Nơi gặp gỡ của những người đă một thời cầm súng
dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ để chiến đấu bảo vệ Tự Do cho miền Nam
Việt Nam
Nơi trưng bày Toàn Cảnh Thiên Đường XHCN, một xă
hội Màu Đỏ, Cơ Khổ, trong đó 80 triệu người Gian Lao v́ Đảng, để rồi
Cùng Nhau Xuống Hố!... (ChânMây phụ trách)
Nơi hội ngộ của các hiệp khách, cùng nhau
lạm bàn chuyện thế sự từ Đông Sang Tây, từ Cổ chí Kim, từ Trên xuống
Dưới, từ Trong ra Ngoài... (Chủ quán: Eagle)
Ven trời
góc biển buồn chim cá Dạn gió dày sương tủi nước
non
Thượng Tân
Thị
Bi thương thay cho lịch sử Việt
Nam! Từng cây số trên quê hương là từng gịng máu lệ, máu của cha
ông ngăn thù và máu của hai miền huynh đệ chan ḥa vào nhau trong
hoan lạc dành cho Quốc tế Cộng Sản. Và đang trở về đây là những bước
chân âm thầm của ngàn năm nô lệ. Kết qủa từ công cuộc nhuộm đỏ mạo
danh “độc lập, tự do, hạnh phúc” theo tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng
bọn. Hăy tiếp tục nh́n những ǵ mà CSVN đang ra sức thực hiện:
“Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan không thuộc lănh thổ Việt Nam!”. Họ cố
chối bỏ lịch sử Việt Nam và ra sức tranh căi, biện luận với dân Việt
thay cho Trung Cộng. Ô nhục! Từ quan đến quân, CSVN chỉ là một lũ
tôi mọi dâng đất, dâng biển của tổ tiên cho ngoại bang bằng văn tự
công hàm, hiện rơ h́nh hài là một bọn quái thai chưa từng có trong
lịch sử nhân loại!
Chấp bút cho đề tài “Ải Nam Quan”, thay v́
tranh luận bằng văn chương, tôi sẽ sử dụng giá trị của những tư liệu
bằng h́nh ảnh. Bởi v́, đă có rất nhiều nghiên cứu công phu của các
tác giả yêu nước Việt nồng nàn đă là qúa đủ để khẳng định “Ải Nam
Quan là của Việt Nam! Ải Nam Quan thuộc về Trung Cộng là do sự hiến
dâng của Đảng CSVN!”. Những h́nh ảnh sẽ lưu lại đây để cho con cháu
chúng ta hiểu rơ hơn niềm bi thương của đất nước, chỉ cho các em bọn
bán nước hiện đại là ai. Để rồi không c̣n ngày phải tôn thờ hỉnh
Hồ-Mao và màu cờ máu chỉ c̣n là một kỷ niệm buồn. Rất buồn! Hăy
xác tin rằng: “Nước Việt của em từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau” là
măi măi!
Chương I
NHỮNG H̀NH ẢNH LỊCH
SỬ
Trong chương này, việc sắp đặt h́nh
ảnh về Ải Nam Quan sẽ dựa theo sự thay đổi của lối kiến trúc v.v. mà
phân chia thành các nhóm h́nh theo kư tự A,B,C…Để sự diễn tả rơ ràng
hơn, những h́nh ảnh bên phía Trung Cộng (hoặc Trung Quốc theo thời
đại) sẽ gọi là “Trấn Nam Quan” “Mục Nam Quan” v.v…; ngược lại, nhũng
h́nh ảnh bên phía Việt Nam sẽ gọi là Ải Nam Quan hoặc cổng Nam Quan
theo đúng tinh thần lịch sử. Phân chia như sau.
- Nhóm
A: họa đồ “Trấn Nam Quan” của Trung Quốc (đánh số A1 đến
A4) - Nhóm B: có chung kiến trúc (đánh số B1 đến B4) -
Nhóm C: có chung kiến trúc (đánh số C1 đến C4) - Nhóm
D: có chung kiến trúc (đánh số D1 đến D2) - Nhóm E:
không xác định (E1 đến E3) - Nhóm F: h́nh quân sự và bản
đồ (đánh số F1 đến F6) - Nhóm Phụ ảnh: Một số phụ ảnh bất
định sẽ đưa trực tiếp vào nơi h́nh cần thêm minh họa.
Diễn tả
1, Nhóm h́nh A:
Trước hết, ta có hai bức họa theo lối sơn
thủy về h́nh ảnh “Trấn Nam Quan” trong đời nhà Thanh (Trung Quốc).
Niên đại của cả hai được cho rằng họa vào đời vua Ung Chính khi xảy
ra cuộc chiến Trung-Pháp (1884-1885)
A1. “Trấn Nam
Quan Bổ Pḥng Đồ” (1) C̣n gọi là “Thanh Quân Trấn Nam Quan Bổ
Pḥng Đồ” (Họa đồ bố trí pḥng thủ Trấn Nam Quan của quân Thanh).
Đây là bức họa các vị trí đóng quân của nhà Thanh nơi Trấn Nam Quan
bên trong nội địa Trung Quốc. Địa h́nh đồi núi khái lược. Cổng ra
vào với Ải Nam Quan của Việt Nam nằm tại cạnh phải của bức họa (có
đóng khung).
A2.
