|
[HOATUDO] NGUYEN MINH : Cách giải quyết nạn nhân măn tại
Trung Quốc
| hoatudo@yahoogroups.com
on behalf of My-Loan
(tmyloan@gmail.Com) |
| March 16, 2010 5:25:45 AM |
| Hoa Tu Do (hoatudo@yahoogroups.com) |
| 'Hoang DuocThao' (hoangduocthao@gmail.com);
tmyloan@gmail.com |
Cách giải quyết nạn nhân măn tại TrungQuốc
Nguyễn Minh
“…Người ta đang
chờ Trung Quốc sa chân tại một khúc quanh nào đó để nhắc nhở
bài học khiêm nhường…”
Ngày
5-3-2010, 3.000 đại biểu đă về Bắc Kinh tham dự khóa họp
hàng năm của Quốc vụ viện (Quốc hội) Trung Quốc. Đây là hội
nghị quan trọng nhất sau đại hội đảng cộng sản. Mở đầu khóa
họp, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói 2010 sẽ năm quyết định sự
thành công của Trung Quốc về kinh tế lẫn xă hội. Trước cuộc
khủng hoảng tài chánh quốc tế, ông tuyên bố sẽ giữ nguyên
mức tăng trưởng 8%. Ưu tư chính của chính quyền là làm sao
san bằng hố cách biệt giàu nghèo ngày càng sâu rộng xă hội
Trung Quốc bằng cách chia đều phúc lợi của sự tăng trưởng
cho toàn xă hội. Để có được tỷ lệ tăng trưởng 8%, dân chúng
Trung Quốc phải làm thêm nhiều cố gắng hơn nữa. Chính quyền
tiếp tục tung thêm tiền để thực hiện những chương xây dựng
nhà ở qui mô đă bắt đầu từ năm 2008 trên toàn đất nước.
Tại sao đến giờ này Bắc Kinh mới chấp nhận chia đều phúc lợi
của sự tăng trưởng cho toàn xă hội? Tại v́ quả bom dân số có
thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Nó là tiền thân của những cuộc
nổi dậy đẫm máu tại Trung Quốc. Hơn 900 triệu dân nông thôn
đang chờ sự nâng đỡ của các chính quyền trung ương và địa
phương để có một cuộc sống xứng đáng. Khối người này đang
sống trong nghèo khó và không thấy một ánh sáng nào cuối
đường hầm. Mỗi năm có hơn 90.000 cuộc nổi dậy chống lại sự
hà hiếp và chiếm đoạt tài sản của các cấp chính quyền địa
phương.
Tất cả những hứa hẹn của chính quyền và những xáo trộn tại
nông thôn đều xuất phát từ một nguyên nhân: nạn nhân măn.
Dân số Trung Quốc
Cho đến cuối thế kỷ 20, những nhà dân số học vẫn tin rằng
1/5 dân số thế giới sống tại Trung Quốc, với 1,257 tỷ người
năm 1999. Khẳng định này, đến cuối thập niên đầu của thế kỷ
21 vẫn c̣n hiệu lực, với 1,339 tỷ người năm 2009.
Cách tính toán dân số của Trung Quốc cho đến nay vẫn c̣n là
một dấu hỏi lớn. Trong ṿng 10 năm dân số Trung Quốc đă tăng
thêm 82 triệu người, mỗi năm tăng trên 8 triệu người. Đây là
một con số rất lớn so với các quốc gia khác, nhưng quá ít so
với thực trạng dân số hiện nay của Trung Quốc. Con số 1,339
tỷ dân năm 2009 không đúng sự thật.
Đồng ư rằng tỷ lệ sinh sản của Trung Quốc đă giảm một cách
ngoạn mục, từ 5,8 con/phụ nữ năm 1970 xuống 2,4 năm 1990 và
1,75 năm 2007. Đây là một cố gắng vượt bực để kềm chế nạn
nhân măn. Nhưng trước nạn lăo hóa ngày càng tăng cao (100
triệu người trên 65 tuổi năm 2009), từ năm 2002 Bắc Kinh đă
cho phép những gia đ́nh khá giả đóng 600 USD để được quyền
có hai con. Gần như tất cả những gia đ́nh khá giả vùng duyên
hải, từ Măn Châu xuống Quảng Châu, đều vui vẻ đóng thêm
khoảng phụ trội này. Từ năm 2000 đến nay đă hơn 10 năm, dân
số Trung Quốc không thể chỉ tăng 82 triệu người.
Từ năm 1949 đến nay, hơn 50 năm đă trôi qua, Trung Quốc
không có chiến tranh, không có dịch bệnh, không bị thiên
tai, không xảy ra nạn đói, nhất là từ 20 năm trở lại đây đạt
được những thành tích phát triển kinh tế cao, đời sống dân
chúng trở nên sung túc, tỷ lệ sinh sản tăng gấp đôi tỷ lệ tử
vong (năm 2007, tỷ lệ sinh đẻ là 13,4‰, tỷ lệ tử vong là
7‰), dân số Trung Quốc do đó không thể dừng lại ở con số
1,339 tỷ người năm 2009 như được công bố. Có một cái ǵ
không b́nh thường trong các cách tính này.
Tại sao chính quyền Trung Quốc cứ che giấu những con số về
dân số? Có nạn nhân măn không? Số người dư thừa đi đâu? Đó
là những câu hỏi cần được trả lời.
