THIỆN
GIAO
Buổi ra mắt
tác phẩm nghiên cứu lịch sử
về chiến tranh Việt Nam của
giáo sư Andew Wiest tại
thành phố Falls Church có
thể được xem là cơ hội để
những người bạn cũ, những
đồng đội cũ, của 40 năm
trước gặp lại nhau. Họ có
thể là những mảnh vụn, bị
phân tán khắp nơi sau khi
chia tay, để rồi, với tác
phẩm nghiên cứu của Wiest,
họ lại được sắp vào nhau như
một khoa học ghép h́nh, góp
phần tái lập lại h́nh ảnh
đúng đắn hơn cho một quân
đội, theo lời giáo sư Wiest,
gần như chưa bao giờ được
thế giới Tây Phương thừa
nhận và đối xử công bằng.
*Cuộc chiến không thể diễn
tả hết bằng giấy mực
Thành phố Falls Church, ngày
17 tháng Hai, năm 2008. Tại
buổi lễ ra mắt tác phẩm
nghiên cứu lịch sử của giáo
sư Andrew Wiest. Tác phẩm có
tên “Vietnam’s forgotten
Army. Heroism and betrayal.
”
“Hăy cho tôi giải thích tại
sao tôi viết cuốn sách này.
Tôi chỉ mới 14 tuổi khi Sài
G̣n thất thủ, c̣n quá trẻ
cho cuộc chiến Việt Nam!
Nhưng tôi đă nh́n thấy cuộc
chiến ấy mỗi ngày, trên tivi,
trong ánh mắt những thanh
niên Hoa Kỳ đàn anh trở về
từ chiến trường Việt Nam,
trên khuôn mặt những người
Việt Nam được các nhà thờ
trong địa phương bảo trợ
sang Hoa Kỳ sau cuộc chiến.
Nhưng tôi cũng nhận ra một
điều: không một ai có thể
giải thích cuộc chiến ấy!
Đối với tôi, đó là một bí ẩn.
Và chắc hẳn, đó cũng là bí
ẩn trung tâm của thế hệ
chúng tôi. Và tôi quyết định
đi t́m câu trả lời. ” (Tiến
sĩ Andrew Wiest)
Andrew Wiest, giáo sư sử học,
Giám Đốc Trung Tâm Nghiên
Cứu Chiến Tranh và Xă Hội
tại đại học Southern
Mississippi tŕnh bày nguyên
ủy ra đời của tác phẩm “Quân
Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Một
Quân Đội Bị Quên Lăng. Anh
Hùng và Kẻ Bội Phản. ”
Đối với Andrew Wiest, chiến
tranh Việt Nam là một lớp
học không có giáo sư, một
cuốn sách không có tác giả,
một điều cấm kỵ mà dường như
hầu hết người Mỹ muốn quên
đi.
Wiest không chọn thái độ đó,
và ông quyết định một phương
pháp giảng dạy mới. Đó là,
mời các cựu chiến binh đến
giảng bài, và sau đó, chính
ông đưa họ cùng các sinh
viên sang Việt Nam, để t́m
hiểu chiến trường của hơn 30
năm trước, và cũng để đi t́m
diện mạo của một quân đội mà
ông gọi là “bị bỏ quên. ”
“Trong thời gian ở Việt Nam,
tôi gặp một người đàn ông có
tên là Phạm Văn Đính, đă
tham gia chiến tranh Việt
Nam. Qua câu chuyện ông ta
kể, tôi thấy ông ta là một
bí ẩn. Tôi tin rằng, tôi sẽ
cần phải nói chuyện với ông
ta nhiều hơn nữa để học hỏi.
Sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi
hỏi rất nhiều người về Phạm
Văn Đính. Tất cả đều nói,
nếu tôi muốn biết nhiều hơn
về Đính, có một người có thể
kể cho tôi. Người đó tên là
Trần Ngọc Huế, đă kết thúc
cuộc đời binh nghiệp theo
một con đường hoàn toàn khác
Phạm Văn Đính. ”
Và cuốn sách ra đời. Tác
phẩm của Wiest là một công
tŕnh thuần túy lịch sử,
nhưng cấu trúc được xây dựng
lạ lùng, và chủ đề được tiếp
cận nhân bản.
*Cuộc gặp gỡ định mệnh
“Anh Hùng và Kẻ Bội Phản”
cũng đầy những con số, địa
danh, tên gọi, tổn thất.
Nhưng “Anh Hùng và Kẻ Bội
Phản” không lạnh lùng, vô
cảm. Tác phẩm được xây dựng
trên 2 nhân vật chính, có
thật, hoàn toàn có thể kiểm
chứng trực tiếp hoặc gián
tiếp. Hai nhân vật có tên
Phạm Văn Đính và Trần Ngọc
Huế.
Cả hai gặp nhau trong một sự
sắp xếp trớ trêu của định
mệnh. Trước hết, họ là đồng
hương, là người Huế, và cùng
yêu cố đô với t́nh cảm mănh
liệt. Cả hai đều chọn binh
nghiệp. Sĩ quan Phạm Văn
Đính, sinh năm 1937, tốt
nghiệp trường Vơ Bị Thủ Đức,
sĩ quan Trần Ngọc Huế, sinh
năm 1942, tốt nghiệp Trường
Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Con đường binh nghiệp của cả
hai sĩ quan trẻ gặp nhau tất
cả 5 lần.