“Trấn Nam Quan Bổ Pḥng Đồ” (2) Các vị trí đóng quân của nhà
Thanh nh́n từ hướng Việt Nam. Không hiểu tại sao bố cục của bức họa
này lại rất giống với bố cục trên bưu ảnh (tham khảo h́nh B1) do
người Pháp chụp vào đầu TK20 (hoặc cuối TK19?) . Có thể bức họa này
dựa theo tài liệu của người Pháp mà vẽ ra. Giá trị của bức họa này
so với bưu ảnh (B1) là do sự quan sát của người Trung Quốc vào thời
đại cũ nên ta thấy được kiến trúc nguyên thủy của Ải Nam Quan bên
phía Việt Nam. Ta thấy có một cổng lớn, hai bên cổng là hai dăy
tường thành dâng cao nhưng bị cắt ở hai bên lưng núi. Một khoảng sau
cổng mới đến phần cổng có mái ngói. Từ phần cổng mái ngói này có dăy
tường thành chạy dài lên đỉnh núi. Đó là phần Trung Quốc. Các điểm
này tương xứng với bưu ảnh (B1).
A3.
“Trấn Nam Quan Đại Chiến” Minh họa cảnh giao chiến giữa quân
Pháp và quân Thanh tại cổng Nam Quan vào năm 1885. Niên đại của bức
họa không rơ nhưng ta thấy tường thành có kiến trúc giống cổng Ải
Nam Quan của h́nh A2.
A4.
“Trấn Nam Quan Đại Lâu Đồ” Mô tả cảnh quân Pháp rút quân và
binh lực quân Thanh tại Trấn Nam Quan. Hăy quan sát vị trí cổng theo
khung hướng dẫn trong h́nh.
2, Nhóm h́nh
B: Bưu thiếp (Carte Postale) phong cảnh Ải Nam
Quan do người Pháp thực hiện vào đầu thế kỷ 20. Các nhật ấn sưu tầm
được trên bưu thiếp sử dụng từ năm 1908-1912.
B1. Ải
Nam Quan nh́n từ độ cao ở Đồng Đăng Vẫn dựa theo tường thành phía
Việt Nam là hai đoạn ngắn nhưng phần cổng đă thay đổi thành cổng
nhỏ. Phía Trung Quốc là cổng lớn và cao hơn, thiết kế hai mái ngói
và tường thành chạy dài lên núi giống các bức họa đă nêu trên. Có lẽ
sau giao tranh vào năm 1885. Cổng phía Việt Nam đă bị phá hủy nên
được xây lại không c̣n qui mô như xưa. Khoảng trống đến phần cổng
phía Trung Quốc là vùng cảnh giới của hai bên v́ dựa theo h́nh phía
bên Trung Quốc ta sẽ thấy có sự đối xứng (tham khảo nhóm h́nh
C).
Phụ
ảnh:(B1) Ảnh màu để xác nhận hai phần mái ngói đỏ.
B2. Ải Nam Quan nh́n từ hướng Đồng
Đăng Ta nhận thấy sự cao thấp của hai phía cổng và cánh phải của
tường thành phía Việt nam cũng dừng ở ngang núi theo như họa đồ
Trung Quốc (A1). Ở góc phải phía dưới h́nh là một ụ trắng phủ cỏ
xanh, dấu tích lô cốt của quân đội Pháp (tham khảo h́nh F1 sẽ thấy
rơ vị trí lô cốt nh́n từ bên Trung Quốc).
B3.
Bang giao tại Ải Nam Quan Quan sát các nhân vật trong h́nh,
ta thấy ở cạnh trái có binh lính Việt Nam đứng thành hàng dài. Giữa
cổng đi ra là hàng phu khiêng kiệu đội nón vải rộng vành của quân
nhà Thanh (chở quan viên?). Ở cạnh phải của h́nh có những người nhà
Thanh đội nón và kết tóc đuôi sam. Có lẽ đang diễn ra một sự kiện
nào đó trong lịch sử bang giao tại Ải Nam Quan.
B4.
Cổng Ải Nam Quan Cổng đóng then gài, cỏ mọc cao ngất ngưỡng.
Hoang tạnh. Trong lời nhắn trên bưu thiếp cho ta biết cổng được tu
phục vào năm 1908. Nhật ấn “Lạng Sơn”. Xác nhận bờ tường thành chỉ
c̣n dấu thang bậc đi lên để so sánh với tường thành phía bên Trung
Quốc (nhóm h́nh C).
Phụ
ảnh: Đường lên Ải Nam Quan từ Đồng Đăng
3, Nhóm
h́nh C
C1. Trấn Nam Quan (1) Nh́n
từ bên Trung Quốc. Kiến trúc ở đây đă khác. Phần mái ngói lớn phía
dưới đă mất, chỉ c̣n lại phần mái ngói bên trên và cấu trúc mái cũng
khác. Chỉ có dăy tường thành là vẫn chạy dài lên trên. Cạnh trái
trên đỉnh núi có doanh trại. Phía dưới trước mặt cổng có cụm nhà
ngói. Kiến trúc thay đổi có lẽ do sự phá hủy trong cuộc “Khởi nghĩa
Trấn Nam Quan” do Tôn Trung Sơn lănh đạo vào năm 1907. Để dễ phân
biệt với nhóm h́nh chụp từ phía Việt Nam ta sẽ quan sát thêm sự khác
nhau của địa h́nh đồi núi.
C2.