Cứ nh́n vào những thiên phóng sự về đời sống nông thôn tại
Trung Quốc, rất ít gia đ́nh nào chỉ có một con, trung b́nh
là hai con. Phần lớn những đứa con lớn rời thôn quê ra thành
thị t́m việc, để lại cha mẹ già với đứa em út. Sau một thời
gian làm việc và dành dụm, đứa con lớn gởi tiền về cho cha
mẹ tu sửa lại nhà cửa và cho đứa em út ăn học, để sau đó ra
thành thị làm việc. Hiện nay có hơn 200 triệu thanh niên
nông thôn ra thành thị làm việc. Không biết khi làm thống kê
về dân số chính quyền Trung Quốc liệt những thanh niên nông
thôn này vào nơi nào, thôn quê hay thành thị? Thêm vào đó,
những thanh niên nông thôn này khi lập gia đ́nh và có con
thơ, phần lớn đều đem về nông thôn cho cha mẹ nuôi giùm. Khi
làm thống kê, những đứa trẻ này không được tính vào dân số
thành thị, trong khi tại nông thôn chúng được coi là dân
thành thị nên cũng không được tính vào dân số nông thôn.
Sự quên lăng này không phải t́nh cờ. Nó được các cấp chính
quyền địa phương chấp nhận miễn là chủ gia đ́nh chịu đóng
600 USD và những khoảng phụ phí giao tế khác cho mỗi đứa
con. Đối với trung ương, dân số không tăng nhanh là dấu hiệu
của sự phát triển, chính quyền đă kềm chế được nạn nhân măn.
Nhưng trong thực tế nạn nhân măn đang xảy ra. Dân số thật sự
của Trung Quốc hiện nay phải trên 1,5 tỷ người.
Làm cách nào để nuôi một dân số đông đảo?
Không có phép lạ nào hết. Tất cả mọi người đều phải làm việc
để có ăn. Vấn đề là làm sao nuôi hơn 1,5 tỷ miệng ăn.
Từng là quốc gia xuất khẩu lương thực, Trung Quốc ngày đang
nhập khẩu lương thực để nuôi một dân số khổng lồ. T́nh trạng
này chỉ tăng thêm trong những ngày sắp tới, khu vực tả ngạn
sông Hoàng Hà ngày nay chỉ c̣n là một vùng đồi núi ô trọc,
nhiều vùng đồng bằng phía bắc trước kia là vựa lúa ḿ nay
đang bị sa mạc hóa. Một số vùng đất dọc các bờ sông cũng
không trồng trọt được v́ bị chất độc từ các nhà máy hóa chất
thải ra làm ô nhiễm nhiều vùng đất rộng
Nông thôn Trung Quốc trước kia là địa bàn sản xuất lúa gạo
và nông sản phẩm, nay đang biến thành những làng xă, thị
trấn nhỏ để chứa đựng trọng lượng dân số gia tăng do đời
sống sung túc từ các trung tâm đô thị mang lại. Thêm vào đó,
trước nạn rời bỏ thôn quê ra thành thị t́m việc, số người
canh tác nông nghiệp ngày càng ít đi trong khi số miệng ăn
ngày càng gia tăng. Tại nhiều nơi, nông dân phải ra thành
thị mua lương thực v́ chi phí sản xuất quá cao (xăng dầu,
phân bón, thuốc trừ sâu, hột giống, vật tư).
Làm cách nào để nuôi một dân số đông đảo? Tạo ra công ăn
việc làm. Những đô thị lớn dọc bờ biển Đông Hải, do sự năng
động của giới doanh nhân nhà nước và tư nhân, đă trở thành
những trung tâm tuyển dụng lao động khổng lồ và là xưởng sản
xuất hàng hóa chung cho cả thế giới. Sự phồn thịnh của những
trung tâm sản xuất này kéo dài trong suốt 20 năm qua, từ
thập niên 1990 đến nay, và đă nâng cao mức sống người dân và
mang lại sự phồn vinh cho đất nước. Một cách vô t́nh, hố
cách biệt giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị được san
bằng. Mỗi năm hàng triệu thanh niên ra thành thị t́m việc
làm để nuôi gia đ́nh c̣n ở lại nông thôn.
Trước sự năng động và phát triển của những trung tâm sản
xuất này, tŕnh độ kỹ thuật của lao động Trung Quốc cũng nhờ
đó được nâng cao. Mỗi năm hàng chục triệu thanh niên thành
thị khác gia nhập vào đội quân lao động đă có sẵn. Những đại
học và những trung tâm huấn nghiệp đă kịp thời đào tạo và
huấn luyện thanh niên Trung Quốc thích nghi với những phương
tiện sản xuất tiên tiến nhất, đặc biệt là ngành xây dựng (cơ
xưởng, nhà máy, cao ốc) và hạ tầng cơ sở (đường sá, cầu cống,
bến cảng, phi trường) mà đa số là người phái nam. Bên cạnh
đó, để phục dịch cho đội quân lao động khổng lồ này, là sự
h́nh thành một đội quân phục dịch trong các ngành may mặc,
ăn uống, giải trí và buôn bán lẻ, mà đa số là phái nữ.
