TERENGGANU, Malaysia (VH): Chương trình ngày Thứ Hai, 29 tháng 3,
của đoàn Về Bến Tự Do 8 khá nhẹ nhàng vì ít di chuyển hơn ngày Chủ
Nhật.
Buổi
sáng, sau khi trả phòng, chúng tôi di chuyển lên mạn Bắc thăm chợ
biên giới Malaysia-Thái Lan. Cả đoàn cứ ngỡ chợ biên giới này sầm
uất lắm và sẽ mua được nhiều đồ giá rẻ, thế nhưng, chúng tôi chẳng
tìm được gì ngoài một số trái cây nhiệt đới như sầu riêng và
xoài.
Ngôi chợ không lớn lắm. Trong lồng chợ chính, các gian hàng nhỏ
hẹp bày hàng quàn áo “nhái” chật cứng. Tuy nhiên, số người đi xem
rất thưa thớt. Bên ngoài chợ, những cửa hàng điện tử, hàng gia dụng,
đồ chơià cũng không bắt mắt, rất nhiều hàng là đồ Trung Quốc rẻ
tiền.
Chưa đầy một tiếng đồng hồ, chúng tôi rời chợ biên giới, rồi xuất
phát đến ba khu nghĩa trang thuyền nhân Terengganu A, B và C.
Trong ba khu mộ tập thể này, khu A tập trung gần 1,000 xác thuyền
nhân, kể cả các ngôi mộ tập thể. Hầu hết những thuyền nhân được chôn
tại đây do đắm tàu và bệnh tật, trong đó có một gia đình người Việt
19 người chết một lúc sau khi ăn cháo rắn.
Một ngôi mộ tập thể khác gồm 147 thuyền nhân trên chiếc tàu MH
05. Họ chết khi tàu của họ đã vào được cửa sông Terengganu, nhưng bị
mắc kẹt vào một bãi cát. Một cơn bão mạnh đã đánh đắm tàu của họ, và
người địa phương đã vớt đủ xác số người trên tàu.
Khu B nằm sát cạnh khu A với hơn 50 mộ. Văn Khố Thuyền Nhân Việt
Nam (VKTNVN) đã lập một bia tưởng niệm chung cho những người nằm
xuống tại đây.
Khu C là khu nghĩa trang dành cho người Công Giáo. Không hiểu lý
do gì tại đây có hai ngôi mộ người Việt.
Như
tôi đã trình bày trong bài kỳ 1, trong chuyến đi Về Bến Tự Do 8, có
anh Trần Quý Thức đi tìm mộ người em tên Trần Chí Thành được chôn
tại Terengganu. Ðược sự hướng dẫn của VKTNVN, anh Thức biết em mình
đang nằm tại nghĩa trang Terengganu khu A, và mục đích chính của anh
là mang hài cốt em mình về nhà.
Khi mọi người trong đoàn đang tỏa ra thắp nhang cho những ngôi
mộ, anh Lưu Dân hướng dẫn anh Thức tìm mộ anh Thành. Khi nhìn thấy
tấm bia ghi tên em mình, anh Thức đã gục dầu xuống tấm bia khóc nức
nở. Anh xoa hai tay lên lau tấm bia, như muốn được vuốt mặt em mình.
Chắc hẳn, hình ảnh đứa em 17 tuổi vẫn còn trong tâm khảm, anh ôm đứa
em vào lòng và nói trong nghẹn ngào: “Anh sẽ đưa em về với gia
đình.”
Anh Thức nhớ rất rõ ngày 28 tháng 3, 1982, anh được gọi từ đảo
Bidong ra thành phố dự đám tang em mình. Lúc đó, nghĩa trang này
không có nhiều mộ như bây giờ. Anh chỉ được nhìn mặt em mình lần
cuối, rồi cùng vài người địa phương khiêng quan tài Thành ra chôn.
Sau đó anh phải quay trở lại đảo liền.
Giờ đây, đứng trước mộ em mình, sau khi tinh thần ổn định, anh
Thức nhìn chung quanh như cố gắng lấy lại ký ức khung cảnh hôm đó.
Hai mươi hai năm trôi qua, cảnh vật đã thay đổi nhiều và anh hoàn
toàn không nhận được một chút gì quen thuộc năm xưa.
Mặt
khác, ngày mất của đứa em bị ghi sai trên tấm bia làm anh cũng hồ
nghi không biết đây có phải là em mình hay không. Thế nhưng, sau khi
nói chuyện với anh Lưu Dân và được biết việc ghi sai chi tiết trên
bia xảy ra không chỉ một lần, thì anh Thức yên tâm hơn và gọi điện
thoại về nhà bàn với gia đình.
Buổi tối Thứ Ba, 30 tháng 3 (ngày Malaysia), anh Thức cho biết
sau khi bàn bạc với gia đình nhiều lần, ba mẹ anh đã quyết định
không mang tro cốt Thành về mà sẽ cho xây lại mộ phần của Thành cho
tươm tất. Anh có vẻ buồn nhưng bổn phận làm con, anh không thể làm
trái ý ba mẹ.
Anh Thức đã cho ba mẹ mình biết tất cả thông tin anh có, kể cả
việc có những ngôi mộ đào lên không thấy xác đâu cả.
Tôi hiểu ông bà đã rất khó khăn trong quyết định này. Chẳng ai
muốn con mình nằm lại nơi đất khách quê người cả, thế nhưng có lẽ
ông bà sẽ không đủ sức chịu đựng thêm nỗi mất mát như thế.
Thôi thì, hãy cứ xem như Thành đang được yên nghỉ tại đây, và dù
đường xa vạn dặm, những người hành hương như chúng tôi sẽ thay mặt
gia đình thắp một nén nhang, sưởi ấm linh hồn lạnh giá.
Những linh hồn thuyền nhân sẽ không cô độc, nếu chúng ta có một
tấm lòng. (V.Ð.T.)