chức thực sự muốn chống tham nhũng, th́ họ sẽ đàn áp ngay.

Những nhận xét, phân tích trên của Tiến sĩ Thanh Giang là hoàn toàn chính xác. Riêng đối với luận thuyết thứ hai theo suy đoán của tôi là có một thế lực đen tối đứng đàng sau chỉ đạo và giật giây, đó là chính quyền Bắc Kinh. Họ đang chỉ huy các thế lực tay sai được cài sâu trong nội bộ đảng, nhằm không chỉ phá hoại quan hệ Việt-Mỹ mà c̣n làm cản trở sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, làm chúng ta khủng hoảng trầm trọng, phá sản về kinh tế, từ đấy Trung Quốc dễ bề nô dịch rồi thôn tính Việt Nam.

NHỮNG MƯU MÔ CỦA TRUNG QUỐC

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chủ yếu gắn liền với công cuộc chống xâm lăng và mưu mô đồng hóa của Bắc triều.  

Từ hàng ngh́n đời nay, không một thế kỷ nào, không một triều đại nào mà Trung Quốc không t́m cách đô hộ Việt Nam. Ngay cả khi mà t́nh đoàn kết tưởng như keo sơn nhất, Trung Quốc vẫn t́m mọi cách thức để làm suy yếu nhằm mục đích thôn tính Việt Nam. Như chúng ta đều đă biết. Hiệp định Geneva làm chia cắt hai miền Nam-Bắc, 1954 là do Chu ân Lai và Dalles thông đồng với nhau cùng xúi Việt Nam và Pháp kư. Sau đó Trung Quốc lại xúi ta mang quân đội vào Nam, gây nên cuộc nội chiến Nam-Bắc. Họ viện trợ từng viên đạn, gói lương khô, từng bộ quần áo cho ta để anh em một nhà đánh lẫn nhau, trong khi đó họ thu hồi Hồng Công, Ma Cao họ lại không tốn một viên đạn. Nhân lúc anh em một nhà đánh nhau, lợi dụng lúc miền Nam sơ hở họ chiếm Quần Đảo Hoàng Sa, tháng 1.1973. Năm 1975, khi quân đội miền Bắc đánh gần đến Sài G̣n th́ tại Anh Quốc một vị Đại sứ Trung Quốc có đến gặp Đại Sứ Việt Nam Cộng Ḥa là Vương Văn Bắc hỏi rằng: ‘’Có cần chúng tôi đưa chí nguyện quân sang đánh Hà Nội để giúp Việt Nam Cộng Ḥa không?’’ (Hồi kư của Vương Văn Bắc ‘’Từ Ṭa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập’’). Tại Kampuchea sau năm 1975 họ xúi Khmer đỏ tàn sát đồng bào ḿnh để một ngày nào đó họ đưa người Trung Quốc sang chiếm Kampuchea.  Năm 1978, một quan chức ngoại giao Trung Quốc đă có lời ngỏ ư muốn mở con đường từ Trung Quốc qua Việt Nam sang Kampuchea chính là ư đồ đó. Việc này không thực hiện được khi ngày 15.1.1979, quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Phnom Penh. Trong cơn tức tối,  ngày 17.2.1979, Trung Quốc mang quân xâm lược nước ta tại 6 Tỉnh biên giới phía Bắc. Rất may cho ta lúc đó ta được dư luận thế giới ủng hộ và nhất là Liên Xô. Ông Brezhnev tuyên bố: ‘’Nhà cầm quyền Trung Quốc hăy dừng tay lại nếu c̣n chưa muộn’’. Không thực hiện được ư đồ trên bộ, năm 1983, lợi dụng lúc ta suy yếu Trung Quốc cho Hải Quân chiếm một phần Quần Đảo Trường Sa. Cũng từ đó quan hệ Việt Nam và Trung Quốc xấu đi. Đến năm 1991, khi hai nước b́nh thường hóa quan hệ th́ cũng là lúc Trung Quốc chuyển sang ư đồ thôn tính Việt Nam bằng kinh tế.

Lịch sử từ xa xưa hễ cứ lúc nào các triều đại phong kiến Việt Nam yếu là lúc phương Bắc nhân cơ hội đó xâm chiếm nước ta. Nhưng những lúc đó bao giờ dân tộc ta cũng xuất hiện những Anh Hùng dân tộc, phất cao ngọn cờ khởi nghĩa, cùng toàn thể dân tộc đánh đuổi ngoại xâm thu hồi non sông về một cơi. Tên tuổi của họ sáng măi ngọn lửa tranh đấu giải phóng dân tộc. Các triều đại phong kiến của ta chưa bao giờ ta phải mất một tấc đất nào cho Trung Quốc...Thế mà giờ đây, khi cộng đồng nhân loại đă văn minh hơn ‘’cá lớn không thể nuốt cá bé’’ dễ dàng như xưa th́ ai đó lại cam tâm cúi đầu xin dâng phần lănh thổ, lănh hải cho Trung Quốc để mong bán đất cầu vinh, mong sự bảo trợ cho quyền lănh đạo độc tôn của ḿnh. (Tháng 12.1999 Việt Nam và Trung Quốc thông qua hiệp định biên giới trên bộ và tháng 12.2000 thông qua hiệp định Vịnh Bắc Bộ, làm thiệt hại cho nước ta khoảng 720 km2 trên bộ và 10% diện tích Vịnh Bắc Bộ. Những diện tích ta bị mất tại Vịnh Bắc Bộ, đều là những khu vực giầu tài nguyên hải sản, khí đốt và dầu mỏ). Xưa kia họ Mạc, họ Lê đă bị lịch sử lên án th́ giờ đây những kẻ đang bán nước, cầu vinh lại đang được tung hô như những anh hùng dân tộc.  

Từ khi Liên Bang Xô Viết tan ră và giải thể, nước Nga suy yếu v́ lâm vào khủng hoảng kinh tế, Trung Quốc tỏ rơ với thế giới muốn thay thế vị trí siêu cường của Nga trước đây để trở thành cực kia của thế giới và sẵn sàng đối đầu trực tiếp với Mỹ.

VỀ NGOẠI GIAO

            Gây sức ép với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới để buộc họ phải công nhận Đài Loan là một Tỉnh của Trung Quốc. Liên minh và viện trợ cho các nước thế giới thứ ba để gây ảnh hưởng với các nước này. Đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển nhất là những nước không có quan hệ thân thiện với Mỹ. Liên minh với các quốc gia Trung Á thuộc Liên Sô cũ, bằng hiệp ước mậu dịch tự do Thượng Hải. Đầu tư hơn 200 triệu USD vào Kampuchea, Nam Á và Tây Á như Lào, Kampuchea, Nepan, Miến Điện. Riêng trong một năm trở lại đây, tất cả các nhân vật hàng đầu của Trung Quốc như: Giang trạch Dân, Tŕ hạo Điền, Thạch quảng Sinh, Lư Bằng đều đă đến thăm Kampuchea.

VỀ QUÂN SỰ

            Tăng cường khả năng quốc pḥng, bằng việc hiện đại hóa lực lượng tên lửa hạt nhân.  Phóng vệ tinh nhân tạo phục vụ mục đích ḍ thám. Tự đóng tàu sân bay, tăng số lượng tầu ngầm hạt nhân, hiện đại hóa Hải Quân, không quân và các hệ thống thông tin liên lạc phục vụ quân đội. Cấm bay ở eo biển Đài Loan. Củng cố và xây dựng các căn cứ tại các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa đă chiếm của Việt Nam và thường xuyên cho tập trận tại khu vực này. Trong năm 2001, Trung Quốc liên tục xâm phạm vào khu vực lănh hải của Phi Luật Tân và Nhật Bản và gần đây nhất Trung Quốc đă cho hạ thủy tại Biển Đông 20 tầu tuần tiễu, nhằm bảo vệ những khu vực mà Trung Quốc đă chiếm của Việt Nam.

VỀ KINH TẾ

Đến nay sau 15 năm đấu tranh, tháng 11 năm 2001, Trung Quốc sẽ là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới, nó sẽ gây tác động to lớn đối với các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Hiện nay, những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, cũng gần giống với Trung Quốc. Với tŕnh độ công nghệ c̣n thấp, hàm lượng công nghệ chưa cao, chủ yếu là các mặt hàng tập trung nhiều lao động, như nông sản, giầy dép, dệt may đang là những mặt hàng xuất khẩu chủ chốt và mang tính chiến lược của Việt Nam. Thị trường tiêu thụ những mặt hàng này là Nhật Bản, EU và một số nước trong khu vực. Tuy nhiên đây là một trong những mảng mạnh của hàng xuất khẩu Trung Quốc. Sau khi gia nhập tổ chức WTO, với những lợi thế được ưu đăi về thuế quan, được b́nh đẳng trong giải quyết tranh chấp thương mại chắc chắn hàng hóa Trung Quốc với giá rẻ hơn nhiều lần sẽ chiếm ưu thế cạnh tranh, dễ đánh bật sản phẩm cùng chủng loại của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Dự tính kim ngạch trao đổi thương mại của Trung Quốc sẽ tăng mạnh từ 324 tỷ USD năm 1998 lên 600 tỷ USD năm 2005. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng phải mở cửa thị trường với các thành viên của WTO. Hàng rào thuế quan được nới lỏng, hàng nông sản của các nước phát triển với giá thành hạ, chất lượng cao sẽ tràn vào Trung Quốc, tạo ra sức ép cạnh tranh rất lớn đối với hàng nông sản của Việt Nam.

VỀ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Trung Quốc sẽ cải tổ cơ cấu và cải tiến các thể chế tài chính cho phù hợp với quy định của WTO. Phải nới lỏng các quy chế đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, môi trường đầu tư sẽ được cải thiện, ngày càng hấp dẫn và có tính cạnh tranh hơn. Như vậy các ḍng vốn quốc tế sẽ chuyển mạnh sang Trung Quốc, thay v́ Việt Nam và các nước khác. Dự tính vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ tăng từ 45 tỷ USD năm 1998 lên 100 tỷ USD năm 2005. Các thống kê về đầu tư quốc tế cho thấy, riêng lượng vốn FDI do các nước phát triển đầu tư vào nhau đă nhiều hơn có nghĩa là cơ hội cho Việt Nam ta ít đi. Đầu tư vào Việt Nam giảm liên tục trong năm nay cũng v́ lư do đó. Khủng hoảng kinh tế tại Đài Loan và Singapore, Mă Lai, Hàn Quốc hiện nay là bởi các nguồn vốn ồ ạt chảy vào Trung Quốc và hàng hóa của Trung Quốc có sức cạnh tranh mạnh với hàng hóa của hai nước trên.

MỘT VÀI DỰ ĐOÁN

            Theo dự đoán của ngân hàng thế giới WB đến năm 2010 Trung Quốc sẽ nuốt hết thặng dư nông nghiệp của toàn Châu Âu. Bởi vậy mục tiêu có tính chiến lược và trước mắt của Trung Quốc là tiến xuống và làm suy yếu các nước ở phía Nam trong số đó có Việt Nam. Việc xâm lấn hai Quần Đảo của Việt Nam cũng là không ngoài mục đích đó. Năm 1997, đầu tư vào Đông Nam Á của Trung Quốc chỉ chiếm 20% tổng số vốn đầu tư nước ngoài đến nay đầu tư vào Đông Nam Á của Trung Quốc đă chiếm 80% tổng số vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam trong con mắt của Trung Quốc là một miếng mồi ngon có vị trí chiến lược về địa lư, chính trị, lại là miếng mồi dễ nuốt nhất v́ được sự hậu thuẫn của các thế lực đen tối, bảo thủ và tay sai luồn sâu leo cao trong bộ máy nhà nước.

            Theo dự tính của tôi, nếu Việt Nam không gia nhập được WTO vào năm 2006 tức là năm Hiệp định AFTA có hiệu lực th́ nền kinh tế Việt Nam sẽ phá sản, bởi những lư do sau:

           

* Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong mấy năm qua liên tục giảm, v́ do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước trong khu vực. (Trung Quốc lại không nằm trong nhóm các nước này nên Trung Quốc không bị ảnh hưởng).

* Trung Quốc sẽ gia nhập WTO vào tháng 11 này, nên đă thu hút nhiều nguồn vốn hơn.

* Do sự mất giá của các đồng tiền của các nước trong khu vực, tạo lợi thế cạnh tranh rất lớn đối với hàng xuất khẩu của các nước đó với Việt Nam.

* Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là một nền kinh tế bong bóng với những chỉ số giá hàng tiêu dùng liên tục giảm (tiểu phát gia tăng v́ cung đă vượt quá cầu), báo hiệu một nền kinh tế đang bị chững lại, cái bong bóng có thể vỡ bất cứ lúc nào. Bởi bất cứ một nền kinh tế nào, có lạm phát th́ mới có phát triển (lạm phát ở đây là mức lạm phát thấp và có kiểm soát được, nó báo hiệu chỉ số cung không đủ cầu).

* Nông sản café, gạo, hoa quả xuất khẩu mấy năm nay bị rớt giá liên tục, thậm chí ta phải chặt bỏ 185 ngh́n hecta café.

Thử dạo qua hàng hóa tại thị trường Việt Nam ta sẽ thấy rơ, hàng hóa Trung Quốc,  hoặc của Trung Quốc giả nhăn hiệu của các nước khác chiếm 60-70% tại thị trường Việt Nam từ các đồ gia dụng đến các máy móc công nghiệp. Xe máy Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam. Văn hóa, phin ảnh Trung Quốc được quảng cáo không công trên các phương tiện thông tin đại chúng từ sáng đến tối.

Đến năm 2006, Hiệp định AFTA có hiệu lực, hàng hóa của các nước trong khu vực sẽ ùa vào Việt Nam, v́ các hàng rào thuế quan đă được rỡ bỏ, sẽ đánh bật các hàng hóa của Việt Nam ngay tại thị trường Việt Nam. Hàng hóa của chúng ta thông thường có giá cao hơn 5-40% các mặt hàng cùng loại của các nước trong khu vực. Mà không chỉ hàng hóa của các nước trong khu vực, hàng hóa của các nước thứ ba, nhập cảng vào các nước ASEAN đóng gói và xuất sang Việt Nam miễn là có 40% định lượng được sản xuất tại nước đó cũng được miễn thuế hải quan. V́ đó là quy định của AFTA.

Vào lúc đó hàng hóa của Việt Nam sẽ không xuất khẩu được sang các nước trong khu vực, cũng như sang các nước EU. Hoặc Nhật Bản, với lư do đă nêu trên. Công nhân sẽ mất việc làm, nông dân không bán được nông sản, các khu chế xuất sẽ giải thể...sinh viên ra trường sẽ thất nghiệp.

Đó chính là lúc Trung Quốc nhảy vào đầu tư, mua lại các công ty, các khu chế xuất,  các nông trường đồn điền...toàn bộ nền kinh tế của ta sẽ phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc. Trong xă hội ngày nay, ai nắm quyền lực về kinh tế người đó sẽ nắm luôn quyền lực về chính trị. Theo dự đoán của Ngân hàng thế giới đến năm 2005 lượng dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc sẽ đạt 180 tỷ USD, Trung Quốc hoàn toàn có khả năng khống chế được nền kinh tế nước ta. Lúc đó ta sẽ trở thành  một bang hay một tỉnh của Trung Quốc.

Và lực lượng này đang t́m cách cho Trung Quốc tiếp cận thị trường Việt Nam. Gần đây nhất, chúng ta được biết họ đă bật đèn xanh cho nhà thầu HISG trúng thầu sân vận động Mễ Tŕ. Để mỵ dân và báo chí, họ cũng tạo ra một cuộc đấu thầu công khai nhưng tất cả chỉ là một tṛ hề kệch cỡm, không đánh lừa nổi ai. Một nhà thầu không đủ tư cách pháp nhân, cũng như các thủ tục đấu thầu cần thiết và thiết kế th́ chắp vá, thay đổi đến hàng chục lần mà vẫn không đạt yêu cầu nhưng vẫn được trúng thầu mặc dù báo chí và hội kiến trúc,  hội xây dựng đă lên tiếng phản đối. Nhưng chính ông Khải tuyên bố một câu xanh rờn: ‘’...Đấu thầu lại th́ phức tạp lắm, cái nào rẻ th́ cho làm...’’. Để xoa dịu báo chí và nhân dân bộ chính trị và ban tư tưởng văn hóa trung ương đă cho họp các Tổng biên tập các báo và loan rằng: ‘’Nhà thầu HISG là một công ty của ban tài chính trung ương đảng cộng sản Trung Quốc. Đây là sự hợp tác của hai đảng anh em’’. Một tên mafia Trung Quốc lại trở thành đồng chí của đảng th́ cũng không có ǵ lạ cả, hẳn nhiều người c̣n nhớ  những kẻ dao búa như Khánh Trắng và chủ chứa Lê tân Cương cũng từng được giới thiệu là đồng chí rồi c̣n ǵ...Gần đây nhân chuyến thăm của Lư Bằng hôm 7.9 họ lại bật đèn xanh cho một công ty của Trung Quốc khai thác quặng nhôm ở Đắc Lắc và nhân hội nghị của EMM3 tại Hà Nội họ t́m cách đưa Việt Nam vào qũy đạo của Trung Quốc bằng cách nâng kim ngạch buôn bán của hai nước lên 5 tỷ USD vào năm 2005. Và theo nhiều nguồn tin th́ Trung Quốc cũng đang mon men đến dự án thủy điện Sơn La của Việt Nam.  

Đôi khi tôi cũng nghĩ không biết có phải người ta đang ngủ mơ hay không? Khi xưa, trong cuộc chiến Quốc-Cộng, Trung Quốc đă từng lợi dụng việc giúp Việt Nam xây dựng đường xá và nhiều công tŕnh xây dựng khác họ đă bí mật cho đào hầm bí mật chứa vũ khí để một ngày t́m cách quay lại xâm lược Việt Nam. Giờ đây lại cho Trung Quốc vào những vùng có tính nhạy cảm như Tây Nguyên hay Sơn La, th́ không hiểu họ c̣n nghĩ ǵ đến an ninh quốc gia hay không?

