[PhoNang]
Chín Năm Bên Cạnh Tổng-Thống Ngô-Đ́nh-Diệm
(bai cua
Lam Le
Trinh)
Friday, May 8, 2009 7:30 AM
From: "ngoc bui" <ngocbuibktd@
yahoo.com>
To: tgm@tx.rr.com, phonang@yahoogroups
.com, thaoluan@yahoogroup s.com,
theheviet@verizon. net, VN-Politics@
yahoogroups. com, v.v...
CHÍN NĂM BÊN CẠNH
TỔNG THỐNG
NGÔ Đ̀NH DIỆM
Mạn
đàm với cựu Đổng lư QUÁCH T̉NG ĐỨC
Tuy là bạn tâm giao với người viết từ lâu, ông
Quách Ṭng Đức luôn luôn tỏ ra
dè dặt và thận trọng
khi nhắc đến những năm dài làm Đổng lư Văn pḥng cho Tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm, vị lănh tụ khai sáng nền Đệ nhứt Cộng hoà Việt
Nam. Sau chính biến 1.11.1963, ông Đức trở lại ngành Tư pháp và
được thăng traät Chủ tịch Tham Chính Viện naêm 1969. Tháng
4.1975, Sàig̣n thất thủ, ông và gia đ́nh xin tị nạn chánh trị
tại Paris. Chánh phủ Pháp tuyển dụng ông vào Pḥng Tố tụng Tổng
quát của thị xă Paris, thời Thị trưởng Jacques Chirac. Ông về
hưu đầu năm 1984. Nay 89 tuổi, trí tuệ c̣n minh mẩn tuy sức khoẻ
không tốt như trước. Gần đây, trong những lần gặp nhau lại ở
Pháp cũng như qua nhiều cuộc điện đàm có ghi âm, ông Đức đă chịu
thố lộ với người viết nhiều điều liên hệ đến giai đoạn chín năm
phục vụ vị nguyên thủ quốc gia bị sát hại năm 1963.
Lần
đầu gặp chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm
Ông Quách Ṭng Đức sanh tại An
xuyên năm 1917, thuộc một gia đ́nh trung lưu, đậu cử nhân và Cao
học Luật Đông Dương năm 1941, Đại học Hànội, sau khi lấy bằng tú
tài tại trường Pétrus Kư, Sàig̣n. Ông thuộc toán cử nhân đầu
tiên gồm có Nguyễn Thành Cung và Lê Văn Mỹ thi đậu năm 1942 vào
ngạch huyện, phủ tại Miền Nam VN mà cấp bậc cao nhứt là Đốc phủ
sứ thượng hạng ngoại hạng tương đương với chức Tổng Đốc đứng đầu
tỉnh ở ngoài Trung và Bắc. Khi vua Bảo Đại chỉ định Trần Văn Hữu
lập Chánh phủ, Thủ hiến Nam Việt Thái Lập Thành (xuất thân là
một Đốc phủ sứ như các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Tấn Nẩm, Dương
Tấn Tài, Lê Quang Hộ ...) bổ nhiệm ông Quách Ṭng Đức năm 1951
làm Chánh Văn pḥng và thiếu tá Dương Văn Minh, Chánh Vơ pḥng.
Năm 1953, thủ hiến Thành và Thiếu tướng Chanson bị nhóm Cao Đài
kháng chiến của Tŕnh Minh Thế ám sát tại Sadec trong một cuộc
kinh lư.
49 ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ, tức là 26.6.1954, Bảo Đại
giao cho cựu Thượng thơ Ngô Đ́nh Diệm lập chánh phủ, thay thế
hoàng thân Bửu Lộc. Trước đây, ông Diệm đă ba lần từ chối lời
mời của Bảo Đại: năm 1937, 1945 và 1948. Ông giao thiệp thân
t́nh với nhà cách mạng Phan Bội Châu lúc sanh tiền, có ghé Nhựt
năm 1950 để hội kiến với Kỳ ngoại hầu Cường Để và, theo một số
sử liệu, từng lănh đạo Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội trong
nước. Có lúc ông bị Việt Minh bắt giữ và - khác với Bảo Đại - đă
cương quyết bác bỏ lời mời của Hồ Chí Minh làm Cố vấn cho Chánh
phủ do Hồ dựng ra..
Hiệp định Genève, kư ngày
20.7.1954,
chia đôi VN nơi vĩ tuyến 17. Trong đám đông quần chúng
đón tiếp nồng nhiệt Thủ tướng Diệm tại phi trường
Tân Sơn Nhứt
có ông Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên bí thơ của Toàn quyền Decoux,
cùng đi với ông
Quách Ṭng Đức.
Thủ tướng Diệm - kiêm luôn Quốc pḥng và Nội Vụ - mời ông Thơ
tham gia Nội các với tư cách Bộ trưởng Nội vụ. Ông Thơ chọn ông
Đức làm Đổng lư Văn pḥng năm 1954. Ngày 23.10.1955, một cuộc
trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại. Ngày
26.10.1956, từ Thủ tướng trở thành Tổng thống,
ông Diệm thiết lập nền Đệ nhứt Cộng hoà VN. Quân đội tổ chức một
cuộc diễn binh huy hoàng tại đại lộ Trần Hưng Đạo Sàig̣n dưới
quyền điều khiển của Dương Văn Minh, vừa vinh thăng Thiếu tướng
sau khi tảo thanh xong B́nh Xuyên tại Rừng Sát. Ông Quách Ṭng
Đức thay thế Đổng lư Tôn Thất Trạch cuối năm 1954 và giữ chức vụ
này cho đến ngày Quân đội đảo chánh năm 1963.
Nhận
xét về mối liên hệ của TT Diệm với gia đ́nh.
Theo ông Quách Ṭng Đức, năm 1954 chánh phủ Pháp trả trước dinh
Gia Long ở đường Gia Long, và sau khi quân đội Pháp rút khỏi
Việt Nam, nhà cầm quyền Đệ nhứt Cộng Hoà mới thu hồi Dinh Toàn
quyền Norodom, đổi tên thành Dinh Độc lập, trên đại lộ Thống
nhứt. Dinh này đươc kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, khôi nguyên La Mă,
xây cất lại hoàn toàn sau ngày 27.2.1962 v́ Dinh bị hai phi công
Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom hư hại khá nặng.
Dinh Độc lập chia làm hai tầng: tầng dưới có hai pḥng khánh
tiết tráng lệ và các Văn pḥng của Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, Bộ
trưởng Phủ Tổng thống, Đổng lư Văn pḥng, Tổng thơ kư Phủ Tổng
thống và nhân viên. Tầng trên chia làm ba phần: phía trái dành
làm Văn pḥng và pḥng ngủ của Tổng thống, pḥng sĩ quan tuỳ
viên; ở giữa có hai pḥng tiếp tân khang trang; phiá phải là nơi
cư ngụ của gia đ́nh ông bà Nhu gồm có hai trai, hai gái. Tổng
thống Diệm thích làm việc trong pḥng ngủ, trang trí sơ sài voi
một cái giường nhỏ bằng gổ, một bàn tṛn và ba ghế da. Nơi đây,
Tổng thống thường dùng cơm và tiếp các Bộ trưởng và tướng lănh.
Gia đ́nh Tổng thống rất trọng Nho giáo. Hằng năm vào Tết Nguyên
đán, luôn luôn tụ họp đông đủ ở Phủ Cam, Huế, để chúc thọ bà cụ
Ngô Đ́nh Khả giao cho người con áp út Ngô Đ́nh Cẩn săn sóc ngày
đêm. Ông bà Ngô Đ́nh Khả có chín người con: 6 trai, 3 gái.
Trưởng nam, Tổng đốc Ngô Đ́nh Khôi và con trai là Ngô Đ́nh Huân
bị CS giết năm 1945. Ba người con gái là bà Ngô Đ́nh Thị Giao
tức bà Thưà Tùng, bà Ngô Đ́nh Thị Hiệp tức bà Cả Ám, thân mẫu
của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đ́nh Thị Hoàng tức bà
Cả Lễ, mẹ vợ của Nghị sĩ Trần Trung Dung. TT Diệm là người con
trai thứ ba trong gia đ́nh nhà Ngô, sanh năm 1901 tại Huế, được
vua Bảo Đại bổ nhiệm năm 1933 Thượng thơ đầu Triều lúc 33 tuổi
nhưng ông Diệm sớm rủ áo từ quan v́ thực dân Pháp không chấp
nhận chương tŕnh cải tổ rộng lớn của ông.
Sau ngày ông Khôi qua đời, Tổng giám mục
Ngô Đ́nh Thục, trở nên người
anh cả “quyền huynh thế phụ”.
Đức cha được kính nể và có nhiều ảnh hưởng đối với TT Diệm. Ông
Quách Ṭng Đức cho biết, lúc c̣n ở Vĩnh Long, Giám mục Thục vài
tuần có về Saigon ngụ trong Dinh. Ông Ngô Đ́nh Luyện, con út
trong gia đ́nh, đại sứ ở Luân Đôn, năm khi mười họa mới về nước
nghỉ phép hay để dự các phiên họp của Hội đồng Tối cao Tiền tệ
mà ông là một thành viên. Ông Đức không nhớ có lần nào gặp ông
Cẩn trong Dinh Độc Lập.
Văn pḥng Đổng lư không làm việc thẳng với Cố vấn Nhu. Ông Nhu
có nhân viên riêng trong Sở Nghiên cứu Chánh trị Phủ Tổng thống
mà người giám đốc đầu tiên là đốc phủ sứ Vũ Tiến Huân, Tham lư
Nội An Bộ Nội vụ, về sau thay thế bởi bác sĩ Trần Kim Tuyến. Văn
pḥng của Sở Nghiên cứu xử dụng một ngôi nhà riêng trong hàng
rào Dinh Độc lập. Vài tháng trước vụ binh biến 1.11.1963, Tuyến
bị thất sủng, trung tá Phạm Thư Đường thay thế. Tuyến được bổ
nhiệm làm Tổng lănh sự (hụt) tại Le Caire, trở lại VN và liên hệ
đến một nhóm âm mưu đảo chánh. Đảo chánh thành công, bs Tuyến bị
Hội đồng Cách mạng đày ra Côn Đảo (tỉnh trưởng là trung tá Tăng
Tư) trên một năm cùng với lối 200 nhân vật chế độ cũ gồm có Ngô
Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỹ, đại tá Nguyễn Văn Y, Hà Như Chi, Dương
Văn Hiếu).
Ông Quách Ṭng Đức không thể xác nhận tin nói rằng trước ngày
1.11.1963, ông Nhu đă giao cho người em vợ là Trần Văn Khiêm
điều khiển cơ quan mật vụ. Khiêm bị nhiều tai tiếng, từng cộng
tác với Văn pḥng của luật sư Trương Đ́nh Dzu, ứng cử viên Tổng
thống thời Thiệu-Kỳ. Vụ Khiêm giết cha mẹ là ông bà cựu đại sứ
Trần Văn Chương tại Hoa kỳ sau 1975 làm dư luận xôn xao. Toà án
Mỹ tha Khiêm với lư do Khiêm bị bịnh tâm thần và trục xuất Khiêm
khỏi Hoa kỳ. Khiêm hiện sống b́nh thường ở Pháp. Có sự điều đ́nh
chánh trị ǵ bên trong vụ án này ?
Khi được hỏi cách cư xử của TT Diệm với
bà Nhu (nhu danh Trần Lệ Xuân),
ông Đức cho biết “ông cụ có vẻ nể
và ủng hộ bà Nhu” trong vụ tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên
đới và vận động Quốc hội ban hành Bộ Luật Gia đ́nh cấm ly dị.
Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xă
hội. Tuy nhiên, những kẻ xấu miệng lại cho rằng Bộ Luật Gia đ́nh
nhằm mục tiêu riêng: ngăn luật sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với vợ
là Trần Lệ Chi, chị của bà Nhu.
Ngoài chức vụ dân biểu Quốc hội, bà Nhu c̣n là chủ tịch Phong
trào Phụ nữ Liên đới. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu đóng vai tṛ
Đệ nhứt Phu nhân v́ Tổng thống độc thân. Tuy bất b́nh về những
lời tuyên bố châm dầu vào lửa của người em dâu trong vụ Thích
Quảng Đức tự thiêu ngày 11.6.1963 (đặc biệt với câu “monks’
barbecue”), ông Diệm không công khai phủ nhận v́ ngại đụng chạm
đến ông Nhu vào một giai đoạn rối như tơ ṿ. Chính ông Nhu, với
tánh hay nhường nhịn cho yên nhà yên cửa, cũng không kiểm soát
nổi lối phát ngôn của vợ. Bà Nhu hiện có một cuộc sống kín đáo,
nặng về tôn giáo giữa Paris và Rome, tất cả con cái đều thành
tài. Trưởng nữ Ngô Đ́nh Lệ Thủy chết trong một tai nạn lưu thông
sau 1975. Sự bất hạnh không ngớt đeo đuổi gia đ́nh nhà Ngô. Thời
gian gần đây, bà Nhu thay bà Luyện để tổ chức hằng năm tại Paris
một lễ cầu hồn cho TT Diệm và ông Nhu. Trong số ít người c̣n lui
tới với bà Nhu, có vợ chồng cựu bộ trưởng Lao động Hùynh Hữu
Nghiă. Ông Nghĩa qua đời năm vừa rồi.
Về tin đồn
Đức cha Thục
làm kinh tài (khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà
sách Albert Portail..v.. v..), ông Đức cho rằng TT Diệm tin
TGM Thục không làm điều ǵ quấy,
ngài
phải kiếm tiền
nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập. Trải qua một
cuộc đời sóng gió và gặp nhiều hiểu lầm với Toà thánh Vatican
sau 1975, TGM Ngô Đ́nh Thục được Giáo hoàng
phục hồi chức tước,
về hưu ở Hoa kỳ và đă ra đi b́nh yên tại một Viện dưỡng lăo công
giáo thuộc tiểu bang Missouri.
Ông Quách Ṭng Đức xác nhận ông Ngô
Đ́nh Nhu chẳng những là lư thuyết gia mà c̣n là bộ óc của Đệ
nhứt Cộng hoà, “l’homme
indispensable, nhân vật cần thiết”. Ông xuất thân từ Ecole
des Chartes Paris, trầm tỉnh, ít nóí, lạnh nhạt bên ngoài, thích
nghiên cứu lịch sử, có nhiều sách hơn đồng chí. Trong lối ba năm
chót của chế độ, dù giữ quyền quyết định cuối cùng trong mọi
việc, TT Diệm thường phê chuyễn các hồ sơ chánh trị quan trọng
qua cho ông Nhu để lấy ư kiến, không kể những cuộc gặp mặt thảo
luận riêng hằng ngày. Ông Nhu làm việc âm thầm, cần mẩn, hút
thuốc liên hồi (mỗi lần nửa điếu, do sự can ngăn của bà Nhu)
trong một văn pḥng không rộng, đầy ngập sách vở, ánh sáng mờ
mờ, ở tầng dưới Dinh Độc lập, có gắn máy lạnh và interphone với
bên ngoài. Ông thường phê vào các công văn với một cây bút ch́
mỡ màu xanh lá cây. Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, dựa vào
thuyết Nhân Vị, Personnalisme, đúc kết hai xu hướng của triết
gia công giáo Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain
(1882-1973).
