|
(VIDEO CUỐI
TRANG)
tka23-post
ĐINH TỪ THỨC
Nguồn:
J.F. terHorst & Col. Ralph Albertazzie,
The Flying White House (Coward McCann &
Geoghegan, Inc., New York: 1979).
LTS: Cái chết của
Tổng Thống John F. Kennedy 45 năm trước là một biến
cố lịch sử quan trọng. Sau đây là câu truyện được kể
lại theo cái nh́n từ Air Force One, chiếc Boeing 707
đă chở Tổng thống Kennedy đi vận động tái tranh cử ở
Texas, và chở xác ông về vào ngày 22 tháng 11 năm
1963, được thuật lại bởi
J.F. terHorst & Ralph Albertazzie.
J.F. (“Jerry”) terHorst
là kư giả tại Bạch Ốc từ năm 1957, tháp tùng nhiều
chuyến công du quan trọng của Tổng Thống, kể cả
chuyến đi của Nixon tới Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. Ông
cũng là tùy viên báo chí đầu tiên của Tổng thống
Ford. J.F. terHorst từ chức tháng 9 năm 1974 v́ phản
đối chuyện Tổng Thống Ford ra ân xá cho cựu Tổng
Thống Nixon. Đại tá
Ralph Albertazzie là Tư lệnh Air Force One trong
hơn 5 năm, thời Nixon.
Chuyến bay từ Fort Worth tới địa điểm kế tiếp chỉ có 13
phút, xa đủ cho Đại tá James Swindal nâng chiếc Boeing
707 sang trọng lên trên tầm mây, trước khi bắt đầu hạ
cánh xuống phi trường Love Field ở Dallas. Trên đường
lăn bánh tới ṭa nhà chính phi trường, Swindal có thể
nh́n thấy một đám đông đợi sẵn, đang nhẩy múa vẫy chào.
Điều này chứng tỏ đâu
phải tất cả Dallas đều chống Kennedy, như nhóm tiền đạo
đă báo cáo.
Air Force Two,
chiếc Boeing giống hệt, tuy cũ hơn, chở Phó Tổng thống
và bà Johnson cùng với nhóm dân biểu Texas, và đám phụ
tá cho ông
Lyndon
Johnson, đă hạ cánh từ trước. Ở Dallas hôm nay, cũng như
hôm trước tại San Antonio, Houston và Fort Worth,
ông Johnson đă đóng vai “người nhà Texas,” để đón tiếp
Tổng Thống và Bà Kennedy.
Đám đông kêu ré lên, khi cửa
Air Force One mở, và
ông bà Kennedy bước ra dưới ánh mặt trời chói chang.
Tổng thống và phu nhân, vượt mau qua một hàng dầy đặc
các nhà tai mắt Dallas đón chào, và vội vàng tới bắt tay
những người ngưỡng mộ đứng dọc theo hàng rào.
Jacqueline cười rạng rỡ khi nhận bó hồng tươi từ tay một
thiếu nữ. Ông bà Kennedy đă để ra gần 20 phút tiếp xúc
với dân chúng, lâu hơn thời gian dự trù, nhưng vẫn không
đủ để vừa ḷng những người ái mộ. Các bà reo lên: “Tôi
đụng vào ông ấy rồi! Tui sờ Ổng rồi!” Kư giả Charles
Roberts của Newsweek tới gần được bà Kennedy, hỏi: “Bà
có thích đi vận động không?”
“Tuyệt diệu!” bà
trả lời. “Thật là tuyệt vời!”
Từ cửa Air Force One,
kỹ sư phi hành Joe
Chappell đứng ngắm đoàn xe xếp hàng sửa soạn vào Dallas.
Tổng thống Kennedy ra lệnh gỡ bỏ
tấm mui úp như nửa trái bong bóng từ chiếc limousine
Lincoln bọc thép chống đạn, để dân chúng có thể dễ dàng
nh́n thấy ông và Jackie.
Ông cũng ra
lệnh cho các nhân viên mật vụ không đứng chắn trên bệ
gấp, gắn hai bên và sau xe, khi qua những phố đông đúc.
Tổng Thống Kennedy muốn
chứng tỏ ông không hề sợ hăi khi tới Dallas, mặc dầu
giữa không khí bảo thủ nóng bỏng. Năm 1960, một
đám các bà nội trợ đă nhổ nước bọt vào ông bà Johnson,
chỉ v́ ông đă chịu tranh cử chung liên danh với Kennedy.
Mới vài tuần trước, Đại sứ tại Liên Hiệp Quốc Adlai
Stevenson đă bị đối xử không đẹp tại Dallas. Và mới sáng
nay, 22 tháng 11, 1963, báo
Dallas Morning News đă
đăng nguyên trang quảng cáo khung đen,
lên tiếng tố cáo Kennedy quá mềm
yếu đối với Cộng sản. Tổng thống tỏ vẻ ghê tởm
khi đọc nó, mới trước khi máy bay hạ cánh.