Bốn lần đầu, trong vinh
quang, khi cả hai cùng liên
tiếp được thăng cấp rất
nhanh trong vai tṛ sĩ quan
tác chiến. Sự gan dạ và các
chiến tích của họ được tác
giả cuốn sách gọi là “Thời
Đại Của Những Anh Hùng. ”
Hắc Báo Trần Ngọc Huế

Lần gặp thứ năm, cũng là lần
cuối cùng, cả hai không thể
lường trước, về hoàn cảnh,
về địa điểm, và cả tư thế.
Lần gặp này, một trong hai
người sẽ phải ân hận cho đến
cuối đời.
*Một quân đội anh hùng
Tạm rời câu chuyện của Phạm
Văn Đính và Trần Ngọc Huế để
trở lại hành tŕnh t́m hiểu
chiến tranh Việt Nam của tác
giả Andrew Wiest.
“Không như những ǵ thế giới
Phương Tây đă nghĩ, miền Nam
Việt Nam đă chiến đấu cực kỳ
anh dũng trong 20 năm. Anh
dũng hơn cả những ǵ mà thế
giới Tây Phương, cho đến
thời điểm này, vẫn viết, vẫn
tin và vẫn h́nh dung. Trong
các trận đánh, từ chiến
trường nhỏ trước Mậu Thân,
và mở rộng ra sau đó, họ đă
chiến đấu rất can đảm và
hiệu quả. ”
Wiest, ở tuổi 14 khi chiến
tranh kết thúc. Có thể xem
Wiest là thế hệ hậu chiến.
Wiest, tại sao bị ám ảnh bởi
cuộc chiến? Cuộc chiến tranh
Việt Nam là vậy. Hăy nghe
nhận định của giáo sư Nguyễn
Ngọc Bích, một diễn giả
trong buổi ra mắt sách.
“Những câu chuyện thân t́nh
mà Trung Tướng William Bolt
vừa kể về Trần Ngọc Huế cho
thấy ông tin rằng Huế đă
chết, thế mà đột nhiên ông
ta lại xuất hiện. Cuộc chiến
Việt Nam là như vậy. Khó
hiểu thật.
Tôi thuộc vào thế hệ chiến
tranh, và tôi không thể lấy
cuộc chiến ấy ra khỏi đầu
tôi, rơ ràng là như vậy. Thế
nhưng những thế hệ trẻ hơn,
chẳng hạn giáo sư Wiest, tác
giả cuốn sách này, th́ rơ
ràng, cuộc chiến Việt Nam
lại quay về, và ám ảnh chúng
ta. ” Hăy quay trở lại với
hai sĩ quan trẻ Trần Ngọc
Huế và Phạm Văn Đính. Hăy
h́nh dung chiến trường
Tchepone, Hạ Lào, gần 40 năm
về trước.
Một đêm cuối tháng Ba năm
1971, trong khuôn khổ chiến
dịch Lam Sơn 719, Trần Ngọc
Huế lúc đó đang ở Tchepone,
bị thương và ngất lịm. Ông
ra lệnh cấp dưới mở đường
máu thoát thân, để ông lại
trận địa nhằm tránh gây cản
trở trên đường tháo lui.
“Giấc Mơ Bị Vỡ Vụn, ” là tên
của chương sách nói về
trường hợp sĩ quan Trần Ngọc
Huế bị bắt làm tù binh.
Về phần Phạm Văn Đính, trong
giai đoạn cuối của hành quân
Lam Sơn 719, được lệnh đưa
đơn vị đến Khe Sanh để yểm
trợ và đóng cửa căn cứ. Ṿng
vây Bắc Việt xiết chặt, t́nh
thế hiểm nghèo. Phạm Văn
Đ́nh 2 lần nhận được yêu cầu
của phía Bắc Việt: Đầu hàng
để được toàn mạng. Trung tá
Phạm Văn Đính quyết định đầu
hàng, ở tuổi 35, khi c̣n 2
tháng nữa th́ được vinh
thăng đại tá. “Kẻ Bội Phản”
là chương sách nói về trường
hợp của trung tá Phạm Văn
Đính.

Một năm sau, tại một trại tù
binh ở Sơn Tây, trung tá
Đính và thiếu tá Huế gặp
nhau lần thứ năm. Huế bàng
hoàng nhận ra, trung tá Đính
của quân lực Việt Nam Cộng
Ḥa ngày nào, bây giờ đă là
trung tá Đính quân đội nhân
dân, đến gặp, nói chuyện và
tế nhị chiêu dụ thiếu tá Huế
hợp tác với miền Bắc. Th́
ra, chỉ một thời gian ngắn
sau khi trung tá Đính đầu
hàng, ông đă quyết định đổi
bộ quân phục, hợp tác và
được chuyển ngang cấp bậc
sang phía quân đội Bắc Việt.