Cách tốt nhất để cứu văn nền kinh tế nước ta hiện nay là đưa Việt Nam sớm hội nhập vào nền kinh tế thế giới và để thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc là: Tổng Thống Mỹ nhanh chóng thông qua Hiệp định thương mại Việt-Mỹ. (Xin đưa một thí dụ: Chỉ riêng lượng tôm mà Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ hàng năm đạt 300 triệu USD) và Việt Nam sớm được gia nhập tổ chức thương mại thế giới, v́ tại đó các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường buôn bán được ưu đăi với 134 quốc gia và cơ hội đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ rộng lớn hơn và người Việt Nam tại hải ngoại nếu c̣n yêu dân tộc Việt Nam th́ hăy trở về để xây dựng đất nước.

Đương nhiên chính quyền Bắc Kinh biết được những lợi ích đó nên họ luôn t́m cách phá hoại sự hội nhập của Việt Nam vào thế giới văn minh.

Chính v́ những lư do đó, khi biết được Việt Nam và Mỹ đàm phán để thông qua Hiệp định thương mại Việt-Mỹ, Trung Quốc luôn luôn dật giây cho các lực lượng bảo thủ trong đảng tŕ hoăn việc kư kết và thông qua Hiệp định và ở trong nước họ luôn luôn giật giây cho các thế lực tay sai đàn áp những người dân chủ.

CUỘC VẬT LỘN GAY GO

            Ngay trước chuyến viếng thăm của Tổng Thống Clinton tới Việt Nam 11.2000 trước đó, Chủ Tịch Trung Quốc là Giang trạch Dân có lời mời cấp tốc ông Trần đức Lương sang Trung Quốc để thăm ḍ thái độ của Việt Nam với Mỹ. Tại đây Trung Quốc đề nghị cho Việt Nam vay 53 triệu USD, trong đó chỉ phải trả lăi 1/3 và Trung Quốc c̣n hứa sẽ cho Việt Nam vay tiếp 300 triệu USD với lăi suất thấp (một sự tử tế bất ngờ chưa từng xảy ra). Nhưng kèm theo đó, phía Trung Quốc muốn ta kư hiệp định Vịnh Bắc Bộ ngay sau khi Tổng Thống Mỹ rời khỏi Việt Nam. Trước và sau chuyến thăm của Tổng Thống Mỹ, ban tư tưởng văn hóa trung ương đă cho họp Tổng biên tập các báo chí và loan báo rằng phải đăng ảnh của ông Clinton nhỏ hơn ảnh của ông Giang trạch Dân đă từng được đăng trên báo trong chuyến thăm Việt Nam trước đây.

Trước thềm Đại hội đảng lần thứ 9, một Phái đoàn ngoại giao của Trung Quốc đă bí mật sang Việt Nam nhằm để ủng hộ cho ông Phiêu được ở lại thêm một nhiệm kỳ nữa, v́ họ nghĩ rằng họ Lê, là đồng minh của ḿnh, nhưng sự việc không đơn giản như vậy, Lê khả Phiêu tuy là cánh tay phải của Lê đức Anh ở quân khu 9 và Kampuchea, nhưng trước khi được Lê đức Anh đặt vào chiếc ghế Tổng bí thư đó, ông Phiêu đă có thời làm trưởng ban kiểm tra trung ương. Trong thời gian này ông Phiêu được tiếp xúc với nhiều hồ sơ mật, nên ông Phiêu đă có nhiều nhận thức về nhiều bộ mặt trong đảng. Ông đă nhiều lần gặp Tướng Trần Độ và ông Hoàng minh Chính. Càng về thời gian cuối sau này, ông Phiêu càng bừng tỉnh và nhận thức được nhiều vấn đề. Nhất là sau khi ông bị các lực lượng tay sai giật giây để đàm phán kư các hiệp định bán nước đă nêu trên. Cuối cùng trong hội nghị trù bị ông đă đi nước cờ liều. Được sự ủng hộ của cánh quân đội cụ thể là Phạm thanh Ngân và Phạm văn Trà, ông đă quyết định tổ chức cuộc họp tại trong Thành Hà Nội (Phố Lư Nam Đế) thay v́ tại Hội Trường Ba Đ́nh như các kỳ họp trước và sử dụng Lữ đoàn 144 là lữ đoàn tinh nhuệ để bảo vệ đại hội thay v́ lực lượng Cảnh vệ quốc gia của Bộ công an như trước đây để ḥng gây sức ép với phe bảo thủ và tay sai trong đảng. Theo nhiều nguồn tin được tiết lộ từ thâm cung: Trong hội nghị đă có lúc ông Phiêu chỉ mặt Lê đức Anh và Đỗ Mười mà bảo rằng ‘’Các ông bảo tôi ngu thế lúc các ông đặt tôi vào chiếc ghế này, sao các ông không bảo tôi ngu?..’’ Cuộc họp diễn ra rất căng thẳng, mà không đi đến ngă ngũ. Mà cũng bởi ông Phiêu c̣n non gan nên không dám dùng quân đội để ra tay, nên phải mất 4 kỳ họp trù bị mới đi đến ngă ngũ. Đến những ngày cuối cùng, không hiểu sao Phạm văn Trà lại đứng về phe bảo thủ. Mất chổ dựa vào quân đội, ông Phiêu như hổ mất nanh vuốt, đành đi đến thỏa hiệp. Như chúng ta thấy, các vị cố vấn phải rút lui, ông Phiêu và ông Ngân cũng mất chức. Ông Nông đức Mạnh, một người thuộc phái trung dung, ôn ḥa được bầu làm Tổng bí thư một cách đầy bất ngờ. Sau đại hội trù bị, ông Phiêu đă chỉ mặt Phạm văn Trà mà bảo rằng: ‘’đồ phản bội’’ Bởi thế Phạm văn Trà vẫn c̣n được giữ nguyên chức vụ, mặc dù trước đó đă bị bộ chính trị cảnh cáo v́ không làm tṛn nhiệm vụ.

Muốn cứu văn t́nh thế, trong kỳ đại hội đảng, đích thân Hồ cẩm Đào, một nhân vật quan trọng thứ hai trong đảng cộng sản Trung Quốc bay sang tận nơi để dự, nhưng sự việc đă ngă ngũ. Cứ nh́n bộ mặt của họ Hồ trong đại hội và khi ra về ta cũng thấy rơ.

Trong cuộc họp báo sau đại hội đảng, khi được hỏi về quan hệ Việt-Trung, ông Nông đức Mạnh có nhắc lại 16 chữ vàng ‘’Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài.  Hướng tới tương lai’’. Sau đó ông Mạnh có lời mời các nhà lănh đạo Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Lúc đầu phía Trung Quốc từ chối. Họ lấy cớ, khi nào ông Nông đức Mạnh sang Trung Quốc trước th́ họ mới sang Việt Nam sau (Khi xưa các Vua Chúa Việt Nam khi lên ngôi đều phải sang Trung Quốc báo công và xin được nhận làm chư hầu, ngày nay họ cũng muốn ông Nông đức Mạnh làm như vậy).

Tuy nhiên ông Nông đức Mạnh không dễ đầu hàng ngay. Ông Mạnh đă đi nước cờ xuất mă bằng chuyến thăm ủy lạo đồng minh thân cận Việt Nam là Lào, để củng cố t́nh đoàn kết. Sau đó ông Mạnh ngồi chờ các nhà lănh đạo Trung Quốc.

Tuy bị mất những con ách chủ bài nhưng lực lượng tay sai c̣n được cài lại trong đảng vẫn c̣n khá đông. Sau kỳ đại hội đảng, như muốn làm hài ḷng các quan thầy tại Trung Quốc và cũng muốn để ra uy với tân Tổng bí thư Nông đức Mạnh ‘’ta vẫn kiểm soát được t́nh h́nh’’ chỉ hai ngày sau đại hội, họ cho tiến hành ngay việc bắt giam và khám nhà ông Vũ cao Quận, một con chim đầu đàn trong phong trào dân chủ tại Hải Pḥng và về phần ḿnh, chính quyền cộng sản Trung Quốc tức tốc gửi những thông điệp đón chào tân Tổng bí thư bằng việc cấm tàu đánh cá của ta được hoạt động tại khu vực quanh Đảo Hoàng Sa và cho cấm biển bắn đạn thật, nhằm mục đích ủng hộ lực lượng bảo thủ trong đảng và để cảnh cáo ông Nông đức Mạnh ‘’chớ có t́m cách thoát khỏi ảnh hưởng của họ’’.

Tiếp sau đó là hàng loạt các hành động đàn áp những tiếng nói dân chủ tại Việt Nam,  như việc câu lưu Tướng Trần Độ lên công an, tịch thu tập bản thảo của ông, cùng hàng loạt các vụ đàn áp Tôn giáo như Nguyễn Văn Lư, Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, Lê Quang Liêm...

Vụ Thứ Tư đỏ xảy ra hôm 5.9 cuối cùng đă bóc trần bản chất của họ. Họ làm việc đó ngay khi Hạ Viện Mỹ đang họp để thông qua Hiệp định thương mại. Họ không cần đến Hiệp định thương mại Việt Mỹ nữa v́ họ đă có Trung Quốc rồi và Trung Quốc sẽ giúp cho họ giữ măi được địa vị thống trị. Họ làm việc đó như thế là để trải tấm thảm đỏ nhân quyền kiểu Trung Quốc để đón quan thầy của họ là Lư Bằng. Họ tưởng làm như vậy là thực hiện được mưu đồ đó.

Như đă nói ở trên, ông Nông đức Mạnh là người ôn ḥa sáng suốt và không bè phái nên ông không tiến hành thăm Trung Quốc ngay mà ngồi chờ Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Không thể đợi được hơn, nhà cầm quyền Trung Quốc bèn xuống thang cử Chủ Tịch Quốc Hội Lư Bằng sang thăm Việt Nam, nhưng thực chất họ xuống thang theo kiểu Mao trạch Đông ‘’Lùi một bước để tiến ba bước’’. Chuyến thăm đó là để củng cố quan hệ kinh tế Việt-Trung, nhưng thực chất là để lên dây cót tinh thần cho cỗ máy tay sai đă rệu ră và già nua phải chạy nhanh hơn nữa trong ḷng Trung Quốc và cũng để hà hơi tiếp sức cho các lực lượng đó chống phá những người yêu dân chủ tiến bộ tại Việt Nam, ḥng làm mất uy tín của ông Nông đức Mạnh và các gương mặt trẻ trong bộ chính trị, phá hoại khẩu hiệu dân chủ, đoàn kết, đổi mới, phát triển được đại hội thông qua. Cùng chuyến thăm này ta thấy có Lưu Bằng Bộ trưởng Trung Quốc. Lưu Bằng đă họp với ban tư tưởng văn hóa trung ương để rồi họ cùng đồng ca bản thánh ca đă lạc lơng với thế giới văn minh là ư thức hệ cộng sản chủ nghĩa và định hướng xă hội chủ nghĩa.

Trong nội bộ đảng hiện nay đang chia làm hai phe. Phe cấp tiến chủ yếu là những lực lượng trẻ, thông minh và sáng suốt muốn Việt Nam có qua hệ tốt đẹp với tất cả các quốc gia kể cả Mỹ, c̣n phe kia là các lực lượng bảo thủ già nua mà vẫn chưa từ bỏ ư nghĩ ‘’Mỹ là kẻ thù số một và Mỹ vẫn chưa từ bỏ dă tâm xâm lược Việt Nam’’. Lực lượng này lại đang giữ một số vị trí quan trọng trong đảng và trong quân đội cho nên họ đă quyết định ngă sang Trung Quốc.

Liệu một lần nữa dân tộc ta có lỗi hẹn với thế giới văn minh không?

Liệu ông Nông đức Mạnh là người không bè phái, vây cánh, không được quân đội ủng hộ, không hiểu ông có đứng vững được trước làn sóng phương Bắc không?

Liệu giờ đây 16 chữ vàng trong quan hệ Việt-Trung có thể trở thành câu thần chú của chiếc ṿng kim cô dân chủ mang màu sắc Thiên An Môn, có thể siết vào đầu hơn 76 triệu đồng bào Việt Nam không?

Liệu dân tộc ta có phải chịu thêm một tầng áp bức mới mà tầng áp bức này c̣n tàn khốc hơn tầng áp bức trước không?

Thế đấy, cuộc vật lộn sẽ c̣n rất cam go. Chỉ mong sao ban chấp hành trung ương mới với nhiều gương mặt trẻ trung hơn, học thức hơn, tỉnh táo hơn, hăy sáng suốt cảnh giác với Bắc triều, đừng để cái họa nô dịch ngh́n năm ngày nào lại oan nghiệt tṛng vào cổ nhân dân ta một lần nữa...Hăy thức thời chủ động hội nhập vào thế giới tiên tiến, thực hiện chủ trương đề xuất của nhà trí thức yêu nước Nguyễn thanh Giang: ‘’Tựa vào sức nâng toàn cầu mà phát huy nội lực’’, xây dựng đất nước dân chủ, giầu mạnh đủ sức tự cường dơng dạc tuyên bố:

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. 

Tôi viết bài này khi đang bị ḱm kẹp trong ṿng nghiệt ngă của lực lượng bảo thủ và tay sai cho Bắc triều. Biết rằng, bài viết này không làm cho hào quang lấp lánh trên đầu tôi mà trái lại, càng đẩy tôi sâu thêm vào ṿng nguy hiểm. Ngay như đối với một công thần của cách mạng, mà họ c̣n ngang nhiên tuyên bồ xanh rờn: ‘’...Sẵn sàng hy sinh Hoàng minh Chính để bảo vệ chế độ’’. Huống chi tôi chỉ là con tốt đen dễ dàng bị biến thành vật tế thần cho bàn thờ Bắc triều. Dẫu sao trước hiểm họa khôn lường của tồn vong đất nước, tôi dám nề hà xả thân,  bởi tôi tâm niệm câu nói của Hàn phi Tử: ‘’Nước mất, mà không biết là bất tri. Biết mà không lo liệu là bất trung. Lo liệu mà không liều chết là bất dũng’’. Chỉ mong sao tấc ḷng nhỏ mọn này, được lương tri dân tộc trong và ngoài nước soi thấu và hết ḷng hết sức chỉ giáo.

Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 2001

Lê chí Quang

Địa chỉ 22 phố Trung Liệt - Quận Đống Đa - Hà Nội
Điện thoại: 8.51400

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HĂY TRẢ LỜI RƠ RÀNG CHO TOÀN DÂN!

Bùi Tín

Đảng cộng sản luôn nói: Nhân dân là chủ. Mỗi việc phải để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.  

Nay nhân dân nóng ḷng muốn biết, đặt những câu hỏi dưới đây, yêu cầu những người lănh đạo đảng và nhà nước trả lời minh bạch.

1-) Bản hiệp ước Việt-Trung về biên giới trên đất liền kư ngày 30 tháng 12 năm 1999 tại Bắc Kinh, được Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 9 tháng 6 năm 2000, đă được phổ biến trên mạng báo nhân dân điện tử, nhưng không có 64 bản đồ đi kèm là v́ sao? Trên mạng điện tử, có thể rất dễ dàng truyền đi hàng trăm bản đồ đủ mọi tỷ lệ. Các vị có ư định trong thời gian trước mắt phổ biến các bản đồ ấy cho nhân dân được biết hay không?

2-) Bản hiệp định Việt-Trung về Vịnh Bắc Bộ kư ngày 25 tháng 12 năm 2000 tại Hà Nội, tức là gần 2 năm rồi, tại sao đến bây giờ vẫn chưa được đưa ra Quốc Hội xem xét và thông qua? Các vị có ư định đưa ra trong phiên họp của Quốc Hội khóa X cuối năm 2002, hay đầu năm 2003 không? V́ sao lại gác lại lâu, không b́nh thường như thế?

3-) Nếu đưa ra Quốc Hội thông qua, các vị có ư định yêu cầu các đại biểu của dân thảo luận kỹ càng từng điều khoản của hiệp định hay không? Các cuộc thảo luận ấy sẽ công khai hay không công khai?

4-) Theo tiết lộ của Thứ Trưởng ngoại giao Lê công Phụng, tỷ lệ phân chia mới ở Vịnh Bắc Bộ là: 53,23% diện tích thuộc Việt Nam. 46,77% diện tích thuộc Trung Quốc.

Trước đó, theo hiệp ước Pháp-Hoa năm 1887, tỷ lệ là: 62% thuộc phía Việt Nam và 38% thuộc Trung Quốc.

Theo hiệp định mới kư, Việt Nam bị mất đi là: 62 - 53,23 = 8,77 % diện tích Vịnh Bắc Bộ, diện tích toàn Vịnh là: 126.250 km2, diện tích bị mất là: 10.972km2.

Xin cho biết các vị có vui ḷng đồng ư nhường cho phía Trung Quốc một diện tích lớn đến vậy (hơn 10.900 km2) hay không? và có cho như thế là công bằng, thỏa đáng, hợp lư hay không?

5-) Trong khi thương lượng, phía Việt Nam có lưu ư đầy đủ phía Trung Quốc rằng Vịnh Bắc Bộ (Golfe du Tonkin, Tonkin Gulf), từ tên gọi của nó được h́nh thành trong lịch sử,  đă chỉ rơ nó gắn liền với đất nước Việt Nam, hơn bất kể nước nào khác. Các vị có lưu ư đoàn Việt Nam tham gia đàm phán về điểm quan trọng này hay không?

6-) Theo Luật về biển được Liên Hiệp Quốc thông qua cũng như theo thông lệ, tập quán quốc tế giải quyềt các tranh chấp lănh thổ, vùng biến, các vị có biết rằng phía Việt Nam có ưu thế pháp lư to lớn và vững chắc so với phía Trung Quốc về chủ quyền trong Vịnh Bắc Bộ hay không?