Ông phát động và thực hiện kế hoạch quốc pḥng Ấp chiến luợc
từng gây khiếp đảm cho CS Bắc Việt. Quốc sách này được thành lập
bởi Nghị định số 11-TTP của Tổng thống và ông Nhu là Chủ tịch Ủy
ban Liên bộ đặc trách Ấp chiến lược. Ông Nhu cũng cho thành lập
Phong trào Thanh niên và Thanh nữ Cộng hoà giao cho Cao Xuân Vỹ
phụ trách. Ông đẩy mạnh tổ chức Lao động ở Việt nam và nâng đở
Trần Quốc Bửu. Đại tá CIA Lansdale (người đă ủng hộ Magsaysay
trở thành Tổng thống Phi Luật Tân năm 1952) giúp ông móc nối với
Lực lương kháng chiến Cao Đài để đưa tướng Tŕnh Minh Thế về với
Quốc gia. Ngoài chức Tổng Bí thơ Đảng Cần Lao (tổ chức theo mô
h́nh đảng Cộng sản, với một Quân ủy trong Quân đội), có một lúc
ông Nhu là dân biểu Quốc hội. Ông không bao giờ tháp tùng Tổng
thống trong các cuộc kinh lư. Săn bắn là thú tiêu khiển yêu
chuộng của ông và đồng thời là cơ hội t́m nơi yên tịnh để suy
nghĩ.
Ông đại sứ Ngô Đ́nh Luyện, gốc
kỹ sư, tánh t́nh cởi mở, thích giao du với bạn bè mỗi khi về VN
nhưng không có nhiều ảnh hưởng v́ không xen vào vấn đề nội trị.
Ông là bạn học của cựu hoàng Bảo Đại, sống tại Luân đôn và đại
diện VNCH ở nhiều xứ Âu châu và Phi châu. Sau khi vợ trước qua
đời, ông Luyện tục huyền với em vợ và có rất đông con. Bà Luyện
sống ở ngoại quốc nhiều hơn và ít khi xuất hiện. Sau 1963, ông
Luyện daỵ toán tại một trường tư thục Paris, sau đó sang Phi
châu làm việc một thời gian, t́nh trạng khá chật vật khi về hưu.
Ông có qua Hoa kỳ vài lần để thăm Đức TGM Thục, không c̣n liên
lạc với bà Nhu và ông đă quá văng ? Pháp,
Cho đến cuối năm 1961, vai tṛ của ông
Ngô Đ́nh Cẩn, Cố vấn lănh đạo
Miền Trung, trái lại, rất hệ trọng về mặt an ninh và đoàn thể.
Ông Cẩn không ăn học cao nhưng nắm vững t́nh h́nh địa phương, có
óc tổ chức, luôn luôn trang phục theo lối Việt, áo dài, khăn
đống, ăn trầu, (từ đó biệt danh “Ông Cố Trầu”), độc thân, thích
hút thuốc Cẩm Lệ, đan rổ, làm vườn, nuôi thú, nuôi chim. Ảnh
hưởng của ông lan vào Miền Nam với những điệp vụ mang danh nghĩa
chiêu hồi của Đoàn Công tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu quán
xuyến, sự hiện diện của Nguyễn Văn Hay trong cương vị phó TGĐ
tại Tổng nha Cảnh sát Công An Sàig̣n và các hoạt động của cánh
Cần Lao do nha sĩ thân tín Phan Ngọc Các điều khiển. Sau
1.11.1963, viên lănh sự Mỹ Helble tại Huế không cho Cẩn và thân
mẫu được tị nạn chánh trị tại Toà lănh sự trong khi trước đó, cơ
quan USAID Sàig̣n chứa chấp Trí Quang nhiều ngày.
Lúc vừa bị bắt, ông Cẩn có chỉ cho tướng Đổ Cao Trí tịch thu tại
nhà ông ở Phú Cam, dưới gầm giường, "một bao bố và một va-li
đựng quư kim" (đọc hồi kư Ḍng họ Ngô Đ́nh của Nguyễn Văn Minh,
bí thơ của N Đ Cẩn, trang 307).
Ông Cẩn bị Hội đồng Quân nhân Cách mạng, thời Nguyễn Khánh, xử
tử vào lúc 6 giờ 30 chiều ngày 9.5.1964 tại sân sau khám Chí
hoà, Sàig̣n. Luật sư bào chữa là Vơ Văn Quan. Cố vấn Cẩn tỏ ra
b́nh tỉnh tại pháp trường, tuyên bố tha thứ cho các người tuyên
án ông và xin đừng bị bịt mắt nhưng không được chấp nhận. Nếu
gia đ́nh thỏa thuận lấy của đổi mạng, ông Cẩn có thể đă thoát
chết. Vụ tống tiền này đă được cố nghị sĩ Trần Trung Dung và cố
trung tướng Lâm Văn Phát xác nhận với người viết sau 1975.
Được hỏi về tin đồn có sự cạnh tranh ảnh hưởng chánh trị giữa
Nhu và Cẩn, ông Quách Ṭng Đức nói chỉ nghe nói phong thanh. Vào
tháng 10.1963, ông Cẩn nhận được lệnh của TT Diệm ngưng mọi hoạt
động về đoàn thể và đóng cửa Văn pḥng Cố vấn chỉ đạo ở ngoài
Trung gồm có Hồ Đắc Trọng và đại úy Nguyễn Văn Minh. H́nh như sự
hiện diện của TGM Ngô Đ́nh Thục tại Huế đă bó tay ông Cẩn phần
nào. Ông Cẩn không dám phê b́nh chị dâu tuy không ưa bà Nhu.
Trong phạm vi cá nhân, ông Cẩn giữ liên lạc tốt với Thượng tọa
Trí Quang nhưng điều này không giúp giải quyết cuộc khủng hoảng
Phật giáo. Hoa kỳ và Cộng sản đă nhúng tay quá sâu.
Người viết có yêu cầu ông Quách Ṭng Đức cho biết trong gia đ́nh
họ Ngô, ai là người gây tiếng tâm bất lợi cho chế độ.
Suy nghĩ một phút, ông Đức đáp: TGM
Thục và bà Nhu.
Đặc biệt trong giai đọan Phật giáo, Đức cha ảnh hưởng quá nặng
ngoài lănh vực tôn giáo. Bà Nhu xen quá sâu vào chính trị, điều
ít thấy trong giới phụ nữ VN. Ngó từ bên ngoài, năm anh em Ngô
Đ́nh rất khắn khít, mỗi người giúp tay tích cực xây dựng chế độ
trong một lănh vực. Sự đoàn kết ấy được diễn tả trong huy hiệu
Đệ nhứt Cộng Hoà: năm cành trúc kết thành một bó, dưới khẩu hiệu
“Tiết trực Tâm Hư.” Tuy nhiên,
mỗi nhân vật có cá tánh riêng, nhận định không luôn luôn nhất
thống, đôi khi c̣n mâu thuẩn. Đó là hậu quả khó thể tránh trong
một chế độ dựa vào gia tộc để lănh đạo. Phe chống đối cũng như
Hoa kỳ và Cộng sản đều khai thác triệt để và dễ dàng nhược điểm
này.
Dư luận cho rằng trong năm chót của chế độ, trước cuộc binh biến
1.11.1963, ông Nhu – trên thực tế – là một
“Tổng thống không ngôi” v́ có
nhiều quyền lực, làm lu mờ vai tṛ của ông Diệm nhưng quyền bính
hiến định vẫn ở trong tay ông Diệm bị tấn công tứ phiá, bên
trong lẫn ngoài nước. Không có một văn kiện chánh thức nào bổ
nhiệm ông Nhu lẫn ông Cẩn làm Cố vấn Chánh phủ. Chính các đoàn
thể chánh trị ở Miền Trung mời ông Cẩn làm
“Cố vấn Chỉ đạo” và dành cho
ông danh xưng này. Có lúc dư luận cảm thấy ông Diệm cần ông Nhu
hơn là ông Nhu cần ông Diệm. TT Diệm không thể tách rời khỏi ông
Nhu đóng vai tṛ "l'âme damnée,
linh hồn đày đọa". Đó là đầu mối thảm trạng xảy ra cho hai
người vào giờ phút chót.
TT Diệm tưởng lầm có thể dùng uy tín cá nhân để bảo vệ sanh mạng
của bào đệ. TT Diệm cũng tưởng lầm khối tướng lănh chấp nhận
điều đ́nh với ông. Phần đông tướng lănh kính nể TT Diệm nhưng
tất cả ngán sợ ông Nhu v́ ông Nhu lắm mưu mô, nhiều bản lănh. Sự
ngán sợ đă trấn áp ḷng nể trọng và dẫn đến quyết định hy sinh
vị nguyên thủ quốc gia. 3 giờ trưa ngày 1 tháng 11, lúc tiếng
súng đang nổ lớn, TT Diệm điện thọai cho đại sứ Lodge: Một cuộc
điện đàm ngắn ngủi, đầy phẩn nộ trong khuôn khổ ngoại giao. Khi
hay hai ông Diệm, Nhu thoát khỏi Dinh Gia Long đêm1.11.1963,
nhóm phản loạn “run lên phát rét “
và một tướng cầm đầu định “trở cờ”,
theo sự tiết lộ của Tổng thống Thiệu trước khi qua đời với người
viết. Conein thúc phe phản loạn phải bắt sống cho kỳ được hai
ông Diệm, Nhu. Conein nói suồng să:
“On ne fait pas l’omelette sans casser les oeufs", [Không
thể rán trứng mà không đập bể trứng ! ], theo Trần Văn Đôn kể
lại trong Hồi kư.
TT Diệm không chịu ra lệnh cho một số đơn vị vơ trang trung
thành phản công quân đảo chánh v́ muốn tránh cảnh nồi da xáo
thịt, làm suy giảm tiềm năng kháng cộng. 4 giờ sáng ngày
2..11.1963, hai tư lệnh Quân khu thân tín ở Vùng I và II là
tướng Đổ Cao Trí và Nguyễn Khánh tuyên bố ủng hộ Hội đồng Cách
Mạng. Hy vọng cuối cùng tan biến. Hai giờ sau, Tổng thống cho
phép đại úy Đổ Thọ, sĩ quan tùy viên, điện thoại cho chú y là
đại tá Đổ Mậu yêu cầu cho xe đến đón tại Nhà thờ Cha Tam Chợlớn.
Lúc 6 giờ và 6 giơ 45 sáng ngày 2.11.63, TT Diệm đích thân điện
thoại cho các tướng Minh, Đôn và Khiêm để t́m giải pháp cho cuộc
khủng hoảng..
Dương Văn Minh chỉ-định Nguyễn Văn Nhung (tên vệ sĩ đă từng thủ
tiêu xác của Ba Cụt) trong toán đi đón, với chỉ thị riêng thanh
toán hai ông Diệm, Nhu, trước khi về tới Bộ Tổng tham mưu. Thái
thú Cabot Lodge nhắm mắt trước vụ mưu sát bỉ ổi này mà ông có dư
quyền chận lại nếu muốn.. Đây là
một vết nhơ không bao giờ rửa sạch trong lịch sử đại cường Hoa
kỳ. Tổng thống Kennedy (lănh tụ đảng Dân chủ) quá yếu đuối,
để cho thuộc hạ lật đổ ông Diệm một cách vô trách nhiệm, với sự
a tùng của viên đại sứ đồ tể Cabot Lodge (thuộc đảng Cộng hoà).
Ông Nhu có thiện cảm với Pháp hơn với Mỹ, yếu tố văn hoá/ giáo
dục ảnh hưởng nặng. Ông Diệm lại e dè với Pháp (qua kinh nghiệm
thất vọng thời làm quan dưới triều thực dân) nhưng rốt cuộc, oái
oăm thay, ông trở thành nạn nhân của Mỹ mà ông nghĩ là văn minh
và nhân đạo hơn!
Con
người của chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm.
Nhiều sách vở và tài liệu đă nóí về cuộc đời chánh trị và riêng
tư của TT Ngô Đ́nh Diệm: một lănh tụ cương trực, khí khái, chống
cộng cố hữu (anti-communiste invétéré) cũng như bướng bỉnh với
đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ. Theo ông Quách Ṭng Đức, TT
Diệm có cái uy nghiêm riêng phát xuất từ một gương mặt phúc hậu,
một tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nh́n
thẳng vào người đối thoại. Một nốt ruồi đen thấy rỏ trên g̣ má
dưới mắt trái của Tổng thống được các nhà tử vi xem như báo hiệu
một số mạng nhiều buồn phiền và tang tóc. Ông không nặng lời hay
gắt gỏng với cấp thừa hành, khi không vừa ư.
Phong cách của TT Diệm làm cho những người tiếp xúc với ông phải
kính nể. Sau cái bề ngoài trầm tỉnh, TT Diệm là một con người
cuồng nhiệt, một hỏa diệm sơn, kiên tŕ trong mục đích, không
nhân nhượng trên những đức tin căn bản. Trong chín năm làm việc
tại Dinh, ông Đức cũng có dịp chứng kiến một ít trường hợp – v́
lư do đặc biệt – Tổng thống thịnh nộ, quát tháo, đập bàn ..
Những “trận băo” này, tuy nhiên, qua mau, Tổng thống tự kềm chế
cấp thời v́ bản tánh của ông bộc trực, không cố chấp, không thâm
độc như Hồ Chí Minh. Ông có thể độc thoại hàng giờ khi nói đến
những đề tài mà ông nghiền ngẫm như chủ thuyết cộng sản, ấp
chiến lược, khu trù mật, dinh điền, cải tổ hành chánh, hay văn
hoá Khổng Mạnh. Mái tóc đen nhánh, dáng người thấp, chân đi hai
hàng lạch bạch nhưng mau lẹ. Rất sùng đạo, xem lễ mỗi buổi sáng,
hoăc tại một pḥng riêng trong Dinh, hoặc tại nhà nguyện Ḍng
Chúa Cứu thế. Trang phục màu trắng, cà vạt đen quanh năm, không
thay đổi. Làm việc bất chấp giờ giấc, với nhịp độ làm các người
thân cận mệt nhoài. Khi có vấn đề khẩn, ông cho mời nhân viên
hữu trách vào Dinh để đàm đạo thâu đêm. Bằng không, ông đọc phúc
tŕnh, hồ sơ đến khuya, uống trà, hút thuốc nhưng không bao giờ
hút hết phân nửa điếu thuốc.
TT Diệm kinh lư không biết mệt, có khi mỗi tuần đi suốt hai ba
ngày, đến các tiền đồn hẻo lánh, làng Thượng xa xôi, xử dụng mọi
phương tiện chuyên chở: máy bay, ghe, tàu, xe jeep, trực
thăng….. Ông không hùng hồn trước đám đông nhưng rất thoải mái
và thân mật ở giữa những nhóm nhỏ, không quan cách, không mị
dân.
Khi nhóm Hội đồng Nội các, Tổng thống Diệm thường ra ngoài
chương tŕnh ấn định, nếu t́nh cờ gặp một đề tài gây chú ư. Ông
nói say mê, không đầu không đuôi, lắm khi không kết luận. Với tư
cách thơ kư phiên họp, ông Quách Ṭng Đức ghi mệt tay. Lúc bế
mạc, các bộ trưởng thường phải nhờ ông Đức tóm tắt v́ suốt chín
năm trời làm việc bên cạnh Tổng thống, ông Đức đă quen và rút
kinh nghiệm, tuy đôi lúc cũng đoán lầm.
TT Diệm sống rất nặng về lư tưởng. Con người Khổng giáo nghiêm
khắc và Công giáo khổ hạnh nơi ông có những nhận xét lắm khi
không sát thực tế. Ông thường nhắc rằng người cán bộ trung thành
luôn luôn hy sinh v́ đại cuộc mà không cần đến cơm áo và chức
tước, một lời khen của lănh tụ đủ gây măn nguyện. Khổ nổi, không
phải cán bộ nào cũng thánh thiện như thế. Cuộc nổi loạn năm 1963
là một sự cải chính xót xa. Sánh với Hồ Chí Minh, ông Diêm là
một lănh tụ đức độ thiếu mưu lược.