Ngay sau
limousine Bạch Ốc là “Queen Mary,” một chiếc Cadillac
đời 1955 nặng tới 5 tấn, là xe an ninh, đầy nhóc mật vụ.
Theo sau là chiếc xe mui trần chở Phó Tổng Thống, ngồi
chung với đối thủ cũ là Nghị sĩ
Ralph Yarborough.
Nối tiếp là đoàn xe chở đám kư giả thường trực tại Bạch
Ốc, và các nhiếp ảnh viên, thêm một số các nhân vật tại
Texas, và cuối cùng là đoàn xe bus cho các chính trị gia
kém quan trọng hơn, cùng với các phóng viên của
Washington và Texas.
Khi limousine
của Tổng thống bắt đầu lăn bánh, là cảnh tranh nhau lên
xe bus của các phóng viên từng theo sát ông bà Kennedy,
lúc họ bắt tay dân chúng gần hàng rào phi trường. Kư giả
Roberts phóng lên được chiếc bus báo chí đầu tiên, cách
Tổng thống bảy xe.
Đô đốc George Burkley, bác sĩ riêng của Tổng Thống
thiếu may mắn hơn. Kenneth O’Donnell, tùy viên trưởng
của Tổng Thống, muốn đi trên chiếc Queen Mary. Thế là,
bác sĩ phải đi trên chiếc bus gần cuối đoàn. Đô đốc phản
đối với bà
Evelyn
Lincoln, thư kư riêng của Tổng Thống, cũng đi cùng xe:
“Thật vô lư! Bác sĩ riêng của Tỗng Thống phải đi gần ông
ấy chứ”.
Dầu sao, lời
ca cẩm của bác sĩ Burkley có vẻ không đáng quan tâm.
Khắp nơi, không hề có dấu hiệu bất thường nào; toàn
những người đổ ra đầy vẻ nồng nhiệt và thân hữu. Đoàn
xe, được hộ tống hai bên bởi mô-tô cảnh sát, ḅ chậm
chạp theo Lemmon Avenue, vào Turtle Creek Boulevard,
xuống Harwood Street rồi quẹo mặt vào Main Street, cách
Dealey Plaza 12 khu phố. Một đám đông khổng lồ. Đoàn xe
được đón chào bằng tiếng la hét, một thứ âm thanh như
sấm động, lên xuống như cả dẫy nhà chọc trời đổ xuống
đoàn xe phía dưới. Cả một biển
người dọc theo hai bên Main Street. Giữa trưa, tháng 11
mà nóng như thiêu.
Không phải
tất cả mọi người đều rời
Air Force One để vào thành phố. Christine Camp và
Sue Vogelsinger là hai thư kư của pḥng báo chí Bạch Ốc,
ở lại trên phi cơ để in những thông cáo báo chí về lịch
tŕnh dự trù cho ngày hôm sau, như dạ tiệc gây quỹ lớn
tại Austin. Phi công Swindal, bận rộn với nhiệm vụ phải
chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến đi kế tiếp, đă chỉ ăn một
sandwich thịt ḅ nướng, và từ chối lời mời ăn trưa với
Đại tá George McNally, trưởng cơ quan truyền tin Bạch
Ốc.
V́ Tổng Thống
và Đệ Nhất Phu Nhân chỉ trở lại phi trường sớm nhất là
sau 90 phút, nhiều người đă quyết định đi theo McNally.
Từ tiệm ăn phi trường, họ có thể nh́n thấy rơ phi cơ
Tổng Thống (số hiệu SAM 26000). Xa hơn chút nữa là chiếc
Air Force Two (SAM
970), và chiếc phản lực cơ thuê của hăng Pan American
chở báo chí Bạch Ốc.
Trung tâm
truyền tin trên Air Force
One có đường liên lạc thường trực bằng radio với
đoàn xe Tổng Thống, và với sở truyền tin Bạch Ốc qua chi
nhánh tạm thời đặt tại khách sạn Sheraton-Dallas. Từ
đấy, có liên lạc vô tuyến giữa toán Bạch Ốc du hành với
Bạch Ốc cố định ở Washington, trung tâm Chỉ huy Quân sự
ở Pentagon, Bộ Ngoại giao và trụ sở trung ương Mật Vụ
(Secret Service). Từ trên phi cơ, Swindal có thể nghe
tiếng các nhân viên mật vụ nói với nhau, trong khi đoàn
xe đi qua trung tâm Dallas để tới Trade Mart, là nơi
Tổng Thống sẽ nói truyện với công chúng.
12:30 chiều, giờ Dallas trên
Air Force One, một
tiếng nổ nghe được từ băng tần Charlie, rồi một tiếng
nữa. Swindal khựng lại. Ông nhận ra tiếng Roy Kellerman,
trưởng nhóm Mật Vụ đi trên xe Tổng Thống, cùng với tiếng
nổ thứ ba: “Dagger chắn Volunteer!” (“Dagger cover
Volunteer!”) Qua radio, nghe rơ ràng tiếng bánh xe rít
trên mặt đường. Rồi im lặng.
