|
BoatPeople
1979-2009
Mời xem cảnh thuyền nhân VN tại trại
Pulau-Bidong 30 năm về trước trong ống kính của CBS 60
minute 30 năm về truớc với cảnh phóng viên Ed Bradley áo
quần chửng chạc nhào xuống biển để tiếp cứu thuyền nhân.
H́nh ảnh này của phóng viên Ed Bradley thời c̣n trai trẻ đó
đă huy động biết bao phản ứng quốc tế phối hợp hành động để
trợ giúp thuyền nhân nhân.
30-04 nhớ h́nh ành xưa trong xót xa... Mời xem link của CBS
http://www.cbsnews.com/video/watch/?id=4462053

Kính mời đồng hương đến tham dự buổi lễ khai trương Tượng
Đài Thuyền Nhân Nam Cali. Chính nơi đây ghi dấu căn cước tị
nạn của chúng ta. Đây là công tŕnh xây cất do tư nhân,
không do chính phủ tài trợ. Hăy đến thăm viếng dù là
boatpeople hay walkpeople, HO hay OPD,... Tất cả đều xa lánh
chế độ CSVN toàn trị, thú tính và ác ôn. Chi tiết được liệt
kê dưới đây:
http://www.saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/tuongdaithuyennhan1112.shtml

XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM,
AN GIẤC NGÀN THU
VI ANH
Hỡi nửa triệu nam phụ lăo ấu người Việt, người Việt gốc Hoa,
gốc Miên và Đồng bào Thượng chịu không nổi CS Hà nội phải
vượt biên tỵ nạn CS, đă bỏ ḿnh ngoài biển, trên sông, trong
rừng, trong bụi của VN, Cao miên, Thái Lan. Hỡi oan hồn uổng
tử của nửa triệu quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Hoà và gia
đ́nh đă lấy mạng của ḿnh để đổi tự do, dùng thuyền nan vượt
đại dương thiếu may mắn đă chết tức tửi dưới làn đạn AK của
Biên Pḥng CS, của cướp Thái Lan và của gió to sóng lớn. Xin
Đồng bào sống khôn thác thiêng, về đây chứng giám “ Lễ Khánh
Thành Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam”, lúc giờ trưa Thứ
Bảy ngày 25 tháng 04 năm 2009, trong khuong viên Nghĩa Trang
Westminster ( Peek Family Funeral), điạ chỉ 7801 Bolsa Ave,
Westminter, CA 92683.

Đồng bào đă sống khôn thác thiêng. Đồng bào tuy bất hạnh,
vắn số nhưng đă làm nên lịch sử thiên niên vạn niên. Chính
cái chết của đồng bào làm nổi bật lịch sử VN với cuộc di tản
vô tiền khoáng hậu.Tuy “ Kẻ chết đă yên rồi một kiếp; Nhưng
người sống c̣n tái tiếp noi gương”. Chính cái chết của đồng
bào đă làm cho lương tâm Nhân Loại xót xa. Liên hiệp Quốc mở
một chương tŕnh cứu vớt, định cư lớn nhứt trong hậu hậu bán
thế kỷ 20. Trên ba triệu người Việt thoát gông cùm CS, làm
lại cuộc đời trong Thế Giới Tự do. (Vi Anh)
ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN
VIETNAMESE BOAT PEOPLE MONUMENT
PROJECT COMMITTEE
234 E. Valley Blvd., Rosemead, CA 91770
Tel: (626) 288-2696 - Fax: (626) 288-2033
E-mail: sgtimes@aol.com - http://www.saigontimesusa.com
TRÂN TRỌNG THÔNG BÁO

Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam h́nh thành với mục đích
đề cao hai ư nghĩa:
- Tâm Linh: tưởng niệm đến những thuyền nhân, bộ nhân đă tử
nạn trên đường t́m Tự Do và Nhân Quyền sau tháng 4 năm 1975.
- Lịch Sử: lưu truyền đến những thế hệ mai sau biết nguyên
nhân sâu xa về sự hiện hữu của người Việt tại xứ sở Hoa Kỳ
và các quốc gia Tự Do - Dân Chủ trên khắp thế giới, trong
cuộc hành tŕnh đầy máu và nước mắt.