Trấn Nam Quan (2) Mặt bằng của Trấn Nam Quan. Bờ tường thành
chia theo lô khác với h́nh thang bậc bên phía Việt Nam. Ta thấy rơ
bên phía Trung Quốc cũng có khoảng cách so với cổng lớn (Quan). Một
án tường trắng đối diện cổng là theo lối phong thủy ngày xưa tránh
sự ḍm ngó thẳng vào nhà ḿnh từ phía bên ngoài (ngay trong các kiến
trúc cổ của Việt Nam từ đ́nh làng đến lăng miếu ta sẽ nhận ra điểm
này). Theo sử liệu Trung Cộng, cụm nhà nhỏ phía trước cổng lớn (nơi
có hai nhân vật áo trắng đang đứng) là miếu thờ Quan Công gọi là
Quan Đế Miếu và Đền Chiêu Trung. Sau đó vào năm 1896 trong chương
tŕnh khảo sát biên giới giữa Trung-Pháp đă xây trên nền này một văn
pḥng quản lư cùng với 9 điểm khác trên biên giới Trung-Việt. Năm
1914 xây lại lần hai thành kiến trúc nhà lầu kiểu Pháp nên c̣n gọi
là “Pháp Lầu” hoặc “Pháp Quốc Lầu” vẫn c̣n tồn tại cho đến
nay.
C3.
Toàn cảnh Trấn Nam Quan Có một khu trại và hai dăy nhà mái lá
cách xa với cổng lớn ở cạnh tâm phải của h́nh. “Trấn Nam Quan” là
đây! Khởi nghĩa Tôn Trung Sơn là đây! Khu di tích này giờ chỉ c̣n là
ruộng nước, gọi là “khu di chỉ Trấn Nam Quan Khởi Nghĩa”. Các khung
trong h́nh dùng để xác định vị trí so với h́nh C4.
C4.
Trấn Nam Quan (3) Trên bưu thiếp có tiêu đề “NAM QUAN (Chine)
– Le Village” rơ ràng đây là khu làng mạc (Trấn) trong đất Trung
Quốc. So sánh các khung vị trí với h́nh C3: Dăy nhà lá và con
đường đất ở giữa, trước mặt là cụm nhà ngói và tán cây. Ngang ở tâm
trái của h́nh là bờ tường thành. Phía góc phải là vách núi đá (đá
vôi?) trắng.
Chữ
“Trấn” trong văn tự trung Quốc có rất nhiều nghĩa, như “trấn giữ”,
“trấn áp”, “trấn tĩnh”, “trấn địa”…v.v. đều là chỉ việc ǵn giữ, ổn
định. “Trấn” c̣n là một đơn vị hành chính sau cấp huyện có từ thời
xưa tại Trung Quốc (đơn vị hành chính Việt Nam thời xưa cũng thường
sử dụng). Trong một số sử sách Việt Nam có nói “Trấn Nam Quan” nằm
trong nội địa Trung Quốc. Th́ đây, “Trấn Nam Quan” đă xác định là
những h́nh này! Khối nhà lợp mái ngói ta sẽ hiểu là khu nhà quan
binh, hai dăy nhà lá là khu dân cư dựa theo binh đội để có cuộc sinh
hoạt yên b́nh. “Trấn” là khu phố nhỏ, làng mạc. Đừng làm lệch lạc
lịch sử và đừng theo luận điệu của bọn bán nước mà cho rằng “Ải Nam
Quan phải gọi là Bắc Quan”. Chữ “Nam Quan” là do Trung Quốc kiêng kỵ
Việt Nam nên không muốn gọi là “Đại Nam Quan” mà thôi. Chữ “Quan” là
chiếc cổng qua lại. “Đại Nam Quan” hay “Nam Quan” là cửa ngơ giao
thiệp với nước Việt Nam. Hai bên đă thủ lễ với nhau bằng khoảng
trống ở hai bên cổng lớn. Theo sử liệu, sau chiến tranh Trung-Pháp
th́ nhà Thanh đă chiếm giữ cổng lớn và buộc phía Việt nam phải cách
xa cổng là 100 thước. Việc này ta thấy tương đương với khoảng cách
của hai cổng trong nhóm h́nh B.
4, Nhóm h́nh D
D1.
Cổng Nam Quan (1) Đây là một kiến trúc khác hẳn so với các
nhóm h́nh trên. Có vẻ sơ sài v́ đă mất hẳn phần kiến trúc phía trên
trong cuộc nội chiến tại Trung Cộng vào năm 1949. Ta thấy có dáng
một nhân vật đang cầm súng. Tiêu đề trên bưu thiếp “NAM QUAN
(Tonkin)…” đây là bên phía Việt Nam khi qua cổng nhỏ để đứng sát với
cổng lớn (vào lúc này có lẽ kiến trúc cổng nhỏ cũng đă mất). Theo sử
liệu Trung Cộng, trong cuộc giao tranh vào năm 1949 th́ toàn bộ phần
trên cổng đă bị phá hoại hoàn toàn (tham khảo h́nh E2).
D2.
Cổng Nam Quan (2) H́nh đăng trên tạp chí “National
Geographic” do GS Nguyễn Văn Canh đưa lên mạng và không rơ niên đại.
Một số bạn nghi ngờ bức ảnh này không chính xác với h́nh ảnh của Ải
Nam Quan. Tuy nhiên so sánh với h́nh D1, ta đă thấy kiến trúc cùng
kiểu của hai h́nh. Tại đây, dăy tường thành chạy lên cao đến vách
núi trắng tương ứng với h́nh C3-C4, có thể xác định là h́nh được
chụp từ cao điểm bên phía Việt Nam.