Chuyện ǵ đă xẩy ra? Giọng Kellerman đầy vẻ ngạc nhiên
và cấp bách. “Dagger” là mật hiệu chỉ Rufus Youngblood,
trưởng nhóm mật vụ đi theo Lyndon B. Johnson (LBJ).
“Volunteer” là mật hiệu chỉ Phó Tổng Thống LBJ. Phải
chăng Phó Tổng Thống đă bị tấn công?
Chuyện gỉ đă xẩy ra? Im
lặng và chờ đợi làm cho không khí gần như nghẹt thở. Rồi
một lúc lâu sau, Swindal nhận được cú điện thoại từ bệnh
viện Parkland Memorial. Thiếu tướng Godfrey McHugh, tùy
viên không lực của Tổng Thống, chỉ ra lệnh mà không giải
thích: Đổ xăng
Air Force One ngay lập
tức, bỏ chuyến đi Austin, nạp phi tŕnh về thẳng
Washington.
Bây giờ th́ Swindal biết chuyện ǵ đó đă xẩy ra cho
Tổng Thống. Ông tiến ra căn pḥng lớn của Tổng Thống ở
phía trước phi cơ, bật TV. Nhận thấy vẻ chấn động của
ông, những người khác trên phi cơ – Camp, Vogelsinger,
Ayres và Thomas – cũng bu lại quanh máy truyền h́nh.
12:36 giờ Dallas, ABC chen vào chương tŕnh của đài địa
phương, loan tin khẩn cấp của Merriman Smith, phóng viên
UPI, đi với nhóm kư giả, cách Tổng Thống 3 xe:
“Ba phát súng đă bắn vào
xe Tổng Thống tại Dallas.” Bốn
phút sau, Walter Cronkite xuất hiện trên CBS, loan báo
Tổng Thống bị bắn, và có lẽ bị trọng thương. Sau đó, NBC
cho biết thêm những điều khủng khiếp khác.
Mọi người như tê dại trước chiếc TV tại pḥng Tổng
Thống trên Air Force One.
Mọi chuyện như ngừng lại. Họ nh́n trân vào mắt nhau,
rúng động. Không thể chấp nhận được những mẩu tin đang
bắn ra từ màn ảnh TV, như những viên đạn vô h́nh. Hai
người phụ nữ ôm nhau khóc nức nở. Ayres đấm đầu than
trời. Thomas nước mắt lưng tṛng, như người không hồn,
đi về pḥng ngủ phía sau cất dọn quần áo của Kennedy.
Trung tá Lewis Hanson, phi công phụ của
Air Force One, nhân cơ
hội dừng chân ở Dallas, đă chạy về thăm mẹ vợ đau yếu
sống tại đây. Khi được hung tin, vội trở lại Love Field
giúp đỡ Swindal.
Tại tiệm ăn phi trường, nhóm thành viên phi hành cảm
thấy có chuyện bất thường. Tiếng chén đĩa khua lớn hơn
thường lệ. Người này nói nhỏ với người kia đầy vẻ âu lo.
Ngay cả đám hầu bàn cũng túm năm tụm ba chỗ cửa nhà bếp.
Thượng sĩ Joe Giordano, trưởng ban hành lư trên
Air Force One, đứng
lên đi t́m hiểu nguồn tin nói rằng toán Pan Am đă được
gọi trở lại phi cơ chở báo chí.
Rồi hệ thống loa phát thanh công cộng gọi khẩn cấp các
toán phi hành của SAM 26000 và SAM 970.
1:23 giờ Dallas, (2:23 giờ miền Đông Hoa Kỳ) tin radio
cho biết Tổng Thống Kennedy đă được chịu các phép bí
tích sau cùng theo đạo Công giáo.
1:35 tại Dallas, UPI và AP loan đi nguồn
tin làm chấn động thế giới:
“Tổng Thống Kennedy đă từ
trần.”
Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, Love Field bỗng nhiên
im lặng đáng sợ. Không cử động. Không tiếng nói. Tiếp
theo là sự đau buồn, hoang mang và sự sợ hăi ŕnh rập
tại bệnh viện Parkland Memotial đă chuyển tới Love
Field. “Chính quyền Hoa Kỳ đă bị đánh nát đầu,” giống
như sau này Roberts của Newsweek đă viết. Trong ṿng hai
giờ đầu, không ai biết đầu đuôi câu truyện ra sao. Cảnh
sát chạy quanh với cái nh́n ngu ngốc. “Ai nh́n không có
vẻ ngu ngốc, th́ cảm thấy ngu ngốc”. Nếu ai có trách
nhiệm điều khiển mọi sự vào lúc đó, th́ xem như chẳng ai
biết người đó là ai.