Sau mười năm vượt qua những khó khăn, nay Tâm Nguyện chung
của Người Việt hải ngoại đă thành hiện thực. Ủy Ban Thực
Hiện Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân đang phối hợp với Ban Giám
Đốc Westminster Memorial Park long trọng tổ chức lễ:
KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM
THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
vào lúc 1:00 giờ trưa Thứ Bảy,
ngày 25 tháng 04 năm 2009
trong khuôn viên Nghĩa Trang Westminster
(Peek Family Funeral),
ngay trung tâm thủ đô tinh thần của
người Việt tỵ nạn cộng sản tại Nam California
Địa chỉ: 7801 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683
Thông báo và kính mời quư vị về tham dự.
Sự hiện diện của quư vị thể hiện tinh thần Tưởng Niệm đến
những thuyền nhân - bộ nhân đă tử nạn v́ lư tưởng Tự Do -
Nhân Quyền.
TM. Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng Niệm
Thuyền Nhân Việt Nam
Nhà Thơ Ca Nhạc Sĩ Bác Sĩ
THÁI TÚ HẠP VIỆT DZŨNG LÊ HỒNG SƠN

UBTHDTN THUYỀN NHÂN TRÂN TRỌNG THÔNG BÁO
H̀NH ẢNH MỚI NHẤT
CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH
VÀO THÁNG 04-2009



















http://www.saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/thuyennhan1132.shtml
http://www.saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/chuyenvuotbiendammau.shtml
GIỌT NƯỚC MẮT
CHO NGƯỜI T̀M TỰ DO
LÊ Đ̀NH HÙNG

Thấm thoát mà đă gần 20 năm. Những người Việt định cư trên
những đất nước thứ ba đến bây giờ đă yên ổn với cuộc sống
mới. Là một thuyền nhân, tôi cũng như bao người khác, đă
không khỏi nhiều lúc ngồi suy nghĩ thẩn thờ, nhớ về những kỷ
niệm khó quên của một chuyến đi đầy cam go, đầy hăi hùng
vượt đại dương.
Nay ban tổ chức đă làm một việc rất ư nghĩa; để chúng tôi,
những thuyền nhân có dịp ôn lại kỷ niệm; và ghi lại một đoạn
đời, có thể gọi là một giai đoạn bi thương của lịch sử dân
tộc Việt Nam, qua hàng hàng lớp lớp làn sóng người bất chấp
hiểm nguy, xuống thuyền vượt biển Đông tránh nạn Cộng Sản
sau 1975. Viết bài này, với hy vọng đóng góp một phần nhỏ
nhoi, để cho thế hệ Việt Nam sau này biết được nhữ ǵ chúng
tôi đă đi qua, để họ biết quí các giá trị tương lai, đă được
những người đi trước đánh đổi bằng nước mắt, và hơn thế nữa:
bằng máu. Riêng những người chưa hiểu rơ chế độ Cộng Sản, sẽ
thấy được thêm tội ác của họ đă gây ra cho dân tộc Việt Nam,
vốn đă nhiều đau thương và bất hạnh.
Cuộc sống ngày đó rất khắc nghiệt. Mẹ tôi thường mọi giá
phải cho tôi ra đi v́ ba tôi là sĩ quan chế độ cũ; anh em
tôi đương nhiên sẽ không vào được đại học, mà phải đi thanh
niên xung phong hay đăng kư nghĩa vụ quân sự để bị đưa ra
làm bia đỡ đạn trong cuôc xâm lăng Campuchia. Từ thành phố
đến nông thôn, công an khu vực và bọn chỉ điểm ngày đêm ŕnh
rập như cú vọ, chỉ chực chụp lên đầu người dân những tội
trạng vô lư. Thành phần trí thức và quân đội Việt Nam Cộng
Ḥa th́ kéo lê xiềng xích trong hàng ngàn trại cải tạo mọc
lê khắp mọi miền đất nước. Sài g̣n như một người thiếu phụ
với những giọt nước mắt sau tấm màn đen vô vọng.
