CÁM ƠN CÁC ANH : NGƯỜI TPB/VNCH
Mường Giang
2010/11/11

NHÂN MÙA TẠ ƠN TRÊN ĐẤT MỸ
(2010),
XIN ĐƯỢC CÁM ƠN CÁC ANH : NGƯỜI
TPB/VNCH
Mường
Giang
Kính tặng tất cả
TPB/VNCH
Những ngày tháng Tư năm đó,
không biết sao mà trời bỗng đổ
mưa thật sớm và lớn hơn bao giờ
hết. Mưa làm ngập những chiếc hố
tránh đạn và giao thông hào của
những người lính trận, tại các
chiến trường máu lệ Phước Long,
Phan Thiết, Long Khánh, Hậu
Nghĩa, Long An, Phước Tuy, Biên
Ḥa và Sàig̣n.
Trong cơn mưa nước mắt năm ấy,
có máu, thây người và xác của
những cánh hoa học tṛ, làm
nhuộm hồng áo người lính và đồng
bào chiến nạn, chạy theo cơn
mưa, mịt mù đạn pháo.
"Bồ Đào mỹ tửu, dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà, mă thượng thôi
Tuư ngọa sa trường, quân mạc
vấn?
Cổ lai chinh chiến, kỹ nhân hồi"
Bốn câu thơ cổ trong bài "Lương
Châu Từ" của Vương Hàn (687-726)
đă nói lên thân phận của người
lính chiến, sống và chết không
có biên giới, nên mấy ai dám
nghỉ tới chuyện trở về? Và giọt
mưa nào đây vừa lăn trên má, đă
khiến cho người lính già bồi hồi
nhớ lại, một thời chinh chiến
cũ, những căn hầm tránh pháo
ngập mưa, những nấm đất đào đấp
vội vàng, để vùi bạn vữa ngă gục
và những thương binh rên xiết,
đang chờ cấp cứu.
Tất cả đă thành cổ tích. Giờ chỉ
c̣n biết ngồi đây mà nhớ lại
những ngày xa cũ. Chúng ta, tất
cả đều là những người VN tội
nghiệp, trót đầu thai lộn trong
thế kỷ này, nên đă cùng nối vai
lần lượt bước lên những giàn lửa
đỏ. Cuối cùng, kẻ chết th́ bị
dầy mồ, tan xác, c̣n người sống,
nếu không sống kiếp mây chiều
lang thang, th́ cũng lết lê phận
bèo trong vùng giặc chiếm, để
gục đầu thương hận, mà khóc cho
quê hương v́ đâu máu xương chất
ngất, v́ đâu mà kiếp sống của
con người, tới nay vẫn không
bằng cây cỏ bên đường.
Tất cả chỉ c̣n là kỷ niệm trong
nhớ, vào những ngày đầu đời, mẹ
bỏ con trong gánh, dầm mưa chạy
loạn, giữa tiếng bom đạn, máy
bay gầm thét, của Việt Minh và
Pháp. Tóm lại, chúng ta đều ra
đời và trưởng thành trong tiếng
súng, cùng với bom đạn làm rách
vỡ da thịt của quê hương. Rồi
cũng v́ người, v́ tang bồng hồ
thỉ nam nhi trái, mà giốc cả
tuổi trẻ, đời trai, vào cốc men
đắng cay, uống cạn hạnh phúc của
chính ḿnh.
Đất nước hai mươi năm chinh
chiến, hai mươi năm dài hờn hận,
đă dày ṿ người lính miền Nam,
trong mưa bom đạn xéo trùng
hằng. Rốt cục những người nằm
xuống, những kẻ ra đi hay ở lại
chịu cảnh ngục tù khổ sai của
VC, ai nấy cũng đă trả xong cái
nợ "da ngựa bọc thây", tủi nh́n
từng trang lịch sử của nước nhà,
bị giặc thù bôi nhọ và khép kín.
Trưa 30-4-1975 Sàig̣n thất thủ,
miền Nam VN từ bên này cầu Hiền
Lương, trên sông Bến Hải, chạy
ngang vĩ tuyến 17, tới mũi Cà
Mâu, đă chính thức thuộc về lănh
thổ Xă Hội Chủ Nghĩa đệ tam quốc
tế cộng sản, có tổng đài ở tận
Nga Sô. Cũng từ giờ phút đó, khi
mà chiếc mặt nạ ḥa b́nh của
người cộng sản đă cởi, để lộ
những khuôn mặt thật của các
thây ma vô hồn, lạnh băng và
hung hiểm, th́ cũng là lúc, đồng
bào mới sực tỉnh và thương tiếc
người lính VNCH. Nhưng than ôi
tất cả đă muộn rồi, họ đă ngă
gục không phải tại chiến trường
v́ đạn pháo của VC, mà ngay trên
hè phố Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết,
Sàig̣n... bởi chính những viên
đạn ích kỷ, hám danh, những
miệng lưỡi ng̣i bút, của chính
phe ḿnh.
