CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT TẠI MIỀN BẮC
1949-1956
tập 3
Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam 11-2009
MỤC LỤC
I- QUA CÁC NGHIÊN CỨU
- Hồ Chí Minh từ Xô viết NT 1930 tới CCRĐ 1953 (Minh Vơ)
- Trung Cộng nô lệ hóa CSVN qua CCRĐ (Tường Thắng)
II- QUA CÁC HỒI KƯ VÀ HỒI ỨC
Cải cách Ruộng đất (Gm Phaolô Lê Đắc Trọng)
- Toà án Nhân dân và những án tử h́nh
- Một số kinh nghiệm riêng tư về Cải cách
- Phong trào Cải cách Ruộng đất khựng lại
- Hoàn thành Cải cách Ruộng đất
- Phải chăng đó là trong chủ nghĩa duy vật?
- Thành quả của Cải cách Ruộng đất
Hồ Chí Minh, kẻ chịu trách nhiệm chính... (Vũ Thư Hiên)
Hỏi chuyện Nv Vũ Thư Hiên về CCRĐ ở VN (PV báo CE)
Câu chuyện nhà thơ Hữu Loan (Hữu Loan)
CCRĐ qua lời kể của nhà thơ Hữu Loan (Trịnh Hưng)
Có những chuyện ông đội Bối chưa kể (Ng. Trọng Tân)
III- DƯỚI MẮT NHỮNG KẺ CHỦ XƯỚNG VÀ THI HÀNH
Nhận xét về Cải cách Ruộng đất đợt 5 (Hồ Viết Thắng)
- Thắng lợi to lớn và căn bản
- Những sai lầm, thiếu sót nghiêm trọng
- Sửa chữa sai lầm, phát huy thành tích
Sửa sai và tiến lên (Trường Chinh)
- Nhiệm vụ cách mạng phản phong kiến đă căn bản hoàn thành...
- Phát động quần chúng để thực hiện CCRĐ là đúng và cần thiết
- Phát động quần chúng thực hiện CCRĐ đă đạt được những...
- Đánh giá sai lầm trong CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức
- Nguyên nhân, khuyết điểm, sai lầm
- Trách nhiệm của các cơ quan lănh đạo và chỉ đạo thực hiện...
- Mấy bài học kinh nghiệm
- Sửa sai và tiến lên
Xét lại "hồ sơ" của giai cấp địa chủ (Trần Huy Liệu)
- Đặt vấn đề
- Kiểm điểm thái độ chính trị của giai cấp phong kiến địa chủ...
- Đề nghị xét lại một vài nhận định từ trước
Liên lạc với Khối 8406 : vanphong8406@ gmail.com
http://khoi8406vn. blogspot. com
Lời giới thiệu
Chúng tôi xin tŕnh bày tiếp về các khía cạnh của cuộc Cải cách Ruộng đất (CCRĐ), một trong những biến cố đau thương và rợn rùng của lịch sử Dân tộc hiện đại, mà di chứng c̣n tồn tại rất lâu dài.
Trước hết là qua công tŕnh nghiên cứu của các học giả. Nhà biên khảo Minh Vơ cho chúng ta thấy CCRĐ không chỉ nhắm riêng về kinh tế mà c̣n đặc biệt chú trọng về chính trị với mục tiêu củng cố quyền lực cho Đảng CS. Đây là một bước đi bắt buộc trong Cách mạng Vô sản mà Hồ Chí Minh là một tín đồ phục vụ thuần thành. Ông ta đă chọn con đường chủ nghĩa CS với cuộc đấu tranh diễn tiến trường kỳ cho tới khi tận diệt giai cấp Tư bản. Thành ra, CCRĐ chỉ là một giai đoạn trên lộ tŕnh thăm thẳm đó và HCM cùng đồng đảng đă điều hành nó một cách ư thức và phải gánh chịu tất cả mọi trách nhiệm, dù sau lưng và bên cạnh có sự khống chế thúc đẩy của đảng CS Trung Quốc như tác giả Tường Thắng tiếp đó cho thấy.
Thứ đến là qua hồi ức của nhiều nhân vật đương thời. Nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả cuốn "Đêm giữa ban ngày" lừng danh cũng cho thấy HCM là kẻ chịu trách nhiệm chính về cuộc CCRĐ chứ chẳng phải ai khác. Cố Giám mục Lê Đắc Trọng (khi ấy c̣n là linh mục Tổng Giáo phận Hà Nội), qua Hồi kư của ḿnh, th́ chứng minh CCRĐ không chỉ đánh vào các địa chủ bóc lột, cường hào ác bá mà c̣n đánh vào tất cả những ai có uy tín, thế lực lúc bấy giờ mà có thể gây nguy hại trong tương lai cho quyền lực của CS. Đây là kiểu tiêu diệt tiềm năng mà bất cứ tập đoàn CS nào trên thế giới cũng đều áp dụng, để trong xă hội cuối cùng chỉ c̣n sự thống trị tuyệt đối của đảng. Nhà thơ Hữu Loan, qua kinh nghiệm riêng tư của bản thân và gia đ́nh, lại cho thấy tính cách phi nhân và tàn độc của cuộc CCRĐ.
Cuối cùng là qua chính lời nói chữ viết của những kẻ chủ xướng và thực hiện cái gọi là "Cách mạng long trời lở đất" như Trường Chinh, Hồ Viết Thắng, Trần Huy Liệu.... Các bài nhận định của họ về CCRĐ đă phơi bày cả một học thuyết phi nhân, một chủ trương tàn bạo, một đường lối sắt máu, một quan niệm rùng rợn, coi lịch sử là cuộc đấu tranh sống mái giữa loài người và coi VN là sân khấu cho cuộc tranh hùng xâu xé giữa các giai tầng xă hội.
Cái năo trạng "đấu tranh giai cấp" ấy vẫn tiếp tục trong các đồ đệ của HCM hiện thời, giữa một bên là các đảng viên thống trị và bên kia là toàn thể nhân dân bị trị. Cán bộ CS nay trở nên những địa chủ ngàn lần giàu có, bóc lột và tàn ác hơn các địa chủ ngày xưa. Thành ra bài học CCRĐ vẫn luôn c̣n đó, để luôn nhắc nhở chúng ta về hiểm họa CS.
Khối Tự do Dân chủ cho Việt Nam 8406
I- QUA CÁC NGHIÊN CỨU
Hồ Chí Minh
từ Xô viết Nghệ Tĩnh 1930
tới Cải cách Ruộng đất 1953
Minh Vơ
Trích "Hồ Chí Minh, Nhận định và tổng hợp",
Xuất bản năm 2003 - Chương 46
Hai dấu ấn đậm đà mà chủ nghĩa Cộng sản ghi lại trên đời sống Việt Nam, đặc biệt tại nông thôn, là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và cuộc Cải cách Ruộng đất.
Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh là phong trào nổi dậy đầu thập niên 1930 chống chính quyền đương thời lúc đảng Cộng sản Việt Nam vừa thành lập và phát động đấu tranh với danh nghĩa Cộng sản. Cuộc Cải cách Ruộng đất được thực hiện vào hai thập kỷ sau, đầu thập niên 1950, khi Cộng sản thực sự nắm quyền trên một phần đất nước.
Cả hai biến cố đều do đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương nhưng đều có dư luận biện giải là Hồ Chí Minh không chịu trách nhiệm. Từ giữa thập niên 1930 tới cuối thập niên 1940, gần như các tài liệu Cộng sản Việt Nam thường coi Xô viết Nghệ Tĩnh là phong trào tự phát nằm ngoài ư định của Hồ Chí Minh và cách biện giải này đă ảnh hưởng tới nhiều tác giả nghiên cứu về Việt Nam và con người Hồ Chí Minh.
Từ thập niên 1950 trở về sau, phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh được nh́n theo chiều hướng khác hơn không c̣n được coi là một cuộc nổi dậy mang tính tự phát nữa.
Sở dĩ có tên Xô viết Nghệ Tĩnh v́ “... khi được tin nông dân nổi dậy ở Nghệ Tĩnh, Nguyễn Ái Quốc đă vội vă báo cáo hồi tháng 11 năm đó (1930) cho Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Nông dân là: “Hiện nay ở một số làng đỏ, Xô viết Nông dân đă được thành lập”. Từ đó cái tên Xô viết Nghệ Tĩnh được tung ra và trở thành lịch sử.” (1)
Phong trào đă được xác định không khuôn hạn trong hai tỉnh Nghệ – Tĩnh mà phát động trên toàn quốc. Trần Văn Giàu so sánh với cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân đảng như sau: “Nếu Yên Bái nổi lên ở một vài địa phương lẻ tẻ trên chỉ một xứ Bắc Kỳ, th́ cao trào 1930-1931 phát triển trên toàn quốc, khắp Trung, Nam, Bắc.” (2)
Hồng Hà phổ biến nội dung báo cáo ngày 29-9-1930 của Hồ Chí Minh gửi Đệ tam Quốc tế ghi rơ “nông dân Gia Định, Chợ Lớn và Tân An ở Nam Kỳ cũng biểu t́nh ngày 12-9 (và) ngày 17 nông dân Gia Định lại biểu t́nh”. (3)
Dương Trung Quốc viết: “Phối hợp với Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào Cách mạng Việt Nam ở các tỉnh Nam Trung Kỳ cũng phát triển mạnh… Các cuộc đấu tranh này đều có vũ trang và uy hiếp các cơ quan chính quyền của địch. Tiêu biểu trong cao trào này là cuộc biểu t́nh vũ trang thị uy của 3000 nông dân huyện Đức Phổ (Quảng Ngăi) ngày 7-10-1930…” (4)
Sử gia Pháp Daniel Hémery ghi là trong ít tháng từ tháng 5-1930 đến mùa hè 1931, CS đă tổ chức 124 cuộc biểu t́nh bạo động khắp nơi.
Tài liệu Lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam được giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam hiện nay đưa ra con số gấp mười lần con số của sử gia Hémery – “Từ tháng 2 năm 1930 đến tháng 4 năm 1931 trong cả nước đă có 1236 cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân… Chỉ trong tháng 9 và tháng 10 năm 1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh, 29 cuộc ở miền Bắc, 316 cuộc ở miền Trung, 17 cuộc ở miền Nam... Đấu tranh của quần chúng đă bùng nổ khắp nơi, tập trung ở các nhà máy, xí nghiệp, vùng mỏ như Hà Nội, Hải Pḥng, Nam Định, Ḥn Gai, Cẩm Phả, Vinh – Bến Thủy, Sài G̣n, Chợ Lớn vân vân...; ở các vùng nông thôn như Gia Định, Vĩnh Long, Sa Đéc, Bến Tre, Long Xuyên, Cần Thơ, Trà Vinh, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngăi, Thái B́nh, Hà Nam, Kiến An...” (5)
Phong trào được phát động với khẩu hiệu “Trí-Phú-Địa-Hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, biểu hiện tính triệt để của giai cấp đấu tranh đă dẫn đến thảm cảnh đẫm máu tại nhiều địa phương. Để đào tận gốc, trốc tận rễ bốn thành phần thù địch là trí thức, phú nông, địa chủ, kỳ hào, đấu tranh bạo động trở thành phương tiện chủ yếu. Nông dân được tuyên truyền kích động nổi dậy trừng trị kẻ thù của giai cấp bằng mọi biện pháp kể cả tàn sát và tàn sát bất phân già trẻ lớn bé. V́, dù là trí, phú, địa, hào th́ kẻ nào cũng có gia đ́nh, con cháu trong khi khẩu hiệu nêu rơ phải đào tận gốc, trốc tận rễ nên không thể nương tay.
Nhưng không chỉ riêng máu của những thành phần trên phải đổ mà máu của nông dân cũng chan ḥa v́ sự đàn áp dữ dội của chính quyền Thực dân Pháp. Để đối phó với cuộc bạo động ngày 12-9-1930 của nông dân phủ Hưng Nguyên, Nghệ An, người Pháp đă đưa máy bay tới thả bom vào giữa các đám đông sát hại 217 người. (6) Bạo động kéo dài cho tới mùa hè 1931 và trải rộng trên nhiều địa phương nên thảm cảnh chém giết đă tạo một ấn tượng kinh hoàng đối với quần chúng khắp nước. Hai tiếng Cộng sản trở thành mối đe dọa khủng khiếp v́ là ám ảnh chết chóc từ cả hai phía, Pháp và những người đấu tranh cách mạng.
Trong Lời kêu gọi được thông qua vào dịp thành lập đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu tháng 2-1930 tại Hong Kong, Hồ Chí Minh đă viết: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng trong lịch sử Cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng giai cấp Vô sản ta đă trưởng thành và đủ sức lănh đạo Cách mạng” (7)
Đi vào bước ngoặt lịch sử này, Đảng đưa ra công việc đầu tiên cho giai cấp Vô sản được đánh giá đă trưởng thành là nổi dậy triệt hạ 4 kẻ thù trí-phú-địa-hào. Đảng đă theo đúng quan điểm chiến lược Lênin chọn giai cấp bần nông làm ṇng cốt với mục tiêu cụ thể là tịch thu tài sản ruộng đất của các thành phần thù địch chia lại cho dân – tức giai cấp Vô sản. Cảnh sống khó khăn và tŕnh độ dân trí thấp kém đă giúp các cán bộ tuyên truyền nhanh chóng lôi cuốn được những đám đông.
Phong trào được hưởng ứng và kết quả những ngày đầu có vẻ thuận lợi nên lập tức các kiểu mẫu chính quyền Xô viết được thành lập gây hứng khởi cho nhóm lănh đạo khiến Hồ Chí Minh vội vă báo cáo ngay với Đệ tam Quốc tế về việc đă có những làng đỏ tại Việt Nam với các Xô viết Nông dân. Nhưng, hành động đấu tranh mang tính thúc đẩy những cuộc cướp của giết người đă gây ác cảm trong dư luận.
Nhà báo Nguyễn Phan Long trên tờ Đuốc Nhà Nam trong số ra ngày 8-8-1930 đă có một bài viết về những cuộc nổi dậy này được Trần Văn Giàu trích lại như sau: “Tôi dám chắc rằng trong đám dân biểu t́nh, ngoài mấy anh đầu đảng ra không nói, c̣n mấy người sau đều là đám dân ngu khờ khạo bị chúng cám dỗ hết thảy. Thiệt vậy, theo người ở Hốc Môn nói với tôi, có nhiều người ở trong làng xưa nay là dân nghèo khù khờ ngu dại thế mà bị Cộng sản đến diễn thuyết, nói những lời dưới đất trên trời, làm cho những người ấy hóa ra những người biểu t́nh rất hăng hái!” Trần Văn Giàu cũng trích lại lời phát biểu của nhà báo Dương Bá Trạc trên tờ Lục tỉnh Tân văn: “Làm Cộng sản là những thằng dốt, theo Cộng sản là những đứa ngu.”
Như thế, ngay trong lần đầu công khai xuất hiện tại Việt Nam, Cộng sản đă không thu phục nổi nhân tâm. Đây là lư do khiến đảng Cộng sản phải ẩn ḿnh dưới chiêu bài Việt Nam Độc lập Đồng minh hội của Hồ Học Lăm và cũng là lư do khiến một thời gian dài về sau cán bộ CS các cấp thường xuyên coi Xô viết Nghệ Tĩnh là phong trào tự phát.
Những luận điệu này cho tới năm 2000 c̣n được nhiều tác giả tiếp tục vận dụng để chứng minh sở kiến của ḿnh như Douglas Pike, William J. Duiker… cho rằng HCM không chủ trương bạo động nên không chịu trách nhiệm về những thảm cảnh trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Douglas Pike c̣n thu hẹp phong trào vào phạm vi vài huyện của 2 tỉnh Nghệ Tĩnh để cho đó là những biến cố địa phương nhỏ hẹp.
Thực ra, chính Hồ Chí Minh vẫn coi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh là một thành tích lớn của đảng Cộng sản Việt Nam với sự đánh giá: “Tuy đế quốc đă dập tắt phong trào đó trong bể máu, nhưng Xô viết Nghệ Tĩnh đă chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam” (8) Dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh xác nhận chỉ 2 tháng sau khi thành lập, đảng Cộng sản Việt Nam đă phát động những cuộc tranh đấu lan rộng khắp nước kéo dài suốt 13 tháng, từ tháng 4-1930 đến tháng 5-1931 và viết: “Trong những tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, nhân dân Việt Nam đă lật đổ chế độ cai trị của Pháp và phong kiến, và lập chính quyền Xô viết.” (9)
Những người như Douglas Pike, William J. Duiker… có vẻ muốn thu hẹp cái bể máu Xô viết Nghệ Tĩnh vào phạm vi một địa phương và cố đẩy thần tượng của ḿnh ra xa bằng các màu sắc hiếu ḥa ghét bạo lực, nhưng Hồ Chí Minh lại không che đậy nổi sự hứng khởi trước những cuộc nổi dậy. Thêm nữa, riêng việc Hồ Chí Minh thường xuyên báo cáo cho Đệ tam Quốc tế ngay lúc vừa bắt đầu có các cuộc bạo động đă đủ để không thể bảo rằng Hồ Chí Minh không chịu trách nhiệm về những thảm cảnh đă xẩy ra.
Trong bản báo cáo ngày 29-9-1930, Hồ Chí Minh c̣n nêu rơ số người bị chết và cho biết đă chỉ thị cho đảng viên, đồng thời xin chỉ thị của Đệ tam Quốc tế về những bước đi tiếp: “Hơn 200 người đă bị Pháp giết... Chúng tôi đă chỉ thị ngay cho các đảng viên Nam Kỳ ở trong nước cố gắng hết sức ḿnh thu xếp một cuộc họp của trung ương để quyết định mọi việc... Đề nghị cho biết ngay chúng tôi phải làm ǵ và các đồng chí có thể làm ǵ giúp họ.” (10)
Báo cáo này chỉ có thể giúp Hồ Chí Minh trút trách nhiệm cho Đệ tam Quốc tế với lập luận không thể làm trái chỉ thị thượng cấp. Nhưng trút tội theo cách này th́ khác ǵ kẻ cầm dao giết người trút tội cho kẻ trả tiền mướn. Tuy vậy, cách trút tội này đă được vận dụng khá nhiều vào hai thập kỷ sau, khi Cộng sản Việt Nam tiến hành Cải cách Ruộng đất tại miền Bắc.
Cải cách Ruộng đất là việc bắt buộc phải làm tại các nước nặng về nông nghiệp với nhiệm vụ phá bỏ quyền tư hữu tiến tới hợp tác hóa nông nghiệp để xây dựng chế độ xă hội chủ nghĩa. Liên Xô, Trung Quốc đều thực hiện Cải cách Ruộng đất sau khi CS giành được chính quyền. Việt Nam cũng bước vào diễn tŕnh này sau khi CS kiểm soát một phần lănh thổ và tái xuất hiện dưới tên gọi mới Đảng Lao động Việt Nam.
Nhưng, Cải cách Ruộng đất không chỉ nhắm riêng về kinh tế mà đặc biệt chú trọng về chính trị với mục tiêu củng cố quyền lực cho Đảng. Được hướng dẫn trực tiếp bởi các đặc phái viên thổ địa Trung Cộng, giới lănh đạo Cộng sản Việt Nam đă thuộc ḷng bài học kinh nghiệm Hoa Lục sau khi Quốc Dân đảng Trung Hoa thất bại như sau: “… Quốc Dân đảng là đảng vốn có thế lực cực lớn ở Hoa Nam, bắt rễ khá sâu trong xă hội Trung Quốc… Số người của Quốc Dân đảng bỏ chạy sang Đài Loan hoặc ra nước ngoài rất ít so với số dân khổng lồ. Có một số người chỉ trốn loanh quanh, tạm lánh rồi trở lại quê hương. Cho nên Cải cách Ruộng đất là biện pháp cơ bản để phát hiện rồi triệt hạ hết mọi tổ chức Quốc Dân đảng và vô vàn tổ chức thanh niên, phụ nữ, xă hội, tôn giáo, từ thiện, thể thao, nghệ thuật có dính đến Quốc Dân đảng … Tay chân của Quốc Dân đảng hoặc liên quan đến Quốc Dân đảng thâm nhập rất sâu, leo lên rất cao, cần cảnh giác phát hiện và nếu cần, giải thể hết bộ máy cũ, tạo nên bộ máy hoàn toàn mới gồm những trung kiên, cốt cán, phát hiện và được rèn luyện trong cuộc đấu tranh “long trời lở đất” này…” (11)
Kinh nghiệm nêu trên dẫn đến ư kiến khắp các địa bàn, cơ cấu chính quyền Cộng sản Việt Nam khó tránh t́nh trạng bị phản động mai phục và Cải cách Ruộng đất chính là biện pháp cơ bản để phát hiện, tiêu diệt những phần tử này – Hoàng Văn Hoan gọi là “mở rộng thành vấn đề chỉnh đốn tổ chức”.
Ngay sau đại hội Đảng kỳ 2 tháng 12-1951 tại Việt Bắc, vấn đề Cải cách Ruộng đất được chuẩn bị và chuẩn bị khá kỹ từ thực tế đến pháp lư. Trường Chinh trở thành Trưởng ban Cải cách Ruộng đất gồm Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng, Chu Văn Biên. Một số địa phương thuộc Thanh – Nghệ – Tĩnh và Thái Nguyên được chọn làm thí điểm phát động trong thời gian chuẩn bị các văn kiện pháp lư.
Ngay trong thời gian mở đầu này, một chuyện chấn động đă xẩy ra: “Khi đội phát động đến vùng đồn điền Đồng Bẩm sát ngoại ô thành phố Thái Nguyên làm thí điểm phát động nông dân, chủ đồn điền là bà Nguyễn Thị Năm. Bà từng ủng hộ các chiến sĩ Cộng sản từ thời bí mật, từ những năm 1937-1938… Chính các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt đă được bà che chở nuôi dưỡng. Hai con trai của bà hoạt động Việt Minh từ thời bí mật, đi bộ đội giải phóng… Cố vấn Trung Quốc nhận định bừa rằng đây là mụ địa chủ ác bá, có nghĩa là cần lấy đầu. Một số nông dân chất phác ngây thơ kể rằng bà Năm rất tốt, nhân từ, hay đi chùa, làm việc thiện, có nhiều cán bộ chiến sĩ là con nuôi của bà. Những người này bị cố vấn Tàu và ông Đội trưởng quê ở Nghệ An kết tội là tay sai, định bênh che, chạy tội cho địa chủ. Không khí ngột ngạt bắt đầu, sau bắt rễ xâu chuỗi, đến bước đấu tranh trực diện của nông dân, kể tội và luận tội về kinh tế và chính trị, chuẩn bị cho ṭa án nhân dân với màn xử bắn”. (12)
Hoàng Quốc Việt là người từng được bà Nguyễn Thị Năm che chở, nuôi dưỡng đă tới báo cáo với HCM và thuật lại: “Ông Hồ chăm chú nghe rồi phát biểu: “Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ và lại là người từng nuôi cán bộ Cộng sản và mẹ một chính ủy trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức”. Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói ông Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này! Thế nhưng không có ǵ động đậy theo hướng đó cả”. (13)
Sau đó nạn nhân đă bị đưa ra xử bắn và “khắp đồng quê miền Bắc” diễn ra “những cuộc đấu tố kinh hoàng giai cấp “địa chủ” (mà phần lớn chỉ là phú nông hoặc trung nông lớp trên); vợ tố chồng, con tố cha, con dâu tố bố mẹ chồng, anh chị em đấu tố nhau… Họ đều được biểu dương là lập trường giai cấp vững chắc và dứt khoát, giác ngộ giai cấp sâu sắc, là những đảng viên trung kiên của Đảng, thấm nhuần tận xương tủy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông, được nêu gương để toàn đảng học tập!… Hơn 10 ngàn người đă bị bắn trong các ṭa án nhân dân vừa hừng hực khí thế kích động căm thù, vừa mù quáng kỳ quặc, một chiều theo kiểu a dua của đám đông – những cơn động kinh của đám đông cuồng tín ít học.” (14)
Hoàng Văn Chí là người từng đứng trong hàng ngũ Việt Minh chống Pháp trước 1954 chia Cải cách Ruộng đất làm 2 đợt, đợt đầu gọi là “Giảm tô”, mỗi xă trong khoảng 10 ngàn xă tại Bắc Việt phải chọn ra một địa chủ để hành quyết. Như vậy 10 ngàn chỉ là số nạn nhân của đợt đầu. Sang đợt 2, con số phải chết ở mỗi xă theo tiêu chuẩn đề ra tăng lên 5. Nếu cộng cả 2 đợt ít nhất phải có 60 ngàn người bị hành quyết tại chỗ. Nhưng theo Hoàng Văn Chí, “chính sách cô lập nổi tiếng từng phải chịu trách nhiệm về số người chết có lẽ 10 lần nhiều hơn số đă bị xử bởi các “ṭa án nhân dân đặc biệt””. (15)
Sắc lệnh 149-SL qui định về chính sách ruộng đất và Sắc lệnh 151-SL qui định về trừng trị địa chủ do Hồ Chí Minh kư ngày 12-4-1953 là thời gian đang tiến hành chiến dịch giảm tô mà ư nghĩa đă được diễn tả như sau: “Nhà nước VN đă quyết định đưa đấu tranh phản phong tiến lên một bước mới, tiếp thu kinh nghiệm của Trung Quốc đă sử dụng bạo lực chính trị của quần chúng đấu tranh đ̣i địa chủ phải giảm tô, giảm tức.” (16) Đây cũng là đợt thí điểm của Cải cách Ruộng đất.
Ngày 4-12-1953 các sắc lệnh trên được Quốc hội thông qua và Hồ Chí Minh chính thức ban hành ngày 19-12-1953 nhân kỷ niệm Ngày Toàn quốc Kháng chiến mở đầu cho các đợt chính thức của Cải cách Ruộng đất trên khắp miền Bắc.
Thực tế của việc sử dụng bạo lực chính trị quần chúng và con số nạn nhân tại một số địa phương từ ngày chính thức ban hành chính sách tới khi có quyết định sửa sai theo ghi nhận của tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 267 tháng 4-1993 và nội san Cải cách Ruộng đất các số 10,11,14 xuất bản tại Hà Nội đầu năm 1956 như sau: “Ở đồng bằng Bắc Bộ trong số 2033 xă đă có 63,111 hộ bị qui là địa chủ nay sửa lại 31,844 không c̣n là địa chủ. Con số địa chủ chỉ có 31,269 hộ tức chiếm 2.2% trong tổng số hộ ở nông thôn. Ở một xă như xă Trường Vân Thanh Hóa chỉ có 11 địa chủ bị qui lên 65 tức 54 người bị tố oan, bị đấu tố, tù đầy và kể cả bị đánh chết. Trong số 2033 xă, số người bị qui kết là địa chủ lên tới 14,908 người sau đợt sửa sai chỉ c̣n 3,932 người tức tố sai 10,976 người…
Trong đấu tranh thoái tô, rất nhiều cán bộ dùng nhục h́nh: treo, đánh, bắt cởi quần áo đứng ngoài đêm rét… Đồng chí L. ở xă Đảng Cương bắt con địa chủ ra truy tố không được, bực quá ra lệnh cho anh em du kích trói chặt cánh khuỷu nó lại và treo lủng lẳng lên cành cây…
Ở xă Hồng Phong, T. bắt con địa chủ Thị Công truy tố. Đồng chí gọi đứa con nó mới 13 tuổi đến giải thích để phản hóa rồi cho nó về với mẹ nó không được. Đồng chí T. nổi giận cho trói đứa bé lại treo ngược lên xà nhà, kéo lên kéo xuống. Một mặt bắt mẹ nó quỳ xuống, dang hai tay ra, mỗi bên đeo một ḥn đá nặng rồi đổ nước mắm vào mũi. ĐC tưởng nhục h́nh như thế là moi được tô nhưng rút cục chẳng ăn thua ǵ” (17)
Theo Thành Tín tức cựu đại tá Cộng sản Bùi Tín, Cải cách Ruộng đất gồm đợt thí điểm và 5 đợt tiếp nối, nhưng bắt đầu bước sang đợt 5 vào khoảng đầu năm 1956 th́ phải ngưng, v́ hậu quả có thể dẫn tới một t́nh thế bi đát khó lường đoán. Nguyễn Quang Ngọc trong Tiến tŕnh lịch sử Việt Nam cũng cho biết Cải cách Ruộng đất gồm 5 đợt tiến hành trong 3653 xă, đă chia khoảng 334,100 ha ruộng đất cho khoảng 2 triệu hộ nông dân không có hoặc thiếu ruộng (18).
Một nhân chứng cũng là nạn nhân và thoát chết, Phạm Văn Tŕ, người gốc Hưng Nguyên, Nghệ An từng qua các cuộc đấu tố trong Cải cách Ruộng đất cho biết: “…Ở miền Bắc có khoảng 5000 xă. Không phải xă nào cũng đấu cả. Không phải người nào cũng đấu cả. Ví dụ, ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh đưa ra một tỉ lệ một xă 1000 dân th́ phải có 50 người bị đấu tức 5%. Cứ theo tỉ lệ mà đấu cho đủ số. Ví dụ xă này nghèo quá không đủ số th́ t́m sao những người hống hách chút ít đôn lên cho đủ số. Phải đúng tỉ lệ đưa ra không có cũng phải t́m cho đủ. Miền Bắc coi như có 5000 xă th́ số đấu tố chết là 250 ngàn người.
– Ông có đích thân chứng kiến những vụ đấu tố không?
– Có! Tôi xin kể cho ông một vài việc tôi chứng kiến tận mắt. Có một vụ đấu tố trong đó nạn nhân bị lột hết cả quần áo ra. Người ta lấy than và dầu hôi bôi vào những chỗ có lông trên thân ḿnh người đó, treo lên và đốt, cháy như nướng trui. Đứa con của nạn nhân mới 3 tuổi, không biết ǵ, đứng nh́n thấy cha ḿnh bị đốt tưởng đang làm tṛ nên té lên cười. Có một anh nông dân đứng gần đó thấy vậy, lấy mă tấu chặt đầu đứa nhỏ. Đầu nó rơi xuống đất mà miệng vẫn c̣n cười.
– Trong các vụ đấu tố đó, nghe nói có một số địa chủ và phú nông bị chôn, chừa cái đầu lên để cho xe cày. Ông có chứng kiến việc đó không?
– Tôi có chứng kiến thế này: Bắt địa chủ ăn cứt, uống nước đái, 3, 4 thằng cầm tay kéo đứt ra, lấy kim chích ngón tay bắt khai, treo người lên đốt cháy như con cá lóc…” (19)
Một chứng nhân khác, Nguyễn Đ́nh Khuê, cũng người huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, từng là nạn nhân của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh từ lúc 3, 4 tuổi và là nạn nhân của Cải cách Ruộng đất vào hơn hai thập kỷ sau đă kể lại về cách thức chuẩn bị cho các vụ đấu tố:
– Cha con tôi là nạn nhân. Trước khi tiến hành việc Cải cách Ruộng đất, họ cho cán bộ về làng, thi hành chính sách “tam cùng” với nông dân: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Họ luyện tập cho nông dân có tinh thần chống địa chủ, bắt cán bộ ngủ cùng giường với nông dân…
– Cách thức tố khổ địa chủ thế nào?
– Họ bắt nông dân học tập và thường bịa ra… Anh nông dân bịa ra và nói cho hắn xem có đủ hay chưa. Tập luyện công phu như vậy cả năm rồi mới bắt đầu… Tôi không hiểu t́nh trạng trong làng của ông bạn tôi (tức Phạm Văn Tŕ) như thế nào, nhưng trong năm đó trong làng tôi, trong xóm tôi, nông dân họp đêm, họp tới 2, 3 giờ sáng. Học tập xong rồi mới bắt đầu thực hành…
– Số người bị đấu tố bị giết là bao nhiêu?
– Số người trong làng tôi, có ḿnh cụ tôi. Ông cụ tôi bị giam trên núi mấy tháng th́ chết. Tôi không được phép đi đâu hết nên không biết rơ số người bị đấu tố chết là bao nhiêu.” (20)
Trong Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên kể lại:
“Tại xă Ngô Xá, làng Ng̣, Thanh Hóa... người ta trói chặt hai tay rồi dong mẹ bạn tôi đi khắp làng... Ở một xă khác, một người đàn bà bị trói vào hai cây nứa bắt chéo, bên dưới là một đống lửa. “Con mẹ ni là phú nông phản động, ngoan cố lắm”, những người bâu quanh nhao nhao nói thế. Người đàn bà quằn quại măi cho đến khi ngất đi rồi mới được người ta hạ xuống. (....)
Người ta cắm gai vào đầu ngón tay một cô gái, có trời biết cô ta bị tội ǵ, có thể cô ta chỉ có tội là con địa chủ, cứ mỗi câu hỏi lại cắm cái gai thêm một chút, làm cho cô ta rú lên v́ đau, quằn quại trong giây trói.
Một cụ già tóc bạc phơ bị tṛng dây vào cổ, bị lôi xềnh xệch trên đường như một con chó. Lũ trẻ làng rùng rùng chạy theo sau. Chúng vỗ tay, chúng reo ḥ, chúng cười ngặt nghẽo. Tôi nh́n chúng rùng ḿnh – những đứa trẻ này chắc chắn lớn lên với trái tim không phải của giống người...” (21)
Nhà văn nữ Dương Thu Hương cũng không quên cảnh tượng đă xẩy ra khi mới sáu, bảy tuổi và ghi lại trong tác phẩm Những thiên đường mù (22) dưới h́nh thức tự thuật của nhân vật trong tác phẩm:
“Bà nội tôi và cô Tâm chịu quỳ trước sân đ́nh, đầu gục xuống, hai tay ṿng trước ngực. Trước mặt hai người là dân làng đốt đuốc ngồi. Họ có nhiệm vụ lắng nghe những lời đấu tố. Và mỗi khi có tiếng hét bật lên: “Đả đảo địa chủ!”, họ có nhiệm vụ giơ tay lên hô thật to: “Đả đảo! Đả đảo!”.... Bên tay trái bà nội tôi và cô tôi, những người khác quỳ gối chờ tới lượt họ. Cứ mỗi lần tiếng hô “Đả đảo” cất lên họ lại run bần bật. Chỉ có cô Tâm không hề run rẩy...
...Cậu nói xong, tiếng trống cà rùng nổi lên, đinh tai nhức óc. Rồi tiếng hô uy hiếp vọng vào:
– Kiên quyết đánh đổ địa chủ Nguyễn Thị Tâm!
– Kiên quyết đánh đổ!!! Cậu Chính nh́n bố tôi hất hàm:
– Nghe rơ chưa? Bố tôi không trả lời. Cậu quát:
– Đội hỏi có trả lời không?
Mặt bố tôi tái xanh, mồ hôi vă đầy hai thái dương nhưng vẫn im lặng. Lúc ấy cô Tâm bước lên:
– Bẩm thưa đội, bây giờ chúng con biết thân biết phận, dù đội không ra lệnh chúng con cũng không dám chơi trèo.
Cậu Chính là đội trưởng đội cải cách. Lúc ấy đội cải cách là Thượng Đế, là Trời....”
Tài liệu giáo dục chính thức Tiến tŕnh lịch sử Việt Nam cho biết Cải cách Ruộng đất đă giúp 2 triệu hộ nông dân nghèo có ruộng tức liên can tới trên 2 triệu hộ. Nếu chỉ tính mỗi hộ trung b́nh có 4 người th́ Cải cách Ruộng đất trong 3 năm liên can tới 8 triệu người và theo chỉ thị Đảng và Nhà Nước, chỉ tiêu số người bắt buộc phải đưa ra đấu tố là 5% tức đă lên tới 400 ngàn người. Con số này gần ngang với con số ước lượng mà Tổng thống Mỹ Nixon nêu ra là khoảng nửa triệu.
Cũng theo con số chính thức do báo chí Cộng sản Việt Nam công bố th́ trong 14,908 nạn nhân đă có 10.976 người bị tố oan, thậm chí bị đánh chết, tức là số nạn nhân bị hại oan lên tới hơn 70 phần trăm.
Ngay với vấn đề thế nào là oan, thế nào là ưng đă cần phải nh́n lại, trong khi ngoài số nạn nhân bị trực tiếp đưa ra đấu tố, chính sách cô lập c̣n hành hạ hàng triệu thân nhân của những kẻ này bằng cách bao vây, xua đuổi, tước đoạt mọi phương tiện cư trú, sinh sống, thậm chí chặn hết mọi nguồn tiếp tế thực phẩm để phải chết đói rét nơi bờ bụi… Số nạn nhân này không ai kê khai nổi và chắc chắn không thu hẹp trong giới hạn vài ba chục ngàn như một số tác giả ngoại quốc đă ước đoán.
Nhưng số lượng nạn nhân bị ngược đăi và tàn sát man rợ trong Cải cách Ruộng đất là bao nhiêu không nghiêm trọng bằng sự tiêu diệt mọi t́nh cảm thiêng liêng cao cả nơi con tim của người dân Việt Nam.
Để củng cố uy quyền của ḿnh, Đảng đă cố thực hiện qua Cải cách Ruộng đất cái khẩu hiệu “thà giết lầm mười người c̣n hơn để cho một kẻ địch sống sót” bằng cách biến người dân thành một bầy dă thú sẵn sàng dày xéo lên tương quan vợ chồng, cha con, mẹ con, huyết mạch, xóm giềng… Nỗ lực này của Đảng đă dẫn đến cái cảnh mà Dương Thu Hương ghi lại trong một bài viết vào năm 2002: “Trong lịch sử “bốn ngàn năm”... triều đ́nh Cộng sản là triều đ́nh duy nhất cho tới nay, dậy con gái, con dâu vu khống bố hiếp dâm, dậy con trai chỉ vào mặt bố “đả đảo thằng bóc lột”, dậy cho láng giềng tố cáo điêu chác, đâm chém, dầy xéo mồ mả của nhau... vào những năm 53-55 (trong CCRĐ). Tất cả những ai chưa hoàn toàn quên lăng, hẳn hiểu rơ điều đó. Khi con người đă đủ can đảm vu khống, nhục mạ ngay bố mẹ đẻ của ḿnh th́ họ thừa sự nhẫn tâm để làm những điều ác gấp ngàn lần như thế với tha nhân....”
Trong Đêm giữa ban ngày, trang 221, Vũ Thư Hiên đă ghi rơ: “Cha tôi khẳng định người chịu trách nhiệm chính là ông Hồ Chí Minh, chứ không phải Trường Chinh. Trường Chinh là con dê tế thần cho sai lầm của ông Hồ.” Mặc dù cả Vũ Thư Hiên lẫn thân phụ ông đều cố nghĩ tốt cho Hồ Chí Minh, v́ những liên hệ cũ từng có.