Những giọt nước mắt đă biến thành hy vọng khi biết bên kia
bờ đại dương, các đất nước tự do đang chờ đón. Hy vọng đă
nung nấu trong tim những người trẻ chúng tôi, chấp nhận hiểm
nguy ra khơi chóng chọi với ba đào, nhất định phải vượt
thoát khỏi cái đất nước tù tội.
Sau nhiều lần vượt biên bị bắt ở khắp nơi: Vũng Tàu, Rạch
Giá, Cần Thơ. Cuối cùng chúng tôi lại chuẩn bị ra biển.
Chuyến đi này bắt đầu từ Ngọc Hà, một thôn nhỏ giữa Long
Thành và Bà Rịa, trên đường ra Vũng Tàu. Năm đó là 1985, tôi
được 18 tuổi. Nhiệm vụ của tôi là mang cái hải bàn trong cái
giỏ lát đi xe đ̣ cũng ít ai nghi. Đến nơi, tôi được sắp xếp
dấu vào nhà một người quen. Suốt năm ngày nằm chờ, tôi được
dặn không nên ra khỏi căn pḥng, sợ dân làng và công an thấy
lạ mặt sẽ t́nh nghi. Tôi chỉ nh́n được ra ngoài qua những kẻ
hở trên vách lá dừa. Thôn này ở gần sông, dân cư sinh sống
bằng nghề biển như đánh cá, đóng ghe, đan lưới... Đời sống
họ thật lam lũ. Nh́n xa xa gần mé sông, có một chiếc tàu
đang đóng, mũi tàu vươn lên ngạo nghễ, tôi tự nhủ không biết
tàu ḿnh đi có được như vậy không?
Thế rồi đêm đó, chúng tôi được tin sẽ "đánh", có nghĩa là đi.
Xăng dầu và lương thực đă được chuyển xuống ghe. Tôi chuẩn
bị hết mấy món đồ mà mẹ tôi đă gói sẵn: thuốc say sóng,
thuốc chống đói, phao cá nhân, một chiếc nhẫn hai chỉ may
trong lai quần để lỡ bị bắt hoặc lọt sang trại tị nạn, có
cái mà xoay sở hoặc đánh điện tín về nhà. Tôi chợt thấy
thương mẹ tôi, đă lặn lội khắp hang cùng ngơ hẻm ở Sàig̣n để
t́m mua những thứ này, vốn được xem là đồ cấm. Bây giờ đă
làm cha, tôi mới cảm nhận được cái khổ đau ngày nào mà mẹ
tôi phải trải qua khi đưa đứa con trai lên đường, vào đại
dương sóng gió để t́m tự do và tương lai, mà biết rằng chẳng
bao giờ gặp lại được nhau.
Hôm đó, là ngày 15 tháng 7, 1985. Gia đ́nh tôi ở trọ cũng
gởi ba đứa con đi chuyến đó nên họ làm bữa cơm cuối cùng
tiễn chúng tôi. Bữa cơm này đúng ra nếu không được thịnh
soạn th́ cũng phải kha khá, v́ những ngày sắp tới chúng tôi
sẽ không c̣n cơ hội mà ăn uống đầy đủ để chống chọi với biển
khơi, nhưng dọn ra vỏn vẹn chỉ một dĩa rau luộc, môt chém
mắm và mấy trái cà pháo. Thế mới biết đời sống họ cơ cực đến
đâu, trong khi nhà nước và bọn cán bộ th́ mặc sức vơ vét và
làm giàu.
Ăn uống, từ biệt xong, khoảng 8 giờ, tôi được dẫn đi. Đi bộ
rất lâu, băng qua các bờ ruộng, bờ lau trong đêm tối. Lâu
lâu có tiếng chó sủa inh ỏi, chúng tôi phải ngồi xuống núp
vào những cái mả đen ng̣m. Nỗi sợ công an làm tôi quên hẳn
cả sợ ma. Vừa đi, vừa chạy, rốt cuộc chúng tôi đến một bờ
sông. Tôi được đưa đi bằng một chiếc xuồng nhỏ không máy.