Ai chẳng một lần về với đất?
khác chăng là sớm hay muộn, vinh
với nhục và sống chết sao cho ư
nghĩa của một kiếp người. Chỉ
tội nhất là những người lính
chưa chết nhưng coi như đă chết
v́ thương tật chiến trận và
những vết thương ḷng. Họ không
chết mà chỉ bị thương nặng và
tất cả đă gởi lại chiến trường
một phần thịt da của mẹ, ở Khánh
Dương, Tháp Chàm, Phan Thiết,
Xuân Lộc... và ngay tại Sàig̣n,
vào lúc mà cây cột đèn cũng muốn
chạy, để khỏi bị VC nhổ đem đi
bán. Họ ở lại làm vật hy sinh
cản xe tăng, hứng đại pháo của
giặc thù, để kiếm thêm một chút
thời gian, một bầu trời an toàn,
một ḍng sông lặng sóng, giúp
cho mọi người từ dân tới lính,
b́nh yên di tản ra nước ngoài,
để tiếp tục sinh con đẻ cháu, ăn
học thành tài và thành người
ngoại cuộc..
Nay th́ từ quan tới lính, ai
cũng kiếm cách đi khỏi quê nhà,
bỏ lại những bóng ma của quá khứ
và những người thương phế binh
sống sót, tủi hờn, đang lê lết
phận bèo khắp đầu đường xó chợ.
Thời gian có thay đổi, lịch sử
cũng sang trang nhưng thân phận
của người thương binh và gia
đ́nh của họ, chẳng có ǵ mới lạ,
vẫn lấy nước mắt làm mưa rửa mặt
hằng ngày. Buổi trước, khi VC
tràn vào, họ bị bỏ lại ở những
quân y viện, làng phế binh,
không c̣n đại bàng, đồng đội và
hậu phương. Bây giờ th́ dần hồi
chết đói, chết nhục trong thiên
đàng xă nghĩa, trước sự xa hoa
thừa mứa của VC, Việt Gian và
Việt kiều muôn phương, vinh quy
bái tổ, áo gấm về làng, mà trong
ḍng người đổi đời này, không
làm sao mà đếm hết, những cấp
chỉ huy và đồng đội cũ.
Có làm lính mới cảm thông cho
kiếp lính nghiệt ngă đoạn
trường. Có làm dân thời ly loạn
mới biết được thế nào là mạng
sống của con người, giữa bom đạn
vô t́nh, héo úa c̣n thua cây cỏ.
Có là người thương phế binh sau
khi xuất viện, bỏ lại một phần
cơ thể, mới thật tội nghiệp cho
tuổi trẻ bạc phước vô phần. Thê
thiết tận cùng là đời của người
lính về chiều lại c̣n mang
thương tật. Hỡi ôi những mảnh
đời cùng khốn ấy rồi sẽ đi về
đâu, trong cảnh mưa gió phũ
phàng của cuộc đời? "ngày xưa,
là lính v́ đời chiến đấu là cầu
đem người sang sông, hôm nay làm
ma cô đơn, gục chết bên vệ
đường..."
1.Thân Phận Người Lính VNCH :
Đọc Congressional Record, một
trong những tài liệu tuyệt mật
của Ṭa Bạch ốc vừa được công
bố, đă làm cho những lính già
của VNCH phải cười ra nước mắt
và thương xót cho những đồng
đội, đồng bào, suốt hai mươi năm
qua, v́ chiến đấu chống sự xâm
lăng của Bắc Việt, mà chết oan
hay bị mang thương tật do đạn
bom và bàn tay VC gây ra. Những
luật lệ kỳ quái như Lính Mỹ
không được bắn VC, trừ phi chúng
tấn công trước. Không lực Mỹ
không được dội bom vào xe của VC
khi chúng ở cách đường ṃn
Trường Sơn 200m. Phi cơ Mỹ không
được tấn công phi cơ Mig nếu
chúng không gây hấn, không dội
bom các phi cơ VC đậu yên tại
phi trường. Cuối cùng, nghiêm
cấm quân Mỹ truy đuổi VC, khi
chúng chạy sang Lào và
Kampuchia.
Chính phủ Hoa Thịnh Đốn, chẳng
những cấm Quân Lực Mỹ, Đồng
Minh, VNCH không được thẳng tay
tiêu diệt kẻ thù, mà c̣n báo
trước những bí mật quân sự, quốc
pḥng cho VC biết trước, qua
những lần oanh tạc tại miền Bắc,
trên đường ṃn HCM, hành quân
Lam Sơn 719... Đó là tất cả
những sự kiện lịch sử có thật,
được Thứ Trưởng QP Mỹ Phil
Golding, thời TT. Johnson, trả
lời thắc mắc của hàng ngàn gia
đ́nh tử sĩ Hoa Kỳ: "Chúng ta
đang tham gia vào một cuộc chiến
giới hạn, với những mục tiêu hạn
chế. Nói chung đây là một cuộc
chiến v́ chính trị, nên không
thể tiêu diệt VC được".