Thú tiêu khiển của TT Diệm không nhiều v́ thiếu giờ rảnh. Ông
thích cỡi ngựa ở Đàlạt hay trong ṿng rào của Dinh Độc Lập trong
những năm yên ổn. Ông sưu tập máy ảnh, thích chụp h́nh và rất
vui khi nhận được một máy loại mới. Chủ tiệm chụp h́nh Hà Di
thường được gọi vào Dinh về vấn đề chuyên môn. Tổng Thống ăn
uống thanh đạm, thường bữa dùng tại ngay pḥng ngủ, do ông già
Ẩn và đại uư Nguyễn Bằng phục dịch, thực đơn ít khi thay đổi gồm
có cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Tổng thống ít khi đau, lâu
lâu cảm cúm, có bác sĩ Bùi Kiện Tín chăm sóc. Pḥng nội dịch
không đông nhân viên, do ông Tôn Thất Thiết phụ trách. Vấn đề
tiền bạc riêng của Tổng thống th́ giao trọn cho Chánh văn pḥng
đặc biệt Vơ Văn Hải, ông Diệm
không có nhu cầu lớn. Ông Hải, học tṛ cũ của GM Ngô Đ́nh Thục,
tốt nghiệp Trường Khoa học Chính trị Paris, cử nhân Hán học, rể
của cựu Thượng thơ Nguyễn Khoa Toàn, theo sát Tổng thống Diệm từ
lúc c̣n bôn ba ở hải ngoại và được ông Diệm thương như con. Ông
Hải chính là người được TT Diệm chỉ định ngày11.11.1960 ra trước
cổng Dinh Độc Lập tiếp xúc với các sĩ quan phản loạn Nguyễn
Chánh Thi - Vương Văn Đông để t́m hiểu yêu sách của họ. Hải
chống ông bà Nhu và bác sĩ Tuyến, giám đốc Sở Mật vụ và cũng
không thích ông Cẩn.
Ông Đức c̣n thêm: Vài hôm sau 1.11.1963, ông có chứng kiến vụ
Hải trao cho đại úy Đặng Văn Hoa, chánh văn pḥng của tướng Trần
Văn Đôn số tiền của TT Diệm giao cho Hải cất giữ. Ông Đức không
biết số tiền này được bao nhiêu và lọt vào túi của ai. Khi phe
quân nhân lên cầm quyền, Vơ Văn Hải có can đảm tổ chức nhóm
“Tinh thần Ngô Đ́nh Diệm” và ra ứng cử dân biểu tại Sàig̣n nhưng
thất cử. Năm 1974, không hiểu v́ sao Hải lại xoay qua, cùng với
Tôn Thất Thiện, ủng hộ nhiệt t́nh tướng Dương Văn Minh là người
ra lệnh hạ sát hai ông Diệm, Nhu. Hải qua đời trong một trại
giam Bắc Việt sau 1975, đem theo nhiều điều bí mật chưa hề tiết
lộ.
Về câu hỏi TT Diệm liên hệ ra sao với đảng Cần Lao, ông Quách
Ṭng Đức cho biết ông Diệm chỉ để ư theo dơi hoạt động của Phong
Trào Cách Mạng Quốc gia (tổ chức nồng cốt của chế độ từ lúc đầu)
và Liên đoàn Công chức Cách mạng, một tổ chức ngoại vi của Chánh
phủ. Về chuyện thành lập và sinh hoạt của đảng Cần Lao, TT Diệm
giao hết cho hai ông Nhu và Cẩn. Trong các năm chót của chế độ,
kế hoạch Áp chiến lược cũng do ông Nhu hoàn toàn phụ trách, Tổng
thống không lưu ư đến như đă từng lưu ư đến kế hoạch Dinh điền
hay Khu Trù mật. Các gương mặt nổi trong hoạt động Cần Lao gồm
có các ông Huỳnh Văn Lang, Trần Kim Tuyến, Lê Văn Đồng, Huỳnh
Hữu Nghĩa, Lê Quang Tung, Đổ Mậu, Nguyễn Văn Châu, Đổ Kế Mai,
Nguyễn Trân ..v..v.. Bs Tuyến làm việc với ông Nhu, ít khi gặp
Tổng thống, trừ trường hợp đặc biệt.. Quyết định đưa Cần Lao vào
Quân đội – tức là chính trị hoá Quân đội – làm yếu Quân đội v́
phá vỡ hệ thống quân giai và làm nản ḷng các sĩ quan chuyên
nghiệp. Quân đội chỉ biết có Tổ Quốc. Và phục vụ tổ quốc mà
thôi.
Vụ
công điện số 9159 cấm treo cờ Phật giáo và sự trở mặt của các sĩ
quan thân tín.
Trong quyển
hồi kư “ Ḍng họ Ngô Đ́nh”,
xuất bản năm 2003 tại Californie, tác giả Nguyễn Văn Minh,
nguyên bí thơ (1956-1963) của cố Ngô Đ́nh Cẩn, ghi nơi trang
164-165: Lối 10 hôm sau vụ nổ lựu đạn giết 7 em bé và một số
Phật tử tại đài phát thanh Huế nhân ngày lễ Phật Đản
1963, Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc
biệt Miền Trung,
vào Dinh để phúc tŕnh với TT Diệm, ông Diệm nói với Hiếu như
sau về vụ treo cờ Phật giáo:
“Sau đó
tôi mới bảo Quách Ṭng Đức gởi công văn nhắc các Tỉnh,
chứ tôi có cấm chi mô! Không hiểu tại răng
hắn để tới ngày chót mới gởi công điện.
Khi xảy chuyện, tôi kêu vô hỏi, hắn xin thôi. Công chuyện đổ bể
như ri rồi, xin thôi th́ ích chi?”.
Nguyễn Văn Minh c̣n viết thêm ư kiến của Tôn Thất Đính:
“Ông
Đức đă gởi đi một công điện mà không tham khảo ư kiến ông Cố vấn
Ngô Đ́nh Nhu..Lẽ
nào lại tự tiện đánh đi một công điện như vậy nếu không được
t́nh báo Mỹ tổ chức?”
Được hỏi nghĩ sao về những đoạn trích dẫn trên đây, ông Quách
Ṭng Đức tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Ông xác quyết không bao giờ có
nhận được lệnh của ông Diệm thảo và gởi cho các Tỉnh trưởng công
điện số 9159 đề ngày 6.5.1963 do ông Nguyễn Văn Minh nêu ra, với
nội dung “chỉ thị cho các cơ quan
phụng tự (nhà thờ, chùa chiền..) chỉ treo cờ Quốc gia mà thôi”
(nguyên văn). Trước đó, việc treo cờ được giải quyết bởi hai
nghị định số 78 và 189 của Bộ Nội vụ (năm 1957 và 1958) và một
sắc lệnh đầu năm 1962 của Phủ Tổng thống nhắc nhở quần chúng tôn
trọng Quốc kỳ.
Ông Đức kể lại:
Tháng tư 1963, sau một cuộc thị sát vào mùa lễ
Phục Sinh, TT Diệm có chỉ thị cho ông Đức gởi thông tư lưu ư các
giới chức Tỉnh về thể thức treo quốc kỳ VN trong các ngày lễ
đạo, không phân biệt tôn giáo nào: treo trước cổng giáo đường, ở
chính giữa và phiá trên, đúng kích thước, c̣n các cờ đạo và cờ
đoàn thể th́ ở vị trí thấp hơn. Thông tư nhấn mạnh: phiá trong
các giáo đường, chùa chiền và những nơi thờ phượng, giáo kỳ được
treo tự do, không giới hạn.. Lệnh của Tổng thống được phổ biến
ngay ngày hôm sau.
Theo ông Quách Ṭng Đức, đầu tháng 5.1963, tại Huế, xảy ra một
điều đáng tiếc: Để lấy điểm trong lễ Ngân khánh
25
năm thụ phong giám mục của Đức cha Ngô Đ́nh Thục,
nhà chức trách hành chánh địa phương đă cho
treo cờ Vatican "loạn xạ", bất chấp thông tư nói trên.
[dĩ nhiên có bàn tay của CIA xúi
vào. BNH]. Một tuần sau - ngày 8.5.1983 - vào lễ Phật Đản, các Phật tử cũng
tự tiện
treo cờ Phật giáo như thế
[dĩ nhiên có bàn tay của CIA xúi
vào. BNH].
Hôm sau, Tỉnh trưởng Thừa Thiên
trở lại thi hành thể thức treo cờ trong thông tư của Phủ Tổng
thống
[dĩ nhiên có bàn tay của CIA xúi
vào. BNH]
nên gây sự phẩn nộ của Phật tử v́ họ cho rằng đây là một biện
pháp bất công, kỳ thị
[dĩ nhiên có bàn tay của CIA xúi
vào. BNH]. Tại Miền Nam, theo ông Đức, với 4.800
chùa Phật, không có xảy ra vấn đề như ở Huế.
Ông Đức c̣n nhớ rất rành mạch rằng, sau thảm kịch tại Đài Phát
thanh Huế chiều ngày 8.5.1963,
Tổng thống có đ̣i ông vào Văn
pḥng để đưa cho ông xem, với một gương mặt “mệt nhọc, buồn rầu
và chán nản”, công điện ngày 6.5.1963 nói trên và hỏi “một cách
sơ sài” ai đă gởi đi chỉ thị ấy.
Ông Đức trả lời không biết v́
trong sổ công văn gởi đi không có dấu vết của tài liệu vưà kể
[dĩ nhiên
có bàn tay của CIA. BNH].
Theo ông Quách Ṭng Đức, trong
hoàn cảnh chánh trị dồn dập sôi động lúc đó (Thích Quảng Độ tự
thiêu, Quách Thị Trang bị bắn chết tại chợ Bến Thành, lựu đạn nổ
ở Huế, tướng lănh lập kiến nghị đ̣i cải tổ, việc kiểm soát chùa..v..v..)
,
TT Diệm rối trí, không c̣n màng đến việc ra lệnh
điều tra.
Ông có lẽ dư biết việc giả tạo công điện 9159 là một đ̣n phép
mới của phe chống Chánh phủ ( Phật giáo Ấn quang ?
T́nh báo Hoa
kỳ? Đảng phái đối lập? hay Cộng sản?). Vậy việc ông Đức xin từ
chức là một điều thất thiệt. Nghi “t́nh báo Mỹ tổ chức” ông Đức
– như tướng Đính ởm ờ xuyên tạc – là một chuyện tưởng tượng rẻ
tiền. [cho rằng việc Nghi
“t́nh báo Mỹ tổ chức
- là một chuyện tưởng tượng rẻ
tiền” chỉ có bọn gia nô của
CIA mới nói ra câu nầy. BNH]
Để tỏ thiện chí dàn xếp, Chánh phủ đồng ư cho hai Ủy ban Liên bộ
và Liên phái công bố một thông cáo chung ngày 16.6.1963 xác định
những điểm đă thỏa hiệp về việc treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ,
hưá xét lại Dụ số 10 trước Quốc hội vào cuối 1963, tạm ngưng áp
dụng Nghị định của Phủ Tổng thống số 116/TTP/TTK ngày 23.9.1960
ấn định thể thức mua bán bất động sản và đất đai của Phật giáo,
hưá sẽ trừng trị nhân viên có lỗi và bồi thường các gia đ́nh nạn
nhân. Tuy nhiên,
mọi việc đă quá trễ đối với Hoa kỳ và Bắc Việt.[cái
ngu của tên viết ra câu nầy là chính câu nầy chứng tỏ tác giả
của nó là gia nô của CIA Hoa Kỳ và Bắc Việt. v́ vấn đề nội bộ
VNCH th́ tại sao lại trể hay không trể với hai nhóm côn đồ CIA
và Bắc Việt kẻ thù của VNCH. BNH]
Trong hồi kư “Ngô Đ́nh Diệm, Nổ lực hoà b́nh dang dở”, (nxb Xuân
Thu Californie 1989), nơi trang 189-190, Nguyễn Văn Châu, nguyên
giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lư Quân đội VNCH, trở thành
đối lập với Chánh phủ trước cuộc binh biến
1.11.1963,
có ghi lại: Sau 1975, một cựu đại uư Hoa kỳ tên James Scott,
liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 thuộc Sư
đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thơ
đăng trên một tuần báo Mỹ
rằng chính y đă gài một trái bom nổ chậm chiều 8.5.1963 tại Huế.
Sự kiện này cũng được Trần Kim Tuyến, dưới bút hiệu Lương khải
Minh, ghi lại trong hồi kư Làm thế nào giết một Tổng thống? (tập
2, trang 366-370). Theo trung tướng Trần Thiện Khiêm xác nhận
với Marguerite Higgins, tác giả quyển sách Vietnam, Our
nightmare, chương VI, Nguyễn Khánh (nắm quyền sau cuộc chỉnh lư
30.1.1964) đă hy sinh thiếu tá Đặng Sỹ, phó Tỉnh trưởng Nội an
Thừa Thiên, để Thich Trí Quang tŕ hoăn chống đối. Toà án Mặt
trận xữ Sỹ khổ sai chung thân.
T́nh trạng giữa TT Diệm và Mỹ căng thẳng kể từ muà hè 1962, nổ
lớn tại Huế với vụ Phật giáo 8.5.1963. Qua tháng 7, tin đồn đảo
chánh lan rộng. Ngày 21.8.1963, đại sứ Lodge tŕnh ủy nhiệm thơ
và bắt đầu móc nối với tướng lănh. Sau ngày Lực Lượng Đặc Biệt
của Đại tá Lê Quang Tung lục soát chùa chiền, các tướng tin cẩn
của TT Diệm đều đổi ḷng, theo phe phản loạn, trừ ông Cao Văn
Viên trước sau như một. Ông Đức cảm động khi được biết đại tứớng
Viên (hiện ở Hoa Thịnh Đốn) đă xác nhận với người viết rằng sau
ngày 30.1.1964 Nguyễn Khánh chỉnh lư ê-kíp Dương Văn Minh,
Nguyễn văn Nhung, kẻ giết hai ông Diệm-Nhu, - từ đại úy thăng
thiếu tá - bị An ninh Quân đội bắt vào giao cho Lực lượng Nhăy
Dù của Tư lệnh Cao Văn Viên canh giữ. Nhung “đă tự treo cổ bằng
một sợi giây giày trong khám đường”, theo lời tướng Viên.
Được hỏi: trong các tướng thường vô ra Dinh Độc lập, ai là người
được sủng ái nhứt, ông Quách Ṭng Đức đáp không do dự:
“Tôn Thất Đính và Trần Thiện Khiêm,
mà Tổng thống xem như người nhà!” Điều này không ngăn Đính
và Khiêm đóng vai tṛ chính yếu trong cuộc đảo chánh 1.11.1963,
hệ trọng hơn cả Dương Văn Minh được chọn làm b́nh phong. Chính
Trần Văn Đôn, với tư cách người móc nối, đă tiết lộ trong hồi kư
“Việt Nam Nhân Chứng”, rằng Đôn có ḍ xét tâm ư của Đính và đến
gặp Khiêm bốn lần, lần đầu vào tháng 9.1963, và Khiêm có cho Đôn
biết “ông ta cũng có một kế hoạch riêng do Mỹ chủ trương”. Đôn
viết (nguyên văn): “Tôi khuyên ông ta không nên bàn với Mỹ một
việc quan trọng như vậy, nên bỏ kế hoạch ấy đi!”(trang 193).
Trong những biến cố quân sự liên tiếp làm hỗn loạn Miền Nam từ
1.11.1963 cho đến ngày Tổng thống Thiệu cầm quyền, tướng Trần
Thiện Khiêm đứng sau màn giựt giây chiếu theo lời xác nhận của
một số nhân chứng hàng đầu khả tin. Tới nay, ông Khiêm không
đính chánh mà cũng không tiết lộ ǵ cả. Liệu tướng Khiêm sẽ ra
đi như tướng Thiệu, mang xuống tuyền đài những bí ẩn đau thương
của Đệ nhị Cộng hoà Miền Nam ?
Theo Quách Ṭng Đức, Dương Văn Minh
không sâu sắc về chánh trị tuy thời cuộc đưa lên ghế Quốc trưởng
hai lần: sau 1..11.1963 (nhờ Mỹ giúp) và tháng tư 1975 (với sự
đồng ư của Bắc Việt). Lần đầu, Minh tại chức ba tháng; lần sau,
được 40 giờ, rồi đầu hàng địch vô điều kiện. Với tư cách Bộ
trưởng Nội vụ, tác giả bài này được chỉ thị đích thân điều tra
mật về trường hợp tẩu tán kho vàng Bảy Viễn và có mời tướng
Dương Văn Minh đến giải thích. V́ lư do chánh trị, hồ sơ tạm
xếp. Bộ Tư lệnh Hành Quân bị giải tán, tướng Minh được cử làm Cố
vấn Quân sự Phủ Tổng thống, một chức vụ tượng trưng. Từ đó, ông
cảm thấy không yên tâm với “chiếc gươm Damoclès treo trên đầu”,
ông hận chế độ – đặc biệt cố vấn Nhu - vô ơn sau khi ông đă
chống Nguyễn Văn Hinh, ủng hộ Thủ tướng Diệm, giúp dẹp B́nh
Xuyên và bắt nạp Ba Cụt.
Một lư do khác gây nghi ngờ đối với tướng Minh là cơ quan t́nh
báo quốc gia bắt đủ bằng chứng về mối liên hệ thầm lén giữa ông
Minh và người em CS là thiếu tá Dương Văn Nhựt, bí danh Mười Ty.
Một người em khác của tướng Minh là Trung tá QĐVNCH Dương Văn
Sơn cũng đă chứa chấp vợ chồng Nhựt và đóng vai tṛ liên lạc ở
trong và ngoài xứ. Cựu đại tá Nguyễn Văn Y, cục trưởng Trung
ương T́nh báo và Tổng giám đốc Cảnh sát Công an, hiện ở
Virginia, đă xác nhận với người viết có đích thân tŕnh hồ sơ
Dương Văn Minh cho TT Diệm xem. Tổng thống liền ra lệnh hủy hồ
sơ này "trước mắt ông" v́ không muốn cho Hoa kỳ biết, “xấu hổ..”
(sic).
Hoa kỳ và Cabot Lodge đă khai thác mối thù riêng của tướng Minh
đối với cá nhân hai ông Diệm, Nhu để lật đổ Đệ nhứt Cộng hoà và
thay ngựa giữa gịng. Hoa kỳ cũng dư biết Minh có liên hệ với
Bắc Việt nên áp lực Trần Văn Hương trao quyền gắp lại cho D V
Minh – trái với Hiến pháp - hầu tạo lư do cho Mỹ chuồn sớm khỏi
VN.
Nguyên đại tá Nguyễn Linh Chiêu, hiện ở Huntington Beach,
Californie, kể lại với tác giả bài này: Năm 1983, ông có gặp
tướng Minh tại Paris, hỏi v́ sao thủ tướng Vũ Văn Mẫu cuối tháng
4.1975 lại hấp tấp ra thông cáo buộc quân Mỹ phải rút trong ṿng
24 giờ? Tướng Minh đáp – trước mặt nhân chứng Trần Văn Đôn - đă
làm “theo lời yêu cầu của đại sứ Mỹ Graham Martin.” Các sự kiện
trên đây cho thấy tướng Dương Văn Minh chỉ là một con rối trong
tay Hoa kỳ, Pháp và Bắc Việt. Minh đă giúp Hoa kỳ tràn vào VN
bằng cách tuân lệnh đảo chánh ông Diệm. Mười hai năm sau, cũng
chính Minh giúp Quân đội Mỹ tháo chạy. Nguyên TT Trần Văn Hương
đă thẳng thắn phát biểu: “Minh không phải là con người thích hợp
với cảnh dầu sôi lửa bỏng của Đất nước!”
Năm 1988, đại tướng Minh được Hoa kỳ cho phép rời Paris qua
Pasadena, Californie, sống với người con gái. Phải chăng đây là
một cách trả ơn? Ông Minh quá văng ngày 6.8.2001, thọ 86 tuổi.
Trước đó, Vơ Văn Kiệt cũng có đến thăm ông tại Pháp, theo Lư Quư
Chung tiết lộ trong quyển “Hồi kư Không Tên” vưà xuất bản tại
Saigon. Với vài người thân tín, tướng Minh nói ông không tiếc
hối đă đóng vai tṛ của một Pétain Việt Nam!
Nguyễn Khánh là một sĩ quan
thân tín có công “cứu Chúa” trong vụ binh biến 11.11.1960 khi
giữ chức Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu. Ông nuôi cao vọng
thay thế Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ. Sau khi thăng Thiếu
tướng tạm thời tại mặt trận, ông được đưa lên Cao nguyên hẻo
lánh để trấn Quân khu 2 và Vùng 2 chiến thuật. Ông Khánh sanh
bất măn, v́ thế tuyên bố trên đài phát thanh lúc bốn giờ sáng
ngày 2.11.1963 ủng hộ phe đảo chánh. Theo tướng Khánh kể lại với
người viết: đêm 1.11.1963, ông Diệm và ông Nhu có điện thoại từ
Chợ Lớn lên Pleiku cố thuyết phục ông Khánh cầm quân về Sàig̣n
giải cứu nhưng ông Khánh trả lời “Quá trể và ở quá xa.”. Câu hỏi
đặt ra: Nếu tướng Khánh nhận về “cứu giá”, nếu TT Diệm tŕ hưởn
xuất hiện sáng 2.11.1963 và nếu sự cứu giá thành công, th́ thời
cuộc liệu thay đổi ra sao? Mọi việc tùy thuộc biết bao nhiêu chữ
“nếu”! Sau hết, với người viết, tướng Khánh c̣n than phiền TT
Diệm không giữ lời hứa (viết tay) trao quyền lại cho Quân đội
sau cuộc binh biến 11.11.1960. Đây là một sự kiện khác mà tướng
Khánh hẳn không quên. Trong một buổi lễ long trọng truy điệu cố
TT Ngô Đ́nh Diệm tại thủ phủ Little Sàig̣n, Californie, tướng
Nguyễn Khánh không tiếc lời ca tụng TT Diệm như một anh hùng dân
tộc mà ông ngưỡng mộ và quyết chí noi gương.
TT Diệm nể trọng đại tướng Lê Văn Tỵ, người duy nhứt trong Quân
đội được kêu bằng Ngài. Phiá dân sự, cách xưng hô này chỉ áp
dụng đối với Phó TT Nguyễn Ngọc Thơ và Bộ trưởng Ngoại giao Vũ
Văn Mẫu, nhân vật cạo đầu năm 1963 để phản đối trong vụ Phật
giáo.
Tướng nào giỏi đóng tuồng và chuyên “trở cờ”? Tuy không thân cận
với giới tướng lănh, ông QTĐ có thể trả lời theo một nhận định
chung:
Trần Văn Đôn (em út của Tây con
Nguyễn Văn Hinh và là người từng công khai đốt lon sĩ quan Pháp
để tỏ ḷng trung thành với TT Diệm) và Tôn Thất Đính (con cưng
của chế độ trở giáo đâm sau lưng chế độ. Một Brutus hay một
Juda? ).
Ai thâm độc nhứt? Đổ Mậu.
Ông Mậu - một cột trụ Cần Lao - thú nhận đă mọp lạy trước ông
Đính (cũng là Cần lao gộc) để van xin Đính theo quân nổi loạn.
“Đại tá muôn năm” Đổ Mậu hận v́ TT Diệm cho rằng ông không đủ
văn hoá để tiến cao hơn. Người viết có dịp hỏi nguyên Thủ tướng
Nguyễn Khánh nghĩ sao khi chọn Mậu lănh đạo Bộ Văn hoá không
thích hợp chút nào với tŕnh độ của y th́ tướng Khánh nheo mắt
cười, trả lời: Mậu tự ti mặc cảm nhưng đầy cao vọng và được một
số Phật tử ủng hộ lúc đó. Việc bổ nhiệm này khuyến khích Mậu
cọng tác sốt sắng và đồng thời biến Mậu thành tṛ cười của quần
chúng! Đây là một “đ̣n chánh trị” quen thuộc của Nguyễn Khánh,
kịch sĩ từng đả đảo Hiến chương Vũng Tàu do chính ông cho thảo
ra. Một đ̣n khác của tướng Khánh: móc nối với Huỳnh Tấn Phát,
lănh tụ Mặt trận Giải phóng Miền Nam, với chủ đích – theo lời
tuyên bố của Khánh – kéo Phát về phiá Quốc gia. Điều này bị
Nguyễn Thị B́nh phủ nhận hoàn toàn trong hồi kư Chung Một Bóng
Cờ, (nxb Chính trị Quốc gia, Hànội 1993). Chẳng những thế, trang
453-454 của hồi kư c̣n tiết lộ Nguyễn Khánh đă vận động Hoa kỳ
cúp viện trợ và bỏ rơi TT Thiệu, Khánh công khai đi đêm với Mặt
trận trong giai đoạn chót của Hiệp định Paris.
“TT Diệm có thích được nịnh hót hay
không?”
Ư kiến của Ông Đức: Tại Bắc Việt, Cộng sản đă thần tượng hoá Hồ
Chí Minh. Trong Nam, cũng có khuynh hướng ấy đối với ông Diệm,
dưới nhiều h́nh thức, đặc biệt trong Phong trào Cách mạng Quốc
gia với số đoàn viên tăng từ 10,000 năm 1955 lên đến 2 triệu năm
1963, tổ chức đến tận xă, phường. Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh
Thành bỏ hàng ngũ kháng chiến về cộng tác với ông Diệm từ lúc
đầu như Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang…..Ông có công xây dựng
Phong trào CMQG, tổ chức Chiến dịch tố cộng và đề xướng “Suy tôn
Ngô Tổng thống”. Bất thuận với Trần Kim Tuyến, Thành rời Nội các
cuối năm 1959. Ba bộ trưởng khác ra đi cùng một lúc v́, với ông
Thành, lập hồ sơ truy tố một số cán bộ Cần lao dân sự và quân sự
lộng quyền: Trần Trung Dung (Quốc pḥng), Nguyễn Văn Sĩ (Tư
pháp) và người viết (Nội vụ). Bộ Thông tin bị đổi thành Nha Tổng
Giám đốc Thông tin do bác sỉ (Cần lao) Trần Văn Thọ phụ trách.
Ngày 30..4.1975, ông Thành (Nghị sĩ và Ngoại trưởng thời Nguyễn
Văn Thiệu) tự tử bằng thuốc độc tại nhà để tránh sa vào tay CS
c̣n bs Tuyến th́ được nhà báo điệp viên Việt cộng nằm vùng Phạm
Xuân Ấn lấy xe chở đến một địa điểm dùng trực thăng Mỹ thoát
khỏi VN. Tuyến định cư tại Anh quốc nhờ bà Tuyến làm việc cho
Ṭa Đại sứ Anh ở Sàigon. Tuyến làm chủ một nhà trọ bed and
breakfast gần Cambridge và qua đời cách đây vài năm, sau khi
phát hành với Cao Vĩ Hoàng quyển hồi kư “ Làm thế nào giết một
Tổng thống?”
Theo ông QTD, TT Diệm cởi mở, b́nh dân trong những năm đầu chấp
chánh nhưng về sau, trở nên khó tánh và khép kín hơn. Ảnh hưởng
của quyền lực? hoàn cảnh ? giới cận thần a dua? Qua ba giai đoạn
Quốc Hội Lập Hiến, Quốc Hội Lập Pháp kỳ 1 và Quốc Hội Lập Pháp
kỳ 2, nền Đệ nhứt Cộng hoà đi lần vào bế tắc. Trong gia đ́nh,
ông bà Trần Văn Chương, nhạc
gia của ông Nhu, - chồng, đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Đốn và vợ,
quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc - lợi dụng chức vụ để phản
tuyên truyền và đả kích kịch liệt Chánh phủ Sàig̣n và luôn cả vợ
chồng ông Nhu. Bác sĩ Trần Văn Đổ, chú vợ của cố vấn Nhu, và
luật sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm Bộ
trưởng Nội vụ, anh em bạn cột chèo với ông Nhu, cũng không c̣n
ủng hộ ông Diệm.
Ls Châu đào thoát qua Paris ngang con đường Nam Vang nhờ sự giúp
đở của bạn học cũ là Quốc vương Sihanouk. Ông đă tŕnh luận án
Thạc sĩ luật chỉ trích chương tŕnh viện trợ Hoa kỳ ở VN và sau
đó, dạy luật tại Đại học Paris. Ls Châu như khoa học gia Bửu
Hội, năm 1972, cũng ngă theo ủng hộ Mặt trận Giải phóng Miền
Nam.. Trần Văn Đôn- người chủ trương đảo chánh - nh́n nhận một
cách thương hại: Tội nghiệp, mọi
người đều bỏ TT Diệm!
Ông QTĐ tỏ ra dè dặt đối với dư luận cho rằng TT Diệm kỳ thị
Phật giáo. Ông cho biết TT Diệm thường tiếp xúc với các vị tu
hành thuộc mọi tôn giáo, đặc biệt Phật giáo; không bỏ qua dịp
viếng thăm một số chùa như chùa Sư Nữ của Sư bà Diệu Huệ (mẹ
giáo sư Bữu Hội) ở Phú Lâm, chùa Diệu Đế ở Huế..v..v..Chính ông
Đức đă nhiều lần chuyển đến tay ông Mai Thọ Truyền, chủ chùa Xá
lợi và Hội trưởng Hội Phật giáo Nam Việt những số tiền giúp đở.
Một chuyện mà ít người biết là TT Diệm đă hiến cho Đức Đạt Lai
Lạt Ma trọn số tiền 15.000 mỹ kim, giải thưởng Leadership
Magsaysay tặng cho Tổng thống. V́ lư do chánh trị, quyết định
này không được công bố.
Ủy ban tôn giáo Liên Hiệp Quốc được Chánh phủ Saig̣n mời đến
điều tra năm 1963 cũng đă phúc tŕnh - sau ngày hai ông Diệm,
Nhu bị giết - rằng Đệ nhứt Cộng hoà không kỳ thị tôn giáo. Mặt
khác, TT Diệm đă từng thẳng thắn bác bỏ những yêu sách quá đáng
của các giáo phẩm di cư, bởi thế nên có sự bất măn ngấm ngầm.
Hai Giám mục Phát Diệm, Bùi Chu Lê Hữu Từ và Phạm Ngọc Chi chống
đối ra mặt.
Cho đến ngày TT Diệm qua đời, phần đông các người phục vụ sát
cạnh bên Tổng thống hàng ngày đều thuộc thành phần Phật giáo:
Đổng lư (Quách Ṭng Đức), Tổng thơ kư Nguyễn Thành Cung, Chánh
văn pḥng Vơ Văn Hải, bí thơ Trần Sử, nội dịch Tôn Thất Thiết,
cận vệ Nguyễn Bằng…..
Vấn
đề thủ tiêu các người đối lập và việc tiếp xúc của ông Nhu với đối
phương Cộng sản.
Sau chánh biến 1.11..1963, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng tố cáo
chánh quyền Diệm đă thủ tiêu một số ngưới đối lập như Nguyễn Bảo
Toàn, Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn, ..v..v.. Quách Ṭng
Đức tuyên bố không biết ǵ về những chuyện này thuộc thẩm quyền
các cơ quan công an, t́nh báo. Tuy nhiên, ông tin chắc rằng ông
Diệm không bao giờ đích thân chủ trương như vậy v́ Tổng thống là
một tín đồ Công giáo thuần thành, phân biệt tội phước, không
khát máu như Cộng sản mà ông tích cực chống đối. Có thể một số
nhân viên an ninh cuồng tín đă hành động để lấy điểm (excès de
zèle) hay giải thích sai lầm chỉ thị cấp trên. Một bằng chứng cụ
thể là TT Diệm chỉ ra lệnh giam chớ không cho xữ tử Hà Minh Trí,
một cán bộ Cao Đài, mưu sát hụt ông tại Ban Mê Thuột và gây
thương tích cho Bộ trưởng Đổ Văn Công. Hà Minh Trí được Hội đồng
Cách Mạng trả tự do khi họ đă giết TT Diệm. Câu hỏi nêu ra là
cuối cùng, TT Diệm có hay biết các vụ thanh toán toán đối lập
hay không và phản ứng thế nào? Dù sao, lịch sử vẫn đặt vấn đề
trách nhiệm tinh thần đối với ông.
Trong giai đoạn chót của chế độ, có tin đồn trong quần chúng và
báo giới Mỹ rằng cố vấn Ngô Đ́nh Nhu đi đêm với CS kháng chiến
để t́m ra giải pháp giữa Nam, Bắc. Chính ông Nhu có đề cập đến
chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lănh tại Bộ Quốc pḥng
và ngày 23.7.1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán bộ
xây dựng Ấp Chiến lược khoá 13. Một nguồn tin khác cho biết ông
Nhu xử dụng trung gian cuả bốn đại sứ Roger Lalouette (Pháp),
d’Orlandi (Ư), Goburdhun ( An dộ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông
sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đ́nh chiến) cũng
như Tổng lănh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon để liên lạc
với Hànội.
Ông Quách Ṭng Đức nói có nghe dư luận này nhưng không biết rỏ
chi tiết. Ông cũng có nghe xầm x́ rằng ông Nhu đă gặp một đại
diện Văn pḥng Chính trị CS (Phạm Hùng?) trong lần đi săn tại
Quận Tánh Linh, B́nh Tuy. Ông Đức nghĩ đây chỉ là một đ̣n chiến
thuật của ông Nhu để dằn mặt Hoa kỳ, Tổng thống Diệm không bao
giờ chấp nhận giải pháp điều đ́nh với Hồ Chí Minh. Hơn nửa, Hiến
pháp VNCH có ghi rỏ chủ trương của Miền Nam Việt Nam chống chủ
nghĩa vô thần. Ông Đức c̣n xác nhận: một Tết Nguyên Đán trước
1963, một cành đào đỏ lộng lẩy được trưng bày nơi pḥng khánh
tiết Dinh Độc lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ tich Nhà nước
Cộng hoà Xă hội Miền Bắc”.
Những ngày chót của Tổng Thống Diệm. Các cận thần cuối cùng.
42 năm trôi qua, mọi công dân VN, ủng hộ hay chống đối ông Diệm,
đều cảm thấy nhục nhă khi đọc lại những lời thú nhận sống sượng
của tướng Trần Văn Đôn, đầu năo trong chánh biến 1.11.1963 và
tác giả của quyển hồi kư “VN Nhân Chứng” (nxb Xuân Thu,
Californie, 1989) về vai tṛ Hoa kỳ chỉ huy vụ lật đổ và sát hại
một lănh tụ đồng minh. Đôn viết:
“Đúng 1 giờ 30 trưa, (trùm Xịa) Conein vào bộ Tổng Tham mưu,
(nơi đặt văn pḥng của Đôn) mang
theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Toà Đại sứ Mỹ
và một bao tiền là ba triệu bạc VN” (trang 211). Đôn c̣n
tuyên bố khi y thậm thọt gặp riêng Thái thú Cabot Lodge để thỉnh
thị: “Chúng tôi (nhóm đảo chính)
không bao giờ có tham vọng cá nhân, chỉ muốn cứu nước!” (trang
210).
Ông Đức tỏ ra ngán ngẩm khi được hỏi nghĩ ǵ về sự tự thú trên
đây. Theo ông, trong những ngày chót của một cuộc đời đấu tranh
gian khổ, TT Diệm là con người cô đơn nhứt trên thế gian:
dân tộc bỏ rơi, đồng minh phản bội, gia đ́nh chia
cách, kẻ thù cộng sản reo ḥ chiến thắng, sự nghiệp chính trị ra
tro, uất hận ngất trời v́ tương lai mù mịt của Đất nước, một
quốc gia bị sức mạnh chèn ép.
Với
ông Nhu quỳ bên cạnh cầu nguyện trong Nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn
sáng ngày
1.11.1963.
không chắc TT Diệm đồng một tâm tư với người em.
Ông Đức bùi ngùi nhắc lại: Tối 1.11.1963, khi tiếng súng nổ rền
khắp nơi, ông và gia đ́nh rời khỏi nhà riêng ở số 8 đường Lê Văn
Thạnh, Sàig̣n, ngủ đêm tại Chợ Lớn, không xa căn phố lầu của Mă
Tuyên, nơi Tổng thống và ông Nhu tạm ngụ. Sáng hôm sau 2 tháng
11, trở lại nhà th́ được hay Tổng thống có điện thoại tối hôm
trước nhưng người giữ nhà trả lời không biết ông Đức ở đâu. Vài
giờ sau, ra-dô báo tin hai ông Diệm, Nhu “tự tử”, điều mà Đức
không tin chút nào. Đến nay, ông Đức vẫn ân hận v́ không được
tiếp xúc lần chót với Tổng thống.
Hỏi: Trong Nội các, ai được Tổng thống Diệm tin cậy nhứt những
ngày, tháng cuối cùng?
Quách Ṭng Đức đáp: Nguyễn Đ́nh
Thuần và Trương Công Cừu.
Thuần kiêm ba trọng trách: Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống, Bộ
trưởng phụ tá Quốc pḥng, và Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp An
ninh. Cừu là Bộ trưởng Đặc nhiệm Phối hợp Văn hoá Xă hội. Ngoài
ra, c̣n có Ngô Trọng Hiếu, Bộ trưởng Công dân vụ, từng là đại sứ
VNCH ở Nam Vang, bị Chánh phủ Cam bốt trục xuất v́ giúp cho
tướng Đap Chuon đảo chánh (hụt) Quốc vương Sihanouk. Tên ông
Hiếu nằm trong bản danh sách của Cabot Lodge ghi các nhân vật
cần thanh toán, theo hồi kư nêu trên của trung tá Nguyễn Văn
Châu.
Ông Đức không ngạc nhiên cho lắm khi được người viết cho biết
một số tài liệu giải mật tại Hoa kỳ tiết lộ Thuần là tay trong
thân tín của CIA, theo dơi để phúc tŕnh từng phản ứng của hai
anh em Diệm-Nhu. Thuần từng được Mỹ chấm như một “Thủ tướng có
triển vọng” nếu TT Diệm chịu sửa Hiến pháp để đặt thêm chức vụ
này (đọc The Storm has many eyes, A personal narrative của Henri
Cabot Lodge, NY 1973, trang 62 và Lodge in Vietnam, A Patriot
abroad của Ann Blair, nxb Yale University Press, New Haven 1995,
trang 92). Một số nhân vật rất gần Dinh Độc lập cho biết Thuần
dùng đủ mưu chước để thu hút cảm t́nh của TT Diệm và từ đó, t́m
cách ly gián ông Diệm và ông Nhu trong giai đoạn chót của chế độ.
Ông Quách Ṭng Đức ngạc nhiên khi hay chính Đệ nhị Pḥng Pháp đă
giúp Thuần trốn khỏi VN. Cố Ứng Thi, chủ của Khách sạn Rex và
bạn thân của Thuần, xác nhận với người viết điểm vừa nói. Thuần
hiện sống thong dong tại Paris.
Tác giả bài này thắc mắc: không lẽ một ngưởi tinh vi như ông Nhu
mà không nhận ra mặt trái của Nguyễn Đ́nh Thuần? Ông Đức trả lời:
Có thể ông Nhu không mù quáng nhưng ở vào thế kẹt lúc đó, không
c̣n ai liên lạc để ḍ xét âm mưu đen tối của Hoa kỳ, ông Nhu
phải “tương kế, tựu kế.” xử dụng Thuần. Ông Nhu cũng đă áp dụng
chiến thuật này (kế hoạch chống đảo chánh Bravo) để t́m cách chi
phối nhóm tướng bị Mỹ mua chuộc.
Ông Đức cho biết thêm: Linh mục Cao
Văn Luận cũng là một cố vấn thân tín của Tổng thống được
giao phó ra nước ngoài xin tài trợ về giáo dục, t́m kiếm trí
thức Việt đưa về nước và tổ chức Viện Đại học Huế mà ông là Viện
trưởng đầu tiên. Trong giai đoạn khủng hoảng Phật giáo, dư luận
cho rằng cha Luận đă trở mặt, ngă theo phe chống chánh quyền.
Chẳng những thế, ông c̣n viết hồi kư “Trong gịng lịch sử “ để
nói xấu TT Diệm và đề cao Hồ Chí Minh. T́nh đời rỏ đen bạc!
Ông Quách Ṭng Đức quả quyết không bao giờ gặp Vũ Ngọc Nhạ (mà
CS tuyên bố phịa trong quyển sách và bộ phim giả tưởng Ông Cố
Vấn gài được vào Dinh Độc Lập!) Trả lời về các cán bộ gốc Cộng
sản cộng tác với chế độ, ông Đức cho biết Kiều Công Cung –
nguyên tư lệnh một sư đoàn Việt cộng – đă tỏ ra xứng đáng đến
cùng trong chức vụ Đặc ủy chiêu hồi. Phạm Ngọc Thảo – mà Tổng
Nha Công an có hồ sơ – được bổ nhiệm đại úy Bảo An, sau đó Tỉnh
trưởng Kiến Hoà và thanh tra dinh điển. Hai chuyên viên Mỹ về
Giáo dục và Dinh điền thường lui tới Dinh và ăn sáng với Tổng
thống là giáo sư Wesley Fishel thuộc Đại học Michigan và
Ladejinsky mà Tổng thống quen từ lúc bôn ba ở Hoa kỳ. Về sau,
được hay hai chuyên viên này làm việc cho CIA. Đặc biệt, Fishel
đă ra mặt chống phá ông Diệm tại Hoa Thịnh Đốn trước ngày đảo
chánh.
Trần Văn Đôn ghi nơi trang 182 của hồi kư “Việt Nam Nhân Chứng”:
Trong một buổi học tập chính trị tại bộ Tổng Tham Mưu trước
chính biến 1.11.1963, ông Nhu nóí, sau khi nghe các tướng lănh
tŕnh bày thỉnh nguyện : “Mấy anh
muốn cải tổ chánh phủ mà xin như vậy đâu có nhiều. Muốn làm cách
mạng thật sự, tôi tưởng các anh phải xin nhiều hơn. Ông Diệm bị
kẹt với một số Bộ trưởng thối nát bất tài. Trong lúc này Quân
đội phải nhận rỏ vai tṛ của ḿnh để cứu nước, nên đảo chánh một
đêm bắt mấy ông Bộ trưởng đó rồi hôm sau trao quyền lănh đạo lại
cho Tổng thống. Nếu có vị tướng nào muốn đảo chánh th́ quân đội
phải chống lại, phải bắt người đó mà treo cổ trên đường Công Lư.”
Đâu là sự thật? Nếu đúng, th́ đây có phải là ván bài tố xả láng
của ông Nhu để ḍ xét và sập bẩy nhóm tướng tạo phản? Hay một
nh́n nhận chua chát chế độ đang tuột dốc thê thảm, đưa dân tộc
vào một trận đại hồng thủy? Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm có thể đă
phạm một số sai lầm nguy hại khi cầm quyền – điều này sẽ được sử
sách phê phán công và tội – nhưng không một ai – từ đồng minh
Hoa kỳ cho đến Hồ Chí Minh – chối căi rằng ông là một lănh tụ
yêu nước, trong sạch, có khí phách và không làm dân tộc VN hổ
thẹn v́ ông đă cố bảo vệ đến cùng thể diện và quyền uy quốc gia.
Không một gia đ́nh Việt Nam nào mà lại hy sinh nặng như thế cho
Đất nước, mất một lần bốn người con ưu tú, một v́ tay Cộng sản
và ba v́ tay quốc gia. Ông Diệm ra đi, Hồ Chí Minh không c̣n đối
thủ, Mỹ rảnh tay Việt nam hoá chiến tranh, Miền Nam sụp đổ mau
lẹ.
Hay tin TT Diệm bị sát hại, Mao Trạch Đông phản ứng bằng nhận
xét: “ Chính quyền Kennedy hạ ông
Ngô Đ́nh Diệm là một thất sách, một sai lầm rỏ rệt!”
Và Hồ Chí Minh tuyên bố: “Ông Diệm
là một nhà yêu nước, theo lối của ông ấy!”
Trong hồi kư The Real War, chương V, Richard Nixon viết: Tổng
thống Pakistan Ayub Khan nóí với tác giả vài ngày sau vụ đảo
chánh 1.11.1963: “Việc Tổng thống
Diệm bị giết có ba ư nghĩa đối với nhiều người Á Đông: trở thành
bạn Hoa kỳ là một nguy hiểm, trung lập có giá hơn và đôi khi tốt
hơn là kẻ thù.”
Riêng về De Gaulle th́ ông nhận định:
‘Sau Diệm, không phải là một khoảng
trống mà là một sự quá đầy!” De Gaulle muốn nói: Miền Nam
lạm phát lănh tụ, trở thành một giỏ cua và một hí trường tranh
dành địa vị.
Đối với thế hệ lănh đạo mai sau, sự thất bại của TT Diệm – mà
đồng minh Hoa kỳ lẫn kẻ thù Cộng sản đều xem như một mối đe doạ
cần triệt hạ - là một bài học quư báu về kinh nghiệm chống Đế
quốc, về Nhân t́nh thế thái và thân phận của một nước nhược tiểu.
Học giả Úc Denis Warner đă tặng cho ông biệt danh xứng đáng
“The Last Confucian, Người hiền
triết Khổng giáo cuối cùng”. TT Diệm là một thầy tu lạc lơng
giữa chính trường gió tanh mưa máu.
Sau tháng 4.1975, hai ngôi mộ của TT Diệm và Cố vấn Nhu được cải
táng từ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, Saigon, về quận Lái thiêu,
tỉnh B́nh Dương. Mộ bia của TT Diệm có khắc chữ Huynh. Mộ bia
của Cố vấn Nhu khắc chữ Đệ. Hai nắm mồ khiêm nhường và quạnh hiu,
kết thúc một cuộc đời đấu tranh khắc nghiệt, đầy oan trái nhưng
chắc chắn không phải là một hy sinh vô bổ trên bàn thờ Tổ Quốc.
Kết
luận
Ông
bạn Quách Ṭng Đức chấm dứt buổi nói chuyện thân t́nh bằng một lời
than chua xót: Dĩ văng buồn nhiều hơn vui, phá hoại nhiều hơn xây
dựng, hận thù thay v́ đoàn kết. Đến nay, Đất nước chưa thấy lối
thoát, những bài toán của Xứ sở chưa t́m ra đáp số. Ngày nào Cộng
sản vẫn bám víu vào quyền lực th́ quốc nhục chậm tiến c̣n kéo dài.
Thế cuộc xoay vần. Lư thuyết chánh trị, chế độ, lănh tụ rồi cũng
phải trở về với cát bụi. Vanitas vanitatum, omnia vanitas, Hư danh,
tất cả đều là hư danh! Cuối cùng chỉ c̣n lại Dân tộc, Dân tộc trường
tồn, Dân tộc bất diệt.
Lưu đày, dù trên mănh đất dân chủ, chưa phải là Tự do. Người Việt
tha hương, vào tuổi gần đất xa trời, vừa đau buồn hướng về Đất Mẹ,
vừa thao thức tự vấn như Thôi Hiệu trong bài thơ Đường Hoàng Hạc Lâu
:
Chiều xuống, Quê nhà đâu đó tá?
Bên sông khói toả, năo ḷng ai.
(Chi Điền dịch)
LÂM LỄ TRINH
Ngày 4.7..2005, Quốc khánh Hoa kỳ
Thuỷ Hoa Trang
Californie
================================================
Sau đây là
những ư kiến, nhận xét và tranh luận về các chi tiết của bài viết
CHÍN NĂM BÊN CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
================================================
--- On
Sun, 5/17/09, lechannhan@yahoo.com
<lechannhan@yahoo.com> wrote:
From: lechannhan@yahoo.com <lechannhan@yahoo.com>
Subject: [VN-Express]
Chín Năm Bên Cạnh Tổng-Thống Ngô-Đ́nh-Diệm
To:
lechannhan@yahoo.com
Date:
Sunday, May 17, 2009, 5:17 PM
Để góp ư về bài
Chín Năm Bên Cạnh Tổng-Thống Ngô-Đ́nh-Diệm
Friday, May 8, 2009
7:30 AM
From: "ngoc bui"
ngocbuibktd@ yahoo.com
(xem
dưới cùng)
Xin đăng lại bài viết của Lê Xuân Nhuận
đă phổ-biến từ tháng 7 năm 2005
ÔNG
LÂM LỄ TRINH
VÀ
ÔNG QUÁCH T̉NG ĐỨC
Ông Lâm
Lễ Trinh vừa phổ biến một bài viết như sau:
“CHÍN NĂM
BÊN CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
Mạn đàm
với cựu Đổng lư QUÁCH T̉NG ĐỨC
Lâm Lễ Trinh
Tuy là
bạn tâm giao
với người viết từ lâu, ông Quách Ṭng Đức luôn luôn tỏ ra
dè dặt và thận
trọng khi nhắc đến những năm dài làm Đổng lư Văn pḥng
cho Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm,
Vân vân... (xem dưới) [Tức là trên đây"]
LÂM LỄ TRINH
Ngày Quốc khánh Hoa kỳ 2005
Thuỷ Hoa Trang
Californie »
V́ bài viết ấy có đề
cập một số vấn đề lịch sử mà ông Lâm Lễ Trinh viết (hoặc đồng ư và
ghi lại, nhưng) viết không rơ, thậm
chí không đúng, nên tôi xin nêu một
số thiển ư sau đây để rộng đường dư luận:
1) Ông Ngô
Đ́nh Diệm về nước ngày nào ?
Ông Lâm Lễ Trinh
viết:
“Hiệp
định Genève, kư ngày
20.7.1954, chia đôi VN nơi vĩ
tuyến 17. Trong đám đông quần chúng
đón tiếp nồng nhiệt Thủ tướng Diệm tại phi
trường Tân Sơn Nhứt có ông Nguyễn Ngọc Thơ, ... cùng đi
với ông Quách
Ṭng Đức. Thủ tướng Diệm - kiêm luôn Quốc pḥng và Nội
Vụ - mời ông Thơ tham gia Nội các với tư cách
Bộ trưởng
Nội vụ. Ông Thơ chọn ông Đức làm Đổng lư Văn pḥng năm 1954.”
Ư-Kiến:
Đọc đoạn văn trên, tôi hiểu là hai ông Nguyễn Ngọc Thơ và Quách
Ṭng Đức là hai nhân-vật đă ra phi-trường Tân Sơn Nhật “đón tiếp
nồng-nhiệt” thủ-tướng Diệm lúc ông Diệm về nước, và về nước sau khi
Hiệp Định Genève đă được kư vào ngày 20.7.1954; và v́ hai ông Thơ và
Đức nồng-nhiệt với thủ-tướng Diệm như thế nên ông Thơ được mời làm
Bộ-Trưởng Nội-Vụ và ông này chọn ông Đức làm Đổng-Lư Văn-Pḥng.
Nhưng sự thật
th́ ông Diệm đă về
nước từ ngày (xem
bài “ông Ngô Đ́nh Diệm về nước ngày nào?”của Lê Xuân Nhuận, trích
dẫn nhiều tác-giả viết khác nhau: ngày 21, 25, 26)
tháng 6 năm 1954,
thành-lập chính-phủ từ ngày
6.7..1954,
và làm lễ ra mắt nội-các vào ngày
7.7.1954
(được gọi là “Ngày Song-Thất”), tức là
13 ngày trước ngày ra đời
của Hiệp Định Geneva 20.7.1954;
và nội-các gồm có 7 tổng-trưởng, và một số bộ-trưởng (trong đó ông
Thơ là một), mà
bộ-trưởng th́ là thấp hơn tổng-trưởng
(xem chú thích
1)..
Như thế, th́:
(a) Mệnh đề “Hiệp Định
Gevève...” là thừa, hoặc được đặt không đúng vị-trí và tŕnh-tự
thời-gian trong đoạn văn tóm-tắt lịch-sử ấy;
(b) Vỉệc hai ông Thơ và
Đức tham-gia nội-các không phải là “được thưởng” về sự “đón tiếp
nồng-nhiệt” kể trên, nên nhóm từ “đón tiếp nồng nhiệt thủ tướng Diệm...”
cũng là thừa. Nếu muốn nói là ông Thơ và ông Đức được thủ-tướng
Diệm tín-nhiệm th́ nên nêu ra những lư do khác, hơn là chỉ nhờ vào
sự “đón tiếp nồng nhiệt” v́ cũng chẳng hơn ǵ “đám đông quần chúng”
(?) mà thôi (xem chú thích
4).
2) Thủ-tướng Ngô Đ́nh
Diệm lên làm Tổng-Thống vào ngày nào ?
Ông Lâm Lễ Trinh viết:
“Ngày
23.10.1955, một cuộc trưng cầu dân ư truất phế Bảo Đại. Ngày
26.10.1956, từ
Thủ tướng trở thành Tổng thống,
ông Diệm thiết lập nền Đệ nhứt Cọng hoà VN. Quân đội tổ
chức một cuộc diễn binh huy hoàng tại đại lộ Trần Hưng Đạo Sàig̣n
dưới quyền điều khiển của
Dương Văn Minh, vừa vinh thăng
Thiếu tướng sau khi
tảo thanh xong B́nh Xuyên taị Rừng Sát.”
Ư-Kiến:
Thủ-tướng Ngô
Đ́nh Diệm truất-phế Bảo Đại qua cuộc “trưng-cầu dân-ư” (xem chú
thích
3)
vào ngày 23.10.1955, xong tuyên-bố Hiến-Ước tạm-thời vào ngày
26.10.1955,
và theo Hiến Ước ấy th́ “Việt-Nam là một nước Cộng-Ḥa, Quốc-Trưởng
lấy danh-hiệu là Tổng-Thống VNCH” cho nên
Thủ Tướng Diệm trở thành
Tổng Thống ngay
vào ngày 26.10.1955
(chứ không phải đợi
đến ngày 26.10.1956)
(xem chú thích
2).
3) Tổng Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục được Giáo Hoàng phục hồi chức tước ǵ?
Ông Lâm Lễ Trinh
viết:
“Về tin
đồn Đức cha Thục làm kinh tài (khai
thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail..v..
v..), ông Đức cho rằng
TT Diệm tin TGM Thục không làm điều ǵ quấy, ngài
phải kiếm tiền
nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập. Trải qua một cuộc
đời sóng gió và gặp nhiều hiểu lầm với Toà thánh Vatican sau 1975,
TGM Ngô Đ́nh
Thục được Giáo hoàng
phục hồi chức tước về hưu ở Hoa
kỳ và đă ra đi b́nh yên tại một Viện dưỡng lăo công giáo thuộc tiểu
bang Missouri.”
Ư-Kiến:
“Phục hồi” là (cho) trở lại “y như” t́nh-trạng cũ. “Chức tước” cũ
của giáo-phẩm Peter Martin Ngô Đ́nh Thục, trong thời cực-thịnh của
tổng-thống Ngô Đ́nh Diệm, là Tổng Giám Mục,
Địa Phận Huế.
Tgm Thục qua La Mă dự Công Đồng Vatican II, và sau cuộc “Cách Mạng
1-11-1963” th́ không được phép về lại Việt Nam, v́ đă dính líu bất
chính vào chế độ độc tài Ngô Đ́nh Diệm, nên sống lưu vong. Cuối
thập niên 1960 và trong thập niên 1970, Tgm Thục ngả theo giáo phái
Palmar de Troya ở Tây Ban Nha, phong chức giám mục trái phép cho một
số người, trong đó có Dominguez Gomez (là kẻ sau đó tự xưng đă được
thần bí phong chức Giáo Hoàng, của Giáo Hội mới, là Ky Tô Giáo
Palmar, nghịch với Ky Tô Giáo La-Mă) nên
bị Giáo Hoàng Paul VI dứt phép thông công. Sau khi Giáo Hoàng Paul
VI qua đời, Tgm Thục qua Pháp, ngồi nghe xưng tội tại một nhà thờ ở
Toulon, nhưng tiếp tục phong chức giám mục cho nhiều người, và vào
tháng 2 năm 1982 th́ ra tuyên cáo cho rằng ngôi vị Giáo Hoàng đang
bị bỏ trống và đ̣i bầu cử Giáo Hoàng. Sau đó Tgm Thục được Giám mục
Louis Vezelis, thuộc Ḍng Franciscan ở New York, Hoa Kỳ, mời qua và
ngụ tại đó. Về sau, theo nhóm Vezelis th́ Tgm Thục bị một số tu sĩ
Việt Nam bắt cóc đưa từ New York đến Missouri, giam riêng, cắt đứt
liên lạc với bạn bè. Tgm Thục qua đời ngày 13-12-1984 ở Mỹ, trong
cảnh lưu vong và trong t́nh trạng mập mờ. Như thế,
khó mà khẳng định là Tgm Thục đă
được hoàn toàn “phục hồi (cả) chức (lẫn)
tước” (theo
Wikipedia, the free encyclopedia) .
4) Ai là “cha đẻ” của
“quốc sách” Ấp Chiến Lược?
Ông Lâm Lễ Trinh viết:
“Ông (Ngô
Đ́nh Nhu) phát
động phong trào ấp chiến lược từng gây thiệt hại cho CS
Bắc Việt.. Quốc sách Ấp Chiến Lược là do nghị định số 11-TTP và ông
Nhu giữ vai tṛ Chủ tịch Ủy Ban Liên Bộ Ấp Chiến Lược..”
Ư-Kiến:
Kế hoạch Ấp Chiến Lược thoát thai từ sáng kiến của Sir Robert
Thompson, người Anh. Lúc làm Tổng Giám Đốc An-Ninh tại Mă Lai, ông
đă loại trừ được Đảng cộng sản “Mau Mau” tại nước này. Đại tá CIA
Edward G. Lansdale của Mỹ noi theo kế hoạch ấy để trừ tiệt được Đảng
cộng sản “Huks” tại Phi Luật Tân. Sir Robert Thompson được mời làm
Phụ Tá cho nhiều đời Tổng Thống Mỹ để đặc trách chống du kích chiến
tại các nước Á Đông.
Hoa Kỳ biệt phái Lansdale qua cố vấn cho Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm (ngay
khi về làm Thủ Tướng) để cải thiện t́nh h́nh và củng cố địa vị cho
họ Ngô, và rồi áp dụng “quốc sách” Ấp Chiến Lược tại Việt Nam Cộng
Ḥa. V́ Tổng Thống quá bận, cũng như v́ tầm quan trọng của nó, nên
ông giao cho bào huynh là Ngô Đ́nh Nhu đại diện để thực thi một
chính sách của Mỹ, làm việc chung với Lansdale.
Tóm lại, ông Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, được Lansdale cố vấn, chỉ thừa kế
phương sách chống Cộng của Anh và Mỹ tại Mă Lai và Phi Luật Tân, chứ
không phải là “cha đẻ” của quốc sách Ấp
Chiến Lược, như một số người đă gọi.
5) Chức vụ của ông Dương
Văn Hiếu là ǵ?
Ông Lâm Lễ Trinh
viết:
“ Trong
quyển hồi kư “Ḍng họ Ngô Đ́nh”, xuất bản năm 2003 taị Californie,
tác giả Nguyễn Văn Minh, nguyên bí thơ (1956-1963) của cố Ngô Đ́nh
Cẩn, ghi nơi trang 164-165: Lối 10 hôm sau vụ nổ lựu đạn giết 7 em
bé và một số Phật tử tại đài phát thanh Huế nhân ngày lễ Phật Đản
1963, Dương Văn Hiếu,
trưởng đoàn công tác đặc biệt Miền Trung,
vào Dinh để phúc tŕnh với TT Diệm.”
Ư-Kiến:
“Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung” (có thêm 2 chữ Miền Trung) là
của ông Cố vấn Ngô Đ́nh Cẩn ở Miền Trung, do ông Dương Văn Hiếu chỉ
huy, vào những năm đầu của Đệ Nhất Cộng Ḥa. Từ năm
1960 trở di, ông Hiếu được đưa lên
làm Trưởng Khối Cảnh Sát Đặc Biệt tại Tổng
Nha Cảnh Sát Công An (toàn quốc) ở Sài-G̣n. Tại đây, Tổng
Nha CSCA phối hợp với Phủ Đặc Ủy T́nh Báo Trung Ương thành lập một
tổ chức chung, hoạt động bí mật, mang tên là “Đoàn Công Tác Đặc
Biệt” (không có 2 chữ Miền Trung).
Do đó, khi vụ “Đài Phát Thanh Huế” xảy ra, năm 1963, ông
Hiếu không c̣n là Trưởng “Đoàn Công Tác Đặc
Biệt Miền Trung”, và cũng không phải là Trưởng “Đoàn Công Tác Đặc
Biệt” (v́ Đoàn này là tổ chức bí mật, và ở cấp thấp hơn cấp Khối của
Tổng Nha). Vậy, khi ông Dương Văn Hiếu vào phúc tŕnh với
Tổng Thống Diệm, là với chức vụ và tư cách Trưởng Khối Cảnh Sát Đặc
Biệt, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Công An, cao nhất về ngành an
ninh và phản gián, của toàn quốc, chứ không phải (v́ không c̣n) là
“Trưởng Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung” (ở cấp thấp hơn, và chỉ ở
một địa phương).
6) Ông Quách Ṭng Đức
phục vụ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm như thế nào?
Ông Lâm Lễ Trinh
viết:
“Ông Đức
c̣n nhớ rất rành mạch rằng, sau thảm kịch tại Đài Phát thanh Huế
chiều ngày 8.5.1963, Tổng thống có đ̣i ông vào Văn pḥng để đưa cho
ông xem, với một gương mặt “mệt nhọc,
buồn rầu và chán năn”, công điện
ngày 6.5.1963 nói trên và hỏi “một
cách sơ sài” ai đă gởi đi chỉ thị ấy. Ông Đức trả lời không
biết v́ trong sổ công văn gởi đi không có dấu vết của tài liệu vưà
kể. Theo ông QTĐ, trong hoàn cảnh chánh trị dồn dập sôi động lúc đó
(Thích Quảng
Đức tự thiêu, Quách Thị Trang bị bắn chết tại chợ Bến Thành, lựu đạn
nổ ở Huế, tướng lănh lập kiến nghị đ̣i cải tổ, việc kiểm soát
chùa..v..v..) , TT Diệm
rối trí, không
c̣n màng đến việc ra lệnh điều tra. Ông có lẽ dư biết
việc giả tạo công điện 9159 là một đ̣n phép mới của phe chống Chánh
phủ (là Phật giáo Ấn quang? T́nh báo Hoa kỳ? Đảng phái đối lập? hay
Cộng sản?). Vậy việc ông Đức xin từ chức là một điều thất thiệt.
Nghi “t́nh báo Mỹ tổ chức” ông Đức
– như tướng Đính ởm ờ xuyên tạc – là một chuyện tưởng tượng rẻ tiền."
Ư-Kiến:
Công điện số 9159 ngày 6.5.1963 được ghi là
xuất phát từ văn pḥng Phủ Tổng Thống, tức từ
bàn giấy của Đổng Lư Văn Pḥng Quách Ṭng
Đức; và công điện ấy đă gây nên biết bao phản ứng và hậu quả
vô củng bất lợi, trong cũng như ngoài nước, cả một chuỗi biến cố lớn
lao dồn dập đưa đến cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và nển Đệ
Nhất Cộng Ḥa. Thế mà ông Quách Ṭng Đức vẫn cứ b́nh chân như vại:
Tổng Thống “không màng đến việc ra lệnh
điều tra” th́ thôi, chứ ḿnh không chịu lên tiếng cải chính, ít nhất
th́ cũng thanh minh hay “tâm sự” ǵ với ông Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu ở
sát cạnh ḿnh – một việc có thể thay đổi t́nh h́nh.
Tôi thấy có 2 vấn đề: Một, là Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm quá ư chuyên quyền,
hễ ông mà không ra lệnh điều tra th́ không một ai dám tự điều tra,
dù là để t́m thủ phạm ngụy tạo công điện nói trên, để cứu chế độ của
ḿnh; nếu thế th́ ông lâm nguy là đáng quá
rồi . Hai, là ông Quách Ṭng Đức
quá “vô tích sự” nếu không muốn nói là vô lương tâm: ở nước
người ta, chỉ một phi cơ nào đó lâm nạn cũng đủ để cho Bộ Trưởng
Giao Thông toàn quốc từ chức v́ tự ư thức trách nhiệm trên lương tâm
ḿnh.
7) Tuần báo nào của Mỹ
đăng bài về vụ trái bom nổ chậm tại Đài Phát Thanh Huế?
Ông Lâm Lễ Trinh
viết:
“Trong
hồi kư “Ngô Đ́nh Diệm, Nổ lực hoà b́nh
dang dở”, (nxb Xuân Thu Californie 1989), nơi trang 189-190,
Nguyễn Văn Châu, nguyên giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lư Quân đội
VNCH, trở thành
đối lập với Chánh phủ trước cuộc binh biến
1.11.1963, có ghi lại: Sau 1975, một cựu đại uư Hoa kỳ
tên James Scott, liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn
1/3 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thơ
đăng trên một
tuần báo Mỹ rằng chính y đă gài một trái bom nổ chậm
chiều 8.5.1963 taị Huế. Sự kiện này cũng được Trần Kim Tuyến, dưới
bút hiệu Lương khải
Minh, ghi lại trong hồi kư Làm thế
nào giết một Tổng thống? (tập 2, trang 366-370).
Ư-Kiến:
Phát giác “động trời” thế này mà không được ai chú ư đúng mức. Tại
sao không t́m cho ra “cựu đại úy Mỹ James Scott” có phải là nhân vật
“thực” hay chỉ là một cái tên bịa, cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 vào thời
gian nào, nhất là “lá thơ đăng trên một tuần báo Mỹ” là tuần báo
loại nào, tên ǵ, ở địa phương nào, và ra ngày nào, v.v..., nhất là
nguyên văn bài báo liên quan. Làm sao biết trước là sẽ có cuộc biểu
t́nh tại Đài Phát Thanh Huế, và vào giờ nào, phút nào, th́ có những
ai ở đó, đề gài (định giờ) sẵn cho bom sẽ phát nổ? (xem chú thích
5).
8)
Ai là lănh tụ “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”?
Ông Lâm
Lễ Trinh viết:
“Nguyễn
Khánh, kịch sĩ từng đả đảo Hiến chương Vũng Tàu do chính ông cho
thảo ra. Một đ̣n khác của tướng Khánh: móc nối với
Huỳnh Tấn Phát,
lănh tụ (?)
Mặt trận Giải phóng Miền Nam,
với chủ đích – theo lời tuyên bố của Khánh – kéo Phát về phiá Quốc
gia.”
Ư-Kiến:
Dù người
dân thường cũng biết là Nguyễn Hữu Thọ (chứ không phải Huỳnh Tấn
Phát) là “lănh tụ” của cái “Mặt Trận” này (xem chú thích
6).
10) Hai ông Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh
Nhu bị giết vào ngày nào?
Ông Lâm
Lễ Trinh viết:
“Ông Đức
tỏ ra ngán ngẩm khi được hỏi nghĩ ǵ về sự tự thú trên đây. Theo ông,
trong những ngày chót của một cuộc đời đấu tranh gian khổ, TT Diệm
là con người cô đơn nhứt trên thế gian:
dân tộc bỏ rơi,
đồng minh phản bội, gia đ́nh chia cách,
kẻ thù cộng sản reo ḥ chiến thắng, sự
nghiệp chính trị ra tro, uất hận ngất trời v́ tương lai mù mịt
của Đất nước, một quốc gia bị sức mạnh chèn ép. Với ông Nhu
quỳ bên cạnh cầu nguyện trong Nhà thờ
Cha Tam Chợ Lớn
sáng ngày 1.11.1963 không chắc
TT Diệm đồng một tâm tư với người em.”
Ư-Kiến:
Hai ông Diệm và Nhu cầu
nguyện trong Nhà Thờ Cha Tam ở Chợ Lớn vào
sáng ngày 2.11.1963
chứ không phải sáng ngày
1.11.1963.
Trong một bài khác, nhan
đề "Khí Tiết và Lănh Đạo", ông Lâm Lễ Trinh cũng viết sai ngày như
thế.
LÊ XUÂN NHUẬN
CHÚ THÍCH:
(1)
Đoàn Thêm, “Hai Mươi Năm Qua”, Xuân Thu, Saigon, 1965, trang 148-50.
trở lên
(2)
Đoàn Thêm, sđd, trang 184.
trở lên
(3)
Nguyễn Đ́nh Tuyến, “Những Biến Cố Lớn trong 30 Năm Chiến Tranh tại
Việt Nam 1945-1975”, Đại Học Đông Nam, Houston, TX, USA, 1995, trang
39: “Cuộc Trưng Cầu Dân Ư này là màn đạo diễn của Đại-tá Landsdale
đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc ủng hộ Thủ Tướng Diệm. Ở
nhiều nơi trong thành-phố Saigon, số phiếu bầu cử cho ông Diệm bằng
130% con số cử tri (v́ binh sĩ của Lữ Đoàn Pḥng Vệ Phủ Thủ Tướng và
Đoàn Viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia của ông Diệm đă được phép
bầu đi bầu lại nhiều lần).”
trở lên
(4)
a/ Nguyễn Đ́nh Tuyến, sđd, trang 25: “Có khoảng 500 đồng bào công
giáo chào đón ông ở Phi Trường Tân Sơn Nhất.”
b/
Văn Bia, “Những Ngày Chung Sống với Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm”, Lê Hồng,
Methuen, MA, USA, 2001, trang 273-76: “Báo chí phản ảnh trung thực
dư luận quần chúng. Không một tờ báo nào hoan hô ngày Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm được bổ nhiệm... Cả Saigon chỉ huy động được có một nhúm
nhỏ xíu công chức đi lên phi trường Tân Sơn Nhứt tiếp đón Thủ Tướng
Ngô Đ́nh Diệm. Dân th́ chỉ có nhóm thân hữu trong Ban Đón Tiếp.
Lần đầu lưa thưa đi rước hụt đă là một thí nghiệm cho thấy sự hưởng
ứng bi đát... Báo chí và dân chúng rất thờ ơ với việc Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm về nước chấp chánh... Ông Phan Xứng lo viết kiến nghị của
dân thiểu số vùng Đạt-Lắc mà đâu thấy có bóng dáng người Thượng nào.
Ông Trần Quốc Bửu không huy động được đoàn viên các nghiệp đoàn,
tưởng đâu rất to tát của ông. Cũng không thấy có nhóm Công Giáo nào
do cha (Nguyễn Quang) Toán mang tới ... báo giới không hậu thuẫn
cho ông Diệm... Về nước gần như trong lặng lẽ...”
trở lên
(5)
a/ Tuệ Chương, “Viết Về Huế”, Worcester, Massachusetts, USA (theo
Hồ Công Tâm, 25-5-2003):
”...
Khi trên đài lục cục khiêng bàn ra xong, Thượng Tọa Trí Quang và ông
Tỉnh Trưởng đă đứng trên đó, chưa kịp nói ǵ, th́ ngay trước mặt tôi,
người chỉ huy đứng trên chiếc xe có tên Ngô Đ́nh Khôi, đứng thẳng
lên, (người và xe đều hướng về phía đài phát thanh) rút súng nhỏ bắn
lên trời ba phát\. Tôi thấy lửa từ ṇng súng tóe ra rất rơ ràng\.
Tiếp theo đó là một tiếng nổ lớn phát ra từ phía đài phát thanh\.
Xin nhớ là ba phát súng lệnh nổ trước, lựu đạn nổ sau\. Ông Tỉnh
Trưởng và Thượng Tọa Trí Quang đang đứng trên bàn cao, liền nhảy
xuống...”
b/ Truyền thông ngoại quốc:
A la suite d'incidents
sanglants à Huế
LES BOUDHISTES DU VIETNAM DU
SUD ENTRENT EN CONFLIT AVEC LE GOUVERNEMENT "CATHOLIQUE" DE DIỆM
Saigon . 15 Mai (A.F.P.) .-
Une vive tension religieuse règne actuellement au Vietnam du Sud.
Elle est due à la discrimination dont les Boudhistes s’estiment
victime, et qui a trouvé son expression récemment dans de sanglants
evènement à Huế.
Selon la version officielle
de ces évènements, c'est le lancement d'une grenade par un terrorite
qui a provoqué dans la soirée du 8 Mai, la mort de sept personnes
parmi la foule qui manifestait en ce jour anniversaire de la
naissance du Bouddha, devant les bâtiments de la radio.
Trích dịch báo "LE MONDE" ngày
16-5-63.
SAU NHỮNG
VỤ LÔI THÔI ĐẪM MÁU Ở HUẾ, PHẬT TỬ MIỀN NAM VIỆT NAM TRANH CHẤP VỚI
CHÍNH PHỦ "Thiên Chúa Giáo" của ÔNG DIỆM
Saigon.
15.5 A.F.P. (Thông tấn xă Pháp). Hiện tại ở miền Nam Việt Nam đang
có một sự căng thẳng mănh liệt về tôn giáo đă xuất phát v́ một sự
phân biệt mà các Phật tử xem ḿnh là nạn nhân và đă biểu lộ mới đây
trong những biến cố đẫm máu ở Huế. Theo luận điệu chính quyền th́
đêm 8.5 dương lịch, một kẻ khủng bố đă tung ra một quả lựu đạn làm
chết bảy người trong đám biểu t́nh trước trụ sở đài phát thanh trong
ngày lễ Phật đản.
trở lên
(6)
a/ Nguyễn Đ́nh Tuyến, sđd,
trang 52: “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là hậu thân của Việt
Minh... Mặt Trận này đề cử Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch, Nguyễn Thị
B́nh làm Ngoại Trưởng..”
b/
Văn Bia, sđd, trang 91-92: “Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn Hữu Thọ đă từng
sống chung dưới một mái nhà... Pháp có dành cho ông (Ngô Đ́nh Diệm)
một chỗ ở trong một biệt thự lớn ở số 152 đường De Gaulle (sau đổi
là Công Lư)... kế cận một pḥng do vợ chồng luật sư Nguyễn Hữu Thọ
cư ngụ... Nguyễn Hữu Thọ sau đó làm Chủ Tịch Mặt Trận Giải Phóng
Miền Nam.”
trở lên
Ngo Dinh Diem
From Wikipedia, the free
encyclopedia:
on
October 26,
1955, in a disputed nationwide
referendum, the people voted to remove the emperor
Bao Dai as head of state and elect Diem the first President of
the Republic of Vietnam.
When the
referendum was held, Diem's troops guarded the polls and those who
attempted to vote for the Emperor were assaulted.
Diem's detractors say that the
fraud was obvious. In
Saigon, for example, Diem claimed more
votes than there were registered voters in the entire area.
The
National Archive – A Learning Curve
http://www.learning curve.gov. uk/
When the
voters arrived at the polling stations they found
Diem's supporters in attendance.
After the
election Diem informed his American advisers that
he had achieved 98.2 per cent of the vote.
They warned him that these figures would
not be believed and suggested that he published a figure of around
70 per cent. Diem refused and as the Americans predicted, the
election undermined his authority. (↑)
===============
2009/5/17 <hi5forhrinvn@yahoo.com>:
>
Ư-kiến cũa Matthew
Trần:
>
> Bài viết cũa "NamMo Dung" trung thực, dáng
tin cậy.
> Bài fân tách, nhận xét cũa Lê Xuân Nhuận, hoàn toàn có tính cách xuyên
tạc v́ thiên kiến.
>
> Hơn nữa ai ai cũng biết: Lê Xuân Nhuận là tên
Giao Diễm,
luôn luôn t́m mọi fương cách dễ xuyên
tạc dạo CG cũng như Vatican.
>
> Người viết những lời nầy dă có zịp hầu chuyện với Dức TGM Ngô D́nh
Thục tại Ḍng Dồng Công sau khi Ngài ăn năn hối căi về việc bất
dồng ư-kiến với Công dồng Vatican II, theo fe Giám mục Lefèvre từ năm
1976, lập phong trào "Giáo hội La Mă Chính thống"
(Orthodox Roman catholic movement, gọi tắt là ORCM).
>
> Sau khi Dức TGM Ngô D́nh Thục ăn năn hối căi trỡ về thần fục Giáo Hội
Vatican, Vatican dă hũy "án tuyệt thông"; Dức TGM Ngô D́nh Thục dược mời
về Ḍng Dồng Công ỡ Missouri zưỡng già và qua dời trong b́nh an ... chớ
không bị ai bắt cóc về Ḍng Dồng Công như
tên Lê Xuân Nhuận fịa ra
>
> Tôi vẫn zuy tŕ
ư muốn là sẽ qua CA dễ chứng kiến cuộc "dối thụi" cũa anh CTT & Co với
bọn thuộc tỗ chức "Gái Diếm" cũa
Mặt Trận Tỗ Quốc (csVN)
như Trần Chung Ngoc, Lê Xuân Nhuận, Fạm Hữu Tạo, Chế Trung Hieu,
Bernardzip .v..
>
> Tôi hơi di hơi lại mà chẵng ai cho biết kết quă ,,,,,
>
> Matthew Trần (↑)
===============
From:
NamMo Dung <nammodungsca@yahoo.com>
Subject: Việc Đại Úy James Scott và việc Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục
bất măn với Ṭa Thành La Mă
To: lechannhan@yahoo.com, "Matthew Tran" <hi5forhrinvn@yahoo.com>, v.v...
Date: Sunday, May 17, 2009, 7:30
PM
1. Việc
Đại Úy James Scott
được viết ở trong cuốn sách The
Ambassador của tác giả
Lewis của Úc
(sách đă được dịch ra tiếng Việt là Ông
Đại Sứ từ năm 1965... Cuốn này
c̣n được t́m thấy ở các thư viện của Hoa Kỳ.... Ông Lê Xuân Nhuận thắc
mắc về việc viên Đại Úy này là v́ ông Nhuận chưa được đọc cuốn sách Ông
Đại Sứ (dịch sang tiếng Việt) và nguyên bản tiếng Anh The Ambassador của
tác giả Lewis.
2. Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục
bất măn với Ṭa Thành La Mă về việc Ṭa Thánh
không những không bênh vực TT Ngô Đ́nh Diệm về vụ Phật Giáo 1963 mà c̣n
lên tiếng phản đối TT Ngô Đ́nh Diệm nên Đức Tổng Giám Mục đă
tuyên bố ly khai với Giáo Hội Công Giáo... Sau đó, do nhiều người làm
trung gian ḥa giải Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục đă xin rút lại sự ly
khai này và tuyên bố phục tùng Giáo Hội Công Giáo nên đă được phục chức
Tổng Giám Mục nhưng không có nghĩa là được phục chúc làm Tổng Giám Mục
Giáo Phận Vĩnh Long... Ông Lê Xuân Nhuận
không nên để sự "tị hiềm" riêng mà viết thiếu sự b́nh tĩnh và khách quan
của một người "viết sử"....
3. Việc cấm treo cờ tôn giáo ngoài
đường năm 1962 khởi từ
Lễ Kim Khánh của Đức Tổng Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục tổ chức tại Huế. Khi TT Ngô Đ́nh Diệm được mới về Huế để dự Lễ
Kim Khánh này, phi cơ đáp xuống phi trường Huế, thấy cờ Công Giáo treo
tràn ngập phi trường, TT Diệm rất bất măn, nổi giận, dùng batoong dậm
xuống sàn máy bay và bảo "đứa nào cho treo cờ giáo hội tràn đầy thế kia
làm mất thể thống quốc gia", rồi giận dữ, ra lệnh cho phi công bay ngược
về Saigon mà không đến dự Lễ Kim Khánh
của Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục nữa.
4. Về Saigon, TT Diệm kư
sắc lệnh cấm treo cờ Tôn Giáo (chung cho
các tôn giáo) ngoài đường (tức là chỉ được treo trong khuôn viên các cơ
sơ tôn giáo... Không may là năm sau (chỉ
mấy tháng sau) là đến Lễ Phật Đản 1963, và luật này áp dụng vào việc
Treo Cờ Phật Giáo... và đưa đến biến cố tranh đấu chống đối chính quyền
và càng ngày càng có nhiều biến cố "thêm dầu vào lửa" nên gia đ́nh Ngô
Đ́nh bị tan hoang, rồi dần dần, dân tộc Việt Nam lọt hoàn toàn vào tay
Việt Cộng năm 1975. Đó âu cũng là vận mệnh của dân tộc Việt Nam...
5.. Nhưng phải nhận rằng
lỗi cũng là do một số người Công Giáo bảo hoàng
hơn vua, làm quá lố việc treo cờ Công Giáo như vậy (mà có nhiều
nhân vật khác không phải công giáo nữa cũng góp phần làm việc
quá lố treo cờ Công Giáo lung tung này)
mà gây nên đại họa cho gia đ́nh họ Ngô
và cho toàn dân tộc...(↑)
===============
9 NĂM BÊN CẠNH TT NĐD
lechannhan@yahoo.com
|
| |
You
may not know this sender.Mark
as safe|Mark
as junk |
| June 4, 2009 11:14:07 PM |
| lechannhan@yahoo.com |
1/
Rất cám ơn vi-hữu NamMo Dung <nammodungsca@yahoo.com>
đă có ư-kiến phản-hồi về bài viết của Lê Xuân Nhuận (↓)liên-quan
đến bài viết của ông Lâm Lễ Trinh nhan đề “Chín
Năm Bên Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm”(↓).
2/ Ông
Lâm Lễ Trinh là một nhân-vật quan-trọng, là một nhân-chứng sống, của một
giai-đoạn đặc-biệt trong lịch-sử nước nhà. Các bài viết của ông Lâm Lễ
Trinh, nói chung, có những giá-trị nhất-định. Tuy-nhiên, đáng tiếc là
trong đó vẫn có xen lẫn một số điểm mà tôi góp ư, bổ-túc, để giúp tránh
những sai-lầm.
3/ Nhân
đây, tôi xin thưa rơ:
a- Bất-cứ bài viết của ai, mà có
những ǵ sai-lầm, th́ tôi góp ư để giúp
chỉnh lại cho đúng;
b-
Có ǵ mâu-thuẫn,
th́ tôi chỉ ra, để người trong cuộc ḍ lại;
c-
Có ǵ khả-nghi, tôi cũng nêu lên, để
mong mọi người cùng nhau t́m ra sự thật...
4/
Ông Matthew Trần đă nhân bài viết của vi-hữu NamMo Dung mà viết rằng tôi
là “tên Giao Diễm,
luôn luôn t́m mọi fương cách dễ xuyên
tạc dạo CG cũng như Vatican”(↓).
Tôi xin thưa lại rằng tôi không phải là
một “tên Giao Diễm”; và tôi chỉ dựa
vào chính các bài viết của các nhân-vật tên-tuổi (kể cả ở Vatican và ở
trong giới tín-đồ Ky-Tô-Giáo La-Mă) để nêu ra các điểm “sai-lầm,
mâu-thuẫn, khả-nghi”, như đă nói trên,
chứ tôi không xuyên-tạc ai cả.
Cái thời ‒ mà hễ dạy học là tưởng nói trời nói đất ǵ học-sinh cũng nghe
theo; mà hễ truyền đạo là chắc giảng ma giảng quỷ ǵ tín-đồ cũng tin
theo ‒ cái thời ấy đă qua rồi. Đoán ṃ, chụp mũ, vu-khống ‒ là không
đúng-đắn, thiếu đứng-đắn, chưa trưởng-thành. Ngoài ra, tôi không hề dùng
những chữ khiếm-nhă, v́ tôi tôn-trọng mọi người.
5/
Bài viết của Lê Xuân Nhuận (riêng về “Chín
Năm Bên Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm”) gồm có
10 điểm;
vi-hữu NamMo Dung đă chỉ góp ư về
2 điểm (↓)(tức
là chỉ về 2/10=20%
bài viết của tôi mà thôi).
6/ Về
20% ấy, ông Matthew Trần viết rằng “Bài viết cũa "NamMo
Dung"
trung thực, dáng
tin cậy”. Vậy xin phản-hồi về cái
“trung thực, đáng tin cậy” trong 2 điểm
ấy như sau:
*
I. Về Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục:
Ia- Lê
Xuân Nhuận chỉ ghi lại một số chi-tiết đăng trên Bách Khoa Toàn Thư
Wikipedia và
đă ghi rơ là
“theo
Wikipedia, the free encyclopedia”
(http://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Thuc),
quư vị xem lại th́ thấy; họ viết công khai cho cả thế giới cùng đọc, chứ
không phải là tự tôi “fịa ra”
để “xuyên tạc dạo CG cũng như Vatican”
như ông Matthew Tran
đă viết. Trong các đề-tài thế này, tôi chỉ
biên-khảo (sưu-tầm, nghiên-cứu tài-liệu của người khác thôi) chứ không
sáng-tác (tự ḿnh viết ra chuyện ǵ); mà không sáng-tác th́ không “phịa,
bịa” ǵ cả.
Ib-
Về vụ cấm treo cờ Phật Giáo:
A)
NamMo Dung viết:
“3. Việc cấm treo cờ tôn giáo
ngoài đường năm
1962 khởi từ Lễ
Kim Khánh của Đức Tổng Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục tổ chức tại Huế. Khi TT Ngô Đ́nh Diệm được mới về Huế
để dự Lễ Kim
Khánh này, phi cơ đáp xuống phi trường
Huế, thấy cờ Công Giáo treo tràn
ngập phi trường, TT Diệm rất bất măn, nổi giận, dùng batoong dậm xuống
sàn máy bay và bảo "đứa nào cho treo cờ giáo hội tràn đầy thế kia làm
mất thể thống quốc gia", rồi giận dữ, ra lệnh cho phi công bay ngược về
Saigon mà không đến dự Lễ
Kim Khánh của Đức Tổng Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục nữa.
“4. Về Saigon, TT Diệm kư
sắc lệnh
cấm treo cờ Tôn Giáo (chung cho các tôn giáo) ngoài đường (tức là chỉ
được treo trong khuôn viên các cơ sơ tôn giáo... Không may là
năm sau (chỉ
mấy tháng sau) là đến Lễ Phật Đản 1963,
và luật này áp dụng vào việc Treo Cờ Phật Giáo... và đưa đến biến cố
tranh đấu chống đối chính quyền và càng ngày càng có nhiều biến cố "thêm
dầu vào lửa" nên gia đ́nh Ngô Đ́nh bị tan hoang...”
B) Ư-Kiến
của Lê Xuân Nhuận:
a/
Về thời-điểm ban lệnh cấm treo cờ:
1- NamMo Dung viết rằng
Lễ Kim Khánh
của TGM Ngô Đ́nh Thục diễn ra vào năm
1962,
nhưng các tài-liệu khác th́ viết là vào năm
1963,
thí-dụ:
2- Bà Ellen J. Hammer, trong
cuốn “A Death in November ‒ America in
Vietnam, 1963” (do E.P. Dutton ở
New York xuất-bản năm 1987 ‒ bản dịch của Vũ Văn Ninh & Trần Ngọc Dung:
“Bàn Tay Hoa Kỳ - Cái Chết ông Diệm”
(do Thế Giới ở San Jose, USA, xuất-bản năm 1992, trang 99) đă viết:
“Tổng Giám mục Ngô Đ́nh Thục, Tổng Giám mục Huế, chủ tịch hội đồng Giám
mục Việt Nam... vừa đi thăm thánh địa La Vang
về... là một tuần lễ rất vui cho ngài. Em ngài, Ngô Đ́nh Diệm,
một người Công giáo, đă là Tổng thống Cộng hoà Việt Nam suốt tám năm (1963-1955=8),
và ngài hiện đang kỷ niệm năm thứ 25 (1963-1938=25)
thụ phong Giám mục. Nghi thức mừng ngài
đă được diễn ra tại Saigon và Đalat vào đầu
tháng Năm... Nhưng ngày
7 tháng Năm
1963,
ngài đă tỏ vẻ thất vọng và bực tức... thông tư nhắc lại luật treo cờ...
tới Huế, thành phố đă ngập cờ Phật Giáo để mừng
Phật Đản sắp tới. Đây là những cờ mà Giám mục Thục đă thấy treo
khắp nơi khi ngài từ La Vang về tới Huế
ngày 7
tháng Năm. Ngài cho gọi ngay Hồ Đắc Khương, đại biểu chính phủ,
để ra lệnh cho hạ hết các cờ xuống.”
Thế th́: Lễ Phật Đản
năm ấy là ngày hôm sau, tức ngày lịch-sử
8/5/1963.
Cho nên
“Lễ
Kim Khánh” của
TGM Thục diễn ra vào tháng
5
năm
1963,
chứ
không phải vào năm 1962
như NamMo Dung viết.
3-
Ông Nguyễn Văn Châu (cựu Chủ-Tịch Quân-Uỷ cuả Đảng Cần-Lao, Giám-Đốc Nha
Chiến-Tranh Tâm-Lư thuộc Bộ Quốc-Pḥng dưới thời Đệ-Nhất Cộng-Hoà) đă
viết, trong cuốn sách tiếng Pháp “Ngô Đ́nh
Diệm En 1963: Une Autre Paix Manquée” mà Nguyễn Vy Khanh dịch ra là
“Ngô Đ́nh Diệm, nỗ lực hoà b́nh dang dở”
(do Xuân Thu ở Los Alamitos, USA, xuất-bản năm 1989, trang 216), đă viết:
“Nghị định
do phủ Tổng Thống ban hành vào ngày
6
tháng 5 năm 1963 nhắc nhở lại
những biện pháp đă được quy định vào năm 1957 và 1958 về việc treo cờ
của Giáo Hội.”
4-
Ông Nguyễn Văn Minh (cựu đại-uư, biệt-phái tại văn-pḥng ông Cố Vấn Ngô
Đ́nh Cẩn, ở Huế, vào thời-điểm ấy), trong cuốn “Ḍng
Họ Ngô Đ́nh, Ước Mơ Chưa Đạt”, ở Chương 2.3, đă viết: “dưới đây là
nguyên văn
Công Điện số
9159 đề ngày
6.
5. 1963 nhắc việc
phải treo cờ Quốc Kỳ tại các nơi thờ tự:
Văn Pḥng Phủ Tổng Thống
trân trọng chuyển đến Quư Ông
chỉ thị sau đây của Tổng
Thống...”
Thế
th́: ngày 6-5-1963,
TT Ngô Đ́nh Diệm ban-hành lệnh ấy, mà ngày
8-5-1963
là Lễ Phật-Đản; tức là chỉ có
2 ngày
sau đó mà thôi. Vả lại, theo các tài-liệu ghi trên th́ lệnh của
Tổng-Thống: vừa là
sắc-lệnh,
vừa là
nghị-định, vừa là
công-điện,
mà cùng một ngày
6-5-1963;
nhưng cũng không phải là qua
năm sau (chỉ
mấy tháng sau) là đến Lễ Phật Đản 1963
như NamMo Dung viết.
b/
Về Lễ Tiệc Mừng của Đức TGM Ngô Đ́nh
Thục:
Ông Nguyễn Văn Minh, trong sách
dẫn trên, ở Chương 2.4, đă viết: “ngày Đức Cha
Thục thụ phong Giám Mục được
25 năm, ngày 4 (không phải ngày
5) tháng 5 năm
1963, Lễ
Ngân Khánh của Ngài được tổ chức tại
Trường Đại Học Đà Lạt...”
Thế
th́: Đức TGM Ngô Đ́nh Thục thụ-phong giám-mục năm
1938, đến
năm 1963
là
25 năm.
Hai mươi lăm năm mới là
Ngân
Khánh,
chứ chưa thể là
Kim
Khánh, như NamMo Dung viết.
Kim
Khánh
phải là
50 năm
cơ.
c/
Về Đức TGM Ngô Đ́nh Thục:
1- Ông Nguyễn Văn Minh cũng viết,
ở Chương 2.2: “Tiếc rằng khi "Biến cố cờ Phật
Giáo" bùng nổ, Đức Cha Thục đă có
phản ứng quá nóng nảy trong lời nói khi phát
biểu về một vài vị lănh đạo phong trào tranh đấu, cũng như
đă có một số hành động đối kháng phong trào này. Mặc dầu
một số Linh Mục uy tín trong Giáo Phận Huế thời bấy giờ, trong đó
có cố Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và ông Ngô
Đ́nh Cẩn cố gắng can ngăn. Hành động quá nóng nảy của Đức Cha Thục
đă làm lu mờ tinh thần thượng tôn pháp luật của Đức Cha...
Tính nóng nảy, ngay thật đến ngây thơ, cư xử
vụng về. Đó là những động lực đă thúc đẩy Đức Cha Thục hành động
một cách thiếu suy nghĩ và vô chính trị
như vậy.”
2- Thượng-Toạ
Thích Trí Quang, đă phát-biểu, theo ông
Nguyễn Văn Minh ghi lại trong sách trên, ở Chương 2.4, như sau: “Giáo Sư
Nguyễn Văn Trung Khoa Trưởng Đại Học Văn
Khoa Sài G̣n trước 1975, trong bài viết về ông
Ngô Đ́nh Cẩn đă tiết lộ phát biểu của Thượng Tọa Trí Quang về "vụ
Phật Giáo" như sau: "... bài Ḥa Thượng Thích
Trí Quang kư thác tâm sự với tôi (Giáo Sư Trung) khẳng định các
ông Diệm, Nhu, nhất là ông Cẩn, trừ ông
Thục, không
trách nhiệm ǵ
trong việc gây ra vụ Phật Giáo".
Tức
là chỉ có một ḿnh Đức TGM Thục chịu trách-nhiệm trong vụ này.
3- Vi-hữu NamMo Dung, trong phần
phản-hồi bài viết của tôi, cũng đă có viết các đoạn sau đây:
“2. Đức Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh
Thục bất măn với Ṭa Thành La Mă về việc Ṭa
Thánh không những không bênh vực TT Ngô
Đ́nh Diệm về vụ Phật Giáo 1963 mà c̣n lên tiếng phản đối TT Ngô Đ́nh
Diệm nên Đức Tổng Giám Mục đă tuyên bố ly khai với Giáo Hội Công
Giáo...
“5. Nhưng phải nhận rằng
lỗi cũng là do
một số người Công Giáo bảo hoàng hơn vua, làm quá lố việc treo cờ Công
Giáo như vậy (mà có nhiều nhân vật khác không phải công giáo nữa
cũng góp phần làm việc quá lố treo cờ Công Giáo
lung tung này) mà gây nên đại họa cho
gia đ́nh họ Ngô...”
*
Ông Lâm Lễ Trinh có đọc các bài viết của tôi,
và ngay hồi đó (2005) ông ấy đă trả lời Lê Chân Nhân (tức Lê Xuân Nhuận)
tóm tắt trong một email như sau:
|
From: |
Lamletrinh@aol.com
|
|
Date: |
Sat, 22 Oct 2005 18:01:40 EDT
|
|
Subject: |
cam on ve
nhung diem bo tuc cua ong |
|
To: |
lechannhan@yahoo.com
|
*
II. Về “đại uư (Mỹ) James Scott”:
Để tiện theo-dơi từng vụ, tôi xin tạm ngưng
ngang đây, và sẽ viết tiếp về vụ James Scott, với nhan đề là “Đại-Uư
James Scott”, sẽ đăng nay mai.
Rất
cám ơn quư vị.
LÊ XUÂN NHUẬN
|