Nhưng sự phồn vinh nào cũng đến hồi kết thúc. Cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới đă làm khựng lại guồng máy sản xuất
hàng hóa cho cả thế giới. Rất nhiều nhà máy sản xuất đă phải
đóng cửa v́ thiếu đơn đặt hàng, hàng triệu người đă bị sa
thải. Trong khi đó, những văn pḥng trong các cao ốc vừa
được dựng lên vắng thưa người mua, hàng triệu công nhân
trong ngành xây cất bị buộc thôi việc. Nạn nhân trực tiếp
của t́nh trạng thất nghiệp thành thị này là những thanh niên
nông thôn.
Phải làm ǵ? Giải quyết bằng cách nào? Khuyến khích họ trở
về quê? Ai chịu về? Đó là những câu hỏi mà giới cầm quyền
Trung Quốc ngày đêm lo lắng.
Hiện nay có hơn 200 triệu lưu dân (thanh niên nông thôn lang
thang trong các thành phố lớn t́m việc), họ sống như những
du mục, nay đây mai đó, rất khó kiểm soát. Sự phát triển của
Trung Quốc trong suốt 30 năm qua chủ yếu dựa vào nguồn nhân
lực dồi dào và rẻ tiền từ nông thôn. Họ đă chấp nhận làm
việc trong những điều kiện mà không một công nhân quốc tế
nào chịu làm. Gọi là nô lệ th́ hơi quá đáng v́ được trả
lương, nhưng điều kiện làm việc của họ đúng là của những nô
lệ: ăn ngủ tại chỗ, làm việc 16 giờ một ngày, có khi làm cả
3 ca trong 24 giờ và 7/7 ngày trong tuần lễ, với một đồng
lương rất thấp: 5 USD/ngày, tức 150 USD/tháng.
Hơn nữa quen với đời sống sạch sẽ và tiện nghi tại thành thị,
lại có lợi cao hơn nông thôn gấp nhiều lần, không một thanh
niên nông thôn nào chịu về quê cũ chờ thời. Chính quyền
Trung Quốc cũng không thể vắt chanh bỏ vỏ bằng cách xua đuổi
những thanh niên này về lại nông thôn, họ là những người đă
từng hy sinh để Trung Quốc đạt được những chỉ tiêu phát
triển ngoạn mục. Không nên khơi động sự nổi giận của quần
chúng nông thôn, v́ không ai biết những ǵ sẽ xảy ra. Mao
Trạch Đông trước kia đă biết vận động sự nổi giận của quần
chúng nông thôn để ủng hộ ông chiếm chính quyền. Phải t́m
cho bằng được một giải pháp thay thế.
"Thảo
xuất khẩu", một chính sách dân số mới
Từ năm 2003 trở lại đây, chính quyền Trung Quốc đă cho thành
lập nhiều văn pḥng dịch vụ tuyển mộ nhân công ra nước ngoài
làm việc, trong chính sách "thảo xuất khẩu", gọi chung là
xuất khẩu lao động. Chính sách này nhắm vào nhiều mục tiêu.
Trước hết và gần nhất là giải quyết được nạn thất nghiệp
đang đe dọa sự ổn định của Trung Quốc. Khuyến khích hai trăm
triệu lưu dân đang lang thang trong các thành phố ghi danh
ra nước ngoài làm việc, chính quyền vừa thỏa măn được ước mơ
làm giàu (v́ làm việc tại nước ngoài được trả lương cao hơn
từ ba đến bốn lần trong nước) vừa đoàn ngũ hóa những người
muốn ghi danh ra nước ngoài để dễ kiểm soát (qua các chương
tŕnh đào tạo nghiệp vụ và ngoại ngữ).
Kế đến và trong trung hạn là xây dựng được một đội ngũ quan
sát viên tại nước ngoài. Những lao động xuất khẩu này sẽ là
những con mắt quan sát cho giới lănh đạo và đầu tư Trung
Quốc xâm nhập vào các thị trường địa phương. Càng ở lâu và
càng quen với nếp sống của dân cư địa phương, hàng hóa của
Trung Quốc sẽ càng thích nghi với những thị trường mới.
Sau cùng và trong dài hạn là giải quyết được phần nào nạn
nhân măn trên lục địa Trung Hoa. Sự hiện diện đông đảo của
người Trung Quốc tại các nước ngoài càng mở rộng khả năng
xuất khẩu để thu về ngoại tệ và tài nguyên cho Trung Quốc,
đó là những đầu cầu kinh tế và văn hóa mà Trung Quốc đang
rất cần. Đây sẽ là đội quân thứ năm mà thế giới từng lo ngại,
v́ cho dù có thế nào, những người Trung Quốc này chỉ có thể
làm lợi cho Trung Quốc hơn là cho quốc gia tạm dung. Khi hợp
đồng lảm việc hết hạn, phần lớn những công nhân này t́m cách
ở lại quốc gia địa phương để sinh sống bằng nghề buôn bán.
Sự ra đời của chính sách này cũng nhằm hạn chế, hay cắt đứt
quan hệ ngoại giao và kinh tế của Đài Loan với các nước Á
Phi khác.
Để chính sách thảo xuất khẩu được tiến hành tốt, Bắc Kinh đề
ra ba nguyên tắc, đó là không can thiệp vào sinh hoạt chính
trị nội bộ, quyền được phát triển và trách nhiệm tương ứng.