Do sự phản ứng càng lúc càng
đông của người Mỹ, trước cái gọi
là "đánh không cần thắng", nên
dân chúng đă xuống đường, đả đảo
mà báo chí thời đó, gọi là do
phản chiến giựt dây. Thật sự,
người Mỹ đă quá chán ngấy cái
tṛ đem con bỏ chợ, đem trứng
cho ác, dai dẳng từ thời
Kennedy, Johnson, kế đó là
Nixon, nên đă giận dữ đ̣i Hoa
Thịnh Đốn "Hăy cút khỏi VN ngay,
hăy chấm dứt cái tṛ chiến tranh
nướng thịt dai dẳng vô ích này."
Tóm lại qua cuộc chiến VN, do
đầu óc con buôn, người Mỹ đă
đánh mất tất cả mọi ư thức về
trách nhiệm và danh dự, làm tiêu
tốn hơn 150 tỷ mỹ kim tiền đóng
thuế của dân chúng, hại cho
55,000 chiến sĩ bị chết oan và
hơn 300,000 quân nhân các cấp bị
thương tật. Trong khi đó, người
lính VNCH, dù là một quân đội
bất hạnh nhất thế giới, theo báo
cáo của MACV, Command History
hay Dwight Owen, một cố vấn Mỹ
tại VN, th́ đối với các quân
nhân VNCH, Chỉ Có Chết, Tàn Phế
Hay Đào Ngũ, mới mong giải thoát
được cái thân phận bọt bèo của
người Lính chiến trong thời loạn
lạc.
Ngoài ra, tài liệu cũng có nói
tới việc lính Nam VN đào ngũ,
nhưng không phải họ đầu hàng VC,
mà trở về quê nhà gia nhập lực
lượng ĐPQ+NQ, để được chiến đấu
bên cạnh vợ con, gia đ́nh. Sau
rốt, tính đến đầu năm 1975,
QLVNCH đă có 231,508 tử sĩ và
95,371 phế binh. Thương tủi nhất
là những ngày tháng sau đó, cho
tới khi Nam VN sụp đổ vào ngày
30-4-1975, đă có hằng vạn dân
lính vô tội gục ngă trên chiến
trường và khắp các nẻo đường
chạy loạn. Nhiều tử sĩ cũng như
thương binh đă bỏ thây, bỏ xác
tại chỗ, v́ đồng đội không thể
làm ǵ hơn giữa chốn loạn quân.
Chính Nhảy Dù từ ngày thành lập
cho tới khi tan hàng, cũng đă
phải nuốt lệ, bỏ lại xác đồng
đội, tại Mặt Trận Xuân Lộc tháng
4-1975, như Phạm Huấn đă viết,
khi được lệnh rút quân bất ngờ
trong đêm, mịt mù lửa đạn.
Trước sự sụp đổ nhanh chóng và
vô lư của Nam VN không phải tại
chiến trường, mà ngay ở các
thành phố lớn Ba Lê, Hoa Thịnh
Đón, New York, Luân Đôn, La Mă,
Huế-Đà Nẵng và Sàig̣n, khiến cho
nhiều trí thức ngoại quốc đă
phẫn nộ và bày tỏ thái độ khinh
miệt, đối với một số người trong
cũng như ngoài nước, một thời
lợi dụng tự do, dân chủ và nghề
nghiệp, để bẻ cong ng̣i bút,
xuyên tạc sự thật, phỉ báng đồng
bào và quân đội Nam VN với mục
đích đầu độc dư luận thế giới,
giúp Bắc Việt cưỡng chiếm VNCH.
Đề tài quen thuộc, được một số
báo chí Hoa Kỳ và Tây Phương
viết lách, đem lên truyền thanh
truyền h́nh, đó là người lính
VNCH hèn nhát không chịu chiến
đấu nên bị mất tự do và bị người
Mỹ khinh miệt.
Hai câu hỏi trên cách đây vài
chục năm được bịa chuyện là có,
nhưng bây giờ sự thật đă xác
nhận "Không". Hoa Kỳ khi tới
chiến đấu tại Nam VN, có đủ
phương tiện tinh thần cũng như
vật chất, vẫn nhiều lần bị
thương vong, bại nhục, vẫn không
thiếu những binh sĩ đào ngũ, bỏ
chạy khi trận địa hỗn loạn, vẫn
có tham nhũng và chính cựu TT.
Bill Clinton, v́ hèn nhát nên đă
trốn quân dịch pháp định. QLVNCH
chỉ mới thành lập, được coi là
một quân đội nghèo nhất trên thế
giới, lại bị chiến đấu trong một
cuộc chiến không có giới hạn
chiến trường, hậu phương, bạn
địch.
Thế nhưng những người lính nghèo
đó, mà lương năm cộng với tiền
tử tuất, phế tật, không bằng một
cuốc rượu của những ca ve, me
Mỹ, vậy mà họ vẫn một đời đem
máu đào xương trắng, phụng sự
chính nghĩa, bảo vệ màu cờ, sắc
áo và từng sinh mạng cũng như
tất đất của quê hương. QLVNCH là
sinh mạng của muôn người, nên
khi thiếu vắng hay không c̣n họ,
mạng người Nam VN chỉ c̣n là lá
rụng, đă gục ngă tại Mậu Thân
Huế-Sàig̣n, trên các đại lộ kinh
hoàng quốc lộ 1, Kontum, An Lộc
mùa hè đổ máu và sau rốt là cùng
nhau chết tập thể vào ngày
30-4-1975. Như sử gia Edward S.
Creasy viết trong tác phẩm nổi
tiếng "Fifteen Decisive Battle
Of The World" năm 1851 "Tầm quan
trọng của một cuộc chiến, là
những ǵ ta có hôm nay, đối với
người thắng cũng như kẻ bai".
Những ǵ đă xảy ra tại Nam VN,
sau 35 năm bị cộng sản cưỡng
chiếm, đă đủ trả lời về tấn thảm
kịch của VN, mà lần nữa Robert
S. McNamara, cựu bộ trưởng QP.
Thời TT Kenedy, đă giải thích
một chiều, trong hồi kư của ḿnh
"In Retrospect-The Tragedy and
Lesson of VN".
Nhưng không phải tất cả người Mỹ
đều mù quáng và tin tưởng vào
truyền thông báo chí lúc đó.
Chính những giờ phút cuối cùng,
nh́n cảnh đời bi thảm của phận
lính bọt bèo Nam VN trên màn
ảnh, tờ The New York Times
Service, đă thay thế người nhược
tiểu, giận dữ tố cáo chính quyền
Mỹ là hèn nhát, bỏ đồng minh
tháo chạy về nước trước sự tấn
công của VC. Họ cũng nêu đích
danh Henry Kissinger là kẻ bán
đứng VNCH cho VC khi bắt ép họ
kư vào bản hiệp ước giả mạo
1973, sau đó tàn nhẫn cúp viện
trợ, phủi tay đứng nh́n miền nam
sụp đổ.
Không có ǵ tồn tại với thời
gian trừ chân lư. V́ vậy những
câu chuyện hề của Henry Winston
chủ tịch đảng cộng sản Mỹ, đem
diễn tại Hà Nội vào tháng
5-1975, hay lời tuyên bố vung
vít của Nguyễn Hữu Thọ, chủ tích
bù nh́n của Mặt Trận Ma giải
phóng tại Mạc Tư Khoa, ngay khi
Sàig̣n thất thủ: "cám ơn báo chí
và kư giả Tây Phương, đă góp
phần lớn cho chiến thắng của Hà
Nội, trong số này đáng kể là
người Mỹ".
Đây là tất cả sự thật, vừa được
một cựu chiến binh Không Quân
Hoa Kỳ là Harry H. Noyes, thay
mặt những người lính VNCH, qua
tác phẩm "Heroic Allies" nói lên
vinh quang và sự hănh diện của
một quân lực, từ lâu đă bị bọn
trí thức vô liêm sỉ, tước đoạt
một cách hèn hạ, bất nhơn và vô
nhân đạo. Sự tuyên truyền lố
lăng và cuồng ngạo của Hà Nội
cùng những mặt mo bưng bợ, làm
cho thiên hạ năm châu chán ghét,
sau khi cái thây ma VNCH chỉ c̣n
trơ lại bộ xương gầy đét, không
c̣n ǵ để cho Huỳnh Liên, Ngô Bá
Thành, Huỳnh Tấn Mẫm, Chân Tín
và một số quạ đen, diều hâu, bu
tới rỉa rói như lúc chợ c̣n đông
khứa.
Trong tài liệu đặc biệt "How
Media Bias Distorts Our View of
the World" của kư giả Allan
Brownnfiels, nói rằng v́ hầu hết
giới truyền thông Tây Phương,
quá mù quáng, ca tụng một chiều
về Mao Trạch Đông và Fidel
Castro, trong lúc thẳng tay sỉ
nhục bôi nhọ Tưởng Giới Thạch và
chính phủ CuBa lúc đó, tuy vô
t́nh nhưng đă làm cho cộng sản
tại hai nước này chiến thắng mau
lẹ. Bài học của lịch sử sau đó
lại tái diễn ở Nam VN. Lần này
do chính những thành phần được
ưu tiên trạng trọng trong xă hội
lúc đó, là những công tử tiểu
thư đài các của giới địa chủ,
địa hào, thương gia, chủ vựa
nước mắm, nhờ cha mẹ tổ tiên
theo thực dân Pháp bóc lột đồng
bào, nên có tiền, có thế, cho
con trai, con gái qua Pháp, Mỹ
du học thành luật sư, bác sĩ,
giáo sư, những thành phần mà Hồ
Chí Minh và đảng VC ở miền Bắc,
chém giết và khinh bỉ tận tuyệt,
sau khi được làm chủ nửa miền
đất nước vào năm 1954.
Nhờ cái mặt nạ trí thức và sự tự
do quá trớn của Nam VN, những
thành phần ăn chén đá bát này,
luôn bẻ cong ng̣i bút, làm cho
thế giới tự do lầm lạc, nghĩ
rằng giặc Cộng tại Nam VN là
những người b́nh thường, yêu
nước, nên nổi dậy chống lại sự
độc tài tham nhũng của chế độ.
Tóm lại nhờ những trí thức này,
mà VC nằm vùng sau ngày tập kết
1954, VC chính thống từ Miền Bắc
xâm nhập, kể cả Tàu Cộng, Liên
Xô, Cu Ba, Đông Âu... trong bộ
đội Hà Nội đang chiến đấu tại
Nam VN, đều không có dính líu
tới Hồ và cộng sản đệ tam quốc
tế. Sự độc ác trên, nhờ tuyên
truyền ngay ở miền Nam và các
mạng lưới quốc tế, khiến cho
cuộc chiến chống xâm lăng cộng
sản, của người Việt quốc gia Nam
VN, mất đi cái ư nghĩa chính
thống, làm cho Hoa Kỳ cũng gặp
nhiều khó khăn khi sang chiến
đấu bảo vệ tiền đồn chống cộng ở
Đông Nam Á. Rốt cục, cả Mỹ lẫn
Việt đều đại bại trước mặt trận
thông tin ca ngợi VC, của báo
chí, truyền thông ngoại quốc và
ngay trong nước.
Từ năm 1965, Hoa Kỳ bắt đầu đổ
quân dồn dập vào Nam VN, cũng là
thời kỳ lửa máu ở hậu phương.
Đây cũng là thời kỳ ăn nên làm
ra, của những thông tín viên, kư
giả ngoại quốc, qua những bài
tường thuật, có kèm h́nh ảnh,
không phải để phổ biến những sự
thật, mà chỉ để tuyên truyền một
chiều, nhằm bôi nhọ những quân
đội, đang trực diện với cộng sản
Bắc Việt, trên chiến trường Nam
VN. Có thể nói bài phóng sự
chiến trường đầu tiên, của thông
tín viên đài CBS tên Morley
Safer, viết về cuộc hành quân
của một đơn vị TQLC Mỹ, tại một
làng xôi đậu, đă trở thành những
mẫu thông tin "ăn khách", theo
đơn đặt hàng của thị trường Mỹ
và Tây Phương lúc đó. Cũng nhờ
báo chí phản tuyên truyền về
cuộc chiến Tết Mậu Thân 1968 “
VC chết thảm khắp nơi, đă thành
chiến thắng, chiếm được ngay cả
Ṭa Đại Sứ Mỹ ở Sàig̣n “. Tàn
nhẫn và đáng khinh tởm nhất, là
báo chí Tây Phương, trong suốt
cuộc chiến Nam VN, đă không hề
có một chữ tường thuật những
hành vi khủng bố, giết người tàn
bạo của VC trong trận Mậu Thân
1968 tại Huế, năm 1972 trên Đại
Lộ Kinh Hoàng tại KomTum, B́nh
Đinh, An Lộc, Quảng Trị và những
ngày di tản máu lửa hận hờn.
Người lính VNCH vừa đánh giặc
phương Bắc, vừa chống đỡ búa ŕu
truyền thông báo chí trong nước
cũng như phong trào phản chiến
tại Mỹ và tây phương, được liên
kết bởi trí thức, sách báo và
tuyên truyền. Đó cũng là lư do
đưa đến sự sụp đổ tất yếu của
một dân tộc hiền ḥa, lễ nghĩa
nhưng bất hạnh v́ mang thân phận
nhược tiểu
2.
Thương Quá Người Phế Binh VNCH:
Tất cả h́nh như chỉ c̣n có kỷ
niệm sau cuộc đổi đời. Là định
mệnh mà chúng ta, những kiếp
trai thời loạn phải gánh chịu
theo ṿng đời nổi trôi của ḍng
sông lịch sử, dù vô lư, dù hờn
căm, dù bất công thương hận.
Mất nước nhà tan, nguời lính
sống sót sau cuộc chiến, ră ngũ
tan hàng đầu sông cuối bể, tha
phương th́ dần chết trong men
đời cay đắng, c̣n tù ngục chịu
cảnh nhục hờn. Nhưng tất cả giờ
cũng đă đi hết rồi, chỉ c̣n ở
đây là những thương phế binh xa
cũ, những hồn ma cô quạnh, sống
với quá khứ liệt oanh, qua những
vết thương đời không hề hối hận:
"Di tản khó, sâu ḍi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín
rên
Người chết mấy ngày không lấy
xác
Thây śnh mặt nát, lạch mương
tanh..."
(Tô Thuỳ Yên)
Ta thán phục, ta hănh diện biết
bao, khi đọc được những trang sử
cũ. Sẽ vui cười hớn hở cùng với
tiền nhân qua những lần giết
đuổi giặc Tống, Mông, Minh,
Thanh..tận ải Chí Lăng, trên
sông Bạch Đằng, đốt tàu Pháp tại
Vàm Nhật Tảo. Không biết những
trang quân vương dũng tướng thời
xưa, hành xử thế nào mà muôn
người như một, khiến cho người
trong nước, già trẻ lớn bé, đều
nguyện một ḷng giết giặc cứu
nước tại Hội Nghị Diên Hồng. Sau
này mới vỡ lẽ, th́ ra đó là tinh
thần trách nhiệm, cũng như bổn
phân của kẻ sĩ thời tao loạn.
Hay đúng hơn, đó là đức tính cao
quí của thanh niên-sĩ phu, dù họ
chỉ là những người b́nh dân ít
học.
"Tôi không là tôi nữa,
Từ khi được xuất ngũ
Có quạ đen đậu trên đầu
Có bao nhiêu đợi chờ đau khổ.
.."
Thanh niên VN thời nào cũng vậy,
tất cả đều đặt trách nhiệm làm
trai trên hết, nên chúng ta ngày
nay mới c̣n có đất nước, để mà
vui sướng, đau khổ. Hỡi ơi, có
làm lính mới hiểu phận bèo của
lính, có là thương phế binh, sau
khi được xuât ngũ, mới thấm thía
được nỗi buồn của một kẻ tàn
tật, mất tất cả, ngoài người mẹ
già từ quê xa, đang đợi con trở
về. Thê thiết quá cũng như đau
đớn tột cùng, kiếp lính chiều
tàn là thế. Sự thật là vậy, có
khi c̣n đau đớn trăm chiều. Ai
đă tùng thấy chưa, cảnh vợ lính
hay người yêu, chỉ một lần vào
thăm người thân nơi quân y viện,
rồi chẳng bao giờ quay lại,
ngoài những giọt lệ cá sấu, vô
t́nh c̣n vương văi đó đây. Ai có
một lần ngược xuôi trên các nẻo
đường thiên lư, t́nh cờ hội ngộ
những chàng trai tàn tật c̣n rất
trẻ, những người mù, què, mặt
mày in đầy thương-sẹo bởi đạn
bom, đang lần ṃ ngửa tay chờ bố
thí của mọi người. Họ là lính
chiến của một thời oanh liệt, là
thương phế binh QLVNCH đó, họ
đau khổ mang thương tật không
phải do bẩm sinh, mà v́ đời, v́
người gánh chịu:
Theo sử liệu, ta biết Nha Cựu
Chiến Binh và Nạn Nhân Chiến
Cuộc, trưc thuộc Bộ Quốc Pḥng.
Đầu tiên Nha này là một Bộ được
thành lập vào tháng 8-1952, có
một An Dưỡng Đường dành cho
Thương Phế Binh. Sau đó, bộ này
bị hủy bỏ, tất cả các vấn đề
liên quan tới cựu chiến binh,
đều giao cho Bộ Y Tế, với một
Nha riêng gọi là Nha Tổng Thư
Kư, Cưu Chiến Sĩ và Phế Binh đăm
trách.
Thời VNCH, qua một Đại Hội Cựu
Chiến Sĩ toàn quốc tại Toà Đô
Sảnh Sàig̣n. Ngày 29-5-1955, Nha
Tổng Giám Đốc CCB và NNCC được
thành lập, trụ sở ở đường Đoàn
Thị Điểm. Sau Tết Mậu Thân 1968,
Nha được cải thành Bộ, gồm các
Nha Sở Trung Ương và các Ty trực
thuộc.
Năm 1969, một biến cố lớn đă xảy
ra tai thị xă Nha Trang, tỉnh
Khánh Ḥa. Đó là vụ Y Sĩ Đại Uư
Hà Thúc Nhơn, trưởng trại 12
tai, mắt, mũi, họng, thuộc Quân
Y Viện Nguyễn Huệ. V́ dám tố cáo
Chỉ Huy Trưởng QYV là Thiếu Tá
Phùng Quốc Anh, với sĩ quan hành
chánh Đặng Mai, toa rập tham
nhũng, ăn xén tiền ẩm thực của
thương bệnh binh, cũng như mờ ám
trong các vụ cứu xét, phân loại
trợ cấp, miễn dịch. Đại Uư Nhơn
đă cầm đầu các bệnh binh nổi
loạn, nên bị Tỉnh trưởng Khánh
Ḥa lúc đó là Đại Tá Lư Bá Phẩm,
nguyên Trung Đoàn Trưởng Trung
Đoàn 43 Biệt Lập, ra lệnh cho
ĐPQ bắn trọng thương và đă chết
khi chở vào cấp cứu tại Cam
Ranh.
Ngày đưa tang người xấu số, cũng
là thời điểm Phế Binh Khánh Ḥa
đứng dậy đ̣i quyền sống. Taị
Sàig̣n, Trung Úy mù BĐQ Đỗ văn
Lai cùng một số phế binh nặng,
đang dưỡng thương tại Trung Tâm
Chỉnh H́nh đường Bà Huyện Thanh
Quan, cũng biểu t́nh, cắm dùi
khắp Đô Thành, đ̣i Chính Phủ
phải cứu xét lại quyền lợi của
họ, trước vật giá leo thang đắc
đỏ, do sự hiện diện của Mỹ và
Đồng Minh, vung đô la xanh đỏ
qua cửa sổ như khói thuốc. Phong
trào tranh đấu bùng nổ khắp
nước, làm cho chính quyền trung
ương cũng như tại các tỉnh bối
rối, v́ không thể dùng bạo lực
để chèn ép hay khóa miệng, bởi
phế binh cũng là lính, nên ai nỡ
xuống tay.
Rồi Tổng Hội Thương Phế Binh ra
đời tại Sàig̣n, bầu PB Nguyễn
Đinh làm Hội Trưởng, PB Nguyễn
Bính Thịnh, tức nhà văn An Khê,
làm phó và PB Đinh Trung Thu,
tổng thư kư. Ngoài ra c̣n có một
Hôi Ái Hữu Thương Phế Binh, do
cựu Thiếu Tá Nguyễn Văn Hàng
thành lập.
Thời Đệ Nhị Cộng Ḥa (1967-1975)
bắt đầu năm 1969 trở về sau,
quyền lợi của Phế binh, cô nhi
quả phụ càng ngay càng được cải
tổ, chăm sóc và dễ thở hơn
trước. Nạn chèn ép, d́m sổ trợ
cấp để làm tiền cũng chấm dứt.
Từ năm 1972, chính phủ cho thành
lập Ty Cựu Chiến Binh tại các
Tỉnh, có quyền hạn rất rộng răi,
ngoại trừ sổ trợ cấp đầu tiên
được kư cấp từ Bộ. Cũng từ đó,
người cô nhi, quả phụ và thương
phế VNCH, được sống an nhàn hơn
trước, với các quyền lợi thiết
thực, tương xứng, từ trợ cấp,
xin việc làm, y tế, cho tới các
kỳ thi, tất cả đều ưu tiên cho
họ.
Rồi th́ hằng loạt Làng Phế binh,
lần lượt ra đời tại quận cũng
như thị xă. Riêng những phế binh
đă có nhà, không muốn vào Làng,
được trợ cấp một ngân khoản
60,000 đồng. Tất cả các làng
trên, đều bị VC cướp giựt sau
ngày 30-4-1975.
Làm người b́nh thường, sống
trong thời loạn, đă phải khốn
khổ v́ miếng cơm manh áo, huống
chi phận lính nghèo, lănh đồng
lương chết đói, vậy mà c̣n bị
trí thức nguyền rủa, là lính
đánh thuê cho Mỹ.
"Giọt mưa trên lá, nước mắt mặn
mà, thiếu nữ mừng v́ tan chiến
tranh chồng về..."
"Mẹ lần ṃ, ra trước ao, nắm áo
người xưa, ngỡ trong giấc mơ,
tiếc rằng ta, đôi mắt đă ḷa v́
quá đợi chờ..."
(Phạm Duy).
Nhưng chiến tranh chứa dứt và
vẫn c̣n khốc liệt, nhưng người
xưa nay đă thành tàn phế, vô
dụng, lê lết đời tàn xuân héo,
lần ṃ trở về làng xưa, với
những kẻ thân yêu, mong chút
t́nh thân đùm bọc.
Ai có cảm thông chăng người lính
mù trẻ tuổi v́ đạn B40, lần ṃ
trên chiếc xe lăn, quanh bến
phà, bến xe, miệng hát tay đờn
kiếm sống? Có thương không những
người lính trận, bán thân bất
toại, lê lết khắp các nẻo đường
phố thị, để bán vé số, sách báo,
đắp đổi qua ngày. Và c̣n nữa,
c̣n trăm ngàn thảm kịch của tuổi
thanh niên thời loạn, chân gỗ
tay nạng, mắt mũi vàng khè, khô
nám, luôn đau đớn bởi những hậu
chứng, sau khi giải phẫu. Nhưng
họ vẫn lao động để sinh tồn, đi
biển, làm nông, lết lê trên
ruộng trên sóng, đội nắng tấm
mưa. Kiếp sống phận bèo của
người phế binh là thế đó, nên
phải chiếm đất cắm dùi, cũng là
chuyện b́nh thường.
Hai mươi năm chinh chiến, dù có
gọi bằng một thứ danh từ ǵ
chăng nữa, th́ xác của nam nữ
thanh niên hai miền đất nước,
cũng đă chất cao như núi, máu
chảy thành sông. Rốt cục chỉ có
cái vỏ độc lập, ḥa b́nh, tự do,
thống nhất. Người cả nước đói
vẫn đói và đời sống càng bị tù
hăm tứ phiá, bởi cổ được mang
nhiều thứ gông, cả cộng sản, lẫn
tư bản và đảng cầm quyền.
Nhưng thê thiết nhất vẫn là
những người phế binh VNCH. Ngày
xưa lúc chế độ cũ c̣n, được nói,
được hưởng đủ thứ quyền lợi, thế
nhưng họ vẫn sống bèo bọt, cực
nghèo. 30-4-1975, VC vào tóm thu
tất cả, thêm vào đó là chuyện
trả thù. Lính sống th́ đi tù,
lính chết th́ cầy mộ, c̣n lính
què đui tàn phế, th́ bị xua đuổi
ra khỏi các quân y viện, làng
phế binh và ngay cả ngôi nhà của
ḿnh.
19-4-1975 tại Quân Y Viện Đoàn
Mạnh Hoạch, Phan Thiết.
30-4-1975 tại Tổng Y Viện Cộng
Ḥa-Sàig̣n. Thảm họa ǵ đă đến
với các thương bệnh binh c̣n
đang điều trị, khi giặc về? Có
ai cầm được nước mắt trong cảnh
đoạn trường máu lệ, khi từng
đoàn thương binh, nối gót đắt
d́u ra cổng. Người sáng dắt kẻ
mù, kẻ bị thương nhẹ cơng người
trọng bệnh. Khắp lối ra vào, máu
me vương văi với nước mắt đoanh
tṛng của những nạn nhân bị bỏ
rơi, không đại bàng, chẳng đồng
đội và cũng hết hậu phương. Một
số chết v́ vết thương quá nặng,
số khác sống trong cảnh tàn phế
vĩnh viễn, v́ vết thương không
được tiếp tục điều trị. Đời thê
thảm quá, cũng may lúc đó quanh
họ, c̣n có những cô gái bán phấn
buôn hương ở Ngă ba Chú Iá, G̣
Vấp, những người xích lô ba gác,
kẻ cho tiền, người giúp công,
đưa hết những bệnh nhân xa xứ,
tới bến xe về quê sống tiếp kiếp
lính bèo.
Cuộc đổi đời nay đă xa lắc nhưng
mỗi lần nhớ cứ tưởng mới hôm qua
hôm nay. Ba mươi lăm năm rồi ta
c̣n sống được, để nói chuyện văn
chương chữ nghĩa trên đất người,
đă là điều đại phúc. Trong lúc
đó nơi quê nhà ngàn trùng xa
cách, những người phế binh năm
nào, không biết nay ai c̣n ai
mất. Nhưng chắc chắn một điều,
dù họ có sống hay đă chết, th́
hận nhục, thương đau cũng đâu có
khác ǵ bóng ma trơi, những mảng
đời nghèo hèn tăm tối. Đâu có ai
muốn nhắc tới những thân phận
hẩm hiu trong ṿng đời tục lụy,
kể cả những cấp chỉ huy cũ, hiện
đổi đời giàu sang, mồm to miệng
thét ở hải ngoại.
-
Xin hăy thương lấy họ, hăy cứu
vớt họ đang trôi nổi trong ngục
tù nghiệt ngă.
- Phế binh cũng là một phần của
tập thể cựu quân nhân hải ngoại.
- Hăy rớt một chút ân thừa cho
những thây người c̣n sống sót
trong bể hận trầm luân.
- Hăy cho họ một chút t́nh
thương trong cơn hấp hối.
- Hăy dành cho họ một chút không
gian nho nhỏ, trong căn nhà VN
to lớn, đă được các cộng đồng tị
nạn hoàn thành trên khắp nẻo
đường viễn xứ, để họ an tâm chờ
đợi luân hồi và một ṿng hoa
tặng người chiến sĩ ca khúc khải
hoàn, mà chắc chắn phải có trong
thời gian gần.
Ngày xưa người chinh phụ, giữ
sạch tâm hồn và băng trinh tuổi
ngọc, để đợi chồng ngoài quan
tái, hy vọng cuộc chiến mau tàn,
để phu phụ trùng phùng, kết lại
mối duyên xưa:
"Xin v́ chàng xếp bào cởi giáp
Xin v́ chàng giũ lớp phong sương
V́ chàng tay chuốc chén vàng
V́ chàng điểm phấn, đeo hương
năo nùng
Liên ẩm, đối ẩm, đ̣i phen
Cùng chàng lại kết, mối duyên
đến già..."
(Chinh Phụ Ngâm)
Nhưng người chinh phụ VNCH lại
không có cái diễm phúc đó, v́
khi quê hương vừa ngưng tiếng
súng, lập tức từ quan quân cho
tới sĩ thứ, những người bại
trận, lớp lớp vào tù. Lính chết
đă rục tử thi vẫn bị dầy mồ,
lính bị thương tàn phế bị xua
đuổi ra khỏi cuộc sống. Thử hỏi
trên thế gian này, có kiếp người
nào, đáng thương hơn người lính
VNCH?
"Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh
thương"
(Chinh Phụ Ngâm)
Cuộc đời thanh niên thời loạn
ly, rốt cục chỉ c̣n lại nỗi buồn
thiên cổ, xin hăy nâng ly rượu
sầu lên môi mà nhớ. Nghiêng
ḿnh, cúi đầu cảm tạ những vị ân
nhân, đă và đang hết ḷng cưu
mang, giúp đỡ tận t́nh "Thương
Phế Binh, gia đ́nh kể cả cô nhị
quả phụ VNCH", hiện đang sống
kiếp trầm luân rách đói, trong
địa ngục VN.
Xóm Cồn Ha Uy Di
Tháng 11-2010