Được lệnh sửa soạn cho SAM 26000 cất cánh tức th́,
Swindal chỉ thị cho Chappell rút đường giây nối máy điều
ḥa không khí từ dưới đất. Dưới ánh nắng nóng bỏng của
Texas, bên trong phi cơ giống như pḥng tắm hơi.
Trở lại trước tiên từ bệnh viện, không phải đám tháp
tùng Kennedy, mà là chiếc limousine vấy máu, với mui
chắn đạn an toàn đă được lắp vào.
Nó được chở về bằng một trong những phi cơ vận tải C-130.
Đám mật vụ trong t́nh trạng căm tức, vừa hối hận không
bảo vệ được chủ, vừa bực bội không bắt được thủ phạm, và
hoang mang không biết thủ phạm là ai.
Xe và mô-tô cảnh sát Dallas chia nhau chặn mọi ngả
đường vào Love Field. Các viên chức vơ trang chạy đôn
đáo khắp nơi, làm như kẻ sát nhân đang ẩn náu đâu đó gần
phi cơ.
Thật ra, vào lúc ấy đă có một người đứng đầu chính
quyền,
đó là tân Tổng Thống
Lyndon Johnson. Ông đương nhiên trở
thành Tổng Thống, vào giây phút Tổng Thống Kennedy tắt
thở, tại pḥng cấp cứu số 1, bệnh viện Parkland
Memorial. Theo bác sĩ giải phẫu Kemp Clark, đó là lúc
1:00 giờ ở Dallas.
Nhưng lúc đó
ông Johnson và phu nhân đang bị canh gác biệt lập, tại
một pḥng nhỏ kín đáo ở bệnh viện. Youngblood, trưởng
nhóm mật vụ bảo vệ Phó Tổng Thống, sợ rằng có một âm mưu
quốc tế chống lại các nhà lănh đạo Hoa Kỳ, nên không thể
lơ là.
Anh ta đă muốn
bốc Johnson đi khỏi Dallas, ngay cả trước khi chính thức
loan báo Kennedy từ trần. Nhưng h́nh như không có cách
nào làm được việc đó một cách kín đáo, và an toàn; cũng
không ai nghĩ ra có một nơi ẩn náu thuận tiện. Báo chí,
cảnh sát, và dân chúng tràn ngập chung quanh bệnh viện.
Youngblood ra lệnh cho Johnson ở yên một chỗ.
Ngoài ra, hệ thống chỉ huy Mật Vụ ở Dallas sau khi
Kennedy bị bắn cũng xáo trộn. Chỉ huy trưởng Mật Vụ tại
Bạch Ốc là Gerald A. Behn,
thông lệ, vẫn tháp tùng Tổng Thống trong các chuyến đi,
lần này đă ở lại Washington, không đi Texas. Ông đă chỉ
định Roy Kellerman, một nhân viên thâm niên điều khiển
an ninh tại Texas. B́nh thường th́ mọi sự đều tốt đẹp,
như đă diễn ra trước đó tại San Antonio, Houston và Fort
Worth. Nhưng khi có tai biến như tại Dallas, th́ không
thể tha thứ được.
Sai lầm rơ ràng nhất, là sự có mặt của Phó Tổng
Thống. Ngoài vùng Washington, Phó Tổng Thống rất hiếm
khi đi cùng với Tổng Thống. Nhưng Texas là trường hợp
ngoại lệ. Mặc dầu Johnson đă mang
lại thắng lợi cho Kennedy vào năm 1960, nhưng LBJ
gặp khó khăn vào năm 1963. Ông đă không thể ngăn được sự
xung khắc giữa cánh Dân chủ cấp tiến ủng hộ Kennedy,
đứng đầu bởi Nghị sĩ Yarborough, và cánh Dân chủ bảo thủ
lănh đạo bởi Thống đốc John Connally. Không bên nào tin
cậy Johnson.
Kennedy đă phải
quyết định chuyến đi Texas với mục đích giúp Johnson
đoàn kết hai phe. Nếu không, Texas có thể vào tay Barry
Goldwater của đảng Cộng Ḥa trong cuộc bầu cử năm 1964.
Trong t́nh trạng đặc biệt này, với Tổng Thống và
Phó Tổng Thống cùng xuất hiện khắp nơi, trừ khi trên phi
cơ, đáng lẽ chỉ huy trưởng về an ninh phải có mặt ở
Texas, để tự ḿnh trực tiếp điều khiển cả hai nhóm Mật
Vụ, một nhóm bảo vệ Kennedy, và nhóm nhỏ hơn bảo vệ
Johnson.
Thay vào đó,
khi Kennedy bị bắn, Behn khổ sở tại Washington, gh́m ống
nghe điện thoại, đợi những báo cáo gián đoạn, đôi khi
trái ngược, từ các nhân viên tại hiện trường. Khi
Kennedy từ trần, trách nhiệm bảo vệ an ninh cho Tổng
Thống đương nhiên chuyển từ nhóm bảo vệ Kennedy sang
nhóm bảo vệ Johnson, từ nhóm Kellerman sang nhóm
Youngblood.