Người chèo thuyền ra hiệu bảo im lặng, rồi lặng lẽ chèo ra
phía sông lớn. Thuyền đi cũng khá lâu, thinh lặng trong đêm
để tránh trạm biên pḥng. Những chiếc thuyền này, người việt
biên thường gọi tiếng lóng là "tắc xi" hoặc "cá nhỏ" sẽ đưa
người tới chỗ chuyển tiếp để lên "cá lớn" là tàu vượt biên.
Thuyền đi qua những hàng đáy, là tiếng dân chài gọi những
hàng cọc gỗ đóng ở cửa biển thành một hàng rào để bắt cá tôm.
Tôi nghe gió biển lồng lộng và thấy nhiều thuyền bè đánh cá
neo ở gần đó. Không khí trở nên hồi hộp v́ biết đâu trên
những tàu đó có công an phục kích. Lúc ấy khoảng 11 giờ đêm,
người chèo thuyền chớp đèn pin về phía trước, chúng tôi hiểu
đă ra đến điểm hẹn. Có ánh đèn trả lời. Ráng căng mắt ra,
tôi thấy phía trước là một chiếc ghe gỗ chưa dài đến 10
thước. Tàu này đi được sao? Tôi tưởng tàu vượt đại dương
phải lớn và chắc chắn ghê lắm, ai ngờ ... Bây giờ có sợ cũng
đă trễ rồi, tôi cột cái giỏ vào người để rảnh tay leo qua
ghe lớn. Đôi dép đă đứt khi lội qua mấy con mương trên bờ.
Thế rồi " tắc-xi" cặp vào ghe lớn, sóng đập mạnh làm cả hai
ghe đều cḥng chành. Sau khi leo lên, tôi đưa mật mă, là một
tấm h́nh nhỏ để cho người ta đem về, th́ mẹ tôi mới giao cho
hai cây vàng c̣n lại. Đưa mật mă xong, bụng tôi vẫn c̣n lo:
lỡ chưa đi tới đâu mà bị bắt, th́ ở nhà ḿnh cũng đă giao
hết tiền cho người ta.
Tôi bị thảy ngay xuống hầm. Thuyền nhỏ mà người rất đông.
Sau này mới biết là có tất cả là 45 người trên chiếc thuyền
dài 9m5 đó. Người ngồi như cá hộp, tối quá nên không nhận ra
ai là ai, chỉ có mùi dầu xanh và mùi mồ hôi xông lên nồng
nặc.
Đến hơn nửa đêm, tàu nổ máy bắt đầu khởi hành. Tiếng máy nổ
rất ồn nghe " b́nh... b́nh..." và chiếc ghe gỗ rung lên từng
nhịp với tiếng máy cũ kỹ. Tôi thấy mừng v́ tàu đă chạy, chứ
ở đó quá lâu, công an ập đến th́ hỏng. Ngồi dưới hầm quá
ngột ngạt nhưng chúng tôi phải ráng chịu. Chạy một lát, tàu
bỗng chạy chậm và dừng hẳn lại. Chúng tôi được dặn không ây
tiếng ồn v́ có công an biên pḥng. Phía trên nghe tiếng chân
người chạy qua chạy lại cùng với ánh đèn vàng quét sáng
loáng ngang từng kẻ hở trên khoang tàu. Tim chúng tôi đập
th́nh thịch, không ai dám thở mạnh, chỉ nghe tiếng th́ thào
cầu nguyện. Những đứa trẻ bị bố mẹ bịt chặt miệng, sợ để
chúng khóc sẽ lộ ngay.
Phía trên, tài công đang tŕnh giấy phép đánh cá. Nếu có ǵ
khả nghi, tụi công an đ̣i qua xét tàu th́ kể như xong. Tŕnh
giấy tờ và vui vẻ hối lộ xong, chúng cho đi, chúng tôi thở
phào nhẹ nhơm. Tàu trực chỉ cửa Cần Giờ và hải đăng ra biển,
sóng càng lúc càng lớn. Lúc này các cửa hầm được yêu cầu mở
ra cho thoáng, tôi đứng dậy nghe gió lùa vào mặt mát rượi.