Xin được kể: Phía nào có số dân đông hơn sống gần với tài nguyên của Vịnh và tham gia khai thác tài nguyên ấy? Hơn 23 triệu dân Việt sống ở châu thổ sông Hồng và vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam, hay 7 triệu dân Trung Hoa sống ở bán Đảo Liêu Châu và phía Tây Đảo Hải Nam? Phía nào có đường cơ bản dọc theo bờ biển và các Đảo dài hơn? Phía nào có số Hải Đảo nhiều hơn? (phía Việt Nam có hơn 1.300 Đảo và phía Trung Quốc chỉ có 6 Đảo!), phía nào có nhiều sông ng̣i, với lưu lượng nước chảy lớn hơn, tải nhiều phù sa vào Vịnh, đóng góp nhiều hơn cho việc h́nh thành Vịnh hàng triệu năm qua? Đó phải chăng là sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Chảy, sông Thái B́nh, sông Mă, sông Chu, sông Lam, sông Gianh... mà chiều dài, chiều rộng, khối nước và phù sa gấp hàng mấy chục lần 4 con sông nhỏ, ngắn, yếu ớt của Đảo Hải Nam.

Trước khi đồng ư cho Ngoại Trưởng Nguyễn duy Niên kư vào bản hiệp định này, các vị đă nắm chắc những so sánh trên đây để bảo vệ chủ quyền, tài nguyên vùng biển của đất nước ta hay không?

7-) Về hiệp định đánh cá chung trong Vịnh Bắc Bộ Việt Nam-Trung Quốc, được kư ngày 25 tháng 12 năm 2.000, cùng lúc với hiệp định phân chia Vịnh Bắc Bộ nói trên, các vị có định đưa ra Quốc Hội thảo luận và thông qua trong thời gian sắp tới hay không? Các vị có cân nhắc kỹ không khi chỉ thị cho Ngoại Trưởng Nguyễn duy Niên hạ bút kư vào bản hiệp định này? Trên thực tế nó sẽ mở đường cho Trung Quốc đưa tàu thuyền vô cùng hùng hậu của họ tha hồ vùng vẫy ở khu vực trung tâm rằng 33.500km2 của Vịnh Bắc Bộ, nơi có nhiều tài sản nhất về hải sản: Cá, tôm, mực, bào ngư..., và tiềm năng hơi đốt, dầu, quặng quư..., và trong 15 năm liền.

Các vị có biết rằng bản hiệp định này c̣n cho Trung Quốc khai thác thêm một ‘’vùng quá độ’’ sát Đảo tiền tiêu Bạch Long Vỹ, rộng hơn 1.000 km2, vô hiêu hóa hệ thống pḥng thủ đất nước ta từ hướng Đông?

8-) Trong khi các vị giữ một thái độ úp úp mở mở về các văn kiện kư kết với Trung Quốc th́ đă có nhiều tiếng nói yêu nước chân thật cất lên nhằm biết rơ thực hư, ngăn chặn những thiệt hại cho chủ quyền, tài nguyên của tổ quốc.Tiêu biểu là cụ Đỗ việt Sơn ở Hải Pḥng và Luật sư trẻ Lê chí Quang ở Hà Nội, người viết bài luận văn chí lư: ‘’Hăy cảnh giác với Bắc triều’’.

Các vị vừa kết án anh Lê chí Quang 4 năm tù giam và 3 năm quản thúc.

Chính v́ lẽ ấy mà tôi viết bài này khẩn thiết yêu cầu các vị trả lời cho 8 câu hỏi trên đây, những câu hỏi mà bất kể một người dân nào ưu tư đến quê hương đất nước, đến chủ quyền quốc gia, đến toàn vẹn lănh thổ do cha ông ta để lại, đều muốn đặt ra và mong được các vị trả lời sớm nhất.

Lẽ ra ở bất kể một nước dân chủ, văn minh nào, những vấn đề trọng đại như thế này, đă có rất nhiều nghị sĩ, đại biểu Quốc Hội chất vấn chính phủ, nhiều ủy viên trung ương đang chất vấn Tổng bí thư, nhiều nhà báo viết bài chất vấn, phỏng vấn các nhân vật lănh đạo..., không cho phép họ tảng lờ như câm, như điếc, ngậm miệng ăn tiền.Một thái độ bất lịch sự, vô văn hóa.

Tôi tha thiết mong rằng các bạn nhà báo nước ngoài đang có mặt ở Việt Nam, các đài phát thanh quốc tế có dịp liên hệ với giới cầm quyền, các bạn Việt kiều về thăm đất nước hăy cùng tôi kiên tŕ, nhẫn nại đặt 8 câu hỏi trên đây cho các vị lănh đạo các cấp của đảng, nhà nước, chính phủ, Quốc Hội, mặt trận..., cho kỳ đến khi nào có được những câu trả lời minh bạch.

Tôi không thể nhầm về điểm này: Anh Luật sư trẻ Lê chí Quang, người từng dẫn lời của Hàn Phi Tử ‘’nước mất mà không biết là bất trí, biết mà không lo liệu là bất trung, lo liệu mà không liều chết là bất dũng’’, bị cầm tù từ tháng 2.2002, từng băn khoăn trăn trở về các hiệp định Việt-Trung, sẽ vô cùng hân hoan khi có được những câu trả lời về 8 câu hỏi trên đây.

Họ im lặng trước vô vàn câu hỏi được đặt ra liên tiếp, từ nhiều người, cũng là một cách trả lời.

Và nhân dân luôn có thừa thông minh dễ hiểu, để phán đoán, để nhận định, để kết luận.

Để kết luận rằng: Anh Luật sư trẻ Lê chí Quang, người báo động về những hiệp định tội lỗi và những người chủ trương kư nó, th́... ai là kẻ đáng ở trong tù, nếu như đất nước này thật sự có công lư và luật pháp văn minh.

 

Bùi Tín

Paris-10.11. 2002

 

 

TUYÊN CÁO CHUNG CỦA TẬP THỂ CỰU CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG H̉A VỀ  HÀNH ĐỘNG NHƯỢNG LĂNH THỔ VÀ LĂNH HẢI VIỆT NAM

CHO TRUNG CỘNG CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM

Lănh thổ Việt Nam được h́nh thành là nhờ Tiền Nhân bồi đắp qua nhiều Thế Hệ. Tổ Tiên ta, các Bậc Anh Hùng, Anh Thư Hào Kiệt, qua biết bao nhiêu đời dân Việt đă can trường hy sinh xương máu để bảo vệ từng tấc đất, gang sông, duy tŕ bờ cơi và ǵn giữ toàn vẹn chủ quyền đất nước từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.

Những chứng tích bảo vệ chủ quyền đất nước, từ địa đầu giới tuyến như Nguyễn Phi Khanh khí phách nói với con là Nguyễn Trăi: ‘’Con hăy về đi lo trả thù cho Dân cho Nước’’ như Thoát Hoan chui vào ống đồng mà chạy, như Tôn sĩ Nghị được tha mạng sống không dám quay đầu nh́n lại...đến lănh hải với chiến công hiển hách Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo đă được ghi rơ ràng trong lịch sử Việt Nam.

* Chiếu theo bản tin của Tân Hoa Xă tại Bắc Kinh (Xinhua News Agency, Beijing) ngày 27.12.2001 và bản tin của Japan Economic Newswire ngày 27.12.2001, loan báo buổi lễ kư kết xác nhận đường biên giới giữa hai nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (cộng sản Việt Nam) và Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) được tổ chức tại Dongxing ở Quảng Tây (Trung Cộng) và Móng Cái (Việt Nam) vào ngày 27.12.2001.

* Chiếu theo h́nh ảnh quảng cáo của cơ quan du lịch Trung Cộng phổ biến trên mạng lưới Internet, Thác Bản Giốc thuộc Tỉnh Cao Bằng và Ải Nam Quan thuộc Tỉnh Lạng Sơn của nước Việt Nam hiện nay đă thuộc chủ quyền của Bắc Kinh.

* Chiếu theo website của Bộ ngoại giao cộng sản Việt Nam, ghi rằng: Biên giới phía Bắc Việt Nam bắt đầu từ cây số 0, không c̣n ghi bắt đầu từ Ải Nam Quan như trước.

* Chiếu theo nhiều tài liệu được phổ biết trên mạng lưới Internet, ghi rơ hiệp định về biên giới trên đất liền giữa hai nước được cộng sản Việt Nam và Trung Cộng kư kết vào ngày 30.12.1999 và hiệp định phân định lănh hải giữa hai nước được kư kết vào ngày 25.12.2000.

XÉT RẰNG:

1. Lănh thổ nước Việt Nam được phân định với Trung Hoa tại phía Bắc từ nhiều ngàn năm qua là từ Ải Nam Quan và đă được lịch sử cũng như quốc tế công nhận. Điều đáng chú ư là hàng trăm năm gần đây, biên giới và lănh hải của hai nước đă được xác định theo các hiệp định do Pháp và Nhà Thanh kư từ cuối Thế Kỷ 19 và được coi là hợp pháp đối với quốc tế.

2. Nhà cầm quyền cái gọi là nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay không do toàn dân Việt Nam bầu ra bằng một cuộc đầu phiếu tự do, dân chủ và công b́nh, mà do đảng cộng sản Việt Nam dựng lên.

3. Quốc Hội của cái gọi là nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là một Quốc Hội bù nh́n được bầu cử bằng h́nh thức không phải là phổ thông đầu phiếu: Đảng cử dân bầu, nghĩa là người dân bỏ phiếu cho các ứng cử viên đă được đảng cộng sản Việt Nam chỉ định

4. Đảng cộng sản Việt Nam đă từng làm tay sai cho Liên Sô và Trung Cộng để chiếm lấy miền Bắc, xâm lăng miền Nam Việt Nam, hiện áp đặt lên Đất Nước và Dân Tộc một chế độ độc tài được xây dựng bằng bạo lực, chà đạp nhân quyền, bưng bít sự thật và cai trị bằng khủng bố.

V́ t́nh yêu đất nước, v́ lương tâm và trách nhiệm của chúng ta, những con dân nước Việt trước lịch sử, chúng tôi tập thể Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa gồm các cá nhân và thành phần nhân sự của các Tổ Chức Cựu Quân Nhân, Cựu Tù Nhân Chính Trị, Cựu Cảnh Sát Quốc Gia, Cựu Dân Công Cán Chính và Thế Hệ Thứ 2 của các thành phần kể trên, căn cứ vào tất cả các dữ kiện nhận xét trên, trong tinh thần đoàn kết long trọng.

TUYÊN CÁO

* Xác định lănh thổ nước Việt Nam ở phía Bắc được bắt đầu từ Ải Nam Quan.

* Không nh́n nhận nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là một chính quyền chính thống đại diện cho toàn thể người dân Việt Nam, v́ vậy sự kư kết hai hiệp định nói trên hoàn toàn vô giá trị.

* Không nh́n nhận Quốc Hội Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là cơ quan lập pháp do người dân bầu lên theo ư nguyện của họ, do đó sự phê chuẩn hai hiệp định nói trên hoàn toàn vô giá trị.

* Bởi ba lư do kể trên, nay phủ nhận giá trị hai bản hiệp định phân ranh biên giới trên đất liền và lănh hải được kư kết bởi nhà cầm quyền nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nhà cầm quyền nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Hai hiệp định này là hậu quả của sự cấu kết giữa hai đảng cộng sản Trung Hoa và Việt Nam và không liên hệ ǵ đến Dân Tộc Việt Nam. 

* Tố cáo trước công luận thế giới về hành động bán nước của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam và cực lực lên án tập đoàn lănh đạo cộng sản Việt Nam đă phạm trọng tội phản quốc, bán nước hại dân.

* Cùng với tất cả Quốc Dân Việt Nam trong nước, toàn thể người Việt ở Hải Ngoại, các Đoàn Thể Đấu Tranh, các Tổ Chức Chính Trị và Cộng Đồng người Việt Nam trên khắp thế giới dành quyền sử dụng mọi phương pháp, mọi hành động cần thiết, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào để bảo vệ di sản của Tiền Nhân để lại.

Làm tại Hải Ngoại, ngày 6.2.2002.

            Tổng Hội Hải Quân Hàng Hải Việt Nam Cộng Ḥa.

            Tổng Hội Không Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

            Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến.

            Tổng Hội Biệt Động Quân.

            Tổng Hội Quân Cảnh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.

            Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam.

            Tổng Đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu.

            Tổng Hội Thiếu Sinh Quân.

            Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.

            Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia.

            Tổng Hội Đơn Vị 101.

            Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

            Gia Đ́nh Mũ Đỏ Hải Ngoại.

            Gia Đ́nh 81 Biệt Cách Dù.

            Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam.

            Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa miền Nam California.

            Liên Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa miền Bắc California.

            Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận.

            Liên Hội Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn.

            Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh miền Đông Hoa Kỳ.

            Ủy Ban Điều Hợp Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Âu Châu.

            Lực Lượng Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Ḥa miền Nam California.

            Hội Cựu Quân Cán Chánh Việt Nam Cộng Ḥa tại Maui, Hawaii.

            Hội Thân Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang.

            Các Cơ Quan Dân Cử Quốc Hội và Hội Đồng Đô Tỉnh Thị Việt Nam Cộng Ḥa.

            Gia Đ́nh Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp.

            Gia Đ́nh Trung Tâm Huấn Luyện Sông Mao.

            Gia Đ́nh Tiểu Khu Ninh Thuận.

            Gia Đ́nh Cựu Tù Nhân Chính Trị Tiên Lănh, Quảng Nam-Đà Nẵng.

Cá nhân:

           

Bùi Đ́nh Đạm. Bùi Thế Lân. Cao Văn Viên. Chung Tấn Cang. Chương Dzênh Quay.  Diệp Quang Thủy. Dư Quốc Đống. Đào Duy Ân. Đặng Cao Thăng. Đặng Đ́nh Linh. Đặng Văn Quang. Đinh Mạnh Hùng. Đỗ Kế Giai. Đồng Văn Khuyên. Hoàng Xuân Lăm. Hồ Văn Kỳ Thoại. Huỳnh Văn Cao. Lâm Ngươn Tánh. Lâm Quang Thi. Lê Minh Đảo. Lê Quang Lưỡng. Lê Trung Trực. Lê Ngọc Triển. Lê Văn Thân. Lê Văn Tư. Linh Quang Viên. Lữ Lan.  Lư Bá Hỷ. Lư Ṭng Bá. Mạch Văn Trường. Ngô Quang Trưởng. Nguyễn Bá Cẩn. Nguyễn Bảo Trị. Nguyễn Cao Kỳ. Nguyễn Chánh Thi. Nguyễn Duy Hinh. Nguyễn Duy Tài. Nguyễn Đức Thắng. Nguyễn Hữu Tần. Nguyễn Khánh. Nguyễn Khắc B́nh. Nguyễn Thanh Hoàng.  Nguyễn Thành Châu. Nguyễn Văn Chức. Nguyễn Văn Lượng. Nguyễn Văn Minh. Nguyễn Văn Toàn. Nguyễn Vĩnh Nghi. Phạm Duy Tất. Phạm Đăng Lân. Phạm Hữu Nhơn. Phạm Ngọc Hợp. Phạm Ngọc Sang. Phạm Quốc Thuần. Phạm Văn Đống. Phạm Văn Út. Phạm Xuân Chiếu. Phan Ḥa Hiệp. Phan Trọng Chinh. Trang Sĩ Tấn. Trần Bá Di. Trần Đ́nh Thọ.  Trần Quang Khôi. Trần Thiện Khiêm. Trần Văn Chơn. Trần Văn Nhực. Trần Văn Trung. Từ Văn Bê, Văn Thành Cao. Vĩnh Lộc. Vơ Dinh. Vũ Đ́nh Đào.  

Trong tinh thần Chiến Thắng Đống Đa, Bản Tuyên Cáo Chung của Tập Thể Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đă được phổ biến ngày mồng 5 Tết Nhân Ngọ, nhằm ngày 16.2.2002. Bản kư tên này sẽ được cập nhật mọi khi có sự tham gia của các cá nhân và các Tổ Chức khác. Xin liên lạc về:

            Điện Thoại/ Fax: (877) 263-6109. E-Mail: ubphhd@ureach. com

            Cập nhật ngày 27.2.2002.

***

TUYÊN CÁO

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN TẠI PHÁP

            ngày 27.12.2001 các hăng thông tấn Trung Cộng lẫn cộng sản Việt Nam loan tin nhà cầm quyền Trung Cộng và cộng sản Việt Nam đă làm lễ cắm mốc phân chia ranh giới Hoa-Việt tượng trưng cho việc dâng đất, nhượng lănh hải cho Trung Cộng để thực thi hiệp ước phân định biên giới trên đất liền kư ngày 30.12.1999.

            Đảng cộng sản Việt Nam đă nhượng đất tại biên giới cũng như lănh hải cho Trung Cộng.

            Đảng cộng sản Việt Nam phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc chuyển nhượng bất hợp pháp đất đai cũng như lănh hải mà Tổ Tiên ta đă dày công xây dựng và bảo vệ.

            Xét rằng hành động nhượng đất cho ngoại bang là một hành động bán nước, phản quốc. Các hiệp ước bán nước giữa hai đảng Trung Cộng và Việt Nam không có giá trị đối với  Quốc Dân Việt Nam.

Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại Tỵ Nạn trên toàn thế giới nói chung và tại Pháp nói riêng đồng chia xẻ nguyện vọng của đồng bào trong nước, cùng đồng thanh tuyên cáo.

Cực lực phản đối và tố cáo hành vi phản quốc của đảng cộng sản Việt Nam.

Cực lực lên án đảng cộng sản Việt Nam măi quốc cầu vinh làm tay sai, nhượng đất đai của Tổ Tiên cho ngoại bang.

Đảng cộng sản Việt Nam là tội phạm của đất nước và cũng là kẻ thù của Dân Tộc Việt Nam.

Người Việt trong nước cũng như hải  ngoại hăy cùng nhau hợp quần đứng lên ngăn chặn tội ác bán nước của đảng cộng sản Việt Nam.

Cương quyết phủ nhận toàn văn những văn kiện và hiệp ước bán nước mà đảng cộng sản Việt Nam đă kư kết với Trung Cộng.

Quốc Dân Việt Nam tiếp nối truyền thống hào hùng của dân tộc Đại Việt vùng lên đấu tranh đ̣i lại quyền Dân Tộc Tự Quyết, giành lại quyền làm chủ đất nước.