Đầu năm 1956, khi tâm trạng phẫn uất tràn lan ở nhiều nơi, thậm chí đă có những cuộc nổi dậy của dân chúng như ở Quỳnh Lưu, Ba Làng và thái độ chống đối của nhiều phần tử từng nhiệt t́nh theo đảng trong kháng chiến chống Pháp, nhất là ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa chống Cộng sản tại Hungary, Đảng và Nhà Nước ra lệnh ngưng tiến hành đợt 5 Cải cách Ruộng đất với lư do phát hiện nhiều khuyết điểm.
Có thể nói tới lúc này cái biện pháp cơ bản để củng cố uy quyền của Đảng là Cải cách Ruộng đất đă đạt trọn mục tiêu đề ra trong khi mô thức hợp tác hóa nông nghiệp đă được tiến hành tại 3653 xă trong tổng số 5000 xă tức gần khắp miền Bắc. Hơn nữa, sửa sai không phải là từ bỏ chính sách Cải cách Ruộng đất mà là bước tiếp nối cần thiết để củng cố thành quả đă thu hoạch suốt ba năm tiến hành Cải cách Ruộng đất, v́ chỉ sửa sai những cách thức thi hành đă được thực hiện trong quá khứ tức là chỉ cần bằng những lời lẽ ngọt ngào tỏ ư tiếc về những việc đă rồi. Cách thức sửa sai được Thành Tín ghi lại như sau:
“Sau nghị quyết sửa sai, lại thành lập những đoàn cán bộ sửa sai, công bố cả một loạt tài liệu quy định các bước sửa sai, phát hành rộng răi những văn kiện có tính pháp luật về sửa sai… Cuộc sửa sai được tiến hành ráo riết, mỗi nơi là chừng 4 tháng, có nơi hơn 6 tháng.
Các bước sửa sai đi cùng với củng cố tổ chức Đảng và Chính quyền cơ sở. Những người bị giam giữ oan ức được trả lại tự do, sau những buổi học thanh minh và xin lỗi theo nội dung: Đảng không cố t́nh mà vô t́nh làm sai do không kiểm tra cấp dưới; Đảng rất đau xót nhận sai lầm; Đảng xin lỗi mỗi đồng chí, đồng bào, khôi phục danh dự và quyền lợi của các đồng chí, đồng bào.
Trong cơn khó khăn này, Đảng mong mỗi đồng chí sát cánh cùng Đảng sửa sai đến nơi đến chốn mà đóng góp lớn nhất của đồng chí là thông cảm với Đảng, cùng Đảng sửa sai và ổn định t́nh h́nh, không gây thêm bất kỳ khó khăn nào cho Đảng…
C̣n số người chết oan? Những gia đ́nh này được cán bộ cấp huyện và chủ tịch xă đến thăm viếng, nhận lỗi và an ủi. Giấy minh oan được mang đến tận nơi, với những chứng nhận phục hồi đảng tịch (nếu là đảng viên), trả lại huân chương, bằng khen, c̣n được tặng thêm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh có đóng dấu của tỉnh…
Ngày 29-10-1956 tại sân vận động Hàng Đẫy, đại tướng Vơ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đứng ra nhận tội, xin lỗi, đưa ra phương án sửa sai khẩn cấp… Tại cuộc họp lớn này, người ta đẩy cụ Bùi Kỷ, một nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc ra đọc lời khai mạc. Sau đó, đại tướng Vơ Nguyên Giáp lên tiếng thuyết phục. Cái lư sự để thuyết phục là ở mặt trận, nhất là mặt trận Điện Biên Phủ, chiến sĩ ta c̣n lấy thân chèn pháo bất kể sinh mạng, hàng ngàn chiến sĩ bỏ ḿnh th́ việc tổn thất trong Cải cách Ruộng đất tuy là đáng tiếc nhưng cũng là đóng góp cho Cách mạng tiến lên. Ít lâu sau, báo Quân đội Nhân dân đưa ra trong xă luận, chỉ rơ “chính trong sai lầm mà nhân dân ta càng thêm vĩ đại, Đảng ta càng thêm vĩ đại””. (23)
Để tỏ ra muốn thực sự sửa sai, Trường Chinh không c̣n giữ chức Tổng Bí thư Đảng tuy nhiên được chuyển qua làm Chủ tịch Quốc hội và Hoàng Quốc Việt bị loại khỏi bộ chính trị, Hồ Viết Thắng, Nguyễn Đức Tâm bị đưa ra khỏi Ủy ban Trung ương trong khi cán bộ CCRĐ vẫn tiếp tục là cán bộ sau một thời gian họp hành kiểm điểm những việc đă qua.
Sửa sai đă kết thúc tốt đẹp v́ t́nh h́nh miền Bắc hoàn toàn thuận lợi cho việc cai trị của Đảng, nhất là khi dẹp xong các phần tử văn nghệ bất măn thuộc các nhóm Nhân văn – Giai phẩm.
Tuy vậy, không phải những lời chê trách hoàn toàn tắt lịm. Theo ghi nhận của sử gia Pháp Gerard Tongas (24) có mặt tại Hà Nội lúc đó th́ trong thời gian Cải cách Ruộng đất, nhất là sau các vụ đàn áp ở Ba Làng, Quỳnh Lưu và nhân dân Budapest, giới trẻ Hà Nội hết sức xôn xao, đă có mưu tính biểu t́nh chống đối. Tuy việc không thành, nhưng sự ngưỡng mộ đối với Hồ Chí Minh sút giảm rơ rệt v́ nhiều người cho rằng trách nhiệm lớn nhất trong Cải cách Ruộng đất do Hồ Chí Minh phải gánh chịu. Do đó, việc trút lỗi cho thuộc cấp làm sai đă được bổ sung thêm bằng một lập luận khác: Hồ Chí Minh đă bị cả Liên Xô lẫn Trung Quốc tạo áp lực nặng nề, bắt buộc phải Cải cách Ruộng đất.
Những người đă rời bỏ hàng ngũ Cộng sản như Nguyễn Minh Cần, Bùi Tín đều chưa rũ hết ảnh hưởng của luận điệu này, dù cả hai đều cho rằng Hồ Chí Minh phải gánh chịu phần lớn trách nhiệm. Về áp lực của Staline, Thành Tín thuật lại:
“Đầu năm 1950… theo kể, Staline trong cuộc gặp riêng ông Hồ Chí Minh trong điện Kremlin… đi thẳng vào vấn đề, chất vấn ông Hồ 2 điểm: v́ sao giải tán đảng Cộng sản Đông Dương? V́ sao chưa tiến hành Cải cách Ruộng đất?
Ông Hồ đă tŕnh bày với Staline là việc giải tán đảng Cộng sản Đông Dương cuối năm 1945 chỉ là giải tán giả, trên thực tế là Đảng lùi vào bí mật, với một bộ mặt giả công khai là Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác. Hai là cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp rất gay gắt nên Cải cách Ruộng đất phải chậm lại và đă làm cuộc vận động giảm tô, giảm tức. Staline nghe, và, với bản chất thô bạo vốn có, chắc chắn đă cao giọng ra chỉ thị phải sớm đưa đảng Cộng sản ra công khai…; chính trong kháng chiến gay gắt lại cần làm Cải cách Ruộng đất để huy động tinh thần và lực lượng vật chất của nông dân vào cuộc chiến đấu, cần nhớ đấu tranh giai cấp và Liên minh Công nông là hai nguyên lư cơ bản của Cách mạng Vô sản…
Ông Hồ trở về. Thế là đảng Cộng sản Việt Nam mở đại hội đảng lần thứ 2 vào tháng 12-1951 ở Việt Bắc, đảng ra công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam… C̣n Cải cách Ruộng đất? Cần thấy rơ là ông Hồ vẫn cố tŕ hoăn Cải cách Ruộng đất sau khi ở Moscou về. Cuộc kháng chiến rất khẩn trương, quyết liệt. Staline ở xa…” (25)
Tháng 3-1950, Hồ Chí Minh rời Mạc Tư Khoa trở về lo ngay việc đưa Đảng Lao động Việt Nam ra công khai vào tháng 12-1951 và mấy tháng sau, năm 1952, đă khởi sự các đợt công tác thí nghiệm Cải cách Ruộng đất th́ không thể có chuyện cố t́nh tŕ hoăn.
Nguyễn Minh Cần cũng nêu áp lực của Staline nhưng không theo cách nh́n của Bùi Tín mà nh́n qua hệ thống tương quan trong khối Cộng sản đặt đảng Cộng sản tại các nước vào thế phải tuyệt đối vâng lệnh Đệ tam Quốc tế. Ngoài ra, theo Nguyễn Minh Cần, chính Hồ Chí Minh cũng luôn tín phục các lănh tụ Staline, Mao Trạch Đông. Nguyễn Minh Cần kể lại trường hợp đích thân nghe rơ lời của Hồ Chí Minh vào dịp dự hội nghị trung ương ở chiến khu Việt Bắc. Lúc đó Hồ Chí Minh đă nhắc đến Staline, Mao Trạch Đông và nhấn mạnh với các đại biểu trong hội nghị: “Các cô, các chú nên biết rằng việc đổi tên Đảng ta, Bác đă xin ư kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông rồi (chúng tôi được biết hồi ấy ông vừa đi Moskva về), các đồng chí đă đồng ư. Các cô, các chú nên biết rằng: “Ai đó th́ có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông th́ không thể nào sai được.” (26)
Dù muốn hay không, Hồ Chí Minh vẫn là người kư các sắc lệnh 149-SL, 151-SL vào tháng 4-1953 và sau đó kư sắc lệnh ban hành luật Cải cách Ruộng đất. Cũng thế, Hồ Chí Minh đă trực tiếp bổ nhiệm Trường Chinh và nhóm Hoàng Quốc Việt cầm đầu ban chỉ đạo Cải cách Ruộng đất. Các qui định về luật lệ cũng như người thi hành đều do Hồ Chí Minh sắp đặt và đây là những thứ đă đưa đến cái chết tàn khốc của cả nửa triệu người dân vô tội, đă phá hủy toàn bộ khuôn thước tinh thần truyền thống dân tộc.
Trước sự việc HCM im lặng bỏ mặc cho bà Nguyễn Thị Năm bị đàn em theo lệnh cố vấn Trung Cộng lôi ra xử bắn, Thành Tín đă viết: “Tôi nghĩ việc này có rất nhiều ư nghĩa. Trước hết, ông Hồ Chí Minh có lỗi lớn. Thà rằng không biết ǵ về chuyện này; và dù không biết, là Chủ tịch Nước, Chủ tịch Đảng, ông vẫn phải chịu phần trách nhiệm. Huống ǵ ông đă biết rơ cụ thể, ông nhận định là bà Năm bị xử trí oan, thế mà ông giữ im lặng, ông không can thiệp. Đây là thái độ vô trách nhiệm. Ông không can thiệp th́ c̣n ai có thể can thiệp? Ông đă để mặc cho nước của ông, đảng của ông bị một số kẻ nước ngoài lũng đoạn, lộng hành. Trên thực tế, ông đă từ nhiệm vị trí, trách nhiệm của ḿnh”. (27)
Ư kiến của Thành Tín có thể dành chung cho toàn bộ chính sách Cải cách Ruộng đất. Dù cán bộ, đảng viên biện giải cách nào th́ Hồ Chí Minh cũng không thể chối bỏ trách nhiệm của ḿnh. Tuy nhiên, cần xét lại ư nghĩ cho rằng Hồ Chí Minh đă chịu sự chi phối bởi các áp lực bên ngoài hoặc một số người ngoại quốc kể cả do sự tín ngưỡng Staline, Mao Trạch Đông như Nguyễn Minh Cần đă nhắc.
Trên thực tế, Cải cách Ruộng đất là một bước đi bắt buộc trong Cách mạng Vô sản mà Hồ Chí Minh đă trở thành tín đồ thuần thành. Như thế, Hồ Chí Minh chỉ thi hành nhiệm vụ của một tín đồ nên không thể đặt vào cảnh ngộ bị ép buộc bởi bất kỳ cá nhân nào. Tháo gỡ trách nhiệm không c̣n cần thiết và cũng là vấn đề bất khả, bởi tất cả đă được quyết định từ khi chọn đường. HCM đă chọn con đường chủ nghĩa Cộng sản với cuộc Cách mạng giai cấp diễn tiến trường kỳ cho tới khi tận diệt giai cấp Tư bản. Cải cách ruộng đất chỉ là một bước đi giai đoạn trên con đường dài thăm thẳm đó và là một bước đi không thể tránh.
Cho nên, t́m hiểu xem Hồ Chí Minh có biết các thảm cảnh đang diễn ra hay không để định mức trách nhiệm là việc làm ngây thơ không khác việc Vũ Đ́nh Huỳnh già yếu bệnh hoạn vẫn cố chống gậy tới gặp Hồ Chí Minh để than: “Máu đồng bào đă đổ mà Bác ngồi yên được à?”. Có phải chăng lời than này đă là một lư do để không lâu sau đó tới lượt Vũ Đ́nh Huỳnh sau bao năm kề cận Hồ Chí Minh bị tống vào nhà tù để trở thành một trường hợp Nguyễn Thị Năm thứ hai?
Nh́n lại những sự kiện Xô viết Nghệ Tĩnh và Cải cách Ruộng đất, v́ thế, không phải để cố phân tích xem Hồ Chí Minh đă dính dấp ở mức độ nào. Nghi vấn duy nhất nổi lên từ các sự kiện này là chúng có xẩy ra không, nếu không có Hồ Chí Minh?
Chú thích
(01) Đảng CSVN qua những biến động trong phong trào Cộng sản Quốc tế – Nguyễn Minh Cần. Xin xem chương liên hệ ở phần I.
(02) Sự phát triển tư tưởng tại Việt Nam – Trần Văn Giàu, Tập III, Nxb TPHCM 1993.
(03)-(10) Bác Hồ trên đất nước Lênin – Hồng Hà, Thanh niên 2000, tr. 258. Xin xem chương liên hệ.
(04)-(06) Việt Nam những sự kiện lịch sử – Dương Trung Quốc, Nxb Giáo Dục, Hà Nội 2001, tr. 192
(05) Lịch Sử Đảng CSVN (Bài giảng) – Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội 1999. tr. 32-36.
(07)-(08) HCM tuyển tập - Tập 2, Sự Thật, Hà Nội 1980, tr.152 & 154.
(09) Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch – Nxb Văn Học 2001, tr. 88
(11)-(12)-(13) -(14) Mặt thật – Thành Tín, Cali 1993, tr. 57, 37-38 & 36
(15) Từ Thực dân đến Cộng sản – Hoàng Văn Chí, tr. 189
(16) Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 267, Hà Nội 30-4-1993, tr. 1-2
(17) Việt Nam huyết lệ sử – Cao Thế Dung, Nxb Đồng Hương, Louisia-na 1996, tr. 747-748
(18) Tiến tŕnh lịch sử Việt Nam – Nguyễn Quang Ngọc, Nxb Giáo Dục, Hà Nội 2001, tr. 327
(19)-(20) Hắc thư về chủ nghĩa Cộng sản - Bản tiếng Việt của Hồ Văn Đồng, Hội Phát triển văn hóa Mỹ-Việt, Seattle 2002, T.II, tr. 1129-1130 – Phần phụ lục của người dịch.
(21) Đêm giữa ban ngày– V.T. Hiên, Nxb Văn Nghệ, Cali 1997, tr. 32.
(22) Những thiên đường mù– D. Thu Hương, Hà Nội 1990, tr. 17-29.
(23)-(25)-(27) Mặt thật – Thành Tín, Cali 1993, tr. 59-60, 67-68, 39
(24) Tác giả chương 7 trong North Việt Nam Today – Xem chương 25.
(26) Xin xem chương Nguyễn Minh Cần.
Trung Cộng nô lệ hóa CSVN qua Cải cách Ruộng đất
Tường Thắng 04-01-2006
http://www.vietname xodus.org
Qua bài trước chúng ta đă thấy rơ Trung Cộng đă nô lệ hoá cộng sản Việt Nam như thế nào với cái gọi là chỉnh huấn quân đội và chỉnh huấn tư tưởng cán bộ. Trong bài này chúng ta đào sâu thêm về câu hỏi Trung Cộng đă nô lệ hóa Việt Cộng như thế nào qua cái gọi là Cải cách Ruộng đất (CCRĐ).
Ai cũng biết, cộng sản đồng nghĩa với đấu tranh giai cấp. Từ lúc thành lập đảng, Việt Cộng không hề giấu diếm chủ trương “cách mạng thổ địa” của chúng. Lộ liễu nhất là khi chúng xách động nông dân nổi dậy ở Nghệ An và Hà Tĩnh, chiếm quyền ở mấy địa phương mà chúng kiểm soát được, tự xưng là “Xô-viết Nghệ Tĩnh” (mô phỏng theo mẫu mực Xô-viết của đế quốc Liên Xô), nêu khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào; đào tận gốc, trốc tận rễ” (có nghĩa là tận diệt các thành phần trí thức, phú nông, địa chủ, và cường hào). Không được hưởng ứng, bị dẹp tan, tàn dư bọn này chạy sang Xiêm, trở thành những mầm mống đầu tiên của cộng sản Xiêm (Thái Lan). Trong bọn này có Hoàng Văn Hoan, sau trở thành tay sai thân tín của Trung Cộng cho đến chết.
Quá lộ liễu, làm bại lộ quá sớm âm mưu bành trướng của đế quốc Liên Xô, bọn cộng sản nổi loạn ở Nghệ Tĩnh bị Quốc tế 3 lên án nặng nề. Bị kiểm thảo, Nguyễn Ái Quốc chối bay, đổ lỗi cho bọn cộng sản địa phương “manh động”, “tả khuynh” v.v…
Rút kinh nghiệm bài học này, NAQ năm 1945 về VN đổi tên là Hồ Chí Minh, cướp quyền với danh nghĩa “giải phóng dân tộc” và giấu biệt đi cái đuôi “đấu tranh giai cấp”. Năm 1945, HCM đọc Tuyên ngôn Độc lập, nhưng Liên Xô cũng như các chư hầu cộng sản im re, không dám lộ mặt công nhận “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” của cộng sản VN. Trung Cộng lúc đó c̣n đang nội chiến, chưa có tư cách là một quốc gia, nên cũng không thể công nhận VNDCCH.
Tuy thế, để tỏ ḷng trung thành với mẫu quốc cộng sản, trong nội bộ, HCM tô đậm chủ trương “giương cao hai ngọn cờ : (1) giải phóng dân tộc; và (2) đấu tranh giai cấp”. Bản chất “lá mặt lá trái” (double standard) của cộng sản VN đă bộc lộ từ đó. Chiêu bài (1) HCM dùng lừa bịp quốc dân VN để được tín nhiệm cho cầm cờ “giành độc lập”. Chiêu bài (2) mới là chiêu bài chính, HCM tạm thời giấu đi để khỏi lộ tẩy mưu đồ lừa bịp nói trên.
Vào đầu thập niên 40, CSVN vẫn c̣n chủ trương thực hiện một lúc hai cuộc đấu tranh: đấu tranh giải phóng dân tộc, và Cải cách Ruộng đất. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương ngày 6-9/11/1940 họp tại Đ́nh Bảng (Từ Sơn - Bắc Ninh) với sự tham dự của Phan Đăng Lưu, Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt đă khẳng định: “Muốn xoá bỏ mâu thuẫn cơ bản thứ nhất, phải làm cách mạng thổ địa (revolution agraire) thủ tiêu các tàn tích phong kiến, chia lại ruộng đất cho dân cày. Muốn xoá bỏ mâu thuẫn thứ hai phải làm cách mạng phản đế (révolution anti-impérialiste) đánh đuổi đế quốc chủ nghĩa, làm cho Đông Dương độc lập về kinh tế cũng như về chính trị, chiếm lại những nguồn nguyên liệu ở trong tay đế quốc chủ nghĩa đặng mở mang nền kỹ nghệ nặng cho Đông Dương. Như thế cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại phải bao gồm có hai tính: phản đế và thổ địa. Cuộc cách mạng gồm có hai tính chất: phản đế và thổ địa ấy gọi là cách mạng tư sản dân quyền (révolution démocratique bourgeoise). Tại sao lại gọi là cách mạng tư sản dân quyền? Bởi v́ mục đích của nó là thủ tiêu hết cả tàn tích phong kiến, phát triển kỹ nghệ. Phải nhớ rằng cuộc cách mạng ấy có tính chất "tư sản" (caractère bourgeoise), nó không thể chạy thẳng ngay ra khỏi cái khuôn khổ của một cuộc cách mạng chỉ dân chủ thôi". (Lênin: Hai chiến thuật). Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể cái làm trước cái làm sau.” (1)
Nhưng đến Hội nghị Trung ương lần thứ tám tại Pắc Bó (Cao Bằng) họp từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, với sự tham dự của HCM th́ tiến tŕnh Cải cách Ruộng đất bị đẩy lùi về đằng sau. HCM lư luận rằng phải giải phóng được dân tộc trước th́ mới làm Cải cách Ruộng đất được, chứ đất c̣n nằm trong tay Pháp th́ lấy đất đâu để mà cải cách. V́ nhu cầu ưu tiên kêu gọi đoàn kết mọi giai tầng trong xă hội để đánh Pháp trước đă, nên khẩu hiệu CCRĐ và đấu tranh giai cấp phải giấu kỹ đàng sau. Cái mà đảng CS cần nhất lúc đó là giương cao ngọn cờ dân tộc để đánh Pháp, nên cần sự hậu thuẫn, đoàn kết của tất cả các giai cấp. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ tám khẳng định: “Tóm lại, nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương, hợp với nguyện vọng chung của tất cả nhân dân Đông Dương. Muốn làm tṛn nhiệm vụ đó, Đảng ta phải thống nhất lực lượng cách mạng của nhân dân Đông Dương dưới một hiệu cờ thống nhất, tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc, các tôn giáo có tinh thần chống Pháp, chống Nhật thành thật muốn độc lập cho đất nước, thành một mặt trận cho cách mạng chung… Vậy th́ cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng... Chưa chủ trương làm Cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải phóng dân tộc… Không phải giai cấp vô sản Đông Dương bỏ mất nhiệm vụ điền địa đi dâu, cũng không phải đi lùi lại một bước, mà chỉ bước một bước ngắn hơn để có sức mà bước một bước dài hơn”.
Đến đầu năm 1950, tại đại hội II của đảng CS, với tư cách là tổng bí thư, Trường Chinh đề nghị ba bước cần phải thi hành trong Cải cách Ruộng đất. Trường Chinh viết:
“Bước thứ nhất: tịch thu không bồi thường ruộng đất của thực dân Pháp và của bọn phản quốc, một phần lớn chia cho dân nghèo, một phần nhỏ để làm đồn điền thí nghiệm, giảm tô, giảm tức; cổ động quyên ruộng, thu hẹp chế độ nông nô và chế độ bộ lạc; phát triển hợp tác xă nông nghiệp.
Bước thứ hai: tịch thu ruộng đất của đại địa chủ chia cho dân cày; xóa bỏ tàn tích của chế độ nông nô.
Bước thứ ba: thủ tiêu toàn bộ chế độ bóc lột địa tô, triệt để thực hiện khẩu hiệu người cày ruộng có ruộng.
Chú ư: về việc chia ruộng đất, cố nông, bần nông và các chiến sĩ trong quân đội được ưu đăi trước nhất. Tuy nói chung địa chủ tham gia kháng chiến sẽ được bồi thường nếu bị tịch thu ruộng đất, những người được cấp ruộng phải bồi thường cho chủ ruộng hay không và bồi thường nhiều ít là tùy t́nh thế lúc tịch thu mà quyết định. Đến lúc thủ tiêu toàn bộ chế độ bóc lột địa tô, th́ địa chủ cũng được hưởng một phần ruộng như nông dân; họ sẽ phải làm lụng trên phần ruộng của họ và hóa thành nông dân.
Hiện nay ta đang ở bước thứ nhất của việc Cải cách Ruộng đất.
Tại sao việc CCRĐ ở ta lại phải chia ra từng bước như thế? Trong bước đầu này, ta chưa đặt ra vấn đề tịch thu ruộng đất của địa chủ là v́ hiện thời nhiệm vụ phản đế phải hoàn thành gấp rút, nên nhân nhượng với địa chủ để đoàn kết mọi lực lượng đánh Pháp, là một việc tất nhiên. Vấn đề then chốt của bước thứ nhất là: giảm tô, giảm tức.
Sau khi kháng chiến thành công, hoàn thành nhiệm vụ phản phong kiến là việc trước mắt. Trọng tâm của cách mạng đă chuyển từ nhiệm vụ phản đế sang nhiệm vụ phản phong kiến, th́ then chốt của vấn đề Cải cách Ruộng đất lúc đó lại là thủ tiêu chế độ bóc lột địa tô bắt đầu bằng cách thủ tiêu chế độ bóc lột của đại địa chủ trước.” (3)
Xuyên qua tài liệu trên, ta thấy đảng cộng sản VN lại một lần nữa khẳng định việc hoăn lại kế hoạch Cải cách Ruộng đất cho đến sau khi đánh Pháp. Thế nhưng, t́nh h́nh thay đổi hẳn khi Trung Cộng trực tiếp nhúng tay vào Việt Nam.
Hoàng Tùng, cựu tổng biên tập nhật báo Nhân Dân, viết trong hồi kư Những kỉ niệm về Bác Hồ như sau :
“Sang Trung Quốc, Mao đưa Bác vào quỹ đạo của Mao. Sang tới Liên Xô, Stalin lại đưa Bác vào quỹ đạo của Stalin. Chuyến đi Trung Quốc và Liên Xô năm 1950 của Bác là chuyến đi gian khổ. Sau khi gặp Stalin và Mao, hai bên cứ thúc ép Bác làm như họ, tức là liên minh công nông, do Đảng lănh đạo, lập chính quyền công nông, rồi làm Cải cách Ruộng đất. Bác chưa muốn làm Cải cách Ruộng đất. Thuyết ba giai đoạn của đồng chí Trường Chinh đưa ra ở Đại hội II là có ư kiến của Bác. Theo thuyết ba giai đoạn th́ Cải cách Ruộng đất để sau, hăy làm giảm tô, giảm tức. Đồng chí Trường Chinh phân tích rất hay. Đại hội Đảng ta năm 1951, đại biểu nước ngoài tới dự chỉ có La Quư Ba [Trung Quốc]. La Quư Ba phát biểu chủ yếu về thuế nông nghiệp. Họ đem các nề nếp từ bên Trung Quốc sang, đem kinh nghiệm chỉnh đảng, chỉnh phong từ Diên An sang. Sau Đại hội ta không nói ǵ đến Cải cách Ruộng đất, chỉ thấy nói đến lí thuyết ba giai đoạn, v́ thế nên mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải thực hiện Cải cách Ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa, Bác mới quyết định phải thực hiện Cải cách Ruộng đất. Bác viết một bài nhan đề "Terre et eau" (đất và nước) kí tên là Le Ding, đăng ở tạp chí V́ một nền hoà b́nh lâu dài, v́ một nền dân chủ mới. Bác nói đại ư : Đất và Nước bao giờ cũng đi liền với nhau, muốn giải phóng nước phải đưa đất cho dân. Bác nói khéo để nói lên việc phải Cải cách Ruộng đất.” (4)
Sức ép của cả Trung Quốc lẫn Liên Xô đè nặng, Hồ Chí Minh phải thực hiện Cải cách Ruộng đất, chứ không thể tiếp tục tŕ hoăn đươc nữa. Nhưng Hồ và đảng CSVN không được phép thực hiện Cải cách Ruộng đất theo kiểu Việt Nam – nghĩa là giảm tô, tịch thu và có bồi thường tuỳ theo trường hợp; đằng này đảng cộng sản VN phải thực hiện Cải cách Ruộng đất theo kiểu mà Trung Quốc và Liên Xô muốn.
Thế kẹt chết người của cộng sản VN là nó có tới hai mẫu quốc và hai mẫu quốc ấy lại ḱnh chống nhau. Trung Cộng ở gần, Liên Xô ở xa, cho nên cộng sản VN trở thành nô lệ trực tiếp của Trung Cộng và nô lệ “cách không” của Liên Xô. Muốn nô lệ hóa Việt Cộng, biến chúng thành tay sai “không có đường lùi”, Trung Cộng bức bách Việt Cộng phải tiến hành đấu tranh giai cấp, tự đào hố tách biệt khỏi khối đoàn kết dân tộc, trở thành đồ tể giết hại chính đồng bào ḿnh, về sau có muốn phản chủ cũng không c̣n đường mà phản chủ nữa. Cũng với cung cách đó, sau này Trung Cộng đă biến Pol Pot ở Campuchia thành đồ tể lừng danh thế giới với tội diệt chủng và sát trường “The Killing Field”. “Thế giới chia làm hai phe”, Việt Cộng ôm cái mâu thuẫn “hai phe” đó vào ḷng dân tộc Việt, đă đủ kinh hoàng cho dân tộc Việt rồi. Đến khi ngay trong “phe” xă hội chủ nghĩa lại chia ra hai “bè” đánh nhau nữa, Việt Cộng lại xô thêm dân tộc Việt vào cảnh một cổ hai tṛng, làm sao mà c̣n đường thoát ! Về sau, rất lâu sau khi bị Trung Cộng xua quân “dạy cho một bài học”, Việt Cộng lớn nhỏ mới dám hó hé viết hồi kư đổ lỗi cho Trung Cộng ép buộc chúng vào những đấu tranh giai cấp đầy tội lỗi và rất ư không cần thiết. Dù biện minh kiểu ǵ, ngàn đời Việt Cộng không bao giờ rửa sạch đưọc những vết nhơ trong lịch sử qua những tội lỗi nói trên của chúng.
Trong cuốn hồi kư về Trường Chinh - một nhân cách lớn, một nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, Hoàng Tùng kể như sau:
“Trung Quốc phái sang một đoàn cố vấn Cải cách Ruộng đất, chính đốn tổ chức, cố vấn cho ban tổ chức, ban tuyên huấn, công an. Họ chuẩn bị đưa ra trước bộ chính trị của ta một kế hoạch đầy đủ: Thành lập các đội công tác, chỉnh đốn tổ chức đi liền với Cải cách Ruộng đất. Cuốn phim Bạch Mao Nữ, một điển h́nh Cải cách Ruộng đất ở nước họ được gửi sang để chiếu rộng khắp, những bài giảng của họ gây ấn tượng sâu sắc, kích động mạnh mẽ tâm lư người xem. Các đội công tác chịu sự chỉ huy trực tiếp của đoàn do Hồ Viết Thắng trực tiếp nắm, có Kiểu Hiểu Quang - trưởng đoàn cố vấn về chỉnh đốn tổ chức Cải cách Ruộng đất tham gia. Họ chọn lọc những người tố cáo, kể khổ hăng hái nhất, nhiều khi bịa ra, hoặc nói phóng đại ra cho bi đát, hấp dẫn, kết nạp họ vào Đảng, hoặc đội ngũ của cuộc vận động Cải cách Ruộng đất. Các hội nghị tố khổ diễn ra cả ngày, có khi kéo dài đến tận đêm khuya.” (5)
Hoàng Tùng đă cho ta thấy Trung Cộng buộc đảng cộng sản Việt Nam phải diễn tuồng Cải cách Ruộng đất theo đúng điển mẫu của mẫu quốc, và qua đó chỉnh đốn luôn cả đảng cộng sản VN theo khuôn mẫu Tàu. Hồ có phản đối ǵ không? Ta hăy nghe Hoàng Tùng kể tiếp:
“Trung Quốc muốn qua Cải cách Ruộng đất để chỉnh đốn lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành Cải cách Ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm. Khi đó tôi thường được dự họp Bộ chính trị do đó cũng biết một số việc. Đó là việc làm thí điểm cải cách ở đồng bằng và chọn đồn điền Nguyễn Thị Năm. Nguyễn Thị Năm tức là Cát Thành Long có một người con làm trung đoàn trưởng ở cục chính trị của Văn Tiến Dũng. Gia đ́nh bà trong dịp Tuần lễ Vàng có hiến 100 lượng vàng. Bà c̣n tham gia công tác của Hội phụ nữ từ năm 1945 đến 1953. Tôi chưa đến đó lần nào, các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ thường hay ăn cơm ở nhà bà. Gia đ́nh Nguyễn Thị Năm cũng giống như các gia đ́nh Đỗ Đ́nh Thiện, Trịnh Văn Bô giúp đỡ nhiều cho cách mạng. Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ chính trị Bác nói : "Tôi đồng ư người có tội th́ phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa". Sau cố vấn Trung Quốc là La Quư Ba đề nghị măi, Bác nói : "Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải". Và họ cứ thế làm. Thuyết của họ là không dựa vào tổ chức cũ mà tổ chức lại một số tổ chức khác của Đảng, họ phủ nhận hết các tổ chức khác như chính quyền, các đoàn thể. Ai lănh đạo Cách mạng Tháng tám thành công, ai lănh đạo cuộc kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1953. Thế mà họ thẳng tay bỏ hết, trong đó có mấy ngàn người bị xử tử. Mục đích của họ không phải là Cải cách Ruộng đất mà là đánh vào Đảng ta. May mà đến năm 1956 ta kịp dừng lại, nếu không th́ tan nát hết. Sau này có những phiên họp Bộ chính trị tôi hay ngồi lại cùng Bác nói chuyện. Có lần Bác trầm ngâm nói : "Ḿnh đă nói để kháng chiến xong đă, mới tiến hành CCRĐ, cứ ép măi. Mà nếu có làm cũng làm theo cách ta, chứ không theo họ". (6)
Ngay cả một Hồ Chí Minh lúc nào cũng tự xưng tụng là “vĩ đại” như thế, ngay cả một HCM được Trần Khuê gọi là “thánh Hồ”, cũng đành bó tay để mặc cho các cố vấn Trung Cộng vung tay tiêu diệt có hệ thống toàn bộ cán bộ trung kiên của Hồ. Như Hoàng Tùng đă tiết lộ, ta thấy rất rơ chủ trương của Trung Cộng là nô lệ hoá toàn bộ đảng CSVN.
Cuộc chỉnh huấn đảng cộng sản VN do Trung Cộng thực hiện qua cái gọi là Cải cách Ruộng đất đă làm cho ngay cả đến tên sắt máu Lê Duẩn cũng phải rùng ḿnh. Nguyễn Đức B́nh, hiện là uỷ viên bộ chính trị, kể lại: “Tôi nhớ tháng 11, 1952, anh Ba Duẩn trền đường từ Nam Bộ ra Việt Bắc có ghé lại mấy ngày ở cơ quan liên khu uỷ IV. Anh Ba nói về kinh nghiệm Cải cách Ruộng đất. Anh nói: Ta phải làm theo cách của ta, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.” (7)
Từ miền Bắc trở về Nam Bộ, Lê Duẩn dứt khoát không tán thành nội dung chính sách và phương pháp chỉnh huấn, Cải cách Ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức như đă làm đầu những năm 50. (8)
Lê Duẩn nh́n thấy sự thao túng của Trung Quốc, và không phải chỉ một ḿnh Lê Duẩn mà rất nhiều các cán bộ cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ cũng nh́n thấy điều đó. Nhưng tất cả đều đă câm lặng không phản đối, để măi đến hơn 45 năm sau mới dám than thở. Tố Hữu than: “Cuộc Cải cách Ruộng đất đề cao một cách quá đáng vai tṛ bần cố nông ở nông thôn và cả trong Đảng, khiến người ta cảm thấy mục tiêu đánh đổ một quan điểm chính trị c̣n lớn hơn cả mục tiêu mang ruộng đất về cho dân cày. Cuộc đấu tố kéo dài ngày càng quyết liệt cho đến năm 1955, đầu 1956, sau khi lập lại hoà b́nh, gây một tâm trạng hoảng loạn ở nông thôn và cả thành thị mới được giải phóng” (9). Tố Hữu không bao giờ dám nhắc lại những bài thơ sặc mùi “Hồng Vệ Binh” y đă sáng tác để phục vụ cho tuyên truyền thời “đấu tố”. Y cũng không bao giờ dám nhắc đến hàng triệu người Việt Nam bỏ xứ, từ Bắc di cư vào Nam, như là một cuộc “bỏ phiếu bằng chân” của quốc dân Việt, chống lại đấu tranh giai cấp, đồng thời chống luôn đế quốc cộng sản (cả Nga lẫn Tàu) và bọn tay sai bản xứ là đảng cộng sản VN.
Những ǵ mà các tay tổ lănh đạo cộng sản bây giờ mới dám thổ lộ ra - một chút ít - đă cho chúng ta thấy h́nh ảnh của một tập đoàn tay sai ngay từ thời chúng lập đảng cho đến ngày hôm nay. Ngay từ “Thời Dựng Đảng”, chúng đă chủ trương “Phải thực hành cho được chánh sách và nghị quyết của Đảng và Quốc tế Cộng sản”. (10).
Đảng cộng sản thường hay khoe khoang “đảng ta vĩ đại”. Trong thực tế, nếu đảng ấy quả thật có “vĩ đại” th́ nó chỉ “vĩ đại” trong sự nghiệp làm tay sai cho các quyền lợi của đế quốc, miễn sao “đảng ta” bảo vệ được cái quyền ngồi trên đầu trên cổ người dân, mặc t́nh sinh sát và vơ vét.
Qua sự lũng đoạn và thao túng của cộng sản Tàu, chúng ta thấy được dă tâm của Mao Trạch Đông là cố t́nh làm cho đảng cộng sản VN phải vong thân với quốc dân Việt Nam. Có bị quốc dân Việt Nam xem như là kẻ thù th́ đảng cộng sản Việt Nam mới biến thành một tên nô lệ măi măi lệ thuộc vào Trung Cộng. Thập niên 70, khi cộng sản Pol Pot lên nắm quyền tại Cam Bốt, với sự ủng hộ của Trung Cộng, Pol Pot đă tiêu diệt hơn 2 triệu người Cam Bốt, và chính hành động này đă đẩy bè lũ Pol Pot vào tư thế trở thành kẻ thù truyền kiếp của quốc dân Cam Bốt. Pol Pot không c̣n sự lựa chọn nào khác đành phải biến ḿnh thành tên nô lệ cho Trung Cộng nhằm bảo vệ cái ghế quyền lực của ḿnh. Cho đến khi v́ cần trao đổi với Mỹ Trung Cộng đă không ngần ngại bỏ rơi Pol Pot. Và y đă chết như một con chó ghẻ trong sự nhờm tởm của loài người văn minh.
Trong lịch sử nhân loại, chỉ có chế độ cộng sản khi sụp đổ đă không để lại được một cái ǵ ngoài sự tàn bạo của nó.
Chú thích
(1) Văn Kiện Đảng Toàn tập, tập 7 (1940-1945)
(2) Văn Kiện Đảng Toàn tập, tập 7 (1940-1945)
(3) Văn Kiện Đảng Toàn Tập, tập 11 (1950): Chính sách ruộng đất của Đảng và vấn đề điều tra nông thôn, ngày 10-2-1950
(4) Hoàng Tùng - Những kỉ niệm về Bác Hồ.