Nếu có mặt, Behn đă giúp cho việc chuyển đổi trách
nhiệm dễ dàng hơn, đối với cả ban tham mưu và nhân viên
an ninh phục vụ Kennedy. Đau khổ v́ lănh tụ bị sát hại,
một số phụ tá của Kennedy cảm thấy
cay đắng, khi đám mật vụ vẫn bảo vệ “Tổng Thống của
ḿnh,” bây giờ bỏ đi bảo vệ Lyndon Johnson và Lady Bird.
Hơn nữa, ngay trong hàng ngũ mật vụ với nhau, cũng không
tránh khỏi kèn cựa hoặc ghen tức. Ví dụ, Kellerman vốn
trên quyền Youngblood lúc Kennedy c̣n sống. Khi Kennedy
không c̣n nữa, Youngblood chịu trách nhiệm bảo vệ tân
Tổng Thống, tự nhiên lên chân hơn Kellerman. Sau này,
trong hồi kư của ḿnh, Youngblood đă phân trần rằng:
“Các nhân viên mật vụ ở Dallas
không trung thành với một cá nhân. Họ chỉ trung thành
với nhiệm vụ. John Kennedy đă từ trần. Ông ấy đă ngoài
tầm bảo vệ của Mật Vụ.”
1:33 giờ Dallas, Love Field mang một quang cảnh khác
thường. Hai xe cảnh sát không phù hiệu, dẫn đầu bởi một
xe mô-tô, xẹt vào phi trường, chạy thẳng tới phía
Air Force One.
Youngblood tự ḿnh che chở
cho Lyndon Johnson trong xe đi đầu. Phi công Swindal đă
được radio báo trước, chạy ra chào tân Tổng Tư lệnh.
Johnson, có Lady Bird theo sau, một nhóm mật vụ, và
nhiều dân biểu Texas, vội vàng leo lên cầu thang phía
sau.
Bên trong phi cơ nóng như ḷ lửa, nhưng Youngblood
thở phào nhẹ nhơm. Dù có âm mưu hay không, anh cũng đă
mang được Lyndon Johnson đến nơi an toàn. Nhưng vẫn c̣n
một điều đáng ngại. Bọn sát nhân có thể núp trên mái nhà
hay đâu đó, bắn lén qua cửa sổ phi cơ. Anh bèn ra lệnh
hạ hết các màn cửa.
Johnson đi qua pḥng ngủ của Kennedy ở cuối phi cơ, ra
lệnh cho Youngblood: “Tôi muốn chỗ
này chỉ dành cho bà Kennedy sử dụng. Anh phải lo chuyện
đó.” Rồi ông ra phía trước, vào căn pḥng lớn và
nơi làm việc của Tổng Thống. TV vẫn c̣n mở, pḥng đầy
người. Th́nh ĺnh, đài địa phương chen vào chương tŕnh
đặc biệt của Cronkite từ New York, loan đi bản thông báo
của bệnh viện, chính thức xác nhận Tổng Thống Kennedy đă
từ trần từ 35 phút trước. (Johnson
đă ra lệnh cho quyền tùy viên báo chí Malcolm Kilduff
hoăn loan tin chính thức, đợi cho đến khi ông đủ th́ giờ
về tới phi cơ.)
Khi Johnson vào pḥng chính, mọi người đứng dậy, im
lặng, ngay cả các phụ tá quen thuộc và bạn cố tri Texas.
Sau này Johnson nhớ lại: “Chính vào giờ phút đó, tôi
nhận ra rằng, tất cả mọi sự đều không c̣n như cũ. Một
bức tường – cao, cấm cản, lịch sử — bây giờ đă chia cách
chúng tôi; một bức tường đă mọc lên từ chức vụ Tổng
Thống Hoa Kỳ.” Những người vẫn
quen gọi ông là “Lyndon” trước đây, bây giờ bắt đầu
“Thưa Tổng Thống.”
Trước đó, tại bệnh viện, LBJ nói với O’Donnell là,
có thể phải di chuyển Air
Foorce One tới một nơi an toàn hơn, như căn cứ
Carswell gần Fort Worth. Nhưng ư kiến này không thực
hện, v́ Love Field gần bệnh viện, thuận tiện hơn.
O’Donnell cũng cho LBJ biết, bà
Kennedy nhất định không chịu rời bệnh viện, nếu không
được mang theo thi hài Tổng Thống. Johnson đồng ư
sẽ đợi bà Kennedy và thi thể Tổng Thống trên phi cơ.
Johnson bây giờ đă là Tổng Thống, nghĩ rằng việc ông
sử dụng Air Force One
là điều đương nhiên.
SAM
26000 c̣n mới, an toàn, và phương tiện thông tin đầy đủ
hơn SAM 970. Nhưng phía phụ tá cho Kennedy nghĩ rằng,
Johnson đi bằng Air Force
Two, th́ cũng về bằng nó. C̣n
Air Force One chỉ dành
để chở thi hài, bà Kennedy và nhóm phụ tá cho cố Tổng
Thống.
Trong khi Johnson và đoàn tùy tùng đă có mặt ở
Air Force One, nhóm
thân cận của Kennedy đang phải tranh dành thi thể cố
Tổng Thống tại bệnh viện. Nhà cầm quyền Dallas nhất định
giữ lại thi hài để giảo nghiệm. Đó là việc phải làm mỗi
khi có án mạng xẩy ra. Nhưng bà Kennedy không chịu. Bà
cương quyết chỉ rời bệnh viện với xác Tổng Thống, và bà
sẽ cùng với thi thể ông về lại Washington, tức th́.
Với sự giận dữ của đám phụ tá Kennedy, và mật vụ dẹp
lối, cỗ quan tài nặng 900 cân được đẩy vội lên chiếc xe
tang trắng, trước sự phản đối của chức quyền địa phương.
Bà Kennedy lao lên ghế phụ cạnh quan tài. McHugh và
Burkley chen vào phía sau với mật vụ Clint Hill. Mật vụ
Andy Berger tại tay lái. Xe tang xông ra khỏi bệnh viện,
tăng tốc, hướng tới nơi McHugh mường tượng là
Air Force One uy nghi
và trống trơn đang đợi chủ.
Trên phi cơ, Rufus Youngblood xiết chặt ṿng vây an
ninh quanh LBJ. Anh cắt đặt mật vụ tại cầu thang, cùng
canh gác với binh sĩ không quân. Không ai được lên phi
cơ, nếu không được anh cho phép.
Anh cho pḥng lái biết phi cơ sẽ không chuyển động, cho
đến khi anh loan báo chỉ thị của tân Tổng Thống.
Youngblood kèm sát LBJ như bóng với h́nh.
Mối quan tâm tức th́ của LBJ không phải là an ninh,
mà là nghi lễ. Ông muốn tuyên thệ. Điều này đă được bàn
căi sôi nổi giữa những người có mặt với ông tại pḥng
Tổng Thống. Nhiều người nói ông hăy đợi, cho đến khi về
lại Washington. V́ trên thực tế, đằng nào ông cũng là
Tổng Thống rồi. Tuyên thệ chỉ là chuyện h́nh thức.
Nhưng ông vẫn muốn làm ngay.
Trong khi ấy, toán phi hành đang cật lực làm việc dọn
chỗ để quan tài. Kỹ sư phi hành Chappnell, với sự giúp
sức của phi công Swindal, cùng với Ayres và Hanson, đă
gỡ một bức vách ngăn, và 4 ghế phía trái gần cầu thang,
để có đủ chỗ xoay trở. Vừa làm xong th́ xe tang tới.
Cỗ quan tài đồng nặng nề, được khênh bằng tay lên
cầu thang hẹp phía sau, đặt ngay ngắn, trước khi ràng
chặt trên sàn tại khu hành khách. Xong việc,
Larry
O’Brien ngẩng lên, ngạc nhiên khi thấy ông bà Johnson
đang vỗ về bà Kennedy tại lối đi trước pḥng ngủ. Ngạc
nhiên, v́ cho đến lúc ấy, nhóm thân cận Kennedy không hề
biết tân Tổng Thống đang ở đâu. Riêng đối với McHugh,
tùy viên trưởng của Kennedy, có lẽ vẫn chưa biết, hay
không cần biết LBJ đă có mặt trên
Air Force One.
Sợ nhà cầm quyền Dallas t́m cách dành lại thi hài,
O’Donnell yêu cầu McHugh ra lệnh cho phi cơ cất cánh
ngay. Swindal cũng sẵn sàng, đă cho chạy động cơ số 3.
Nhưng đó là khởi đầu của một loạt những rắc rối đáng
“cười trong nước mắt.” Mac Kilduff, quyền tùy viên báo
chí của Kennedy khi Pierre Salinger vắng mặt, biết là
LBJ đang sửa soạn lễ tuyên thệ, vội chạy vào pḥng lái,
la lên: “Tắt máy đi!” Swindal làm ngay, không thắc mắc.
Dưới cuối phi cơ, O’Donnell và Jackie bồn chồn, v́
măi không thấy cất cánh. Mải canh quan tài phía sau, họ
không biết LBJ đang đợi Thẩm phán Liên bang Sarah Hughes
tới cử hành lễ tuyên thệ tại chỗ.
Quá bận rộn v́ địa vị mới, LBJ quên cả việc báo cho bà
quả phụ trẻ, và tùy viên trưởng của chồng bà, là sắp có
lễ tuyên thệ tại căn pḥng lớn giữa phi cơ.
Mỗi lần bà Kennedy than: “Nóng quá, đi chứ!”