Có như vậy chúng ta mới cứu được nước, dân và không hổ thẹn với Tiền Nhân đă đổ biết bao xương máu để bảo vệ giải giang sơn gấm vóc Việt Nam được toàn vẹn. Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại luôn luôn sát cùng Đồng Bào Quốc Nội trong cuộc đấu tranh lịch sử này.

Làm tại Paris, ngày 20 tháng 1 năm 2002.

Khối Người Việt Hải Ngoại tại Pháp.

***

TUYÊN CÁO

Hội đoàn tổ Chức trong Cộng Đồng Việt Nam Toronto và Vùng Phụ Cận về hiệp ước biên giới trên đất liền Việt-Trung ngày 30.12.1999 và hiệp ước về phân định lănh hải ngày 25.12.2000.

NHẬN ĐỊNH RẰNG

            1. Lănh thổ và lănh hải Việt Nam là di sản do Tổ Tiên để lại cho toàn thể dân chúng Việt Nam và là tài sản của toàn dân Việt Nam, có tính cách thiêng liêng, bất khả phân, bất khả nhượng. Trong lịch sử Dân Tộc Việt Nam đă nhiều lần kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập và sự toàn vẹn lănh thổ và lănh hải. Do đó chỉ có toàn dân Việt Nam mới có quyền quyết định về những vấn đề liên quan đến lănh thổ và lănh hải bằng cuộc trưng cầu dân ư rộng răi tự do và dân chủ.

            2. Nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay do đảng cộng sản Việt Nam thành lập và điều khiển, đồng thời là kết quả của sự vi phạm hiệp ước Geneve ngày 20.7.1954 và hiệp định Paris 27.01.1973, cưỡng chiếm toàn bộ lănh thổ Việt Nam và chỉ được bầu lên bằng những cuộc bầu cử không tự do dân chủ do đảng cộng sản Việt Nam chỉ huy nên không thể là đại diện hợp pháp của toàn dân Việt Nam.

3. Nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tự kư kết hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Trung ngày 30.12.1999 và hiệp ước phân định lănh hải ngày 25.12. 2000 với nhà cầm quyền Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, mà không trưng cầu dân ư toàn dân Việt Nam và không công bố nội dung các hiệp ước là một việc làm ám muội bất hợp pháp.

4. Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Trung ngày 30.12.1999 đă nhượng cho Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa 879 km2 tại hai Tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, làm mất Ải Nam Quan, địa danh vang lừng chiến sử dân tộc, biểu tượng độc lập thiêng liêng của Tổ Quốc vào tay bắc phương.

Hiệp định phân định lănh hải ngày 25.12.2000 đă sửa đổi đường ranh giới quy định bởi hiệp ước 1887, là kinh tuyến Greenwich 108 độ 3 phút 13 giây, chia lại tỷ lệ mặt biển Vịnh Bắc Việt khiến cho Việt Nam mất trên 10.000 cây số vuông mặt biển vào tay Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa. Được biết thêm vùng nầy nằm gần Đảo Bạch Long Vỹ là vùng có nhiều hải sản và tiềm năng về khí đốt. V́ những lẽ trên, chúng tôi những Hội Đoàn và Tổ Chức kư tên dưới đây, đồng thanh tuyên cáo:

ĐỒNG THANH TUYÊN CÁO

1. Phản đối nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đă ám muội kư kết bất hợp pháp hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt-Trung ngày 30.12.1999 và hiệp ước lănh hải ngày 25.12.2000 với nhà cầm quyền Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa.

2. Phủ nhận toàn bộ kết quả của hai hiệp ước trên.

3. Ủng hộ tật cả những cuộc đấu tranh để ǵn giữ và bảo vệ sự vẹn toàn lănh thổ, đoàn kết mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước, để đối phó với mưu đồ xâm lược bất cứ từ đâu tới và đồng thời giải thể chế độ cộng sản Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thiết lập nột chế độ tự do dân chủ, tôn trọng dân quyền và nhân quyền tại Việt Nam.

Làm tại Toronto, ngày 24 tháng 1 năm 2002.

Danh sách các Hội Đoàn và Tổ Chức cùng kư tên:

1. Ủy Ban Nhân Quyền Toronto

2. Hội Cao Niên Việt Nam Mississauga

3. Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Ontario

4. Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức

5. Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị

6. Hội Người Việt Toronto

7. Hội Phụ Nữ Việt Nam Toronto

8. Hội Quốc Tổ Hùng Vương

9. Hiệp Hội Vơ Thuật Ontario

10. Liên Đoàn Lê Văn Hưng

11. Liên Minh Dân Chủ Việt Nam

12. Liên Minh Việt Nam Tự Do ở Toronto

13. Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam ở Toronto

14. Phong Trào Thanh Niên Việt Nam Tự Do

15. Phong Trào Yểm Trợ Ủy Ban Quốc Tế Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam ở Toronto

16. Phong Trào Quốc Tế Yểm Trợ Việt Nam Tự Do ở Toronto

17. Trung Tâm Huấn Luyện Vovinam Việt Vơ Đạo ở Toronto

18. Trung Tâm Cộng Đồng Việt Nam Mississauga

19. Trung Tâm Văn Bút Ontario

20. Câu Lạc Bộ Thanh Niên Toronto

21. Báo Làng Văn

***

TUYÊN CÁO

Chủ Quyền Lănh Thổ và Lănh Hải của Việt Nam

            Chúng tôi, những người Việt sinh sống trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xă hội, tôn giáo hay chính kiến, long trọng kư tên trong Bản Tuyên Cáo dưới đây, gửi tới toàn thể Quốc Dân Đồng Bào ở trong nước và ở hải ngoại, đồng gửi tới Liên Hiệp Quốc, các Quốc Gia lân bang cùng các nước liên hệ đến Việt Nam và để lại cho lịch sử đời sau:

            Lănh thổ một Quốc Gia h́nh thành là nhờ Tiền Nhân gian khổ tô bồi qua nhiều thế hệ. Từng tấc đất, giải sông, vách núi hay mặt biển đều ghi nhận công lao khai phá và ǵn giữ của người đi trước mà người đời sau có nhiệm vụ thiêng liêng là phải bảo vệ.

Chủ quyền của Quốc Gia trên lănh thổ hay lănh hải đă được lịch sử và quốc tế công nhận, không ai được nhân danh bất cứ điều ǵ để nhượng cho ngoại bang. Làm vậy là hành động bán nước, là có tội với dân tộc. Quốc Gia nào dùng áp lực hay mưu mô để chiếm đoạt lănh thổ hay lănh hải nước khác là can tội xâm lấn và vi phạm trầm trọng vào quy tắc bang giao của thế giới văn minh.

Đảng cộng sản Việt Nam đang nắm quyền lănh đạo bất chính tại Việt Nam lại đă vừa sai công cụ của ḿnh là chính phủ Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kư kết hai bản hiệp định liên quan đến biên giới trên bộ và ngoài Vịnh Bắc Bộ với chính quyền Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, ngày 30.12.1999 và ngày 25.12.2000. Việc kư kết được thực hiện trong mờ ám nên đại đa số dân chúng không hề được biết. Năm 2001 đảng cộng sản Việt Nam cho nhóm người trong thường vụ Quốc Hội Việt Nam, một công cụ khác của đảng, lén lút phê chuẩn nhằm gán cho hai văn kiện này một giá trị pháp lư không thể có.

Do sự bưng bít dư luận, chẳng những thế giới bên ngoài và toàn thể người Việt không được biết ǵ về nội dung hai văn kiện trên, mà ngay chính các đảng viên cộng sản hay trên 400 đại biểu của Quốc Hội cộng sản Việt Nam cũng không hề biết. Trong ba năm kể từ ngày 27.12.2001. Một ngàn năm trăm cột mốc đánh dấu cương vực giữa Việt-Trung được trồng lại,  lănh hải của Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ cũng được xác định lại, với những thiệt hại lớn lao về lănh thổ và lănh hải của Việt Nam, không kể nhiều thiệt tḥi và bất công khác mà người dân chưa có thể biết.

Nhưng cụ thể trước mắt như một nỗi nhục, một biểu tượng về chủ quyền lănh thổ của Việt Nam là Ải Nam Quan, địa danh phân chia biên giới hai nước Việt-Trung nằm trong Tỉnh Lạng Sơn của Việt Nam, từ bao thế kỷ qua đă trở thành di tích lịch sử, văn hóa và tâm lư của người Việt, th́ do các văn kiện vừa kư kết, nay đă nằm trong lănh thổ Trung Cộng.

Trước sự xâm phạm chủ quyền quốc gia và xúc phạm danh dự dân tộc, người Việt ở khắp mọi nơi long trọng khẳng định:

1. Đảng cộng sản Việt Nam không đại diện chính đáng cho dân tộc, hai bản hiệp định về biên giới trên bộ và ngoài biển mà một số người trong đảng đă kư với chính quyền Trung Cộng là hoàn toàn vô giá trị.

2. V́ nhu cầu phát triển quan hệ quốc tế trong ổn định và công bằng, thỉnh cầu các quốc gia trên thế giới không công nhận hai văn kiện này. Ngoài lẽ bất công cho Việt Nam,  chúng c̣n thể hiện tham vọng bành trướng và chủ trương bá quyền của Trung Cộng và là tiền lệ nguy hiểm cho toàn khu vực Đông Á.

3. Lịch sử dân tộc phải ghi nhận sự kiện này, và người Việt Nam trong hiện tại lẫn các thế hệ và chính quyền về sau đều có bổn phận tranh đấu để giành lại chủ quyền trên các phần lănh thổ và lănh hải đă mất v́ hai hiệp định bất b́nh đẳng nói trên.

4. Quyết liệt lên án và không dung tha nhóm người trong đảng cộng sản Việt Nam đă nhân danh quyền lănh đạo đất nước lén lút tiến hành việc bán nước.

Kính gửi toàn thể đồng bào trong và ngoài nước:

V́ trách nhiện của chúng ta trước lịch sử.

V́ t́nh yêu đất nước.

V́ con cháu chúng ta.

V́ nỗi đau nỗi nhục này chẳng của riêng ai.

Chúng tôi tha thiết kêu gọi đồng bào khắp nơi cùng nhau phổ biến Bản Tuyên Cáo để thu thập chữ kư đông đảo, cập nhật hóa danh sách và thông báo rộng răi cho toàn thế giới cùng rơ.

 

PROCLAMATION ON THE QUESTION OF LAND BORDERS AND TERRITORIAL WATERS OF VIETNAM

 

We, Vietnamese both inside and outside Vietnam, undivided by social or religious differences, or even political affiliations, hereby solemnly affix our names to the following Proclamation, to be sent to the whole Vietnamese nation-at home and abroad-and to the United Nations, neighbouring countries of Vietnam as well as those maintaining relations with Vietnam. The Proclamation will also be kept for future reference:

The territory of a nation results from a millennial struggle, with much blood and sacrifice, passed by generation after generation from our ancestors to the present day. Each square foot of our territory, from our rivers and mountains to our territorial waters, bears the distinct marks of our forefathers' arduous struggle. It is hence our sacred duty as descendants to defend such territory.

The sovereignty of a nation on its territory and territorial waters is a title of ownership that must be consecrated by history and international recognition, it can under no circumstances be yielded to a foreign power. To make land and territorial waters concessions to foreign powers is thus a treasonable act, a crime answerable to the nation. And any power that uses schemes or pressures to occupy another country's territory or territorial waters is thus guilty of aggression and gross violations of the international norms of a civilised world.

The Communist Party of Vietnam (CPV), an illegitimate holder of power in Vietnam, had ordered its instrument, the Government of the Socialist Republic of Vietnam (SRV), to sign two treaties with the People's Republic of China: one on land borders on 30 December 1999 and one on the division of territorial waters in the Gulf of Tonkin on 25 December 2000. This did not become public until June 2001 when it suddenly was announced that the first one had been ratified a few days earlier, but in reality only by the Standing Committee of the NationalAssembly,  another instrument in the hands of the CPV.

Thanks to a determined effort to suppress all information regarding these two agreements, not only is the international community kept in the dark, the Vietnamese people themselves whose interests are paramount in the matter know next to nothing about the specific contents of these two international instruments. And so are the 400 representatives in the National Assembly of Vietnam. Yet starting last 27 December 2001, the first border demarcations already officially took place at the border towns of Dongxing (in China) and Mong Cai (Vietnam). This process, involving some 1.500 markers, is expected to take up to three years to complete. As for the new dividing lines in the Gulf of Tonkin (Seibu in Chinese but the name itself, Vinh Bac Bo or Gulf of Tonkin clearly refers to its being in the Northern part of Vietnam), they will take away some 22.000 square miles of territorial waters from Vietnam as compared with the Tientsin treaty negotiated in 1885. These border and territorial water ‘’readjustments’’ will of course mean untold sufferings to the people living in or off the land and the waters now conceded to China.

Even more concretely, it is a mark of national dishonour that the Nam Quan Pass,  which for thousands of years has stood as the traditional marker dividing Vietnam from China and as a proud symbol of Vietnamese independence (all geographies of Vietnam start with the sentence, ‘Vietnam is one from the Nam Quan Pass to the Ca Mau Peninsula’), is now way inside China.

In the face of such violations of Vietnamese sovereignty and blows to Vietnamese honour, we, the Vietnamese both inside and outside of Vietnam, hereby solemnly declare:

1. The Communist Party of Vietnam, an illegitimate power holder, cannot be the legitimate representative of the Vietnamese nation, especially in regard to the above two land border and territorial waters agreements that it has signed with China. These agreements are therefore invalid.

2. Since a stable world can be built only on fair and open instruments of international discourse, we appeal to the United Nations and international community not to recognise these two agreements. For besides being unfair to Vietnam, these instruments are the clearest and latest proofs of Chinese hegemonic ambition in Southeast Asia, thus threatening the stability of the whole region and international commerce in the South China Sea.

3. Vietnamese history will forever remember this as a mark of opprobrium on the record of the CPV, and all Vietnamese of this and future generations are duty bound to wrest back what the CPV has conceded to China through these two agreements.

4. We resolutely condemn in no uncertain terms this treasonable act of the CPV and especially its handful of leaders who have accepted to make a deal with their Chinese counterparts behind the back of the Vietnamese people.

To All Vietnamese Both Inside and Outside of Vietnam:

In view of our responsibility before History, And because of our patriotism, And our responsibility to our descendants, And since this shame is a national opprobrium that we must all share, We earnestly call on all Vietnamese compatriots, no matter where you are, to disseminate this Proclamation so as to gather as many signatures as we can,  updating it from time to time and communicating our outrage for the Whole World to see and know  about.

***

 

TUYÊN CÁO

Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ về việc đảng cộng sản Việt Nam thực hiện việc nhượng đất cho Trung Cộng qua hiệp ước 1999

            Ngày 27 tháng 12 năm 2001, việt cộng tổ chức lễ trọng thể đặt mốc biên giới tại Thị Trấn Móng Cái. Đây là mốc đầu tiên trong số 1.500 cái sẽ được đặt trên một khoảng cách là 1.350 cây số dọc theo biên giới Việt-Hoa.

            Cùng một lúc, Trung Cộng cũng tổ chức một lễ tương tự tại Thị Trấn Đông Hưng sát ngay Móng Cái. Việc đặt mốc này là thi hành hiệp ước phân định biên giới trên đất liền mà Trung Cộng và việt cộng kư ngày 30.12.1999. Quốc Hội việt cộng đă phê chuẩn hiệp ước vào tháng 6 năm 2000.

            Dù đă phê chuẩn hiệp ước ấy, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không công bố nội dung hiệp ước cho công chúng biết. Chúng coi hiệp ước như một bí mật quốc gia. Người ta chỉ được biết mơ hồ rằng hai bên đă giải quyết được 70 địa điểm tranh chấp. Có lẽ đảng cộng sản ám chỉ đến các ngọn đồi và các địa điểm chiến lược nằm sâu trong nội địa Việt Nam  mà Trung Cộng chiếm của Việt Nam trong thời gian xảy ra tranh chấp từ tháng 2 năm 1979. Các địa điểm này nằm trong 6 Tỉnh biên giới là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang Lao Cai và Lai Châu. Lúc đó quân Trung Cộng đă tiến sâu vào tới 40 cây số, tàn phá nhiều cơ sở của Việt Nam. Sau 17 ngày xâm lăng, Trung Cộng tuyên bố rằng đă dạy xong một bài học cho việt cộng, rồi rút quân về. Thực tế, quân Trung Cộng c̣n chiếm đóng các cao điểm ấy và từ đó dùng các phương tiện quân sự để đe dọa việt cộng, nhằm cầm chân 600.000 quân việt cộng tại mặt trận này. Đến 1987, mức độ áp lực của Trung Cộng giảm xuống nhiều, nhưng Trung Cộng vẫn c̣n tiếp tục chiếm đóng quân tại các vùng ấy.

            Dù sau khi hai bên đă kư hiệp ước tái lập bang giao vào năm 1991, lính biên pḥng Trung Cộng đóng tại các nơi này vẫn sử dụng vơ lực đuổi nông dân Việt Nam đi nơi khác, có khi đốt nhà cửa của họ để chiếm đất cho nông dân Trung Cộng sang lập nghiệp. Không một ai được biết có bao nhiêu đất đă lọt vào tay Trung Cộng và ở những nơi nào? Trong số khu vực đă được giải quyết như đảng cộng sản tiết lộ, Trung Cộng đă trả lại cho Việt Nam những nơi nào, như thế nào, bao giờ, diện tích là bao nhiêu và ai là người tiếp nhận?

            Mới đây có tin tức tiết lộ cho biết số đất việt cộng nhượng cho Trung Cộng là 789 cây số vuông. Hiệp ước phân định biên giới trên đất liền được thai nghén tại Trung Hoa từ năm 1991 với sự cam kết của Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười. Rồi Tổng bí thư Lê khả Phiêu cũng tại Trung Hoa hứa thúc đẩy việc kư kết và hiệp ước được kư vào năm 1999.  Cuối cùng, đầu tháng 12.2001 vừa qua cũng tại Bắc Kinh như 2 Tổng bí thư tiền nhiệm Tổng bí thư Nông đức Mạnh xác nhận trong thông báo chung thực hiện ngay công tác cắm mốc biên giới. Đây là bước cuối cùng trong tiến tŕnh chuyển nhượng phần lănh thổ đó cho Trung Cộng. Việc cắm mốc vội vă này là để hợp thức hóa biên giới mới ấy trong một âm mưu chuyển nhượng đất đai của Quốc Dân Việt Nam.

            Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn Toàn Lănh Thổ trong các Tuyên Cáo ngày 29.4.1995 và ngày 18.12.2000 đă xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên đất liền cũng như trên mặt biển, tố cáo đảng cộng sản Việt Nam chuyển nhượng bất hợp pháp các phần đất ấy của dân tộc Việt Nam và quy trách nhiệm cho đảng cộng sản làm công việc phi pháp này.

            Một lần nữa, Ủy Ban tuyên bố hiệp ước ấy và biên giới mới đang được thực hiện bằng cách cắm mốc là vô giá trị v́ lẽ:

1) Đất đai của Việt Nam thuộc quyền sở hữu của Quốc Dân Việt Nam. Chỉ có Quốc Dân Việt Nam mới có quyền quyết định về mọi chuyển nhượng.

2) Đảng cộng sản Việt Nam đă lạm dụng quyền hành làm việc này và sẽ phải chịu trách nhiệm h́nh sự về hành vi ấy.

3) Đối với Trung Cộng, đây là việc làm giữa hai đảng cộng sản, không có liên hệ ǵ với Quốc Dân Việt Nam.

Đảng cộng sản Việt Nam chiếm quyền và cai trị bằng bạo lực, không phải là đại diện cho nhân dân Việt Nam. Hiệp ước 1999 và việc thi hành hiệp ước như trên v́ thế hoàn toàn vô giá trị. Quốc Dân Việt Nam dành quyền sử dụng mọi phương pháp cần thiết để bảo vệ tài sản của Tiền Nhân để lại.

Làm tại Califonia ngày 18 tháng 1 năm 2002.

Đại diện Giáo Sư Nguyễn Văn Canh.

 

LIÊN HỘI CỰU CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG H̉A

Vùng Hoa Thịnh đốn & Phụ Cận

Republic of Viet Nam Veterans Associations Coalition of

Washington,  DC & Vicinity

điện Thoại / Fax: (877) 263-6109

Post Office Box 5055 - Springfield, Virginia 22150-5055


           
ngày 16 tháng Giêng năm 2002.

            Kính thưa Quư Đồng Hương, Quư Niên Trưởng và Quư Chiến Hữu,

            Đảng cộng sản Việt Nam và hậu duệ của Hồ chí Minh càng ngày càng lộng hành. Sự lộng hành này đă thể hiện qua hành động bán nước cho Trung Cộng, được chính thức xác nhận trong ‘’buổi lễ mừng’’ ngày 27 tháng 12 năm 2001 tại Dongxinh và Móng Cái.

            Hành động bán nước của tập đoàn cộng sản Việt Nam không thể biện minh bằng bất cứ lư do nào, chỉ có một lư do duy nhất giải thích hành động cắt đất Tổ Tiên dâng cho quan thầy Trung Cộng của tập đoàn cộng sản Hà Nội là: Để củng cố quyền lực cai trị của bọn chúng tại Việt Nam.

            Vậy, để ngăn chận hành động bán nước của cộng sản Việt Nam trong những ngày sắp tới, chúng ta cần phải làm ǵ?

            Thực tế hiện nay cho thấy người dân trong nước không thể có một biện pháp mạnh bạo nào đối với tập đoàn độc tài cộng sản, ngoài việc lên án và nguyền rủa bọn người phá hoại công nghiệp của Tiền Nhân. Tuy nhiên, Người Việt hải ngoại sẽ phải cố gắng hết sức để thực hiện những điều có thể làm được trong khả năng của chúng ta.

Trong tinh thần đó, chúng tôi tha thiết kêu gọi mọi người dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước cần phải lên tiếng cho thế giới thấy về tính chất không chính thống của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện nay. Sự việc này ít ra cũng là một bằng chứng thể hiện ư nguyện không chấp nhận hành động bán nước của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Bằng chứng này sẽ rất có hữu ích cho chính quyền dân cử chính thống của Việt Nam trong tương lai, chúng ta có thể sử dụng để đ̣i lại lănh thổ và lănh hải Việt Nam đă bị bán đứng bởi bọn cộng sản đương quyền.

Song song với việc lên tiếng phủ nhận nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện tại,  chúng ta c̣n phải chú trọng đến những điều sau đây:

Bất cứ một thái độ hay lời nói công nhận ‘’chính quyền Việt Nam’’hiện nay, công nhận ‘’các giới chức lănh đạo trong nước’’ hiện nay, đều có nghĩa là trực tiếp chính thống hóa tập đoàn cộng sản Việt Nam bán nước.

Công nhận bản hiến pháp của Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bằng cách góp ư sửa đổi, cũng như công nhận quốc hội cộng sản Việt Nam, đều có nghĩa là trực tiếp chính thống hóa tập đoàn cộng sản Việt Nam bán nước.

Hành động hoan hô, cổ vơ việc ‘’góp ư để xây dựng đảng’’ của các cán bộ cách mạng lăo thành, nói nôm na là những đảng viên cộng sản có hàng chục tuổi đảng là trực tiếp chính thống hóa vai tṛ lănh đạo của đảng cộng sản Việt Nam bán nước.

Chúng ta phải dứt khoát không tự nhận ḿnh là Việt kiều của cái  gọi là nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Tóm lại, chúng ta cần phải cẩn trọng đường lối và phương thức đấu tranh với cộng sản để tránh những hậu quả khốc hại có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Một lần nữa, trong tinh thần vừa nêu, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa Vùng Hoa Thịnh Đốn & Phụ Cận trân trọng phổ biến Bản Tuyên Cáo kèm  theo đây.

Chủ Tịch Đoàn Hữu Định.

------------ --------- --------- --------- ---------
LIÊN HỘI CỰU CHIẾN SĨ VIỆT NAM CỘNG H̉A

Vùng Hoa Thịnh đốn & Phụ Cận

Republic of Viet Nam Veterans Associations Coalition of Washington, DC & Vicinity

điện Thoại / Fax: (877) 263-6109 - E-Mail: ubphhd@ureach. com

Post Office Box 5055-Springfield, Virginia 22150-5055

 

TUYÊN CÁO

Hành động Nhượng Lănh Thổ và Lănh Hải Việt Nam cho Trung Cộng của cộng sản Việt Nam

Chiếu theo bản tin của Tân Hoa Xă tại Bắc Kinh (Xinhua News Agency, Beijing) ngày 27 tháng 12 năm 2001 và bản tin của Japan Economic Newswire ngày 27 tháng 12 năm 2001,  loan báo buổi lễ kư kết xác nhận đường biên giới giữa hai nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (cộng sản Việt Nam) và Cộng  Ḥa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) được tổ chức tại Dongxing-Quảng Tây và Móng Cái-Việt Nam vào ngày 27 tháng 12 năm 2001.

Chiếu theo h́nh ảnh quảng cáo của cơ quan du lịch Trung Cộng phổ biến trên mạng lưới Internet, Thác Bản Giốc thuộc Tỉnh Cao Bằng và Ải Nam Quan thuộc Tỉnh Lạng Sơn của nước Việt Nam hiện nay đă thuộc chủ quyền của Bắc Kinh.

Chiếu theo website của bộ ngoại giao cộng sản Việt Nam, ghi rằng biên giới phía Bắc Việt Nam bắt đầu từ cây số 0, không c̣n ghi bắt đầu từ Ải Nam Quan như trước.

Chiếu theo tài liệu điều trần của Giáo Sư Trần Đại Sỹ được phổ biến trên mạng lưới Internet, ghi rơ hiệp định về biện giới trên đất liền giữa hai nước được cộng sản Việt Nam và Trung Cộng kư kết vào ngày 30.12.1999 và hiệp định lănh hải giữa hai nước được kư kết vào ngày 25.12.2000.

XÉT RẰNG

Lănh thổ nước Việt Nam được phân định với Trung Hoa tại phía Bắc từ nhiều năm qua là từ Ải Nam Quan.

Nhà cầm quyền của cái gọi là nước Cộng Ḥa xă hội chủ nghĩa cộng sản Việt Nam hiện nay không do toàn dân Việt Nam bầu ra bằng một cuộc đầu phiếu dân chủ, công b́nh, mà do đảng cộng sản Việt Nam dựng lên.

Quốc Hội của cái gọi là nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là một Quốc Hội bù nh́n được bầu cử bằng h́nh thức gian lận: ‘’đảng cử, dân bầu’’, nghĩa là người dân bỏ phiếu cho các ứng cử viên đă được đảng cộng sản Việt Nam chỉ định.

Đảng cộng sản Việt Nam đă từng làm tay sai cho Liên Sô và Trung Cộng để chiếm lấy miền Bắc, xâm lăng miền Nam Việt Nam và biến đất nước thành một thuộc địa của cộng sản quốc tế.

TUYÊN CÁO

Căn cứ  tất cả các dữ kiện vừa nêu trên, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa Vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận long trọng tuyên cáo:

Thứ nhất: Xác định lănh thổ nước Việt Nam ở phía Bắc được bắt đầu từ Ải Nam Quan.

Thứ hai: Không nh́n nhận nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là một chính quyền chính thống đại diện cho toàn thể người dân Việt Nam. V́ vậy sự kư kết hai hiệp định nói trên hoàn toàn vô giá trị

Thứ ba: Không nh́n nhận Quốc Hội Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện nay là cơ quan lập pháp do người dân bầu lên theo ư nguyện của họ, do đó sự phê chuẩn hai hiệp định nói trên hoàn toàn vô giá trị.

Thứ tư: Bởi ba lư do kể trên, nay phủ nhận giá trị hai bản hiệp định phân ranh biên giới trên đất liền và lănh hải được kư kết bởi nhà cầm quyền Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nhà cầm quyền Cộng Ḥa Nhân Dân Trung  Hoa.

Thứ năm: Tố cáo trước công luận thế giới về hành động bán nước của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.

Thứ sáu: Lời tố cáo và phủ nhận trên đây sẽ được gửi đến tổ chức Liên Hiệp Quốc, các Tổ Chức Luật Gia Thế Giới và các Cơ Quan Nhân Quyền Quốc Tế.

Thứ bảy: Trân trọng kêu gọi tất cả công dân Việt Nam trong nước, mọi người Việt Nam ở hải ngoại, các Đoàn Thể đấu tranh, các Tổ Chức Chính Trị và Cộng Đồng Người Việt trên khắp thế giới, nhất là các Tổ Chức Luật Gia Việt Nam hải ngoại lên tiếng phủ nhận giá trị của hai bản hiệp định phân chia biên giới trên đất liền và lănh hải giữa hai nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam và cộng sản Trung Hoa, đồng thời tố cáo hành động bán nước của cộng sản Việt Nam đến Liên Hiệp Quốc, Hội Luật Gia Thế Giới và các Cơ Quan Nhân Quyền Quốc Tế.

Làm tại Hoa Thịnh Đốn, ngày 16 tháng Giêng năm 2002.

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa Vùng Hoa Thịnh Đốn & Phụ Cận.

***

HỘI Y SĨ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

VIETNAMESE MEDICAL ASSOCIATION OF THE USA

6255 University Ave. Suite A2,  San Diego, CA 92115

Ph: 619-583-0553. Fax: 619-583-5702. Website: http://vmausag

BẢN LÊN TIẾNG

Về việc đảng cộng sản Việt Nam chuyển nhượng lănh thổ cho Trung Cộng

            Kể từ năm 1991, sau khi mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Cộng được được nối lại, thành phần lănh đạo của việt cộng và Trung Cộng đă họp nhiều lần bàn về vấn đề biên giới giữa hai nước. Kết quả là hiệp ước về biên giới trên đất liền đă được kư vào tháng 12 năm 1999 và Quốc Hội cộng sản Việt Nam đă phê chuẩn vào tháng 6 năm 2000.

            Cho tới nay, nội dung bản hiệp ước về biên giới không được thông báo cho quốc dân. Hiển nhiên, những sự việc cụ thể sau đây đă xảy ra:

            Vào tháng 2 năm 1979, Trung Cộng đă cho trên 220.000 quân ồ ạt tiến sâu khoảng 40 km vào 6 Tỉnh miền Bắc Việt Nam. Bị phản công, quân Trung Cộng rút về nhưng vẫn c̣n chiếm giữ những địa điểm chiến lược trên nước Việt Nam.

            Từ năm 1991, hàng trăm ngàn mẫu đất của nông dân Việt Nam sinh sống dọc theo biên giới bị lính biên pḥng Trung Cộng liên tục xua đuổi để cho dân Trung Cộng sang lập nghiệp.

            Cửa Ải Nam Quan bị di chuyển vào nội địa Việt Nam khoảng 5 km. Các công sở, cửa hàng và nhà của dân chúng Việt Nam tại vùng biên giới được xây lại sau cuộc chiến 1979, nay theo bản hiệp ước, thuộc về phần đất của Trung Cộng.

            Trong kỳ viếng thăm Bắc Kinh vào đầu tháng 12 năm 2001, Nông đức Mạnh, Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, đă đồng ư: Tích cực phát triển và thúc bách giải quyết việc phân định ranh giới các phần đất và phần biển c̣n tranh chấp cũ. Với cam kết đó, ngày 27 tháng 12 năm 2001, hai bên đă tổ chức lễ cắm mốc chủ quyền biên giới, để hợp thức hóa việc chuyển nhượng đất đai của đảng cộng sản Việt Nam cho Trung Cộng.  

            Trước những sự kiện trên, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ long trọng tuyên bố trước Quốc Dân Việt Nam và trước công luận thế giới:

            Việc chuyển nhượng đất đai của đảng cộng sản Việt Nam cho đảng cộng sản Trung Quốc là bất hợp pháp. Đảng cộng sản Việt Nam không đại diện cho nhân dân Việt Nam và cũng không phải là sở hữu chủ của đất đai nước Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Quốc Dân Việt Nam về việc này.

            Việc chuyển nhượng bất cứ một phần đất nào của lănh thổ Quốc Gia phải được sự chấp thuận của toàn thể Quốc Dân Việt Nam. V́ vậy, Quốc Dân Việt Nam giành quyền phản đối và tuyên bố hiệp ước xác định biên giới 1999 cùng việc cắm mốc chủ quyền bắt đầu vào ngày 27.12.2001 là vô giá trị.

            Ngày 29 tháng 1 năm 2002.

            Bác Sĩ Trần Đ́nh Thủy. Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

            Bác Sĩ Trần Duy Tôn. Chủ Tịch Ban Chấp Hành Hội Y  Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Việt Nam, ngày 18 tháng 1, năm 2002

 Kính gửi: Ông Kofi Annan

Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc

V/v Phản kháng cộng sản Việt Nam dâng Lănh Thổ và Hải Phận cho Trung Cộng

Kính thưa Ông Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc

Vào cuối năm ngoái và đầu năm nay dân chúng Việt Nam đă vô cùng xúc động và căm phẫn, khi khám phá ra việc cộng sản Việt Nam đă lén lút kư hiệp ước dâng một phần Lănh Thổ và Lănh Hải vốn thuộc Việt Nam cho Trung Cộng.

Theo lịch sử, biên giới phía Bắc Việt Nam giáp với Trung Cộng đă được xác định từ mười thế kỷ trước, vào năm 1084, giữa Triều Lư của Việt Nam và Tống triều của Trung Hoa. Biên giới này được tái xác nhận bằng hai hiệp ước vào các năm 1885 và 1887 giữa chính phủ Pháp và Thanh triều của Trung Hoa.

Trước năm 1975, trong cuộc chiến gần 30 năm, cộng sản Việt Nam đă phụ thuộc vào Trung Cộng, nên để cho Trung Cộng lập các cơ sở tiếp liệu về phía Nam biên giới, bên trong nội địa Việt Nam, cũng như cho người tới cư ngụ để làm việc tại các cơ sở này. Sau khi Trung Cộng kéo quân qua biên giới ‘’cho Việt Nam một bài học’’ vào đầu năm 1979, tuy hai nước đă giảng ḥa và tái lập bang giao vào năm 1991, nhưng quân Trung Cộng vẫn c̣n lưu lại tại một số địa điểm trên Lănh Thổ Việt Nam.

Cộng sản Việt Nam, chẳng những không yêu cầu Trung Cộng tôn trọng biên giới cũ,  c̣n kư hiệp ước về biên giới trên đất liền vào ngày 30.12.1999 và hiệp ước về biên giới dưới biển vào ngày 25.12.2000, nhường cho Trung Cộng một phần lănh thổ và hải phận vốn thuộc chủ quyền Việt Nam. Nhân dân Việt Nam hoàn toàn không biết vụ này, cho tới khi việc cắm mốc thay đổi biên giới được chính thức bắt đầu vào ngày 27.12.2001.

Lư do chính thành lập Liên Hiệp Quốc, đă được ghi trong Lời Mở Đầu của Hiến Chương, là để tránh cho các thế hệ kế tiếp khỏi phải chịu sự tàn phá của chiến tranh như đă hai lần xẩy ra, mang tới cho nhân loại những đau khổ không thể tả xiết. Để đạt mục tiêu này, các Quốc Gia Hội Viên thi hành sự quảng đại và chung sống với nhau trong ḥa b́nh như những láng giềng tốt.

Các Điều 1 và 2 của Hiến Chương c̣n quy định việc phát huy mối giao hảo thân hữu giữa các Quốc Gia và giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương cách ḥa b́nh theo chiều hướng không thương tổn cho công lư cũng như an ninh và ḥa b́nh thế giới.

Việc cộng sản Việt Nam bí mật kư hai hiệp ước nhượng đất và hải phận của Việt Nam cho Trung Cộng, chỉ có thể hiểu: Một là đảng cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Trung Cộng, bất chấp quyền lợi của Tổ Quốc Việt Nam, hai là Trung Cộng cưỡng ép cộng sản Việt Nam. Trong cả hai trường hợp, việc sang nhượng đất đai bất thường này đều trái với tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc và gây mầm mống hận thù giữa hai dân tộc lân bang, phương hại cho an ninh và ḥa b́nh thế giới.

