|
TÔI THẤY và NGHE ĐƯƠC G̀
Ở SÀI G̉N và MIỀN NAM V.N
sau 32 năm dưới chế độ CS
PHÓ THƯỜNG DÂN
2007
Lời người viết:
Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xă hội với những
phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận
nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại môt cách trung thực. PHÓ THƯỜNG DÂN

Tôi thấy bộ mặt Saig̣n đổi
mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà
hàng “ vĩ đại “ trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm “thư
giản” sang trọng, quư phái cở câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường
cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung
học tư thục mang tên Mỷ, giáo sư Mỷ, chương tŕnh học của Mỷ, giảng dạy
bằng tiếng Mỳ- học sinh phải trả học phí bằng
tiền Mỷ - 600US$ đến 1000US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học
phí nầy cho con? )

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương
tôn công tử “đỏ”, các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng
đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “thư giản”, uống
rượu, đánh bạc, cá độ và t́m gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO
là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn
đô la Mỷ cũng không phải là điều lạ.
Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ
để trả một chai rượu XỌ Vụ MPỤ18 cá độ hàng triệu US$ đă bị phanh
phui. là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải
tán v́ các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đă rồi… “ lắc”
suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó…

Tôi cũng thấy Sàig̣n- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt
thở - vài ṭa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống
như chiếc hộp quẹt. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng.
Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần
lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa băi, nhô ra
thụt vào như những chiếc răng ḷi sĩ vô duyên. , lấn chiếm ngang ngược
đất công hoặc lề đường…

Tôi thấy Sàig̣n bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu
tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun
khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi.

Và hệ thống cống rảnh lạc hậu. mỗi khi trời mưa lớn -
nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác c̣n lạc
hậu. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhun nhúc như
kiến. Sàig̣n đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại
chỗ. hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị
loảng ra. Nhưng chế độ xă nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một
lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhăn hiệu Trung quốc giá khoản chừng
1000 đô la Mỷ. chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia
- bia nội, bia ngoại - có đủ. Nhậu và hút là 2 cái mốt b́nh dân thời
thượng nhứt ở Sàig̣n. Đảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu. Già
nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút th́ khỏi nói.
Giai cấp cán bộ răng đen mă tấu bây giờ là giai
cấp nắm thống trị - đă lột xác - không c̣n quấn thuốc rê, bập bập phà
khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A,
trong túi. Lănh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con
nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng ph́ phà điếu thuốc một cách khoái trá.
Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đă t́m được một thị trường tiêu thụ
béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi,
xe hơi bóng loáng. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc
mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.
Tôi c̣n thấy Sàig̣n với hiện tượng “tiếm công vi tư”
lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là
một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đă trở
thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xă nghĩa. Chiếm đoạt một
nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa măn - ban
đêm c̣n dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên c̣n lại và thắp
đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc
không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông
vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải
và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - th́ rơ.

C̣n nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn
lề đường nhan nhăn ở khắp Saig̣n. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công
thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao
đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nh́n ra phía đường Nguyễn Du
(Taberd cũ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2
căn phố thương măi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn,
nhiều trăm ngàn mỷ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành
Thái và Cộng Hoà cũ, trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia
Sư Phạm trước 75 - phố thương măi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền.
Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương măi bên hông trường
Trương minh Kư, đường Trần hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải
sân trường như thách đố dân chúng. C̣n trên lề đường khá rộng trước câu
lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương
măi bán quần áo, giày vớ thể thao, buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày.
Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường
trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe,
bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa
gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an.
Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh c̣n rơ rệt hơn:
“Xă hội Việt Nam ngày nay là một xă hội vô pháp luật mà phần đầu
tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được v́ nếu Đảng
chống tham nhũng th́ Đảng chống lại Đảng sao? “ (Nhật kư “Rồng rắn” của
Trần Độ).
Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng x́nh bỏ
ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào
Sàig̣n - đă biến mất.
Cũng không c̣n thấy những chiếc áo dài tha thướt của
những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh
Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ -
mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi
Honda chạy như bay trên đường phố.

Tôi c̣n thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ,
những thùng carton và bao túi Ny long, chồng chất lên nhau cao ngất như
sắp đổ xuống… những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế
nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng
ván gổ… đi bán vé số (một cách ăn xin trá h́nh)