(5) Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lănh đạo kiệt xuất của các mạng Việt Nam (Hồi kư) - Nhiều tác giả. Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2002. Bài của Hoàng Tùng, trang 139-140.
(6) Những kỉ niệm về Bác Hồ - Hoàng Tùng.
(7) Lê Duẩn, một nhà lănh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam (Hồi kư) - Nhiều tác giả. Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội 2002. Bài của Nguyễn Đức B́nh, trang 151.
(8) Lê Duẩn (sdđ phần 7). Bài của Hoàng Tùng, trang 240.
(9) Tố Hữu - Nhớ lại một thời. Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội 2002. Trang 211.
(10) Văn Kiện Đảng Toàn tập, tập 2 (1930) - Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
II- QUA CÁC HỒI KƯ VÀ HỒI ỨC
Cải cách Ruộng đất
Giám mục Phaolô Lê Đắc Trọng
GM Phụ tá Tổng Giáo phận Hà Nội
Trích “Những câu chuyện về một thời”,
xuất bản năm 2009, tập 3
Ở những nước tư bản, có những chủ nhân, những xí nghiệp, những nhà máy, có giới chủ với người thợ, th́ cuộc đấu tranh giữa thợ thuyền và chủ nhân là nhằm đánh đổ giới chủ, để có một lớp người vô sản, để biến xă hội tư bản thành xă hội vô sản.
Ở những nước mà nguồn kinh tế chính là ruộng đất, th́ nơi đó giới thống trị là người có nhiều ruộng đất, là những địa chủ, và giới vô sản là những bần cố nông không ruộng đất. Cuộc đấu tranh của vô sản ở đây là nông dân nghèo vùng lên đ̣i lấy ruộng đất từ các địa chủ, để giới vô sản sẽ làm chủ nhân ông. Đó là tư tưởng chỉ đạo việc Cải cách Ruộng đất. Cuộc Cải cách Ruộng đất ở các nước nông nghiệp là phương tiện chính để vô sản hoá xă hội.
Ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản nắm chính quyền vào năm 1949. Liền sau đó là cuộc Cải cách Ruộng đất long trời lở đất làm biến đổi hẳn bộ mặt Trung Quốc, một nước vô sản vĩ đại sau Liên Xô. Liên Xô là thành tŕ của thế giới, đối với VN là anh cả, mà anh hai là Trung Quốc.
1- Cho nên sau cuộc Cải cách Ruộng đất ở Trung Quốc, người Cộng sản Việt Nam cũng lăm le theo gót. Phải nói: Cộng sản Trung Quốc đến sau Cộng sản Việt Nam trong việc cướp chính quyền, song Cộng sản Việt Nam từ đây mọi cái nhất nhất phải theo Cộng sản Trung Quốc. Có nhiều lư do: Hầu hết các lănh tụ Cộng sản Việt Nam đều phát xuất từ Trung Quốc, hoặc chịu ảnh hưởng Trung Quốc hơn là Liên Xô. Một là v́ Việt Nam ở sát Trung Quốc, việc giao lưu dễ dàng. Hai là tuy cách mạng Việt Nam giành được độc lập trước Trung Quốc, song nhờ Trung Quốc mà giữ vững được vị trí, đặc biệt là nhờ chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5-1954, trong đó Việt Nam nếu không nhờ Trung Quốc tất cả th́ cũng là phần lớn.
2- Cộng sản Trung Quốc một khi nắm chính quyền là nắm toàn bộ, c̣n ở Việt Nam, nền độc lập chỉ có trên nguyên tắc, Cộng sản c̣n phải đánh nhau với Pháp nên chưa dám lộ diện hoàn toàn. Chỉ mới là Đảng Lao Động, nhà nước dân chủ cộng hoà.
3- Cuộc Cải cách Ruộng đất nó dữ dội quá, giết nhiều người quá, đă làm hoen ố bộ mặt Cộng sản vốn luôn tuyên bố v́ nước v́ dân, v́ độc lập, với bao là chính nghĩa xuông, nên Cộng sản Việt Nam có làm Cải cách Ruộng đất cũng là một cách miễn cưỡng, chẳng đặng đừng, và một cách dè dặt, chứ không cực đoan, triệt để như Trung Quốc. Cho nên họ phải đưa ra ông Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, người Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định). Tuy là Tổng bí thư Đảng, là lư thuyết gia của Đảng, nhưng ít người biết đến tên tuổi ông, đến mặt mũi ông. Ông được trao cho nhiệm vụ thừa hành kế hoạch Cải cách Ruộng đất, c̣n ông Hồ Chí Minh “giả cách đứng ngoài”. Kế hoạch đó cũng đạt mục đích phần nào, v́ sau này tai tiếng đều trút trên đầu ông Trường Chinh, mà “Bác Hồ” vốn “nhân từ” chỉ bị liên hệ chút ít. Nhưng làm sao mà che mắt được dư luận nhân dân. Ông Hồ là lănh tụ tối cao, ông Trường Chinh chỉ là tay chân, làm sao công việc long trời lở đất đó lại qua mắt được lănh tụ tối cao! Sau này mới có chính sách lănh đạo tập thể, chứ lúc đó mọi cái chỉ do mấy ông chóp bu định đoạt. Dù cá nhân, dù tập thể, th́ ai là lănh tụ phải chịu trách nhiệm chính. Tuy nhiên mặt ông Trường Chinh không bao giờ được rửa sạch. Mặc dù sau này ông làm Chủ tịch Quốc hội, ông cũng không bao giờ vươn lên khuôn mặt kính mến trước nhân dân.
4- Do chính sách “chiếu cố” miền Nam, Cộng sản Việt Nam ở miền Bắc chưa dám lộ ra bộ mặt quá cứng rắn, quá tàn ác đi tới mọi rợ.
Dù sao, cuộc Cải cách Ruộng đất đă được thực hiện. Sách “Biên niên sử Việt Nam” không đề cập ǵ đến Luật cải cách được ban bố ngày nào, thi hành ngày nào, mà chỉ nói “Tháng 7 năm 1956: Hoàn thành Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc”. Ruộng đất đă về tay nông dân, 10 triệu nông dân lao động đă làm chủ ruộng đất, làm chủ nông thôn.
Nói “Hoàn thành Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc”, v́ thực ra đă có cuộc cải cách ở miền Trung, trong các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, giữa lúc quân đội Pháp và Việt Minh đang gay gắt đánh nhau ở miền Bắc, năm 1951-1952. Không những giật lấy ruộng đất ở tay địa chủ, cuộc cải cách ở miền Trung c̣n dập tắt mọi mầm mống có thể nổi lên từ phía quốc gia, để khỏi đi với Pháp chống lại Việt Minh (Cộng sản). Ở miền Bắc nghe thấy nói tới Cải cách Ruộng đất ở Khu Tư là rợn người, đến khiếp sợ cả người Khu Tư nữa.
Nói “hoàn thành” là hoàn thành thế nào? Đó là 10 triệu nông dân nghèo không ruộng đất, nay có ruộng cầy. Cái kết quả đẹp đẽ quá! Nhưng để tới kết quả đó, đă phải có những phương tiện nào?
Người Cộng sản Việt Nam học được kinh nghiệm của các anh Liên Xô, Trung Quốc, nên công cuộc được tổ chức rất chu đáo cặn kẽ, từ lúc phát động đến hoàn thành. Tuy nhiên, người Việt Nam vốn có ḷng từ tâm, nên những cách tàn bạo quá đỗi ở Liên Xô hay Trung Quốc, không được bắt chước đầy đủ.
Đầu hết là cái khẩu hiệu “Người cầy có ruộng” quá hợp t́nh hợp lư đi thôi. Cho được thế, phải lấy ruộng đất ở tay những người có nhiều quá mà san sẻ cho những người không có tí nào! Đó cũng là lẽ công bằng. Nhưng làm sao để vui ḷng san sẻ ? Giáo Hội có luật công bằng, xă hội dựa trên bác ái. Cộng sản có phương châm đấu tranh dựa trên căm thù. Làm thế nào để khơi dậy căm thù, hay nói chung, để thành cán bộ cải cách, Đội cải cách?
Nhiều trường được xây dựng để đào tạo Đội cải cách. Tôi biết một trường như thế ở Phủ Lư. Tôi đă có dịp vào đó. Nghỉ ở đó trong một buổi họp nọ. Trường gồm độ vài chục căn nhà, mái tranh vách đất, có vẻ tạm thời, nằm ở phía đông nhà thờ Phủ Lư. Thị xă lúc này đă bị phá huỷ theo sách lược “tiêu thổ kháng chiến” hồi năm 1946-1947: không c̣n một ngôi nhà, chỉ trừ nhà thờ.
Người ta dạy ǵ trong trường? Tôi không rơ, tất cả là bí mật. Khi thấy công việc Đội cải cách làm, th́ biết họ học ǵ, được huấn luyện thế nào! Học xong họ được phân đi các xă, các thôn, cũng hầu như bí mật. Người tỉnh này được phái đi các tỉnh khác để không ai biết họ, cũng như họ không biết ai trong địa phương, để hoàn toàn tránh những liên lạc, hoặc cư xử riêng tư hay nể nang ǵ đó.
Mỗi xă được phân phối dăm bẩy đội viên hoặc hơn kém tùy theo xă quan trọng thế nào. Đội về đâu ở đâu không ai biết. Họ sống theo chế độ “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Nghĩa là họ đến một nhà nào đó, thường là một bần cố nông. Người này ở một cái lều, đồng chí Đội cũng chui rúc vào lều đó; nhà đó ăn cháo, ăn cơm độn th́ Đội cũng ăn cháo, ăn cơm độn như họ; bần cố nông đó đi cầy, đi cuốc thuê, th́ Đội cũng cùng làm y hệt. Người Đội cải cách bắt rễ ở nhà nào, th́ sống trong những điều kiện của nhà đó, không có chi khác biệt. Bởi đó người ta cũng không để ư tới, đă mấy ai nghe nói đến Cải cách, đến Đội cải cách mà theo dơi! C̣n người được Đội đến nhà, có thể lấy đó làm vinh dự, đàng khác Đội lại khéo léo, chấp nhận ăn chung, sống chung với nhau như thế, khách chủ cùng cánh, dễ thông cảm và thân mật.
Do cách sống gần gũi thân mật với nhau, nh́n nhau mỗi ngày 24/24 tiếng, người Đội khéo léo tỉ tê, khai thác được mọi chuyện của người bà con nông dân chất phác và dốt nát đó: Bác nông dân đó kể lể về cảnh sống khổ sở của ḿnh làm sao? Lam lũ làm thân trâu ngựa thế nào? Bị hành hạ làm sao? Bị áp bức và bị bóc lột đến thế nào? Các anh địa chủ, các tên cường hào kia ăn ở làm sao? Bóc lột áp bức thế nào? Thế là lửa căm thù được nhóm lên giữa những giai cấp khác nhau, để một ngày kia sẽ bùng lên.
Sau khi mối hận thù giữa các giai cấp chín muồi, th́ phong trào Cải cách được phát động rầm rộ. Quả nhiên, những ngày hội của nông dân bắt đầu. Từng đoàn thiếu nhi đeo trống ếch đi khắp ngơ ngách xóm làng, tiếng tùng tùng tùng tùng bắt nhịp với những tiếng hô đả đảo, đả đảo địa chủ… đả đảo cường hào… tiêu diệt ác ôn! Một tên xướng lên, cả đoàn lập lại hai lần. Bầu sát khí nổi lên bừng bừng. Bừng bừng một cách giả tạo, miễn cưỡng, chứ từ xưa tới nay dân làng vẫn sống cảnh thanh b́nh đầm ấm; nhất là vào ngày tết, ngày lễ, ngày hội, anh em bà con có đi làm ăn xa đến đâu, cũng nhớ đến nơi chôn rau cắt rốn trở về đoàn tụ gia đ́nh. Cái luỹ tre xanh bao quanh làng biểu tượng một đời sống tĩnh mịch, êm ấm.
Tuy trong thời gian chiến tranh, bom đạn có khuấy động đời sống dân làng. Nhưng đă qua đi cái thời chiến tranh loạn lạc… Nay khắp nơi ngày đêm ra rả những tiếng ca ngợi hoà b́nh: hoà b́nh trong nước, hoà b́nh trên thế giới. Xem ra chủ nghĩa xă hội độc quyền cả hoà b́nh, c̣n chiến tranh là của tư bản. Các hạng người vong bản, họ nhập cảng một chủ nghĩa ngoại lai ở đâu ấy, hô hào xây dựng nên cảnh bồng lai…. Vậy mà ngược với cảnh hoà b́nh êm đềm, họ đưa xóm làng vào một cuộc cách mạng long trời lở đất, Việt Nam chưa hề thấy bao giờ!
Chiều chiều sau việc đồng áng, khi bà con về cầu ao rửa chân tay, cầy cuốc, chuẩn bị cơm tối, tiếng trống ếch đă rộn ră trên các đường ngơ trong làng, tiếng hô loa nổi lên mời bà con đi họp, họ chờ đầy đủ không thiếu một ai. Đi họp đầy đủ, chứ ai mà dám ở nhà. Có thể đầu làng một đám lửa bốc lên ở một đống rơm, một chuồng lợn. Người ta cố ư đốt và đổ cho bọn địch không chịu đi họp đă gây nên. Chỗ khác, những viên đá, viên gạch ném ra đường ngăn cản đội hoặc bà con đi họp, là do bọn địch không chịu đi họp gây nên!?!
Vào pḥng họp, đội dơng dạc tuyên bố: “Bà con nông dân đề cao cảnh giác, v́ địch nó ngồi ở đằng sau ta…”. Người ngồi sau run sợ! Một lúc nữa, đội lại nói: “Bà con cảnh giác, địch nó ngồi ngay trước mặt ta”. Ngồi trước ngồi sau đều là địch cả. Không c̣n biết chọn chỗ nào nên ngồi! Sợ sệt và sợ sệt…!
Ai nấy ngồi yên chỗ, bắt đầu cuộc “đấu tố”. Tố cáo tội ác giai cấp bóc lột, đấu tranh đánh đổ giai cấp bóc lột đó. Mọi người bắt đầu cuộc kể khổ, để tố cáo tội ác của bọn địa chủ cường hào ác bá. Những tội ác được bịa đặt ra nhiều hơn và nặng nề hơn sự thật.
“Tôi vay hắn ta mấy bát gạo, hắn ta bắt tôi viết văn tự thế bằng một sào ruộng. Tôi không có ǵ trả, thế là hắn ăn không sào ruộng của tôi. Và cứ mấy lần vay như vậy, rồi không có ǵ trả, thế là chẳng c̣n một mẩu đất để cắm dùi…”; “Tôi cấy tô cho nó, chẳng may trời để mất mùa, v́ băo lụt, nó cứ thu tô như chẳng có tai hoạ ǵ xẩy ra. Chẳng có ǵ mà nộp, nó cho người đến tháo bộ cửa, dỡ mấy gian nhà tôi….”; “Tôi nghèo khổ, đi làm thuê cho nhà nó, ăn đói, ăn khát, nó c̣n đánh đập, tiền công không trả, nhà nó t́m cách đuổi tôi đi để quỵt công….”
Và nhiều thứ tội khác, chung quy là tội tàn bạo, bóc lột, đổ trên những người bị quy là địa chủ, hay ác ôn, cường hào. Có thể là tội cá biệt nhưng nay là tội chung. Ai là đối tượng th́ được khoác cho những tội đó. Người nông dân thật thà chất phác, mấy ai nghĩ ra được cách tố cáo. Tất cả đă được dạy bảo, được đội “mớm” cho trước.
Thế rồi đấu! Đấu tranh với địa chủ, th́ phải có khí thế, chưa quen th́ phải tập. Chưa có ai xuất hiện để mà đấu, th́ có thể dùng cái cột nhà thay thế. Bà con và nhất là các phụ nữ giơ tay xỉa xói vào cái cột nhà mà rằng: “Mày đă cướp của tao, mày đă đốt nhà tao, mày đă đánh đập tao thật tàn bạo. Tao khó nhọc làm giầu cho mày, mà mày cho tao ăn đói ăn khát…”. Tất cả phải được nhuần nhuyễn, từ cử chỉ đến lời nói, để khi gặp “người thật” th́ không ngượng ngùng ái ngại.
Đến nỗi có một phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày, vậy mà chị phải nói với bố: “Ông có biết tôi là ai không?” Người cha ngậm ngùi ngước nh́n đứa con dứt ruột của ḿnh và nói: “Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ”. Lời thưa năo nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đă thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những kẻ khởi xướng!
Một bầu khí sợ hăi lan tràn khắp nơi. Không hiểu tự đâu, Đội cải cách có cái tài làm cho mọi người sợ thế. Tôi cho là có ma quỉ đứng đằng sau để giật dây. Không ai dám đến nhà ai, không ai dám gặp nhau, nói chuyện với nhau. Gặp gỡ hay chuyện tṛ có thể một lúc nào đó bị coi là âm mưu t́m cách phá hoại Cải cách. Tội ǵ, chứ bị cáo là phá hoại th́ chỉ có mà chết! “Nhất Đội, nh́ Trời” cơ mà! Để tăng thêm nỗi sợ hăi, chỗ này hay chỗ kia một đống rơm, một chuồng lợn được đốt lên, và phao tin kẻ địch phá hoại, không chịu đi họp đă gây ra. Như thế, ai c̣n dám ở nhà nữa? Chỗ khác tung tin: bọn phá hoại nấp trong nhà, chờ Đội đi qua là ném gạch, ném đá. Ai nấy đi họp cho nhanh, kẻo ở nhà dễ “bị phát hiện” là kẻ địch.
Vào buồng họp, Đội nghiêm nghị tuyên bố: “Kẻ địch nó ngồi ngay trước mắt ta”. Những người ngồi trước giật ḿnh! Lúc sau đội lại nói: “Kẻ địch nó ngồi đàng sau chúng ta”. Người ngồi sau thất đảm! Ngồi đâu cũng sợ hăi, không yên. Thế rồi ai cũng phải phát biểu, không có truyện th́ bịa truyện, nói dối, vu cáo. Ăn không nói có… là đường lối chính sách. Đội dùng những phương pháp khủng bố tinh thần từ Liên Xô, nhất là từ Trung Quốc. Văn hoá, năo trạng của Tàu với ta khá đồng dạng, nên ta học rất nhiều của Tàu, được coi như bậc thày.
Tôi c̣n nhớ, trong một buổi họp ở bên Tàu, một người tố cáo người kia, được gán cho là địa chủ, như thế này: “Nó đổ cho tôi ăn trộm cái trứng gà của nhà nó. Nó lư luận: cái trứng đó đem ấp, nở ra một con gà, con gà đó lại đẻ ra hàng chục trứng. Từ hàng chục trứng này, lại nở ra một đàn gà. Đàn gà tăng lên, ít lâu thành trăm con, bán đi làm ǵ mà không mua được đôi lợn, rồi lợn tăng cân, bán đi làm ǵ lại không tậu được đôi ḅ, rồi cứ thế dùng tiền bán đi mà xây nhà, tậu ruộng. Ấy tội ăn cắp nó đổ cho tôi, gây thiệt hại to lớn đến thế. Ông bà nông dân nghĩ thế nào?” Toàn thể hội nghị đă được học tập đồng thanh hô: “Tịch thu tài sản của nó, c̣n nó có đáng chết hay không, là phán quyết của Toà án nhân dân”.
Cũng một chuyện khác xảy ra bên Trung Quốc thời Cải cách mà Việt Nam bắt chước. Ở một thành phố trước kia có nhà “tiểu nhi”, tức trại mồ côi do các bà phước đảm trách, các trẻ đưa đến nhà tiểu nhi thường là các hài nhi hoặc là trẻ em bị bỏ rơi. Các bà nhặt được hoặc có ai đưa tới các bà đón nhận, rửa tội cho chúng. Thường là không nuôi được, các bà lo chôn cất hài nhi đó. Có rất nhiều.
Đội cải cách bắt các bà khai quật các mồ, hài cốt chất đầy từng thúng, cho lên xe ô-tô, các bà đi theo sau để họ bêu riếu tội ác họ gán cho các bà. Các bà đứng trên xe, với những hài cốt, xe đi qua các phố, tiếng loa quát: “Đây là những kẻ giết người, chúng đă giết từng ngàn từng vạn hài nhi”. Dĩ nhiên là các bà đứng yên đó không lời thanh minh, chỉ có những kẻ hai bên đường phố lên tiếng phỉ báng: “Bọn giết người!”
Toà án Nhân dân và những án tử h́nh
Đội huấn luyện, chỉ bảo, thúc đẩy nhân dân. Đội bảo án tội thế nào, nhân dân cứ thế mà nói, thường là do quá sợ hăi! Có làm theo chỉ là “bị” phát động, do quá sợ hăi. Mọi việc đều do “nhân dân” h́nh thức thi hành. Đặc biệt có Toà án nhân dân, hằng ngày nhóm họp để xét xử hoặc lên án những “tội phạm” đă bị đấu tố.
Toà án nhân dân thành phần là các bần cố nông, một chữ không biết mà đứng làm quan toà, làm thẩm phán. Tôi biết một bà thẩm phán ở xứ Phú Ốc, khi tôi lên làm lễ thường ra chào bà. Nhà bà ở gần đường vào nhà thờ, toà án có khi họp phiên ngay nhà bà, chật chội phải chen chúc. Bà trạc gần 70, có cô con gái tiến bộ, lấy ông chủ tịch thôn ngoại giáo. Bà thật hiền lành, đạo đức, chữ nghĩa không biết, không biết ăn nói nữa. Tôi gặp bà, bà lễ phép chào tôi và chỉ cười. Đúng là bà lăo nhà quê, thế mà nắm quyền sinh sát trong tay. Cũng may là làng Phú Ốc chỉ có ba bốn người Công giáo bị quy lên địa chủ: Ông lang Thản, ông Chuân ngày xưa đi lính cho Pháp, ông Cố Nhụ (có hai linh mục Trinh và Thiện đi Nam), ông Kiều công nhân nhà máy dệt…
Có người làm việc cho nhà nước, cha mẹ anh em cũng vẫn bị quy tội như thường. Ông Chuân có con làm cán bộ, em làm hiệu trưởng trường lục quân; những người này h́nh như sợ liên quan, không dám thăm hỏi, xưng anh chị em ǵ cả. Phần đám trẻ, gặp ông ở đường làng, chạy đến giật râu ông và bảo: “Chào ông bà nông dân đi”. Ông Chuân phải khoanh tay chào lũ trẻ: “Con chào ông bà nông dân ạ”. Các địa chủ khi gặp bất cứ người già hay trẻ, phải xưng hô là “con”, và thưa chào “ông” hay “bà nông dân”.
Như vậy là uy thế của địa chủ đă bị hạ trong hội nghị, trong quần chúng. Cả từ “địa chủ” cũng do tuyên truyền mà trở nên cái ǵ ác quái, ghê gớm, xấu xa trong đầu óc quần chúng. Phải công nhận cái tài nhồi sọ của Cộng sản!
Cùng bị hại với những người bị quy là địa chủ, c̣n có những người phải mang danh từ tội ác nặng nề hơn, đó là “bọn ác ôn, bọn cường hào ác bá”. Những người này là ai? Thường là những người làm việc dưới các chế độ khác như thời Pháp cai trị, hoặc thời quốc gia. Họ làm quan, làm viên chức, như Chánh phó tổng, Chánh phó hương hội, Lư trưởng, Thơ kư, Thủ quỹ của hương hội. Thậm chí cả những người nào có uy tín trong quần chúng, những người nào có vẻ đạo mạo….
Quy thành địa chủ, th́ phải theo tiêu chuẩn nào đó, như người đó có một số mẫu ruộng, hoặc nhà ngói gốc mít, ao cả ruộng liền, rồi thuê người làm hơn là làm lấy, có thế mới dễ dàng quy vào hạng bóc lột. Như vậy, việc quy lên địa chủ ở nông thôn Việt Nam bị giới hạn nhiều, v́ ít làng có nhiều người ruộng liền ao cả. Ở Việt Nam, người có vài ba mẫu ruộng cũng bị coi là địa chủ; trong khi ở các nước khác, địa chủ là người có hàng trăm, ngh́n mẫu ruộng.
Nhưng những người có uy tín, có thế lực, thậm chí được kính nể, th́ tương đối nhiều hơn là con số địa chủ. Ngoài ra, ở xă hội ta, một xă hội có thể coi là phong kiến, những người làm việc hương lư có những hành vi tàn bạo, bất công, ức hiếp, hà lạm… con số không phải là nhỏ. Vả lại dân ta hiền lành, nên đôi nơi có người chẳng giữ chức vụ ǵ, nhưng vẫn có thể xưng hùng xưng bá, bắt nạt người khác với những hành vi tàn bạo, đốt nhà cướp của, cả làng khiếp sợ, không ai dám nho nhoe. Tất cả những người có uy tín, hương chức có hành vi tàn ác, hoặc những kẻ chỉ làm việc cho chế độ cũ (viên chức, lính tráng) như thế đều bị quy là cường hào ác bá, ác ôn, và những nhân vật loại này c̣n nặng tội hơn là địa chủ, và đáng bị tiêu diệt hơn.
Thế c̣n những viên chức trong đạo th́ sao? Cải cách Ruộng đất làm ra vẻ rất tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhà thờ nhà xứ được bảo đảm. Nhưng ngoài ra đều phải theo luật CCRĐ. Chẳng hạn nhà xứ nào có nhiều ruộng đất, cha xứ cũng bị đấu tố, xỉ vả như các người khác.
Tôi chỉ thấy có cha Thính ở Vĩnh Đà không bị đấu tố, v́ ngài không dính dáng đến ruộng nương, không ăn nhờ vào ai. Ngài c̣n tuyên bố: “Mỗi ngày tôi chỉ vài chiếc bánh đa và nước lă là đủ”. Nhưng cha Thu, thư kư cho Đức Cha Tĩnh giáo phận Bùi Chu, th́ bị đổ cho cái tội “khoan đê”. Ngài cho lời vu khống đó là quá trẻ con, ai lại dùng chiếc khoan gỗ của thợ mộc mà khoan cho vỡ đê được. Thấy quá lố bịch ngài nhận cho xong. Thế mà thành tội thật và bị đem ra xử bắn v́ tội khoan đê. (Cũng có người bị khép tội khoan đê như thế, người đó phải cầm cái khoan của thợ mộc, khoan vào đê, cán bộ chụp h́nh, làm chứng cớ tội phạm).
H́nh phạt dành cho địa chủ, cường hào gian ác v.v… do Toà án nhân dân lên án. Nói đúng ra là cán bộ cải cách, chứ bà thẩm phán tên là Thậm ở Phú Ốc nói một câu cũng không ra câu, th́ lên án làm sao?
Án phạt trước hết là tịch thu nhà cửa ruộng đất. Người đó bị đuổi ra khỏi nhà, đi ở đâu th́ đi. Họ dựng một cái lều ở đất hoang nào đó để độ thân, c̣n nhà cửa th́ được chia cho ông bà nông dân, đặc biệt là bần cố nông loại nhất, nhà to th́ chia cho hai ba người. Bên lương, họ không có 10 điều răn Chúa, họ dễ dàng đến ở. Trước đây ở các lều, các nhà lụp xụp, nay được mấy gian nhà ngói, làm ǵ mà không nhận. Nhưng bà con Công giáo th́ khác, cũng có người ép t́nh nhận, đến ở ít lâu, sau có dịp trả lại. Có người không nhận, ít người vui vẻ nhận.
Khi hai ba người được một cái nhà, họ thường chia nhau, rỡ đi bán. Bán đi tiêu hết tiền, lại trở về cảnh sống nơi túp lều. Ông trùm Tứ, xứ Ba Trại, có căn nhà lá ba gian, được chia cho hai người, lập tức họ chia đôi mỗi người được gian rưỡi, họ lấy cưa, cưa đôi gian giữa. Không biết rỡ về làm được ǵ, họa chăng dựng được túp lều?
Chú tôi ở Kim Lâm, tuy hai ông bà đă chết hoặc đi Nam ǵ đó, có cô con gái lấy chồng cán bộ, anh Hân, thế mà cũng bị quy là địa chủ, nhà cửa bị tịch thu chia cho hai người Công giáo; hai người chỉ lẫm lờ nhận, nhưng không dám ở bao giờ. Em tôi vẫn giữ măi cho đến ngày không ở th́ dâng cho họ giáo để làm nhà pḥng. Cảnh nhà cửa bị tịch thu nó tương tự như thế.
C̣n ao vườn ruộng đất? Dĩ nhiên là được đem chia cho nông dân hết, theo nguyên tắc chung. Đất đai là công thổ, tất cả là của nhà nước. Do đó mà ao vườn đất đai nhà thờ, nhà xứ, cũng được đem ra chia hết.
C̣n bản thân những thành phần có tội với nhân dân th́ sao? Từ khi Cải cách được phát động, tối nào cũng họp bà con nông dân. Đội cải cách nhờ chính sách “ba cùng” đă nắm bắt t́nh h́nh các hộ, đă chia ra từng thành phần: địa chủ, hay loại người tương tự, phú nông, trung nông, bần nông, cố nông. Chỉ có phú nông trở xuống mới được đi họp, và dĩ nhiên bần cố nông là ṇng cốt, là lănh đạo.
Ai mà không được đi họp th́ lo ngay ngáy. Số phận từ đây đă được định đoạt: thành phần có tội, đáng bị loại trừ khỏi xă hội. Thành phần tuy đă được đội xác định, song để cho có vẻ “dân chủ” th́ sẽ có các cuộc họp của nhân dân vạch mặt rồi định đoạt số phận.
Có hai ṿng họp, ṿng họp thứ nhất thành phần xấu không được tham dự. Trong ṿng họp này, bà con nông dân vạch mặt bọn “địa chủ, cường hào gian ác”. Ai cũng phải phát biểu, nói thật th́ ít, bịa đặt vu khống th́ nhiều, vừa nói vừa làm ra vẻ căm phẫn, vừa nói vừa xỉa xói.
Sau khi đă cho việc tố cáo là đủ, các cuộc họp chuyển sang ṿng hai. Những người đă bị các cuộc hội họp tố, nay được triệu tập đến để các thành viên khác đấu. Những cuộc đấu tố này chẳng khác ǵ những phiên toà lên án tội nhân. Những người bị tố trong các buổi họp trước nay thành tội nhân mà nhân dân sẽ lên án.
Tội nhân bị tố nặng như có nợ máu với nhân dân, có thể bị trói tay, bắt quỳ hay ngồi trên đất ở giữa hội nghị. Những người đấu tố lần lượt kể tội. Phạm nhân bị cưỡng bức đó chỉ c̣n một việc cúi đầu nhận tội. Nếu tỏ dấu thanh minh, sẽ bị coi là ngoan cố, tội càng nặng hơn. Không ai được phép bào chữa. Chỉ tỏ vẻ thương cảm mà không tỏ vẻ phẫn uất, cũng rất nguy hiểm, có thể bị coi là liên quan và chịu vạ lây. Con cái cũng không được tỏ bầy cảm t́nh đối với cha mẹ, c̣n phải đấu tố cha mẹ là khác, để may ra được ra khỏi thành phần.
Không phải người bị đấu tố nào cũng phải xử bắn, họ bị phân loại. Trên hết là địa chủ gian ác, bóc lột, có nhiều ruộng, lại bị tố cáo có những hành vi bóc lột, đánh đập người ở. Ở bên Công giáo hạng này th́ ít, v́ phần lớn những người giầu có, nhiều ruộng nhiều thóc, như ở Sơn Miêng, ở xứ Tâng (An Phú), Kẻ Vác… họ hiểu thế nào là CS, nên đă cao bay xa chạy vào Nam từ năm 1954 rồi. Một số đồng bào bên lương, đặc biệt ở thành phố, cũng đă hiểu và cũng cao chạy xa bay.
Nhưng số lớn người bị bắn thường là những người bị quy cho là cường hào gian ác, ác bá ác ôn… Đây là những chức việc trong xă trong huyện, hoặc là những người đă tham gia những đảng phái khác như Quốc Dân Đảng, Đại Việt… Cả những người trong đảng Cộng sản bị nghi là tả khuynh, hữu khuynh, có tư tưởng theo đường lối xét lại, thậm chí những người trung thành với Đảng, có uy tín cá nhân, nhưng lại có vẻ không trung thành với lănh tụ, nói cách khác, không ăn cánh với cấp trên. Tất cả đều bị coi là nguy hiểm và cần tiêu diệt ngay từ trứng nước.
Tôi biết có hai người bị tội bắn: ở Báo Đáp, một người giầu có, xưa đă đi lính cho Pháp. Một người khác ở quê tôi, làm Chánh tổng lâu năm. Số người bị bắn không mấy làng không có, có làng bị đến 2, 3 người, và con số ở miền Bắc lên tới hàng vạn, hàng vạn người.
Những người bị tử h́nh hầu hết là bị bắn, hoặc bị bắn ở cánh đồng, hoặc bị treo lên cành cây rồi bắn. Cuộc xử bắn diễn ra trước hàng vạn người, để có tính cách răn đe. “Sát nhất nhân, vạn nhân cụ”. Và đúng là thế, sự sợ hăi lên tới cực điểm, tựa như có đám mây đen bao phủ toàn dân. Phải triệt để khai thác t́nh trạng sợ hăi này. “Không được để lọt một thằng nào”. Hiệu lệnh là thế! “Thà giết nhầm 10 thằng c̣n hơn để một thằng lọt”.
Các địa chủ trung b́nh thường bị giam. Một số lớn cũng bị giam cùng với họ là những người đă cộng tác với chế độ ngày trước trong hành chính, hoặc đă đi lính và đă có cấp bậc, những trí thức xem ra không thiện cảm với chế độ mới, những người đảm nhiệm công việc trong tôn giáo mà có uy tín như Chánh trương, Trùm trưởng, Quản giáo. Có cả những đảng viên Cộng sản, thành viên Uỷ ban Nhân dân bị nghi ngờ là không trung thành. Gần tôi như ban Hành giáo xứ Kẻ Báng (Xuân Bảng), nhất là Quản giáo bị bắt giam hầu hết. Xứ Tường Loan (Ba Trại) chưa được năm trăm nhân danh mà cũng mấy người bị bắt giam, trong đó có cả anh Trưởng ban hát và một thanh niên thường. Cũng ở xă đó, có anh Chủ tịch Uỷ ban xă mà tôi mới tŕnh giấy tháng trước, th́ tháng sau nghe nói đă bị bắt giam.
Trong thời gian bị giam, thường họ bị cưỡng ép làm giấy thú nhận đă có những hành vi phá hoại: như bỏ trứng sâu vào lúa, phá hoại đê điều, đầu độc người nọ người kia, và ai cũng phải làm giấy nhận tội hết. Thời gian bị giam thường là năm, bảy tháng. Có nhiều người bị ngược đăi quá, hoặc bị bệnh nặng th́ được tha về, và chỉ ít lâu sau th́ chết.
Các địa chủ không có tội ǵ, ngoài việc có máu mặt hơn trong làng xóm, hoặc được người ta kính trọng hơn, có uy tín hơn một chút, th́ chỉ bị phân biệt đối xử. Không c̣n quyền công dân như là bầu cử, hội họp, không được làm chức vụ ǵ trong xă hội, cả trong tôn giáo. Nếu là người Công giáo, có đến nhà thờ cũng phải ngồi dưới, không được ngồi lên ghế trên. Con cái không được đi học, trừ đứa nào tiến bộ, cố gắng thoát ly ra khỏi giai cấp, bằng cách đứng với bần cố nông, hăng hái đấu tố giai cấp của bố mẹ, đi đến cả đấu tố cha mẹ, mới được hưởng quyền lợi đôi chút của xă hội. Nhưng không bao giờ tẩy xoá được cái danh hiệu “con địa chủ”, danh hiệu cha truyền con nối. Không được cả đến cái “vinh dự” đi bộ đội, v́ c̣n bị nghi là không trung thành, bởi đă mang ḍng máu đối nghịch truyền đời của giai cấp.
Có những cán bộ xuất thân từ giai cấp địa chủ, tư sản, từ đầu Cách mạng đă hoàn toàn thoát ly và đă có thể giữ chức nọ kia, có thể lên chức. Nhưng khi Cách mạng thành công, họ không được trọng dụng lắm, chẳng lên chức nào, mà c̣n bị thất sủng là khác. Những cán bộ như thế, trong thời gian hoạt động, nhất là trong thời gian Cải cách, không được, nói đúng ra, không dám có một liên hệ ǵ đến gia đ́nh. Có thể nói cả đến tư tưởng cũng phải dứt khoát! Nếu không sẽ bị liệt vào hạng liên quan và bị đem ra xử lư. Không bị kết tội th́ cũng bị hạ tầng công tác.
Tất cả những lănh tụ, kể cả lănh tụ vĩ đại nhất cũng đều xuất thân từ giai cấp địa chủ hoặc tư sản. Ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), ba anh em ông Lê Đức Thọ lư thuyết gia của Đảng, ông Vơ Nguyên Giáp, ông Phạm Văn Đồng... đều là con cái địa chủ, hoặc là tư sản. Các ông ấy là những người sáng lập, cha đẻ ra chủ nghĩa vô sản Việt Nam, nhưng các ông ấy đứng trên tất cả, th́ ai làm ǵ được các ông! Các ông đặt ra cái tḥng lọng, lại để cho cái tḥng lọng thắt cổ ḿnh làm sao?
Giả sử các ông ấy là nông dân thường, con nhà bần cố nông, th́ làm ǵ có cơ hội mà ăn học. Đàng này, hầu hết các ông là học tṛ của trường Thành Trung (Carreau) Nam Định, trường Bưởi Hà Nội… Phải là địa chủ giầu có mới đủ tiền gửi con cái lên các trường đó, có ông c̣n được Thực dân Pháp cho đi ăn học.
Xét cho cùng, th́ giới bần cố nông phải biết ơn giới địa chủ, tư sản, đă phát động phong trào cải cách để họ nâng lên vai tṛ lănh đạo. C̣n các nhà cải cách phát động phong trào, tô điểm mỹ miều cho cái danh từ “thoát ly” mà họ mắc vào, chứ thực ra họ là những người “phản giai cấp”. Và công luận không bao giờ cho phép xoá đi cái danh hiệu con nhà “địa chủ”, mà họ đă dầy công bắt người ta bôi nhọ bằng đủ cái xấu. Gậy ông lại đập lưng ông là thế.
Một số kinh nghiệm riêng tư về Cải cách
Ngoài xứ Nam Định là chính, tôi c̣n phụ trách hai xứ Phú Ốc và Tường Loan, hai xứ thuộc nông thôn nên có Cải cách Ruộng đất.