Hai cuộc Thế Chiến khủng khiếp vào đầu Thế Kỷ 20 đưa đến sự xuất hiện của Liên Hiệp Quốc đă bắt đầu bằng sự tranh chấp về biên giới. Những vùng bất ổn trên thế giới hiện nay tại Á Châu và Trung Đông, cũng do sự tranh chấp về Lănh Thổ. Mất đất cho lân bang,  ngoài những thiệt tḥi về vật chất, c̣n phải chịu đựng nỗi khổ nhục về tinh thần. Ḥa b́nh thế giới không thể có được nếu các nước lớn vẫn muốn mở rộng lănh thổ của ḿnh.

Với văn thư này, chúng tôi chính thức phản kháng hai hiệp ước về biên giới nói trên.  Trân trọng yêu cầu ông Tổng Thư Kư sử dụng thẩm quyền của ḿnh, làm tất cả những ǵ cần thiết để tôn chỉ cao đẹp của Liên Hiệp Quốc không bị vi phạm bởi chính Quốc Gia Hội Viên quang trọng của ḿnh.  

Trân trọng kính chào Ông Tổng Thư Kư.

Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế

Chủ Tịch sáng lập Cao Trào Nhân Bản

Chủ Tịch tổ chức đối lập Tập Hợp V́ Nền Dân Chủ

Hội Viên Danh Dự Hội Ân Xá Quốc Tế

Giải thưởng Nhân Quyền Robert F. Kennedy 1995.

Giải thưởng Nhân Quyền Quốc Hội Raoul Wallenberg 1994.

***

Người Việt Quốc Gia Vùng Vịnh Hội Luận Và Tuyên Cáo Chung Các Hiệp Định Biên Giới Và Lănh Hải Việt-Hoa.

Oakland (EBVA - 27-1-2002):Và o lúc 1 giờ trưa ngày 27.1.2002, tại pḥng họp của Hội Người Việt Vùng Đông Vịnh, một cuộc hội luận của ‘’Người Việt Quốc Gia Không Công Nhận Các Hiệp Định Biên Giới Và Lănh Hải Việt-Hoa’’ đă được tổ chức sôi nổi với sự tham dự của hơn 100 tham dự viên chọn lọc, khiến ghế ngồi trong pḥng họp không đủ chỗ, Ban Tổ Chức phải xếp thêm ghế thông qua  pḥng ngoài và thiết trí thêm hệ thống âm thanh cho mọi người tham dự theo dơi nghe rơ.

            Sau nghi thức chào Quốc Kỳ, đồng hát Quốc Ca Việt Nam Cộng Ḥa, Giáo Sư Trần Minh Xuân thay mặt Giáo Sư Hà Mai Phương chuyển lời cáo lỗi không đến tham dự được như dự trù và tŕnh trước cử tọa bài viết ‘’Sơ Lược Về Lịch Sử Và Địa Dư Biên Giới Việt Nam Và Trung Quốc’’ mà Giáo Sư Phương định tŕnh bày trong buổi hội luận. Để có thêm thời giờ dành cho phần hội luận Giáo Sư Xuân đă theo quyết định của Ban Tổ Chức cho in và phân phối bài viết nầy để các tham dự viên tiện tham chiếu và xin phép không đọc bài nầy theo sự ủy nhiệm của Giáo Sư Phương.

            Theo Giáo Sư Phương th́ ngày 2.1.1974 Trung Cộng đă chiếm đoạt Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam, kế đến năm 1978 Trung Cộng lại chiếm đóng 30 Đảo cũng của Việt Nam thuộc Quần Đảo Trường Sa. Đến đầu năm 1979, v́ tranh chấp ảnh hưởng ở Cambodia, chiến tranh giữa Trung Cộng và Việt Nam bùng nổ và theo Beijing Review (số 12), Trung Cộng đă tàn phá hơn 20 Thị Trấn quan trọng ở dọc biên giới 6 Tỉnh của Việt Nam từ Tỉnh Lạng Sơn cho tới Tỉnh Lai Châu, đó là các Thị Trấn, Huyện Lỵ, Tỉnh Lỵ: Lạng Sơn, Đồng Đăng, Lộc B́nh (thuộc Tỉnh Lạng Sơn), Cao Bằng, Phục Ḥa, Thất Khê, Quảng Uyên, Hạ Lang, Thoát Lăng, Ḥa An, Đông Khê, Trùng Khánh, Thông Nông, Sóc Giang (thuộc Tỉnh Cao Bằng), Lào Cai, Cam Đường, Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa (Chapa), Phố Lu (Bảo Thắng), Cốc Xam (thuộc Tỉnh Lào Cai) và Phong Thổ (thuộc Tỉnh Lai Châu). Khoảng đầu năm 1998, lại có sự tranh chấp biên giới Việt-Trung ở Huyện Hoành Mô thuộc Tỉnh Quảng Ninh và Trung Cộng đă cho xây một bức tường dài lấn vào biên giới Huyện trên...Tới nay, trước áp lực của Trung Cộng nhà cầm quyền Hà Nội đă ngấm ngầm thỏa thuận và kư kết với Trung Cộng mà không hề công bố toàn thể văn bản cho toàn dân Việt Nam được biết về Hiệp định biên giới kư ngày 30.12.1999 và lănh hải ngày 15.12.2000.. .Dư luận con dân Việt Nam ở trong nước cũng như hải ngoại hết sức bất b́nh và công phẫm trước hành động bán đất, bán nước của cộng sản Việt Nam.

Tiếp đến Giáo Sư Nguyễn Văn Canh được mời tŕnh bày về ‘’Những nguy hại của hiệp định biên giới và lănh hải Việt-Hoa’’. Qua nhiều dẫn chứng cụ thể Giáo Sư Canh cho biết Trung Cộng đă cấy được các tay sai vào ban lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam để thực thi các âm mưu của chúng và việc chuyển nhượng đất đai này được thực hiện một cách êm thắm, khiến nhiều di tích lịch sử, thắng cảnh cũng như các tài sản của tư nhân như khách sạn nhà hàng, cơ sở buôn bán đă thuộc quyền sở hữu của Trung Cộng theo như một bài viết của Trần Đại Sỹ được đăng trên các báo gần đây. Cũng theo lời Giáo Sư Canh đây là hành động vi phạm Công Pháp Quốc Tế và Quốc Nội của một nhóm người là đảng cộng sản Việt Nam tự nhận có hơn 2 triệu đảng viên, sử dụng các biện pháp khủng bố để đàn áp mọi tiếng nói của dân chúng, mà không được bầu để đại diện cho 80 triệu dân Việt, nên việc chuyển nhượng là việc riêng của hai đảng cộng sản, nó vô hiệu và các nhà lănh đạo đảng cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về hành vi nấy.

Sau đó, Luật Sư Nguyễn Hữu Thống khi nói về việc ‘’đảng cộng sản Việt Nam nhượng đất và bán nước cho ngoại bang’’ đă khẳng khái cho biết sự phản kháng của đồng bào trong nước không c̣n quyền được nói, đồng thời phủ nhận những hiệp ước bất công và bất nhân, mà cũng là để dành cho chính phủ dân cử tương lai quyền phủ nhận và tiêu hủy các hiệp ước nhượng đất và bán nước đang được đề cập tới. Luật Sư Thống cũng nói rơ rằng đây là một hiệp ước sai lầm về pháp lư và vi phạm đạo lư. Nó đi trái với những Hiệp ước hiện hành được kư kết từ Thế Kỷ 19 và trái với những nguyên tắc ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Thuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền như b́nh đẳng, hợp tác, hữu nghị, ḥa b́nh, công lư, tự do kết ước, không áp bức, không lấn chiếm.

Điểm bất ngờ xảy ra ngoài chương tŕnh là Hội Cao Niên Diên Hồng do ông Trần Kiêm Thiều làm Chủ Tịch đă đề nghị Ban Tổ Chức cho các vị cao niên trong Hội được đồng ca bài ‘’Hội Nghị Diên Hồng’’ để tặng buổi hội luận. Đề nghị được chấp thuận và sau đó cả hội trường đồng ca theo các vị cao niên khiến buổi hội luận được thêm phần sôi động.

Bước sang phần thảo luận giữa quan khách và diễn giả, dưới sự điều hợp của Giáo Sư Trần Minh Xuân với sự hiện diện trên bàn chủ tọa của các Giáo Sư Trần Anh Tuấn, cựu Luật Sư Trần Minh Nhựt, ông Trần Kiêm Thiều, không khí buổi hội luận sôi động hơn với sự phát biểu, đóng góp ư kiến của hơn 20 nhân vật, trong đó có Bác Sĩ Tỏa đến từ Oregon, ông Phạm Quốc Hùng Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng Bắc California, ông Vũ Huynh Trưởng Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Chánh Nghĩa Quốc Gia Bắc California.. .Nhân dịp nầy Nhà Văn Nguyễn Thiếu Nhẫn có lên tiếng cho biết ông và các thành viên trong ‘’Phong Trào Quốc Dân Xóa Bỏ Huyền Thoại Hồ chí Minh’’, thường được gọi là ‘’No Hồ’’ do ông Đặng Thiên Sơn làm Chủ Tịch và ‘’Hội Văn Nghệ Sĩ Việt Nam Tự Do Bắc California’’ do ông làm Chủ Tịch đang tiến hành việc phổ biến một ‘’Bạch Thư’’ lên án hành động nhượng đất và bán nước của việt cộng dưới sự bức ép của Trung Cộng.

Song song với sự góp ư xây dựng của cựu Dân Biểu Phàng Công Phú, nay 101 tuổi gây xúc động cả hội trường, Cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đă góp ư h́nh thành bản Tuyên Cáo của Người Việt Quốc Gia Vùng Vịnh Bắc California Hoa Kỳ với chữ kư chủ yếu của các đại diện nhiều Hội Đoàn hoạt động tại hai Thành Phố Oakland và San Francisco (được đính kèm trong bản tin này). Thành phần nhân sự tham gia Ủy Ban và Kháng Thư sẽ được phổ biến trong thời gian kế tiếp.

Điểm đáng lưu ư của buổi hội luận này là có sự tham dự của nhiều nhân vật sáng danh đến từ San Jose và sự tích cực góp ư xây dựng của đông đảo thành phần trẻ và nữ giới. Có điểm đặc biệt cũng cần ghi nhận là v́ tánh cách tế nhị của buổi hội luận, chỉ cách hai Ṭa tổng lănh sự của việt cộng và Trung Cộng có một cây cầu bắc ngang Vịnh Cựu Kim Sơn, nên Ban Tổ Chức đă ủy nhiệm Cựu Dân Biểu Trần Minh Nhựt trách nhiệm phần trật tự để kịp thời ngăn ngừa sự gây rối có thể xuất phát từ hai nơi trên.

Trong phần cảm tạ Ban Tổ Chức đă đặc biệt đề cập đến sự giúp đỡ tận t́nh của ông Lưu Văn Lai, Giám Đốc Hội Người Việt Vùng Đông Vịnh, chẳng những cho sử dụng miễn phí hội trường mà c̣n lo liệu giúp tất cả mọi tiện nghi khác, cũng như phần ăn trưa và giải khát cho các Thân Hữu lâu ngày gặp lại nhau có dịp hàn huyên tâm sự trong thời gian chờ khai mạc. Ngoài ra, Cô Cẩm Vân và Ông Đặng Công Phồn, nhà thầu xây cất, cũng được ghi ơn qua sự tận tâm thiết trí hội trường từ trang hoàng cờ, biểu ngữ đến bàn ghế, âm thanh...

Sau lời chúc Tết của Ban Tổ Chức, buổi hội luận kết thúc vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày trong quyết tâm đồng thuận chống các hiệp định biên giới và lănh hải Việt-Hoa của Người Việt Quốc Gia.

 

***

Tuyên Cáo Của Người Việt Quốc Gia Vùng Vịnh miền Bắc California Hoa Kỳ về việc không công nhận các hiệp định biên giới và lănh hải Việt-Hoa.

Hôm nay, ngày 27.1.2002, tại Hội Người Việt Vùng Đông Vịnh, 1218 Miller Ave. Oakland, California Hoa Kỳ, Người Việt Quốc Gia Vùng Vịnh, miền Bắc California Hoa Kỳ đă họp để nghe các diễn giả tŕnh bày đầy đủ các khía cạnh lịch sử, địa lư Quốc Gia và Quốc Tế và quan trọng nhất là các khía cạnh thực tế đang diễn ra tại Việt Nam liên quan đến việc việt cộng đă kư kết các hiệp định biên giới và lănh hải với Trung Cộng.

Toàn thể mọi người hiện diện sau khi phân tích, mổ xẻ và thảo luận căn kẽ mọi vấn đề đă có các nhận định sau đây:

Thứ Nhất: Qua quá tŕnh lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Ông Cha chúng ta đă không để mất một tấc đất cho quân ngoại xâm dù phương Bắc, phương Tây hay bất cứ từ đâu tới.

Thứ Hai: Ngày nay tập đoàn cộng sản Việt Nam, trong quá tŕnh hoạt động đă và đang tạo nên một vết nhơ đen tối trong lịch sử Dân Tộc Việt Nam là kư những văn kiện biên giới và lănh hải trao đổi với Trung Cộng hoàn toàn phản bội lại lư tưởng và quyền lợi của Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam.

Thứ Ba: Tập đoàn cộng sản Việt Nam đă bằng bạo lực cưỡng chiếm quyền lănh đạo Quốc Gia Việt Nam một cách bất chánh. Nhân Dân Việt Nam hoàn toàn không công nhận nhà cầm quyền đương hữu tại Việt Nam v́ bộ máy cầm quyền này không được Nhân Dân Việt Nam chọn lựa và bầu lên theo đúng ư muốn của ḿnh.

Do các nhận định trên, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng Vịnh, miền Bắc California, Hoa Kỳ long trọng

TUYÊN CÁO

Thứ Nhất: Hoàn toàn không công nhận tất cả mọi văn kiện kư kết và trao đổi giữa nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh liên quan đến biên giới và lănh hải Việt-Hoa.

Thứ Hai: Vấn đề biên giới và lănh hải Việt-Hoa phải được duy tŕ đúng theo vị trí lịch sử đă có từ trước và mọi tranh chấp về biên giới và lănh hải phải được thương lượng phù hợp với quyền lợi hai nước và hai dân tộc là thông qua hai chánh phủ do nhân dân hai nước bầu lên một cách dân chủ và tự do.

Thứ Ba: Dân Tộc Việt Nam sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh dù một hay nhiều thế hệ,  dù phải mất một năm, mười năm, hoặc lâu hơn nữa, để đấu tranh giành lại vị trí đích thực của biên giới và lănh hải Việt-Hoa.

Thứ Tư: Thỉnh cầu các chánh phủ và các tổ chức quốc tế hỗ trợ hành động đầy chánh nghĩa này của Dân Tộc Việt Nam.

Ủy Ban Vận Động Người Việt Quốc Gia Vùng Vịnh Không Công Nhận Các Hiệp Định Biên Giới và Lănh Hải Việt-Hoa.

Trần Minh Nhựt

Trần Kiêm Thiều

Trần Anh Tuấn

Trần Minh Xuân

Nguyễn Hào

Nguyễn Phú. 

 

Lời kêu gọi:

Hội Nghị Liên Kết Người Việt Tự Do

v/v Cộng sản Việt Nam nhượng đất nhượng biển cho Trung Quốc

            ‘’Đất nước Việt Nam là một, từ Ải Nam Quan cho đến nũi Cà Mau...’’ Sự toàn vẹn lănh thổ, bài học vỡ ḷng của hơn 80 triệu con dân Việt Nam, ở trong cũng như ở ngoài nước, giờ đây đă bị vi phạm trầm trọng do sự hiến đất, dâng biển của đảng cộng sản Việt Nam qua hai hiệp định với Trung Cộng ngày 30.12.1999 (về biên giới trên bộ) và 25.12.2000 (về phân chia lănh hải trong Vịnh Bắc Bộ.).

            Bất kể những sự phản kháng thống thiết của người dân trong nước (từ Lê chí Quang đến Nguyễn thanh Giang, Phạm quế Dương, Quang Chính, Đỗ việt Sơn, Nguyễn đan Quế và nhiều công dân khác từ Bắc chí Nam) cũng như ở hải ngoại, Quốc Hội bù nh́n ở Hà Nội cũng đă lén lút thông qua hai hiệp định trên để trở thành ṭng phạm trong một hành động phản quốc gần như chưa từng xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử hơn bốn ngh́n năm. Mạc Đăng Dung đă bị lịch sử phỉ nhổ và toàn dân nguyền rủa khi làm một việc tương tự vào Thế Kỷ XV.

            Sự bất chính của cộng sản có thể thấy ngay trong những sự đổ lỗi qua lại giữa những thành phần lănh đạo chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam: Lê khả Phiêu đổ lỗi cho Nguyễn mạnh Cầm, Nguyễn mạnh Cầm đổ lỗi cho Trần đức Lương. Xong dù lỗi của ai th́ đất cũng đă mất, biển cũng đă bị hiến dâng, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc giờ nằm sâu trong lục địa lân quốc, biên giới Việt-Trung bị bỏ ngơ (v́ Trung Cộng không trả những vị trí chiến lược họ chiếm đóng từ 1979), cuộc sống của không biết bao nhiêu dân cư vùng biên giới và kế sinh nhai của người làm biển trong Vịnh Bắc Bộ bị ảnh hưởng nặng nề.

            Đă kư xong mà đ̣i lại th́ không biết bao lâu mới có thể thực hiện được. Trong khi đó nỗi nhục mất biển, mất đất, cho một đối phương không cần tới một viên đạn, th́ lại là một thực tế mà chúng ta và nhiều thế hệ mai sau sẽ phải chịu nếu như chúng ta không làm ǵ ngay lúc này.

            Do vậy nên Ủy Ban Phối Hợp Hành Động của Hội Nghị Liên Kết Người Việt Tự Do đưa ra lời kêu gọi này:

            Thứ nhất: Các lực lượng dân tộc trong cũng như ngoài nước hăy đứng lên nhận lấy trọng trách của ḿnh, phản đối và lên án, bằng mọi h́nh thức hành động bán nước của đảng cộng sản Việt Nam. Riêng mỗi người Việt hải ngoại hăy thông tin cho thân nhân trong nước biết việc bán nước này, để cùng nhau đẩy mạnh sự chống đối chế độ.