Tôi muốn hít cho thật đầy buồng phổi, một cơn gió, một
khoảng không gian cuối cùng của quê hương thân yêu. Nh́n lại,
thấy tượng Chúa Giêsu đứng trên núi Băi Sau Vũng Tàu, giang
tay ra như che chở cho những người con quá bé nhỏ, quá tuyệt
vọng, v́ không chịu nổi cái ngục tù trên quê hương, phải ra
đi t́m tự do.
Tôi căng mắt ra nh́n cho rơ một lần cuối những dăy núi,
những ánh đèn xa xa trong khi b́nh minh cũng vừa chợt ửng
hồng ở chân trời phía trước mặt. Đó là quê hương tôi, thương
biết mấy. Mảnh đất xa xa đó có mẹ tôi chắc đang thấp thỏm lo
âu; có các em tôi bây giờ chắc đang c̣n say giấc ngủ. Bạn bè
tôi, người con gái ngồ ngộ mới quen ở trường Nguyễn Thái
B́nh mà ra đi không dám nói lời chia tay. Biết đến bao giờ
gặp lại. Chuyến đi này, ai biết chừng không là vĩnh biệt.
Bạn thân tôi đó, thằng Thiện đô con ngày nào c̣n lọc cọc đạp
xe một bọn đến trường, năm ngoái cũng ra đi. Nghe nói cả tàu
bị mất tích, giờ này cũng chẳng có tin tức ǵ. Đi ngang nhà
nó, giờ đây đă thấy h́nh nó trên bàn thờ, vẫn nụ cười hồn
nhiên như không hề hay biết định mệnh đă mang nó đi khi c̣n
quá trẻ.
Trời đă sáng, con thuyền tiếp tục rẽ sóng. Xung quanh là
biển nước mênh mông với những ngọn sóng bạc đầu cong cong
như lưỡi hái của thần chết. Không c̣n thấy bến bờ đâu nữa.
Biển tháng 7 quá dữ tợn, tôi nhắm cũng cấp 5 cấp 6 ǵ đó,
nhờ vậy mà công an biên pḥng ít dám ra ngoài mùa này, chỉ
có con tàu chúng tôi một ḿnh trong phong ba, hành trang chỉ
có ḷng can đảm và đức tin. Trong hầm tàu, nước biển đă tràn
và cao hơn cổ chân. Mọi người đều ướt sũng, bị nước biển tạt
vào từ bốn phía. Mùi ói mửa, mùi dầu gió, mùi hơi người
quyện lại với nhau thành một mùi vô cùng khó chịu. Con tàu
như con ngựa hoang, thỉnh thoảng bị sóng nhấc lên thật cao,
rồi rớt xuống như xuống vực thẳm, tạo thành những âm thanh
khô khốc y như va phải vào đá, tưởng chừng muốn vỡ đôi. Mỗi
lần lên cao rồi rớt xuống như vậy, tiếng cầu xin lại nghe
lớn hơn, " Giêsu Maria", "Nam Mô A Di Đà". Trẻ con khóc thét
lên v́ sợ, những người say sóng th́ không c̣n biết ǵ nữa,
kẻ c̣n tỉnh th́ đầy vẻ lo âu: kiểu này va phải đá ngầm th́
hết sống.
Ngày thứ hai, mọi người đều ngất ngư. Chủ tàu phát mỗi người
một nắm cơm múi mè, nước uống phải rất dè sẻn v́ đêm trước
hai thùng nước phụ cột phía sau đă rơi xuống biển. Nước vào
nhiều quá làm gạo và đồ khô bị śnh lên, một số không ăn
được. Đến chiều cơn giông lại nổi lên, trời càng ngày càng
xám xịt, bỗng nghe tiếng la từ pḥng lái:
- Có tàu nhỏ rượt theo ḿnh rồi đó nghe !
- Chạy lẹ lên, ḿnh tới hải phận quốc tế chưa vậy anh Bảo ?
- Chắc tới rồi, không lẽ đây là tụi cướp Thái Lan.
- Nguy rồi, chạy đi.
Đàn bà con gái trong tàu không ai bảo ai, lấy dầu máy và
những ǵ dơ dáy để bôi lên mặt, trông đen đúa xấu xí để tụi
cướp tha cho khỏi hăm hiếp. Mẹ bôi cho con, họ vừa bôi vừa
khóc. Ngồi cạnh tôi là một cô gái tên là Dung, trạc tuổi tôi
17, 18 ǵ đó và cũng ra đi một ḿnh. Dung cũng bắt chước bôi
dầu máy đầy mặt, vẻ lo sơ, chúng tôi vẫn không biết con tàu
rượt theo là cướp Thái Lan hay cũng có thể là tàu quốc doanh
Việt Nam, chỉ biết điềm dữ nhiều hơn lành, v́ lúc đó trời
gần tối và mưa gió mịt mù, ống nḥm cũng không dùng được.
Tàu kia bắt đầu nổ súng, tiếng súng có lẽ là trung liên, bị
át đi bởi tiếng máy tàu và tiếng sóng, chỉ nghe "lụp bụp" và
tiếng đạn bay líu chíu trên đầu. Thuyền chúng tôi tắt hết
đèn và tống hết ga, cuối cùng tối quá th́ tàu kia mới bỏ
cuộc. Dung là người duy nhất bị trúng đạn. Viên đạn xuyên từ
vai tới ngực, máu ra lênh láng. Chúng tôi xé áo băng vết
thương cho Dung, cả tàu không có thuốc ǵ cầm máu, chỉ biết
rửa bằng nước biển.
Tàu đi suốt đêm trong cơn băo, mọi người đều mệt lả nên cũng
không giúp ǵ hơn được cho người bị thương. Ngày thứ ba th́
băo dứt, song đến ngày thứ tư th́ Dung không c̣n dậy được
nữa v́ đă mất máu quá nhiều. Tôi nghe tiếng những người đàn
bà khóc sụt sùi th́ biết Dung đă ra đi. Chúng tôi cầm tay
nhau đọc kinh và tôi không dám nh́n khi người ta quấn nàng
bằng chiếc mền rồi thả xuống biển. Dung ở lại đó măi măi,
phần những người c̣n lại trên tàu, từ thể xác đến tinh thần
gần như đă tê bại, v́ biết đâu số phận ḿnh rồi cũng như
nàng, sẽ chết trên cái biển nước mênh mông này.
Qua ngày thứ năm, lương thực trên tàu đă cạn, nước cũng c̣n
rất ít, chỉ để ưu tiên cho con nít, đàn bà và những người
đuối sức. Bỗng nhiên có một con chim bay lượn trên tàu,
chúng tôi hy vọng: hay đă gần đến đất liền hoặc ḥn đảo nào
đây mà có chim bay ra. Suốt hai ngày thứ sáu và thứ bảy có
một đàn cá heo bơi theo tàu, bay nhảy đùa giỡn. Tôi cảm thấy
vui v́ ít ra cũng có dấu hiệu của sự sống. Thế rồi sự sống
đă đến khi sừng sững trước mặt chúng tôi có một chiếc tàu
lớn. Mọi người nhốn nháo đứng dậy vẫy tay, la hét kêu cứu: "Được
vớt rồi bà con ơi, sống rồi con ơi!'' Vậy mà con tàu cứ tỉnh
bơ rẽ sóng, nhiều người trên tàu lớn đổ xô ra xem, họ c̣n
chụp h́nh chúng tôi nữa, rồi hững hờ đi luôn. Mọi người nằm
bệt ra v́ thất vọng. Suốt ngày thứ tám và thứ chín, chúng
tôi gặp rất nhiều tàu ngoại quốc nhưng không tàu nào dừng
lại, mà cũng chẳng thương t́nh cho chút đồ ăn nước uống.
Nước và lương thực đều đă cạn, máy tàu cũng đă hư sau những
lần xả hết ga đuổi theo các tàu lớn. Ngày thứ mười, tàu thả
trôi, nước vào ngập cả khoang nhưng không ai c̣n có sức tát
nữa. Đói và khát hoành hành, trẻ con khóc như ri, cha mẹ
chúng phải cho chúng uống cả nước tiểu. Tôi và mấy người đàn
ông không chịu nổi cái nóng và khát nên nhảy xuống biển ngâm
ḿnh, hy vọng cái mát sẽ làm dịu cái khát trong người. Mấy
người bàn nhau:
- Bây giờ mà gặp tàu lớn nữa, tôi sẽ nhảy xuống bơi liền đến,
chắc họ thấy chết sẽ cứu. Chứ ở đây trước sau ǵ cũng chết
đói thôi.
Chiều ngày thứ mười, tôi c̣n nhớ là ngày 25 tháng 7 năm
1985, đang nằm chờ chết th́ tôi thấy xa xa, một con tàu hiện
ra, ngày càng rơ và có vẻ đi về hướng chúng tôi. Khoảng nửa
tiếng sau, nó ở trước mặt, thật hùng dũng với năm cái b́nh
tṛn khổng lồ màu vàng nổi lồ lộ trên biển xanh. Mọi người
lúc ấy đă quá đuối và tuyệt vọng, không buồn kêu cứu nữa,
chỉ nằm thoi thóp v́ khát nước. Tôi thấy trên boong tàu lớn
có một người đi ra. Tôi vươn sức tàn cầm cái áo vẫy liên hồi.
Người đó kinh ngạc nh́n xuống, rồi chạy vào trong kêu thêm
nhiều người nữa. Con tàu đi ngang để lại những đợt sóng
khổng lồ muốn nhận ch́m chiếc ghe bé nhỏ. Thế rồi phép lạ đă
đến, tôi thấy trước tàu lớn không c̣n sóng chẻ ra nữa, h́nh
như nó dừng lại.
Hy vọng tràn trề. Có tàu vớt rồi sao? Có nước uống, có đồ ăn
rồi sao? Con tàu mang cờ Panama, lớn kinh khủng, che mát cả
một vùng biển. Đàn ông chúng tôi chỉ c̣n độc nhất chiếc quần
xà lỏn, thân thể chỉ c̣n da bọc xương, vươn hết sức ra ma
gào thét và đưa mấy đứa con nít ra cho họ thấy. Một chiếc
cầu thang được hạ xuống, ba người mặc áo phao, trang bị súng
ngắn cẩn thận bước xuống thang. Họ ra hiệu cho chúng tôi đến
gần, nhưng chúng tôi làm dấu bảo rằng tàu không chạy được.
Họ quăng dây kéo lại, hỏi bằng tiếng Anh. Với vốn liếng
tiếng Anh chút đỉnh học ở Việt Nam, chưa bao giờ tôi thấy
quư bằng lúc này.
Họ hỏi chúng tôi có mấy người, từ đâu đến; rồi giới thiệu họ
là người Mỹ, sẽ cứu chúng tôi. Nghe nói tàu Mỹ, cả ghe reo
ḥ mừng rỡ; " Thoát rồi, thoát chết thật rồi bà con ơi!'',
chứ gặp phải tàu Liên Xô th́ chúng chở về Việt Nam th́ toi
mạng. Các thủy thủ thả thang dây xuống, nhưng nhiều người
đứng dậy không nổi nên họ nhanh nhẩu ôm từng người d́u lên
cái cáng rồi kéo lên tàu. Lên được trên tàu, nh́n lại chiếc
ghe rách nát nhỏ như một hột đậu, chúng tôi vừa thương vừa
sợ. Họ đánh đắm chiếc ghe, chắc là theo luật hàng hải. Nh́n
chiếc tàu từ từ ch́m xuống mà mọi người nghĩ rằng ḿnh như
đang c̣n ở trên đó.
Chúng tôi đi thẳng từ địa ngục lên tới thiên đàng. Trong đời
tôi chưa bao giờ mừng như vậy. Thủy thủ đoàn ân cần săn sóc,
người yếu được đưa thẳng vào clinic, đầy đủ dụng cụ như bệnh
viện để chuyền "serum" cho lại sức. Chúng tôi được chia hai,
đàn ông đàn bà cho tắm rửa sạch sẽ bằng xà bông thơm. Sau đó
được dẫn vào kho lựa quần áo mới tinh mặc vào, tuy rộng
thùng th́nh nhưng sạch quá, thơm quá! Bác sĩ khám xong,
chúng tôi ra dùng bữa tối. Cả tàu khoảng 20 thủy thủ, gồm 3
phụ nữ, xúm lại phục vụ những người khách đen đúa v́ nắng
biển, chỉ c̣n hai con mắt và hàm răng cười biết ơn. Cảm động
quá, nhiều bà ôm chầm mấy cô Mỹ mà khóc tức tưởi. Ăn xong
thuyền trưởng cho gọi tôi và một người nữa biết tiếng Anh
lên văn pḥng. Ông cho biết tàu này chở gas từ Nhật về. Ông
ta rất hiểu hoàn cảnh của thuyền nhân Việt Nam nên đă hai
lần ra tay cứu người tị nạn, tàu của chúng tôi là tàu thứ
ba.Ông đă liên lạc với đất liền, và dự định sẽ đưa chúng tôi
đến Singapore, nơi đó có trại tị nạn của Liên Hiệp Quốc.
Chúng tôi quá mừng v́ biết chắc ḿnh đă "lọt", đêm đó tôi
không ngủ được. Chỉ mới tối hôm qua đây, c̣n ngủ với cơn đói
khát, thân tàn ma dại, cái chết ŕnh rập; thế mà bây giờ đă
giường êm nệm ấm, đồ ăn thức uống không thiếu thứ ǵ. Y như
một giấc mơ kinh hoàng. Ngày hôm sau, mọi người được dẫn đi
chơi khắp tàu. Đám con nít được cho kẹo sô-cô-la và uống
Coca thỏa thích; Nhỏ đến lớn mới được uống Coca, đứa nào
cũng chảy nước mắt và ợ lên rồn rột, làm mấy thủy thủ cười
nắc nẻ. Họ vô cùng thân thiện, c̣n cho mỗi đứa trẻ ít tiền
đô la Mỹ để khi lên đảo có cái mà dùng.
Thế rồi chúng tôi đến Singapore. Thành phố từ xa trông rất
đẹp, quá hiện đại. Chúng tôi đứng trên boong tàu mà miệng há
hốc v́ chưa bao giờ thấy cái ǵ đẹp như vậy. Rồi có phái
đoàn từ trong trại ra, có cả một người Việt Nam tên là D́
Mười lên tàu đón chúng tôi. Chia tay với thủy thủ tàu
Capricorn, ai cũng bùi ngùi. Sau khi lấy địa chỉ của họ bên
Mỹ, chúng tôi hứa nếu qua được Mỹ sẽ t́m đến thăm. Mấy cô Mỹ
ôm từng đứa con nít lên, không dấu được lệ. Xuống tàu nhỏ,
cập bến rồi lên xe bus, chúng tôi ai cũng đi nghiêng ngửa v́
đă lâu không lên đất liền, trông thật tội nghiệp và buồn
cười. Xe chở qua các thành phố Singapore thật rộn rịp văn
minh rồi về trại tị nạn trên đường Hawkins Road. Đồng bào
Việt Nam trong trại ùa ra đón chúng tôi.
Cuộc hành tŕnh cuối cùng đă kết thúc. Tôi say sưa ôm lấy tự
do. Chợt nhớ về Dung, người con gái ngồi bên tôi đă chết và
được thủy táng lặng lẽ trên biển Đông, tôi không khỏi ngậm
ngùi rơi nước mắt. Dung bây giờ đă về đâu, đă nằm trong bụng
cá hay lẻ loi đi về một miền xa lạ nào. Tôi nhớ đến Thiện,
người bạn của tôi và hàng ngàn người bất hạnh đă chết trên
vùng biển đó. H́nh như chính linh hồn họ đă dẫn đưa những
con tàu của anh em đồng bào đến bến bờ b́nh yên. Cầu mong
hương hồn của họ được về đến bến thanh b́nh và giấc mơ của
họ cuối cùng cũng thành sự thật: TỰ DO
2/2003
Nhiều Tác Giả
http://www.saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/daituongniem1084.shtml
|