Tôi vẫn đi lại xứ Phú Ốc một cách dễ dàng, v́ chỉ cách chỗ tôi ở thường xuyên có 3 km. Chúa nhật nào tôi cũng lên đó dâng lễ, cả thứ Sáu thứ Bẩy đầu tháng. C̣n như là bắt buộc phải đến đó vào các ngày lễ. Theo Đội cải cách, đang làm việc ǵ, ở đâu ngày nào th́ cứ việc làm, nếu bỏ th́ y như là phá Cải cách, làm cho Cải cách mang tiếng phá đạo.
Đạp xe đạp lên Phú Ốc, cứ đến bờ hồ trước nhà thờ, th́ lần nào cũng có chị Đội cải cách đứng đón ở dưới gốc cây bàng. Chị mặc quần áo đen, đeo túi, và nói với tôi cách nhă nhặn: “Mời linh mục vào hội ư”. Tôi bước theo chị, sang xóm bên lương, vào một túp lều, chắc là ngôi nhà của vị bần cố nông Đội đă bắt rễ. Ngủ nghỉ, ăn làm, bếp núc là trong căn lều đó. Tôi ngồi trên nệm rơm với anh Đội bên cạnh bếp. Trong cuộc hội ư, anh ân cần nhắc nhở tôi, lần nào cũng một tư tưởng: “Linh mục cứ về làm lễ như thường, linh mục lưu ư là ở đây có nhiều phần tử xấu. Trong khi giảng đạo linh mục không được nói ǵ gây chia rẽ”. Nghe xong, tôi đứng dậy, ra dắt xe vào nhà thờ dâng lễ. Cả việc rước kiệu cũng phải giữ, không được bỏ.
T́nh h́nh Cải cách ở đây xem ra không gay gắt như ở các nơi khác. Dân cư ở đây, nhất là người có đạo, hiền lành tử tế hơn. Bà thẩm phán là bà Thứ, gặp tôi vẫn chào hỏi như các con chiên tốt lành khác. Mấy anh du kích như Trường, Vu v.v… bà con sau này kêu là quá đáng, v́ có những cách đối xử tàn bạo với những người bị quy là địa chủ. Người trong xứ đi Nam hầu hết, chỉ c̣n lại gần năm trăm, thế mà cũng có 3 người bị quy là địa chủ. Địa chủ thường, chỉ bị đấu tố thôi.
Trong ba ông, già nhất là ông Chánh Lục, làm thày lang, hiền lành đạo đức. Thế mà ông cũng bị tố là đă cho thuốc độc vào quả táo để đầu độc đội cán bộ. Ông thứ hai là ông Chuân, trước kia có đi lính thời Pháp; ông có râu nên bị trẻ con giật râu, bắt phải chào hỏi theo lối Đội cải cách (trẻ con mặc quần thủng đũng): “Con chào ông bà nông dân ạ!”. Ông có người anh tên Cao, làm hiệu trưởng Trường Lục quân, con trai làm cán bộ trung ương, song chẳng ai thèm ngó tới ông. Ông thứ ba là ông Kiều, công nhân nhà máy dệt Nam Định, như thế là thuộc giai cấp lănh đạo, giai cấp công nông (búa liềm). Chỉ v́ ông hay nói, và có nói không đúng chính sách, nên ông bị quy “tội phản động”, và bị tố là đă cho thuốc độc vào quả táo để sát hại nhân dân.
Tôi cũng trông thấy đám nhi đồng quàng khăn đỏ, chiều chiều đi đánh trống phát động phong trào, tối đến bà con đi họp đông đủ.
Ở Tường Loan (Ba Trại), phong trào Cải cách tương đối mạnh mẽ, gay gắt hơn. Đến làm lễ Chúa nhật ở đó, thường là phải xin phép trước, xin phép cơ quan thành phố Nam Định, chứ không phải xin phép Đội. Xin minh họa qua một cuộc cử hành lễ Chầu Lượt tại Ba Trại.
Đó là vào dịp Tết Nguyên Đán năm Bính Thân (1956). Chúa nhật Chầu Lượt rơi vào chính ngày Mồng Một Tết. Một tuần trước, tôi đến Ba Trại để giải tội (v́ cho rằng ngày Mồng Một Tết không có th́ giờ giải tội).
Theo lệ, đến đâu là phải tới chào Đội ngay để “hội ư”. Xong công việc, khi trở về, cũng phải ra chào Đội. Bởi v́ chào lúc đi, rồi sắp trở lại ngày Tết. Đội nói với tôi:
- Lần sau ông đến, có ǵ xẩy ra ở đây, ông phải chịu trách nhiệm!
- Ông nói thế th́ cũng như cấm tôi ra đây. Tôi ví dụ: nếu ông treo ở cổng làng tấm bảng đề: “Ai vào làng này sẽ phải chịu trách nhiệm về cái ǵ xẩy ra nơi đây”, th́ nh́n bảng yết thị như thế, ai c̣n dám vào làng? Tôi cũng không dám!
- Ông nói thế th́ được. Ông cứ việc đến, có thế nào th́ sẽ xét -Anh Đội đấu dịu- chứ không đóng sống cho bất kể ai vào làng này đâu!
Có lẽ chỉ ḿnh tôi dám ư kiến thẳng với Đội. Nhất Đội nh́ Trời cơ mà. Ai dám nho nhe!
Ngày thứ Bẩy trước Chúa nhật lễ Chầu, tức hôm 30 Tết, tôi xin giấy ra Ba Trại làm lễ Chầu. Đến Khu phố, Khu phố bảo đến Công an. Đến Công an, Công an bảo đến Mặt trận. Nộp đưa các đơn có phải là dễ đâu. Biết thân phận ḿnh thuộc thành phần rốt hết, nên nộp đơn phải cẩn thận, đặt dưới cùng đống đơn bà con đến trước đă dầy cộm. Cán bộ cứ lần lượt xét, giải quyết từ trên xuống dưới. Cuối cùng đến lượt ḿnh, may mà c̣n th́ giờ nên đơn được cầm lên. Nếu hết giờ, chưa đến lượt, th́ về không; sáng đến chiều, chiều đến hôm sau, cứ mỗi buổi đơn thêm nhiều bao nhiêu, của ḿnh vẫn ở cuối cùng. May mà lần này, vẫn c̣n giờ, nhưng lại được đẩy đến cơ quan khác. Trong một ngày 30 Tết đó, tôi được đẩy đi qua hết mọi cơ sở hữu quan, có nơi đến lần thứ hai. Tới chiều, khi mọi cơ quan đều đóng cửa về ăn tết, tôi vẫn không bị từ chối, nhưng bị đẩy đi các cửa. Đến khi các cơ quan đóng cửa hết, tôi đành cầm đơn về không. Thế là ngày mai Ba Trại không có lễ Chầu!
Đêm 30 Tết đó thật là tối. Tối như đêm 30 Tết mà! Kẻ trộm cũng ŕnh ṃ tối hôm đó hơn các đêm khác. Trong dân gian lưu truyền vậy. Tất tả suốt ngày, đêm đến giấc ngủ đang ngon th́ bỗng có tiếng gọi cổng nhà xứ. Công an gọi tôi cấp tốc ra đồn. Có việc ǵ mà khẩn cấp thế? Mắt c̣n đang cay xè, tôi bước theo anh công an. Đi thế này, trong đêm tối thường chỉ là bị bắt và điệu đi giam. Thế mà sao lúc này, tôi chẳng có ư nghĩ ǵ về chuyện đó, nên không thấy xao xuyến ǵ. Một số cán bộ ngồi đó cho biết Toà Giám mục Hà Nội vừa ra một Thư Chung phản động. Thư Chung Đức Cha Trịnh Như Khuê vừa viết là về đề tài T́nh yêu. Họ giải thích đó là bức thư chống Cải cách Ruộng đất, đặc biệt qua sự tha thứ cho thù địch, và như thế là tha thứ cho địa chủ, bọn phản động, cường hào ác bá.
T́nh yêu, yêu mọi người cả kẻ thù nghịch, đó là luật căn bản của đạo Phúc âm. Cuộc tranh luận nổ ra ngay ban đêm. Giữa một bên là cha chính Nhân với tôi và bên kia là cán bộ của Uỷ ban. Không thể và không dám bắt chúng tôi bỏ đi lề luật căn bản ấy của đạo, họ chỉ đ̣i chúng tôi là không được đọc thư đó và nộp cho họ các bức thư. Chúng tôi không nộp.
Sau đó họ hỏi tôi có làm lễ Chầu ở Ba Trại không? Tôi nói các ông có cấp giấy đâu mà làm, tôi đă đi suốt ngày để xin giấy, cho đến lúc các cơ quan đều đóng cửa cả mà không nơi nào giải quyết cả. Họ nói: “Sáng mai ra đồn Công an lấy giấy”.
Sáng hôm sau, Chúa nhật Mồng Một Tết, tôi và cha chính Nhân thỏa thuận tóm tắt Thư Chung rồi nói, như thế mọi người đều hiểu căn bản về bức thư.
Lễ xong tôi ra đồn xin giấy. Đến đồn, chưa ai thức dậy, tôi phải đánh thức họ. Một anh công an hỏi tôi cần ǵ? Tôi nói đêm qua, Uỷ ban Thành phố có bảo tôi sáng nay ra đồn lấy giấy.
- Hôm nay không cấp giấy! anh công an nói.
- Tôi biết, hôm nay ngày Tết, chỉ kẻ nào không có trí khôn mới đến cơ quan xin giấy. Nhưng v́ tối qua Uỷ ban bảo sáng nay ra đồn lấy giấy, nên tôi mới đến.
- Được rồi! Ông cứ về đi! Chúng tôi c̣n xét…
Tôi về nhà được độ 5 phút, có tiếng gọi rối rít ở sân:
- Ông Trọng ơi! Ông Trọng ơi! Ra đồn lấy giấy!
Tôi vội vàng đi theo anh công an ra đồn. Đến văn pḥng, ngay ở cửa, thấy chiếc bàn trên có bày la liệt bánh kẹo, ấm chén.
Một anh công an ở buồng trong đi ra, có lẽ là đồn trưởng. Anh chúc mừng năm mới tôi, rồi tôi chúc mừng đáp lại. Trong ṿng 10 phút mà quang cảnh rất khác nhau. Anh đồn trưởng mời tôi ăn bánh kẹo, uống nước trà để mừng xuân, cùng nhau vui xuân một lúc. Anh đưa cho tôi giấy thông hành có giá trị ba ngày. Tôi xin phép đi, anh ân cần hỏi:
- Linh mục có phương tiện ǵ không?
- Có, tôi vẫn đi xe đạp.
Tôi vừa nói xong, th́ một người từ cổng chạy vào nói:
- Có tôi giúp linh mục.
Tôi nhận ra người đó là anh Đội cải cách, tôi đă gặp ở Ba Trại. Tôi về nhà lấy xe đạp, cùng sánh vai với anh, qua các đường phố. Đường phố lúc này c̣n vắng vẻ. Chưa tới giờ xuất hành mà! Ra khỏi thành phố, trên con đường qua cánh đồng để đi tới Ba Trại, tuyệt không một bóng người. Nhưng trên cánh đồng, ở đàng xa, lủi thủi mấy bóng người. Tôi đoán có lẽ là những địa chủ, đă bị tịch thu hết nhà cửa tài sản, không được vui tết với ai cả, đành lang thang trên cánh đồng.
Đến gần nhà thờ, trước cửa nhà ông Sặt, một gia đ́nh được Đội coi là thân thiện, anh Đội chia tay tôi, để tôi một ḿnh vào nhà xứ. Trong ṿng mấy tiếng đồng hồ, các màn kịch diễn ra thay đổi như trở bàn tay. Lúc th́ xua đuổi, lúc th́ ân cần đón tiếp, săn sóc đến nơi đến chốn, để rồi đưa vào cạm bẫy.
Những màn sau đây cũng được sắp xếp, có đầy t́nh nghĩa, song lại được lái vào những mục tiêu gian dối và thâm độc hơn.
Tới nhà xứ, ba gian nhà khách đă đầy ắp người, im lặng như đang có cái ǵ. Hay nói đúng hơn, với dáng dấp sợ sệt, không ai hé môi.
Một ông dắt xe đạp của tôi, để vào một chỗ. Một bà bưng chậu nước nóng để tôi rửa mặt rửa tay. Trời lạnh mà! Tôi biết tên hai người: ông Lộc, bần cố nông nay Đội cải cách cắt làm Trùm, bà Giảng, cũng là bần cố nông nay được cất làm Quản giáo. Ông Lộc, bà Giảng hôm nay được Đội chỉ định để hầu hạ tôi.
Tôi vào ngồi giữa nhà, bà con tất cả ngồi chung quanh, chen nhau trong nhà, không ai ngồi hè. Anh Chung, con người tôi chưa biết, thay mặt cho mọi người chúc tết tôi, rồi anh tuyên bố: “Thưa Cha, những người đội lốt đă bị lột mặt nạ, và đội đă tống giam cả rồi. Xin cha cứ yên trí ở lại với chúng con, nghỉ lại đêm Mồng Một với chúng con”.
Nh́n chung quanh, không thấy ông Chánh trương Huỳnh, ông Trùm Tứ, ông Quản giáo Luỹ, ông cựu Trùm Trạch, tôi biết ngay những người đội lốt là ai. Thấy thế, tôi định tâm không ở lại đêm nữa, mặc dù tôi có giấy và có ư nghĩ từ trước là sẽ ở lại.
Thấy trước mặt ḿnh có người lạ chưa quen biết, tôi hỏi anh ta:
- Anh là người thế nào mà tôi chưa biết? Dân xứ đây tôi biết hết.
- Thưa Cha, con ở Phủ Lư về đây!
- Sao đang ở Phủ Lư lại về đây?
- Con xin thú thực với Cha, con là người Thanh Hoá, gia đ́nh con kéo nhau đi Nam. Đến Phủ Lư con bị cản lại, nên về đây!
- Anh cứ ở đây, đất lành chim đậu, đi Nam làm ǵ?
Khi mọi người giải tán, lên nhà thờ, ông trùm Lộc thắc mắc với tôi?
- Sao ban năy Cha lại nói chuyện với người lạ?
- Tôi thấy người đó lạ, tôi phải hỏi.
- Anh ta không có nhiệm vụ, mà anh dám vào tiếp xúc với cha. Cái này con phải ra tŕnh Đội!
Rồi tôi ra nhà thờ cử hành Thánh lễ, lễ xong đặt Ḿnh Thánh Chúa. Lễ Chầu năm nay chỉ có những người trong xứ chầu Ḿnh Thánh với nhau, trong bầu không khí buồn tẻ sợ hăi. Ngoài việc giải tội những người không đi kịp tuần trước, chẳng một ai đến tiếp xúc với tôi, trừ ông trùm Lộc, bà Giảng lo liệu việc cơm nước cho tôi. Thêm anh Chung, lúc nào cũng săn đón tôi để xin xưng tội, dù bị giăn. Anh là Đội cải cách hoạt động ở vùng Gia Trạng, Đại Lại, không biết bị thất sủng hay được sai về làm việc ở quê. Nếu được làm việc ở quê th́ cũng khác thường, v́ hầu như theo quy luật, Đội cải cách phải hoạt động xa quê quán của ḿnh, để dễ “khách quan”.
Đến 5 giờ chiều, tôi trở về Nam Định. Không dám ở lại đêm như đă dự định, v́ những người thân quen làm việc bên tôi đă bị bắt giam hết.
C̣n truyện ông trùm Lộc đi báo cáo với Đội về anh Long nào đó, tức là người lạ mặt mà tôi hỏi chuyện trong buổi chúc mừng tết ở Ba Trại hôm ấy, th́ không phải do ḷng độc ác đâu. Ông chỉ quá thật thà làm theo kế hoạch Đội đặt ra mà không hay biết.
Kế hoạch là làm thế nào bắt anh Long với những bằng chứng rành rành không thể chối căi được. Trước hết anh có mặt trong buổi họp, nơi anh không được phép đến, trừ ra Đội cho phép hoặc thúc đẩy. Đến chỗ họp, anh được xếp ngồi một ḿnh trước mặt linh mục, để linh mục phải bó buộc bắt chuyện. Giả sử không có cuộc tiếp xúc đi nữa, cũng không thành vấn đề. Nguyên việc anh là người lạ, mà có mặt bên những con chiên của cha, là anh đă trà trộn vào với ư đồ. Sự có mặt, việc tiếp xúc đó, ông Trùm là người có nhiệm vụ phải quan sát tất cả, và đúng là mọi cái không qua mắt ông, dù ông là người chột mắt. Ông đi báo cáo với Đội. Thế là tội anh Long có đủ bằng chứng không thể chối căi được. Nghe đâu anh đă bị bắt giam ngay, và trong khi bị giam anh đă khai: “Tôi đă gặp linh mục, linh mục có trao cho tôi một chai axít, để đổ vào cán bộ. Tôi ra khỏi sân nhà thờ, đến bờ ao, tôi đă ném xuống ao rồi”.
Cán bộ cũng không bắt anh phải xuống ao ṃ chai axít đó, v́ làm ǵ có! Có xuống ṃ th́ cái gian dối lại tḥ đuôi ra. Mặc dù thế, anh vẫn bị kết án. Giá người có tội thật th́ phải xử bắn. Nhưng tội của anh, chỉ là trong kế hoạch thu xếp của Đội, không có thật. Dù thế, anh vẫn bị ba tháng tù, rồi bị đuổi về Thanh Hoá, quê quán của anh. Nói chung, những người bị bắt dưới thời Cải cách, hầu hết rơi vào t́nh trạng “phạm tội” như thế.
Cũng ở Ba Trại, một anh thanh niên tên Ghi, con bà Hồi, c̣n bị khép tội một cách trâng tráo hơn nhiều. Một buổi chiều nọ, trong tháng 3 năm 1956, đội đưa anh Ghi xuống Nam Định. Đến cổng trại An Phong, Đội bảo anh vào gặp linh mục, lúc này là cha già Nguyễn Phúc Hạnh. Anh ngơ ngác, rụt rè một ḿnh đến với cha, cha hỏi:
- Anh ở đâu, có việc ǵ ?
Anh ấp úng đáp:
- Con ở Ba Trại, tŕnh... tŕnh.... cha..
Cha Hạnh đuổi ngay.
- Ba Trại th́ xuống cha xứ mà tŕnh, tôi không biết.
Anh lủi thủi đi ra cổng, vẫn gặp anh Đội đă đưa ḿnh đi. Anh Đội bắt nghiến lấy với tội danh: “Đă đến tiếp xúc với linh mục, nhận chỉ thị để về gây tội ác”. V́ tội đó, anh bị giam một năm. Chuyện thật trăm phần trăm.
Cả đến đồng chí Chủ tịch Uỷ ban xă Mỹ Tân (Ba Trại) tên là Đán cũng bị bắt giam với tội danh “bỏ trứng sâu vào ruộng ngô”. Anh c̣n phải diễn lại “tội ác” bằng cách cầm một hộp bích quy đựng tro và rắc trên ruộng trước ống kính nhà nhiếp ảnh. Thật là nhọ nhem!
Tất cả các viên chức hàng xứ Ba Trại đều bị khép tội như thế. Ông Huỳnh, ông Tứ, ông Lũy, ông Nguyệt, ông Trạch.... bị quy địa chủ, bị bắt giam một thời gian mấy tháng. Các ông đều làm giấy xin tôi tha tội, v́ trong khi bị giam các ông đă “dại dột” đổ tội cho tôi đă đưa trứng sâu cho các ông để bỏ vào lúa.
Những chuyện có vẻ trẻ con đó mà hậu quả th́ rất nghiêm trọng, chắc chắn đă diễn ra trên khắp miền Bắc. Đó là chính sách Cải cách Ruộng đất, đâu đâu cũng phải thực hành theo cùng một cung cách như nhau. Anh Đội nào, địa phương nào mà dám làm khác? Và con số những người bị vu khống oan ức như thế, phải lên đến hàng triệu!
Người trần gian mà làm ông tổ của nói dối, vu khống là đại văn hào Pháp Voltaire. Ông đă đưa ra một khẩu hiệu: “Bạn cứ nói dối, nói dối khoẻ hơn nữa đi! Thế nào cũng c̣n cái ǵ!”. Phải, thế nào cũng c̣n cái ǵ! Quần chúng phẫn nộ trước sự gian dối độc ác. Khi vụ Cải cách phải sửa sai, họ đi t́m các anh Đội mà rạch mép rạch mồm, những cái mồm mép đă phun ra bao là dối trá, vu khống. Cũng may mà chỉ t́m ra được số ít, v́ không biết họ từ đâu mà đến, để gieo rắc bao tai họa cho thôn làng. Nhưng chuyện mấy tên bị rạch mép cũng đủ làm im đi những môi mép đă phun ra bao nọc độc chết chóc.
Phong trào Cải cách Ruộng đất khựng lại
Phong trào Cải cách đang vùn vụt tiến tới, đỉnh ngọn lửa đấu tranh đang ngùn ngụt bốc lên như hoả diệm sơn, th́ đùng một cái nó khựng lại. Nguyên nhân tại đâu ?
Nhà nước th́ gọi giai đoạn này là “sửa sai”. Nói đến sửa sai tất nhiên đă có sai lầm. Có sai lầm không? Đảng th́ không thể sai lầm được! Nhưng Đảng đă khéo dự pḥng, chọn “con dê gánh tội” là ông Trường Chinh. Ông là nhân vật bí ẩn, trước nay có ra trước công chúng bao giờ! Không ai biết mặt ông, chỉ biết tên. Tha hồ mà đổ tội cho ông. Ông chẳng sao cả, v́ ông đúng như một nhân vật “vô h́nh vô tượng”!
Sai do chỗ nào? “Nhất Đội nh́ Trời”. Mọi khi đúng sai, tốt xấu là do ông Trời phân định. Bây giờ Đội ở trên cả ông Trời, th́ Đội c̣n có khả năng phân định giỏi hơn ông Trời chứ!
Có một cái sức bí nhiệm không ai lường được, tựa như những cơn sóng ngầm trong ḷng quần chúng, làm vỡ đê điều lúc nào không hay. Nó như thanh gươm hai lưỡi, chém người khác, rồi lại quay lại chém người sử dụng nó, một cách bất ngờ. Bởi đó mà có những nhà độc tài, những nhà cầm quyền hét ra lửa, bị quật ngă lúc nào không biết.
Phong trào Cải cách đang quay mũi dùi căm thù vào kẻ thù của giai cấp vô sản, th́ không hiểu tại sao mũi dùi căm thù quay trở lại chĩa vào những người đang lái nó. Những anh “Đội nhất Trời nh́” hôm nào c̣n dương oai tác quái, hùng hổ hơn Trời, miệng thét ra lửa, thế mà nay bỗng dưng biến đâu mất, như những bóng ma không ai c̣n trông thấy. Những anh cốt cán hôm nào mặt c̣n rắn như đanh, tay cứng như sắt, nay cũng nhũn như con chi chi. Sức mạnh nào đă làm thay đổi đến thế? Đó chỉ là quy luật tự nhiên: ác giả ác báo! Nhưng nhà nước đă đưa ra phương thế để chữa cháy: chính sách “sửa sai”, gáo nước lạnh đổ vào nồi nước sôi. Họ khiêm tốn nhận có sai thật! Đây là những sai lầm: một số người đưa lên địa chủ một cách vô lư, phải hạ thành phần cho họ. Một số khác bị tịch thu nhà cửa bừa băi, rồi chia cho người khác, phải trả lại như cũ. Đại loại sửa sai là thế. Nhưng các trường hợp sai sót con số chẳng là bao đối với những đảo lộn long trời lở đất và những cái sửa lại đó không đáng kể đối với một xă hội đă bị thương tổn đến gốc rễ.
Tuy nhiên các lỗi lầm, theo thái độ quần chúng, xem ra không phải là về việc phân định sai ai là địa chủ, hoặc tịch thu nhầm về ruộng đất. Những sai lầm phải được xem xét theo thái độ hờn ghét của quần chúng chĩa mũi dùi vào ai. Không hiểu tại sao khi vừa nghe nói có việc sửa sai, th́ bọn cán bộ cải cách biến đâu hết. Họ là ân nhân của người không có ruộng cầy, th́ những người này phải biết ơn những kẻ đă đem lại ruộng cầy cho ḿnh, và đáng lẽ phải có một cuộc đại liên hoan, mừng Cải cách Ruộng đất thành công mới phải chứ?
Nhưng không, chỉ thấy dân chúng thay v́ cảm ơn và mở tiệc ăn mừng, họ lại “xuống đường” đi săn bắt Đội cải cách “ân nhân” của ḿnh. Ngược đời! Họ lùng bắt không phải để đánh đập hoặc giết chết. Dân chúng bản chất vẫn rất nhân từ. Họ chỉ t́m để rạch mép, nhẹ nhàng thế thôi. Sao lại rạch mép? Là v́ những môi mép kia đă phun ra bao là vu khống dối trá, và bắt người lành cũng phải dối trá như họ, để gây nên biết bao là chết chóc, đau khổ cho mọi người, gây nên hận thù giữa làng xóm, mà xưa nay vẫn sống hiền hoà.
Nhưng bọn cải cách đă cao chạy xa bay từ đời nào. Họ biết trước phần thưởng dành cho họ. Rạch mép nhẹ nhàng, thâm thuư chua cay, nhằm đúng mục tiêu. Không biết có bao nhiêu tên bị rạch mép? Chúng biến đi, cái xă hội gian trá chúng gây nên cũng biến đi. Sự an b́nh vui tươi lại trở về, y như không có chuyện ǵ. Người này người nọ, xóm này thôn kia lại giao tiếp với nhau, đi lại với nhau. Đâu đấy lại trở về đời sống không chỉ như trước Cải cách, mà c̣n xa hơn nữa.
Đức Cha Khuê cũng nhờ việc đi lại dễ dàng mà kinh lư rất nhiều nơi, từ Hà Nội đến Hà Đông, Hà Nam, Nam Định. Chẳng phải xin phép, chẳng phải báo cáo với ai. Không giấy tờ, không gặp gỡ chính quyền, hoàn toàn tự do....
Lại bàn về sai lầm. Thiết nghĩ làm ǵ có thể sai lầm được! Giả sử chỉ có ḿnh Việt Nam làm CCRĐ, chưa có đâu làm, th́ c̣n có thể nói đến sai lầm. Đàng này các bậc thày, các bậc đàn anh đă làm, đă rút kinh nghiệm, Việt Nam chỉ việc lặp lại. Người ta đă tính từ trước sẽ có những sai sót. Có thể nói, những sai sót cố ư! Thà giết nhầm mười người c̣n hơn để sót một! Hoặc kinh nghiệm cho thấy là việc Cải cách gây đau khổ nhức nhối chừng nào! Nên giả cách, có vài sửa sai chẳng vào đâu cả, để phần nào làm nguôi ḷng dân. Thực thế, cấp dưới thấy cấp trên ăn năn hối lỗi, giả cách hay thực t́nh, và đưa ra vài biện pháp lặt vặt, th́ cũng cho qua... Dân chúng dễ nguôi đi, chỉ trừng phạt bằng cách rạch mép được tên nào th́ rạch. Bọn này cũng dễ rút êm, v́ chúng được bố trí đến không ai biết, đi không ai hay.
Có hai bức thư rất mạnh mẽ, một cái đâm thẳng vào quả tim Cải cách, một cái đâm vào bụng Cải cách. Đấy là theo như cách đánh giá của những kẻ cho là ḿnh bị nhầm. Thứ nhất là bức Thư Chung do Đức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê, ban bố hồi tháng 2-1956 dịp Tết Nguyên Đán Bính Thân. Ngài dạy luật căn bản của đạo Phúc Âm: “Thương yêu, tha thứ” trong khi Cải cách đang khơi dậy ngọn lửa căm thù giai cấp. Thứ hai là bức Thư Chung do Đức Cha Giuse Phạm Năng Tĩnh, Giám mục Bùi Chu, ban bố lúc Cải cách sắp kết thúc, nói về luật căn bản của Đạo, đi theo luật căn bản thứ nhất: đó là “công bằng”. Đối với Cải cách họ hiểu: dù ăn vào bụng rồi, cũng phải nhả ra. Người ta gọi đó là “Bức thư giả của”.
Cứ theo như đánh giá của Cải cách, th́ các tác giả của hai bức Thư Chung đó phải bị nhân dân băm vằm. Nhưng các Ngài không bị hề hấn ǵ. Chung quy chỉ ngăn cản không cho phổ biến hai bức thư. Cũng chỉ là sự nhịn nhục khéo léo đấy thôi. Trước hết hai bức thư đó nói về những điều căn bản của đạo. Đem ra tranh luận hay xử lư cách nào đó, th́ chỉ lợi cho đạo, mà bất lợi cho Cải cách. Đàng khác có phổ biến, th́ cũng chỉ là trong giới Công giáo, nhóm thiểu số giữa đám đông đang sôi sục căm thù và đ̣i lấy của. Im đi là thượng sách. Con cái thế gian khôn ngoan là thế!
Hoàn thành Cải cách Ruộng đất
Trong cuốn Biên Niên Sử có nói: “Cuộc Cải cách Ruộng đất đă hoàn thành, mười triệu nông dân có ruộng cầy”. Một cuộc cách mạng long trời lở đất, mà kết quả có thế th́ cũng khiêm tốn. Đó chỉ là cái khiêm tốn giả tạo, sự thực “kết quả” to lớn hơn vô cùng!
Lấy được ruộng ở tay người địa chủ, không phải là việc dễ dàng. Phải có những bàn tay mạnh mẽ, đi tới tàn bạo của một chính thể độc tài chuyên chính. Người ta vẫn nói vô sản chuyên chính mà! Thật ra lấy lại ruộng đất để chia cho những người cầy, không phải là mục tiêu chính của việc Cải cách và chính việc Cải cách cũng không phải là mục tiêu của Cách mạng. Lấy lại ruộng đất chỉ là phương tiện để cải cách, chính việc Cải cách cũng chỉ là phương tiện cho sự thống trị của giai cấp vô sản. Nói đúng ra, cho sự thống trị của Đảng chuyên chính được thiết lập vững chắc.
Nói Cải cách Ruộng đất: ruộng đất là cái mồi lôi cuốn những kẻ không có ruộng tham dự vào cuộc đấu tranh. Trong tay không một tấc đất, mai kia sẽ làm chủ, chứ không đi làm thuê, lấy thân làm trâu ngựa. Nghe thế ai mà không phấn khởi, tích cực tham gia? Như thế ruộng đất là cái mồi thúc đẩy việc Cải cách.
Cuộc đấu tranh đ̣i ruộng đất là động lực chính, lại c̣n được dùng để đánh đổ các thế lực khác! Trước hết là địa chủ, phải đánh gục để lấy đất ra! C̣n có những kẻ khác không có ruộng hay có ít chẳng bơ, nhưng họ uy quyền, uy thế, uy tín trong nông thôn. Cả những người được vị nể một cách xứng đáng nhờ đạo đức, nhờ quảng đại, cũng là những đối tượng phải đánh gục. Các thành phần này có thể đông hơn là địa chủ nhiều. Lấy việc đ̣i ruộng để chia là cách dễ đi vào ḷng người, hầu đánh vào những thành phần khác. Như vậy Cải cách Ruộng đất trở thành phương tiện cho Cách mạng. V́ thế, kết quả việc CCRĐ không chỉ vẻn vẹn trong t́nh trạng mười triệu người có đất cầy.
Cải cách Ruộng đất là một cách quét sạch những địa chủ, những cường hào ác ôn, ác bá, những người có uy tín, những người có mầm mống để vươn lên. Tất cả những ǵ mà Cách mạng cho là đối nghịch, là nguy hiểm trong hiện tại và trong tương lai. Quét sạch, để cho xă hội trở nên một tờ giấy trơn, hầu Đảng muốn vẽ ǵ th́ vẽ, theo ư ḿnh.
Không có cái ǵ gai gai lên, xă hội trở nên mặt bằng, Đảng muốn đặt h́nh tượng nào th́ tuỳ ư. Không sợ có h́nh thể nào lén cài lại. Sao lại nặn tôi lên như thế? Sao lại đặt tôi vào chỗ này? Đảng làm vậy để toàn năng như Ông Trời.
Đó, kết quả của việc Cải cách là thế, là quét sạch mọi thế lực bị coi là thù nghịch! Chứ có phải là lấy mấy triệu mẫu ruộng, đem chia ra rồi có ngày lại thu về đâu! Đó là tạo nên một mặt bằng, không ǵ gợn lên. Cái gọi là “vô sản chuyên chính” cũng chỉ là cái áo khoác cho dân nghèo vốn chiếm phần đông trong xă hội nh́n cho vừa mắt.
Phải chăng đó là trong chủ nghĩa duy vật?
Đối với chủ nghĩa duy vật, đem giải thích theo lịch sử quan, th́ xă hội loài người theo cấu trúc hạ tầng cơ sở và thượng tầng cơ sở (super-structure) . Hạ tầng cơ sở là vật chất th́ bất biến. Thượng tầng cơ sở là trí tuệ, kiến thức, luân lư, tôn giáo, quyền bính th́ thay đổi. Chính kinh tế làm thay đổi, biến thể. Thượng tầng cơ sở là nền tảng của chủ nghĩa duy tâm, bị kinh tế làm thay đổi. Theo họ, lịch sử thế giới biến đổi, tiến bộ, không do trí tuệ, do chiến tranh, do tôn giáo, do phát triển khoa học, nhưng là do kinh tế chi phối; và họ đưa ra duy vật sử quan để giải thích những giai đoạn loài người đang trải qua, từ lúc kinh tế c̣n thô sơ cho tới nền kinh tế phức tạp ngày nay. Chính kinh tế làm thay đổi mọi sự!
Theo chủ nghĩa Mác-Ănghen, lịch sử thế giới diễn biến theo nhịp kinh tế, từ đời sống hang hầm, đẽo đá, cho tới thời đại điện tử. Kinh tế chi phối tất cả, nó làm thay đổi cái thượng tầng cơ cấu. Cải cách Ruộng đất cũng trong đường lối diễn biến đó. Nó làm thay đổi bộ mặt xă hội, mà nền tảng là vật chất. Nó là duy vật nên không chấp nhận cái ǵ là thiêng liêng. Làm ǵ có Chúa, có thánh thần! Có cái ǵ là linh thiêng cao cả, có cái ǵ là ở trên, có cái ǵ là cái đáng kính đáng trọng, có cái ǵ cần nể nang, cần phải bảo tồn đâu! Chủ nghĩa duy vật mù quáng, chôn vùi mọi thứ xuống đất không chút thương tiếc.
V́ thế Cải cách Ruộng đất dựa vào chủ nghĩa duy vật, có thể đập phá lung tung, không phải kiêng nể bất cứ cái ǵ; phong trào được phát động đến mức con cái có thể đào mả bố, đấu tố sỉ nhục cha mẹ. San bằng tất cả những cái mà các chế độ, các thời đại trước đă tạo nên, để xây dựng một thượng tầng cơ sở mới, không biết nó sẽ là cái ǵ, v́ vật chất th́ mù quáng, làm ǵ có kim chỉ nam! Sống suy nghĩ theo Mác-Ănghen th́ nó miên man và ảo tưởng đến thế!
Nhưng nông dân vô sản làm ǵ mà biết suy luận như vậy! Người ta bảo đánh th́ đánh, đập phá th́ đập phá. Rồi họ măn nguyện với mảnh bằng, chứng thực. Họ được làm chủ mấy sào ruộng, để rồi ít lâu nữa sẽ rời những cái ghế chủ nhân ấy. Bây giờ họ chưa biết thế đâu!
Tấm bằng được tŕnh bầy một cách rất lộng lẫy, khổ 60 x 40, có ghi những chữ lớn với nét đỏ thắm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất! Sau đó là kê khai những thửa ruộng được làm chủ. Cuối cùng lại hiện ra những ḍng chữ viết khá lớn, để cho thấy nội dung cũng quan trọng. Toàn là những khẩu hiệu đă được ghi đó đây, được để ở cửa miệng để hô to. Ghi ở đây, chúng lại có ư nghĩa đặc biệt. Câu đầu là: “Tăng cường đoàn kết”.
Đoàn kết ở đây, trong lúc này có ư nghĩa đặc biệt. Học thuyết Hegel, một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa Mácxít, chủ trương vạn vật hợp tan tan hợp (Thèse, Antithèse và Synthèse, Chính đề, Phản đề và Hợp đề). Xă hội chứa đầy những thực thể (Thèse), nhưng cũng luôn có những đối kháng (Antithèse) và do cuộc đấu tranh giữa những thực thể đối kháng nhau mà đi tới tổng hợp (Synthèse). Tổng hợp đây không có nghĩa là hợp những cái mâu thuẫn lại, nhưng là các mâu thuẫn loại trừ nhau, tạo nên một mặt bằng (Synthèse). Đó chính là điều mà bản Tuyên Ngôn của Mác nói đến khi mở đầu: “Hỡi các bạn vô sản toàn thế giới, hăy đoàn kết lại”.
Trong Cải cách Ruộng đất, giới vô sản, tức bần cố nông đứng sau Đảng, lật đổ không những giới chủ ruộng, mà c̣n cả những thực thể đối nghịch khác, để làm nên một mặt bằng gồm những người khố rách như nhau, để rồi trên đó sẽ có những người có cái khố lành hơn, cái áo sặc sỡ hơn, làm nẩy nở những mâu thuẫn khác (Antithèse). Đó chỉ là những cái mà giới chóp bu đưa vào để t́m nguồn động lực cho hoạt động của ḿnh; c̣n dân chúng th́ chỉ bị lái, mà nổi dậy một cách vô ư thức.
Sau cuộc đấu tranh mệt mỏi, được thưởng bằng một tờ giấy có ghi: “Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất” là hể hả. Nhưng c̣n phải giữ cái thành quả đó bằng “tăng cường đoàn kết”, rồi “nâng cao cảnh giác”. Nâng cao cho đến lúc ruộng đất được đem đi dâng, c̣n lại mảnh bằng, có cất kỹ th́ may ra lâu mới không mục v́ nó bằng giấy. Nhưng cái ǵ con người tạo nên, nó cũng sẽ mau biến đi như thân phận con người.
Cải cách Ruộng đất chỉ là một công cụ mà Đảng Cộng sản nước nào cũng dùng để xây dựng và củng cố quyền bính. Nó là công cụ, nên chỉ là giai đoạn, v́ chỉ được dùng vào một thời nào đó. Những cảnh rùng rợn nó gây nên, chẳng bao lâu người ta cũng nguôi đi, hoặc bị làm cho quên lăng.