Bộ mặt Sàig̣n “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy,
những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương măi sang trọng, những
hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ
trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật
liệu ngoại đắt tiền. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển
của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố -
nhiều người chóa mắt. choáng váng, cho là “Việt Nam bây giờ tiến bộ
quá”. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ
không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nh́n về nhiều mặt: Mặt y tế và
giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng. Lợi tức đầu
người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng: 555 US$
năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730 US $) chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So
với các nước láng giềng: Thái Lan: 2.550 US$ - Phi luật Tân: 1.040 US$ -
Nam Dương: 1.160.US$. Tân gia Ba 24.840 US$. (The Economist World, năm
2007 - p. 158, 176, 238) - Việt Nam c̣n lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và
trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân
của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những
biệt thự lộng lẫy kia? - th́ câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ
đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở
thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có
phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán
làm ăn mà có??
HIỆN TƯỢNG NGƯƠI BẮC
XA HÔI CHỦ NGHĨA CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MAI QUAN TRONG Ở SAIG̉N
- KHỐNG CHẾ MỌI LĂNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM.
Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi
Mỷ” - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - th́ dân
miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự
thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương măi
trọng yếu của Sàig̣n. Làm sao nói khác được khi đi một ṿng quanh Sàig̣.
và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi
han chuyện tṛ th́ thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến
bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xă hội chủ nghĩa miền
Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài,
Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà
hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện nay, một
số đă đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại. nhưng đều do người miền Bắc XHCN
làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương
nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v. v. cũng đều do
người Bắc XHCN chiếm giữ. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng
tự ḿnh đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở
Sàig̣n th́ khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ
con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của
chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đăi viên trên
phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên -
vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với
khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người
Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh
vào đánh chiếm miền Nam - th́ cũng kể họ là người XHCN miền Bắc
Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến
địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần - đều do
đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm
cở, những công Ty thương măi sản xuất lớn - điển h́nh là một công Ty vận
tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc
XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm
quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương măi, sản xuất - cũng do người
miền Bắc XHCN nắm giữ.
Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. C̣n những vàng bạc,
kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh
tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp - nhà cửa của tù căi tạo, của dân bị
đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng
thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức - tài sản những người
thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saig̣n đến các Tỉnh miền
Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.
Thông thường - những của căi nầy phải được sung vào công
quỷ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng
những mỹ từ đẹp đẻ. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia
chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN
(Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông
lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp
chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc
thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - v́ lo sợ cái ǵ đó -
bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà
của một viên chức tù căi tạo đă sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc
diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những
trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức c̣n được phép ở lại - là những
biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.
Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương
nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều
bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới,
dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào
ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá
người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những ǵ có thể bán để mua
gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm
ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN
tràn vào “mua” nhà Saig̣n với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ
những căn nhà mặt tiền ở Saig̣n.
Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy
hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và
xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân
miền Nam - nhưng sự thật khó chối căi được - là vào để chiếm đoạt tài
sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saig̣n (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo
chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây
giờ chính các ông đă trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô
la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những
địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái
du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du
học Mỷ là trường hợp điển h́nh). Như vậy hành vi nầy gọi là ǵ? Trong
những lúc canh tàn rượu tỉnh - một ḿnh đối diện với luơng tâm thuần
luơng của ḿnh - các ông tự gọi ḿnh đi.
Đến thời “mở cửa” - cơ hội hốt tiền c̣n nhiều hơn gấp
bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt
kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho
Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại
quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại
công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ
quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại
công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công tŕnh vừa xây cất xong
đă muốn sụp xuống v́ nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển h́nh: Một bệnh
viện gần chợ “cua” Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi c̣n chưa
ráo đă muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân
ông mọi lănh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương măi ở những khu
thương măi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ
lớn đă trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn
giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam -
ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng
lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt.
Giàu th́ giàu quá sức. Nghèo th́ nghèo cùng cực.
Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính -
gọi thời kỳ sau 75 là thời
“Bắc thuộc”:
- “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu
vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.
- Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ
cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
- Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương
ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “
Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm
miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.
BÔ MẶT THÔN QUÊ MIỀN
NAM
Có nh́n tận mắt, nghe tận nơi, mới h́nh dung được khuôn
mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực - người
viết ghi những điều thấy và nghe - không b́nh luận - tại những nơi đă đi
qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đă có điện.
Những làng xă xa xôi hẻo lánh vẫn c̣n sống
trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường ṃn đi sâu
vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái
Chuối xă Long Mỷ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt
lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ).
Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận
(Cáibè, Cái răng) nay không c̣n thấy nữa.
Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà
gạch ngói, nhà tôn - c̣n nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc
theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá
bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh B́nh), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều
nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường ṃn chạy
sâu vào thôn xóm vẫn c̣n đường đất lầy lội vào mùa mưa nước
nổi.
Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lănh, Châu Đốc, Hà
Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nh́n chung - có một sự thay đổi rơ rệt. Nhà
cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác
chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đă biến
mất hoặc thụt sâu vào trong, không c̣n thấy nữa. Không c̣n vẻ đẹp thiên
nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu,
vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.
Dưới sông - từ kinh Vỉnh Tế chảy
dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở
sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà
hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau.
Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng
cùng trên một ḍng sông. Không có ǵ thay đổi. Làng Chàm c̣n gọi là chà
Châu Giang cũng c̣n đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng
làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá
dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ
lưu của 2 con sông T́ền và sông Hậu - người ta không c̣n thấy bóng dáng
của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lănh Mỷ A,
chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên
Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi
ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào
ổ măi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đăi,
đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? - “ Biết hết - mấy cổ biết
hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại
Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo,
phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may. “Câu
chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không
biết.
Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi - trong
bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ
đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể
cho cả gia đ́nh cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết
hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn
làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt ḿnh “ Và
cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái,
tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saig̣n để dự tuyển. Các chàng
rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ư đến cả từng vết thẹo trên thân
thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ
trong ṿng nửa tháng mà Công An đă phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái
phép ở quận 6, 10 và Tân B́nh với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm
chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả
xóm”.
Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương
t́m quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố
xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một
người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người
con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang
làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang
vào kư giấy hôn thú sau khi đă qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển
lựa”. Tôi nh́n kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20,
đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy
có thanh niên trẻ. Nh́n cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán
chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có
giấy phép hành nghề.
Song song với tổ chức chánh thức, c̣n có một tổ chức “
môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ
dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ
xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ măi dâm ở Kampuchia,
Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ t́nh dục, các cô
gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là
phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật
ra là nhan nhăn xảy ra hằng tuần - thậm chí hằng ngày trước mặt dân
chúng tại các quận B́nh Thạnh, quận 11, Sàig̣n.
Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau.
Chánh thức th́ có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền
lệ phí. Lậu th́ lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống
nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đăi,
đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ t́nh dục rồi
bán vào động măi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của
cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) C̣n lậu th́ bán thẳng vào ổ điếm.
Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng
động lương tâm nhân loại.
Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không
giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng
Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời!
Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương,
những sự hành hạ, ngược đăi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại
Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ư hay
cản trở? Nguyên nhân nào đă thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm
nguy, tương lai mù mịt?
Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người -
những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ c̣n phải vay tiền
mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc
đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?
Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi
chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương tŕnh ngăn
chống lũ lụt, chương tŕnh công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa băi, không
được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng.
Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền
Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách v́ không có việc
làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc
đẩy v́ cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái ḿnh với cô con
gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và
cũng v́ hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) - những
người trẻ tuổi không có ư niệm về luân lư đạo đức cũ. thang giá trị bị
đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy -
khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng
động lực chánh là nghèo.
NGHÈO.
Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ
đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực,
vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới
chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng
(ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê
Việt Nam - th́ tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSC: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002:
ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) -
mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ĐBSCL vẫn nghèo
hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - th́ khó có thể giàu về nhà ở
và đời sống văn hoá.
Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đă nh́n qua những con
số có giá trị của những chương tŕnh nghiên cứu thống kê khoa học. Và
sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nh́n tận mắt, nghe tận nơi của
người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là
cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của
một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm
phải t́m một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước
từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của một
người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của
một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho
sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa,
mũi dăi ḷng tḥng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.
Tục ngữ b́nh dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. - Có.
Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là
anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ
năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng
vào bến, đem miệng nhủi c̣n dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đă
nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm th́ té ra là con
của Tư Te. Đời ông nội - nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó
3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho
người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu.
Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung th́ nông dân Việt Nam chiếm
85% dân số mà đất không đủ để canh tác - c̣n công nghiệp không có khả
năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá
tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê
đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đă
nghèo, đất đă kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà
ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất th́ lấy ǵ mà giàu có được? “
MIỀN NAM
- 32 NĂM DƯỚI CHẾ ĐÔ C. S.
Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam -
có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa.
Nhưng chỉ là tiến bộ với chính ḿnh. Đối với
các nước khác trong vùng th́ c̣n lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và
điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng
qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương tŕnh y tế, giáo
dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho
con) - các chương tŕnh tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp,
xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số
báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đă bị cả hệ thống của những con
virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại - muốn phát triển công
nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công
nghiệp, khu du lịch, đă quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân
một cách bạo ngược. Ḷng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút
trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu t́nh khiếu kiện trước trụ sở quốc hội
2 Sàig̣n). Như vậy có gọi
là phát triển không?
KẾT LUẬN
- 32 năm nh́n
lại: Người ta thấy miền Bắc đă “giải phóng” dân Sàig̣n ra khỏi đất đai,
nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng
nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú
do thiên nhiên ưu đăi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức
chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra
biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”,
đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan.
- 32 năm nh́n
lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung
cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website
(2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con
súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ
và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt
Nam)
- 32 năm nh́n lại: Mượn lời nhà báo
Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2002: “Người ta không thể cho
qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những
trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam
không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn.
Dưới cái cớ là dân tộc can đảm
nầy đă chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một
nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở “
- 32 năm nh́n
lại: Miền Bắc XHCN rơ ràng đă thiết lập một nền đô hộ miền Nam -
khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.
Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam
đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh
cáo: “ Việt Nam đang đứng trước hiểm họa
mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một
tỉnh lẻ của Tàu. (Trích Người việt hải ngoại -
Nguyễn văn Trấn)
PHÓ THƯỜNG DÂN
2007
|