O’Donnell lại ra lệnh cho
Air Force One cất cánh. Nhưng lần nào cũng không hề
thấy nhúc nhích. McHugh chạy ra phía trước, gặp Kilduff
gần pḥng lái, la lớn: “Chúng ta phải cất cánh. Ngay lập
tức!”
Kilduff b́nh tĩnh
trả lời: “Chưa thể được. Cho đến khi LBJ tuyên thệ”.
McHugh căi lại:
“LBJ không có đây. Ông ta đang ở bên phi cơ phụ”.
Kilduff mỉa mai:
“Bộ ông muốn nói lăo Tếch-Xịt cao nghều đằng kia, không
phải là
Lyndon
Johnson?”
McHugh cảm thấy
như bị cú đấm vào bụng, lớn tiếng trả lời, đủ để mọi
người cùng nghe: “Tôi chỉ có một
Tổng Thống, và ông ấy đang nằm trong quan tài dưới kia!”
Sau ít phút, rồi đám phụ tá cho Kennedy cũng biết rơ
lư do, tại sao phi cơ chưa cất cánh. Và dù không muốn,
cũng phải chấp nhận thực tế là, bây giờ, Johnson là Tổng
Thống.
Thẩm phán Hughes lên phi cơ lúc 2:30, giờ
Dallas; 12 phút sau bà Kennedy. Johnson tưởng Thẩm phán
Hughes mang theo Thánh kinh. Nhưng bà không mang. Luật
không bó buộc phải tuyên thệ trên Thánh Kinh. Nhưng
trong giờ phút nghiêm trọng này, ai cũng thấy Thánh kinh
là cần thiết. Theo Roberts, Larry O’Brien đă vào lục
trong pḥng ngủ Tổng Thống, mang ra một cuốn sách mỏng,
b́a da mầu đen, mọi người đinh ninh là Thánh kinh. Nhưng
sau này được biết, đó là cuốn “Sách lễ Misa” của Công
giáo.
Lễ tuyên thệ cử hành lúc 2:38.
Tấm h́nh chụp cảnh
tuyên thệ của nhiếp ảnh gia Stoughton, mà cả thế giới
được nh́n, chỉ là 1 trong 16 h́nh được chụp, và đă gây
nhiều tranh căi. Lư do, trong h́nh không có mặt nhóm
thân cận của Kennedy. Thật ra, họ đă có mặt trong các
h́nh khác không được phổ biến. Tấm h́nh được chọn phổ
biến, chỉ v́ nó đẹp hơn cả. Nhất là, đă có thể cắt bỏ
những chỗ có quá nhiều vết máu, trên áo bà Kennedy.
Khi về đến phi cơ, mặt mũi, đầu
tóc, quần áo bà dính đầy máu. Theo lời khuyên, bà
đă dùng Kleenex thấm nước, lau bớt đi, nhưng vẫn không
hết. Sau này, bà tỏ ư tiếc, v́ đă xóa bỏ những dấu tích
lịch sử.
Lễ tuyên thệ chỉ
lâu 28 giây.
Sau giây phút nặng nề, bà Kennedy im lặng trở lại với
quan tài phía sau, nơi Tướng McHugh đang canh gác, trong
thế đứng nghiêm. Tân Tổng Thống Johnson ra lệnh: “OK,
bây giờ cất cánh.”
Swindal mở máy, trong khi Thẩm phán Hughes, và nhiều
người ở Texas, c̣n đang hối hả ra khỏi phi cơ.
Air Force One cất cánh
lúc 2:47, màn cửa sổ vẫn c̣n che kín. Người trên phi cơ
tự động phân thành nhóm. Một số thuộc bộ tham mưu của
LBJ, cùng với mật vụ quy tụ tại pḥng nhân viên phía
trước.
Johnson, Lady Bird và đám phụ tá
thân cận, quây quần ở khu giữa dành cho Tổng Thống.
Jackie và nhóm thân cận Kennedy, vây quanh quan tài khu
cuối phi cơ.
Khi phi cơ trên đường bay thăng bằng, từ pḥng
riêng, Johnson bắt tay vào việc: Trước hết, gọi chia
buồn với bà Rose Kenndy, thân mẫu cố Tổng Thống, ở
Hyannis Port. Sau đó, cùng với Lady Bird, gọi cho Nell
Connally, hỏi thăm t́nh trạng thương tích của Thống Đốc
Texas, người ngồi cùng xe với Kennedy. Tiếp theo,
Johnson cho gọi O’Brien, thảo luận về việc liên lạc với
Quốc Hội. Ông cũng nhiều lần liên lạc với McGeorge
Bundy, cố vấn an ninh của Kennedy đang điều hành “Pḥng
t́nh h́nh” (Situation Room) tại Bạch Ốc, xem có chứng cớ
ǵ về âm mưu ám sát không? Có dấu
hiệu ǵ cho thấy Liên Xô, hay Cuba định lợi dụng thời cơ
không?