Khoảng tháng 10 năm 1956, người ta mời tôi đi họp. Tại sao người ta lại mời tôi, họp về việc ǵ tôi cũng không nhớ! Kỳ cục thay, địa điểm họp lại chính là trường đào tạo cán bộ Cải cách Ruộng đất ở thị xă Phủ Lư. Một khu rộng răi, gần nhà thờ, có mấy chục ngôi nhà lợp lá. Thị xă Phủ Lư lúc này do tiêu thổ kháng chiến đă bị hoang tàn, dân cư thưa thớt, nhà cửa lụp xụp. Có độ vài trăm người họp. Có điều khác thường, chắc trước đây không có: đó là có một ngôi nhà nguyện, trong đó sáng tối có tiếng đọc kinh râm ran. Người họp có đủ hạng, thành thị, nông thôn, đàn bà, đàn ông, người già, người trẻ... Các bà đọc kinh cầu nguyện tối sáng, có lẽ là các bà Bùi Chu. Cũng có mấy linh mục khác. Chúng tôi không gặp nhau, v́ không muốn lợi dụng đi họp để gặp nhau. Chúng tôi không làm lễ dù người ta mời. Cũng không đến cái gọi là nhà nguyện bao giờ. Đi họp là đi họp, không làm lễ, và chúng tôi không mang áo dài thâm, để lấy cớ không có áo dài thâm th́ không làm lễ. Họp ba ngày, ăn ngủ ở đó, phân chia từng tổ. Tổ bao gồm những người thuộc tỉnh ḿnh, địa phương ḿnh. Tổ của tôi gồm các nhân sĩ, bác sĩ, giáo sư, nghĩa là thành phần “thượng lưu”.
Không biết có nhiều phiên họp chung không, và họp về các đề tài ǵ? Chỉ biết chúng tôi ngồi với nhau tán chuyện suốt ngày. Rồi bữa ăn, bữa quà. Tối đến đi xem diễn kịch, hoặc Xinêma. Những giải trí đó tôi không đi bao giờ.
Họp sau khi Cải cách, giữa trường đă đào tạo Đội cải cách, mà không nói ǵ tới Cải cách. Không khen, không chê, không rút kinh nghiệm. Ở dưới mái nhà đă che nắng mưa cho những người được huấn luyện để đi gây rùng rợn, sợ hăi cho kẻ khác. Nằm trên những chiếc giường mà hôm nào đó, những người cán bộ Cải cách Ruộng đất đă có những đêm ngủ ngon, để rồi đi gieo đau thương vào tâm hồn và thể xác của hàng triệu dân lành.
Ấy thế mà không ai nói đến chuyện Cải cách. Những lúc ngồi tán gẫu với nhau, thường người đời chỉ lấy chuyện “bù khú” làm đầu. Nhưng chợt thấy tôi ở gần, họ liếc mắt nhau, rồi lảng sang chuyện khác, y như nói với nhau: “Ông cố đạo đấy, đừng làm rát tai ông ta, ông ta cười cho”. Có lần họ giở chuyện đạo với nhau, và tôi nghe được.
Chuyện ở miền Nam. Họ được thông tin đâu đó nói rằng: Toà Thánh đặt Đức Cha Nguyễn Văn Hiền ở Sài G̣n, c̣n Đức Cha Ngô Đ́nh Thục, anh ông Diệm th́ đưa về Huế, và họ khen Toà Thánh công bằng! Có ư muốn nói: Ông Thục là anh em với ông Diệm, lẽ thường ông Diệm muốn đặt người anh của ḿnh ở thủ đô Sài G̣n, thế mà Toà Thánh lại không nghe, lại đặt ở Huế, không quan trọng bằng “thủ đô Sài G̣n”. Nghe th́ biết vậy, chứ thực ra lúc này Hà Nội làm ǵ có những thông tin như thế, và tôi cũng không tham gia vào câu chuyện.
Họp sau ngày Cải cách, họp trong trường đào tạo cán bộ cải cách, mà không nói ǵ đến Cải cách, lại chỉ nói đến chuyện ở đâu. Y như người ta muốn quên đi những chuyện về Cải cách. Quên thật! Những ngày họp ở đây toàn là những ngày “chiêu đăi” để lấp liếm mọi chuyện. Được đi họp những buổi như thế này là vinh dự lắm, phải ở cấp nào, công tác làm sao mới được vinh dự đó. Không hiểu sao, tôi lại được cái vinh dự đó!
Đầu năm 1957, tôi thấy trong ḿnh hơi yếu. Lợi dụng sau Cải cách, mọi cái dễ dàng, tôi xin lên Hà Nội một tháng để chữa bệnh. Chữa bệnh th́ ít, ư định khác th́ nhiều. Lúc này nhà nước cho ra cái phong trào “Người Công giáo yêu nước” dưới danh hiệu “Hội liên lạc những người Công giáo yêu tổ quốc, yêu hoà b́nh”. Ở các nước Cộng sản khác, họ trắng trợn đưa ra cái thứ Hội yêu nước như thế để tách khỏi Vatican. Ở Việt Nam, miền Bắc c̣n phải “chiếu cố” miền Nam, nên không dám cho ḿnh tự trị, nhưng cũng t́m cách đứng ngoài ảnh hưởng của Vatican.
Về phía Giáo quyền đă có những tuyên bố, chỉ thị, biện pháp, chống lại trào lưu này. Ngoài thông cáo thời danh của cha chính Antôn Đinh Lưu Nhân, Nam Định, về hội Liên lạc Công giáo đó, tôi cũng muốn đóng góp một phần nhỏ tích cực hơn. Tôi thu thập những bài nói về Hội Thánh, soạn thành một cuốn sách nhỏ, chỉ nói về vẻ đẹp của Hội Thánh, để cho thấy tách biệt khỏi Hội Thánh là tách biệt khỏi Chúa Kitô, tách biệt khỏi Chúa Kitô là tách biệt khỏi Thiên Chúa. Tôi đă soạn xong nhân dịp đi an dưỡng. Nhờ ông Tiệp lúc này chưa là ông Cố, mà chỉ là thư kư làm việc ở hiệu sách Thánh Maria, đánh máy giùm. Dĩ nhiên là ông đánh máy, tŕnh bầy đẹp hơn tôi. Tôi đă hoàn thành và định nhờ máy ronêô của Nhà Chung. Máy này bỏ lâu không dùng được. Tôi xin một ít giấy của Nhà Chung đưa về Nam Định quay lấy. Tôi đưa về Nam Định quay ronêô với một đứa cháu của tôi, để công việc kín đáo hơn.
Nhắc lại chuyện đó để cho thấy sau Cải cách, vào thời kỳ sửa sai, việc đi lại dễ dàng. Việc xuất bản khó khăn, nhưng việc in ấn c̣n có thể kín đáo tiến hành. Nhưng nhất là cho thấy Giáo Hội Việt Nam c̣n phải đối phó gay go với một phong trào khác: “Hội Liên Lạc”, gay go, phức tạp, dai dẳng hơn là với Cải cách Ruộng đất.
Ví dụ: Do t́nh thế đi lại dễ dàng của thời kỳ sửa sai, vị Giám mục địa phận, Đức Cha Trịnh Như Khuê, đi đến cả những xứ thật xa, ở tỉnh Nam Định, như xứ An Lộc. Nơi đây cha xứ là cha Vũ Xuân Kỷ, Chủ tịch Hội Liên lạc Công giáo, h́nh như đi công tác, không có mặt. Trong lúc Đức Cha tiếp giáo dân đứng chật trong nhà, ngoài hiên, ngoài sân, mấy tên Công giáo tiến bộ, đứng đầu là tên Đượm, tên Đọc... cứ xô đẩy đám đông, để xông vào ư kiến với Đức Cha, đoạn xô đẩy Đức Cha đến chân tường, rồi ra hiên đằng sau, đến chân cầu thang. May nhờ cầu thang này mà Đức Cha lên gác thoát nạn!
Khi mọi người trở lại b́nh tĩnh, Đức Cha tuyên bố băi xứ An Lộc và chuyển sang họ Vạn Điểm. Từ nay họ Vạn Điểm trong lịch Công giáo được in là xứ Vạn Điểm. Quyết định có vẻ vội vàng một chút. Song thấy cha xứ đứng đầu phong trào chống Giáo hội, giáo dân không biết bao nhiêu người lại có những cử chỉ quá khích, th́ làm sao tránh khỏi kết luận như vậy. Xứ này không c̣n trung thành với Giáo Hội, nên băi đi.
Kết luận khác không thể sai: Những cử chỉ quá khích của một số giáo dân An Lộc hôm đó đă được h́nh thành từ cách lộng hành, tàn bạo của Cải cách Ruộng đất.
Thành quả của Cải cách Ruộng đất
Mấy sào ruộng rồi sẽ đưa vào hợp tác xă để ông chủ lại đi cầy thuê. Cái bằng chứng nhận kia chỉ đem vứt vào sọt rác, v́ nó chỉ c̣n là một tờ giấy vô giá trị. Cảnh người cầy có ruộng lại lên mây!
Cái bầu trời đă phác quang, cái mặt đất đă san phẳng ĺ, muốn dựng lên cái ǵ th́ dựng. Với tính tàn khốc, tính quá khích, họ đă tạo nên bầu trời quang và mặt đất bằng. Tính t́nh man rợ đó đă in sâu trong ḷng, không biết phải bao nhiêu thế hệ mới xoá nổi !
Trên tờ “Chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất” có ghi cái khẩu hiệu để viết trên mặt bằng của Cải cách: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà b́nh, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh”. Vẫn chưa thoả măn? Đẹp thế mà! Thời kỳ Cải cách mọi cái thay đổi khá nhiều, theo hướng đi lên hay đi xuống không ai biết! Cả Đức Cha Khuê cũng có vẻ đổi thay. Ngài đi kinh lư xứ Nam Định. Tôi theo Ngài ra thăm Mặt trận Tổ Quốc. Thay đổi đấy! Ngồi đối diện với ông Chủ tịch Mặt trận, Ngài chúc sức khỏe ông Chủ tịch và các nhân viên. Để cập nhật hơn, Ngài bầy tỏ ḷng yêu mến nước VN, cầu mong nước Việt Nam hạnh phúc.
Ông Chủ tịch bất cần nhă nhặn, phản ứng ngay: “Nói Việt Nam thôi không đủ. Phải nói là Việt Nam Xă hội Chủ nghĩa”. Tim Đức Cha không biết có bị nhói không, phần tôi th́ sạm mặt lại. Chúng tôi ngần này tuổi đầu, học hành ǵ mà cái tên nước Việt Nam cũng không nói đúng!
Việt Nam dù là hoà b́nh, là thống nhất, là giầu mạnh hay ǵ đi nữa, cũng không đủ. Cải cách Ruộng đất không chỉ đi đến mục tiêu đó, nhưng là tới cùng đích: VN Xă hội Chủ nghĩa. Xă hội Chủ nghĩa là ǵ?
Như vậy ai cũng hiểu Cải cách Ruộng đất là sách lược cơ bản, không phải là cái ǵ tuỳ tiện. Những phương pháp tàn bạo cũng chẳng phải là cái ǵ vượt ra khỏi dự pḥng. Cả những cái gọi là sai lầm cũng là giả tạo, để lấy cớ sửa sai.
Trước khi Cải cách, nhiều người hy vọng vinh quang đang đến với ḿnh, có thể phấn khởi hô lên: “Cải cách muôn năm! Cải cách muôn năm!”. Sau này, dù có những tai tiếng đến đâu, những ai nhờ đó mà có chỗ ăn chỗ đứng, trong thâm tâm vẫn phải vang lên “Cải cách muôn năm”!!!
(Chúng tôi có biên tập lại. Người sưu tập)
Hồ Chí Minh, kẻ chịu trách nhiệm chính trong Cải cách Ruộng đất*
Vũ Thư Hiên
Trích “Đêm giữa ban ngày”
Xuất bản năm 2005 - Chương 12
(*) Đề bài do chúng tôi đặt. Người sưu tập.
Cha tôi khẳng định người chịu trách nhiệm chính trong sự gây ra những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất là ông Hồ Chí Minh chứ không phải Trường Chinh, như đă có sự ngộ nhận kéo dài nhiều năm. Trường Chinh là con dê tế thần cho sai lầm của ông Hồ.
Nhưng, lại cũng công bằng mà nói, ông Hồ không hề có ư định làm Cải cách ruộng đất trong kháng chiến chống Pháp. Ông không muốn khuấy động sự ổn định của chính quyền cách mạng trong lúc trước mặt là kẻ thù xâm lược. Ông đă buộc phải làm Cải cách ruộng đất khi bị Mao nhắc nhở. Trong quyết định này khía cạnh tâm lư có tầm quan trọng lớn: ông Hồ không muốn bị vu vạ thêm một lần như ông đă từng bị vu vạ rằng ông là người không có lập trường cách mạng kiên quyết.
Như vậy, Cải cách ruộng đất được quyết định trong hoàn cảnh có sự thúc ép mạnh mẽ từ bên ngoài. Nó bắt đầu vào những năm 1953-1954, khi t́nh h́nh các chiến trường, t́nh h́nh trong nước và thế giới trở nên đặc biệt thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Pháp, làm cho ông Hồ có cảm giác chiến thắng cuối cùng đă gần kề.
Những nhân vật kế cận ông Hồ như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan (1), Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt… vốn là những mao-ít ṇi. Họ vừa thúc bách ông, vừa hùn vào quyết định c̣n đang lung lay của ông. Tuy nhiên, đối với ông Hồ Chí Minh họ lúc nào cũng giữ tư cách những học tṛ khiêm tốn. Bên cạnh ngôi sao sáng Hồ Chí Minh tổng bí thư Trường Chinh không có vai tṛ lớn như nhiều người lầm tưởng. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp không bao giờ dám, và cũng không bao giờ được phép tự ḿnh quyết định những chủ trương lớn.
Vào giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, khi ở vùng tự do Thanh hóa, Nghệ An thuộc Liên khu 4, cán bộ giảm tô giảm tức kích động nông dân hành hạ dă man những địa chủ, nói cho đúng là những nông dân giàu có, cha tôi tức tốc lên Việt Bắc báo cáo t́nh h́nh xảy ra với chủ tịch. Ông Hồ hốt hoảng hạ lệnh đ́nh chỉ tức khắc cuộc giảm tô giảm tức cường đạo và gửi thư xin lỗi đồng bào.
Ông đă nghe cha tôi vào thời kỳ ấy, nhưng đến Cải cách ruộng đất th́ ông không nghe nữa. Lúc ấy ông đă bị các cố vấn Trung Quốc và những lư thuyết gia mao-ít nội hóa thuyết phục. Ông nghe làm sao được khi trên báo Nhân Dân ngày nào cũng tràn ngập tin tức về những thắng lợi rực rỡ của cuộc cách mạng long trời lở đất.
Câu chuyện về Hồ Chí Minh trong thâm tâm chống lại chủ trương Cải cách ruộng đất, bực bội v́ nó mở màn bằng việc bắn một người đàn bà, như một số người muốn bào chữa cho ông là chuyện tầm phào. Một lệnh ông Hồ ban ra không chỉ cứu một bà Nguyễn Thị Năm (2), nó c̣n cứu hàng ngàn người bị giết oan trong cả CCRĐ lẫn Chỉnh đốn tổ chức do Lê Văn Lương song song tiến hành. Ông Hồ đă không cứu bà Năm. Ông không cứu ai cho tới khi những sai lầm tích tụ lại thành cái nhọt bọc. Lúc cái nhọt bọc vỡ ra ông mới tỉnh cơn mê. Nhưng đă muộn.
Trong những ngày u ám đó cha tôi được cử làm bí thư Đoàn ủy một đoàn CCRĐ. Là người có kinh nghiệm vận động quần chúng, ông thấy CCRĐ đang mắc sai lầm. Nó đi chệch mục tiêu “người cày có ruộng”, biến thành một cuộc tàn sát chỉ để tàn sát, một dịch cuồng amok (3) của châu Á. Trong cuộc đời cách mạng của ông, ông đi nhiều, tiếp xúc nhiều, ông hiểu đất nước ông, ông hiểu đồng bào ông. Ông không tin kết luận của các thầy Tàu nói phàm nông dân giàu có đều là địa chủ chống cách mạng, chống kháng chiến. Ông tin ở ḷng yêu nước của đồng bào. Chính những nông dân giàu có, những địa chủ nhỏ, theo ông, là những người sớm giác ngộ cách mạng do ư thức được phải tự giải phóng khỏi thân phận nô lệ hơn lớp bần cố nông do quá nghèo đói và mù chữ không có điều kiện tiếp xúc với trí tuệ cách mạng. Những nông dân giàu đă có công lớn trong việc nuôi cán bộ, bộ đội trong những ngày đầu kháng chiến, khi chính quyền cách mạng c̣n trứng nước. Không phải sự nghèo khổ làm cho người ta có ư thức cách mạng. Trong chuyện này người ta quên hẳn lời những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác “ư thức cao nhất của công nhân chỉ là ư thức công đoàn”.
Sự tráo trở được dựng thành lư thuyết: những nhà giàu mà người ta gọi bằng các nhà hằng tâm hằng sản khi cần đến sự giúp đỡ của họ chỉ là đồng minh giai đoạn, gọi theo đúng chữ dùng trong các tài liệu học tập cho cán bộ. Giờ đây, khi cách mạng đă qua cái giai đoạn cần họ th́ họ bị coi như kẻ thù.
Lại một lần nữa, cha tôi bỏ công việc về Hà Nội gặp ông Hồ Chí Minh. Đang trong cơn đau gan nặng, ông chống gậy lên Chủ tịch phủ. Ông nói lớn với ông Hồ: “Máu đồng bào, đồng chí đă đổ mà Bác c̣n ngồi yên được à? Chúng ta tuy không có học, chúng ta dốt, chúng ta phải vừa làm vừa học xây dựng chính quyền, v́ dốt nát chúng ta mắc mọi sai lầm, nhưng chúng ta không có quyền để tay chúng ta nhuốm máu đồng bào, đồng chí!” (4)
Sau sai lầm Cải cách ruộng đất, ông Hồ và những người phụ tá luôn bị ám ảnh rằng mọi người đều lên án họ. Do đó ai nói đụng tới Cải cách ruộng đất cũng đều làm cho họ khó chịu. Trường Chinh ngay trong Cải cách ruộng đất đă phàn nàn rằng cha tôi giờ bất măn với Đảng, trở thành cái loa cho bọn tư sản, địa chủ. Mà cha tôi bất măn thật. Ông bất măn về nhiều việc làm của Đảng mà ông cho là không quân tử, không đạo đức. Ông bất măn v́ nh́n thấy cuộc cách mạng mà ông tham gia cuối cùng đă dựng nên một xă hội không tử tế.
Chú thích
(1) Một nhân vật cách mạng nổi tiếng của VN. Sinh năm 1905, ông đến Thái Lan năm 1928, cùng với ông Hồ Chí Minh lập ra Đảng cộng sản Thái Lan, đảng viên chủ yếu là người Tàu và người Việt. Sau đó ông Hoàng Văn Hoan đi Trung Quốc, hoạt động ở nước này trong nhiều năm. Ông bị đưa ra khỏi Bộ Chính trị và Trung ương Đảng ở Đại hội IV, sau đó bị xử tử h́nh vắng mặt khi ông trốn sang Trung Quốc xin cư trú chính trị. (Tóm)
(2) Bà Nguyễn Thị Năm là địa chủ tích cực ủng hộ kháng chiến. Nhà bà ở huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, là nơi các cán bộ cao cấp thường qua lại, trong đó có cả các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Giản…
(3) Những cơn cuồng giết chóc không kiềm chế nổi bất thần xâm chiếm cả một bộ lạc, một vùng ở châu Á, khi những con người như bị mụ mẫm đi khi lao vào cuộc chiến hỗn độn, giết nhau không v́ cái ǵ.
(4) Ông Nguyễn Văn Hoan, phó chánh án Ṭa Tối cao, kể cho tôi nghe chuyện này. Ông đang báo cáo với Chủ tịch nước về t́nh h́nh công tác tư pháp th́ cha tôi chống ba-toong bước vào (ông đang lên cơn đau gan). Thấy cha tôi quá bực mà to tiếng, ông Hồ bảo: “Ngồi xuống đă, từ từ nói tôi nghe, chi mà nóng như lửa vậy”. (Tóm)
Hỏi chuyện nhà văn Vũ Thư Hiên
về Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam
Phóng viên báo CE, 2006
http://www.doi- thoai.com/ vth_vuthuhien13. html
CE: Vừa qua, một số tổ chức chính trị tại hải ngoại có tổ chức kỷ niệm 50 năm Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam. Thưa nhà văn Vũ Thư Hiên, ông có nghĩ rằng đây cũng lại là một sự ôn nghèo kể khổ theo truyền thống lâu nay của dân tộc ta không ạ?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Bạn nghĩ rằng "ôn nghèo kể khổ" là truyền thống của dân tộc ta ư? Thế th́ khổ thật đấy. "Ôn nghèo kể khổ" chỉ là một cách khêu gợi ḷng căm thù của quần chúng đối với các giai cấp bóc lột, nói theo cách của cán bộ Cải cách Ruộng đất vào thập niên 50 của thế kỷ trước. Tôi không thấy có "một số" tổ chức chính trị hải ngoại kỷ niệm 50 năm Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam. Tôi biết có một tổ chức làm chuyện đó là Mạng Lưới Dân Chủ, dưới đầu đề "Không quên những nạn nhân Cải cách Ruộng đất", tại Berlin. Nhưng không nên nghĩ đó là một sự "ôn nghèo kể khổ" tương đương với cái "ôn nghèo kể khổ" từng diễn ra ở nông thôn Việt Nam.
CE: Thưa, vào cái hồi Cải cách Ruộng đất xảy ra ấy, ông đă bao nhiêu tuổi, và ông đang làm ǵ? Ở đâu?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Hồi ấy tôi mới 20 tuổi. Tôi c̣n rất ngây thơ về chính trị. Tôi tin thật ở khẩu hiệu "người cày (phải) có ruộng", nên phải làm Cải cách Ruộng đất. Nghĩa là tôi tin ở sự lănh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản. Tôi lúc đó làm nghề quay phim. Tôi làm phụ quay phim cho nhà quay phim Liên Xô Eshurin trong ê-kíp làm phim "Việt Nam trên đường thắng lợi" (hay "Việt Nam chiến đấu", theo tên Nga) của đạo diễn Roman Karmen. Đội của Eshurin có trách nhiệm quay một đoạn về Cải cách Ruộng đất tại Thanh Hoá. Cảnh cha con người nông dân kéo cày thay trâu ngày nay được coi như ảnh tư liệu trong các bảo tàng Việt Nam về đời sống nông dân trong thời Pháp thuộc là do tôi chụp chính trong thời kỳ đó, ở gần đầm Rủn, Thanh Hoá. Đó là một cảnh dựng lại để quay phim, không phải cảnh thật. Hồi ấy tôi thành thật tin rằng có thể dựng lại các cảnh cũ để rồi thừa nhận nó là thật, miễn nó giống thật. Cái đó nằm trong quan niệm của cái gọi là hiện thực xă hội chủ nghĩa.
CE: Đă có rất nhiều người nói về khí thế của nhân dân ta trong những ngày Cải cách Ruộng đất... Theo ông, cái hừng hực như lửa ấy ở đâu mà có, tại sao nó duy tŕ được và sự duy tŕ ấy được bao nhiêu lâu?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Khí thế hừng hực trong Cải cách Ruộng đất? Tôi không trực tiếp tham gia cuộc Cải cách Ruộng đất (khi nó diễn ra tôi đang học ở Moskva), tôi không làm chứng được cho cái khí thế ấy. Nhưng tôi tin rằng nó đă có, bằng vào cái mà tôi thấy trong cuộc giảm tô giảm tức đi trước Cải cách Ruộng đất từ năm 1953. Người nông dân được (hay bị) tuyên truyền rằng phải đánh đổ địa chủ cường hào gian ác th́ đời sống của họ mới khá hơn, th́ họ ào ào theo. Ai chẳng muốn đời sống khá hơn, nhất là trong khi đời sống hiện tại th́ lại quá cay cực? Đáng buồn là trong khí thế đi t́m cái đời sống khá hơn người ta quên bẵng nhiều thứ: đạo đức, t́nh thương yêu giữa con người với con người, quyền con người của người khác... Đảng cộng sản khuyến khích sự quên đó.
CE: Thưa nhà văn Vũ Thư Hiên, ông có được chứng kiến một cuộc đấu tố nào không? Người ta đă tiến hành nó như thế nào vậy?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Tôi được chứng kiến một cuộc đấu tố duy nhất. Đó là cuộc đấu địa chủ Nguyễn Bá Ngọc tại Thanh Hoá. Tôi, với tư cách người quay phim, tôi được có mặt ở mọi chỗ. Kể chuyện người ta tiến hành nó như thế nào th́ dài lắm. Tôi nói tóm lại: nó được bố trí chu đáo như một vở tuồng. Những người nông dân được tập đấu (tố cáo tội ác của địa chủ) nhiều ngày trước khi có đấu thật. Đến khi đấu thật th́ đấu lưng trước (tức là địa chủ quay lưng lại người đấu), sau mới đấu mặt (mặt đối mặt). Sở dĩ phải làm như thế là v́ nhiều khi người đấu nh́n thấy mặt người bị đấu th́ không nỡ đấu nữa (cũng là bà con lối xóm với nhau cả!). Đến cả địa chủ cũng được các đạo diễn (ông đội) hướng dẫn tỉ mỉ: phải quỳ thế nào, không được phép ngẩng mặt lên khi nghe những câu không đúng (các ông bà nông dân bao giờ cũng đúng, Đảng bao giờ cũng đúng...). Rất phường tuồng. Buồn cười không chịu được. Nhưng chỉ dám cười thầm. Có lẽ ai cũng thấy cái chất buồn cười trong hoàn cảnh rơi nước mắt ấy. Nhiều chuyện thương tâm lắm.
CE: Thưa... Trước, trong và sau cuộc Cải cách Ruộng đất, ông đă có lần nào, lúc nào được tiếp xúc với những nạn nhân của nó, và ông thấy, thái độ, t́nh cảnh của họ trong từng giai đoạn như thế nào?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Trước hết, tôi xin nói lại điều tôi đă nói nhiều lần: đảng cộng sản cầm quyền ở nước nào cũng rất giỏi sản xuất ra kẻ thù. Trong kháng chiến chống Pháp, khi chưa có viện trợ của Trung Quốc, bộ đội sống nhờ dân, mà chủ yếu là những người nông dân lớp trên, một số sau này được quy thành địa chủ cường hào gian ác. Không có họ, bộ đội không có cái ăn để đánh Pháp. Tôi biết điều đó một cách chắc chắn bởi lúc ấy tôi ở trong bộ đội. Tức là đảng cộng sản đă bịa cho những người nông dân giàu vai tṛ kẻ thù. Ngay cả trong trường hợp họ giàu có, họ cũng không dĩ nhiên phải chống cách mạng giải phóng dân tộc. Bằng chứng là phần nhiều đảng viên Quốc dân đảng thuộc tầng lớp này. Về sau này những kẻ thù do đảng cộng sản bịa ra rồi có trở thành kẻ thù thật của Đảng th́ cũng đáng lắm. Tất nhiên, sau CCRĐ t́nh cảnh địa chủ (hay những người bị quy là địa chủ) thê thảm lắm. Đến cả con cái họ cũng bị trù dập, không cho đi học, không cho đi làm. Đảng CS thù dai lắm, thù theo sách (chứ người ta lúc ấy có thù ǵ Đảng đâu), đă thế lại c̣n hẹp ḥi đến tởm lợm. Chẳng cứ con cái địa chủ, con cái tư sản cũng vậy. Con cái những người bị coi là đối tượng cách mạng cũng thế. Trong chuyện này gia đ́nh tôi có kinh nghiệm bản thân. Tốt nhất là đừng có chơi với một Đảng như thế. Đă trót bắt tay nó th́ nhớ xem lại tay ḿnh c̣n mấy ngón.
CE: Người ta bảo, vào những ngày ấy, có thể thấy bóng dáng của các cố vấn Trung Quốc ở khắp mọi nơi... Điều đó có đúng không, thưa ông... Đă có lúc nào ông có dịp được tiếp xúc với một trong những ngài cố vấn đó không? Cảm tưởng của ông về các ngài như thế nào?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Điều đó không đúng. Cố vấn Trung Quốc có ở cấp Trung ương và ở các Đoàn uỷ Cải cách ruộng đất. Nhưng họ rất ít lang thang ngoài đường để t́m cà phê. Tôi chưa gặp họ ở khắp mọi nơi như bạn hỏi.
CE: H́nh như những người lănh đạo đảng CSVN thích dùng mấy chữ cải cách, cải tạo... Sau cuộc Cải cách Ruộng đất này, theo từng thời kỳ của cách mạng, họ c̣n có những cuộc cải tạo tư sản tư thương ở miền Bắc và miền Nam, cải cách giáo dục, cải cách hành chính, cải cách tiền tệ, lương bổng, cải tạo thanh thiếu niên hư hỏng, cải tạo gái măi dâm, cải tạo bọn chích choác x́ ke, ma tuư... và đặc biệt là cuộc cải tạo hàng triệu sỹ quan và những người đă phục vụ trong chính quyền Sài G̣n trước 1975, ư kiến ông về vấn đề này như thế nào?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Những người cộng sản Việt Nam chỉ thích chữ cải tạo thôi. Mọi thứ cải tạo: cải tạo tư tưởng, cải tạo tư sản, cải tạo công thương nghiệp, tập trung cải tạo... được tiến hành trong sự chủ động. C̣n cải cách th́ họ không thích đâu. Họ cho rằng cải cách không có tính chất cách mạng, triệt để, một thứ cải lương. Người ta phải dùng từ cải cách là khi nào muốn giảm nhẹ trọng lượng chính trị của câu nói. Hoặc một cái ǵ đó chưa đáng để gọi là cải tạo.
CE: Thưa nhà văn Vũ Thư Hiên! Cuộc trao đổi của chúng ta đă hơi dài. V́ thời gian không cho phép, nên xin hỏi ông câu cuối cùng: Xin ông nói một đôi điều tóm lại về bản chất của những cái gọi là cải cách, cải tạo ấy?
Nhà văn Vũ Thư Hiên: Bản chất của cải tạo, cải cách? Nên chăng dùng chữ mục đích? Mọi hành động của Đảng cộng sản bao giờ cũng chỉ nhằm đoạt lấy và giữ cho chặt chính quyền. Bạn thấy đấy: trong bất cứ lĩnh vực nào có nảy sinh mâu thuẫn và đấu tranh th́ Đảng cộng sản đặt ngay vấn đề ai thắng ai? Tất nhiên Đảng cộng sản phải thắng.
CE: Xin cảm ơn ông và chúc ông dồi dào sức khoẻ.
Câu chuyện nhà thơ Hữu Loan
12-04-2009
http://thangmomedia .com/page. php?id=3395
Tôi sinh ra trong một gia đ́nh nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa kô ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền vào Huế hoặc ra Hà Nội học. Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đă 22 tuổi- tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ư định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau, những người cùng thời c̣n nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đ́nh Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và... tôi, Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhăn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ư, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái Thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu Quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi măi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ". Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nh́n thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tṛn xoe như có ánh chớp ấy đă hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài G̣n nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu ấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng th́ cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc th́ vài quả ớt đỏ au, lúc th́ quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn. Những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt...
Có lần tôi kể chuyện "bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm ĺ trong buồn trong, không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào pḥng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đă nói ǵ, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đă nói rất nhiều, đă kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đ̣i tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ư: "Mới ốm dậy c̣n yếu lắm, không đi được đâu". Em không chịu nhất định đ̣i đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi.....
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói ǵ. Bất chợt em nh́n tôi, rồi ngước mắt nh́n ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ ǵ. Bất chợt em hỏi tôi: “Thầy có thích ăn sim không ?”
Tôi nh́n xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, c̣n tôi v́ mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ.... Khi tôi tỉnh dậy, em đă ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. “Thầy ăn đi”. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: “Ngọt quá”.
Như đă nói, tôi sinh ra trong một gia đ́nh nông dân, quả sim đối với chẳng lạ lẫm ǵ, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nh́n em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má th́... tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo măi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nh́n theo. Tôi đi... lên tới bờ đê, nh́n xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi... Tôi quay đầu nh́n lại.... em vẫn đứng yên đó.... Tôi lại đi và nh́n lại đến khi không c̣n nh́n thấy em nữa.....
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đă khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đă có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ....
Chín năm sau, tôi trở lại nhà.... Về Nông Cống t́m em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói ǵ, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không c̣n cô học tṛ Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đă gần 17 tuổi, đă là một cô gái xinh đẹp....
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ v́ hai gia đ́nh không môn đăng hộ đối một chút nào. Măi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm "soạn kịch bản".
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới th́ em gạt đi, không đ̣i may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: "Yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái t́nh bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay... lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đ́nh em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đă đứng. Chỉ có giờ em không c̣n cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu qúy của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nh́n lại... Nếu như chín năm về trước, nh́n lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác th́ lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), v́ muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đă cuốn em vào ḷng nó, cướp đi của tôi người bạn ḷng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không ǵ bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sau thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kính nỗi đau trong ḷng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn.... Dường như càng kèm nén th́ nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự ǵ cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong ḷng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, Tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ ǵ, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh...
...Tôi về không gặp nàng....
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc b́nh hoa ngày cưới làm b́nh hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đă chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chỗ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc xă Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu:
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giă văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng v́ tính tôi "hay căi, thích chống đối, không thể làm ǵ trái với suy nghĩ của tôi". Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch họe đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955-1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân văn Giai phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đang tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ th́ phải có cái tâm thật thiêng liêng th́ thơ mới hay. Thơ hay th́ sống măi. Làm thơ mà không có t́nh, có tâm th́ chả ra ǵ! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao t́nh yêu, tôi khóc người vợ tử tế của ḿnh, người bạn đời hiếm có của ḿnh. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái t́nh cảm riêng.... Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông.... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động? Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến t́nh cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu qúy, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dơi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dơi, cho người hại tôi.... Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đă có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên B́nh quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, v́ vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đă làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch Cải cách Ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954-1955.
Lúc đó tôi c̣n là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không c̣n hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xă thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đ́nh địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu ḷng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng pḥng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm ḷng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đ́nh ông đă bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị “đội phóng tay phát động quần chúng” đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đ́nh ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị “đội phóng tay phát động” đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng c̣n ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đ́nh ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xă đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao v́ trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được h́nh ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
Lúc gần tới xă, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói ḷng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai c̣n sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi c̣n ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no... Cho đến bây giờ cô đă cho tôi 10 người con - 6 trai, 4 gái, và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng th́ làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve văn, mời gia nhập Hội Nhà văn, tôi chẳng thèm ra nhập làm ǵ.
Năm 1988, tôi "tái xuất giang hồ" sau 30 năm tự chôn và bị chôn ḿnh ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đ̣i tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyền bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một h́nh thức bảo tồn tài sản văn hóa. Th́ cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi c̣n 90 triệu, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, pḥng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin kư hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán-/-
Cải cách Ruộng đất qua lời kể của nhà thơ Hữu Loan
Nhạc sĩ Trịnh Hưng 14-03-2006
http://www.vietname xodus.org
Từ một t́nh sử đau buồn trong đó người vợ trẻ bị chết đuối sau đám cưới có bảy ngày, một anh bộ đội vệ quốc quân đă kể cho tôi nỗi đau buồn tê tái của mối t́nh đầu xuất hồn khỏi con tim ra thành bài thơ bất hủ. Chính bài thơ đó đă tạo nên tên tuổi anh. Cô dâu mới vô phúc kia là Lê Đỗ Thị Ninh. Đại tác phẩm thi ca nói trên mang nhan đề “Màu tím Hoa sim” thuộc về nhà thơ Hữu Loan.
Nhà thơ già kể lại cho tôi nghe t́nh sử ấy một cách say sưa với nét mặt hằn vết nhăn tuổi tác như sống lại với kỷ niệm xa xưa cách nay nửa thế kỷ, rồi chua chát mỉm cười hỏi tôi:
- Thỏa măn chưa, chú Hưng?
Tôi trả lời :
- Thưa anh, em thật thỏa măn, v́ đă hơn năm mươi năm rồi mới gặp lại anh, lại được chính anh kể cho nghe về t́nh sử đó. Từ trước tới giờ, không riêng em mà nhiều người từng yêu mến bài thơ “Mầu tím Hoa sim” cũng chỉ hiểu sơ qua lời tâm sự chứ không biết cặn kẽ về cuộc t́nh tuyệt đẹp mà đau buồn đó. Bây giờ, xin anh cho em biết thêm một chuyện khác về cuộc đời riêng của anh từ cuối năm 1952, sau ngày em về Hà Nội.
Khi ấy, với chiến thắng Điện Biên Phủ cùng tái lập ḥa b́nh cho xứ sở, rồi trở về đến thủ đô, lư do ǵ mà anh và anh Quang Dũng, những sĩ quan trung cấp ưu tú và văn nghệ sĩ nổi danh, lại không được nhà nước ưu đăi như đối với các người có công khác. Ngược lại, các anh c̣n bị bỏ rơi, gạt ra khỏi giới nhà văn nhà thơ, bị treo bút và không cho công ăn việc làm. Đến nỗi anh Quang Dũng từ ngày về thủ đô chịu đói khổ, không có được một bữa cơm ăn đơn sơ cho no ḷng. C̣n anh th́ bị trục xuất về quê và c̣n bị quản thúc, không được phép liên hệ với bất cứ ai. Tại sao lại như vậy, thưa anh?
Thi sĩ Hữu Loan lại mỉm cười chua chát bảo tôi;
- Chú muốn biết, anh sẽ kể rơ hết cho chú nghe. Chú, anh chị Trạch, và anh Trần Chánh Thành về Hà Nội, anh nào có hay. Sau đó, anh được anh Quang Dũng cho biết là anh ấy có đi đưa tiễn gia đ́nh chú về Hà Nội. Anh bảo Quang Dũng rằng như thế là may cho anh chị Trạch và anh Trần Chánh Thành, chứ nếu ở lại hậu phương th́ khổ, v́ các anh ấy vốn thuộc giới trí thức làm quan lại cho Tây hồi xưa.
Đến cuối năm 1952 đầu năm 1953, chính phủ ta đi theo đường lối chính sách của Tầu. Đó là rập theo mô h́nh đấu tố của Mao đề ra đang được thi hành bên Tầu. Chúng gửi cố vấn sang Việt Nam, bắt buộc chính phủ ta phải thi hành việc đấu tố như Tầu.
Cố vấn Tầu đưa Trường Chinh lên làm chủ tịch và Hoàng Quốc Việt làm phó, bắt đầu mở màn phát động chiến dịch đấu tố cái mà chúng gọi là “địa chủ cường hào”. Tụi cố vấn Tầu chỉ định đưa bà Nguyễn Thị Năm, tên hiệu là Cát Thành Long chủ một đồn điền lớn ở Thái Nguyên ra đấu tố làm điển h́nh.