E1. Không xác định (1) Một h́nh
ngôi chùa trên đường đi Long Châu nơi có cổng giao thiệp với Việt
Nam là B́nh Nhi Quan. Cùng với Nam Quan và B́nh Nhi Quan c̣n có Thủy
Khẩu Quan là 3 cổng quan yếu để vào đất Việt Nam nên gọi chung là
“Tam Quan”, có khi cổng Nam Quan c̣n gọi là riêng là “Tam Quan” do ở
vị trí quan trọng hàng đầu so với hai cổng B́nh Nhi-Thủy Khẩu. Nơi
h́nh này có tiêu đề “Chine - NAM QUAN – Loc Hang Thiap”. Chưa rơ chữ
“Loc Hang Thiap” là ǵ nhưng h́nh xác định là Nam Quan trên đất
Trung Quốc, có phải là một ngôi chùa trong “Trấn Nam Quan” hay
không? Hay là thuộc Trấn B́nh Nhi Quan?
E2. Không xác định (2) Quân đội Trung
Cộng đứng trên tường thành giương cờ trong cuộc chiến thắng quân
Tưởng Giới Thạch vào ngày 11.12.1949 tuyên bố giải phóng Quảng Tây.
Thế tường thấp với cổng và trên mặt tường cổng có chữ “Trấn Nam
Quan”.
Phụ
ảnh: H́nh chụp chính diện của Trấn Nam Quan trong ngày giải
phóng Quảng Tây tháng 12.1949. Trên mặt tường cổng thành ta thấy rơ
chữ “Trấn Nam Quan”. (pḥng trưng bầy lịch sử Hữu Nghị
Quan)
E3.
Không xác định (3) Quân đội Trung Cộng đứng trước cổng nhỏ có
khắc chữ “Trấn Nam Quan”. Không rơ niên đại của h́nh. Chung với h́nh
E2, có lẽ đây là “Trấn Nam Quan” mà tôi đă giải thích (mục 3, nhóm
h́nh C).
6, Nhóm
h́nh F
F1. Toàn cảnh Ải Nam
Quan Do trinh sát quân Nhật Bản chụp vào tháng 6 năm 1940 trước
khi tiến hành “cuộc chiến 3 ngày” nhằm đạt mục đích đưa quân vào
lănh thổ Đông Dương. H́nh được mô tả: “…thấy được
đường xe lửa Lao Cai-Côn Minh. Lại có đường xe ô-tô từ Đồng Đăng lên
tận Trấn Nam Quan. Bờ tường thành này bên trong là đất Trung Quốc,
ngay bên ngoài là Bắc bộ Đông Dương”.
Từ cao
điểm như trong h́nh ta thấy rơ vị trí lô cốt như đă xem qua h́nh B2.
Có khả năng lô cốt đă xây dựng trên một nền kiến trúc cổ xưa của
Việt Nam . Và c̣n “Suối Phi Khanh” nơi thấm lệ của Nguyễn Trăi, có
ai nhận ra chưa?…Nước mắt!
Phụ
ảnh: Liên quân Pháp-Việt (trường Sĩ quan Đồng Đăng) Những
người bảo vệ Ải Nam Quan thất thủ trước quân Nhật
(25.09.1940)
F2.Cột Mốc Số 18 Do quân đội Nhật
Bản chụp tháng 7 năm 1940 ngay tại tường thành Trấn Nam Quan. Cột
mốc số 18 lịch sử xác định biên giới Trung-Việt vào năm 1887. Xác
định lănh thổ bảo hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương và cũng là
khởi điểm Nam tiến của quân đội Thiên Hoàng giao tranh với các nước
Châu Âu. Trên Cột mốc số 18 ta đọc được: “Trung Việt Quốc Giới, Trấn Nam Quan
Ngoại, Đệ Thập Bát Hiệu - No.18
FRONTIERE”
F3. Bản đồ vị trí Trấn Nam Quan và cột
mốc số 18 Do chính quyền Tưởng Giới Thạch họa vào năm Dân Quốc 13
(1925). Khu vực Trấn Nam Quan và cột mốc số 18 (có đóng
khung)
F4. Hữu Nghị Quan (tên gọi cổng Nam Quan
do Trung Cộng đặt ra vào năm 1965) Đây là một bằng chứng sống
động nhất cho kết qủa “bác cháu ta cùng giữ nước” trong thời cộng
sản cầm quyền tại Việt Nam. Ảnh do cựu chiến binh Trung Cộng (tham
gia chiến tranh biên giới Trung-Việt 1979) chụp vào năm 2005. Các
vạch và khung đánh dẩu trên ảnh là của tác giả ảnh và được giải
thích như sau.
“H́nh trên là từ trên núi Kim Kê chụp xuống.