Nguyên tắc không can thiệp vào sinh hoạt nội bộ của những
quốc gia bạn thể hiện cụ thể qua các chương tŕnh viện trợ
không kèm theo điều kiện chính trị. Đây là lời nhắn đến các
quốc gia dân chủ phương Tây khi lên tiếng bênh vực những
người Tây Tạng, Uyghur tại Tân Cương hay tín đồ Pháp Luân
Công bị đàn áp, cách đối xử của Bắc Kinh đối với những cộng
đồng này là những vấn đề nội bộ của Trung Quốc. Để chứng
minh, Bắc Kinh đă tỏ ra thân mặt với lănh tụ các quốc gia
độc tài từ Châu Phi đến Iran, Miến Điện và Bắc Triều Tiên.
Như vết dầu loang, nhiều nước ở Á Phi và Châu Mỹ La Tinh đă
rất dè dặt khi nhận tiền viện trợ từ các nước phương Tây và
các cơ quan tài chánh quốc tế v́ sợ bị ép buộc tôn trọng
nhân quyền, tự do và dân chủ.
Về quyền được phát triển: nguyên tắc này thật ra chỉ để dành
riêng cho Trung Quốc. Một mặt Bắc Kinh muốn thế giới nh́n
nhận Trung Quốc là một quốc gia đang phát triển để tiếp tục
nhận sự giúp đỡ (mặc dù GDP đứng thứ nh́ thế giới). Hai là
để thử khả năng nhượng bộ của thế giới đối với Trung Quốc
dừng lại ở mức nào khi Bắc Kinh không tôn trọng những thỏa
hiệp quốc tế đă kư. Nói chung, Trung Quốc đ̣i thế giới
phương Tây giúp đỡ nhiều hơn là giúp các quốc gia khác phát
triển.
Về trách nhiệm tương ứng: đây là nguyên tắc ngược lại với
hai nguyên tắc trên. Trung Quốc tự nhận là một nước lớn để
có tiếng nói trước các vấn đề lớn của thế giới, nhưng lại
thêm vào hai chữ tương ứng để giới hạn khả năng chi tiền, v́
vẫn tự coi là một quốc gia đang phát triển chưa đủ yếu tố để
trở thành một cường quốc có trách nhiệm.
Nói tóm lại, những mục tiêu và nguyên tắc của chính sách
thảo xuất khẩu chỉ nhằm phục vụ cho quyền lợi của Trung Quốc
chứ không v́ một lư tưởng nào khác.
Mục tiêu ngắn hạn và trước mắt: giải quyết nạn thất nghiệp
Theo thống kê của bộ thương mại Trung Quốc, số người Trung
Quốc làm việc tại nước ngoài hiện nay lên trên một triệu
người, đa số tại các quốc gia Châu Phi. Trong tương lai gần
con số này sẽ gia tăng hơn nữa, thị trường lao động quốc tế
đang cần rất nhiều người làm việc trong các đại công tŕnh
xây dựng hạ tầng cơ sở tại những quốc gia đang phát triển v́
nhân công địa phương chưa đủ tŕnh độ đảm nhiệm một ḿnh và
nhân công phương Tây không chịu làm việc trong những điều
kiện khó khăn như trong sa mạc hay vùng rừng núi nhiệt đới
với đồng lương thấp.
Trái với suy tưởng của mọi người, mặc dù làm việc như một nô
lệ, số người Trung Quốc t́nh nguyện làm đơn ra nước ngoài
làm việc rất đông. Tất cả chỉ v́ mà lư do duy nhất: tiền.
Lương một công nhân Trung Quốc làm việc tại nước ngoài cao
hơn một công nhân trong nước gấp ba lần, trung b́nh từ 300
đến 500 USD/tháng, v́ được lănh thêm giờ phụ trội và ăn uống
miễn phí. Đối với chủ thầu Trung Quốc, mướn một công nhân
Trung Quốc cho dù phải trả lương cao hơn họ vẫn có lời v́
vừa bảo đảm thời gian hoàn thành công tác vừa ít tốn kém hơn
là thuê một công nhân địa phương. Thêm vào đó, công nhân
Trung Quốc dễ bảo hơn công nhân địa phương v́ cùng ngôn ngữ
và biết châp hành kỷ luật hơn. Hơn nữa v́ chỉ xuất khẩu lao
động sang những quốc gia đang phát triển hay đang trên đường
phát triển, nghĩa là c̣n chậm tiến, tŕnh độ kỹ thuật tại
những quốc gia này không cao nên rất phù hợp với khả năng
của công nhân Trung Quốc.
Với phong trào thảo xuất khẩu này, Bắc Kinh sẽ giải quyết
một phần nào gánh nặng thất nghiệp đang đè nặng trên cỗ xe
phát triển. Hiện nay trên thế giới có 30 triệu công nhân
xuất khẩu, trong đó Trung Quốc chỉ chiếm 1/30 thị trường.
Bắc Kinh dự trù sẽ chiếm ít nhất 1/5 thị trường này, do đó
đang đào tạo và huấn luyện thêm chuyên viên để có thể xuất
khẩu từ 3 đến 5 triệu người ra nước ngoài trong ṿng 10 năm
tới. Nếu đạt được con số này, ngoại tệ do những người này
mang về nước sẽ tăng thêm gấp bội. Một viên đạn trúng hai
mục đích: vừa giải quyết được nạn thất nghiệp trong nước,
vừa mang thêm ngoại tệ mạnh vào trong nước.