Trong quá khứ, bà Cát Thành Long là một phụ nữ rất hiền hậu, yêu nước, thương người. Bà có tiệm ở Hà Nội lấy nhăn hiệu Cát Thành Long và là một nhà giàu nhất nh́ Hà Nội trong thời Pháp thuộc. Chính bà đă nuôi nấng, giấu giếm trong nhà nhiều cán bộ Cộng sản, giúp họ khỏi bị Tây bắt. Trong số cán bộ được bà Cát Thành Long che chở nuôi ăn có cả Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt. Đến khi Việt Minh có chân trong Hội đồng Chính phủ, già Hồ ngầm tổ chức Tuần Lễ Vàng lấy tiền mua súng để thành lập quân đội th́ người ủng hộ nhiều vàng nhất Hà Nội bấy giờ cũng chính là bà Cát Thành Long tức Nguyễn Thị Năm.
Rồi cuối năm 1946 chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Dân thành phố Hà Nội bỏ nhà bỏ cửa đi tản cư khắp trong vùng quê tỉnh nhỏ. Bà Năm cùng gia đ́nh chạy lên Thái Nguyên ở vùng Việt Bắc v́ nơi đó bà có một đồn điền lớn với nhiều tá điền. Những người này được bà Năm quư mến, lại tận t́nh giúp đỡ khi họ gặp khó khăn, và họ cũng đều thương mến kính trọng bà.
Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến, bộ đội phải sống rất vất vả trong nghèo nàn đói khát. Gạo không có mà ăn cho đủ no. Thường thường mỗi bữa mỗi người chỉ được hai miệng bát cơm gạo mục mốc đầy thóc và sạn. Cho nên, nhiều khi bộ đội hành quân qua đồn điền của bà Năm, quân số lên cả tiểu đoàn. Bà mời họ ở lại, sai người nhà mổ ḅ heo, làm gà vịt để bộ đội ăn no cho có sức ra trận đánh Tây. V́ thế bộ đội ở Việt Bắc lúc đó ai cũng thương bà, gọi bà là Mẹ chiến sĩ. Thêm vào đó, bà có hai con trai đều đi bộ đội. Người con lớn làm đến sư đoàn trưởng, người con thứ làm đến trung đoàn trưởng. Cả hai đánh giặc rất hăng.
Ấy thế mà sau này tụi cố vấn Tầu lại bắt Trường Chinh phải đem bà Năm ra đấu tố làm điển h́nh. Tên Trường Chinh quá sợ nên y theo lệnh. Hoàng Quốc Việt c̣n chút lương tâm, viết thư về tŕnh cho HCM hay v́ hắn tin rằng chỉ có già Hồ mới đủ sức can thiệp cứu mạng cho bà Năm mà thôi. Nhưng không ngờ già Hồ làm ngơ khi đọc thư tường tŕnh của hắn, để mặc Trường Chinh mang bà ra đấu tố cho đến chết. Hai con trai bà cũng sợ, không dám về hoặc kiếm cách can thiệp ǵ cả.
Sau khi hoàn thành việc đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, bọn họ phát động phong trào đấu tố toàn tỉnh Thanh Hóa. Từ thành phố đến huyện xuống tới xă thôn, nơi nào cũng có cán bộ đến giải thích kích động hô hào. Biểu ngữ căng đầy đường. Ngày đêm, họ tụ họp các thanh niên nam nữ, thiếu niên, nhi đồng, đi thành từng đoàn, hô to những khẩu hiệu được học thuộc “Hăy giết sạch lũ địa chủ cường hào ác bá!” “Đào tận gốc, trốc tận rễ!” “Cường hào ác bá ra tro!”... Khắp chốn, các đội cán bộ đến lôi dân chúng ra tuyên truyền nhồi sọ những lời vu oan giá họa dùng để áp đặt lên những người bị đem ra đấu tố. Dân chúng kinh hoảng khi thấy đội cán bộ vào làng để học tập việc đấu tố. Quyền hành sinh sát trong tay họ. Dân chúng sợ quá nói với nhau “Nhất Đội, nh́ Trời”! Đội gieo tang tóc, máu đổ thịt rơi, gây kinh hoàng, làm cho từng người dân đêm nằm ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp lo có người trong đội hoặc du kích ŕnh rập bên ngoài nghe trộm.
Nhà thơ ngừng nói, nhấp vài hớp trà, rồi nh́n tôi đăm đăm kể tiếp :
- Lúc đó, anh c̣n là chính trị viên tiểu đoàn. Anh thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Hơn nữa, ḿnh là người có học, hiểu biết luân thường đạo lư, lại có tâm hồn nghệ sĩ, nên anh cảm thấy chán nản quá và không c̣n kính trọng già Hồ cũng như chủ nghĩa Cộng sản nữa. Tuy nhiên, anh đă trót làm đảng viên được mấy năm rồi. Thú thật với chú, lúc đó anh thất vọng vô cùng!
Trong một xă thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa anh ở độ mười lăm cây số, có một gia đ́nh địa chủ rất giầu, nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Ông địa chủ giầu ḷng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Ông thấy bộ đội sư đoàn 301 của anh thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo tới chỗ đóng quân để ủng hộ bộ đội. Anh là Trưởng pḥng Tuyên huấn và Chính trị nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm ḷng tốt của ông ta, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông. Riêng anh rất quư mến và luôn luôn nhớ đến ông.
Thế rồi một hôm anh nghe tin gia đ́nh ông địa chủ ấy bị đội đấu tố mang cả hai vợ chồng ra cho dân đấu tố, sỉ vả, nhục mạ, rồi chôn xuống đất để hở có cái đầu lên thôi. Xong, họ cho trâu kéo bừa qua lại hai cái đầu cho đến chết. Gia đ́nh ông bà địa chủ xấu số chỉ c̣n có một cô con gái mười bảy tuổi được tha chết nhưng bị đội đấu tố đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo. Dă man hơn nữa, chúng c̣n ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm dân chúng cả việc lấy các con cái của địa chủ làm vợ làm chồng.
Anh Hữu Loan chớp chớp đôi mắt nhăn nheo có hai vành mi ướt đỏ đượm mầu thương cảm. Anh mím miệng, nuốt nước bọt cho bớt nghẹn cổ, rồi kể tiếp :
- Biết chuyện thảm thương giáng xuống gia đ́nh ông bà địa chủ mà anh hằng nhớ ơn, anh trở về xă đó xem cô con gái của họ sinh sống ra sao, v́ trước kia anh cũng biết mặt cô ta. Lúc gần tới nơi, may sao anh gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc, đang lom khom t́m lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Anh quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra. Anh lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô bị đấu tố chết ra sao. Cô ta khóc mếu nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hàng ngày cô phải đi mót khoai ăn đỡ đói ḷng, tối về ngủ trong cái miếu hoang; cô rất đói khổ lo lắng, không biết ngày mai c̣n sống hay sẽ chết v́ đói khát!
Anh nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong ḷng vô cùng xúc động. Anh bèn đem cô ta về quê của anh, rồi bất chấp lệnh cấm, anh đă lấy cô ta làm vợ. Cho đến ngày nay, bà ấy đă cho anh mười người con ngoan. Khi xưa, quê anh nghèo, nhà anh cũng nghèo, anh lại c̣n ở trong bộ đội nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no.
Sau khi lấy vợ, anh trở lại đơn vị làm đơn xin bỏ ngũ và trả lại thẻ đảng, rồi về quê luôn không chờ cấp trên có chấp thuận cho anh giải ngũ hay không. Được một năm, vợ anh sinh cho anh một cháu trai rất kháu khỉnh.
Năm 1954 Việt Minh thắng thực dân Pháp. Cuối năm đó, nhà nước bảo Tố Hữu đặt Nguyễn Đ́nh Thi là một văn nô làm chủ tịch hội nhà văn miền Bắc Cộng sản, quy tụ hết nhà văn vào hội. Anh ở dưới quê nhưng Nguyễn Đ́nh Thi cho mời anh lên Hà Nội nhận chức tổng thư kư Hội Nhà văn Bắc Việt. Anh thương vợ con cả năm sống ở nhà quê với mảnh vườn ba trăm thước, nên bàn với vợ anh: “Nhân dịp Hội Nhà văn mời cộng tác, vợ chồng ḿnh lên đó có lương và tiêu chuẩn gạo cũng đỡ khổ hơn là ở quê nhà.” Thế là hai vợ chồng thu xếp lên Hà Nội ngay. Anh thi hành chức vụ tổng thư kư, được cấp một căn nhà nhỏ, được lĩnh gạo cho hai vợ chồng và hai đứa con trai. Hàng tháng, anh c̣n lĩnh số lương khiêm tốn để mua thức ăn.
Sau ít tháng, Tố Hữu ra lệnh cho Nguyễn Đ́nh Thi tổ chức Đại hội Nhà văn toàn thể miền Bắc quy tụ tất cả anh chị em văn nghệ dân sự cũng như quân sự. Tất cả mọi người kéo về Hà Nội họp mặt đầy đủ, ai nấy hồ hởi lắm.
Hội Nhà văn mời hết khách quư trong các ngoại giao đoàn. Anh được chọn làm thư kư ngày Đại hội. Cán bộ đảng và nhân viên chính quyền tới tham dự, có Hồ chủ tịch ra đọc diễn văn khai mạc cho long trọng. Trong bài diễn văn, ông Hồ chú trọng nhất đến trách nhiệm nặng nề của nhà văn lúc đó và vạch ra đường hướng cho anh chị em nhà văn đi theo. Tựu trung, ông muốn đưa ra một chỉ thị...
Nghe anh Hữu Loan kể đến đây, một ư nghĩ nảy ra trong đầu, tôi vội giơ tay ngăn anh lại, rồi ôn tồn nói: “Xin anh vui ḷng kể chi tiết buổi khai mạc Đại hội nhà văn có ông Hồ chủ tọa”.
Anh Hữu Loan bóp trán, rồi chậm răi nói :
- Lúc ông Hồ ra đọc diễn văn khai mạc, ông cúi chào và cám ơn các quan khách, cán bộ đảng cùng nhân viên chính quyền, và các văn nghệ sĩ (mà ông gọi bằng “các chú”). Đọc xong diễn văn, ông nói thêm: “Các chú văn nghệ sĩ hăy nghiêm túc học tập để hoàn thành nhiệm vụ cao cả của ḿnh.” Đoạn ông hỏi: “Ai có ư kiến ǵ th́ cứ mạnh dạn góp lời để bổ túc thêm. Tôi rất hoan nghênh.”
Trong số anh em nghệ sĩ đi họp hôm đó có nhiều vị thuộc loại nhà văn tiền chiến nhiều tuổi hơn hoặc bằng tuổi ông Hồ. Thế mà ông ta cứ ngang nhiên gọi tất cả là “các chú”. Điều này làm anh nổi tự ái và nóng mắt. Anh liền giơ tay lên xin góp ư. Ông Hồ thấy anh xung phong liền đi lại bắt tay anh cười thân mật nói: “Chú có ư kiến ǵ đóng góp, cứ tự nhiên phát biểu để mọi người cùng nghe.” Anh khoanh tay lễ phép cúi đầu: “Dạ thưa Chủ tịch kính mến của dân tộc Việt Nam, tôi được Chủ tịch cho phép đóng góp ư kiến, do vậy tôi xin mạo muội đưa ra một đề nghị nho nhỏ thô sơ, nếu có ǵ sơ suất thất thố xin Chủ tịch rộng ḷng tha thứ cho” - “Không sao. Chú cứ tự nhiên góp ư.” Già Hồ nói.
“Kính thưa Chủ tịch kính mến, tôi thật là vui sướng được chỉ định làm thư kư trong những ngày Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất. Đại hội này là biến cố trọng đại sẽ được ghi vào lịch sử đồng thời cũng là niềm hănh diện cho tất cả anh chị em văn nghệ sĩ khắp nơi được về thủ đô hội họp gặp mặt cùng nhau học tập chuẩn bị cho hướng đi ngày mai như lời dạy bảo của Chủ tịch nói trong bài diễn văn khai mạc. Vinh dự lớn lao cho anh chị em văn nghệ sĩ là được Chủ tịch anh minh kính mến làm chủ tịch danh dự của ngày Đại hội cũng như đọc diễn văn khai mạc trước các quan khách ngoại giao đoàn, các cấp lănh đạo đảng và nhà nước ta mới độc lập và có chủ quyền. Để Chủ tịch giữ trọn vẹn cương vị và tư thế của một vị lănh đạo anh minh có công đuổi được thực dân Pháp giành độc lập cho quốc gia, tôi xin phép Chủ tịch góp một ư kiến thô thiển là xin Chủ tịch hăy gọi các văn nghệ sĩ là “anh chị em văn nghệ sĩ” thay v́ “các chú văn nghệ sĩ”. Bởi v́ đây là ngày trọng đại có đủ quan khách quư hóa chứ không phải là một buổi họp tọa đàm thân mật của văn nghệ sĩ. Nếu ở trong buổi họp thân mật mà Chủ tịch gọi chúng tôi là “các chú” văn nghệ sĩ th́ anh chị em sẽ vui lắm v́ đó là lời thân mật của gia đ́nh văn nghệ.”
Nói xong, anh lễ phép cúi đầu chào Chủ tịch và các quan khách cùng văn nghệ sĩ ngồi dưới. Anh nghe có một vài tiếng vỗ tay. Liền đó, ông Hồ tiến lại bắt tay rồi ôm lấy anh với nụ cười rất xă giao của nhà chính trị. Ông nói: “Tôi thành thật khen chú đă góp ư hay cho tôi. Tôi xin ghi nhận.” Nói xong, để tỏ ra ḿnh là người trên biết ghi nhận lời kẻ dưới, ông Hồ quay lại nói với văn nghệ sĩ cùng quan khách bên dưới: “Kính thưa văn nghệ sĩ, tôi xin thành thật ngợi khen lời góp ư của nhà thơ Hữu Loan, và bây giờ xin anh em ai có ư kiến ǵ hay cứ việc mạnh dạn lên đây phát biểu. Chúng ta là văn nghệ sĩ cần phải nói thẳng nói thật để sáng tác phục vụ cho nhân dân.”
Anh đi xuống bàn thư kư. Khi bước ngang qua hàng ghế đầu, anh liếc nh́n thấy Tố Hữu và Ng. Đ́nh Thi mặt lạnh như tiền, hai cặp mắt nh́n anh không một tí thiện cảm. Anh biết hai ông thầy của anh rất ghét và tức anh, nhưng anh làm lơ về chỗ ngồi tiếp tục nhiệm vụ của ḿnh.
Tiếp theo đó, là phần thảo luận các đề tài trong bài diễn văn của ông Hồ nêu ra. Đến mười hai giờ, mọi người nghỉ đi ăn, chờ buổi chiều bàn tiếp. Anh cũng rời chỗ đi ăn cơm. Khi ra pḥng ngoài, nhiều bạn bè xúm lại bắt tay anh ôm anh và tỏ lời khen ngợi anh can đảm nêu ư kiến rất hay. Tuy nhiên, một số đông nh́n anh bằng cặp mắt không những tỏ ra thiếu thiện cảm mà c̣n khinh khi nữa. Trong số bạn bè yêu mến và ca ngợi anh, có một anh bạn vỗ vai anh bảo nhỏ: “Cậu hay lắm! Nhưng hăy giữ ḿnh thận trọng đó!”
Có những chuyện khác
ông đội Bối chưa kể
Nguyễn Trọng Tân 6-1-2007
http://www.talawas. org
Nhà văn Tô Hoài sinh năm 1920, cùng tuổi với bố tôi. Thời kỳ Cải cách Ruộng đất, nhà văn Tô Hoài, ông đội Tô Hoài đă 33–34; cái tuổi từng trải, cái tuổi ở đỉnh thăng hoa của sức lực, trí tuệ. Là đội phó đội cải cách, chánh ṭa án đội Cải cách Ruộng đất, nhà văn Tô Hoài viết Ba người khác trong thế thượng phong của người trong cuộc, kể những điều trong kư ức, những sự thật lịch sử về một thời kỳ "đặc biệt" trong tiến tŕnh cách mạng Việt Nam – mà lâu nay chẳng ai cấm mà vẫn như cấm viết, cấm nói về nó – thời kỳ tiến hành công cuộc Cải cách Ruộng đất đầy hùng hổ, ngây thơ và cũng để lại bao nhiêu oan nghiệt, kinh hoàng cho nhiều vùng nông thôn miền Bắc VN. Song dường như chưa có một tác phẩm văn học nào nói đích về nó. Ba người khác đă làm việc này. Ở đây tôi thực sự cảm phục cách lựa chọn chi tiết, dẫn dụ câu chuyện làm cho người đọc cảm nhận những câu chuyện cũ một cách đầy mới mẻ, hứng khởi. Ba người khác hấp dẫn, mông lung, lăng mạn, ṭ ṃ, khám phá... nó là tiểu thuyết, nó là hồi kư và nó cũng là sử kư.
Có thể người khác không đồng ư với nỗi hân hoan quá đỗi của tôi, nhưng thực ḷng tôi ngốn ngấu nó trong bốn giờ liên tục với một tâm trạng bới t́m những lời giải về một thời mà chính tôi cũng là một thằng Vó thằng C̣ con bác trưởng thôn Diệc trong Ba người khác. Một lũ trẻ ranh quần thủng đít, tḥ ḷ mũi xanh rồng rắn bám đít ông đội Bối đi xem đấu tố địa chủ.
Hôm nay, nhà văn Tô Hoài, ông đội Tô Hoài bước vào tuổi 87, th́ tôi cũng bước vào tuổi 60, vẫn ôm trong ḷng một mớ hiểu biết hổ lốn, những kỷ niệm đau buồn, uất ức của một đứa bé lên 7 tuổi bị ṿ cuốn trong cơn gió độc địa của Cải cách Ruộng đất ở quê tôi. 7 tuổi nhưng tôi phải khôn trước tuổi v́ cuộc sống nghèo túng lam lũ. Tôi như tờ giấy trắng tinh bị Cải cách Ruộng đất hất một chậu mực đủ gam màu. Thậm chí 7 tuổi tôi đă biết phản ứng, yêu ghét, ngấm ngầm những điều sai đúng của người lớn. Với tôi đó là thời kỳ trái khoáy điêu hớt, nó xăm trổ vào kư ức, t́nh cảm tôi những điều méo mó không xóa đi được.
Bố tôi là đảng viên CS, chủ tịch lâm thời UB Hành chính Kháng chiến xă. Sau Kháng chiến toàn quốc, ông thoát ly thành bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Mẹ tôi một người đàn bà mù chữ, ở nhà làm ruộng nuôi con. Thằng em tôi ba tuổi lúc Cải cách, nó bé quá. Nhà tôi nghèo đến độ, trước đó giặc Pháp đốt làng, chỉ c̣n sót lại có một v́ kèo. Phải gác nhờ cây cái móc vào v́ kèo nhà bên cạnh mới lợp được hai mái rạ che nắng mưa. Măi rồi bố tôi mới dựng được một túp nhà riêng giữa vườn chuối cho ba mẹ con trước khi ông đi thoát ly. Ngày Đội cải cách về, chẳng hiểu cơn cớ làm sao mẹ tôi bị quy là cường hào ác bá (dây mơ dễ má đâu là chỗ ông nội tôi từng làm chân lư trưởng. Ông tôi mất năm 1933, trước ngày Đội cải cách về đúng 20 năm. Đời bố tôi đă là 1 bần cố nghèo rớt mồng tơi, đi theo cách mạng).
Đang là con nít mải ăn mải chơi với trẻ con hàng xóm, lúc rủ nhau chui rào hái trộm ổi xanh, khi lang thang đúc dế ở chân đê, rồi đánh nhau lôi tên cái bố mẹ nhau ra mà chửi dọc đê làng... đùng một cái mẹ lôi hai anh em tôi xuống cái ổ rạ cạnh bếp vừa khóc vừa bảo (cái đũa bếp cháy vẹt một đầu đập đập theo tiếng thổn thức): "Bầm dặn thằng Tân từ hôm nay phải ngồi đóng gông ở nhà trông em. Không được đi chơi đi học nữa. Nếu gặp đám bạn con nhà hàng xóm th́ phải khoanh tay chào bằng ông bà và xưng là con..."
Tôi phụng phịu phản ứng. Mẹ tôi giang tay tát một cái trời giáng vào mặt khiến hai mắt tôi nổ hoa cà hoa cải. Liền đấy bà ôm hai anh em tôi khóc như mưa như gió nói những điều mà tôi không hiểu: "Nhà ta từ nay là gia đ́nh thành phần rồi con ơi..."
Măi sau này tôi mới biết phần nào nỗi oan ức nhục nhă mà bà phải chịu. Cái tát vào mặt tôi cũng thể hiện sự cứng cỏi bà phải có để vượt qua những tháng ngày kinh khiếp và phi lư ấy. Mẹ tôi lấy bố tôi được hơn một năm th́ nổ ra cướp chính quyền. Bố tôi hoạt động bí mật, thỉnh thoảng lại cùng các đồng chí của ông đem súng đạn, lựu đạn về cùng mẹ tôi chôn giấu xuống bên dưới các gốc chuối trong vườn nhà. Khi đủ chuyến các ông áp thuyền vào bến sông ngoài đê, đào vũ khí rồi chuyển lên chiến khu Vạn Thắng (vùng Hạ Ḥa, Phú Thọ ngày nay). Chuyện lớn thế mà cứ kín nhẹm. Năm 1945 giặc Nhật chiếm làng tôi. Chúng bắt dân ra sân đ́nh, thằng quan Nhật giơ cao thanh kiếm bảo là kiếm thần, chỉ cần cắm xuống đất nhà ai sẽ biết có chôn giấu vũ khí hay không. Ai có vũ khí đem nộp được thưởng. Ai cố t́nh chôn giấu, chúng sẽ chém cả nhà. Mẹ tôi thao thức trắng hai đêm. Chuyện kiếm thần khiến bà lo lắng bồn chồn. Chồng không thấy về. Ngoài vườn vẫn c̣n mấy hố đạn chưa đem đi hết. Đêm thứ ba bà lẳng lặng trở dậy, đào từng hố cho vào đôi thùng gánh nước bằng gỗ đem ra sông đổ. May thế nào mới đổ được hai chuyến th́ bố tôi về. Ông nhào xuống sông ṃ lại và đem hết số vũ khí trong vườn đi. Mẹ tôi bảo, nh́n đứa con đỏ hỏn – ấy là anh cả tôi nhưng sau này không nuôi được – nghĩ đến lời thằng sĩ quan Nhật bà chẳng biết phải làm thế nào. Thôi gà mái giữ lấy cái ổ đă. Chuyện ấy may mà sau này Đội cải cách không biết.
Là cường hào ác bá nhưng nhà tôi chẳng đủ gạo ăn. Đă thế c̣n lại cấm quan hệ với anh em, họ hàng cḥm xóm. Đó là nỗi nhục, nỗi uất lớn nhất của mẹ tôi. Bữa cơm chỉ có sắn khô meo mốc luộc lên nhai, nhiều bữa ăn cháo củ chuối... Đêm nào mẹ tôi cũng giật ḿnh thon thót khi bước chân tuần tra của dân quân nện phía ngoài hàng rào. Nhưng cũng có những tiếng động làm giật ḿnh mà bà chờ đợi. Ấy là bà ngoại tôi, các d́ tôi biết ba mẹ con tôi đói nên thỉnh thoảng lại gói khoai lang, bắp ngô, túm gạo... nhằm lúc không có người ném bụp vào trong vườn. Bần cố nông cứ tiếp tế lương thực cho cường hào mấy tháng liền mà không ai biết.
Với tôi ngoài nỗi khổ của mẹ, có lẽ in đậm nhất là tṛ đám cán bộ Đội cải cách nghĩ ra để phá hoại nhà tôi. Ngoài mấy thước ruộng trồng lúa, nhà tôi c̣n có một cây hồng không hạt rất ngon, giống hồng Hạc Tŕ. Cây hồng cổ thụ xum xuê che rợp bóng xuống cả đoạn đê trước nhà. Mùa quả mẹ tôi hái, ngâm vào một dăy nồi đ́nh. Khi ăn được bà đem cho hàng xóm mỗi nhà vài quả, c̣n th́ gánh sang chợ Nhông bên Trung Hà bán. Nh́n trước ngó sau thấy gia đ́nh tôi không có cái ǵ đáng giá để tịch thu, chia quả thực, cán bộ Th., một tên lưu manh mạt hạng, chuyên sờ sẩm quả trứng buồng chuối của xóm giềng được Đội cải cách xâu chuỗi thành rễ cốt cán nghĩ ra tṛ rất ma bùn. Hắn làm hai cái cán cờ thật dài, cho hai tay dân quân cầm đi đầu đoàn mít tinh, đến ngang cây hồng nhà tôi hắn giơ thật cao. Cành hồng nào chạm vào cờ cách mạng hắn hô dân quân lên chặt. Cây hồng quư duy nhất của làng tôi bị chém xơ xác và năm đó nó chết. Bao nhiêu người t́m cách chiết cành, ươm rễ nhưng đều không sống được. Cũng hôm ấy, thấy người đi mít-tinh vui quá, hùng dũng quá, tôi quên thân phận ḿnh, quên lời mẹ dặn, chui rào trốn ra cùng đám bạn bám quanh cán cờ. Mắt tôi cũng long lanh kích động, cũng nắm tay thụi ngược miệng hô: "Đả đảo bọn địa chủ cường hào ác bá"; "Đào tận củ trốc tận rễ bọn trí phú địa hào...". Chợt rễ Th. nh́n thấy tôi. Hắn túm gáy, bẹo tai tôi vặn ngược, lôi xềnh xệch ra mép đê, đạp một cú chí mạng vào ngực tôi miệng chửi: "Đ. mẹ thằng cường hào con. Ai cho mày mó vào cờ cách mạng hả". Tôi lộn mấy ṿng xuống chân đê, trong ḷng vừa hoảng sợ vừa uất ức cực độ. Từ hôm ấy tôi cũng công khai chửi vào mặt bọn con nhà nông dân: "Ông đút b... vào chơi với chúng bay nữa. Ông chỉ chơi với thằng Vựng thằng Khàng thôi". Thằng Vựng con nhà phú nông, thằng Khàng con nhà địa chủ... Đám cường hào, địa chủ con chúng tôi đành tha thẩn chơi với nhau.
Nói cho cùng th́ làng tôi bé teo heo, chỉ biết sống bằng nghề trồng lúa, chẳng có ai đáng mặt để gọi là địa chủ giàu có. Đội cải cách về thấy bảo t́m măi mới được vài nhà dư dật hơn, ngày xưa ông cha có dính dấp tí hàm sắc, đôn lên làm thành phần bóc lột. Không có địa chủ nào đáng bị bắn. Chỉ có hai địa chủ bị đem ra đấu tố giữa chợ, tôi nhớ rất lâu chuyện bà địa chủ Oanh, chính thằng cháu khốn nạn lên xỉa xói, nhổ nước bọt vào mặt bà, giật dứt cái mấm vàng trên tai bà và vu những chuyện không đâu. C̣n lại vài nhà bị gọi là cường hào, phú nông như mẹ tôi h́nh như cho đủ tiêu chuẩn quy định. Các cụ trong làng tôi bây giờ vẫn kể cái cảnh quy địa chủ mà cứ như tṛ đùa. Đội cải cách tập hợp người lại bảo đấu tố, kể khổ truy bức. Có bà Tư toét ở thôn Cao bị quy địa chủ. Nghe thấy tên ḿnh bà ta c̣n đứng dậy cám ơn rồi từ chối: "Nhà cháu một chữ cắn đôi không biết, lại neo lắm, cháu không làm địa chủ được đâu, cháu xin nhường anh thẽm Cửu..." Đại loại cách hiểu về địa chủ cường hào vùng tôi là thế. Đội Cải cách Ruộng đất về làng như một cơn gió độc, cuốn lộn tùng phèo mấy chục nóc nhà giống như mấy chục cái đụn rạ của thôn tôi lên. Măi sau này khi trưởng thành, tôi mới thấy sự tác hại ghê gớm của nó c̣n di họa đến tận ngày nay, đó là sự phá vỡ cái kết cấu chặt chẽ của nông thôn Việt Nam, những mối quan hệ tốt đẹp, tương thân tương ái, hợp lư hợp t́nh của mỗi quần thể sống, như người xưa vẫn dạy: xóm giềng "sớm lửa tối đèn" có nhau. Nguy hại hơn nó c̣n phá vỡ nếp sống tốt đẹp tôn ti trật tự có trên có dưới, cái hạt nhân làm nên tinh hoa văn hóa của mỗi dân tộc, đó là gia đ́nh, cũng như triệt hạ không ít những con người tinh hoa nhất, giỏi giang nhất trong mỗi làng xóm. Và cũng chỉ từ Cải cách Ruộng đất các cụ bảo mới có chuyện con cháu hỗn hào với ông bà cha mẹ, mới có chuyện con chửi cha, vợ lộn chồng như thế.
Rồi cũng sửa sai. Mẹ tôi xuống hàng bần nông. Cái hôm được "giáng chức" ấy, bà lại khóc một trận tơi bời. Khóc như rũ đi cái gánh đời ô nhục vơ với quàng vào cổ bà. Chẳng bóc lột ai, chẳng ân oán với ai nên mối quan hệ cũ cũng b́nh tâm trở lại. Chỉ có tôi là vẫn ngang bướng. Tôi nh́n đám con cái nông dân với ánh mắt khinh bạc. Tôi t́m đủ cớ để gây sự với chúng. Bố tôi nhận ra sự tổn thương trong t́nh cảm của tôi, sự méo mó trong tuổi thơ tôi nên ông đưa tôi về sống ở Hà Nội để cắt đứt với những ám ảnh cũ. Lúc ấy ông đang được giao phụ trách các rạp chiếu bóng Hà Nội của chi nhánh điện ảnh I, chỗ ở chính là 59 phố Cửa Nam, ngay trong rạp chiếu bóng Kinh Đô. Tôi bắt đầu đi học lớp 1 ở trường Lư Thường Kiệt, phố Sinh Từ. Hôm nhập học, bố mẹ tôi cùng đưa đi, tôi chưa quen đi dép, cứ chân đất tôi chen lấn làm dạt đám cậu ấm cô chiêu thơm tho Hà Nội để leo lên ban công tầng hai, ngang với ngọn cây xoan ở quê. Tôi tḥ đầu ra vẫy tay, rối rít gọi toáng lên: “Bầm ơi. Em ở đây mà!”
Cái khăn mỏ quạ của bầm tôi ngúc ngoắc lo tôi ngă. C̣n ánh mắt ngạc nhiên và khinh bỉ của đám học tṛ Hà Nội cũng không làm tôi bớt vui v́ một mảng cuộc đời khác đă đến sau những ngày Cải cách Ruộng đất đầy tối tăm.
Cho đến tận bây giờ tôi chỉ hiểu Cải cách Ruộng đất một cách lơm bơm, thật hư, đậm nhạt như thế. Ba người khác giống như một bộ phim có đầu có cuối giúp tôi giải nghĩa, lắp ghép, xâu chuỗi những mảng c̣n thiếu, những chỗ đứt đoạn, mờ ảo trong cái kư ức c̣n quá non dại thời ấy. Háo hức t́m đọc Ba người khác như t́m lại h́nh bóng của chính ḿnh, những câu chuyện, hoàn cảnh giống gia đ́nh ḿnh. Th́ ra ở đâu cũng vậy, cũng có chuyện nhốn nháo, hàm oan, cũng đĩ bợm, khốn nạn.
C̣n cánh cán bộ đội, những chuỗi, rễ cơ hội lưu manh ở thôn tôi sau này cũng không thấy ai thành người tử tế. Riêng tay đội Xuấn gian ác nhất, người già làng tôi vẫn kể rằng vào một đêm tối trời hắn bị ai đó giết chết treo lên cành gạo cạnh ủy ban xă. Hạ bộ bị cắt, cái của quư nhét vào miệng. Chẳng biết đúng sai đến đâu nhưng rất nhiều thôn khác trong xă cũng nhận hắn là ông Đội của thôn ḿnh – tôi đă lấy những chi tiết này đưa vào truyện ngắn "Trang gia phả viết bằng vôi" – c̣n bao nhiêu điều nữa người làng đồn thổi về các ông đội Cải cách Ruộng đất, tất cả đều kèm theo tiếng thở dài, ai oán.
Nguồn: Phát biểu tại Tọa đàm về tiểu thuyết Ba Người Khác của nhà văn Tô Hoài do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức ngày 22-12-2006
III- DƯỚI MẮT NHỮNG KẺ
CHỦ XƯỚNG VÀ THI HÀNH
Nhận xét về Cải cách
Ruộng đất đợt 5
Hồ Viết Thắng
http://www.talawas. org
Đợt 5 Cải cách Ruộng đất là đợt to nhất từ trước tới nay. Xét về nhiệm vụ và tác dụng của nó, th́ như Trung ương Đảng và Chính phủ (CP) đă nhận định, nó là chiến dịch Điện Biên Phủ chống phong kiến ở miền Bắc. Đối chiếu với các đợt trước, có thể nói đợt này rộng lớn hơn những đợt ấy gộp lại.
Đợt 5 bao trùm một vùng rộng lớn, phức tạp và quan trọng: hầu khắp đồng bằng miền Bắc, gần suốt bờ biển, quanh các thành phố lớn, dọc các đường giao thông chính, khu giới tuyến tạm thời, các vùng tập trung đồng bào công giáo, một vài nơi (thuộc Liên khu 4) có cả đồng bào dân tộc thiểu số. Vùng Cải cách Ruộng đất đợt 5 phần lớn lại là vùng trước bị địch chiếm.
Mặt khác, đợt này làm trong những điều kiện chính trị phức tạp và khẩn trương. Đế quốc Mỹ và tay sai của chúng th́ tăng cường khủng bố ở miền Nam đồng thời t́m mọi cách phá hoại công cuộc Cải cách Ruộng đất và khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa của nước ta ở miền Bắc, ḥng ngăn cản việc thống nhất nước ta. C̣n ta th́ phải xúc tiến thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1956, củng cố quốc pḥng, ǵn giữ an ninh nhằm củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam, giữ vững ḥa b́nh và tiến lên thống nhất nước nhà.
Sau hơn 5 tháng tiến hành đấu tranh khẩn trương và gian khổ, chúng ta có thể nó rằng Cải cách Ruộng đất đợt 5 đă giành được thắng lợi to lớn và căn bản, đồng thời cũng đă phạm những sai lầm và thiếu sót nghiêm trọng.
Thắng lợi to lớn và căn bản
Trong thời gian qua, ta đă phát động được một phong trào nông dân mạnh mẽ. Hơn 6 triệu nông dân lao động, tức là non nửa dân số miền Bắc, đă thoát cảnh lầm than, họ đă giành lại được ruộng đất, đă vươn ḿnh, đă thật sự làm chủ nông thôn. Dinh lũy cuối cùng, kiên cố nhất của thế lực phong kiến ở miền Bắc, một chỗ dựa của đế quốc Mỹ và của bọn phản động miền Nam, đă bị đập tan. Quan hệ sản xuất phong kiến trước đây ràng buộc nông thôn miền Bắc đă bị phá bỏ, mở đường cho nông thôn ta tiến lên. Giải phóng một lực lượng lao động và cách mạng to lớn như vậy, đánh đổ một thế lực hủ bại và phản động như vậy, thật là một thắng lợi to lớn!
Tuy sai lầm và thiếu sót trong đợt 5 thật nghiêm trọng, nó đă hạn chế khá nhiều tác dụng của những thắng lợi đă giành được, nhưng nó không thể phủ nhận thắng lợi ấy. Chúng ta hăy xét về các mặt.
Trong đợt 5, phát động quần chúng nông dân được như thế nào? Đợt này, do ảnh hưởng của những đợt trước, nói chung quần chúng đều thiết tha mong đợi CCRĐ. Khổ nhiều, thù sâu, họ đ̣i hỏi đánh đổ bọn địa chủ và bọn phá hoại đă bóc lột và đàn áp họ. Họ muốn có ruộng và khao khát tự do. Nhưng đồng thời họ cũng có rất nhiều lo lắng. Sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, nay lại bị thiên tai liên tiếp và những sự phá hoại của địch, đời sống của họ c̣n nhiều khó khăn chật vật, họ rất lo về sinh kế trước mắt. Đối với các chính sách của Đảng và CP, v́ không phổ biến sâu rộng trong nhân dân và v́ địch cố xuyên tạc phá hoại, nên quần chúng cũng có nhiều thắc mắc. Đồng bào Công giáo th́ lo “mất cha, mất đạo”. Người trước đi ngụy quân, làm ngụy quyền, hoặc có tên trong các tổ chức khác của địch, th́ sợ bị trừng trị. Nhà có người đi Nam sợ “bị liên lụy”. Rất nhiều người sợ bị “liên quan” với địa chủ, đế quốc và phản động. Địch lại ra sức uy hiếp và mua chuộc, do đó trong quần chúng có nhiều người sợ địch. Trong t́nh h́nh ấy, làm thế nào phát động được tư tưởng của quần chúng, khiến họ tự nguyện, tự giác tổ chức nhau lại, vùng lên đấu tranh kiên quyết, đó là một khó khăn lớn mà ta đă khắc phục được. Đương nhiên, trong đợt này c̣n nhiều người chưa được phát động đầy đủ; có lúc, do địch phá và do ta làm sai, nhiều nơi quần chúng đă hoang mang, kém đoàn kết. Nhưng nói chung quần chúng nông dân đă thật sự vươn ḿnh mạnh mẽ.
Về mặt đánh đổ giai cấp địa chủ và trừng trị bọn phá hoại hiện hành, ta cũng thu được những thành tích đáng kể. Khi mở đầu đợt 5, ở hầu hết địa bàn của đợt, thế lực giai cấp địa chủ c̣n khá mạnh. Nhất là ở 640 xă chưa qua giảm tô, uy quyền của chúng chưa hề bị đả kích. Trong chiến tranh, chúng đă giết, cướp, phá và bóc lột nông dân vô cùng tàn khốc. Có những tên như Nguyễn Đức Chiêm (Thái B́nh) đă tự tay giết, bố trí giết và làm bị thương 98 người, tên Nguyễn Văn Đức (Thái B́nh) chiếm hữu ruộng đất trên phạm vi 17 xă thuộc 4 huyện. Đến Cải cách Ruộng đất, chúng càng ráo riết phá hoại. Phá hoại của chúng phần nhiều đều có chuẩn bị, có tổ chức. Tính chất trắng trợn và thâm hiểm cũng nặng hơn các đợt trước: giết người, đốt nhà, phá của, bố trí tay chân, giả tạo tổ chức, bày đặt vụ án, tuyên truyền xuyên tạc, lôi kéo nông dân vào ṿng tội ác, v.v… Đợt này, cán bộ ta bị hy sinh đến 18 đồng chí. Trong t́nh h́nh ấy, t́m ra và đánh đổ được giai cấp địa chủ, và trừng trị được bọn phá hoại hiện hành, cũng là một khó khăn lớn mà ta đă khắc phục được. Trong đợt này cũng c̣n để lọt một số địa chủ; có nơi quy sai một số người thành địa chủ; việc phân hóa giai cấp địa chủ ở một số nơi không được chú trọng. Nhưng nói chung, giai cấp địa chủ đă bị vạch mặt, uy thế của chúng đă bị đập tan. Bọn cường hào gian ác và bọn đầu sỏ phá hoại hiện hành bị trừng trị đích đáng.