Bên trái là Hữu Nghị Quan, ṿng tṛn màu vàng là cao điểm tranh chấp
Trung-Việt, hiện thời do quân ta khống chế; Vùng màu xanh lá cây
h́nh tam giác là khu vực gài địa lôi. Vạch dài màu tím là con đường
sắt qua lại với Đồng Đăng. Vùng trắng giữa h́nh có hai cửa đường hầm
là điểm cuối của cao tốc Nam Ninh đến Bằng
Tường”
Nguyên văn:
上图]这是在金鸡山上往下拍的。左侧是友谊关,黄圈部分为中越有争议的高地,目前为我军控制;草绿色的三角为雷区
,蓝线是通往同登的铁路。图片中间灰白处有两个遂道洞口为南宁至凭祥高速公路的终点站。
Tôi
xin thuyết minh thêm. Núi Kim Kê là cao điểm chiến lược nằm ở cánh
trái cổng Nam Quan, ngay vị trí chụp ảnh của tên cựu chiến binh này
chính là đất Việt Nam. Khu vực tam giác trong
h́nh chính là khu vực của cột cây số Km0 của Việt Nam là
nơi mà vào đầu tháng 7.2007, phía Trung Cộng đă tuyên bố hoàn tất gỡ
bỏ tấm đạn địa lôi (ḿn) cuối cùng, bảo đảm thông thương an toàn cho
“vùng Hữu Nghị, Ḥa b́nh vạn tuế!”. Trong các h́nh ảnh của chương
tiếp theo ta sẽ rơ hơn về vị trí này. Ở đây ta đă có khái niệm về
việc Ải Nam Quan đă mất trong cự ly ra sao! Việc mất lănh thổ qủa là
nghiêm trọng! không phải là 100m, 150m, hoặc 200m. Cự ly trong h́nh
có thể tính bằng Km! Hai lỗ đen gần giữa tâm h́nh là đường ra vào
của cao tốc Nam-Hữu (Nam Ninh-Hữu Nghị Quan với chiều dài 179.2 Km.
Nam Hữu khởi công vào ngày 28.04.2003 và chính thức khai thông vào
ngày 28.12.2005, cũng là đường quốc lộ số 322 của Trung Cộng với
điểm tận cùng giáp với Km0 của QL1 Việt Nam. Một âm mưu mới hơn đang
h́nh thành!). Như ta thấy, cả một vùng đồi núi của Việt Nam đă
bị Trung Cộng ngang nhiên san bằng và xây dựng công tŕnh trong
nhiều năm, vẫn không hề có một chút phản ứng nào của bọn cầm quyền
CSVN. Hay nói đúng hơn là đă có một sự thỏa thuận nhượng Ải Nam Quan
từ hàng chục năm trước?
F5. Ảnh chụp vệ tinh vị
trí của Hữu Nghị Quan Khu vực Hữu Nghị Quan (đóng khung) so với
đường biên giới Trung-Việt màu vàng. Ảnh do cựu chiến binh Trung
Cộng thiết kế để mô tả lại chiến trận biên giới Trung-việt năm 1979.
Lúc này, Hữu Nghị Quan đă nằm sâu trong đất Trung Cộng từ đời…Hồ Chí
Minh!
…
“Con đê đầu khấn lạy Chư Phật
mười phương…” Ải Nam Quan đă mất, Đất thiêng đă mất! Có ai c̣n
nhớ Phi Khanh-Nguyễn Trăi?
Chân Mây
Sẽ c̣n rất nhiều h́nh
ảnh trong chương tiếp theo:
Chương II: “Kẻ
Bán Ải Nam Quan và Km Zéro ô nhục!”
Kẻ bán
Ải Nam Quan là ai? Kẻ bán Ải Nam Quan và bán luôn cả cơ đồ dân
tộc Việt Nam cho Trung Cộng chính là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng.
Máu bán nước ăn sâu vào từng đời của bọn lănh đạo CSVN. Để chứng
minh rơ ràng những tội lỗi của bọn bán nước buôn dân này vẫn c̣n
những h́nh ảnh làm tang chứng. Hăy tiếp tục xem…
Giai đoạn
1938-1945, Hồ Chí Minh hoạt động “cách mạng” tại Quảng
Tây.
Năm 1945 thực hiện cướp chính quyền tại Việt Nam.
Năm 1950
tiếp tục sang Trung Cộng mưu cầu viện trợ vũ khí lương thực kháng
Pháp.
(HCM bí mật sang Quảng Tây ngày 16.01.1950. HCM là
người trùm khăn đứng thứ hai bên phải h́nh)
Việc qua
lại giữa hai Đảng CS Trung-Việt liên tục diễn ra tại cổng Nam Quan.
Tháng 10 năm 1953, Chánh Vụ Viện Trung Cộng đổi tên cổng Nam Quan
thành “Mục Nam Quan” (chữ “Mục” có nghĩa là: ḥa thuận, ḥa hợp,
thân mật, thân thiết…), đồng thời cả hai chính phủ Trung-Việt thành
lập Ủy Ban Cửa Khẩu Mục Nam Quan. Cùng năm, thỏa thuận theo Chánh Vụ
Viện Trung Cộng, Việt Nam mở cửa tự do cho hai cửa khẩu B́nh Nhi –
Nam Quan. Năm 1953 đă có 276.000 lượt qua lại cổng Nam Quan giữa hai
bên.
(HCM bang giao với TC tại cổng Nam Quan trong
những năm 1950)
Tháng 2
năm 1954, hai bên chính phủ Hà Nội-Bắc Kinh soạn ra “Hiệp Định Mậu
Dịch Biên Giới”.
Ngày 26.09.1954, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn
đại biểu CSVN xuất phát từ cổng Nam Quan tham dự hội nghị tại Nam
Ninh.
Ngày 10.11.1954, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại
giao VN là Phạm Văn Đồng đi từ cổng Nam Quan sang Bằng Tường tiếp
tục đi Bắc Kinh ra mắt Chu Ân Lai.
Ngày
26.02.1955, khánh thành tuyến đường sắt Hà Nội-Trấn Nam Quan. Hồ Chí
Minh đọc diễn văn chúc mừng tại cổng Nam Quan.