Thiếu tá Huế từ chối hợp
tác, bị giam đến năm 1973,
có tên trong danh sách trao
đổi tù binh theo Hiệp Định
Paris. Ông được đưa đến địa
điểm trao đối tù binh thuộc
tỉnh Quảng Trị, có thể nh́n
thấy cảnh cũ ở bên kia biên
giới, tay đă chạm vào tự do,
và rồi, một sĩ quan Bắc Việt
tiến đến, nói rằng Huế bị
bắt tại Lào nên không phải
là tù binh của Bắc Việt. Ông
không được trả tự do.
Năm 1983, thiếu tá Huế ra
tù, về sống tại Sài G̣n, sau
đó sang Hoa Kỳ và định cư
tại thành phố Falls Church,
tiểu bang Virginia, cho đến
nay.
Trung tá Phạm Văn Đính th́
đă qua đời hồi năm ngoái,
tại Việt Nam, sau một lần
sang Hoa Kỳ để trả lời phỏng
vấn của tiến sĩ Wiest, tác
giả cuốn sách đang được nói
đến. Tại đây, những đồng đội
ngày xưa, tức những kẻ thù
bây giờ, kể cả các cố vấn
Hoa Kỳ, từ chối gặp mặt ông.
*Lịch sử không công bằng
Tác giả Wiest khẳng định,
quân lực Việt Nam Cộng Ḥa
là một quân lực bị bỏ quên.
Trong tư thế một sử gia,
Wiest khẳng định, bằng chính
nghiên cứu của ḿnh, rằng
quân lực Việt Nam Cộng Ḥa
là một quân lực anh dũng, đă
chiến đấu trong cuộc chiến
20 năm để bảo vệ tự do.
Quân lực ấy có rất nhiều anh
hùng, nhưng không được lịch
sử đối xử công bằng. Wiest
nói, Tây Phương chỉ viết về
chiến tranh Việt Nam như một
cuộc chiến chỉ có người Hoa
Kỳ đánh nhau. Thực tế không
phải như vậy, và càng không
phải như vậy khi người Hoa
Kỳ rút khỏi Việt Nam. Hăy
nghe thiếu tướng Creighton
Abrams, con trai cố đại
tướng Abrams nhắc lại những
ǵ thân phụ ông suy nghĩ.
“Một sĩ quan người Anh đă
phát biểu về cha tôi, rằng
Abrams giỏi lắm, rất giỏi.
Đáng lư ra ông ta phải có
một cuộc chiến tốt hơn. Tôi
không đồng ư với nhận định
ấy. Đến hôm nay tôi vẫn tin,
cũng như cha tôi đă từng
nói, quân đội miền Nam Việt
Nam đáng cho những ǵ tốt
nhất mà ông đă ra công. Và
ông thấy hănh diện đă từng
cùng họ phục vụ một cuộc
chiến mà kết thúc cuối cùng
không như mong muốn. ”
Để kết thúc, xin được giới
thiệu trích đoạn trong lời
đề tựa trên tác phẩm “Anh
Hùng và Kẻ Bội Phản. ” Lời
đề tựa do thượng nghị sĩ
James Webb, cựu Bộ Trưởng
Hải Quân, và cũng là cựu
chiến binh Việt Nam, viết,
có đoạn đại ư như sau:
Câu chuyện của Phạm Văn Đính
và Trần Ngọc Huế không phải
là những câu chuyện dễ cảm
nhận. Điều quan trọng không
phải là nh́n vào một Việt
Nam vươn ḿnh từng năm một
vào cộng đồng thế giới. Để
hiểu được hai hành tŕnh
trái ngược này, phải nh́n
vào một Việt Nam những ngày
đầu thoát ra khỏi bóng tối
của cuộc chiến.
Hăy nh́n như vậy, để cảm
nhận một Trần Ngọc Huế chiến
sĩ dũng cảm, trả giá đắt cho
ḷng trung thành nhưng chẳng
bao giờ phải trả lời câu hỏi
về danh dự. Trong khi đó,
con đường mà Phạm Văn Đính
đă chọn, ít đau đớn hơn,
nhưng lại trở nên phức tạp
hơn ở hồi kết thúc. ”
Tác giả Wiest nói rằng, sự
chọn lựa của hai nhân vật
chính, nhất là quyết định
“thay đổi bộ quân phục” của
Phạm Văn Đính, sẽ do chính
độc giả tự đánh giá. Mục
đích của Wiest là, thông qua
câu chuyện của hai sĩ quan
này, tŕnh bày lại sự thật
về một quân đội quả cảm
nhưng bị đối xử thiếu công
bằng về mặt lịch sử.
Mà đó cũng là công việc của
Wiest, một sử gia. Có người
đă từng phát biểu, rằng
“không có sử gia, sự thật sẽ
vĩnh viễn nằm trong bóng
tối. ”
Andrew Weist, thông qua “Anh
Hùng và Bội Phản, ” đă phần
nào đưa được sự thật ra ánh
sáng.
THIỆN GIAO, RFA (Washington
19. 2. 2008)