Trên cơ sở phát động quần chúng, đánh đổ địa chủ, trừng trị bọn phá hoại hiện hành, các việc chia ruộng đất, thực hiện kế hoạch Nhà nước, chỉnh đốn tổ chức đă được xúc tiến.
Quyền chiếm hữu ruộng đất phong kiến bị xóa bỏ vĩnh viễn. Khẩu hiệu “người cày có ruộng” của Đảng được thực hiện. 376.722 éc-ta ruộng đất (tức là 45% tổng số ruộng đất của vùng Cải cách Ruộng đất đợt 5), 40.716 con trâu ḅ, 1.138.478 nông cụ và 9.717 tấn lương thực của giai cấp địa chủ đă đem chia cho 1.325.019 hộ gồm 4.619.165 nhân khẩu nông dân và lao động khác (82,7% tổng số nhân khẩu nông dân lao động). Yêu cầu thiết tha nhất của nông dân đă được thỏa măn. Ví dụ: ở Tả ngạn, mỗi cố nông đă có 4 sào, mỗi bần nông 4 sào 2 thước trong khi mỗi trung nông có 4 sào 12 thước. Những bần cố nông trước đây không tấc đất cắm dùi hoặc thiếu ruộng, quanh năm lĩnh canh, cày thuê cuốc mướn, sỗng lam lũ tối tăm, luôn luôn bị đói rét, nợ nần, roi vọt và chết chóc đe dọa, ngày nay đă nghiễm nhiên trở thành chủ nhân chính đáng của đồng ruộng. Họ bắt đầu bước vào cuộc đời mới.
Do nông dân (ND) và đồng ruộng được giải phóng, trong nông nghiệp ta đă có một lực lượng sản xuất to lớn. Vựa thóc của đồng bằng miền Bắc bắt đầu có điều kiện căn bản để khôi phục và phát triển mạnh mẽ. Dưới sự lănh đạo của Đảng và Chính phủ, kết hợp với đợt 5 Cải cách Ruộng đất, kế hoạch Nhà nước được tích cực thực hiện. Tuy bận đấu tranh và phong trào gặp nhiều khó khăn, nông dân vùng Cải cách Ruộng đất đợt này đă ra sức chống hạn, cứu băo, sửa mặn, tháo úng. Riêng ở địa phương thuộc vùng công tác của 29 đoàn (trong số 32 đoàn), đă cấy chiêm vượt mức kế hoạch 2,18%, ngô vượt 3,92%, khoai vượt 68,80%. Ở Tả ngạn, chiêm vượt 2,95% về diện tích và lúa tốt hơn tất cả mọi vụ trước. Ở vùng Cải cách Ruộng đất đợt 5 thuộc Liên khu 3, lúa chiêm vượt 4% về diện tích và 7% về thu hoạch. Phong trào b́nh dân học vụ cũng lên mạnh. 14 đoàn đă mở 8.036 lớp sơ cấp gồm 130.148 người học, 4.032 lớp dự bị với 66.817 người.
Về chỉnh đốn tổ chức, đă phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Một số khá đông cán bộ và đảng viên bị xử trí oan hoặc quá nặng, tác dụng giáo dục trong công tác chỉnh đốn tổ chức bị hạn chế, do đó ảnh hưởng đến sự đoàn kết trong Đảng và sự liên hệ giữa Đảng với quần chúng, làm tổn thương một phần lực lượng cách mạng ở nông thôn. Nhưng cũng cần nhận rơ là cơ sở tổ chức của Đảng, chính quyền, nông hội ở xă căn bản đă được trong sạch, được bổ sung bằng những người tốt mới nảy ra trong phong trào; ở những nơi chưa có cơ sở hoặc có cơ sở hoặc có nhưng bị địch phá trong thời kỳ bị chiếm, chúng ta đă lập lại cơ sở mới. Trước đây, kể cả những nơi đă qua giảm tô, t́nh h́nh các tổ chức cơ sở của ta ở xă nói chung là phức tạp, nhiều nơi lại phức tạp nghiêm trọng, ở vùng trước bị chiếm nói chung th́ phức tạp hơn vùng tự do cũ. Nhưng bây giờ ủy ban hành chính, công an, du kích đă được chấn chỉnh trong sạch hơn trước. Hơn 38% nông dân lao động đă được tổ chức vào Nông hội. Miền biển có Hội những người đánh cá. Các chi bộ Đảng cũng có thanh trừ được những phần tử bóc lột và một số phản động trá h́nh lén lút vào trong Đảng, kết nạp thêm được 15.019 đảng viên nông dân tốt. 100 chi bộ mới được xây dựng ở những vùng cơ sở trắng. Tóm lại, ND lao động đă thật sự nắm lấy các tổ chức của ḿnh, nền chuyên chính dân chủ nhân dân ở xă đă được bước đầu củng cố, vai tṛ của bần cố nông ở nông thôn đă bước đầu được xác định.
Xét các mặt trên, chúng ta có thể khẳng định rằng mặc dù có nhiều sai lầm, đợt 5 Cải cách Ruộng đất đất cũng đă tạo được những nhân tố tốt đảm bảo cho sự phát triển của nông thôn sau này. Với thời gian, do sự lănh đạo của Đảng, những nhân tố đó sẽ có thể phát huy mạnh mẽ tác dụng của nó.
Những sai lầm, thiếu sót nghiêm trọng
Thắng lợi của đợt 5 cải cách ruộng đất sẽ rất to lớn nếu không có những sai lầm thiếu sót nghiêm trọng đáng tiếc. Khuyết điểm căn bản của đợt này là anh chị em cán bộ, trước hết là các cán bộ lănh đạo, không đánh giá đúng t́nh h́nh nước ta và địch, không nắm vững phương châm chính sách của Đảng ở nông thôn trong cải cách ruộng đất. Về phát động quần chúng, phổ biến là không làm đúng đường lối của Đảng ở nông thôn, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, do đó đă ảnh hưởng không tốt đến việc xây dựng mặt trận chống phong kiến rộng răi ở nông thôn.
Đối với giai cấp địa chủ, có khi thiếu phân biệt, không chiếu cố đúng mức những người đáng chiếu cố, kém phân hóa cao độ hàng ngũ của chúng trong khi cần cô lập và đánh mạnh vào bọn cường hào gian ác. Về trấn áp bọn phá hoại hiện hành, th́ ta đă kiên quyết trừng trị bọn đầu sỏ, nhưng ít phân biệt trong khi xử lư những tay chân của chúng, có lúc lẫn lộn những người lầm đường hoặc bị cưỡng bức theo địch với bọn cố ư, nên trong thực tế đă coi thường việc tranh thủ giáo dục những người cần tranh thủ giáo dục, làm cho diện xử trí quá rộng, gây t́nh trạng căng thẳng ở nông thôn.
Về chỉnh đốn tổ chức th́ không nắm vững phương châm kiên quyết và thận trọng, thành kiến với tổ chức cũ và đảng viên cũ, không những không dựa và bồi dưỡng người tốt, thậm chí c̣n đả kích cả một số người tốt; coi nhẹ việc tranh thủ và giáo dục người kém, cho nên xử trí quá nặng, có khi oan uổng; đối với những phần tử xấu, tuy thái độ kiên quyết, nhưng lại thiếu tranh thủ cải tạo.
Tóm lại, không thấu suốt phương châm đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ, trung lập mọi lực lượng có thể trung lập. Nhiều lúc ta đă làm trái hẳn lại phương châm chính sách của Đảng, do đó đă mắc những sai lầm nghiêm trọng, rơ rệt nhất là trong việc đánh địch và chỉnh đốn tổ chức. Có thể nói là có những lúc ta đă thoát ly quần chúng, thậm chí c̣n đả kích nhằm vào nông dân, đảng viên và cán bộ tốt nữa. Những tổn thất ấy thật là thấm thía cho chúng ta.
Trong một thời gian, những sai lầm trên đây đă có tính chất phổ biến trong đợt 5. Cũng có những sai lầm đă bắt đầu nảy ra từ các đợt giảm tô và CCRĐ trước đây. Sai lầm đă làm giảm bớt khá nhiều thắng lợi của phong trào quần chúng. Những sai lầm đó đă bắt đầu được sửa chữa từ 3 tháng nay và hiện đang được tiếp tục sửa chữa.
Nguồn gốc của những sai lầm rất phức tạp. Một phần do địch phá hoại kịch liệt. Một phần do lập trường và tư tưởng của cán bộ chưa vững, lại thiếu kinh nghiệm đánh địch. Nhưng chủ yếu là do sự lănh đạo sai lầm và thiếu sót của Ủy ban Cải cách Ruộng đất trung ương.
Hội nghị các bí thư Đoàn ủy tháng 6 năm 1956 đă sơ kết đợt 5 và bước đầu kiểm điểm sự lănh đạo trong phong trào phát động quần chúng giảm tô và Cải cách Ruộng đất nói chung. Hội nghị cán bộ tháng 7 năm 1956 lại kiểm điểm thêm về Cải cách Ruộng đất đợt này. Hiện nay, chúng ta có thể bước đầu rút ra một số kinh nghiệm về lănh đạo Cải cách Ruộng đất để làm bài học từ nay về sau.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là chân lư phổ biến, nhưng nghệ thuật của lănh đạo là ở chỗ biết kết hợp nó với thực tiễn cách mạng của nước ta. Do đó, ta cần luôn luôn học tập lư luận Mác-Lênin, đồng thời điều tra nghiên cứu kỹ càng t́nh h́nh thực tế của ta. Trong công tác, một mặt phải nắm vững nguyên tắc cứng rắn của đường lối chính sách chung, mặt khác lại phải biết áp dụng đường lối chính sách ấy một cách linh hoạt, thích hợp với hoàn cảnh từng nơi từng lúc.
Theo quan điểm Mác-Lênin, lănh đạo đúng là định ra đường lối chính sách đúng, tổ chức việc chấp hành đúng đường lối chính sách ấy, và kiểm tra đúng việc chấp hành đó. Muốn bảo đảm được sự lănh đạo đúng, Đảng cần luôn luôn nâng cao công tác tư tưởng, thực hành lănh đạo tập thể, và đi đúng đường lối quần chúng. Trong việc lănh đạo, thường xuyên phải điều tra nghiên cứu và theo sát t́nh h́nh, nắm vững trọng tâm công tác, làm việc có kế hoạch, tổng kết kinh nghiệm, phê b́nh và tự phê b́nh. Những việc này cần làm trong mọi mặt lănh đạo của Đảng, về tư tưởng, chính sách cũng như về tổ chức.
Dưới ánh sáng của những luận điểm trên đây, việc kiểm điểm đợt 5 Cải cách Ruộng đất đă cho thấy rơ một số điều sai và một số điều đúng trong lề lối lănh đạo của ta từ trước đến nay.
Điều nổi bật nhất là: qua cuộc vận động quần chúng, ta đă bước đầu và tương đối nắm được t́nh h́nh phức tạp và luôn luôn biến động của nông thôn hiện nay. Vào vùng mới giải phóng, ta đă kịp thời nêu rơ những đặc điểm của vùng này so với những vùng tự do cũ. Do đó, đă có những cải tiến trong kế hoạch và phương pháp phát động quần chúng đánh địch, có cả những bổ sung trong chính sách cụ thể. Nhưng về mặt nhận định t́nh h́nh, c̣n nhiều sai lệch, đôi lúc sai lệch nghiêm trọng; chủ yếu trong thời gian qua là: đánh giá địch quá cao, thiếu tỉnh táo, việc ǵ không hay xẩy ra cũng cho là địch phá, tổ chức nào cũng cho là “địch lũng đoạn” hoặc là “tổ chức của địch lồng vào”; mặt khác th́ đánh giá ta quá thấp, cho rằng trong vùng địch chiếm cũ, quần chúng quá lạc hậu, Đảng cũng không có chi bộ nào là tốt, và những đảng viên và chi bộ c̣n lại ngày nay ở địa phương không phải là những người và những tổ chức đă từng lănh đạo nhân dân đấu tranh chống địch trước đây, mà đều là xấu cả. Chính do đánh giá không đúng t́nh h́nh về địch, nên đă làm cho một số đông cán bộ từ chỗ rón rén đến chỗ làm ẩu, trước th́ kiên nhẫn ba cùng phát động tư tưởng quần chúng, sau th́ sinh nghi ngờ quần chúng, có lúc đă sốt ruột phạm vào truy bức, mớm cung, bắt bừa, xử ẩu, làm cho t́nh h́nh nông thôn quá căng thẳng. Trong lúc đó, vẫn có những tên địch thoát được lưới, thọc tay phá hoại, gây thêm rối loạn. Đó là do trong phương pháp lănh đạo và công tác, ta đă phạm vào chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa duy tâm, chưa thật xuất phát từ thực tế, thiếu điều tra nghiên cứu một cách toàn diện, có khi ta đă lấy những thực tế cục bộ, thậm chí là những “điển h́nh” đặc biệt xấu, để làm căn cứ kết luận chung.
Về lănh đạo tư tưởng, trong CCRĐ, nói chung ta đă tương đối thấy rơ tư tưởng cán bộ, tư tưởng quần chúng và cả tư tưởng của địch. Do đó, so với trước th́ ta đă tăng cường việc tuyên truyền giáo dục chính sách trong nhân dân; trước và sau mỗi đợt công tác đều có tổ chức học tập chính sách, kế hoạch, tổng kết kinh nghiệm và chỉnh huấn tư tưởng cho cán bộ. Nhưng trong đợt này, một lối lănh đạo tư tưởng sai lẻ tẻ của các đợt trước, tức là lối nhấn mạnh một chiều việc chống hữu khuynh, đă biến thành cách làm phổ biến, do đó đă gây ra tai hại.
Từ hội nghị lần thứ 7 (tháng 3 năm 1955), Trung ương đă nêu rơ phương châm đấu tranh tư tưởng của ta hiện nay là “đấu tranh trên hai mặt trận hữu và tả”, song chống hữu khuynh là chính, và trong khi chống hữu, phải đề pḥng cán bộ lệch sang “tả”. Nhưng trong Cải cách Ruộng đất đợt này, cơ quan lănh đạo Cải cách Ruộng đất thường nhấn mạnh chống hữu, và hầu như quên việc đề pḥng cán bộ lệch sang “tả”. Nhất là thường chỉ “đả thông” tư tưởng chung chung theo lối “chụp mũ”, cái ǵ cũng gán ép cho là “hữu khuynh”, ít phân tích cụ thể. Do đó, nhiều cán bộ các đội, các đoàn, và cả một số cán bộ khu, luôn luôn sợ ḿnh “hữu khuynh”, và nẩy ra tư tưởng “thà tả c̣n hơn hữu”!
Về lănh đạo chính sách, qua CCRĐ, Đảng ta đă bổ sung được nhiều vấn đề cụ thể thích hợp với vùng mới giải phóng, vùng Công giáo, miền biển, những nơi quanh đô thị, v.v… Nhưng đợt này, đối với việc trấn áp bọn phá hoại hiện hành, việc chỉnh đốn tổ chức vùng mới giải phóng, th́ trong chính sách c̣n nhiều vấn đề chưa cụ thể. Trong khi chỉ đạo công tác, có những vấn đề giải quyết thiếu thận trọng hoặc đề ra yêu cầu không thực tế. Đặc biệt trong đợt này, việc trấn áp bọn phá hoại hiện hành là một nhiệm vụ mới, phải kết hợp làm tốt trong CCRĐ, đề ra như thế là đúng, nhưng tiếc rằng yêu cầu, phương châm, phương pháp, chính sách, kế hoạch không được cụ thể. Thêm vào đó, một số cán bộ lănh đạo thường dùng lối mệnh lệnh để ép buộc cấp dưới phải t́m cho ra phản động, cho nên xảy ra t́nh trạng trấn áp tràn lan.
Về lănh đạo tổ chức, đợt này phạm phải một khuyết điểm lớn, là trên nhận thức th́ ta thấy đợt 5 là chiến dịch Điện Biên Phủ chống phong kiến, nhưng về tổ chức th́ không tăng cường lực lượng, lănh đạo lại yếu, kiểm tra thiếu sót, làm việc thiếu dân chủ và tập thể. Trong đợt 5 này, Ủy ban Cải cách Ruộng đất trung ương và các Đoàn ủy thiếu theo dơi sát, không chú trọng thu thập ư kiến của quần chúng và cán bộ, thiếu điều tra nghiên cứu và tổng hợp đầy đủ t́nh h́nh thực tế, họp không đều và thiếu bàn bạc cụ thể. Có khi gặp vấn đề lớn, cũng chỉ đồng ư nhau chung chung trên nét lớn, c̣n chính sách và kế hoạch cụ thể th́ lại do cá nhân quyết định.
Sửa chữa sai lầm, phát huy thành tích
Nhiệm vụ trước mắt của ta hiện nay là phải tích cực tiếp tục sửa chữa những sai lầm đă mắc phải, nhằm ổn định nông thôn, đoàn kết nhân dân, đoàn kết cán bộ, đẩy mạnh sản xuất, do đó phát huy các thành tích đă giành được trong đợt 5 Cải cách Ruộng đất.
Trước hết cần thống nhất tư tưởng, đánh giá đúng thành tích và khuyết điểm của đợt 5. Trên cơ sở đó, giải quyết những vấn đề c̣n lại để mở rộng thắng lợi của Cải cách Ruộng đất.
Sửa chữa phải có kế hoạch. Việc ǵ sửa chữa được ngay th́ phải làm ngay. Việc ǵ chưa sửa được ngay th́ phải kết hợp trong kiểm tra lại Cải cách Ruộng đất mà tiến hành. Cần chú trọng việc khôi phục những cán bộ, đảng viên tốt và nhân dân bị xử trí nhầm, sửa lại thành phần giai cấp cho những người bị quy sai, điều chỉnh lại diện tích và sản lượng ruộng đất ở những nơi đă lên quá mức, thực hiện đúng chính sách liên hiệp phú nông, chú ư đúng mức những gia đ́nh địa chủ đáng chiếu cố, v.v…
Hiện nay cần ngăn ngừa hai chiều hướng tư tưởng sai lệch: một là vẫn c̣n chủ quan tự măn, chỉ thấy thành tích, không thấy sai lầm; không chịu thành khẩn tiếp thu phê b́nh, không quyết tâm sửa chữa sai lầm khuyết điểm hoặc sửa chữa một cách chiếu lệ; hai là bi quan tiêu cực, chỉ thấy sai lầm, không thấy thành tích, thành ra mất tỉnh táo, mất tự tin, dễ phạm những sai lầm nghiêm trọng mới trong việc sửa chữa.
Cần động viên cán bộ, phát huy ưu điểm của anh chị em, đồng thời phải phân tích rơ sai lầm, vạch rơ nguyên nhân và tác hại của nó, và bàn bạc cụ thể cách sửa chữa. Giúp cán bộ giải quyết 3 khuynh hướng không đúng sau đây: một là v́ sĩ diện cá nhân, v́ sợ kỷ luật, nên không dám phát hiện sai lầm khuyết điểm, không kiên quyết sửa chữa; hai là v́ không thấu suốt tinh thần chỉ thị của cấp trên, ngại khó ngại khổ, không chịu đi sâu xem xét nghiên cứu, nên lại lệch từ “tả” sang hữu; ba là sửa chữa không có lănh đạo, không có kiểm tra, đi đến chỗ sửa cả cái đúng.
Trước đây, ta đánh giá địch quá cao, do đó cán bộ sinh ra thiếu tỉnh tảo, đi đến truy bức, đánh địch một cách lung tung, do đó sai lầm lớn. Nhưng nếu ngày nay ta lại đánh giá lực lượng địch quá thấp th́ cũng là sai lầm lớn, nó có thể đưa ta đến chỗ tê liệt cảnh giác, dễ bị địch lợi dụng phá hoại.
Trước đây, ta vơ đũa cả nắm, cho ở đâu chi bộ cũng xấu, cũng phức tạp nghiêm trọng, cũng bị “địch lũng đoạn” hoặc “địch lồng vào”, do đó mà mù quáng đả kích vào chi bộ tốt đảng viên tốt, đó là sai lầm lớn. Nhưng nếu ngày nay ta không nhận rơ chi bộ nông thôn nói chung phức tạp và có nơi phức tạp nghiêm trọng, th́ có thể phạm sai lầm như khôi phục đảng tịch cho những phần tử xấu.
Trước đây ta chủ quan tự măn cho rằng phong trào Cải cách Ruộng đất không có sai lầm, khuyết điểm ǵ đáng kể, do đó không chịu nghe những ư kiến đúng của cán bộ và lời phê b́nh đúng của người ngoài Đảng, không kịp thời ngăn chặn những sai lầm, khuyết điểm tai hại, đó là sai lầm lớn. Nhưng nếu ngày nay lại sinh ra bi quan, để ảnh hưởng đến việc tích cực sửa chữa khuyết điểm và phát huy thắng lợi th́ cũng có hại.
Trên cơ sở sửa chữa tốt những sai lầm, khuyết điểm, chúng ta cần tiến hành tổng kết kinh nghiệm mấy đợt kiểm tra Cải cách Ruộng đất, để chuẩn bị phương châm, chính sách, kế hoạch đầy đủ cho việc mở rộng phong trào kiểm tra lại Cải cách Ruộng đất, giải quyết nốt những vấn đề c̣n lại, kết thúc tốt cuộc vận động CCRĐ, đặng chuyển mạnh sang cuộc vận động tương trợ hợp tác, đẩy tới sản xuất nông nghiệp.
CCRĐ là một cuộc đấu tranh giai cấp lớn lao, gay go và phức tạp. Nó là một cuộc cách mạng long trời lở đất. Nhưng dưới sự lănh đạo của Đảng và Chính phủ, hàng triệu nông dân hăng hái đấu tranh, các tầng lớp nhân dân nhiệt liệt ủng hộ, hàng vạn cán bộ tận tụy công tác. Cho nên, năm đợt Cải cách Ruộng đất đă thu được những thắng lợi to lớn. Tiếc rằng trong đợt 5, ta lại mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng, gây ra những chấn động có hại. Mỗi một đồng chí chúng ta cần nghiên cứu những bài học kinh nghiệm thấm thía rút được trong đợt 5, ra sức góp phần sửa chữa sai lầm, khắc phục khó khăn và phát huy ưu điểm, làm cho nông thôn dân chủ của chúng ta tươi vui và phồn thịnh. Được như thế th́ ta sẽ có một cơ sở tốt để tiến lên giành những thắng lợi mới to lớn hơn trong sự nghiệp xây dựng ḥa b́nh và thống nhất Tổ quốc.
Nguồn: Học Tập, tạp chí lư luận và chính trị của Đảng Lao động Việt Nam, số 8, tháng 7/1956, tr. 7-14. Bản điện tử do talawas thực hiện.
Sửa sai và tiến lên
Trường Chinh
http://www.talawas. org
Chúng ta vừa căn bản hoàn thành CCRĐ ở miền Bắc, nhưng đồng thời cũng vừa phạm những sai lầm nghiêm trọng trong công tác Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Những sai lầm ấy đă được Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng phê phán một cách sâu sắc.
Trong bài này, để giải thích thêm về tinh thần nghị quyết của Hội nghị Trung ương, tôi sẽ tŕnh bày một số ư kiến, góp vào việc đánh giá công tác Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, nhận định về tính chất những khuyết điểm sai lầm của ta trong các công tác ấy, bàn về nguyên nhân sai lầm và trách nhiệm, đồng thời rút ra mấy bài học kinh nghiệm lớn trong vấn đề này và giúp cán bộ, đảng viên chúng ta nhận rơ nhiệm vụ trung tâm đột xuất của Đảng hiện nay là sửa sai và tiến lên.
Nhiệm vụ cách mạng phản phong kiến đă căn bản hoàn thành ở miền Bắc
Cách mạng dân tộc-dân chủ nhân dân của ta có hai nhiệm vụ chiến lược: - đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, - xóa bỏ chế độ phong kiến.
Đế quốc và phong kiến là hai lực lượng phản động nhất câu kết với nhau để thống trị Việt Nam đă hơn 80 năm. Chính bọn phong kiến nhà Nguyễn bán nước cho đế quốc Pháp, và sau khi đế quốc Pháp chiếm nước ta, chúng đă biến thành ngụy quyền, làm tay sai cho đế quốc. Đế quốc dùng phong kiến làm chỗ dựa để xâm lược Việt Nam, phong kiến Việt Nam ôm chân đế quốc để duy tŕ quyền lợi ích kỷ. Tập đoàn thống trị nhà Nguyễn trước đây nói chung tiêu biểu cho giai cấp địa chủ phong kiến phản dân tộc. Chính quyền Ngô Đ́nh Diệm ở miền Nam hiện nay đại biểu cho tầng lớp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản thân Mỹ, hiện đang phá hoại thống nhất Việt Nam, ḥng biến miền Nam nước ta thành một thứ thuộc địa và căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ. Đế quốc và phong kiến là hai đối tượng chính của cách mạng Việt Nam, hai kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam.
Muốn đánh đổ đế quốc phải đồng thời đánh đổ phong kiến. Ngược lại, muốn đánh đổ phong kiến phải đồng thời đánh đổ đế quốc. Hai nhiệm vụ phản đế và phản phong kiến không thể tách rời.
Cách mạng dân tộc-dân chủ nhân dân của ta là một cuộc cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến, một cuộc cách mạng của quần chúng nhân dân đông đảo, nghĩa là của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc và những nhân sĩ dân chủ, thân sĩ yêu nước do giai cấp công nhân lănh đạo, dựa trên cơ sở công nông liên minh. Mục đích của cuộc cách mạng đó là giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển dân chủ nhân dân, tạo điều kiện tiến tới chủ nghĩa xă hội.
Cách mạng tháng Tám và kháng chiến đánh đổ đế quốc ở miền Bắc và làm yếu thế lực phong kiến ở nước ta. Cải cách Ruộng đất đánh đổ giai cấp địa chủ và xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất ở miền Bắc. Cách mạng tháng Tám giành được chính quyền nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. Kháng chiến thắng lợi tiêu diệt lực lượng đế quốc và ngụy quyền ở miền Bắc, hoàn toàn giải phóng một nửa nước ta. Cải cách Ruộng đất tiếp tục nhiệm vụ cách mạng phản phong kiến của nhân dân ta từ trước đến nay, đánh đổ giai cấp địa chủ ở miền Bắc đưa nông dân lên làm chủ thật sự ở nông thôn, thực hiện người cày có ruộng. Đó là những thắng lợi về chiến lược, thắng lợi của quần chúng nhân dân nước ta đấu tranh gian khổ và anh dũng trong bao nhiêu năm dưới sự lănh đạo của Đảng. Đạt được những thắng lợi đó tức là hoàn thành nhiệm vụ chiến lược của cách mạng dân tộc-dân chủ nhân dân ở miền Bắc.
Lực lượng cách mạng ở nước ta là nhân dân mà 87% là nông dân. Sự nghiệp dân tộc giải phóng muốn thành công, kháng chiến muốn thắng lợi, chủ yếu phải dựa vào nông dân. “Thực chất của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân”. Nông dân trực tiếp bị giai cấp địa chủ phong kiến áp bức bóc lột. Cơ sở của phong kiến ở nước ta là chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, nó làm cho tuyệt đại đa số nhân dân nước ta là nông dân khổ cực, đồng thời ḱm hăm nông nghiệp, cản trở công thương nghiệp nước ta phát triển, giữ nước ta ở tŕnh độ nông nghiệp lạc hậu, không tiến lên tŕnh độ công nghiệp hóa hiện đại được. V́ vậy mà nước ta nghèo, dân ta khổ. Cho nên Cải cách Ruộng đất nhằm đánh đổ giai cấp địa chủ, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất là chính nghĩa, là nhân đạo. Cách mạng tháng Tám, Kháng chiến trường kỳ và Cải cách Ruộng đất là ba sự kiện lịch sử lớn nhất của nước ta trong ṿng mười một năm nay. Nó quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng dân tộc-dân chủ nhân dân ở miền Bắc nước ta.
Với Cải cách Ruộng đất căn bản hoàn thành ở miền Bắc, nhiệm vụ cách mạng phản phong kiến ở miền Bắc cũng căn bản hoàn thành.
Những sai lầm của phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất nghiêm trọng, nhưng không có nghĩa là chủ trương Cải cách Ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam và của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa là sai. Những sai lầm ấy hạn chế thắng lợi của sự nghiệp cách mạng phản phong kiến ở miền Bắc chứ không xóa bỏ thắng lợi đó.
Phát động quần chúng để thực hiện Cải cách Ruộng đất là đúng và cần thiết
Gần đây, có ư kiến cho rằng không cần phát động quần chúng cũng thực hiện Cải cách Ruộng đất được, hoặc muốn thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng” chỉ cần vận động địa chủ hiến ruộng đất cũng đủ. Ư kiến ấy có đúng không? Không đúng.
Cải cách Ruộng đất là một cuộc cách mạng, là sự nghiệp của hàng triệu quần chúng nông dân do Đảng lănh đạo. Bất kể cuộc cách mạng lớn nhỏ nào, không phát động quần chúng đều không thể làm được.
Có hai cách thực hiện Cải cách Ruộng đất: ḥa b́nh cải cách ruộng đất và phát động quần chúng cải cách ruộng đất. Ta đă phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất; như thế là đúng và cần thiết v́ những lẽ dưới đây:
- Nước ta là một nước do đế quốc và phong kiến thống trị từ lâu đời. Trải qua hàng chục thế kỷ, nông dân nước ta bị địa chủ phong kiến áp bức bóc lột, không ngóc đầu lên được. Nay phải phát động quần chúng nông dân mới dám mạnh dạn vươn ḿnh, đấu tranh đánh đổ địa chủ, tự tay ḿnh giành lại ruộng đất cho ḿnh.
- Phát động quần chúng là làm cho quần chúng tự giác, tự nguyện tham gia cách mạng ruộng đất, huy động lực lượng quần chúng nổi dậy đập tan chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân lao động. Chính quyền và cán bộ không thể và không nên làm thay và ban ơn cho nông dân.
- Có phát động quần chúng mới làm cho giai cấp địa chủ chịu khuất phục trước sức mạnh vùng lên của quần chúng nông dân, và quần chúng nông dân mới tự tin ở lực lượng của bản thân ḿnh. Đó là điều rất cần để giành lại ruộng đất và giữ được ruộng đất.
Có người nói: ta vận động hiến ruộng cũng đủ ruộng đất chia cho nông dân. Tôi xin trả lời: trong hoàn cảnh nước ta có thể vận động cả giai cấp địa chủ hiến ruộng. Một giai cấp xă hội không bao giờ tự nguyện nhường tư liệu sản xuất mà nó đă chiếm giữ từ lâu đời cho một giai cấp bị nó bóc lột bao giờ. Ḥa b́nh cải cách ruộng đất bằng cách vận động hiến ruộng là một ảo tưởng.
Có người cho rằng: ta đă có chính quyền từ Cách mạng tháng Tám; ta có thể dùng biện pháp chính quyền mà lấy lại ruộng đất cho nông dân, không phải phát động quần chúng làm ǵ cho phiền phức. Hoặc có người hỏi: tại sao ta không thực hiện Cải cách Ruộng đất theo kiểu một vài nước anh em, như thế có nhanh và gọn hơn không? Sự thật là ta có kết hợp biện pháp hành chính của chính quyền với đấu tranh quần chúng trong Cải cách Ruộng đất. Nhưng trong khi phát động quần chúng, ta có coi nhẹ biện pháp chính quyền (ví dụ ta coi nhẹ việc phối hợp công an, tư pháp với phát động quần chúng, coi nhẹ những biện pháp hỏi cung, đối chiếu tang chứng, sử dụng ṭa án nhân dân đặc biệt một cách không đúng, v.v…). Dùng riêng biện pháp chính quyền mà Cải cách Ruộng đất th́ đương nhiên là không đủ, phải kết hợp chặt chẽ đấu tranh của quần chúng từ dưới lên với mệnh lệnh của chính quyền từ trên xuống, và phải coi đấu tranh quần chúng là chủ yếu th́ mới thực hiện Cải cách Ruộng đất được tốt. Sai lầm không phải tại ta đă phát động quần chúng, mà chính v́ càng về sau này, cán bộ các Đội không thật sự phát động quần chúng, không tin ở quần chúng, mà lần truy bức, nhục h́nh, bắt bớ tràn lan để thay cho phát động quần chúng, và trong phát động quần chúng, ta đă không sử dụng biện pháp chính quyền một cách đầy đủ.
Có người nói: phát động quần chúng để thực hiện Cải cách Ruộng đất là đúng, nhưng phát động theo kiểu “đấu tố” như thế là sai. Nhưng cần nhớ rằng Cải cách Ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp, trong đó ta phát động tư tưởng quần chúng nông dân bằng cách lấy khổ gợi khổ, qua tố khổ mà giáo dục ư thức giai cấp cho nông dân, tổ chức nông dân để nông dân có đủ lực lượng đấu tranh đánh đổ địa chủ; đó là một việc hoàn toàn đúng. Sai lầm của cán bộ Cải cách Ruộng đất là không thật sự phóng tay phát động quần chúng, lại g̣ ép quần chúng tố khổ; thành ra bên cạnh những người tố đúng đă có một số người tố sai. Hơn nữa, nhiều cán bộ mù quáng, mất cảnh giác, dựa vào những phần tử xấu mà không tự giác, rồi nghe những lời bịa đặt của chúng mà đánh lầm vào một số người tốt của ta. Lỗi đó tại cán bộ ta làm sai mà lănh đạo không kịp thời phát hiện sai lầm để ngăn chặn và sửa chữa, chứ không phải tại chủ trương phát động quần chúng “đấu tố”.
Phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất đă đạt được những yêu cầu ǵ?
Hiện nay, người th́ nói Cải cách Ruộng đất thành công, người th́ nói Cải cách Ruộng đất thất bại, thậm chí có xu trào chỉ dám nói thất bại mà không dám nói thành công. Đương nhiên, t́nh h́nh ấy chỉ có lợi cho bọn phản cách mạng, bọn địa chủ vừa bị đánh đổ ở miền Bắc, chúng đang lợi dụng việc Đảng ta tự phê b́nh về những khuyết điểm, sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và sửa sai để ḥng đả kích và “cô lập” Đảng ta, đả kích bần cố nông và cốt cán của họ, và xóa bỏ những thành quả của Cải cách Ruộng đất.
Thật ra, muốn đánh giá đúng thành công và thất bại của Cải cách Ruộng đất phải đợi khi nào tổng kết toàn bộ công tác phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất. Bây giờ, chúng ta hăy kiểm điểm xem phát động quần chúng đă đạt được những mục đích yêu cầu ǵ? Mục đích yêu cầu của phát động quần chúng Cải cách Ruộng đất là:
a- Đánh đổ giai cấp địa chủ, đập tan uy thế chính trị của giai cấp địa chủ, thực hiện ưu thế chính chị của nông dân lao động ở nông thôn, thực hiện nông dân làm chủ nông thôn.
b- Xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân lao động, thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn.
c- Giáo dục cho nông dân về mặt tư tưởng và chính trị, làm cho nông dân nhận rơ bọn thực dân đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến là kẻ địch, nhận rơ Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thật thà mang lại quyền lợi cho ḿnh; nhận rơ chính quyền nhân dân là của ḿnh, v.v…
d- Kết hợp chỉnh đốn tổ chức ở nông thôn, chỉnh đốn chi bộ, nông hội, chính quyền, dân quân du kích, chi đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam, chi hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; bồi dưỡng cán bộ cơ sở.
Hăy xét xem trong khi thực hiện các mục đích yêu cầu ấy của phát động quần chúng, ta đă đạt được những ǵ, không đạt được những ǵ?
Về yêu cầu thứ nhất, trong phát động quần chúng Cải cách Ruộng đất, giai cấp địa chủ phong kiến về căn bản đă vĩnh viễn bị đánh đổ ở miền Bắc, nói chung ưu thế chính trị của nông dân lao động đă được xây dựng ở nông thôn. Tuy vậy, một số phú nông hoặc nông dân lao động lại bị vạch lầm là địa chủ, là phản động và bị đả kích nặng. Đó là một điều rất đáng tiếc. Nhưng phải nhận rằng nông dân vẫn làm chủ nông thôn.
Có người nói: nông dân đă làm chủ nông thôn từ Cách mạng tháng Tám, và ở vùng mới giải phóng, quân đội viễn chính Pháp rút đi đến đâu là nông dân làm chủ đến đó rồi. Song thật ra chưa Cải cách Ruộng đất, chưa xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất th́ chưa có thể chấm dứt được t́nh trạng địa chủ khống chế nông thôn, nhất là ở vùng sau lưng địch trước đây, và nông dân vẫn chưa thể thật sự làm chủ nông thôn.
Về yêu cầu thứ hai, xóa bỏ chế độ phong kiến, chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân lao động, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, việc đó ta đă thực hiện được trong Cải cách Ruộng đất. Tuy vậy một số nông dân bị vạch lầm là địa chủ, do đó đă bị tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất và chỉ được chia một phần ruộng đất xấp xỉ với số b́nh quân chiếm hữu của nông dân ở địa phương, nhưng không được chia ruộng nguyên canh, tốt và gần.
Có người bảo: nông dân đă làm chủ ruộng đất từ Cách mạng tháng Tám hay từ Kháng chiến rồi. Thật ra có nơi nông dân chỉ tạm sử dụng ruộng đất vắng chủ theo lối ai cày người ấy được hưởng và được chia lại công điền; qua Cải cách Ruộng đất, họ mới thật sự có quyền sở hữu ruộng đất.
Về yêu cầu thứ ba, trong phát động quần chúng, nông dân đă được giáo dục về tư tưởng và chính trị. Họ đă nhận rơ đế quốc và phong kiến là thù địch. Nói chung họ đă tự tin ở lực lượng đoàn kết đấu tranh của họ, tin ở sự lănh đạo của Đảng. Họ nhận rơ từ trước đến nay ở nước ta chỉ có Đảng ta và chế độ ta mới mang lại ruộng đất cho họ. Tuy vậy, những sai lầm của ta đă làm cho uy tín của Đảng và chính phủ tạm thời bị giảm sút một phần nào (với mức độ khác nhau tùy từng nơi) dù rằng quần chúng nông dân nói chung vẫn tin tưởng ở Đảng và CP.
Có người cho rằng nông dân miền Bắc đă được giáo dục nhiều về tư tưởng và chính trị trong tám năm Kháng chiến toàn quốc. Điều đó đúng, nhưng chỉ đúng một phần. Không phát động quần chúng th́ không thể giáo dục giai cấp, không thể giáo dục lập trường, tư tưởng một cách sâu sắc cho quần chúng nông dân được, cũng chưa thể hạ uy thế chính trị của giai cấp địa chủ ở nông thôn.
Về yêu cầu thứ tư, việc kết hợp với phát động quần chúng Cải cách Ruộng đất mà chỉnh đốn tổ chức có làm được phần nào. Đó là làm cho thành phần các tổ chức ở nông thôn tương đối trong sạch, nhưng chưa thể nói là vững mạnh (địa chủ, cường hào đă bị đuổi ra khỏi tổ chức, hàng vạn cốt cán đă được đào tạo và bồi dưỡng trong phong trào; những cốt cán đó nói chung thành phần trong sạch, nhưng phần lớn tŕnh độ chính trị và kinh nghiệm công tác c̣n non kém; cũng có một số phần tử xấu được đưa lầm nên thành cốt cán và được kết nạp vào tổ chức, nhưng đó chỉ là số rất ít). Có hàng trăm xă vùng mới giải phóng trước đây chưa có chi bộ, nay ta xây dựng được chi bộ mới.
Nhưng thất bại của chỉnh đốn tổ chức th́ rất nặng; càng về những đợt sau này, sai lầm càng lớn. Đau đớn nhất là đánh lầm vào nội bộ Đảng và nội bộ các tổ chức quần chúng ở cơ sở cũng như vào nội bộ nông dân, khiến cho một số cán bộ, đảng viên và nông dân cách mạng có thành tích bị xử oan.
Tóm lại, phần quan trọng của những mục đích, yêu cầu của phát động quần chúng nói chung đă đạt. Những sai lầm của ta có hạn chế những kết quả đă thu được, nhưng ta không thể không khẳng định thắng lợi của Cải cách Ruộng đất. Chính v́ thế nên Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng đă đánh giá Cải cách Ruộng đất “là một cuộc chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị và xă hội” [1].
Đánh giá sai lầm trong CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức
Sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức thể hiện trên mấy mặt công tác dưới đây:
- đánh địch và trấn áp bọn phá hoại hiện hành,
- qui định thành phần giai cấp,
- tịch thu, trưng thu, trưng mua.
- định diện tích và sản lượng,
- chỉnh đốn tổ chức Đảng, chính, quân, dân ở cơ sở, v.v…
Những sai lầm ấy đă vi phạm đường lối chung của Đảng ở nông thôn trong Cải cách Ruộng đất: “dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp phú ông, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất một cách có phân biệt, có từng bước, có kế hoạch, có trật tự, có lănh đạo”. Hậu quả của những sai lầm ấy rất tai hại:
1- Nó đă làm giảm một phần uy tín của Đảng Lao động Việt Nam và của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, tổn thất một phần đến cơ sở của Đảng, của Mặt trận và chính quyền nhân dân.
2- Nó làm cho nông thôn hiện nay thiếu đoàn kết, ảnh hưởng không tốt đến thành thị, không tốt đến khối đại đoàn kết dân tộc.
3- Những sai lầm về Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đă ảnh hưởng đến quân đội, đụng đến một số gia đ́nh quân nhân cách mạng; cơ sở quân dân du kích nhiều nơi bị sứt mẻ.
4- Về vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp, Cải cách Ruộng đất tức là giải phóng sức sản xuất ở nông thôn khỏi xiềng xích phong kiến, thực hiện người cày có ruộng th́ tất nhiên nói chung là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp nước ta phát triển. Nhưng sai lầm của ta cũng tạm thời làm cho nhiều nông dân được đất mà chưa thật phấn khởi sản xuất, v́ diện tích và sản lượng bị kích lên quá cao.
5- V́ những lẽ trên đây, cho nên đối với vấn đề củng cố miền Bắc hiện nay t́nh h́nh nhiều nơi ở miền Bắc chưa được ổn định, chưa được củng cố. Đối với vấn đề tranh thủ miền Nam th́ ảnh hưởng không tốt đến việc tranh thủ các tầng lớp rộng răi, nhất là các tầng lớp trên ở miền Nam, không lợi cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Tóm lại, sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đă vi phạm đường lối chung của Đảng ở nông thôn, vi phạm chính sách, nguyên tắc và điều lệ của Đảng, vi phạm chế độ pháp trị dân chủ và cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và ảnh hưởng một phần nào đến việc thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1956.
Một hiện tượng trái ngược là Cải cách Ruộng đất đáng lẽ củng cố đoàn kết toàn dân, nhưng v́ sai lầm của ta, nên hiện nay tạm thời đoàn kết bị giảm; đáng lẽ nâng cao uy tín của Đảng và Chính phủ, nhưng hiện nay tạm thời uy tín đó bị sút kém một phần nào. Ta sửa chữa sai lầm có kết quả tốt th́ sẽ phát huy được những nhân tố tích cực sẵn có do Cải cách Ruộng đất tạo ra, đồng thời thu hẹp và đi đến thủ tiêu được những nhân tố tiêu cực, có hại do sai lầm của ta mang lại.
Tính chất và đặc điểm của sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức có thể tóm tắt lại như sau:
a- Sai lầm có tính chất “tả” khuynh, biểu hiện ở chỗ “thái quá” trong việc đánh địch, trong việc trấn áp bọn phá hoại; vạch thành phần giai cấp; kích diện tích và sản lượng, t́m phản động trong tổ chức của ta, v.v… (Tuy vậy, bên cạnh những sai lầm “tả” khuynh vẫn c̣n tồn tại một số sai lầm có tính chất hữu khuynh, như rón rén, sợ địch, không dám phát động quần chúng đến nơi đến chốn; hoặc có một số biểu hiện “tả” khuynh lại chính là bóng đen của tư tưởng hữu khuynh: đánh giá lực lượng địch quá cao, đánh giá tổ chức của ta quá thấp, v.v…)
b- Sai lầm có tính chất nghiêm trọng, phổ biến và kéo dài (truy bức nhục h́nh, đánh địch tràn lan, không chấp hành đúng đường lối chung của Đảng ở nông thôn, v.v…). Tuy vậy cũng phải nhận rằng: lấy một xă mà xét th́ sai lầm vẫn là từng phần, không phải toàn thể (ví dụ: vạch sai thành phần một số nông dân, không phải vạch sai tất cả nông dân; xử trí oan một số người, không phải oan tất cả, v.v…). Về các đợt sau này, sai lầm phổ biến nhất là truy bức, nhục h́nh, đả kích tràn lan và kích diện tích và sản lượng.
c- Sai lầm về sách lược và phương châm, chính sách cụ thể không phải sai lầm về chiến lược cách mạng, về đường lối cách mạng nói chung. Tuy vậy, có một số sai lầm thuộc về nguyên tắc, ví dụ: không chấp hành đúng đường lối của Đảng ở nông thôn, đánh lầm vào nội bộ tổ chức của ta, đả kích sai vào một số nông dân lao động, tác phong không tôn trọng tập thể và dân chủ, v.v…
d- Sai lầm trong khi ta đă có chính quyền, quân đội xâm lược của bọn đế quốc và ngụy quân, ngụy quyền đă bị quét sạch khỏi miền Bắc, cách mạng đă và đang thu được những thắng lợi về mọi mặt (quân sự, chính trị , kinh tế, văn hóa) và trong khi cách mạng Việt Nam đang ở thời kỳ tiến lên, chứ không phải ở thời kỳ thoái trào.
Tóm lại, những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức rất nghiêm trọng, nhưng nhất định có thể sửa chữa. Chỉ có tổn thất do những cán bộ, đảng viên và quần chúng bị hy sinh oan uổng th́ không có cách nào cứu văn được. Đó là một điều vô cùng đau xót cho Đảng và cho nhân dân. Nhưng dù sao những sai lầm ấy không phá bỏ thắng lợi về chiến lược của Cải cách Ruộng đất; nó không dẫn đến thất bại về chiến lược cách mạng chống phong kiến ở miền Bắc nước ta.
Nguyên nhân, khuyết điểm, sai lầm
Muốn t́m ra nguyên nhân sai lầm, chúng tôi thấy trước hết cần nhận rơ trong điều kiện nào đă phạm phải những sai lầm ấy. Trong những điều kiện dưới đây:
a- Cũng như bất cứ giai cấp bóc lột nào trong lịch sử, giai cấp địa chủ nước ta đến lúc bị đánh đổ th́ t́m mọi cách chống lại Cải cách Ruộng đất; phân tán tài sản, mua chuộc nông dân, thủ tiêu khổ chủ, ám hại, mua chuộc cán bộ ta, truy bức th́ khai vấy vào tổ chức ta, v.v… Có người nói: ở nước ta giai cấp địa chủ dựa vào đế quốc, nay ở miền Bắc đế quốc bị đánh đổ th́ chúng cũng khắc đổ, không thể chống lại ta. Nói như thế là không đúng. Sự thật kháng chiến thành công, quân đội thực dân bị quét sạch ở miền Bắc th́ một số ít địa chủ (bọn đại địa chủ) theo đế quốc vào Nam; một bọn đầu hàng ta, nhưng một bọn vẫn t́m cách chống lại ta, chống lại Cải cách Ruộng đất (ngay trong số địa chủ đă ủng hộ kháng chiến cũng có một số bị đụng chạm trực tiếp đến quyền lợi trong Cải cách Ruộng đất cho nên đă phá hoại phát động quần chúng bằng cách này hay cách khác). Bọn kiên quyết chống lại thường dựa vào thế lực phản động đội lốt tôn giáo hoặc câu kết với bọn tay sai đế quốc và bọn phá hoại hiện hành c̣n lẩn lút ở miền Bắc.
b- Bị địa chủ phong kiến áp bức bóc lột từ hàng chục thế kỷ nay, giai cấp nông dân nước ta thường hay tiêu cực, bị động, mê tín, nhưng đôi khi khổ quá không nhẫn nhục được nữa phải đấu tranh tự phát, phiêu lưu, mạo hiểm, manh động; có khi hành động lẻ tẻ, có khi hành động tập thể. Nay được phát động, giáo dục, tổ chức và lănh đạo, họ nhận rơ kẻ thù, nhận rơ lối thoát, th́ vùng dậy đấu tranh quyết liệt, đè bẹp kẻ thù giai cấp; lúc đó lănh đạo không cứng th́ dễ sinh ra t́nh trạng hỗn loạn, đấu tranh quá trớn.
c- Cán bộ ta phần đông là tiểu tư sản, trước kia phần nhiều hữu khuynh đối với địa chủ, nặng về đoàn kết rộng răi, thuyết phục một chiều, nhẹ về đấu tranh giai cấp. Nay nhận rơ sai lầm cũ th́ dễ lệch sang “tả”, c̣n tư tưởng “thà tả c̣n hơn hữu”, cho rằng “tả đỡ hại hơn hữu”, v.v… Một số cán bộ xuất thân gia đ́nh địa chủ v́ sợ bị hiểu lầm, sợ bị truy là mất lập trường, v.v… nên thấy sai nhiều khi cũng không dám đề đạt ư kiến, hoặc đề đạt một cách rất yếu ớt, dè dặt.
d- Ta vừa thắng lợi lớn trong Kháng chiến, lại bắt đầu bước sang thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xă hội. Nước ta ở sát Trung Quốc, là một nước đang tiến những bước khổng lồ lên chủ nghĩa xă hội. T́nh h́nh ấy một mặt đă tạo ra không khí say sưa thắng lợi, cán bộ dễ sinh chủ quan, tự măn; một mặt dễ sinh ra tư tưởng nóng vội, muốn tiến mau lên chủ nghĩa xă hội và thực hiện thống nhất nước nhà.
Chính trong
những điều
kiện ấy,
lănh đạo,
nhất là cơ
quan chỉ đạo
thực hiện
(như Ủy ban
Cải cách
Ruộng đất
các cấp, các
đoàn ủy, Ban
tổ chức
Trung ương)
đă phạm
những sai
lầm nghiêm
trọng.
Song, nói
như thế
không phải
chúng ta đổ
tại hoàn
cảnh khách
quan, mà
chính là để
nhận rơ
trong hoàn
cảnh như thế
nào chúng ta
đă phạm sai
lầm. Nguyên
chính vẫn là
do chủ quan
ta có khuyết
điểm. Thật
thế, do chỗ
không
xuất phát
đầy đủ từ
thực tế Việt
Nam,
không nghiên
cứu kỹ những
đặc điểm của
t́nh h́nh
Việt Nam
(Việt Nam là
một nước
nông nghiệp
bị đế quốc
áp bức bóc
lột trong
một thời
gian khá
lâu; nước ta
chia làm hai
miền v.v…),
do chỗ không
nẵm vững yêu
cầu khách
quan của
nhiệm vụ
cách mạng
Việt Nam
trong giai
đoạn hiện
tại (củng cố
miền Bắc,
nhưng đồng
thời phải
tranh thủ
miền Nam
v.v…) cho
nên cơ quan
lănh đạo và
nhất là cơ
quan chỉ đạo
thực hiện đă
có những chủ
trương chính
sách không
đúng:
- Nặng về chống hữu, nhẹ về chống “tả”, tư tưởng chỉ đạo lệch một chiều;
- Chủ trương kết hợp bọn phá hoại trong Cải cách Ruộng đất, căn bản làm tan ră tổ chức phản động ở xă và thanh trừ phản động ra khỏi tổ chức cơ sở (yêu cầu quá cao);
- Chủ trương căn bản ḥan thành Cải cách Ruộng đất trước 20-7-1956 (thời gian quá gấp);
- Nhận định không đúng về sức phản ứng của địch, về tổ chức cũ của ta (cho là tổ chức của ta bị địch lũng đoạn, chi bộ địch lồng vào chi bộ ta, v.v…);
- Chỉnh đốn tỉnh, huyện một cách thiếu thận trọng; phương châm, phương pháp đều có chỗ không đúng;
- Để cho tổ chức chỉ đạo thực hiện Cải cách Ruộng đất thành một hệ thống riêng với quyền hạn quá rộng, nhưng lại thiếu kiểm tra đôn đốc chặt chẽ.
Ngoài ra, tác phong lănh đạo lại quan liêu, thiếu tập thể, dân chủ; cơ quan chỉ đạo chủ quan, tự măn, độc đoán, chuyên quyền, cho nên mới có t́nh trạng một số chỉ thị do cá nhân trong Thường trực Ủy ban Cải cách Ruộng đất Trung ương và trong Ban Tổ chức Trung ương đề ra mà không thông qua tổ chức bàn định trước, và không tŕnh Trung ương phê chuẩn. T́nh h́nh sai lầm đă trở nên nghiêm trọng từ đợt 8 giảm tô và đợt 4 Cải cách Ruộng đất rồi mà măi đến giữa bước hai Cải cách Ruộng đất đợt 5 mới phát hiện và bắt đầu sửa chữa.
Trách nhiệm của các cơ quan lănh đạo và chỉ đạo thực hiện chính sách
Đường lối cách mạng phản đế và phản phong kiến (dân tộc-dân chủ nhân dân) của Đảng nói chung là đúng, cho nên mới có Cách mạng tháng Tám và kháng chiến thắng lợi, mới hoàn toàn giải phóng được miền Bắc và thực hiện người cày có ruộng trên một nửa nước ta, điều mà từ bao nhiêu đời nay mới thành sự thật. Nhưng về chủ trương chính sách cụ thể, Đảng có khuyết điểm sai lầm. Đảng thành khẩn tự phê b́nh và kiên quyết sửa chữa để đưa toàn dân ta tiến lên.
Lê-nin nói: “Thái độ của một chính đảng đứng trước những sai lầm của ḿnh là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để nhận xét xem đảng ấy có đứng đắn hay không và nó có thật làm tṛn nghĩa vụ của ḿnh đối với giai cấp ḿnh và đối với quần chúng lao động không. Thành thật nhận sai lầm, phân tích trường hợp đă đẻ ra những sai lầm ấy, xét kỹ những biện pháp sửa chữa sai lầm, đó là dấu hiệu của một đảng đứng đắn, đó cũng là cách đảng ấy làm tṛn nghĩa vụ của ḿnh, giáo dục và huấn luyện giai cấp ḿnh và sau nữa giáo dục và huấn luyện quần chúng.” (Bệnh ấu trĩ của chủ nghĩa cộng sản)
Trong sai lầm lần này, Đảng có trách nhiệm trước nhân dân, v́ dưới sự lănh đạo của Đảng, đă xẩy ra những sai lầm khuyết điểm nghiêm trọng để tổn hại đến sinh mệnh, tài sản của nhân dân, tổn thương đến việc thực hiện cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc, đến sự nghiệp củng cố miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Cơ quan lănh đạo của Đảng có trách nhiệm, v́ đă thông qua một số chủ trương, chính sách xét ra thiếu sót hoặc có chỗ không đúng, không nắm thật vững công tác Cải cách Ruộng đất là công tác trọng tâm số một trong toàn bộ công tác củng cố miền Bắc.
Sở dĩ Đảng có khuyết điểm như trên, một phần do cơ quan lănh đạo (Trung ương và Bộ chính trị) thiếu điều tra, nghiên cứu nên không xuất phát đầy đủ từ t́nh h́nh thực tế Việt Nam; thiếu kiểm tra đôn đốc, làm việc thiếu tập thể; và một phần do cơ quan chỉ đạo thực hiện (cụ thể là Thường trực Ủy ban Cải cách Ruộng đất Trung ương và Ban Tổ chức Trung ương của Đảng) không báo cáo đúng và kịp thời, không kịp thời phát hiện sai lầm và đề nghị chính sách và biện pháp sửa chữa thích đáng.
V́ vậy, lănh đạo có trách nhiệm, nhưng trách nhiệm trực tiếp và quan trọng là do chỉ đạo thực hiện đă có những sai lầm, khuyết điểm cụ thể dưới đây:
a- Chỉ đạo tư tưởng lệch một chiều, nặng chống hữu, nhẹ chống “tả” và pḥng “tả”, đẩy cán bộ đă “tả” khuynh lại “tả” khuynh thêm.
b- Không chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Trung ương Đảng và Chính phủ. V́ thiếu điều tra nghiên cứu nên đă đề nghị một số chủ trương chính sách không đúng.
c- Việc giáo dục cán bộ có nhiều khuyết điểm, làm cho cán bộ tự măn, lộng hành, không nắm chính sách, không tôn trọng 10 điều kỷ luật trong phát động quần chúng. (Một số ít phần tử xấu đă phá hoại chính sách của Đảng và CP bằng những hành động vô nguyên tắc ở xă.)
d- Tác phong quan liêu, độc đoán, thoát ly quần chúng, thoát ly thực tế, chủ quan, tự măn, không nh́n ra sai lầm nghiêm trọng để kịp thời sửa chữa.
Hội nghị Trung ương lần thứ 10 của Đảng đă phân tích, phê phán sai lầm, t́m ra nguyên nhân, định rơ trách nhiệm, và định ra phương châm, chính sách và kế hoạch sửa chữa. [2]
Có đồng chí hỏi: phải chăng Trung ương đùn trách nhiệm cho mấy đồng chí Ủy viên Trung ương trực tiếp phụ trách Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức? Vấn đề không phải là Trung ương đùn đẩy trách nhiệm cho người này hay người khác. Trung ương nhận phần trách nhiệm của ḿnh. Nhưng tập thể lănh đạo, cá nhân phụ trách, cho nên trách nhiệm trực tiếp vẫn phải quy vào cá nhân những đồng chí đă lĩnh trách nhiệm trước Trung ương.
Có người bảo: kỷ luật thi hành với những đồng chí có trách nhiệm trực tiếp nhẹ quá. Trung ương thi hành kỷ luật cán bộ làm sai là theo phương châm chữa bệnh cứu người, cho nên đối với những đồng chí đă làm sai, Đảng lấy giáo dục làm chính. Đương nhiên kỷ luật đối với từng người có nặng nhẹ khác nhau, tùy theo những điểm dưới đây mà quyết định:
- trách nhiệm nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp;
- tác hại của những sai lầm lớn hay nhỏ;
- động cơ phạm sai lầm tốt xấu như thế nào;
- thái độ nhận sai lầm thành khẩn hay không, thành khẩn nhiều hay ít, v.v…
Việc thi hành kỷ luật với một số đồng chí phạm sai lầm là cần thiết: nhưng Đảng ta thi hành một chính sách sửa sai chứ không thi hành một chính sách báo thù.
Mấy bài học kinh nghiệm
Sai lầm lần này dạy cho ta mấy bài học kinh nghiệm lớn dưới đây:
1. Về giai cấp đấu tranh
Giai cấp đấu tranh là một sự cần thiết và tất nhiên trong xă hội phân chia giai cấp. Khi ta chưa có chính quyền th́ h́nh thức giai cấp đấu tranh có khác với khi ta đă có chính quyền. Từ Cách mạng tháng Tám, ta đă có chính quyền Nhà nước dân chủ nhân dân; đó là một thứ vũ khí đấu tranh giai cấp của ta. Ta phải tận dụng khả năng của chính quyền trong cuộc đấu tranh chống giai cấp địa chủ.
Trong Cải cách Ruộng đất ta phải dùng chính quyền ban hành những luật lệ, những điều quy định cần thiết, có tính chất bắt buộc đối với giai cấp địa chủ. Đồng thời, muốn cho giai cấp địa chủ thi hành đúng chính sách, phải phát động quần chúng nông dân đấu tranh buộc địa chủ phải tuân theo pháp luật. Những sắc lệnh và nghị định của Chính phủ có hiệu lực nhất định của nó. Nhưng trong nhiều trường hợp nếu ta không vận động quần chúng đấu tranh th́ không thể đảm bảo những sắc lệnh và nghị định ấy được hoàn toàn tôn trọng. Không thể ngồi bàn giấy ra lệnh mà giải quyết được vấn đề Cải cách Ruộng đất. Cán bộ Đảng và chính quyền cũng không thể làm thay và ban ơn cho nông dân. Cho nên phải kết hợp chính quyền ra lệnh với quần chúng đấu tranh. Phải phát động quần chúng đấu tranh và phải coi đó là biện pháp chủ yếu để Cải cách Ruộng đất.
Một trong những sai lầm của ta trong Cải cách Ruộng đất là đă coi nhẹ việc sử dụng biện pháp chính quyền.
Đối với giai cấp thù địch th́ nhất định ta phải đánh đổ. Nhưng giai cấp địa chủ nước ta đă bị phân hóa, ta phải phân biệt đối xử với từng hạng địa chủ. Năm 1953, Trung ương đă nói:
“Ta thực hiện Cải cách Ruộng đất trong kháng chiến, nên phải đấu tranh trên hai mặt trận: mặt trận chống đế quốc và mặt trận chống phong kiến. Ta lại có Mặt trận dân tộc thống nhất rộng răi. V́ vậy càng bớt được kẻ địch càng tốt, càng cô lập và phân hóa được giai cấp địa chủ càng hay. Diện đả kích không nên quá rộng.” [3]
Ta đă có chính quyền ở miền Bắc, lực lượng của ta mạnh hơn hẳn lực lượng của giai cấp địa chủ phong kiến. Bọn địa chủ nào kháng cự lại th́ ta mới trấn áp. Bọn nào đầu hàng th́ ta để cho chúng thi hành chính sách, phục tùng nông dân; ta không dùng bạo lực đối với chúng, trái lại ta mở đường cho chúng lao động cải tạo, trở thành những con người mới. Đại hội lần thứ 20 Đảng cộng sản Liên-xô đă nhắc nhở ta về vai tṛ của bạo lực trong lịch sử, nhưng đồng thời cũng chỉ rơ người cộng sản không phải là thích dùng bạo lực. Đằng này, do các cơ quan thực hiện có tư tưởng chỉ đạo lệch lạc, do cán bộ ta phần lớn thiếu kinh nghiệm đấu tranh giai cấp, cho nên khi xuống xă, đứng trước t́nh h́nh phức tạp, họ rối trí, đi đến trấn áp tràn lan, đánh địch mà đánh cả vào tổ chức của ḿnh, có lúc đă dùng bạo lực không cần thiết và không đúng chỗ.
2. Về nhân dân dân chủ chuyên chính
Nhân dân dân chủ chuyên chính là dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân. Nhưng nhân dân là ai, kẻ thù của nhân dân là ai? Đó là một vấn đề vô cùng quan trọng. Nếu không nhận rơ điều đó th́ có khi dân chủ cả với kẻ thù của nhân dân và chuyên chính không nhắm đúng đối tượng, mũi nhọn chuyên chính có thể không chĩa vào kẻ địch. Đối với nhân dân ta phải bảo đảm quyền tự do dân chủ, phải mở rộng dân chủ một cách đúng mức. Nhưng đối với kẻ thù của nhân dân th́ phải kiên quyết thi hành chuyên chính, không thể nhu nhược.
Trong Cải cách Ruộng đất, cán bộ ta đă vạch lầm một số nông dân lên địa chủ hay cường hào gian ác, đă vạch một số cán bộ, đảng viên là phản động và đả kích nặng, gây ra t́nh trạng hỗn loạn, rất nguy hiểm. Đồng thời đă vi phạm chế độ pháp trị, vi phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân, gây ra không khí khủng bố ở nông thôn.
Việc mở rộng dân chủ ở thành thị và nông thôn bảo đảm sự tôn trọng chế độ pháp trị là rất cần thiết. Sống lâu ngày dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta ngày nay được giải phóng, rất khao khát tự do. Ta phải phát triển dân chủ để có thể phát huy tính tích cực của nhân dân, làm cho nhân dân tích cực tham gia vào công tác quản lư Nhà nước; nhưng đồng thời cũng phải chuyên chính đúng mức, đối với bọn phản cách mạng hiện hành th́ kịp thời trấn áp. V́ vậy một mặt cần giáo dục cho quần chúng nhân dân nhận rơ ḿnh là chủ nhân của nước nhà, ḿnh có nghĩa vụ và quyền lợi rơ ràng, dứt khoát; ḿnh phải được hưởng quyền dân chủ của ḿnh, nhưng đồng thời cũng phải biết sử dụng đúng quyền đó, không làm ẩu, làm bừa, để gây khó khăn cho chính quyền và địch có thể lợi dụng. Mặt khác, phải kiện toàn không ngừng bộ máy chuyên chính, củng cố công an và quốc pḥng, nắm vững lực lượng của ta, không nhu nhược với bọn phản cách mạng hiện hành, muốn nhân những khuyết điểm sai lầm của ta mà lừa phỉnh quần chúng, tổ chức âm mưu nhằm đạt những mục đích đen tối của chúng.
3. Về lănh đạo
Ta thường nói lănh đạo đúng là:
- t́m ra cách giải quyết đúng vấn đề;
- tổ chức thực hiện cách giải quyết đúng;
- tổ chức việc kiểm tra.
Song muốn t́m ra cách giải quyết đúng vấn đề th́ phải điều tra nghiên cứu t́nh h́nh, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nghĩa là phải xuất phát từ thực tế; đồng thời phải nắm vững nguyên lư của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp chân lư phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng nước ta, nếu không sẽ phạm phải chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc chủ nghĩa giáo điều. Phải tôn trọng nguyên tắc tập thể dân chủ, nếu không định ra phương châm, chính sách sẽ thiếu sót, thậm chí sai lầm nữa.
Muốn tổ chức việc thực hiện cách giải quyết đúng phải đưa cách giải quyết đó xuống quần chúng, bàn bạc với quần chúng, làm cho quần chúng thông suốt cách giải quyết đó và tự giác tự nguyện chấp hành, phát huy tính tích cực và trí sáng tạo của quần chúng. Không thế th́ sẽ phạm phải chủ nghĩa quan liêu, mệnh lệnh và sẽ thất bại đau đớn. Lănh đạo đúng là lănh đạo theo đường lối quần chúng: từ quần chúng mà ra, trở về nơi quần chúng.
Trong khi chấp hành chủ trương chính sách, phải kiểm tra đôn đốc, theo dơi sát t́nh h́nh, kịp thời phát hiện vấn đề, tổng kết kinh nghiệm, sửa chữa sai lầm, phát huy thành tích. Muốn thế phải phát triển phê b́nh tự phê b́nh, nhất là phê b́nh từ dưới lên. Phê b́nh tự phê b́nh là liều linh đan chữa bệnh quan liêu và chủ quan, tự măn của các cơ quan lănh đạo và của cán bộ.
Trong phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất vừa rồi, cơ quan lănh đạo cũng như cơ quan chỉ đạo thực hiện nhiều khi đă không nắm vững cách lănh đạo đó. V́ vậy mà đă phạm sai lầm khuyết điểm nghiêm trọng.
Sửa sai và tiến lên
Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng đă nêu rơ: “Nhiệm vụ và phương châm trước mặt của chúng ta là: kiên quyết sửa chữa sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, phát huy những kết quả và thắng lợi đă thu được. Trong lúc thực hiện nhiệm vụ đó th́ dựa trên đường lối nông thôn của Đảng, dựa trên tinh thần tin tưởng và truyền thống đoàn kết của Đảng ta và của nhân dân ta; thi hành đúng chính sách cụ thể sửa chữa sai lầm, nhằm đoàn kết nội bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, gây tinh thần phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất, hoàn thành tốt công tác Cải cách Ruộng đất và trên cơ sở đó đẩy mạnh công cuộc củng cố miền Bắc, tranh thủ miền Nam và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.”
Sai lầm này nghiêm trọng, nhưng không phải sai lầm về chiến lược. Đảng và Chính phủ đă phát hiện sai lầm và quyết tâm sửa sai, đă định rơ phương châm, chính sách và kế hoạch sửa sai một cách thiết thực. Nhân dân ta sẵn có truyền thống đoàn kết, nói chung vẫn tin tưởng ở lănh đạo và sẵn sàng góp sức vào việc sửa sai.
V́ vậy ta có đủ điều kiện sửa sai và tiến lên. Muốn sửa sai cần khắc phục những tư tưởng sai lầm chính dưới đây:
- bảo thủ, tự măn, không chịu nhận hết sai lầm, không kiên quyết sửa sai;
- bi quan, tiêu cực, nh́n mọi cái đều hỏng, không tin ở phần thắng lợi của Cải cách Ruộng đất, không tin có thể sửa sai được tốt;
- bàng quan, vô trách nhiệm, không quan tâm đến việc sửa sai.
- Những nhân tố thắng lợi chủ yếu của cách mạng ta (Đảng, Mặt trận, quân đội, chính quyền) có chịu ảnh hưởng không tốt v́ những sai lầm vừa qua, nhưng chỉ trong một phạm vi nhất định. V́ thế ta có đủ lư do tin tưởng ở thắng lợi của công tác sửa sai.
Tuy vậy, cũng cần nhận rơ những khó khăn đang gặp trong việc sửa sai. Chủ yếu có khó khăn dưới đây:
- bọn phản động đội lốt tôn giáo và bọn địa chủ ngoan cố, bọn đầu sỏ trong số tề ngụy cũ đang ngo ngoe ngóc đầu dậy, phá rối ta;
- vấn đề sửa sai rất phức tạp, diện sửa sai khá rộng;
- việc lănh đạo sửa sai chưa được thật tăng cường; nội bộ Đảng hiện c̣n thiếu đoàn kết và thống nhất.
Muốn sửa sai tốt, cần khắc phục những khó khăn đó.
Gần đây một số những người bị tố oan là phản động hoặc bị quy sai thành phần, sốt ruột chờ sửa sai, đă tự phát báo thù. Một số địa chủ và bọn phản động, lưu manh lợi dụng cơ hội lôi kéo quần chúng bất măn, gây ra những vụ lộn xộn trong nông thôn. Đáng chú ư nhất là mới đây bọn phản động đội lốt tôn giáo đă gây ra những vụ phá rối trật tự an ninh ở tại một vài vùng giáo dân ở tập trung. Chúng lợi dụng ḷng tin của một số quần chúng tín đồ mà lấy lại những quyền lợi nông dân đă giành được trong Cải cách Ruộng đất. Rơ ràng là chúng đang ra sức phá hoại những thành tựu của Cải cách Ruộng đất và phá hoại việc sửa chữa của ta. V́ vậy, muốn sửa sai tốt, phải ngăn ngừa những hành động tự phát, báo thù. Đồng thời phải trấn áp bọn phản động, bọn quấy rối, không để cho chúng làm mưa làm gió.
Chính sách sửa sai đă công bố chưa được thật cụ thể. T́nh h́nh thực tế ở nông thôn phức tạp hơn ta tưởng. Cho nên cần rút kinh nghiệm ở một số địa phương để bổ sung chính sách đó.
Diện sửa sai khá rộng. Cần có kế hoạch sửa sai để tiến hành từng bước. Kế hoạch ấy phải căn cứ vào chỉ thị của Trung ương về sửa sai nói chung, đồng thời cũng phải căn cứ vào yêu cầu cấp bách sửa sai của từng địa phương và căn cứ vào thời vụ mà đặt ra cho sát.
Theo nghị quyết của Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, việc sửa sai sẽ giao cho Đảng bộ và chính quyền các cấp trực tiếp phụ trách. Cho nên phải kiện toàn bộ máy lănh đạo các cấp để cho nó gánh được trách nhiệm sửa sai theo đúng phương châm, chính sách mà Trung ương Đảng và Chính phủ đă đề ra.
Việc kiện toàn các cấp cần phải đạt yêu cầu thống nhất tư tưởng và nhận thức về thắng lợi của Cải cách Ruộng đất cũng như về những khuyết điểm sai lầm và nhiệm vụ sửa sai. Trung ương Đảng và CP quyết tâm sửa sai, nhân dân mong chờ sửa sai. Có nhiều vấn đề sửa sai liên hệ mật thiết với chiêm này, đ̣i hỏi chúng ta phải giải quyết gấp rút. Chúng ta phải xiết chặt hàng ngũ, lao ḿnh vào công tác sửa sai.
Qua các cuộc hội nghị nghiên cứu nghị quyết của Trung ương Đảng, tư tưởng cán bộ, đảng viên đă được nhất trí trên những vấn đề chính. Đương nhiên, vẫn c̣n một số vấn đề tồn tại giữa cán bộ, đảng viên cũ và cán bộ, đảng viên mới, cán bộ bị xử trí và cán bộ không bị xử trí, cán bộ đă tham gia Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức với cán bộ không tham gia Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, v.v… Tư tưởng chưa được thống nhất th́ hành động trong việc sửa sai cũng sẽ không được thống nhất. V́ vậy, phải qua việc hoàn thành phổ biến nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng xuống đến tận xă mà làm cho tư tưởng và nhận thức của cán bộ và đảng viên thống nhất hơn. Cần làm cho toàn Đảng trên cơ sở thấu suốt tinh thần nghị quyết của Trung ương Đảng và nâng cao ư thức về trách nhiệm trước việc sửa sai mà tăng cường đoàn kết trong Đảng. Do Đảng được đoàn kết, thống nhất mà tăng cường đoàn kết giữa các Đảng ta và các đảng phái, các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận, giữa Đảng ta và quần chúng nhân dân nói chung. Đó là một điều kiện cần thiết cho việc sửa sai có kết quả.
Công tác cách mạng của chúng ta có thành tích và cũng có sai lầm. Điều cốt yếu là Đảng ta tránh được những sai lầm về đường lối cách mạng, và một khi phạm sai lầm dù lớn hay nhỏ đều thành khẩn nhận hết sai lầm và kiên quyết sửa chữa.
Sai lầm của ta trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức không có nghĩa là đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng ta vạch ra là sai, cũng không có nghĩa là chế độ dân chủ nhân dân của ta là không tốt. V́ đường lối cách mạng của Đảng ta đúng, bản chất chế độ ta tốt, quần chúng nhân dân ta nói chung vẫn tin tưởng ở Đảng ta và Chính phủ ta, cho nên ta có điều kiện tốt để sửa sai và tiến lên.
Mỗi cán bộ và đảng viên chúng ta cần tin tưởng và hăng hái gánh một phần trách nhiệm trong việc sửa sai, biến những đau xót của chúng ta trước những sai lầm thành sức mạnh vật chất đặng tiến hành tốt công tác sửa chữa sai lầm, phát huy thành tích, củng cố công nông liên minh, giữ vững và phát triển thắng lợi của Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc. Do đó chúng ta làm cho miền Bắc được thật sự củng cố, chế độ ở miền Bắc càng tốt đẹp hơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Chú thích
[1] Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng.
[2] Về trách nhiệm cá nhân ở cấp Trung ương th́ xem thông cáo của Trung ương đăng trên báo Nhân dân ngày 30-10-1956.
[3] Nghị quyết của Bộ chính trị tháng 8 năm 1953.
Nguồn: Học Tập, tạp chí lư luận và chính trị của Đảng Lao động VN, số 11, tháng 11-12/ 1956, tr. 9-23. Bản điện tử của Talawas
Xét lại "hồ sơ" của giai cấp địa chủ
Trần Huy Liệu
http://www.talawas. org
Ngay từ tháng 3-1954, khi cuộc Cải cách Ruộng đất đang ở thời ḱ khắc nghiệt nhất, Trần Huy Liệu đă viết thư cho ông Hoàng Quốc Việt, một trong những người lănh đạo Cải cách Ruộng đất, nêu ư kiến cho rằng ở Việt Nam, khác với Trung Quốc, địa chủ đa số là bậc trung và bậc tiểu, mà phần đông lại là yêu nước. V́ vậy, cần có sách lược đối xử đúng mức trong Cải cách Ruộng đất, không nên gộp tất cả là kẻ địch. Bài này của Trần Huy Liệu đăng trên tập san Văn Sử Địa số 25, quư I-1957, kí tên Hải Khách, bút danh của ông thời Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939). Nó phản ánh nhận thức của Trần Huy Liệu - lúc đó là trưởng ban nghiên cứu Văn Sử Địa - sau cuộc CCRĐ và thời ḱ sửa sai. Ngay sau khi bài được đăng, trong một cuộc họp ở câu lạc bộ Đoàn kết, ông Trường Chinh đă nhận xét là bài có sự "mơ hồ giai cấp".
Đặt vấn đề
Sau những sai lầm nghiêm trọng về Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đă đến lúc chúng ta cần phải xét lại một số nhận định từ trước về tính chất giai cấp, quan hệ giữa các giai cấp và đối tượng chủ yếu của cách mạng, các lực lượng tham gia cách mạng trong quá tŕnh cách mạng Việt Nam. Việc này chúng tôi đă bắt đầu làm trong mấy số tập san gần đây. Một nhận thức chung là xă hội Việt Nam trong thời Pháp thuộc là một xứ thuộc địa và nửa phong kiến, do đó, nó có những đặc điểm mà chúng ta phải t́m ra để biế