(HCM và
CÂL yến tiệc xa hoa tại Bắc Kinh tháng 06.1955)
Tháng
12.1958, hai huyện Ninh Minh, Long Tân kết hợp với Bằng Tường (Trấn
Bằng Tường) thành lập huyện Mục Nam.
CSVN phản ứng! Ngày
27.04 đến 02.05.1959, Trung-Việt hội nghị vấn đề biên giới tại Bằng
Tường. Ngày 10.05.1959, chính phủ Trung Cộng quyết định xóa bỏ đơn
vị “huyện Mục Nam”. Ninh Minh, Long Tân , Bằng Tường trở về đơn vị
hành chính cũ.
Ngày 04.09.1959, Chu Ân Lai đáp máy bay đến
Bằng Tường hội đàm cùng Hồ Chí Minh vấn đề biên giới
Trung-Việt.
Năm 1960, Phạm Văn Đồng trồng cây si để làm mốc
cho Km0 của Việt Nam.
(Cây si do PVĐ trồng (?) nh́n từ bên
phía VN. Vị trí tương ứng với khoảng cách của tường thành cổng Nam
Quan cũ bên VN)
(Cây si
PVĐ nh́n từ bên cổng Hữu Nghị Quan của TC)
(Cây si
PVĐ nh́n từ trên lầu thành Hữu Nghị Quan. Cụm nhà trắng là Hải Quan
TC xây lại trên nền "nhà tṛn". Xa thẳm bên kia là cột Km0 hiện
tại)
Ngày
09.04.1961, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh “hội đàm” tại lầu 2 của cổ
thành Mục Nam Quan. “Hội đàm” về nội dung ǵ th́ cả hai bên đều
không công bố. Chỉ biết rằng cuộc “hội đàm” mờ ám tại Mục Nam Quan
của hai lănh đạo cộng sản Trung-Việt được viết trong sách giáo khoa
của bọn Trung Cộng là “mở ra một trang sử mới cho quan hệ
Trung-Việt”.
(Lầu 2 tại Mục Nam Quan với nguyên trạng
cuộc "hội đàm" giữa CÂL và HCM)
(H́nh
ảnh HCM và các lănh đạo CSTC trưng bầy)
(Bảng
vàng ghi lại sự kiện)
Ngày
05.03.1965, Quốc Vụ Viện Trung Cộng và chính phủ CSVN cử hành lễ đổi
tên “Mục Nam Quan” thành “Hữu Nghị Quan”. Tham dự phía bên Việt Nam
có Tổng lănh sự VN trú tại Nam Ninh và đoàn chính phủ VN đến từ Lạng
Sơn.
…Và kể từ sau đó, chính phủ CSVN đă dâng trọn Ải Nam
Quan cho Trung Cộng để tiếp nhận viện trợ vũ khí tiến đánh miền
Nam-Việt Nam Cộng Ḥa.
(Hữu Nghị Quan năm 1965. Biểu ngữ
của TC và h́nh Mao Trạch Đông phơi vào phần lănh thổ
VN)
(So
sánh với h́nh ảnh Mục Nam Quan năm 1959. Đoàn đại biểu CSTC lễ phép
chụp ảnh tại cổng Nam Quan bên phía VN)
(Năm 1966. Công
binh xây dựng đường sắt Trung-Việt tại Hữu Nghị Quan tuyên thệ trước
khi vào VN làm nhiệm vụ)
(Thiết đạo binh: công binh đường sắt TC giả
dạng bộ đội VN)
(Năm 1966. Quân chính qui TC giả dạng bộ đội
VN tuyên thệ tại Hữu Nghị Quan. Hướng về TC đồng thanh hô lớn:
"Quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Nguyện mang vinh quang trở về!".
Trong ảnh là Sư đoàn 62 Cao Xạ TC)
(Tham gia tra tấn tù binh Mỹ tại
VN)
(Tham gia bắt sống phi công Mỹ tại VN. Người
cầm ảnh là cựu chiến binh TC tham chiến tại VN )
(Huy chương "Đoàn Kết Chiến Thắng Giặc Mỹ"
do chính HCM kư tặng)
(Hoặc do PVĐ ban thưởng)
(Năm 1968, hai bác Hồ - Mao đi từ Ải Nam
Quan cùng mang vũ khí vào gây tang tóc cho dân miền Nam
VN)
Thành thật cảm ơn chân t́nh của anh .
Hai mươi năm máu lửa trên quê hương ḿnh và một quân đội VNCH
thân thương, chính nghĩa v́ dân v́ nước không thể nào làm tôi quên
được anh à . Các anh các chị cũng vậy thôi. Tất cả là đền cho máu lệ
của chiến hữu Cộng Ḥa! Và chúng ta không thể nào lặng câm nh́n quê
hương buồn bă măi như thế. Nghĩa khí dân tộc lụn bại, đạo đức dân
tộc suy đồi khi vẫn c̣n chịu sự cai trị của bọn độc tài cộng sản .
Tôi vẫn đồng hành cùng các anh chị trên con đường tranh đấu cho quê
hương Việt Nam không cộng sản!
"Nam man! Ta cho ngươi cơm ăn, áo mặc, ta cho ngươi súng
đạn, nhưng chính ngươi đă lấy súng đạn bắn vào da thịt ta!”
(người anh em đồng chí TC nói!)