Johnson gọi Moyers, Valenti, và phụ tá hành chánh
Elizabeth Carpenter, thảo luận về lời tuyên bố khi về
tới Washington:
“Đây là thời gian
buồn thảm cho mọi người. Chúng ta đau khổ v́ sự mất mát
không thể đo lường. Với tôi, đó là một thảm cảnh cá nhân
sâu đậm. Tôi biết thế giới chia sẻ nỗi đau đớn của phu
nhân cố Tổng Thống, và gia đ́nh bà phải gánh chịu. Tôi
sẽ cố gắng hết sức. Đó là tất cả những ǵ tôi có thể
làm. Tôi cầu xin sự giúp đỡ của quư vị, và của Chúa.”
Tướng Clifton, bây giờ là tùy viên quân sự chính của tân
Tổng Thống, từ phi cơ liên lạc nhiều nơi, sắp xếp lễ
tiếp đón tại phi trường quân sự Andrews, và chuyển thi
thể cố Tổng Thống tới bệnh viện Hải quân ở Bethesda. Cần
một xe bốc hàng để hạ quan tài xuống. Và quan trọng hơn
cả, cần bố trí mọi biện pháp an ninh trên không phận thủ
đô, cũng như trên bộ.
Với tốc độ 600 dặm một giờ, từ Love Field tới
Andrews, Air Force One
chỉ bay trong 2 giờ 12 phút. Roberts và Smith là hai nhà
báo duy nhất, đại diện cho làng báo được đi trên phi cơ
Tổng Thống. Họ bận tối tăm mặt
mũi: vừa phải viết bài để chia sẻ với các đồng nghiệp
khi tới nơi; vừa phải tiếp nhận thông tin từ cả hai
phía: mới là Johnson, và cũ là Kennedy.
Mac Kilduff bây giờ trở thành tùy viên báo chi của
LBJ, thỉnh thoảng lại đem tới cho nhà báo chi tiết về
hoạt động của tân Tổng Thống, chiều nay và ngày mai. Qua
Kilduff, bà Kennedy cũng muốn cho báo chí loan tin là,
trong suốt chuyến bay, bà đă canh thức bên xác chồng.
Bà muốn thế giới hay rằng bà đă ở
bên chồng, chứ không ở cạnh ông bà Johnsons.
Tướng McHugh, có vẻ vẫn c̣n giận khi ông ra lệnh cho phi
cơ cất cánh mà không được tuân hành, đă tới pḥng báo
chí, chỉ tay vào máy chữ của Roberts, nói:
Tôi muốn anh viết là, bộ tham mưu
của Kennedy – O’Donnell, O’Brien, Powers, McHugh – ngồi
ở phía sau với cố Tổng Thống và bà Kennedy, chứ không
ngồi với họ (Johnsons).
Tân Tổng Thống cũng muốn gặp báo chí. Lần đầu ông
tuyên bố mời tất cả Nội Các và ban Tham Mưu của Kennedy
ở lại tiếp tục làm việc. Lần thứ nh́, ông cho biết trước
lời tuyên bố sẽ đọc tại Andrews. Lần thứ ba, ông cho
biết đă gọi điện thoại chia buồn với thân mẫu cố Tổng
Thống.
5:09 P.M. Air Force One
bay trên thung lũng Shenandoah 30 phút trước khi hạ
cánh. Bà Kennedy cho mật vụ Kellerman biết:
bà muốn các cận vệ riêng của cố
Tổng Thống sẽ khiêng quan tài ra khỏi phi cơ.
Trong khi ấy, Johnson cạo râu, chải tóc, và thay áo mới.
Trời bắt đầu tối. Trên không phận Middleburg, gần
ngôi nhà nghỉ mát sang trọng bên sườn núi Kennedy đă xây
tặng Jackie, Swindal cho
Air Force One nghiêng cánh sang phải, và bắt đầu hạ
thấp. Lướt ngang Washington D.C., qua sông Potomac, vượt
cánh đồng bên Maryland, rồi chạm đất Andrews.
Khi chiếc phi
cơ Tổng Thống gầm thét qua đường bay tới Natonal
Airport, kỹ sư phi hành Joe Chappell chú ư có sự bất
thường. Mặc dầu vào giờ hạ cánh đông đảo tại Washington,
tất cả máy bay tới đă tự ư bay ṿng trên trời, chờ cho
Air Force One đáp
trước. Chappell hiểu ngay, đó là
một cử chỉ bộc phát của toàn thể phi công: họ chào
Kennedy.
5:59, giờ Washington, 4:49 tại Dallas, ngày 22 tháng 11,
1963. Lyndon Baines Johnson vừa hoàn tất chuyến bay đầu
tiên với tư cách Tổng Thống. John Fitzerald Kennedy đă
chấm dứt chuyến bay cuối cùng.
ĐINH TỪ THỨC
|