Mục tiêu trung hạn : xây dựng tai mắt tại nước ngoài
V́ thiếu tài nguyên thiên nhiên và nhiên liệu, Trung Quốc
buộc phải tung người và tung tiền ra nước ngoài mang về phục
vụ nền kinh tế đang phát triển của ḿnh. Trong lănh vực này
sự cạnh tranh rất gay gắt. V́ có mặt chậm trễ trên những
vùng giàu có tài nguyên thiên nhiên tại Châu Phi và Nam Mỹ,
Trung Quốc đă trả một giá khá đắt để thu về những tài nguyên
mà ḿnh đang thiếu, đa số là những khu vực mà các quốc gia
cựu thuộc địa cho rằng không c̣n mang lại hiệu năng kinh tế
mong muốn.
Để tiếp cận với các nước Châu Phi và Nam Mỹ giàu tài nguyên,
chính quyền và các công ty quốc doanh Trung Quốc áp dụng
phương pháp win-win, nghĩa là hai bên cùng có lợi. Quốc gia
có tài nguyên được Bắc Kinh cấp viện trợ để phát triển hạ
tầng cơ sở, các công ty quốc doanh Trung Quốc xây dựng cơ
xưởng, nhà máy khai thác và chế biến, bù lại Trung Quốc được
quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên mang về nước, gọi là
"giải pháp trọn gói". Đây cũng là phương pháp hành động của
các xí nghiệp Trung Quốc tại nước ngoài.
Để giản dị hóa vấn đề và cũng để rút ngắn thời gian đào tạo
nhân sự địa phương để đưa vào khai thác, các công ty Trung
Quốc đưa thẳng lực lượng lao động từ mẫu quốc sang làm việc,
vừa tiết kiệm được chi phí đào tạo vừa bảo đảm hoàn thành
chỉ tiêu mong muốn. Đây là những người lính tiền phương
không súng ống nhưng có tŕnh độ kỹ thuật hơn lực lượng lao
động địa phương.
Để bảo đảm quyền khai thác tài nguyên lâu dài tại nước ngoài,
xây dựng một đội ngũ nhân sự làm tai mắt tại nước ngoài là
một bắt buộc, nếu không muốn nói là yêu cầu sống c̣n của
Trung Quốc. Đội ngũ này không ai khác hơn là lực lượng lao
động xuất khẩu hiện đang có mặt tại khắp nơi trên thế giới.
Khác với những lao động xuất khẩu nước ngoài khác, những
công nhân này được đoàn ngũ hóa (như trong đảng và quân đội)
và chỉ làm việc cho những công ty Trung Quốc, do đó không lệ
thuộc nhiều vào luật pháp của quốc gia địa phương. Mặc dù là
công nhân làm việc trong lănh vực tư, họ được chính quyền
Trung Quốc trực tiếp bảo vệ, do đó được đối xử gần như theo
qui chế ngoại giao.
Nói cách khác, lực lượng lao động xuất khẩu này là những sứ
giả được cử ra nước ngoài làm việc v́ quyền lợi của Trung
Quốc. Những người này đă từng nằm gai nếm mật trên những
công trường nổi tiếng khó khăn, biết đâu là quyền lợi lâu
dài của Trung Quốc, biết đâu là cạm bẫy để các công ty tại
mẫu quốc tránh né.
Chẳng hạn tại Angola, một quốc gia Châu Phi vừa ra khỏi
chiến tranh sau 28 năm nội chiến. Mặc dù có rất nhiều tài
nguyên khoáng sản dưới ḷng đất, không một quốc gia cựu
thuộc địa hay phương Tây nào chịu bỏ tiền ra để đầu tư v́
tham nhũng đang hoành hành. Bắc Kinh liền lợi dụng thời cơ
xâm nhập vào để chiếm lĩnh thị trường. Năm 2004, Bắc Kinh đề
nghị giúp Luanda (thủ đô Angola) từ 7 đến 10 tỷ USD để xây
dựng lại hệ thống hạ tầng cơ sở. Hơn 30 dự án đă được chấp
thuận, đặc biệt là nhà máy lọc dầu tại Lobito và con đường
bờ biển đến biên giới nước Congo-Zaire. Nhưng sau ba năm bỏ
vốn và đưa người qua làm việc, Bắc Kinh cảm thấy như đổ tiền
vào một lỗ hỗng không đáy, hơn một phần ba số tiền bỏ ra (khoảng
4 tỷ USD) đă lọt vào túi những cấp lănh đạo địa phương. Bắc
Kinh và giới tài phiệt Trung Quốc chưa đánh giá đúng mức nạn
tham nhũng tại Châu Phi. Những chuyên viên Trung Quốc làm
việc tại chỗ đă báo trước tệ nạn tham nhũng này nhưng Bắc
Kinh không tin. Sau khi bị mất trắng và không hy vọng thu
hồi được, Bắc Kinh mới quyết định bỏ rơi dự án xây dựng con
đường huyết mạch Lobito-Zaire và đem theo toàn bộ máy móc và
trang thiết bị đi nơi khác.