            Thứ Hai: Phủ nhận tính cách hợp pháp của chế độ hiện hành ở Việt Nam để c̣n giành quyền cho dân tộc Việt Nam sau này đ̣i lại những đất biển đă mất.

            Thứ ba: Kêu gọi quốc tế hăy đồng t́nh với chúng ta để ngăn chặn những hành động bá quyền mới nhất này của Bắc Kinh đe dọa sự ổn định chính trị trong toàn vùng cũng như trên biển Đông, một con đường huyết mạch của quốc tế.

 

            Hải ngoại ngày 30.1.2002.

 

            Hội Đồng Điều Hợp Hành Động Hội Nghị Liên Kết Người Việt Tự Do.

           

            Cố Vấn: Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, Thượng Tọa Thích Minh Tuyên.

            Cộng Đồng Người Việt Tại Hoa Kỳ: Ông Trần Xuân Thời.

            Cộng Đồng Người Việt Liên Bang Úc Châu: Ông Đoàn Viết Trung.

            Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn cộng sản tại Ḥa Lan: Ông Phạm Ngọc Ninh.

            Hiệp Hội Người Việt tại Nhật Bản: Ông Lê Văn Xê.

            Hội Đồng Việt Nam Tự Do: Ông Lê Phước Sang.

            Liên Minh Việt Nam Tự Do: Ông Nguyễn Ngọc Đức.

            Liên Minh Quang Phục Việt Nam: Ông Vơ Đại Tôn.

            Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ: Ông Nguyễn Mậu Trinh.

            Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam: Ông Trần Quốc Bảo.

 

Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam

P.O. Box 91601,  Pasadena,  CA 91109  * VPTTTCPHVN@aol. com

Ngày 25 tháng 1.2002

Thông Cáo Báo Chí về Điều 4 Hiến Pháp & Sự Toàn Vẹn Lănh Thổ Việt Nam

            Toàn dân Việt Nam vô cùng đau ḷng và tủi nhục trước việc cộng sản Việt Nam đă nhường cho Trung Cộng 720 cây số vuông tại Ải Nam Quan qua ‘’hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Trung’’ kư ngày 30.12.1999 và hàng ngàn cây số vuông vùng biển Vịnh Bắc Việt qua ‘’hiệp định phân định lănh hải’’ kư ngày 25.12.2000. Cộng sản Việt Nam cũng đă dấu nhẹm hành động phản quốc này và đặt toàn dân trước một sự kiện đă rồi. Đây là hành động măi quốc cầu vinh, đáng bị xem là tội đồ muôn đời của dân tộc.

            Trước t́nh huống này, nhiều Đoàn Thể, cá nhân trong và ngoài nước đă lên tiếng thống trách và vận động để vô hiệu hóa các hiệp định trên. Nhiều thức giả chủ trương toàn dân phải đứng lên kêu gọi quốc hội cộng sản Việt Nam từ chối không phê chuẩn hoặc phủ quyết các hiệp định trên để vô hiệu hóa tính cách pháp lư của hai bản hiệp định.

            Trước các sự kiện trên, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam có những nhận định sau:

            1. Lập luận của những thức giả trên chỉ có thể có giá trị nếu không có điều 4 hiến pháp Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Lư do là v́ điều 4 hiến pháp Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành năm 1992 minh thị quy định ‘’đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lănh đạo nhà nước và xă hội’’ là căn bản pháp lư mà Trung Cộng chắc chắn sẽ viện dẫn nếu xảy ra những tranh chấp về pháp lư trên một diễn đàn quốc tế để lập luận rằng các hiệp định này hoàn toàn có hiệu lực pháp lư mà không cần Quốc Hội hoặc bất cứ cơ chế nào ngoài đảng cộng sản Việt Nam phê chuẩn.

            2. Như thế điều 4 hiến pháp là căn bản pháp lư duy nhất và vô cùng vững chăi để biện minh cho hiệu lực pháp lư cho 2 hiệp định này và ngày nào mà hiệu lực pháp lư của chính điều 4 c̣n hiện hữu th́ ngày đó sự toàn vẹn lănh thổ của dân tộc Việt Nam c̣n chưa thể văn hồi.

3. Cũng chính v́ những lư do trên mà trách nhiệm tấn công vào giá trị pháp lư của điều 4 hiến pháp với mục tiêu lên án và hủy diệt nó, trên các diễn đàn quốc tế quan trọng như Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc hoặc một Ṭa án quốc tế có thẩm quyền, không những sẽ đem lại dân chủ thực sự cho Việt Nam mà c̣n hủy diệt tính cách pháp lư của hai hiệp định bất b́nh đẳng nêu trên và góp phần vào việc bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ của Tổ Quốc Việt Nam.

            4. Một trong những lập luận quan trọng có thể nêu ra trong việc đả phá căn bản pháp lư của điều 4 hiến pháp là tính cách thiếu công bằng và lẽ phải của một văn kiện pháp lư và sự kiện cộng sản Việt Nam đă kư kết để thi hành nội dung các Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Công Ước Quốc Tế về các quyền văn hóa, xă hội và kinh tế, Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị. Lư do là v́ điều 4 hiến pháp ngang nhiên và trắng trợn vi phạm một số điều khoản quan trọng của các tuyên ngôn và công ước quốc tế nêu trên.

            5. Thêm nữa, ngoài việc vi phạm nguyên tắc công bằng và lẽ phải, điều 4 không có hiệu lực pháp lư và phải bị hủy bỏ v́ trên mặt Quốc Tế Công Pháp, khi một quốc gia đă kư kết vào một hiệp ước quốc tế th́ phải điều chỉnh mọi luật lệ của quốc gia, kể cả hiến pháp, để thi hành tinh thần của hiệp ước quốc tế này. Điều 4 đi ngược lại với tinh thần các Bản Tuyên Ngôn và Công Ước nêu trên, không có hiệu lực pháp lư.

            6. Nếu điều 4 không có hiệu lực pháp lư th́ các hiệp định nhượng đất liền và lănh hải nêu trên cũng không thể có hiệu lực pháp lư và trên nguyên tắc, Ải Nam Quan, các vùng đất liền và lănh hải bị cộng sản Việt Nam nhượng cho Trung Cộng vẫn c̣n thuộc chủ quyền của nhân dân Việt Nam.

            Với những nhận định trên, trước nhu cầu cấp thiết bảo tồn sự toàn vẹn lănh thổ của Tổ Quốc, Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam cương quyết đẩy mạnh công cuộc vận động hủy bỏ điều 4 hiến pháp trên mọi mặt trận kể cả mặt trận công pháp quốc tế nêu trên.

            Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam khẩn thiết kêu gọi sự hưởng ứng của toàn dân trong và ngoài nước để mau chóng văn hồi sự toàn vẹn lănh thổ của Tổ Quốc.

            Ngày 15 tháng 1 năm 2002.

            Thay Mặt:Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam

            Trần Quốc Bảo

            Chủ Tịch.

***

ĐẢNG NHÂN DÂN HÀNH ĐỘNG
PEOPLE'S ACTION PARTY OF VIETNAM

P.O. Box 4752,  San Jose,  CA 95150-4752,  USA - Fax: 1-408-295-6547- http://ndhd. net/-Email: dang@ndhd.net

Tuyên bố phản đối của Đảng Nhân Dân Hành Động

Về Vụ Kư Kết Hai ’’Mật Ước’’ Biên Giới Giữa Việt Nam Và Trung Quốc

            Chủ quyền của đất nước mà không thuộc về dân, th́ đất nước có gian đảng làm chủ. Khi gian đảng mà làm chủ, th́ cảnh phản dân chủ, bạo hành, gian manh làm sao tránh khỏi. Ngày 25.12.1999, các lănh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam đă bí mật kư nhượng cho Trung Cộng vùng đất của Tổ Quốc Việt Nam dọc theo biên giới Việt-Trung. Theo nhiều nguồn tin ước đoán th́ phía Việt Nam có thể đă mất tới cả ngh́n cây số vuông. Trong đó có những địa danh như Ải Nam Quan, Suối Phi Khanh thuộc Tỉnh Lạng Sơn, Thác Bản Giốc thuộc Tỉnh Cao Bằng. Dư luận cho rằng, đây là lần đầu tiên trong lịch sử thời b́nh có nhà cầm quyền lén lút dâng đất cho ngoại bang.

            Thấy êm xuôi, ngày 30.12.2000 một lần nữa, các lănh đạo đảng và nhà nước đó cũng đă bí mật kư đưa thêm cho Trung Quốc vùng biển giàu tài nguyên của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ. Lần này, theo dư luận ước đoán th́ phía Việt Nam có thể đă mất đến hàng chục ngh́n cây số vuông vùng biển.

Hai vụ này đă làm cho người dân Việt Nam ở trong lẫn ngoài nước đang bất b́nh đến tột đỉnh.

Văn bản của hai hiệp ước đó cho đến nay vẫn c̣n giữ kín, chưa một người dân nào được thấy. Đảng và cộng sản nhà nước Việt Nam chỉ nói đó là hiệp định b́nh đẳng, cả hai bên cùng có lợi. Nhưng thực tế th́ phía Việt Nam đă mất đất, mất biển. Phía Trung Quốc th́ lợi to,  được cả đất lẫn biển. Bù lại th́ Việt Nam được Trung Quốc cho tặng ban khen như: Hữu nghị muôn đời, láng giềng thân thiện. C̣n những ǵ riêng tư đặc biệt cho nhóm thương thuyết và các lănh đạo cộng sản Việt Nam th́ chưa biết rơ.

Đảng Nhân Dân Hành Động đồng ư với quan điểm của đại đa số người dân, bản chất của độc đảng là phản dân tộc. Đây là hai mật ước hoàn toàn bất lợi cho đất nước. Mật ước để nhượng đất mất biển như vậy là hành động lén lút giao ước bán nước. Không thể chấp nhận được, không thể tha thứ được.

Nguyên nhân gây ra vấn đề như vậy là do đảng cộng sản chiếm giữ độc quyền chính trị, biến hành pháp, luật pháp và tư pháp thành những công cụ của chế độ. Đó là chưa kể đến t́nh trạng độc quyền truyền thông báo chí, bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận của nhân dân.

Nguyên nhân nữa là do các lănh đạo cộng sản đă v́ quyền lợi cá nhân, bè nhóm,  không v́ quyền lợi của dân tộc hay v́ tương lai của đất nước. Hiện tại, Việt Nam không có đối lập chính trị, không có hệ thống kiểm soát và cân bằng quyền lực, th́ làm sao có cơ quan nào có thể thẩm tra hay xác minh cho được sự thật của những hiệp ước như vậy? Những nguyên nhân trên và kết quả của việc mờ ám mật kư hiệp định, đă chứng minh đầy đủ tại sao nước Việt Nam cần phải thiết lập ngay một hệ thống chính trị đa đảng, dân chủ. Khi đó th́ những vấn đề bế tắc hiện nay sẽ được khai thông ngay.

Hoa Kỳ, ngày 2.2.2002.

Bộ Chỉ Huy Trung Ương Đảng Nhân Dân Hành Động.

(Đồng kư tên)

Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc Và Xây Dựng Dân Chủ

Movement To Unite The People And Build Democracy

OVERSEAS OFFICE

11923 Roseglen st.,  El monte,  CA 91732 - USA

Tel & Fax : (626) 279-7282

Website: WWW.PTTNDT.ORG - Email: pttndt@aol.com

 

Hải ngoại, ngày 21 tháng 01 năm 2002.

KHÁNG THƯ

Cực lực phản kháng chánh sách Bắc Kinh xâm lấn lănh thổ Việt Nam. Lên án nhà cầm quyền và đảng cộng sản Hà Nội tự nguyện hiến dâng lănh thổ cho Tàu để mưu cầu tồn tại.

Kính gởi: Ngài Kofi Annan.

Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc

Trân trọng kính tŕnh Ngài Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc,

            Năm 1954, Hà Nội chấp nhận giải pháp chia đôi Việt Nam để thiết lập chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa ở miền Bắc theo chủ trương của đệ tam quốc tế, phản bội nhưng hy sinh lớn lao của toàn dân đóng góp cho công cuộc chống thực dân giành độc lập dân tộc.

            Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh ra bản tuyên bố quy định lănh hải của Trung Cộng bao gồm cả các Quần Đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spatley) của Việt Nam. Ngày 14.9.1958, Phạm văn Đồng, trong cương vị Thủ Tướng chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, dưới sự lănh đạo của Hồ chí Minh, đă long trọng xác nhận chủ quyền của Bắc Kinh bao gồm hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

            Ngày 11.1.1974, Trung Cộng dùng Hải Quân xâm chiếm Quần Đảo Hoàng Sa (Paracels), trắng trợn xâm phạm chủ quyền của Việt Nam Cộng Ḥa. Hà Nội v́ đă nh́n nhận chủ quyền của Bắc Kinh trên Quần Đảo này nên hoàn toàn không có phản ứng.

Ngày 30.12.1999, nhà nước Hà Nội đă tự động cắt đất liền hiến dâng cho Tàu 800 km2 dọc theo biên giới hai Tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn.

Ngày 25.12.2000, Hà Nội kư với Bắc Kinh hiệp định về Vịnh Bắc Việt và những quy định về phạm vi đánh cá giữa hai nước, theo đó kể từ nay, Việt Nam giữ được chủ quyền trên 53,23% lănh hải, c̣n Tàu chiếm được 46,77%.

Trước đó, năm 1887 Pháp và Nhà Thanh kư kết hiệp ước về lănh hải th́ Việt Nam giữ được 62% chủ quyền, Tàu 38%

Đối chiếu Hiệp ước Pháp-Thanh, ngày nay Việt Nam mất cho Tàu 11.000 km2 về lănh hải chạy từ Vịnh Bắc Việt xuống đến Trường Sa, Vùng có nhiều dầu hỏa, khí đốt và hải sản.

Bắc Kinh lúc nào cũng t́m cơ hội thực hiện âm mưu đên tối nhằm lấn chiếm phía Nam để khống chế Ấn Độ Dương và Nam Thái B́nh Dương. Về phía cộng sản Việt Nam, Hà Nội trước sau tuyệt đối trung thành với cộng sản quốc tế, nhận thiệt tḥi hơn là để mất chủ nghĩa xă hội, chủ trương hiến dâng lănh thổ và lănh hải cho Bắc Kinh để duy tŕ quyền lực, tiếp tục tham nhũng. Chấp nhận lệ thuộc ngoại bang v́ ư thức hệ đă làm cho người cộng sản cầm quyền ở Việt Nam bị biến chất, mất hết Việt tính. Suốt qua các triều đại quân chủ, Việt Nam không hề để bị mất đất cho Tàu.

I. Sự kiện xác định chủ quyền lănh thổ và lănh hải của Việt Nam

1.Từ trước khi Pháp tới

Từ khi thu hồi độc lập vào Thế Kỷ Thứ X, Việt Nam vẫn thường bị nước Tàu ḍm ngó, xâm chiếm, hăm dọa, quấy nhiễu, nhưng lúc nào Việt Nam cũng đẩy lui được ngoại xâm và giữ ǵn nguyên vẹn bờ cơi. Nh́n lại quá tŕnh lịch sử dựng nước và giữ nước, quả thật Việt Nam là một dân tộc anh hùng, bất khuất trước bạo lực xâm lược bất kỳ từ đâu tới.

Về lănh thổ, khi đất nước Việt Nam trải dài đến mũi Cà Mau th́ chiều dài của Việt Nam được tính từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bao gồm các Quần Đảo ở Biển Đông như Hoàng Sa và Trường Sa, các Quần Đảo ở phía Nam và trong Vịnh Xiêm La.

Theo quan niệm về chủ quyền lănh thổ th́ phần đất ấy phải trực thuộc chủ quyền của một nhà nước có khả năng duy tŕ sự kiểm soát, bảo vệ liên tục phần đất của ḿnh. Riêng đối với hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa, quan niệm về chủ quyền này vẫn có thể áp dụng được hoàn toàn. Thật vậy, các Vua Chúa Nhà Nguyễn đă cho thiết lập những quan hệ chặt chẽ và thường xuyên có tính cách hành chánh, quân sự, tài chánh và văn hóa với các Quần Đảo này.

Năm 1634, một chiếc tàu quốc tịch Ḥa Lan bị ch́m tại Hoàng Sa. Thuyền Trưởng và Thủy Thủ được quan chức chánh quyền Quảng Nam, dưới thời Chúa Săi, giúp đỡ và cho trở về.

Năm 1702, dưới thời Chúa Minh Nguyễn Phước Chu và từ đó về sau, Nhà Vua cho tổ chức Đội Hoàng Sa có nhiệm vụ tuần tiểu hải phận xứ Đàng Trong, kiểm tra các thương thuyền, thu thuế và thu lượm sản vật trên Quần Đảo Hoàng Sa đem về nộp cho Triều Đ́nh Phú Xuân.

Năm 1802, thời Gia Long vấn duy tŕ lực lượng tuần dương cũ là Đội Hoàng Sa.

Năm 1816, Vua Gia Long thân chinh tiếp nhận Quần Đảo Hoàng Sa và cho thượng Quốc Kỳ ngay tại Đảo.

Năm 1820, Vua Minh Mạng thường sai ‘’thuyền công đến Hoàng Sa ḍ hải tŕnh’’.

Năm 1835, Vua Minh Mạng truyền lập Miếu Hoàng Sa, dựng bia đá và tấm b́nh phong.

Ngày 7.9.1951, tại Hội Nghị. Ḥa Ước San Francisco về Nhật Bổn sau Thế Chiến Thứ 2 chấm dứt, quy tụ 51 Quốc Gia tham dự, Thủ Tướng Trần Văn Hữu, Trưởng Phái Đoàn Quốc Gia Việt Nam, trong bài phát biểu đă công khai và long trọng tuyên bố hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Tất cả 51 Quốc Gia tham dự không có một Quốc Gia nào phản đối hoặc khiếu nại.