Hoa
Kiều tại Việt Nam bị cưỡng chế hồi hương năm 1978
Ngày 25.08.1978, khoảng trên 200 quân Việt
Nam dùng vũ lực bắt buộc Hoa kiều phải hồi hương đi vào khu vực Hữu
Nghị Quan. Lúc 17g30 cùng ngày, ngay trước cổng Hữu Nghị Quan, quân
Việt Nam đánh chết 6 người, 82 người bị thương, 15 người chạy thoát.
Công tác viên phía Trung Cộng lên tiếng cảnh cáo và xung đột đă xảy
ra giữa hai bên cán bộ Trung-Việt. Ba ngày sau, quân Việt Nam tiếp
tục tràn lên vùng biên giới t́m kiếm những Hoa kiều đang bỏ trốn…
Chiến tranh biên giới Trung-Việt bắt đầu từ đây, cuộc chiến mà Trung
Cộng lấy cớ “tự hào” là “Tự Vệ Phản Kích”. Ải Nam Quan thêm một lần
nữa chứng kiến xung đột Trung-Việt. Nhưng từ sau cuộc chiến này,
Trung Cộng đă đẩy lui lănh thổ Việt Nam ra khỏi Ải Nam Quan và bỗng
xuất hiện cột mốc có tên gọi “Km0” thần thoại, nằm cách xa cổng Nam
Quan hàng trăm thước.
Dấu đạn giao tranh Trung-Việt
trên khắp tường thành "Hữu Nghị Quan"
Trung Cộng ca khúc khải hoàn trở về cổng
Hữu Nghị Quan sau chiến thắng
Ngày 28.05.1980, Trung-Việt tiến hành
trao trả tù binh tại "Km0" trên đường Đồng Đăng dẫn vào khu vực Hữu
Nghị Quan
Phụ
ảnh tham khảo "Cột Mốc Số 18" giả mạo (?)
Đây
là "Cột Mốc Số 18" mà TC cho rằng đă đặt tại cổng Nam Quan. Khác với
"Cột Mốc Số 18" theo Hiệp ước Pháp-Thanh (đă tŕnh bầy nơi chương
I). Trên cột mốc này khắc rằng: "BORNE.18 ANNAM-CHINE, Đệ Thập Bát
Bài, Đại Pháp Quốc Việt Nam, Đại Trung Hoa Dân Quốc Vân Nam". Lịch
sử nào ghi rằng Pháp thay mặt VN kư kết Hiệp ước Biên giới với chính
quyền của Tưởng Giới Thạch? Loại cột mốc này là cùng kiểu với cột
mốc số 53 tại khu vực Thác Bản Giốc. Những cột mốc thật sự của Hiệp
ước Pháp-Thanh đă tiêu biến nơi đâu ? Không ai biết rơ hơn biên giới
Trung-Việt bằng Đảng CSVN, nhưng họ có nói ǵ không về hiện tượng
này? Lặng câm! Ta nên nhớ, trong đề cương của Đảng CSVN do HCM soạn
ra vào năm 1940 đă chủ trương một cách mù quáng: "Không công nhận
bất cứ văn kiện, hiệp ước nào của thực dân Pháp thay mặt VN kư kết
với quốc gia khác!"
Sự
ra đời của “Km 0” cho đến nay vẫn rất khó hiểu. Theo “truyền
thuyết”, “Km 0” ra đời vào năm 1960 và Phạm Văn Đồng đă trồng cây si
để đánh dấu vị trí. Có thực sự là PVĐ trồng cây si để đánh dấu vị
trí biên giới Trung-Việt hay không? Hay chỉ đơn thuần là việc trồng
cây kỷ niệm một sự kiện nào đó? (thói màu mè của CSVN). Năm 1958,
chính tay PVĐ đă kư văn bản dâng biển cho Trung Cộng, bản đồ Bắc
Việt th́ Đảng CSVN dâng cho Trung Cộng vẽ, trong thời điểm lệ thuộc
sự viện trợ của Trung Cộng th́ làm sao nói chuyện căng thẳng biên
giới, lănh hải được. C̣n cây si là cây si nào? Cây si thuộc loại cây
nhiệt đới có sức tăng trưởng và phát tán rất nhanh. Không thể nào
cho rằng cây si mà PVĐ trồng là cây si đứng sau cột “Km0”. Hăy xem
h́nh (so sánh với cây si trước cổng HNQ ở chương
II).
Năm 1979, hai tên Trung Cộng đang chỉ vào vị trí
cột mốc “Km0”. Cỏ cây rậm ŕ, một gốc cây nhỏ phía sau (cây si từ
năm 1960?). Phải chăng vị trí cột mốc chẳng phải bị di dời đi hàng
trăm thước nào cả. Nó đă nằm đó từ những năm 1960, như một thỏa
thuận “hữu nghị” khi HCM dành trọn Ải Nam Quan để tiếp nhận vũ khí
của TC gây máu lửa trên miền Nam Việt.
"Km0" trong những năm 1990. Biên pḥng VN
đứng gác nhưng quay mặt về phía VN. Đáng nể!
"Km0" trong những năm đầu 2000, khi đang xây
dựng lại cảnh quan "Hữu Nghị" và kế hoạch cao tốc Nam-Hữu . Lúc này
trên cột c̣n ghi "Hữu Nghị Quan" và "cây si PVĐ" c̣n
đó
"Cây si PVĐ" bị đốn bỏ dă man vào năm 2005.
Cột mốc cũng chỉ c̣n chữ "Hữu Nghị". Đảng CSVN không dám nhận thêm
chữ "Quan". Xóa bỏ vĩnh viễn lịch sử để làm vừa ḷng đàn anh
TC!
"Km0" của VN trơ trọi so sánh với bia đá
"Nam Cương Quốc Môn" của Trung Cộng phía sau . Ở vị trí này ta không
c̣n thấy cổng Nam Quan!
"Km0" trong những ngày năm
2006.
Gần
lại một chút . Hành lang trắng bên tay phải dẫn vào khu vực Hải quan
TC.
Nh́n sang bên phải để thấy rơ hơn cổng đường
hầm cao tốc Nam-Hữu và Cổng kiểm soát của Hải quan
TC.
Ngang với "Km0" là giao điểm Quốc lộ 322
(điểm cuối) của TC và Quốc lộ 1A (điểm khởi đầu) của
VN!
"Trung Quốc Quốc Đạo 322 Chung Kết
Điểm"
Nh́n sang VN. Đi thêm khoảng 100m nữa mới
tới Cổng kiểm soát của Hải quan VN. Khoảng cách "thủ lễ" đă xuống
dưới chân Ải Nam Quan trong thời cộng sản. Không c̣n nằm trước mặt
cổng Nam Quan như ngày xa xưa. Đúng vậy! Ải Nam Quan nào là của VN?
Bọn Ô nhục!
Hàng trăm thước đất của Ải
Nam Quan là cả một đoạn đường dài hàng ngàn năm lịch sử của Việt
Nam, nơi mà tổ tiên Trung Cộng phải bao lần cay đắng nuốt hận…Đất
biển tổ tiên mất qúa dễ dàng! Đảng CSVN vẫn một mực nói như Trung
Cộng, công nhận lănh thổ bắt đầu từ cột “Km0”. Đảng CSVN đă chà đạp
lên hồn thiêng sông núi, thay ngọai bang thảm sát dân tộc, giết chết
lịch sử quê hương!
Ngày 18.10.2005,
Việt cộng TT Nguyễn Tấn Dũng ra đón khách Trung Cộng ngay tại Km0.
Ôi, tư cách của một TT? Hai tay xun xoe chào đón quan thầy Trung
Cộng. Không ai trong đám cộng sản thời đại này c̣n "bản lĩnh" đi qua
lại Cổng Nam Quan để đón khách như Hồ Chí Minh của những năm 1950.
Vẫn cười đấy! Hèn mọn, bé nhỏ là thế!
Ngày 28.12.2005, cao tốc Nam Hữu chính thức
khai thông nối vào khởi điểm Quốc lộ 1A của Việt Nam
Những người dân quê Đồng Đăng bị bắt đứng ra
chụp h́nh ngay tại giao giới biên cảnh Trung-Việt. Họ đứng trên khởi
điểm của QL 1A như làm nhân chứng cho lịch sử bán nước của Đảng
CSVN. Những khuôn mặt muộn phiền, ngơ ngác.
Ngay cả những đứa bé Trung Cộng mù ḷa cũng
được nắm tay cho sờ vào thành tích của cha ông chúng! C̣n người
Việt Nam? Có ai dám cảm tử cầm máy ảnh ra chụp tại khu vực này hay
không? Thi nhân Bùi Minh Quốc bị cấm cố v́ tấm h́nh ôm cột mốc
Trung-Viêt. Nhà báo Điếu Cày có mấy tấm chụp tại Thác Bản Giốc mà
giờ c̣n nằm trong Chí Ḥa. Và tôi cũng từng bị biên pḥng VN hành
hung khi tay lăm le chiếc máy ảnh nơi vùng biên cảnh "Hữu
Nghị"!
Khách du lịch Trung Cộng thảnh thơi qua lại,
nhàn nhă như ở nhà. Chụp h́nh ư? Chuyện nhỏ! Đố tên biên pḥng VN
nào dám làm khó dễ!
Bước một bước là qua đến VN! Hai con xẩm
trong góc có khung là vị trí của Km0 Ô nhục!
Đứng hai chân trên biên
giới!
Chụp các kiểu!
Và
ngồi lên "Km0" của bọn Nam man! Chúng ta là chủ nhân của lănh thổ
VN!
Hải
quan hai bên Trung-Việt trao đổi công tác tại Km0 (tháng
04.2007)
Những hoạt động của Trung Cộng tại Ải Nam
Quan ngày càng rầm rộ, hoành tráng. Từng đợt học sinh trên các miền
được đưa về Hữu Nghị Quan để nghe giáo dục về ḷng yêu
nước!
Cựu
chiến binh trong chiến trận biên giới Trung-Việt hành
hương
Thế
hệ nào của Việt Nam sẽ được tường tận sự ô nhục này. Việc đ̣i hỏi
Trung Cộng trả lại vùng đất thiêng của tổ quốc Việt Nam không phải
dễ dàng! Sẽ lại đổ máu như hàng trăm năm trước! "Tổ Quốc
Tại Ngă Tâm Trung" (Tổ quốc trong tim ta)
Tháng 11 năm 2007, kỷ niệm 50 năm thành lập
khu tự trị Quảng Tây. Có cả đại biểu VN tham dự, ngồi trên mảnh đất
tổ tiên bị ngoại bang xâm chiếm không biết họ nghĩ gi? Hay là họ vẫn
cười?
Vận
động trong sạch môi trường biên cảnh Trung-Việt. Bản đồ VN đă nối
vào khu tự trị Quảng Tây!
...Và
rất nhiều h́nh ảnh khác nữa nhưng tôi sẽ tiếp tục dành cho "Chương III: Du lịch Hữu Nghị Quan"