Nhờ sự báo động kịp thời của lực lượng lao động tại chỗ, Bắc
Kinh đă tránh được những cạm bẫy tương tự tại Nigeria. Một
hợp đồng 2 tỷ USD xây dựng nhà máy lọc dầu tại Kaduna đă bị
công ty dầu lửa CNPC của Trung Quốc hủy bỏ. Tại Zambia cũng
thế, công ty khai thác mỏ đồng của Trung Quốc đă rút lui sau
khi được báo động là chính quyền địa phương đ̣i thêm tiền
khai thác. Bù lại, cũng nhờ những thông tin kịp thời từ
nhiều lao động xuất khẩu mà các công ty khai thác mỏ quặng
của Trung Quốc đă có mặt tại những nơi có trữ lượng dầu thô
(Saudi Arabia, Angola, Nigeria, Sudan), đồng (Zambia,
Mauritania), cobalt (Congo-Zaire), sắt, manganese,
chrome, platinium, uranium (Nam Phi), kim cương (Rhodesia),
gỗ (Gabon) và bông vải (Burkina Fasio) quan trọng với phẩm
chất cao.
Mục tiêu dài hạn : giải quyết nạn nhân măn tại mẫu quốc
Quốc gia đông dân nào cũng có một chính sách nhân măn.
Giải quyết bằng cách nào tùy thuộc vào triết lư chủ đạo và
tŕnh độ văn hóa của các cấp lănh đạo. Trung Quốc là một
quốc gia lớn, dân số chiếm 1/5 dân số thế giới, đây là một
mối lo lớn v́ nếu không có biện pháp giải quyết ngay từ bây
giờ, nạn nhân măn tại mẫu quốc sẽ dẫn đến nội loạn với nhiều
hậu quả không thể lường trước.
Chính sách một con đă không giải quyết được vấn đề mà c̣n là
một sai lầm về dân số (thiếu phụ nữ, số người già tăng nhanh
trong khi số thanh niên bước vào tuổi lao động tăng chậm,
gây mất thăng bằng trong phân phối lao động). Chính sách
đóng thêm tiền (600 USD) để có hai con trong một gia đ́nh
chỉ đào sâu thêm hố cách biệt giàu nghèo. Chính sách hạn chế
người từ nông thôn ra thành thị chỉ gây thêm bất măn v́ nông
dân cũng được quyền thụ hưởng những phúc lợi do phát triển
mang lại. Cách hay nhất là khuyến khích tự nguyện hạn chế
sinh đẻ, nhưng dân chúng Trung Quốc chưa sẵn sàng đáp ứng.
Giải quyết nạn nhân măn bằng cách nào ? Chính sách mới hiện
nay là xuất khẩu ồ ạt lao động ra nước ngoài, rồi t́m cách ở
lại bằng mọi giá tại quốc gia sở tại để làm bàn đạp đưa
người (thân nhân) và hàng hóa vào bán. Sau cùng là thành lập
những cộng đồng người Hoa bản xứ như đă từng xảy tại các
quốc gia Đông Nam Á và phương Tây, với những China Town, nơi
tiêu thụ hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc. Nhất cử lưỡng lợi.
Mục tiêu dài hạn của Bắc Kinh hiện nay là làm sao xây dựng
cho bằng được một lực lượng Hoa kiều thật đông đảo tại khắp
nơi trên thế giới th́ tương lai của Trung Quốc được bảo đảm
trong dài hạn. Nền kinh tế của Trung Quốc sẽ không c̣n gặp
các vấn đề như thị trường tiêu thụ, tài nguyên thiên nhiên,
nguyên vật liệu sản xuất v́ đă có lực lượng Hoa kiều này đảm
trách. Cộng đồng Hoa kiều này sẽ là những đầu cầu kinh tế và
văn hóa để mang ngoại tệ về mẫu quốc. Đội quân thứ năm này
sẽ thay mặt Trung Quốc tranh thủ cảm t́nh các chính quyền và
dân chúng địa phương và thay thế dần dần cộng đồng người Hoa
hải ngoại, một trong những trung tâm quyền lực kinh tế tài
chánh mạnh nhất thế giới, có nhiều cảm t́nh với Đài Loan.
Chủ trương viện trợ và xuất khẩu lao động ra nước ngoài cũng
là một cách để loại trừ ảnh hưởng của Đài Loan ra khỏi một
số địa bàn kinh tế chiến lược trên thế giới. Trong ṿng 10
năm Đài Loan đă mất những đồng minh kinh tế chính tại Châu
Phi như tại Nam Phi (1998), Sénégal (2005), Chad (2006),
Malawi (2007), trong tương lai sẽ đến lượt Chile và Costa
Rica tại Châu Mỹ. Hiện nay chỉ c̣n những quốc gia Châu Phi
nhỏ như Swaziland, Gambia, Burkina Fasion và Sao
Tome-Principe c̣n giữ quan hệ ngoại giao và kinh tế với Đài
Loan, v́ là những quốc gia sản xuất đá quí và kim loại hiếm.
Cũng nên biết, Đài Loan thi hành chính sách nhân măn và truy
t́m tài nguyên thiên nhiên tại nhiều quốc gia khác từ nhiều
năm qua bằng cách thuê dài hạn hay mua luôn những vùng đất
rộng lớn tại Đông Nam Á hay những hải đảo nhỏ tại vùng
Polynesia trên Thái B́nh Dương để đưa người sang canh tác.
Khác với Trung Quốc, sự tiếp cận của Đài Loan với các quốc
gia giàu tài nguyên hiếm quí hoàn toàn v́ mục đích kinh tế,
chứ không phải để làm tai mắt hay di dân.
Sự hiện diện của người Trung Quốc tại Châu Phi tăng nhanh
một cách đáng kể. Năm 1999, toàn lục địa Châu Phi chỉ có
dưới 100.000 người Trung Quốc, hiện nay đă lên đến một triệu
người. Các phố Tàu, các bảng hiệu tiếng Hoa treo khắp nơi,
hàng hóa made in China tràn ngập. Riêng người Trung Quốc tại
cộng ḥa Nam Phi lên đến 400.000 người. Với Giải bóng đá thế
giới Fifa 2010 được tổ chức tại Nam Phi, phong trào tiêu thụ
hàng hóa Trung Quốc có cơ nổ bùng. Không riêng ǵ tại Châu
Phi da đen, cộng đồng người Trung Quốc cũng có mặt đông đảo
tại những quốc gia Ả Rập Hồi giáo miến bắc Châu Phi và trong
Vùng Vịnh. Lực lượng Hoa kiều tại chỗ đă đáp ứng được nhu
cầu tiêu thụ của người địa phương qua các dịch vụ cung cấp
hàng may mặc, đồ điện gia dụng giá rẻ và lương thực. Hàng
trăm ngàn người Châu Phi dự phần vào quá tŕnh bán lẻ hàng
Trung Quốc cũng nhờ đó khá giả theo.
Thành quả của sự mở rộng ra nước ngoài
Ưu tư chính của Bắc Kinh khi mở rộng ra nước ngoài rất giản
dị, đó là thu mua nguyên nhiên vật liệu và tài nguyên thiên
nhiên về mẫu quốc để chế biến và xuất khẩu ra nước ngoài thu
về ngoại tệ.
Đối với Châu Phi: Từ 2000 đến 2007, tổng ngạch trao đổi giữa
Châu Phi với Trung Quốc đă tăng lên gấp 7 lần, từ 10 lên 70
tỷ USD, và trở thành đối tác chính thứ hai tại Châu Phi, sau
Pháp nhưng trên Mỹ. Theo giới quan sát, đây chỉ là bước đầu
v́ tŕnh độ kỹ thuật của Trung Quốc không cao nên rất thích
hợp khả năng của người Châu Phi, hơn nữa với một lực lượng
lao động cần cù và hùng hậu tất cả mọi công tŕnh đều hoàn
tất đúng thời hạn và với giá thấp, Trung Quốc có thể chiếm
lĩnh trí dẫn đầu.
Về khai thác và nhập khẩu dầu thô, Trung Quốc chỉ đứng sau
Hoa Kỳ: dầu thô mua từ Châu Phi chiếm 20% lượng dầu thô nhập
khẩu, đặc biệt là Saudi Arabia và Angola. Các công ty quốc
doanh tiêu biểu nhất của Trung Quốc đều có mặt tại Châu Phi,
như Tập đoàn Dầu mỏ khí đốt (CNPC), Tập đoàn hóa chất dầu
lửa Trung Quốc (Chinopec), Tổng công ty dầu hỏa Hải Dương
Trung Quốc (CNOC) và nắm quyền khai thác và bán sỉ, bán lẻ ở
25 địa điểm trên toàn Châu Phi. Kế đến là các tập đoàn khai
thác mỏ quặng, như Tập đoàn trị kim, Tập đoàn khai mỏ, Tập
đoàn khoáng sản màu, Tập đoàn luyện kim, Tập đoàn tài nguyên
Trung Tín (Citic) cũng đều có mặt tại Châu Phi.
Theo bộ ngoại thương Trung Quốc, cho đến nửa đầu năm 2009,
tổng ngạch đầu tư vào Châu Phi đă lên đến 875 triệu USD.
Ngân hàng công thương Trung Quốc nắm giữ được 20% chứng
khoán của Standard Bank (Nam Phi), ngân hàng lớn nhất của
Châu Phi. Trung Quốc cũng đầu tư xây dựng Nhà máy phát điện
bằng than đá lớn nhất tại Boswana với 800 triệu USD và chuẩn
bị xây dựng 60 công tŕnh khác trên toàn Châu Phi. Trong
Diễn đàn hợp tác Trung Phi tổ chức tại Ai Cập tháng 11-2009
vừa qua, Trung Quốc hứa sẽ cho vay 10 tỷ USD với lăi suất
thấp suất để phát triển Châu Phi. Số tiền này được dùng để
tài trợ các dự án phát triển hạ tầng cơ sở do các công ty
xây dựng Trung Quốc thực hiện, như Trung Quốc trung thiết (đường
sắt), Trung Quốc trung tài quốc tế công tŕnh, Trung Quốc
thủy lợi kiến thiết. Tóm lại, mục tiêu chiến lược chính của
Trung Quốc tại Châu Phi là khai thác tài nguyên mang về mẫu
quốc càng nhanh và càng nhiều. Nói chung, với những số tiền
đầu tư khổng lồ này, Trung Quốc đă góp phần làm phát triển
và nâng cao mức sống của người Châu Phi.
Nhưng chính sách diều hâu tài nguyên và thái độ trịch thượng
của người Trung Quốc đối với các dân tộc Châu Phi da đen
đang gây một làn sóng chống đối âm ỉ và đang chờ cơ hội bộc
phát dữ dội. Tại một số nơi, dân chúng Châu Phi đang biểu lộ
sự bất măn trước sự hiện diện ồ ạt của lao động Trung Quốc
và thương gia Trung Quốc. Lao động Trung Quốc dành hết công
ăn việc làm trong các công tŕnh xây dựng, hàng hóa rẻ của
Trung Quốc đă bóp chết nền tiểu thủ công nghiệp địa phương,
như giầy dép, vải, đồ sành sứ. Nhiều cuộc xuống đường chống
đối người Trung Quốc đă xảy ra tại Senegal, Zambia, Zimbabue,
Nam Phi. Ngược lại, các công ty đầu tư Trung Quốc cũng đă
bắt đầu bỏ rơi những nơi bị coi là bất ổn và mất an ninh như
mỏ đồng Chambisi (Zambia). Các chính quyền Châu Phi đă thấy
sự giới hạn về kỹ thuật của các công ty khai thác dầu ngoài
khơi của Trung Quốc và đang t́m lại những đối tác cũ là các
công ty Hoa Kỳ, Anh và Pháp. Thêm vào đó, nguyên tắc không
can thiệp vào nội bộ và che chở những chế độ độc tài bị lên
án gây tội ác chống loài người như Sudan tại Darfur.
Đối với ASEAN : Sự hiện diện của Trung Quốc tại Đông Nam Á
rất đa dạng, lúc th́ trực tiếp lúc th́ gián tiếp, nhưng
không bỏ lỡ một cơ hội nào. Trong số 10 nước ASEAN, Trung
Quốc nhắm vào 5 nước ở vùng biên giới phía Nam là Myanmar,
Thái Lan, Lào, Cambốt và Việt Nam. Nhưng ưu tư chính của
Trung Quốc là làm sao xây dựng cho bằng được những đường vận
chuyển hàng hóa và tài nguyên từ vùng Hoa Nam đến các hải
cảng theo hướng bắc-nam và đông-tây, từ Vịnh Thái Lan lên
đến Vân Nam và từ Biển Đông Việt Nam lên đến Côn Minh. Trước
đó Nhật Bản, qua Liên Hiệp Quốc, đă góp phần chính trong
việc đầu tư xây dựng các tuyến đường bộ đông-tây và bắc-nam.
Không chịu thua, Trung Quốc trực tiếp đầu tư ba tuyến đường
sắt: Bắc-Nam từ Côn Minh đến Singapore, qua Hà Nội, Sài G̣n,
Bangkok, Kuala Lumpur; Đông-Tây từ Hà Nội đến Nakhon Phanom;
từ Côn Minh đến Chiang Mai. Với ba đường sắt chính này,
Trung Quốc sẽ đầu tư tân trang lại những tuyến đường sắt
liên ASEAN, khu vực Hoa Nam của Trung Quốc sẽ c̣n bị cô lập
trong đất liền.
Thái Lan là quốc gia ASEAN được Trung Quốc ưu ái nhất, v́
thủ tướng Abhisit Vejjajiva là một người gốc Hoa (tên Viên
Thừa Lợi) và những thành phần quan trọng nhất trong chính
phủ đều là người gốc Hoa. Những người này đă dành cho tổ
quốc những ưu đăi mà không quốc gia nào có, đó là quyền được
xây dựng những khu công nghiệp chuyên dụng cho các xí nghiệp
Trung Quốc ở Rayon, ngoại ô Bangkok, và hành lang Đông-Tây
thứ hai.
Với những số tiền viện trợ ODA của Trung Quốc dành cho 4
quốc gia nghèo nhất ASEAN (Lào, Việt Nam, Campuchia và
Myanmar), những tập đoàn xây dựng Thái đă cùng với các công
ty Trung Quốc dàn xếp để trúng thầu xây dựng các công tŕnh
lớn như sân vận động quốc tế ở Myanmar, các cây cầu nối liền
hai bờ sông Mekong, hội nghị trường quốc tế ở Vientiane.
Riêng sân vận động Vientiane do Trung Quốc xây dựng để kịp
thời tổ chức Sea Games tháng 12-2009.
Cũng nên biết, trong các công tŕnh này Trung Quốc không
những tham gia vốn, vật tư mà c̣n gửi hàng chục ngàn lao
động vào để thực hiện các công tŕnh xây dựng. Đó là lư do
tại sao có sự hiện diện của lao động Trung Quốc tại ba nước
Cambốt, Lào và Việt Nam để khai thác đá quí, bauxite, vàng,
đồng.
Đối với Việt Nam, Trung Quốc đă trở thành đối tác lớn nhất
về xuất nhập khẩu. H́nh ảnh từng đoàn cửu vạn khuân hàng dọc
các đường đèo hiểm trở trong vùng biên giới giữa hai nước đă
biến mất. Bây giờ là một xa lộ lớn nối liền Nam Ninh, thủ
phủ của Khu tự trị dân tộc Trang (Choang), tỉnh Quảng Tây,
đến Hà Nội qua ngă Bằng Tường. Các trường đại học và giáo
dục cao đẳng ở Nam Ninh đang được mở rộng để ưu tiên đón
tiếp con em các nhân vật lớn trong chính phủ của ba nước
Đông Dương vào học. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đă từng
được đào tạo tại đây.
Nói tóm lại, sự hiện diện ồ ạt của các công ty đầu tư và lực
lượng lao động Trung Quốc tại nước ngoài đang làm dư luận
quốc tế lo ngại. Giới tài phiệt Trung Quốc tại nước ngoài đă
không ngần ngại nhe nanh giương vuốt đe dọa những ai đe dọa
quyền lợi của họ tại hải ngoại. Người ta đang chờ Trung Quốc
sa chân tại một khúc quanh nào đó để nhắc nhở bài học khiêm
nhường.
Nguyễn
Minh
Tokyo |