Cần nhớ rằng từ trước Thế Chiến Thứ 2 khi phát biểu hoặc viết về hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thường người ta chỉ dùng một danh xưng Hoàng Sa (băi cát vàng) để chỉ chung cả hai Quần Đảo (Hoàng Sa và Trường Sa).

2.Quan điểm của tàu về Hoàng Sa và Trường Sa

Trung Cộng thực hiện tham vọng bá quyền, muốn thôn tính hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng t́m cách đánh lạc hướng dư luận quốc tế. Bắc Kinh biện minh cho mưu đồ xâm lược của ḿnh bằng cách giải thích Hoàng Sa (Tàu gọi là Tây Sa) và Trường Sa (Tàu gọi là Nam Sa) vốn từ lâu là một phần lănh thổ của Trung Hoa (Dân Quốc) nhưng bị Nhật Bổn xâm chiếm trong Đệ Nhị Thế Chiến và đă được chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) gián tiếp ủng hộ và phụ họa.

Sự tranh chấp chủ quyền trên hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Cộng đối với Việt Nam chỉ xảy ra từ sau Hội Nghị San Francisco khi Mao trạch Đông đă thiết lập được chế độ cộng sản trên Trung Hoa lục địa (1.10.1949)

Ngày 15.8.1951, Chu ân Lai tuyên bố v́ bất măn bị Hoa Kỳ gạt ra ngoài không cho tham dự Hội nghị San Francisco. Chánh phủ nhân dân trung ương nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa một lần nữa tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa trong việc chuẩn bị, soạn thảo và kư một ḥa ước với Nhật Bổn th́ dù nội dung và kết quả của một hiệp ước như vậy có như thế nào, chánh phủ nhân dân trung ương cũng coi ḥa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp và v́ vậy vô hiệu.’’

Tuy ư muốn nêu lên trước thế giới hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc phần lănh thổ của Tàu nhưng Chu ân Lai lại không đưa ra được một dẫn chứng nào dù nhỏ để thuyết phục dư luận thế giới về chủ quyền của ḿnh trên vùng biển ấy.

C̣n Chu ân Lai cho rằng Ḥa ước San Francisco v́ không có Tàu tham dự là ‘’bất hợp pháp’’ th́ lại là một vấn đề khác, hoàn toàn không chủ yếu nhắm vào chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1945 Hội nghị Potsdam dự liệu phương thức giải giới quân đội Nhật theo đó Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc thuộc thẩm quyền của Trung Hoa Dân Quốc (Tướng Lữ Hán), c̣n từ vĩ tuyến 16 vào Nam thuộc thẩm quyền của Anh-Ấn.

Hoàng Sa nằm ở vĩ tuyến 16 nên căn cứ quân đội Nhật ở đây do Trung Hoa Dân Quốc tiếp thu. Nhưng nhiệm vụ của Trung Hoa Dân Quốc ở Việt Nam chấm dứt vào cuối tháng 8 năm 1946, để sau đó quân đội Pháp tiếp tục theo thỏa ước giữa Pháp và Trung Hoa kư ngày 28.2.1946. Như vậy, khi quân đội Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên Quần Đảo Hoàng Sa để giải giới quân Nhật theo quy định của Hội nghị Potsdam mà lại tự cho là hành động thu hồi lănh thổ và được Trung Cộng sau này dùng làm luận cứ để tranh chấp chủ quyền là một sự việc hoàn toàn bất hợp pháp.

C̣n Trường Sa th́ lại hoàn toàn thuộc thẩm quyền của chính phủ Anh-Ấn.

Về thời gian, Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên Quần Đảo từ tháng 12.1946 và 1.1947 là vi phạm hiệp ước quốc tế bởi nhiệm vụ của họ phải được kết thúc vào tháng 8.1946.

Như vậy, việc có mặt của họ trên Quần Đảo của Việt Nam trong trường hợp này là hành động xâm lược trắng trợn. Vả lại, Hội nghị Postdam hoàn toàn không đề cập đến chủ quyền trên hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Như vậy, mặc nhiên Việt Nam vẫn được quốc tế công nhận chủ quyền trên phần lănh thổ này.

3. Sự liên tục về chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, ngay dưới thời Pháp thuộc  cho đến 30.4.1975

a)  Dưới thời Pháp thuộc

Đúng theo quan niệm về chủ quyền theo luật học, Hoàng Sa và Trường Sa luôn luôn là lănh thổ của Việt Nam. Việc hành xử chủ quyền trên phần lănh thổ này hoặc do chính quyền Pháp, hoặc do Nam Triều và sau tháng 7.1954, Việt Nam Cộng Ḥa là Quốc Gia chủ quyền.

Ngày 15.6.1932, Toàn Quyền Đông Dương kư Nghị Định số 156-SC thiết lập tổ chức hành chánh tại Quần Đảo Hoàng Sa v́ Đảo này  đă được Hải Quân Pháp kiểm soát năm 1930.

Ngày 19.7.1933, Bộ Ngoại Giao Pháp ban hành một Thông Tư xác nhận Hải Quân Pháp chiếm đóng một số Hải Đảo thuộc Quần Đảo Trường Sa (Trường Sa gồm tất cả 6 Hải Đảo)

Ngày 21.12.1933, Thống Đốc M. J. Krautheimer kư sáp nhập Trường Sa và các Đảo phụ cận vào địa phận Tỉnh Bà Rịa.

b) Dưới triều Bảo Đại

Ngày 30.3.1938 (nhằm ngày 29.2 năm Bảo Đại thứ 13), Vua Bảo Đại kư Dụ số 10 xác nhận Đảo Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đă lâu đời và dưới các tiền triều, các Quần Đảo ấy thuộc về địa hạt Tỉnh Nam-Ngăi, nhưng từ nay Hoàng Sa trực thuộc Thừa Thiên cho được thuận tiện hơn.

Ngày 5.5.1939, Toàn Quyền J. Brévié kư Nghị Định tu chính Nghị Định số 156-SC ngày 15.5.1932 quy định về nhiệm vụ và lương bổng cho nhân viên hành chánh đặc trách về Hoàng Sa.

c) Dưới thời Việt Nam Cộng Ḥa

Ngày 13.7.1961, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kư Sắc Lệnh số 174-NV đặt Quần Đảo Hoàng Sa thuộc Tỉnh Quảng Nam và thành lập tại Quần Đảo này một Xă lấy tên là Xă Định Hải trực thuộc Quận Ḥa Vang.

Qua thời Đệ Nhị Cộng Ḥa, ngày 6.9.1973, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm ban hành Nghị Định số 420-BNV/HCDP/ 26 (do Tổng Trưởng Nội Vụ Lê Công Chất kư) sáp nhập Trường Sa và các Đảo phụ cận vào Xă Phước Hải, Quận Đất Đỏ, Tỉnh Phước Tuy.

II. Phản ứng của Việt Nam Cộng Ḥa xác nhận chủ quyền trên quần Đảo Hoàng Sa khi bị Trung Cộng gởi Hải Quân tấn công ngày 11.1.1974

            Thực hiện tham vọng bá quyền, Trung Cộng gởi 11 chiến đỉnh thuộc nhiều loại, trọng lượng và trang bị khác nhau tấn công thẳng vào Lực Lượng Hải Quân của Việt Nam Cộng Ḥa có nhiệm vụ bảo vệ Quần Đảo Hoàng Sa. Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Ḥa đưa ra một Bản Tuyên Cáo cực lực lên án Trung Cộng có hành vi xâm phạm trắng trợn vào lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa và đồng thời vạch trần trước dư luận quốc tế chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi đă được biểu lộ qua cuộc thôn tímh Tây Tạng, xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa cho rằng việc Trung Cộng xâm phạm lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của Việt Nam Cộng Ḥa mà c̣n là một hiểm họa đối với nền ḥa b́nh và ổn định của Đông Nam Á và toàn thế giới. Nạn nhân của một nước lớn xâm lăng, Việt Nam Cộng Ḥa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lư và ḥa b́nh trên thế giới hăy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo của Hán cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Hán cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Hán tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống c̣n của những nước trong vùng Đông Nam Á và Nam Thái B́nh Dương.

Qua ngày 14.2.1974, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Ḥa ra tiếp một Bản Tuyên Cáo, một lần nữa lên án những hành động xâm lược thô bạo của Bắc Kinh, đồng thời xác định lại chủ quyền của Việt Nam Cộng Ḥa trên hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa cũng bày tỏ quyết tâm bảo vệ các Quần Đảo ấy là phần lănh thổ bất khả phân của ḿnh.

Kính thưa Ngài,

Cho đến ngày 30.4.1975 (ngày Hà Nội cưỡng chiếm miền Nam), qua các chế độ khác nhau, lănh thổ và lănh hải của Việt Nam được Chính Quyền Việt Nam không cộng sản giữ ǵn, bảo vệ nguyên vẹn, không nhượng một tấc đất, một tấc biển cho ngoại bang. Trong lúc đó,  chánh quyền cộng sản Hà Nội lần lượt hiến dâng lănh thổ và lănh hải cho Trung Cộng trong tinh thần tôn trọng nước lớn phe Xă Hội Chủ Nghĩa nhằm mưu cầu hậu thuẫn để tồn tại

Ngày nay, Hà Nội cai trị cả nước đă đem đất đai, sông ng̣i, biển cả hiến dâng cho Trung Cộng thêm nhiều nữa. Hành vi này hoàn toàn trái ngược với truyền thống bất khuất dựng nước và giữ nước của Tổ Tiên Việt Nam. Khi làm điều này, đảng cộng sản và nhà nước cộng sản Hà Nội đă trắng trợn phản bội biết bao sự hy sinh trong sự nghiệp giữ nước của nhân dân Việt Nam.

Chúng tôi, Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc & Xây Dựng Dân Chủ, cực lực lên án những hành động hiến dâng lănh thổ cho Trung Cộng nhằm thực hiện những âm mưu đen tối cho riêng đảng cộng sản, bất cần đến đất nước và dân tộc.

Chúng tôi cực lực tố cáo trước dư luận thế giới những hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh. Cho đến nay, Trung Cộng không dẫn chứng được chủ quyền của ḿnh trên vùng biển và Hải Đảo thuộc Việt Nam một cách hợp pháp, mà chỉ xâm lăng một nước độc lập, có chủ quyền một cách thô bạo, vi phạm đến Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và các Công Ước Quốc Tế mà Bắc Kinh đă tham gia.

Chúng tôi phản đối trường hợp Bắc Kinh được Hà Nội trung thành với cộng sản quốc tế, thỏa thuận kư kết hiến dâng lănh thổ v́ đây vẫn là một trường hợp hoàn toàn bất hợp pháp.

Mọi văn kiện do Hà Nội kư kết ngày nay đều hoàn toàn không có giá trị đối với Nhân Dân Việt Nam, bởi nhà cầm quyền Hà Nội không thật sự đại diện Nhân Dân Việt Nam mà đó chỉ là sản phẩm của đảng cộng sản. Mà đảng cộng sản lại không do Nhân Dân chọn lựa nên đảng cộng sản hoàn toàn không có cơ sở pháp lư một Quốc Gia của Nhân Dân Việt Nam. Tất cả mọi văn kiện do Hà Nội kư kết hoặc ban hành ngày nay sẽ bị một Chánh Quyền Việt Nam Dân Chủ Pháp Trị Hiến Định ngày mai hủy bỏ hoàn toàn.

Chúng tôi tha thiết, v́ nền an ninh và sự phát triển chung của Vùng Nam Thái B́nh Dương, kêu gọi các Quốc Gia trong Vùng, đặc biệt là Úc và Tân Tây Lan, hăy đứng lên vận động Khối ASEAN, Nhật, Đại Hàn, Đài Loan thành lập tổ chức có khả năng quân sự để pḥng thủ địa phương chống lại mọi âm mưu xâm lược bất cứ từ đâu tới, theo tinh thần Tổ Chức Liên Pḥng Đông Nam Á ngày xưa (SEATO). Một tổ chức có khả năng pḥng thủ quân sự như vậy ra đời sẽ giúp các Quốc Gia thành viên yên ổn nỗ lực phát triển, trao đổi và hội nhập vào sự thịnh vượng toàn cầu ngày nay.

Trân trọng cám ơn và kính chào Ngài.

Đại diện Văn Pḥng Hải Ngoại Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc & Xây Dựng Dân Chủ.

Trần Văn Lâm.

Phụ bản kính gởi:

-Các Quốc Gia thuộc Hiệp Hội ASEAN.

-Các chánh quyền và cơ quan truyền thông quốc tế.

Để xin ủng hộ nguyện vọng chánh đáng của Nhân Dân Việt Nam.

-Các tổ chức trong và ngoài chánh quyền tại Việt Nam.

Để phản kháng.

-Các cơ quan truyền thông Việt Nam

Để xin phổ biến đến đồng bào trong nước và hải ngoại.

***

ĐẠI VIỆT CÁCH MẠNG ĐẢNG

Nhân Bản-Dân Chủ-Thịnh Vượng

TUYÊN CÁO

            Nhận định rằng sự im lặng của tập đoàn cộng sản Việt Nam trước việc Trung Cộng chiếm đóng hai ḥn Đảo Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1982 cho tới nay là sự đồng thuận với văn kiện kư kết ngày 14.9.1958 bởi Phạm văn Đồng công nhận bản tuyên bố ngày 4.9 của Trung Cộng quyết định về hải phận Vùng Vịnh Bắc Bộ.

            Nhận định rằng việc kư kết hiệp định biên giới trên bộ, ngày 30.12.1999, dâng cho Trung Cộng hơn 720 km2 diện tích và hiệp ước Vịnh Bắc Bộ, ngày 25.12.2000, dâng cho Trung Cộng khoảng 10% hải phận giữa đảng cộng sản Việt Nam và đảng cộng sản Trung Cộng là hành động bán nước cầu vinh của tập đoàn tham nhũng cộng sản Việt Nam.

            Nhận định rằng hành động lén lút che dấu, không cả dám công khai nội dung của những bản hiệp định ra trước toàn dân Việt Nam cho thấy dă tâm bán nước của tập đoàn tham nhũng cộng sản Việt Nam cùng với một Quốc Hội bù nh́n do đảng cộng sản Việt Nam chỉ định.

            Nhận định rằng nhiều địa danh của Việt Nam như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc nay đă thuộc về Trung Cộng là chứng cớ xác thực về việc mại quốc cầu vinh của tập đoàn tham nhũng cộng sản Việt Nam.

            Đại Việt Cách Mạng Đảng cực lực lên án hành vi bán nước, hành vi đặt quyền lợi của tập đoàn tham nhũng cộng sản Việt Nam lên trên quyền lợi Tổ Quốc và Dân Tộc.

            Đại Việt Cách Mạng Đảng cương quyết ǵn giữ mọi tấc đấc do các Bậc Tiền Nhân dầy công gây dựng Sơn Hà mà mọi con Dân Việt Nam đều phải có bổn phận bảo vệ.

            Đại Việt Cách Mạng Đảng cương quyết tham gia, hỗ trợ mọi hành động đưa đến việc giải thể chế độ bạo quyền cộng sản Việt Nam để tiến tới việc vô hiệu hóa những văn kiện bán nước này.

            Hoa Thịnh Đốn, ngày 20 tháng 1 năm 2002.

            Chủ Tịch Ban Chấp hành Trung Ương Đại Việt Cách Mạng Đảng.

         Hà Thúc Kư                                       



 

TUYÊN CÁO CỦA BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG H̉A VỀ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao Sài G̣n,  số 015/BNG/TTBC/ TT

Ngày 19.1.1974

 

TUYÊN CÁO

 

Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Ḥa, Trung Cộng đă đưa Hải quân tới khu vực Hoàng Sa, và đổ bộ quân lính lên các Đảo Cam Tuyền, Quang Ḥa và Duy Mộng.

Lực lượng Hải quân Trung Cộng gồm 11 chiến đĩnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo vệ sự vẹn toàn lănh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa trấn đóng trong khu vực này đă ra lệnh cho bọn xâm nhập phải rời khỏi khu vực.

Thay v́ tuân lệnh, các tàu Trung Cộng, kể từ 18.1.1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đĩnh Việt Nam.

Sáng nay ngày 19.1.1974 hồi 10 giờ 20, một Hộ Tống Hạm Trung Cộng thuộc loại Kronstadt đă khai hỏa bắn vào khu trục hạm ‘’Trần Khánh Dư’’ mang số HQ-4 của Việt Nam Cộng Ḥa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt Nam đă phản pháo và gây hư hại cho Hộ Tống Hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh hiện c̣n tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Quốc là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đă được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của Việt Nam Cộng Ḥa mà c̣n là một hiểm họa đối với nền ḥa b́nh và an ninh của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công, Việt Nam Cộng Ḥa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lư và ḥa b́nh trên thế giới hăy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo của Trung Cộng nhắm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kẻ gây hấn tiếp tục theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống c̣n của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đă đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay,  Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Ḥa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn lănh thổ quốc gia.

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết nhất của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lănh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa cương quyết làm tṛn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn trở ngại có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu phát xuất ở đâu.

Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực Quần Đảo Trường Sa của Việt Nam Cộng Ḥa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước dư luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rơ rằng:

Quần Đảo Hoàng Sa và Quần Đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Ḥa không bao giờ chịu khất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của ḿnh trên những quần đảo ấy.

Chừng nào c̣n một ḥn đảo thuộc lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực th́ chừng ấy Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Ḥa c̣n đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của ḿnh.

Kẻ xâm chiếm phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi t́nh trạng căng thẳng có thể do đó mà có.

Trong dịp này, Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên những Hải Đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển Trung Phần và bờ biển Nam Phần của Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa căn cứ trên những dữ kiện địa lư, lịch sử, pháp lư và thực tại không chối căi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những Đảo ấy bằng mọi cách.

Trung thành với chánh sách ḥa b́nh cố hữu của ḿnh, Chánh phủ Việt Nam Cộng Ḥa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng nhưng vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những Hải Đảo ấy, nhưng nhất quyết không v́ thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Ḥa trên những phần đất này.

 

Làm tại Sài G̣n, ngày 14 tháng 2 năm 1974

(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sài G̣n)  

 

 

 

 

 

 

 

 

   
 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage