|
CHÍNH TRỊ
NHÂN BẢN
Bài biên khảo của
Nam Giao Lê Thiện B́nh
I. DẪN
NHẬP
Để xây dựng một thể chế chính trị
nhân bản, chúng ta đă cùng nhau khảo luận và bàn luận về : « Thực
Chất Những Cuộc Cách Mạng Trong Thế Giới và Những Giá Trị Căn Bản
Cho Xă Hội-Chính Trị », hầu mong cho Đất Nước chúng ta có được một
thể chế mới. Đó là thể chế chính trị nhân bản. Thể chế đó là lấy Tổ
Quốc làm đầu, và xem trọng người dân là lẽ sống cho một đường hướng
chính trị. Đường hướng đó cũng thể h́ện những chính sách an Dân,
thuật trị Quốc, hầu mang phúc lạc cho dân, mà bất cứ một thể chế
chính trị và môt nhà cầm quyền chính danh nào cũng phải quan tâm và
lo nghĩ chuyện này.
Từ những suy tư thực thể này, từ những ǵ Nước
Việt, Dân Việt đă trải trăm đắng, ngh́n cay với bao thể chế quân chủ
phong kiến, thực dân tàn ác, Việt gian cộng sản dă man say máu người,
cướp đoạt nồi cơm, manh áo, tự do, nhân quyền và sự sống cuả người
dân (lư ra phải gọi họ là cướp sản cho đúng bản chất cướp bóc ăn vào
trong máu và da thịt của chúng). Đời sống của cha ông, chú bác, cha
mẹ, anh chị em chúng ta nước mắt đổ ra hơn là trời mưa đổ xuống. Lại
thêm một bọn Rợ Hán bá quyền, bá đạo và một bọn tư bản rừng rú được
sự tiếp tay của phỉ quyền Hà Nội cho đất, dâng biển, bóc lột mồ hôi
và máu của dân Việt chúng ta đến khốn cùng. Những thể chế đó đă tàn
phá Đất Nước và làm dân Viêt đau khổ vô vàn! Cục đá, viên sỏi, cây
rừng, chim cá, muôn thú của Nước Việt cũng nhỏ lệ cho dân chúng Việt
Nam lầm than khốn khổ.
Cục đá nhỏ lệ, viên sỏi thổn thức, cây rừng chim
cá, muôn thú uất nghẹn, tức tưởi cho số phận đắng cay, chua xót của
Dân Việt bị cưỡng bức sống dưới một chế độ phi nhân, phi dân tộc của
phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng thổ phỉ cướp sản của chúng. Lẽ nào
chúng ta không quan tâm, không chia sẻ, không đi t́m một phương sách
hữu hiệu để cứu cha mẹ, vợ con, anh chị em đau khổ của chúng ta ?
Con tim bị xé nát, tâm tư chúng ta đ̣i chúng ta phải có bổn phận,
trách nhiệm với họ. Tựu lại tất cả những thể chế chính trị đă đưa
đẩy Nước Việt xuống bùn đen, và đày dân chúng xuống vực thẳm nghèo
nàn, đau khổ đó, th́ chúng tôi sau những năm miệt mài khảo cứu, sau
những năm đi đây đi đó ở trời Âu Mỹ, để quan sát, để t́m hiểu vv.,
hầu rút ra nhũng cái hay ở xứ người cũng như cái kinh nghiệm đau
thương ở Đất Nước Việt chúng ta … Từ đó chúng tôi ước mong muốn đưa
ra sự thực thể của một thể chế chính trị mới, khả thể đem lại được
những quyền tự do, dân chủ, nhân quyền, và dựa trên nhân bản làm
gốc, hầu có thể tạo cho người dân một đời sống an lạc và hạnh phúc
hay Quốc Gia được giàu mạnh phát triển.
Bấy lâu này những thực thể chính trị liên quan
đến đời sống chúng ta, của con người đă bị một lớp người làm « méo
mó » đi bộ mặt của nó. Cũng thực thể chính trị đó có rất nhiều người
đă tưởng lầm về chính trị và quyền hành chỉ là một. Có nghĩa họ nghĩ
lúc làm chính trị phải có quyền hành và tham vọng cho cá nhân. Do từ
ư này mà chính trị dễ trở nên « cái quyền lợi và đặc quyền » cho sự
tiến thân của bản thân và gia đ́nh hay đảng phái v.v. như bọn phỉ
quyền Hà Nội và Đảng gian phi của chúng đă làm như vậy. Chính trị ở
trong nghĩa hẹp ḥi như thế, đă làm xấu đi ư nghĩa chính trị mà
nhiều người nghe nói chính trị th́ đă sợ hăi, rồi mang một ấn tượng
không đẹp về chính trị - Xem như chính trị là thối tha, là có lừa
lọc, gian ngoa và bí ổi. Qủa đúng như họ nghĩ! Lư thực, v́ nhiều
người không hiểu thấu đáo ư nghĩa chính trị. Hay họ là lớp người lợi
dụng chính trị và lạm dụng quyền hành để ấm thân, để đạt đỉnh cao
danh vọng và chức quyền, rồi trở nên độc đoán, độc tài và mù quáng
cả lương tri : như các tay bạo chúa, quân phiệt mà lịch sử đă ghi
lại các hành động tàn ác của họ : nào Tần Thủy Hoàng, Néron, César
của thời xa xưa, Lénine, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu
B́nh, Lư Bằng , Hồ Cẩm Đào, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẫn, Lê
Đức Thọ và tập đoàn phỉ quyền Hà Nội hiện nay, Polpot, Sadam Husen
vv. của thế kỷ qua và nay. Bởi thế chính trị đă bị nhuốm cái ư nghĩa
xấu do các hành vi tàn ác hại người, hại dân của họ.
Tuy thế, chính trị không dừng lại ở các sự xấu,
sự tồi tệ này, nhưng chính trị ở trong ư nghĩa sâu sắc hơn, khi
chính trị đă trải qua gịng thời gian tranh đấu của con người thời
trước cũng như thời nay, hầu trả lại cho « bộ mặt » chính trị với ư
nghiă đẹp của nó. V́ chính trị hay quyền hành là để phụng sự con
người như khoa học phải phụng sự nhân loại : Scientia debet hominem
servire, la science doit être au service de l’homme, chớ không phải
tàn sát con người ! Do đó qua bài khảo luận này chúng tôi muốn đưa
ra một thể chế chính trị phục vụ con người. Trước tiên, chúng tôi
xin nói đôi lời Dẫn Nhập, sau là các chương sau : I.Quan Niệm Chính
Trị Và Quyền Hành ; II. Nhà Nước Và Chính Trị ; III. Tự Nhiên, Quyền
Tự Nhiên Và Quốc Gia ; IV. Bạo Lực ; V. Quyền Hành ; VI. Nhà Nước Và
Hiến Pháp ; VII. Sự Kháng Cự, Cách Mạng Và Nhân Quyền ; VIII. Bản
Chất Dân Chủ ; Sau Cùng IX. Đôi Lời Tâm Huyết. Qua trong các chuơng
khảo luận này chúng tôi sẽ bàn thêm các tiết mục nhỏ liên quan đến
vấn đề chúng tôi nghiên cứu, để qúy vị và chúng tôi cùng nhau học
hỏi và t́m hiểu thêm về một lănh vực quan trọng của sự sống và đời
người.
II. QUAN NIỆM CHÍNH TRỊ VÀ QUYỀN
HÀNH
Qủa với thời đại hiện nay của chúng ta, có một
quan niệm về chính trị như một đặc tính thực nghiệm sau : là dưới
nhăn quan của phần đông người nghĩ th́ ở đâu có chính trị, ở đó có
quyền hành ; hay chính trị là thực thi quyền hành, là ảnh hưởng của
con người trên con người. Có nghĩa là thực quyền của nhóm người này
trên những con người khác. Thực rằng ít người chịu học hỏi, chịu khó
nghiên cứu, tim hiểu sâu xa hơn, để thông hiểu hoặc là để khám phá
cho đúng ư nghĩa của từ « chính trị », hay nữa là giảng giải ư
nghĩa của từ này trong ư nghĩa đẹp nguyên thủy của nó.
Vả thêm nữa, có nhiều tác giả hoặc nhiều nhà tư
tưởng của khoa học chính trị đă đồng hóa hai quan niệm của chính trị
và quyền hành thường được sóng đôi với nhau. V́ khi nói đến chính
trị, tất phải nói đến quyền hành của chính trị.
Do thế, trong cuốn sách « Dẫn Nhập
Vào Chính Trị, Introduction À La Politique » của Jean Luc Chabot,
ông đă có một nhận định rằng : « nhiều tác giả và nhiều luồng tư
tưởng của nền khoa học chính trị ở Âu Mỹ, nhất là ở Châu Âu đă đồng
ư để cổ vơ, và đồng hóa giữa hai quan niệm chính trị và quyền hành »
(1). Và ngay cả nhiều nhà chính trị cũng đồng hóa ngôn ngữ này cho
cả hai. Những theo chúng tôi nghĩ hiệu lực của « quyền hành » thường
có trong các giáo phái (secte religieuse », trong các câu lạc bộ thể
thao, trong các xí nghiệp, hảng xưởng. Cũng thế, người ta hay nói
đến quyền hành trong các cộng đồng mà người ta gọi là chính trị. Tuy
nhiên chúng ta phải biết phân biệt rơ những ǵ là đặc thù là quyền
hành chính trị (pouvoir politique, political power », và những ǵ
thuôc về chính trị (la politique même, same policy). Theo chúng tôi
nghĩ chính trị cho những xă hội có nhiều sự « phức tạp, complex,
complexe » : mà ở đó tác động một trong nhiều nhóm (đảng phái) tùng
phục vào một mệnh lệnh hay cái trật tự chung. Hay nữa, chính trị là
thực thi những quyền hành, hoặc chính trị là sự tương quan của chánh
quyền với người dân, hay nữa chính trị là giai cấp của quyền lực.
Chúng ta biết rằng chung chung th́ người ta hiểu
ở quan niệm này, và từ đó chúng tôi nghĩ sẽ có các câu hỏi để biết
ai là người nắm giữ quyền hành ? Làm thế nào người ta trở nên người
nắm giữ quyền hành để lănh đạo và điều hành guồng máy Quốc Gia ? Làm
sao để họ tùng phục quyền lực chính trị đó ? Hay nữa, làm thế nào để
chúng ta có thể đối lập với họ ? Vả nữa, làm thế nào để quyền hành
được tổ chức và điều ḥa trong guồng máy chánh quyền và với các
đảng đối lập ? Thế đó, khi chúng tôi đưa ra những câu hỏi trên đây,
th́ chúng tôi thấy người dân, các nhà văn hóa, tri thức, thiên hạ ít
ai đặt câu hỏi về nó, hoặc là bản chất thực của chính trị và quyền
hành, người ta đă nói nhiều về chính trị, thế nhưng đi đến sự khảo
cứu và sự giải thích th́ họa hiếm không mấy người t́m ṭi suy luận.
Và dẫu có đi nữa, th́ các nhà khảo cứu, các học giả thường nói đến
các khái niệm khái quát về các cộng đồng chính trị cùng cái chung
chung của chính trị : như mục đích và kết cục của chính trị cho
quyền hành và người nắm giữ chánh quyền. Họ không muốn nói ǵ hơn về
nguyên nhân của chính trị. Chúng tôi thiết tưởng có thể thiên hạ
muốn lưu giữ măi tŕnh trạng « bất khả tri » đối với chính trị và
quyền hành chăng ?
Tuy có khó khăn cho công việc khảo cứu này, song
với sự khả thể của sức ḿnh, chúng tôi cố gắng học hỏi, t́m ṭi để
đưa ra những suy tư của ḿnh về mục đích và nguyên nhân của sự hiệu
lực quyền hành - hầu hướng đến hành động của các nhóm người được
chọn để nắm giữ quyền hành (chánh quyền). V́ với quan niệm này sẽ
đưa ra các điều đặc biệt – Và có thế sẽ giúp chúng ta có một cái
nh́n thực tế để đi vào giữa hai thực thể chính trị và quyền hành.
Nói như Jurgen Habermas, th́ đây là « việc làm thông đạt, activité
communicationnelle », được hiểu như là một xă hội thực thể và nền
tảng chính trị cho con người. Tiến xa hơn chúng ta có thể nói đến
chiều kích của chính trị, cũng như có thể nói đến các chiều kích
chính trị của tôn giáo. Nhưng, việc ấy là trạng thái tích cực, hoàn
toàn trong ư nghĩa tích cực. Hoặc nữa chúng tôi có thể nói đến một
nền triêt lư tiến lại gần hơn với chính trị. Và v́ sự tiến lại gần
này với chính trị mà chúng tôi muốn cống hiến cùng qúy vị cùng người
dân Việt Nam những suy tư, suy luận của chúng tôi, hầu mong có được
một thể chế chính trị nhân bản cho Quê Hương và Đất Nước dấu yêu.
Một nền chính trị nhân bản, để tất cả mọi người dân Việt trong Nước
và Hải Ngoại, già hay trẻ, đủ mọi thành phần trong xă hội, đều chung
lưng, góp sức, góp tài, góp của để tái thiết và thắng hóa con Rồng
Việt tung bay lên cao với thiên hạ, với vũ trụ xinh đẹp này mà Tạo
Hóa đă ban cho chung ta cùng nhân loại sinh sống và sinh tồn.
III. NHÀ NƯỚC VÀ CHÍNH TRỊ
Chúng tôi nghĩ rằng khi chúng ta nói đến một xă hội, th́ tự nhiên
chúng ta nghĩ ngày đến con người. Do thế, trong nên triết học chính
trị của Eric Weil (2), ông đă khai triển ư nghĩ này : « Tất cả các
xă hội của con người đều thiết tạo nên một cộng đồng việc làm. Xă
hội thời nay được xem và hiểu rằng, tự bản chất của xă hội là sự tổ
chức để chiến đấu chống lại cái bản chất sự ác, sự thoái hóa của
những người lănh đạo tạo nên cho xă hội (quốc gia) suy vong » (3).
Qủa lời nói chí lư và đúng với xă hội hiện thực của Đất Nước Việt
dưới sự cai trị « u tối » của tập đoàn phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng
gian phi Việt cộng. Thế mà có được mấy vị lănh đạo tôn giáo, tinh
thần, tri thức, văn hóa, nói lên tiếng nói hùng hồn tranh đấu chống
lại sự ác, sự thoái hóa đạo đức, luân lư, phong tục truyền thống của
cha ông, có mấy ai tranh đấu để tiêu trừ các việc nói này, để cho
Đất Nước khỏi suy vong khi c̣n sự hiện hữu của « cái xă hội chủ
nghĩa vô loại » cùng bọn phỉ quyền Hà Nội u tối, chúng hại Dân, bán
Nước th́ tài giỏi hơn thiên hạ. Cũng theo nhà chính trị học này,
trong một vài ư nghĩa có tính cách chung thể th́ « phương tiện của
việc làm, là ngay chính trong tất cả các xă hội quyền lực của thời
đại nay. Hay xă hội tân thời là nguyên tắc của tính toán, của vật
chất và máy móc tân kỳ » (4).
Chúng tôi nghĩ xă hội tân thời không phải là hoàn
toàn hợp lư như những ǵ xă hội có. Nhưng trong xă hội đó được chia
ra nhiều nhóm, nhiều khuynh hướng và nhiều giai cấp, có nơi c̣n chia
đẳng cấp khác nhau. Cũng chính sự chia ra nhiều nhóm, nhiều khuynh
hướng và giai cấp, đẳng cấp này mà nó đẻ ra lắm sự bất công của xă
hội. Xă hội tân thời có một lịch sử riêng của nó. Từ lịch sử đó,
chúng tôi thấy có một số người cảm thức rằng ḿnh không hài ḷng về
lịch sử này. Sự không hài ḷng đó của một số người nó trở nên như sự
chống lại xă hội, và gây ra nhiều luồng ư tưởng khác nhau, nhất là
ngày nay xă hội lại càng đa diện và phức tạp hơn nhiều.
Qủa thực con người hằng bị tương thuộc vào « đời
sống xă hội » ấy. Để rồi tự bản chất không giới hạn này, từ đó đă có
ngay chính trị trong cái ư nghĩa đặc thù của nó, mà chúng tôi nghĩ
trong chiều hướng này đă tạo nên một cộng đồng lịch sử. Cộng đồng đó
có đủ khả năng để quyết định cho vận mạng của ḿnh. Theo như triết
gia Weil nghĩ, mặc dầu lư do bởi việc « thống trị » của xă hội, song
luôn cần thiết có đến các cộng đồng chính trị hay lịch sử. Vả nữa,
cộng đồng chính trị luôn có chỗ đứng quan trọng của minh, chính là
chỗ vị trí của Nhà Nước (L’Etat). Khi đă gọi là Nhà Nước, th́ không
làm giảm bớt các cơ cấu nền tảng của một thực thể chính trị. Lư
thực Nhà Nước phải hành động do ḿnh. Có nghĩa Nhà Nước hành sự bởi
chiều kích của lịch sử phổ quát. Nhà Nuớc không bị giới hạn quyền
hành của việc làm, hay bị áp lực, tùng phục vào « Đảng », hoặc nữa
bị chi phối bởi quyền lực của một cá nhân nào đàng sau. Như cái kiếu
Nhà Nước phỉ quyền Hà Nội, hằng bi chi phối và chiu sự lănh đạo của
« Bộ Tà Trị » và Đảng thổ phỉ của chúng. Do thế, chúng ta hiểu
chính trị là việc làm của một hành động phổ quát, có nghĩa của toàn
dân chung sức. Qua chính trị, th́ mọi việc được dựa theo kinh nghiệm
nguyên khởi và phổ quát của chính trị, chớ không phải hành động của
một cá nhân hay một nhóm người (đảng phái) đặc quyền độc đoán lănh
đạo măi như cái Đảng gian phi của Việt cộng làm cho Đất Nước thoái
hóa về mọi lănh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, kỹ
thuật. Để rồi trở thành một Quốc Gia lạc hậu, nghèo nàn, và trăm thứ
tệ đoan xấu. Thế nên, chúng ta chớ xem chính trị chỉ là hành động
của cá nhân hoặc là nhóm người thực thi quyền hành, nhưng nghĩ sâu
xa hơn chính trị là hoàn toàn của giống người, của mọi người dân
đóng góp.
Chúng ta nghĩ và hiểu ǵ về chính trị thuộc về sự
phổ quát của toàn dân này, khi mà thực thể chính trị không luôn đạt
được trực tiếp sự hành động hoàn mỹ trong sự phổ quát ấy ? Đó là
điểm đáng buồn mà chúng tôi nói đến của con người thời xưa cũng như
thời nay hằng nghĩ chính trị chỉ do một cá nhân, hay một nhóm người
có thực quyền nắm nó, làm giảm bớt đi cái ư nghĩa của chính trị toàn
thể và chung thể của giống người. Nói như Aristôt : « con người là
hữu thể của xă hội và chính trị ». Theo cảm nghĩ của Weil, th́ chính
trị của thời đại ta vẫn luôn ở trong trạng thái ư tưởng đáng buồn
này, là dành độc quyền cho một cá nhân hoặc đảng phái nào đó cầm
quyền Quốc Gia. Để rồi từ đó, th́ Nhà Nước c̣n lại cho ta một ư
nghĩa khác.
Từ ư ấy chúng tôi
nghĩ rằng chính trị và Nhà Nước vẫn c̣n hiện hữu những sự « vụng
về » trong các công việc thuộc lănh vực xă hội : chẳng hạn với bao
quyền lợi khác biệt, với các phức tạp của trăm ư muốn con người v.v.
Đây chính là sự nan giải của Nhà Nước thời nay, để làm sao dung ḥa
được sự công chính của ḿnh bằng các nguyên tắc của việc làm, hay
bằng hiệu lực của các đề án, bằng các chương tŕnh canh tân xă hội
vv. cho có thành qủa. Đó chính là các quan điểm thực tế của xă hội
mà Nhà Nước nào cũng phải quan tâm đến cho người dân. Có nghĩa là
trong xă hội ắt có nhiều quyền lợi khác nhau, có nhiều việc làm khác
biệt, song tựu trung các việc làm và quyền lợi đó phải dung ḥa,
b́nh đẳng và công b́nh, công minh, hầu tạo nên một xă hội b́nh an,
hạnh phúc. Nhờ vậy xă hội tạo nên như cái đầu máy lôi kéo các hành
động, các việc làm của cá nhân hay là nhóm người cùng các giai cấp
trong xă hội cùng nhau tham dự và xây dựng cho Đất Nước thăng tiến.
Thực các quyền lợi cùng các việc làm khác biệt được dung ḥa và b́nh
đẳng này, là công việc ư thức và là đối tượng mà Nhà Nước phải nghĩ
đến - mặc dầu nó không phải là cái ư thức phổ quát đến mọi quyền lợi
của cá nhân, Thế nhưng ít ra nó cũng là sự tương thuộc, hổ tương, và
qua các tương thuộc cùng sự hổ tương này mà xă hội ngựi dân sống,
trong xă hội đó tất Nhà Nước thực thi quyền hành của ḿnh cho phải
lẻ, cho công b́nh, công minh, b́nh đẳng hầu thăng hóa người dân và
xă hội.
Do
vậy, việc làm chính trị và Nhà Nước, cùng hành sự cho ư thức này
được xem như là của cộng đồng đến từ chính trị phục vụ con người, và
qua ư thức này th́ đến từ sự can thiệp của Nhà Nước cho các điều
chúng tôi đă nói trên, nếu như có ai đi ngược lại. Nói đúng nguyên
nghĩa của Nhà Nước, th́ Nhà Nước là « người » có bổn phận lo lắng,
thu xếp các quyền lợi của mọi người dân, để nâng cao đời sống của
họ, và việc làm này có tính cách phổ quát cho toàn dân. Vả nữa, Nhà
Nước cũng có nhiệm vụ hợp tác với hết mọi thành phần công dân, để
cùng chung xây dựng Đất Nước. V́ Nhà Nước chính là người thực thi
nghiêm chỉnh sự công bằng xă hội, hay tái lập sự công bằng, sự an
ḥa và công minh khi xă hội có tham nhũng, hối lộ, lạm dụng quyền
hành, cướp đoạt vv. Hơn nữa, quan niệm về sự cộng bằng xă hội không
chỉ là khái niệm của xă hội, nhưng là một quan niệm hoàn toàn đặc
biệt của chính trị, cho người làm chính trị qua mọi thời đại.
Nói
đến đây, cho phép chúng tôi có những lời về tŕnh trạng của Đất Nước
Việt Nam ta hiện thực. Qủa là quá đau ḷng và xót xa cho Đất Nước
dấu yêu ! V́ tập đoàn phỉ quyền Hà Nội và Đảng gian phi Việt cộng
của chúng, quá kém hiểu biết ư nghĩa chính trị, việc làm thuộc chính
trị và Nhà Nước. Thử hỏi một ông Thủ Tướng một quốc gia gần 90 triệu
dân, mà chưa học hết cấp một (tiểu học), một ông Chủ Tịch Nước cũng
không khấm khá ǵ hơn, chưa qua đuợc cấp ba. Đă kém học vấn như thế,
đúng ra chịu khó học hỏi với người và với đời, để có thể thăng tiến
bản thân và mở rộng kiến thức của ḿnh mà cầm quyền trị nước cho
phải phép, cho Nước phú cường, cho Dân an thái và hạnh phúc mới là
người chân thực lo việc Nước, việc Dân. Thế nhưng, chúng không chiu
học cái hay, điều đẹp, sự chân thật và đạo lư của giai cấp lănh đạo.
Chúng chỉ chiu hoc cái ác, cái tà đạo và cướp đoạt tài sản của dân
chúng và của thiên ha. Chúng chỉ học giỏi gian dối, lừa bịp, chụp mũ,
khủng bố, vu khống, giết người, bắt bớ các người đối lập và tranh
đấu cho nhân quyền cho dân chủ va tự do báo chí, ngôn luận và tôn
giáo.Thế đó, tập đoàn Việt gian cộng sản với cái tham vọng vô đáy,
cùng muốn nắm quyền hành, muốn giữ măi quyền hành trong tay chúng và
cho Đảng gian phi của chúng. Do đó, xă hội Việt Nam chúng ta mới bệ
rạc : nào bất công, tham nhũng, đói rách và trăm thứ tệ đoan xấu
hiện hữu tàn phá luân thường đạo lư của dân tộc Lạc Hồng, làm suy
đồi bao thế hệ con dân Việt. Thử hỏi có một xă hội nào Ông Hiệu
Trưởng lại rũ rê, dụ dỗ học sinh ḿnh lên giường ăn năm với ông,
hoặc thầy giáo tống tính, cưỡng dâm nữ học sinh ḿnh. Duy chỉ có
dưới chế độ « cộng hoà xă hội chủ nghĩa » của phỉ quyền Hà Nội.
V́
vậy, chúng ta thấy trong xă hội thường xảy ra các cuộc cách mạng,
các cuộc tranh đấu, các cuộc khởi nghĩa : như cách mạng xă hội, cách
mạng kỹ nghệ, văn hoá và chính trị vv., để đánh đổ những người cấm
quyền tồi tệ và chế độ phản lại văn minh cùng sự tiến hóa của con
người. Tất cả các cuộc cách mạng hay tranh đấu này, được hiểu rằng
hoàn toàn thuộc sắc thái chính trị. Có nghĩa là để tái lập lại sự
công b́nh, hay là thể chế chính trị công minh cho toàn dân.
IV. TỰ
NHIÊN- QUYỀN TỰ NHIÊN & QUYỀN TẤT NHIÊN VÀ QUỐC GIA
Qua chương này
chúng tôi muốn bàn đến một luật cùng một quyền tiên khởi, đó là luật
cùng quyền tất nhiên, một quyền căn bản của loài người. Do thế,
chúng tôi đề nghị chúng ta cùng nhau t́m hiểu về khái niệm của chúng.
Hơn nữa, khái niệm về luật tự nhiên cùng quyền này đă chiếm một phần
quan trọng trong truyền thống triết học của thời xưa, nhưng vẫn c̣n
thực dụng đối với thời nay.
4.1.
Quyền Tự Nhiên Và Quyền Tất Nhiên Ư Nghĩa Như Thế Nào?
Quyền
tự nhiên cùng quyền tất nhiên và khái niệm của chúng, đây chính là
tư tưởng của Triết Gia Platon, được ông nói đến như một người công
chính (l’homme juste). V́ theo ông th́ sự công chính có trước chính
trị (la justice procède donc la politique). Từ đó sự công chính đă
thành một phần tư tưởng này của triết gia, và qua đó các tư tưởng
này được đưa vào triết học. Vả nữa, theo một quan niệm khác của
triết gia Platon, th́ công chính có thể sinh ra một phần toàn thể
của chính trị. Điển h́nh những nỗi lo âu bất thường của ông vào sự
kết hợp với chính trị, và sự tùng phục của chính trị vào hồn của nó,
đây là h́nh thái xem như các quan năng của tâm hồn tùng phục vào Lời
(la manière des facultés de l’âme soumises au Logos). Tuy nhiên,
chúng tôi cảm nhận sự xác quyết của Platon về vấn đề sự công chính
là ưu tiên hơn cả. V́ đây là một quyền tiền thủ hơn tất cả mọi luật
– Có nghĩa là luật bảo giữ những tính cách thực tế hoặc chủ nghĩa
thực tế (réalisme). Song chúng tôi thiết tưởng có tính cách hơi thái
qúa, và bởi chủ nghĩa thực tế này được xem là sự sống động mạnh mẽ
của truyền thống triết học Tây phương.
C̣n
chính triết gia Aristôte cũng sử dụng đến ngôn từ tự nhiên này khi
ông nói « con người là một hữu thể tự nhiên của xă hội, của chính
trị, bởi v́ họ nói, họ trao đổi và đối thoại, l’homme est un être
naturellement social, politique, parce qu’il parle, échange,
dialogue ». Nhất là, con người không bao giờ không nói và không trao
đổi, v́ thế các xă hội dân chủ thường tôn trọng đến vấn đề « tự do
ngôn luận và tự do báo chí, truyền thanh và truyền h́nh là vậy ».
Chỉ trừ các xă hội chủ nghĩa cộng sản chuyên chính, độc tài, độc
đoán và loại quân phiệt rừng rú, lạc hậu : như Trung Cộng, Bắc Hàn,
Cu Ba, Việt Nam, Lào, Miến Điện vv.,mới bóp chết các quyền tự do nói
đây.Do đó, chúng ta thấy ở đây một ư niệm về nói rất hệ trọng được
xem là một bản chất dính chặt vào con người một cái quyền nói tất
nhiên của họ, mặc dầu triết gia Aristôte đưa ra ư nghĩa hơi khác với
triết gia Platon. Tuy nhiên ở đây chúng ta có thể nói là một xă hội
tự nhiên và một quyền tự nhiên cùng cái quyền tất nhiên của con
nguời (người dân) được nói cái cảm nghĩ của ḿnh với người khác, với
quần chúng, có quyền phê b́nh chỉ trích những sai lầm của chế độ.
Bởi thế, là một xă hội văn minh, tiến bộ ắt phải tôn trọng và áp
dụng cái quyền tất nhiên này thành phổ quát vào đời sống quân chúng,
nhất là cho Đất Nước Việt ta. Chúng ta thấy ở đây là những thực thể
cụ thể của lănh vực chính trị, để rồi từ đó, chúng ta có thể đối
chiếu cùng làm tiêu chuẩn cho một xă hội lành mạnh. Hay nói cách
khác, là chính trị nhân bản.
Cũng
từ quan niệm này, chúng ta có thể khai triển thêm với nguồn tư tưởng
của chủ nghĩa khắc kỷ (stoicisme). Theo họ, th́ tất cả con người,
mọi tâm hồn tham dự vào một Hồn phổ quát nguyên thủy (Âme
universelle primondiale). Chúng ta thấy theo tư tưởng của trường
phái này, th́ có một vài sự thuộc về thần linh ở đây. Thượng Đế có
trước các xă hội loài người và mọi thể chế chính trị, và như ư nghĩ
này, được xem là mẫu đối chiếu và tiêu chuẩn cho mọi thứ triết lư
hoặc chủ thuyết xă hội và chính trị. Để từ ư đó, Kitô giáo với các
thánh Ambroise và Augustin đă đón nhận và chấp nhận tư tưởng nguyên
khởi này của chủ nghĩa khắc kỷ.
Thực
thế, qua trong các luồng tư tưỏng và con đường nói này, th́ chúng ta
cảm nhận có ngay được cộng đồng chính trị, như cộng đồng chính trị
đă xuất hiện một cách tự nhiên (có thể hiểu đây là luật tự nhiên
hoặc là Luật Tạo Hóa). Luật này như sự bắt buộc, hoặc đă định, bởi
cái tự nhiên của con người trước tất cả hành động của mọi người
(exigée, ou donnée, par la nature de l’homme, avant tout acte des
hommes). V́ thế mà tư tưởng « tài sản chung, bien commun » cũng đóng
một vai tṛ quan trọng ở đây, đuợc xem là cứu cánh đă được ghi khắc
thành cái quyền, hầu tất định cho sự quân b́nh của luật tự nhiên của
nó. Đó là điểm chúng tôi muốn lưu ư cho chúng ta trong truyền thống
giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về chính trị. Hơn thế nữa, chúng ta
rơ luồng tư tuởng và truyền thống về quyền tự nhiên và quyền tất
nhiên cùng tài sản chung này đă kéo dài cho đến thế kỷ thứ XVIII, và
ngày cả nữa bán thế kỷ XIX, như một dấu chỉ đặc biệt trong tư tưởng
cùng đời sống của mọi người Tây Phương.
4. 2.
Luân Lư Và Chính Trị
Để trả
lời cho những vấn nạn, cho những nhũng loạn, cho những cảnh thối nát,
cho trăm mối tệ đoan xấu, cho sự suy đồi của xă hội Việt Nam ta hiện
thực : từ đó phải chăng chúng ta nghĩ chính trị phải tùy thuộc vào
giá trị luân lư ? Nhất là, bởi sự tự do nói ở đây vốn sẵn cái thực
thể của luân lư.Thế nên, chúng ta hiểu tự do ở đây là sự ư thức của
ḿnh, tự do không là ư hoàn toàn làm nguợc lại lương tâm và đạo đức.
Hay là tự do là một việc hành động tự do như ư muốn tự do (libre
arbitre). Chỉ có tập đoàn phỉ quyền Hà Nội và Đảng gian phi của
chúng, là những người thất học, kém văn hoá, th́ luôn làm càn, muốn
làm theo ư muốn « độc đoán và độc quyền tự do » của chúng. Chúng
hành động tự do cướp đoạt tài sản của dân, ngang nhiên muốn bắt ai
bỏ tù th́ bắt : chúng chỉ cần chụp mũ mấy chữ « phản động, chống phá
nhà nuớc xă hội chủ nghĩa, thế lực thù địch, âm mưu diễn biến hoà
b́nh » hay chống lại Đảng gian phi và phỉ quyền Hà Nội, th́ chúng
tha hồ tàn sát dân lành và những người đối lập. Tuy nhiên, lư thực
để hiểu tự do như một kim chỉ nam, giúp và chỉ cho ta đi đúng đường,
đúng phương hướng. Tại sao? Bởi v́ chính sự tự do đó, và hữu thể tự
do ấy (l’être libre) như một danh từ, một định hạn, có giới hạn của
việc thực thi tự do của con người. Nhất là, sự tự do có khỏang cách
của việc làm tự do. Do sự kiện này, th́ sự tự do mời gọi con người,
mời gọi mỗi người chúng ta đến việc tạo nên một sự hiện hữu của luân
lư cùng đạo đức và lương tâm con người.
Chúng
tôi nghĩ con người không thể tự do hành động các điều ḿnh muốn như
ư, nếu như không có các mẫu mực luân lư làm giá trị, quy tắc cho
hành động của ḿnh, th́ xă hội chỉ có loạn, và bất ổn triền miên. Do
thế, luân lư như là tiêu chuẩn để giúp con người và Nhà Nước tránh
được các lầm lẫn chủ quan, của độc đoán, của độc tài, của thú tính.
Qủa khi người ta tôn trọng đến các mẫu mực của luân lư, được xem là
tiếng nói của luơng tâm, hầu bảo giữ cho người dân đuợc an thái và
quốc gia được yên hàn. Chúng ta rơ luân lư được xem là các nhân đức
cao cả của con người. Đẹp hơn, chúng ta có thể nói luân lư ở đây là
một sự thẩm mỹ hoá (une esthétisation) của chính trị, mà con người
cần phải có nó như một việc thiết yếu để cho cộng đồng nhân loại
hiện hữu vui sống, cùng hạnh phúc trong thể chế chính trị nhân bản
và đạo đức.
Do đó,
chúng tôi nghĩ trong thể chế chính trị phải có luân lư, như chúng
tôi đă nói ở trên luân lư là sự thẩm mỹ hóa của con người. Thiếu
luân lư trong chính trị và hành động, th́ dẫu thể chế chính trị nào
đi nữa, nó cũng trở nên một loại chính trị vô luân, phi đạo đức, và
dễ dẫn đến hạ cấp, hạ phẩm giá con người kém hơn cả loại thú : người
bóc lột người, người cướp của người, người giết người, người ăn thịt
người như dưới chế độ Trung Cộng, người bỏ tù người một cách tự
tiện, tùy ư như phỉ quyền Hà Nội vv. Điển h́nh là các Nuớc cộng sản,
quân phiệt, chuyên chính độc tài như Trung Cộng, Việt Nan, Bắc Hàn,
Cu Ba, Miến Điện, Lào vv.
4.3.
Tương Quan Căn Bản Của Việc Tương Kính Lẫn Nhau Theo Quyền Tự Nhiên
Chúng
tôi nghĩ trong chiều hướng tốt đẹp mà chúng tôi đă nói qua về luân
lư trong lănh vực chính trị. Nay ở đây chúng tôi muốn nói đến sự
tùng phục của chính trị vào luân lư, cũng thế, luân lư đó được xem
như một quyền tự nhiên - Giải rộng nghĩa hơn, có nghĩa đây là một sự
tương quan kính trọng lẫn nhau giữa con người với nhau. Sự tương
quan kính trọng đó, phải đặt trước các sự tương quan khác của ḿnh.
Thực vậy, sự tương quan này được nhận ra như một định đề,
đó tác động như nguồn gốc của sự nhận ra trong bản chất tất nhiên
của tự do, là tôi phải kính trọng tha nhân, nó cũng tác động trong
sự kiện mà tự do đó là chiều hướng không thể tuyệt đối. Có nghĩa sự
tự do đó có khoảng cách với chính ḿnh, bởi sự tự do của tôi không
thể vi phạm vào sự tự do của người khác. Tôi có tự do, th́ người
khác cũng có tự do. Tôi không muốn ai làm cho tôi những điều ác,
điều xấu, th́ tại sao tôi lại làm điều đó cho người khác ? Do từ ư
nghĩa này, tôi muốn người khác kính trọng tôi, tất tôi phải biết
kính trọng tha nhân. Đây là ư nghĩa của sự tương quan kính trọng lẫn
nhau mà trong đời sống chính trị và việc làm chính trị phải có, và
thể hiện ra cung cách sống thực tiễn với mọi người, với toàn dân.
Cũng thế, từ ư nghĩ
này mà người ta nói quyền tự nhiên như một tiềm năng hoặc tất định.
Có nghĩa luật đó đưa ra sự hội tụ của các tự do, hay là trong quyền
tất định này đă có sự hội tụ. Chúng ta biềt trong quyền tất định cụ
thể đó là sự chân thật, và càng không phải là sự bất ngờ không chắc.
Bởi hữu thể của con người được xuất hiện trong nền tảng luôn hướng
về kẻ khác, có nghĩa là sự lưu tâm đến tha nhân mà người ta gọi là
đó là luật tự nhiên (không cần đến xă hội). Như thế, quyền tự nhiên
là quyền không có nó, th́ người ta không thể tưởng ra được một con
người tự do gặp gỡ được một con người tự do khác.
Để
nhận ra sự tự do ở đây, th́ được xem là một « khế ước », hầu mọi
người nh́n nhận nó là nền tảng của sự sống tương kính lẫn nhau của
các sự tự do đến ngay từ sự tự do này của con người : có nghĩa là
chúng ta kính trọng sự tự do của nhau mà mọi người đều có thể sử
dụng nó, và xem tự do là một điều kiện tất yếu của con người. Theo
triết gia Lock, ông là người có cảm nghĩ rất đẹp về luật tự nhiên
này. Qủa thật quyền tự nhiên được xem là một triết lư của triết lư
sống của người xưa.
C̣n
theo triết gia Hegel, th́ ông bộc lộ tư tưởng dung ḥa của quyền tự
nhiên với ư muốn tự do (volonté libre) mà nhiều người nghĩ lầm :
phải chăng ông không suy diễn về quyền tự nhiên, để đưa nó vào việc
xây dựng các xă hội và chính trị bắt đấu từ ư muốn tự do? Thực ra,
ông là triết gia của quyền tự nhiên, tuy nhiên triết gia lại nói đến
ư muốn tự do này. Như thế chúng tôi nghĩ đây là cái việc « đạo đức
chủ quan » đến cái « đạo đức khánh quan ». Chúng ta hiểu ở đây là
gia đ́nh và các thể chế cần thiết, hoặc là kinh tế và Nhà Nước nằm
trong những nguyên tắc của triết lư về luật của triết gia. Chúng tôi
xin trích lại đôi gịng tư tưởng của ông sau đây : « sự thiện, là
bản chất phổ quát của sự tự do, nhưng vẫn c̣n dưới một h́nh thể trừu
tượng, được định danh bằng các xác định và một nguyên lư của sự xác
thực tự do này, do đó sự thiện được đồng hóa vào chính ḿnh nó (sự
tự do) » (5). Chúng tôi hiểu rằng nguyên tắc của sự xác định này
được bộc lộ vào sự đống hóa của sự tự do, đây là tâm điểm của tất cả
triết lư cùng luân lư và chính trị của triết gia Hegel. Chúng ta
biết với sự đạo đức khách quan (la moralité objective), th́ Hegel
tiến xa hơn một bước, đó là ư niệm tự do đă trở nên một thế giới
thực (le concep de liberté est devenu un monde réel). Do thế, người
ta có thể nghĩ sự dự định của sự tự do trở thành hiện thực. Cũng
theo ông nghĩ th́ « các luật lệ và các định chế hoặc thể chế không
phải là vài sự việc của chủ quan, nhưng chúng được tiếp nhận là nhân
chứng của các giá trị tinh thần của ḿnh, xem thể như chúng có được
cái bản tính đặc thù của ḿnh (…) Đây là lư thuyềt mạch lạc và vốn
sẵn của các bổn phận, chỉ có thể khai triển các tương quan đó do kết
qủa tất yếu của ư tưởng tự do, và sự hiện hữu bởi các sự kiện đi
theo » (6). Do vậy, chúng tôi nghĩ rằng Nhà Nước « là thực thể trong
hành động của bản chất ư muốn », và đồng thời là « thực thể bằng
hành vi của sự tự do cụ thể, réalité en acte de la liberté concrete »
(7).
Thế
đó tất cả các điều nói trên là theo ư tưởng của Hegel, phát xuất từ
ư muốn tự do ; và nó nói lên sự hàm xúc của ư nghĩa này, tuy nhiên
theo ông nghĩ đây là sự tương đương của quyền tự nhiên. Để rồi nhờ
đó mà triết gia Hegel đă tŕnh bày một cách xác minh sự hiện thực
của quyền tự nhiên.
Chúng
tôi nghĩ rắng có thể sự sai lầm nếu như người ta xem sự kiện quyền
tự nhiên như một quyền thực nghiệm - Và quyền ấy được áp dụng như
một thực thể. Tuy thế, chúng ta có thể nghĩ rằng qủa là khó khăn hầu
tạo ra được cái cụ thể tự nội tại của quyền tự nhiên làm căn bản cho
thể chế chính trị ; mặc dầu quyền tự nhiên là một lư lẽ đương nhiên
của ư muốn tự do. Song nhiên chúng tôi muốn tŕnh bày ở đây cùng
chúng ta sự tất yếu của quyền tự nhiên cũng như sự thiết yếu của sự
tự do, được xem là nền tảng của các thể chế chính trị phải có, và
thực thi việc này cho con người, cho toàn dân. Vả nữa, quyền tự
nhiên hay sự tự do, liên quan đến quyền căn bản mà chúng ta gọi là
Nhân Quyền, Les Droits De L’Homme, Human Rights.
Nhân
quyền được xem là « những quyền tự nhiên, bất khả di nhượng và thần
thiêng, les droits naturels, inaliénables et sacrés » mà mọi người
hoặc các thể chế chính trị phải tôn trọng như đă được tuyên bố công
khai trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Công Dân vào ngày 26 tháng 8
năm 1789, Déclaration Des Droits De L’Homme et Du Citoyen du 26 Aout
1789. Đây là Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền nói lên các cảm nghĩ về cái
quyền làm người của người dân vào thời đó, tuy chưa được hoàn hảo
lắm hấu nói lên cái quyền tất nhiên của con người. V́ Bản Tuyên Ngôn
Nhân Quyền và Công Dân này nói đến các quyền lợi hơn là các bổn phận
của con người, của người dân. Tuy nhiên, đây cũng chưa hẳn là ư kiến
chung của mọi người, để rồi với thời gian, th́ các Bản Tuyên Ngôn
Nhân Quyền về sau được bổ túc thêm cho hoàn mỹ, hầu cho các phần tử
là thành phần của xă hội hiểu rơ hơn các quyền lợi và bổn phận của
ḿnh.
Do đó,
sự hổ tương này giúp tạo thêm cho các thể chế chính trị được cụ thể
các chính sách của ḿnh, và hiệu nghiệm hơn khi dựa vào các Bản
Tuyên Ngôn Nhần Quyền mà thực thi cho con người, cho người dân. Nhất
là Đất Nước Việt dấu yêu của chúng ta càng khẩn thiết và cấp bách
hơn hết, việc thực thi hóa và áp dụng những quyền tất nhiên này vào
đời sống của dân chúng. Nhưng làm sao để thực hiện điều này đây ?
Qủa thực chỉ có một phương sách là chúng ta nỗ lực tranh đấu hết
ḿnh, mới sớm giải thể đuợc chế độ phi nhân, vô luân của tập đoàn
phỉ quyền Hà Nội, hầu giải thoát cho đồng bào là cha ông, chú bac,
cô cậu d́, anh chị em, con cháu của chúng ta khỏi gông cùm của những
tên Việt gian cộng sản bán Nước, bán dân làm nô lệ cho người. Để từ
đó, dân Việt có thể hít thở được các thứ tự do và quyền làm người
đúng nhân phẩm của ḿnh.
4.4. H́nh
Thể Chính Trị Hay Tự Nhiên Của Chính Trị
Qủa
từ ngữ « tự nhiên » thật ra không luôn được người ta hiểu cho đúng
nghĩa của nó, nhất là với ư nghĩa lư tưởng của sự tương quan - sự
kính trọng tha nhân - vốn ở trong sự tự do : chúng tôi nghĩ có lẽ
người ta đă sử dụng chính trị sẽ là một h́nh thể của các sức mạnh tự
nhiên, có truớc các tự do và nó không có bên trong của các sự tự do
này. Do thế mà sự tự nhiên ở đây không có trong ư niệm của tự do, có
nghĩa là với tư tưởng tự do đây được xem là mục đích của tự do. Lư
thực sự tự do ở đây ở bên ngoài sự hiện hữu của chính trị, có nghĩa
là một sự kiện có trước. Chúng tôi có thể nói chính xác hơn là « những
hiện thực » về sự tự nhiên này.
Chúng
tôi xin phép giới thiệu với qúy vị nhà tư tưởng và cũng là chính trị
gia nỗi tiếng của nước Ư vào thời Trung Cổ là Niccolo Machiavelli
(1469-1527). Theo các tác phẩm của ông để lại th́ ông không dùng đến
từ ngữ « tự nhiên » giống như ông nghĩ. Với ông th́ « các dự định
tôi viết ra về các việc hữu ích cho những điều tôi đă nghĩ và sẽ
đọc, nó đă cho tôi thấy cái giá trị tốt đẹp của sự hiện thực của các
sự việc hơn là những điều tôi nghĩ có tính cách học thuyết. Mặc dầu
thiên hạ đă tưởng tượng đến các thể chế cộng ḥa và hầu quốc như thể
người ta không bao giờ thấy và biết. Tuy nhiên có cái ǵ làm lợi cho
các điều tuởng tượng này? Qủa thực h́nh thức tưởng tượng đi qúa xa
mà người ta phải sống như thế cho những sự người ta phải sống như
vậy hay chăng? » (8). Chúng ta thấy ở đoạn văn này như có một tự
nhiên của sự hiện hữu chính trị mà người ta thấy đó như một sự tự
nhiên xuất hiện.
C̣n
Charles Maurras (1868-1952), chúng tôi thấy ở ông sự tŕnh bày tư
tưởng một cách rành rẽ hơn, để thiết tạo nên tự nhiên của chính trị
này, có nghĩa ông muốn nói đến chính trị qua h́nh thức tự nhiên. Ông
nghĩ v́ có con người, th́ xă hội trở thành theo nó, có nghĩa được
hiểu như sự tương xứng với cái bản tính tự nhiên. Để hiểu ông hơn
chúng ta có thể đọc qua tác phẩm : « Những Tư Tưởng Chính Trị Của
Tôi, Mes Idées Politiques » (9). Chúng tôi xin trích ra đây đôi đoạn
của ông : « nhiều người bắt thấy được một phần nào các ngạn ngữ
chính trị, và họ cảm thấy các ngạn ngữ đó trực tiếp đối lại với các
nguyên tắc tạo nên luật lệ của sự tự nhiên, mà người ta đă dẫn hướng
như thế, rồi họ thử nghiệm các ngạn ngữ này : để từ đó phải chăng tự
nhiên tạo nên một nguyên tắc, và xă hội con người đối kháng lại trên
các nguyên tắc đó sao? Hay là hai nguyên tắc cũng giống nhau? Câu
trả lời cho các câu hỏi này, đó là tư tưởng sinh vật học đă được đưa
vào khao học chính trị, đây là một h́nh thái chiếm hữu các dạng thức
quan trọng của chính trị.Thực thế cái đặc biệt là các bản chất di
sản của chính trị, của việc làm chính trị và của tính liên tục của
chính trị » (10).
Chúng
tôi nghĩ rằng Charles Maurras đă nói đến việc này như « loại suy »,
tuy nhiên ông đă dẫn chứng tư tưởng loại suy rất hùng hồn và chính
xác. Maurras từ chối « chương tŕnh kết hợp của đời sống », v́ ông
cho là bị ngắt đi cái bước đầu của xă hội loài người. Con người và
xă hội là một cách chân thực « tương quan và liên hệ lẫn nhau mà
chúng bao trùm chúng ta cũng như ôm chặt chúng ta » (11). Chúng ta
biết các xă hội, chính là « các sự kiện tự nhiên cùng thiết yếu, và
chúng không phải là việc làm của ư muốn chung của tự do. Cũng thế,
điều này trước hết không do ở cá nhân, nhưng tiên khởi là xă hội. Do
thế các xă hội có thể là bất tử. Do từ ư đó mà Maurras nghĩ « sự
hiện hữu của đời sống bao quát này nó bao trùm chúng ta và duy tŕ
chúng ta » (12). Và ông nghĩ « xă hội không phải là một hiệp hội tự
nguyện, chính nó là sự tự nhiên kết khối, la société n’est pas une
association volontaire ; c’est un agréat naturel » (13). V́ vậy từ ư
này, th́ Nhà Nước cũng chính là được sinh ra từ sự tự nhiên như thế.
Chúng
tôi nghĩ rằng tất cả những tư tưởng của chính trị trên giúp thêm cho
chúng ta những ư niệm phổ quát cùng những nhận định trong sáng hơn
trong lănh vực chính trị này. Vả nữa, điều đáng cho chúng ta lưu ư
như chúng tôi đă gợi ra ở các gịng trên đây, thi từ ngữ « tự nhiên »
của Maurras được sử dụng trong ư nghĩa có chút đối kháng lại với ư
nghĩa của triết gia Aristôte nghĩ đến. V́ theo Aristôte, th́ con
người theo bản chất tự nhiên là một hữu thể xă hội.
Điều này muốn nói rằng con người là do bản chất tự
nhiên của ḿnh để phân biệt với sự tự nhiên, tất con người đúng là
hữu thể xă hội.Có nghĩa con người có ngôn ngữ, có đối thoại và lư do
trong hành động. C̣n theo Maurras, ông nói về tự nhiên, hoặc tự
nhiên bởi chính trị, như chúng tôi đă nói ở các gịng trên.
Do thế,
con người và các xă hội tự nó không khác biệt, nhưng là quản trị bởi
các nguyên tắc, các nguyên tắc ấy tạo thành các luật lệ của tất cả
sự tự nhiên. Thế nên, con người và xă hội cùng lưu tại ở điểm này.
4.5. Quốc
Gia
Giờ
đây chúng tôi xin phép được tŕnh bày ư niệm của chữ « Quốc Gia » và
muốn nói nghĩa rộng hơn về hai từ ngữ này trong bài khảo luận này.
Hai chữ Quốc Gia đă lắm người nghị luận về nó để đối kháng với hai
chữ Cộng Sản, để nói lên hai ư thức hệ khác biệt, là làn ranh phân
biệt giữa Quốc-Cộng một cách minh bạch, trắng ra trắng, đen ra đen,
cát trắng không thể trộn lẫn bùn đen mà xây nhà được.
Phải
chăng từ ngữ Quốc Gia (Dân Tộc) này không đến từ sự sinh ra, quốc
gia cũng giống như từ ngữ tự nhiên chăng ? Theo chúng tôi nghĩ th́
Maurras đă không đồng ư về từ ngữ quốc gia như Rousseau, hoặc là tư
tưởng của cuộc cách mạng Pháp, thế nên từ ngữ « Quốc Gia » được tạo
nên theo nghĩa do ư muốn. Thực ra, đúng ư của chữ quốc gia, th́ nó
đă đối kháng lại với các nghĩa khác, v́ quốc gia đến trực tiếp từ sự
sinh ra. Có nghĩa quốc gia là một dấu chứng của lịch sử, của di sản,
là một sự đặc thù của một số người.
Như
chúng tôi đă nói quốc gia là đặc thù của một số người. Số người đó
có ngôn ngữ, có gịng máu, gịng tộc, có truyền thống được xem là kư
ức đặc biệt chung, có thể là đời sống chung trong sự tiến lại gấn
nhau, kết hợp lại với nhau, và tiến xa hơn một bước nữa th́ số người
sống chung đó người ta gọi là « Quốc Gia ».
Để rồi họ tạo ra một thể chế chính trị hầu sống chung
và xây dựng cùng thăng tiến đời sống của ḿnh. Qủa khi nói đến ư
niệm quốc gia, th́ tự bản chất của nó sinh ra một hiện thực chính
trị, ư nghĩa của quốc gia không giống như các sắc dân thiểu số, hay
các chủng tộc. Chúng ta phải nói mạnh rằng quốc gia có dặc thù hơn,
quốc gia có sự tự nhiên, có truyền thống và lịch sử. Do đó, chúng ta
phải nhận biết bản chất thực của quốc gia. Có nghĩa là chúng ta phải
biết ư nghĩa cổ truyền, có truyền thống, được đâm rễ sâu trong qúa
khứ. Song, quốc gia cũng là ư nghĩa và công việc của ngày nay, có
nghĩa là phải biết nhận ra bản chất của quốc gia trong thời nay, và
trong thực tại đời sống hiện nay của chúng ta.
Như
chúng ta đă nói từ ngữ quốc gia có ư nói là truyền thống. Và đă là
truyền thống th́ thật là sự việc quan trọng. Do thế, đă là truyền
thống tất quốc gia tự nó là ư nghĩa nhận biết của hiện tại. Vả nữa
chúng ta biết quốc gia luôn có sự tương quan giữa quốc gia (với ư
nghĩa rộng trong mọi trường hợp) và thành phần của nó (người quốc
gia) được tạo nên do các định chế của chính trị.Tuy nhiên người ta
không thể gọi chung chữ « Quốc Gia » này với một nhóm người, một số
người không chung cùng lư tưởng, một lập trường, cho dẫu họ có cùng
một ngôn ngữ, một văn hóa, một gịng giống vv.. Nhưng họ lại khác
chúng ta các định chế chính trị, các lư tưởng phục vụ Dân Tộc và
Đất Nước, hoặc không cùng một thành phần ư thức chính trị. Có nghĩa
ta phân rơ nghĩa quốc gia và cộng sản, họ là họ, ta là ta. Để không
vàng thau lẫn lộn, không lẫm lẫn được, chúng tôi xin đưa ra bằng
chứng cụ thể : cộng sản Việt Nam, họ đương nhiên không thể đồng hóa
vào nghĩa quốc gia được. V́ họ đă chối bỏ ư nghĩa nguồn gốc cùng
truyền thống của quốc gia, có nghĩa là Việt cộng lấy chủ nghĩa cộng
sản làm lư tưởng của ḿnh. Việt cộng không phục vụ cho Đất Nước và
Đồng Bào Việt Nam, nhưng phục vụ theo những mệnh lệnh của quan thầy
Nga hay Trung Cộng, phục vụ cho ngoại bang. Họ chửi chúng ta là
« ngụy quân hay ngụy quyền », đúng họ là thằng ăn cướp hay la làng,
để dấu đi cái tội cướp giựt của ḿnh. Vi chính họ là những tên « đại
ngụy », mất gốc dân tộc, quên đi gịng giống, cúi đầu làm nô lệ, nô
dịch cho người. Họ chính là những người « rước voi về dày mă tổ »,
mượn thứ chủ nghĩa « quái thai » của Marx-Lénine-Mao đầy đọa đồng
bào ruột thịt và tàn phá Đất Nước.
Do vậy,
tộî của các người cộng sản Việt rất nặng đối với các vong linh ông
bà, tiền nhân và Dân Tộc. Đó là điều hiển nhiên, lịch sử đă chứng
minh rơ ràng các hành vi tội ác của họ đối với người Việt. Do thế,
họ không thể chối cải các hành động tội ác và sai trái của minh. Để
nói có sách mách có chứng vế các tối ác của chúng : năm 1958 tên Thủ
Tướng phỉ quyền Hà Nội Phạm Văn Đồng đă kư Công Hàm dâng quấn đảo
Hoàng Sa cho bọn Rợ Hàn Trung Cộng. Vào cuối năm 2007 phỉ quyền Hà
Nội cho công ty Chalieco của Trung Cộng vào Cao Nguyên Miên Trung
khai thác quặng Bauxite. Ngày 9-1958, phỉ quyền Hà Nội tự nhiên công
nhận vùng biển của Trung Cộng bao gồm cả Biển Đông của Việt Nam.
Tháng 12.1999 phỉ quyền Hà Nội bán cho Trung Cộng 789 km đất để trả
nợ cho bọn Rợ Hán cung cấp vũ khí, đạn dược để chúng gây ra cuôc
chiến tương tàn và xâm chiếm Miên Nam chúng ta. Vào tháng 12. 2000,
phỉ quyền Hà Nội lại bán thêm 11.362 km biển trong vùng vịnh Bắc
Việt cho Trung Cộng với uớc giá khoảng hai tỷ Mỹ Kim. Chúng dùng số
tiền này đút lót, chia chát cho Vơ Văn Kiệt, Trần Đức Lương, Phan
Văn Khải và một vài tên máu mặt trong Quốc Hội bán Nứớc của chúng
hầu làm giảm bớt sự phẩn nộ (đây là những lời của tên chủ tịch Trần
Đức Lương nói với Lư Bằng vào ngay 26.12.2000 tại Bắc Kinh). Tháng
11.2007, tên thủ tướng phỉ quyên Nguyễn Tấn Dũng đă hạ bút kư kết
quyết định số 167/2007 cho Trung Cộng ngang nhiên khai thác tài sản
Quốc Gia ta là quặng mỏ Bauxite trên vùng Cao Nguyên Trung Phần,
Thời gian cho hợp đồng được khai thác là từ năm 2007 cho đến năm
2015. Vao tháng 12.2007, Rợ Hán Trung Cộng sáp nhập Quần Đảo Ḥang
Sa và Trường Sa của Việt Nam vào quận Tam Sa của chúng. Vào thời
điểm từ ngày 9-16 tháng 12.2007 Hà Nội đă thẳng thừng lộ bộ mắt Bán
Nước, gia nô cho Trung Cộng khi đàn áp những anh chị em sinh viên,
nhà báo, trí thức, dân chúng yêu nước, xuống đuờng tỏ sự phản kháng
và chống đối các hành vi xâm lăng lănh thổ và biển cả của Việt Na.,
Tháng 6.2008 Rợ Hán Trung Cộng ùn ùn kéo sang Việt Nam hằng chục
ngàn nhân công với thành phần an ninh lẫn quân đội và t́nh báo trong
đó đến Cao Nguyên Trung Phần để khai thác quặng mỏ Bauxite (đúng ra
chúng t́m uranium và polinium đẻ sử dụng biến chế các loại vũ khí
nguyên tử cho việc quốc pḥng của chúng). Tháng 2.2009. Nguyễn Tấn
Dũng tuyên bố với dân chúng Việt Nam rằng « việc khai thác Bauxite
là chủ trương lớn của Đảng » cộng sản Việt Nam. Con tên Nông Đức
Mạnh khi ở Bắc Kinh tuyên bố với bọn Rợ Hán rằng « tôi là người
Zhuang-Giang).
Để hiểu
thêm về ư nghĩa quốc gia, chúng tôi xin trích ra đây một vài quan
niệm của người Pháp nói về quốc gia : « một quốc gia đúng thực của
nó, đó chính là một số người kết hợp lại bởi ư muốn chung, là một
cộng đồng tự chọn lựa vận mạng cho ḿnh ». C̣n triết gia Reneau, th́
ông nghĩ có những nan giải về các liên hệ đến quốc gia, nhưng nó
trong một ư nghĩa tự nhiên, hay đó là lịch sử tự nhiên. Lịch sử đó
theo ông nghĩ là gần gủi hơn vào xă hội chính trị thời nay.
Chúng
tôi biết vào thời điểm của năm 1990, th́ giáo sư Jugen Harbermas là
người đă bàn luận sôi nỗi, và mạnh dạn đưa ra một ư tưởng mới về câu
hỏi của từ quốc gia, để đề nghị cho việc thống nhất của nuớc Đức
(propos de la réunification de l’Allemagne). Theo ông tranh luận và
nghĩ, th́ quốc gia Đức là một sự hiện thực có trước chính trị (v́
sau năm 1945, nước Đức bị chia đôi). Ông chống lại một quốc gia dân
sự, và quốc gia thị dân. Chúng tôi rơ Cộng Ḥa Liên Bang Đức kể từ
sau thời đệ nhị thế chiến, th́ đă dựa vào trên một « Hiến Pháp của
Ḷng Ái Quốc, Patristisme Constitutionnel). Quốc gia dân sự này
không có ǵ hơn để người ta phải xét lại…Bởi v́ nước Đức được xem là
có trước thời kỳ chính trị. Xin hiểu thời chính trị vào lúc đó Đất
Nước Đức bị chia đôi. Cũng như Việt Nam ta vào ngày 20.7.1954, bị
chia đôi Nam Bắc, bởi thế lực các cường quốc Pháp Nga, Trung Cộng…
Nhất là với sự cấu kết của tên gian tặc Hồ Chí Minh cùng bọn xâm
thực Pháp nên họ đă chia đôi và bán đứng miền Bắc cho loại qủy đỏ.
Xin nhớ vào lúc đó đại diện chánh quyền quốc gia Việt Nam là cựu
Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ và phái đ̣an Mỹ đă không chịu kư vào Hiệp
Định Genève bán Nước này. Chỉ có tên Phạm Văn Đồng, Chu Ân Lai và
phái đoàn Nga và Pháp kư vào Hiệp Định này thôi. Lư thực, người Việt
Nam chúng ta (không Việt cộng) vẫn là một quốc gia, một dân tộc,
giống như nước Đức, và chúng ta tự hào ḿnh là con Rồng cháu Tiên.
Do từ ư nghĩa quốc gia chúng tôi đưa ra đây, nên chỉ có ai tham danh
vọng, vô liêm sỉ cúi mặt, khom lưng làm tay sai, nô lệ cho thế lực
ngoại bang, th́ họ không c̣n là người Việt Nam nữa. Chúng tôi nghĩ
lịch sử đă phê phán và sẽ c̣n măi phê phán những hạng người cầu vinh,
bán nước và cẩu nô này!
Như
thế, nên dân chúng Đức hiểu rằng quốc gia của họ như một cộng đồng
lịch sử định mệnh. Do đó quốc gia được hiểu là một cộng đồng có ngôn
ngữ và văn hóa cùng tôn giáo, hơn nữa, có các cơ cấu xă hội cùng
kinh tế như một cộng đồng chính trị, có đủ khả năng trở lại như
trước đây. Qủa giáo sư Habermas đă thỉnh cầu lời đề nghị của ông vào
biến cố của năm 1989 của nước Đức rằng, người ta không sợ nguy hiểm
ǵ cả để tránh xa cái Hiến Pháp của Ḷng Ái Quốc này (14). Do đó,
chúng tôi nghĩ giáo sư Habermas có lư, v́ để trở nên một sự ái quốc
khác, theo ông th́ điều này là sự mơ hồ, bởi đó là một sự thể chính
trị sai lầm. Phải chăng như thế chính trị vẫn chưa là chính trị, v́
từ bản chất của việc làm không có nổ lực sự ưng thuận của chính trị?
Có nghĩa là sự ưng thuận của toàn thể dân chúng. V́ Nước Đức sau khi
thua trận, đă bị các nước đồng minh chia đôi Đất Nước họ thành hai,
trong lúc đó không hỏi ư kiến toàn thể dân chúng Đức lúc đó, chắc
chắn rằng không người Đức nào muốn chia đôi Đất Nước ḿnh cả. Cũng
như Nước Việt Nam ta sau hiệp định Genève 1954, bị chia đôi Đất
Nước, lấy con sông Bến Hải, cây cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến 17 làm
ranh giới chia đôi hai miền Nam Bắc. Thử hỏi người dân Việt Nam có
ai muốn chia đôi Đất Nước ḿnh chăng ? Không ai hỏi ư dân cả! V́ vậy
mà chánh phủ Ngô Đ́nh Diệm lúc đó không chịu kư vào Hiệp Định này là
thế. V́ khi ngài kư vào là tự dâng nữa Nước cho loài quỷ đỏ một cách
« hợp pháp » theo ư chúng.
Chúng
ta nên lưu ư rằng Habermas đă đưa vào vấn đề thống nhất Đất Nước Đức
trước diễn đàn quốc tế ngôn từ « trước thời chính trị-prépolitique ».
Ngay cả dân chúng Đức cũng hiểu nước họ như một cộng đồng lịch sử
của định mạng. Chúng tôi mong rằng các nhà chính trị Việt quốc gia
hiểu cho hoàn cảnh Đất Nước Việt Nam mà tranh đấu. Cũng thế, như
chúng tôi đưa ra đơn cử Nước Pháp mà Renau xem Đất Nước ông là một
cộng đồng định mệnh đă được chọn thành quốc gia Pháp. Do vậy, chúng
tôi có thể xác định quốc gia, là toàn thể chính trị trong ư tưởng
xác thực của nó. Ở đây chúng tôi thấy Renau có khi dùng từ ngữ « chọn
lựa » làm nỗi bật cho tư tưởng của ḿnh có sự khác biệt. Dẫu thế nào
đi nữa, th́ Giáo Sư Habermas đă xem nước Đức ḿnh như thời trước
chính trị, không phải chính trị như họ mong muốn. Xin qúy vị hiểu
chính trị ở câu nói này là bị áp lực của các cường quốc đồng minh
bắt ép điều ta không muốn, dân chúng không muốn, đây là tính cách
lịch sử thuộc như qúa khứ, không thuộc như hiện tại ngày nay. Đó là
nuớc Đức bi chia đôi, một bên Đông Đức cộng sản một bên Tây Đức quốc
gia - theo các điều khỏan phải chịu. Cái lép vế của người thua trận
và kẻ yếu thế ở chỗ này, và cái lối chơi cha cuả người thắng trận và
kẻ mạnh là ở chỗ đó. Hơn nữa, chúng ta hiểu cộng đồng chính trị là
sự tạo nên cái hiện tại của việc trao đổi, hoặc là công việc thông
đạt (activité communicationnel) theo như ư từ ngữ của nó.
4.6. Giai
Cấp Và Chủng Tộc
Qua
phần này, chúng tôi nghĩ đến việc hữu ích của sự khảo luận về hiện
tượng và hiện thực của giai cấp và chủng tộc, hầu cho chúng ta có
cái nh́n phổ quát cùng lưu ư đến các sự kiện thực đă xảy ra mà người
ta đă tạo thành nền tảng chính trị, và xem đó như là cộng đồng chính
trị có tiếng nói.Thực đây chính là điều người ta bắt đầu có nỗi lo
sợ các sự khác biệt nhau về ư nghĩa chính trị. Nói như giáo sư chính
trị học Claude Lafort th́ có một sự đầu độc một cách độc đoán (của
người cộng sản) để tŕnh bày các tư tưởng của việc đồng hóa vào một
xă hội đại đồng, việc đó báo trước cho việc dẫn đến sự độc tài »
(15). Sự độc tài, th́ với từ ngữ này có tính cách lịch sử, được xem
là sự việc đó đă có rồi. Nhưng đặc biệt hơn từ ngữ độc tài này muốn
nói đến các thể chế chính trị độc tài, nhất là các thể chế độc tài
chuyên chế sắt máu, khát máu như cộng sản.
Ở đây
chúng tôi xin luợc dẫn lại đôi lời cảm nghĩ của giáo sư Lefort về
thế giới của người cộng sản : Chúng ta thấy h́nh ảnh của người dân
lành bị những tay « phù thủy » ru ngủ về một giấc mơ của thế giới
đại đồng của giai cấp vô sản. Các tay phù thủy cộng sản này đă định
nghĩa lại ư nghĩa quốc gia, cũng như ư nghĩa cho chủng tộc. Riêng
chúng ta sẽ từ chối loại định nghĩa méo mó và thiếu tính chất khoa
học thực nghiệm. C̣n chủ nghĩa cộng sản và phát-xít (fascisme) th́
họ không cho ḿnh nhầm lẫn chuyện này. Tuy nhiên nh́n vào thực tế
th́ các xí nghiệp lớn của tư nhân đă bị họ đánh đỗ. Họ viện cớ này
hay viện cớ khác để dẹp tan hết, và truất đi quyền tư hữu của người
dân, Thực ra, th́ người cộng sản muốn thu tóm lại tất cả, để tạo nên
một quyền hành có bản chất hiện thực, hầu dẫn đến trong qũy đạo
chuyên chế của họ. Người cộng sản muốn phủ nhận các giai cấp xă hội
dưới mọi h́nh thái của nó. Họ ôm ấp một giấc mơ không tưởng để thực
hiện lại một xă hội đại đồng (16). Thế nhưng chúng tôi thấy người
cộng sản muốn xóa bỏ giai cấp, song họ lại tạo ra một giai cấp thống
trị khác, rất chuyên chế, độc tài, đặc quyền và đặc lợi gấp ngàn lần
hơn các xă hội tư bản tự do.
Chúng
tôi cảm nhận rằng giáo sư Lefort đă cố gằng làm nỗi bật sự khác biệt
và các xảo thuật của người cộng sản « đánh lận con bài, tráo trở
trắng thay đen » với quần chúng trong các xă hội nghèo khổ bị đô hộ.
Cộng sản cho quần chúng này uống viên thuốc đắng bọc đường cho một
tiến tŕnh của thế chế dân chủ theo người cộng sản.Tội nghiệp người
nông dân thật thà, anh công nhân thợ thuyền chất phác, đơn sơ nghe
những luận điệu « Nhân Dân làm chủ, Nhà Nước quản lư, Đảng lănh
đạo » tuởng như ḿnh này đă làm chủ nhà máy, ruộng vườn rồi. Nhưng
biết đâu lối xảo ngôn chơi chữ của cộng sản qúa tinh quái đánh lừa
ḷng chân phát của anh nông dân, chú thợ máy, chị thợ may vv..Để khi
các anh chị bừng mắt dậy, nghĩ minh dại dột, khờ khạo bao năm hỗ
trợ, che dấu, và tiêp tế và theo Việt cộng th́ chuyện đă rồi, v́
chúng đă gài tất cả vào rọ như con cá ham mồi ăn đă vào rọ và lừ hết
đường thoát thân.
Bởi
theo người cộng săn, th́ kẻ thù là đối tượng tiên khởi, sau là giai
cấp hoặc chủng tộc của nhân dân, mà theo người cộng săn phải loại
trừ tất cả. Giáo sư cũng lưu ư chúng ta đến sự lôi cuốn ma quái và
hấp lực do các quan niệm cổ vơ, bênh vực cho chủ thuyết cộng săn,
hay biện minh cho các việc làm của người cộng săn của một số các
triết gia hoặc những người đầu cơ chính trị, đầu cơ danh vọng.
Thường th́ các triết gia luôn bị lôi cuốn cùng mê hoặc do cái tính
cách cộng sản hoá này (như mọi của cải là của chung). Điển h́nh là
các triết gia Phương Tây là Jean Paul Satre, Marcuse v.v. Việt Nam
ta có Trần Đ́nh Thảo, Lư Chánh Trung, Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan, Chân
Tín, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, Vương Đinh
Bích, Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh mà có thời người Việt Nam
chúng ta gọi các ông là tri thức và triết ngủ hay triết gà gật.
Chính vi một số triết gia và trí thức « gà gật » này theo cộng, bênh
vực và lư luận cho chúng, đă tạo thêm lư do cho người cộng sản có
« hấp lực, lôi cuốn giới trí thức và lớp trẻ, và lôi cuốn bao lớp
người theo cộng » (17).C̣n một loại đầu cơ chính trị, đầu cơ danh
vọng, tham vọng như Nguyễn Khắc Viện, Thuợng Tọa Thích Trí Quang,
Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Huỳnh
Công Minh, Trương Bá Cần và Trịnh Công Sơn cùng Lư Chánh Trung vv.
Những con người này theo cộng và nhờ công lao quấy phá Miền Nam của
họ, giúp cho phỉ quyền Hà Nội một phần thành đạt trong việc cưỡng
chiếm Miền Nam thân yêu chúng ta.
Chúng
tôi cảm phục và cám ơn tính ngay thẳng ḷng can đảm của giáo sư
Lefort, đă vạch trần cùng đưa ra các h́nh ảnh hèn hạ và khiếp nhược
của các tay triết gia cúi mặt như Heidergger và Sartre, hầu cho
thiên hạ và chúng ta thấy rơ bộ mặt thật của các ông trí thức và
triết gia này hơn. Theo giáo sư Lefort nghĩ th́ đây không phải là
tùng phục vào một chánh quyền uy tín, nhưng họ lại bênh vực và nhập
vào một chánh quyền độc tài quốc xă phát-xít để hảm hại con người và
nhân loại, tệ hại hơn nữa họ lại liên minh với cái chủ nghĩa cộng
sản, cha đẻ ra tội ác (18), để giết hại cả trăm triệu dân lành vô
tội.
Thêm
nữa, bên cạnh các triết gia đă nói trên đây, chúng tôi xin đuợc phép
viện ra lịch sử của một nhà xă hội học thời danh, đó là Max Weber.
Chính ông những năm về sau này, ông cũng bị lôi cuốn vào một thứ lư
tưởng « không tưởng » hầu tạo ra một thứ chính quyền uy tín có hấp
lực, song ông đă thất vọng năo nề cho sự « ảo vọng » của ḿnh. V́ xă
hội mà ông muốn ước mơ và lư do hóa đó, nó hoàn toàn nhốt kín con
người trong một nhà tù sắt (cave d’acier)! Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ
cho dẫu có các việc làm « khờ khạo » này của các ông triết gia gàn
dỡ và các nhà xă hội học viễn vông, mơ tưởng xây dựng một « thiên
đường » cộng săn ở trần thế, th́ các ông đă vỡ mộng. Thiên đường đâu
không thấy, chỉ là địa ngục trần gian.
Đúng như câu nói « tiên tri » của Satre khi nói
« l’autre c’est l’enfer, tha nhân chính là địa ngục », thâm thúy
thay những lới nói để đời này. V́ sau biến cố 1956 của người dân
Hung Gia Lợi, và biến cố 1968 của Tiệp Khắc, và 1975 của Miền Nam
Việt Nam cùng Cam Bốt, Lào v.v.. th́ các người dân ở các xứ này đă
« tắm trong biển máu » của những tay « đồ tể » khát máu người cộng
sản. Từ đó, các trại tù đua nhau mọc lên như nấm để nhốt dân lành,
thêm nữa hằng chục triệu người dân chạy trối chết cộng sản, bỏ nhà,
bỏ của, bỏ xứ ra đi t́m tự do và lẽ sống, đánh đổi sinh mạng ḿnh
trên đại dương gầm sóng. Người dân Việt tị nạn tuyên bố với các
chánh quyền đón nhận ḿnh rằng : « nếu cái cột đèn biết đi, th́ nó
cũng chạy trốn cộng săn như chúng tôi ». Tại sao thế, v́ ở với cộng
sản là cực h́nh của địa ngục trần thế! Qủa nghiệm thay như câu nói
của Satre tha nhân chính là địa ngục. Chúng ta có thể nói với cảm
nghiệm cay đắng của đời sống ḿnh rằng : «cộng sản chính là điạ
ngục, le communisme c’est l’enfer ». Vâng địa ngục đây là sống với
người cộng sản tàn ác. Nhờ các biến cố « long trời, lở đất » này mà
triết gia Jean Paul Satre mới giác ngộ, quay lại với con đường thiên
hữu, tố giác các tội ác tầy trời kinh địa của người cộng săn, nhất
là cộng săn Hà Nội, một thứ gian trá, bip bợm nhất thiên hạ .. Đề
rồi từ sự giác ngộ và nhận thức được bản mặt và bản chất thâm độc
giết người của người cộng sản, Sartre kêu gọi Quốc Tế giúp đỡ các
người tị nạn cộng sản chúng ta.
C̣n
phần chúng ta, là những người đă sống với cộng sản, có những người
đă cầm súng đối đầu với Việt cộng, để bảo vệ Miền Nam trước đây. Có
những người thân tù đày cả bao nhiêu năm thành thân tàn, bệnh hoạn,
kẻ mất vợ, người mất cha mẹ, nguời mất chồng, kẻ mất con với Việt
cộng, rồi nhà cửa, ruộng vườn bị chúng tướt đọat hết vv.. Đă thế
chưa vừa ḷng, chúng c̣n đày vợ con, cha mẹ chúng ta đi kinh tế, nơi
những vùng sỏi đá « khỉ ho c̣ gáy », cho chết dần, chết ṃn, lại nữa
chúng con bắt con cháu Miền Nam chúng ta đi lính đánh nhau với
Khờ-me đỏ, làm bia đỡ đạn cho chúng nuôi mộng làm «bá quyền » toàn
cỏi Đông Dương. Thế đó không ai hiểu cộng săn hơn chúng ta, hiểu bọn
Việt gian cộng sản tận xương tủy máu tim như chúng ta! Thế mà lạ
thay ! C̣n có một số người làm đến Tướng, làm Thủ Tướng (chủ tịch ủy
ban hành pháp quốc gia), người th́ nhạc sĩ tài danh : như các ông
Đỗ Mậu, ông Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy lại trở cờ, phản bội Quốc Gia
Dân Tộc, về Việt Nam lên đài truyền h́nh của phỉ quyền Hà Nội tuyền
bố những câu « lếu láo » phản lại cái lư tưởng quốc gia của ḿnh bấy
lâu, một cách tiếp tay cho phỉ quyền Hà Nội đày đọa thêm dân lành.
C̣n một số tiếp tay, làm tay sai cho phỉ quyền Hà Nội dưới nhiều
h́nh thức khác nhau : nào mở miệng th́ đ̣i ḥa hợp, ḥa giải dân
tộc, cổ vơ các chương tŕnh giao lưu văn hóa, văn nghệ, âm nhạc của
Việt gian cộng sản, đ̣i đầu tư buôn bán đổi chát với chúng, rồi đề
nghị xóa bỏ hận thù để xây dựng lại Đất Nước với Việt gian bán Đất,
dâng Biển, dân tài nguyên quốc gia cho bọn Rợ Hán Trung Cộng. Qủa
đúng ư cái luận điệu và các « chiến lược, chiến thuật » của phỉ
Quyền Hà Nội bày ra ru ngũ những người « nhẹ dạ » t́nh cảm, và nhửng
người « khờ khạo » chính trị.
Các
ông nói mà không biết « ngượng mồn », thua cả một em thiếu niên, các
em c̣n biết thế nào là ḷng tự trọng, biết giữ sự sỉ diện lương tâm
của ḿnh cho người Việt tị nạn cộng sản. Các em c̣n hiểu tại sao
ông nội, cha mẹ các em bị đi tù, dân tộc, đồng bào Việt cứ đói rách,
nghèo khổ, mất nhà, mất ruộng vườn, đó là v́ sự dă man, tàn ác của
phỉ quyền Hà Nội. Chúng tôi không chống lại những người v́ hiếu thảo
với cha mẹ già, phải vể thăm hay chịu tang, hoặc những người về đem
« lữa cách mạng, gió tự do, và hoa nhân quyền và dân chủ » cho chú
bác, anh chị em và đồng bào ở trong Nước, mà chúng tôi c̣n cảm phục
và khuyền khích những việc làm này của quư vị Chúng tôi chỉ trách
những người về Việt Nam làm lợi cho chế độ phỉ quyền Hà Nội. Hoặc
nữa vể ăn chơi trác táng trên những sự đau khổ của anh chị em ḿnh.
Đă đau khổ lại thêm xót xa hơn cho sự tủi phận của anh chi em chúng
ta trong sự nghèo nàn đói rách, thua người.
Thực
chúng tôi là những người quốc gia không tạo ra những hận thù này,
lấy đâu mà chúng tôi xoá bỏ hận thù? Phỉ quyền Hà Nội và Đảng gian
phi bán Nước của Việt cộng là những kẻ đă gây ra cuộc chiến dài đăng
đẳng.. Họ đă diết chết gần cả chục triệu người Việt Nam của hai miền.
Hết chiến tranh rồi, ai là người bỏ tù, đày đọa chúng tôi trong các
trại « cải tạo, lao tù » cực h́nh của địa ngục trần gian này. Phỉ
quyền Hà Nội và Việt cộng gây nên tội và trả thù t́ tiện với chúng
tôi như thế đó. Do đó, chúng tôi là người không gây nên hận thù.
Chúng tôi vẫn mang tâm trí của những người quốc gia có ḷng nhân ái,
biết tôn trọng lẽ phải. V́ thế, tập đoàn phỉ quyền Hà Nội muốn chúng
tôi quên đi cái qúa khứ tủi nhục đau thương ấy, th́ họ phải tơ ra cử
chỉ biết sám hối nh́n nhận những lỗi lầm của ḿnh một cách công khai
với Quốc Dân, và đền bù xứng đáng cho những nạn nhân bị họ cướp tài
sản, cướp ruộng vườn, cướp vợ, giết cha hay mẹ của người ta v.v. một
cách sai trái. Sau nữa phải thực thi một chế độ dân chủ đa đảng, cho
tự do ngôn luận và báo chí, giải tán Đảng cộng sản và công an trị,
cho phổ thông tranh cử, phổ thông đầu phiều bầu Tổng Thống, áp dụng
các quyền căn bản vào đời sống của dân chúng, tôn trọng nhân quyền
với toàn thể dân chúng vv.. Nếu Hà Nội tỏ thài độ chân thành này như
chúng tôi nói trên, lúc ấy, chúng tôi sẽ ngồi lại với họ để đối
thoại cho một chương tŕnh xây dựng và tái thiết lại Việt Nam, hầu
cùng sánh vai với các Nước anh em mà thẳng tiến trên con đường của
thiên kỷ thứ ba. Thiên kỷ của tự do, dân chủ, nhân quyền, thịnh
vượng và hạnh phúc cho ngươi dân Việt Nam.
4.7.
Những Việc Chống Lại Chính Trị
Qua
tiểu luận nhỏ này, th́ chúng tôi muốn đưa ra các việc làm có tính
cách phản chính trị (antipolitiques). Xin qúy vị hiểu nghĩa chính
trị với các việc làm nâng cao trinh độ dân chúng : như hạnh phúc, no
ấm, an b́nh và tôn trọng các nhân quyền v.v, lấy con người làm cứu
cánh cho đường hướng chính trị của ḿnh. Do đó, mà bất kỳ ai, chính
thể nào làm trái ngược các điều chúng tôi vừa nói đó, th́ chúng tôi
gọi họ là người phản chính trị. Cũng thế, dẫu h́nh thức nào hay
phương thức khác, khi con người dẫn đưa chính trị đến một thể chế
này, hoặc là theo thể chế khác của xă hội loài người, nhưng qua xă
hội đó và thể chế họ chọn đó phải thực hiện được các việc tốt đẹp
cho người dân. Hơn nữa, xă hội đó không có chỗ cho bạo lực đàn áp và
sát hại dân hiện diện.
Để
triển khai phần này, chúng tôi xin phép đưa ra ví dụ điển h́nh, là
vào đầu thế kỷ XIX này, th́ Saint Simon (1760-1825), ông tin rằng
thể chế chính trị sẽ bị tan biến trong nền kỹ nghệ của con người.
Theo ông nghĩ th́ chính trị như các con kư sinh trùng và nó quay
hướng về sự thống trị. C̣n kỹ nghệ th́ quay hướng về các hiệp hội,
và những hiệp hội ấy có các vai tṛ của ḿnh, th́ mọi hữu ích của
chính trị sẽ mất đi, có nghĩa chính trị có thể chết. Cũng thế khi
người ta nói đến chính trị, th́ được xem như trong câu chuyện ngụ
ngôn về các con ong thợ và con ong chúa (19).
C̣n
Karl Marx, chúng ta biết ông xem Nhà Nước sẽ được thay thế vào các
hiệp hội của thợ thuyền, công nhân, và đặt họ chung vào các việc làm
của họ trong một thời gian tạm, sau đó, th́ Marx nghĩ Nhà Nước sẽ
tiêu tan vào ngày mai. Thế nhưng không có tiêu tan vào ngày mai theo
như ư Marx suy tính mà Nhà Nước trở thành cái thượng tầng cơ cấu.
Nhà Nước không phải là khách quan của các cuộc chính trị. Ví dụ, như
dựa vào các nhân quyền. Do đó việc làm này mà Marx chỉ có dựa vào
một cuộc cách mạng xă hội : đó là giai cấp vô sản, đă chiếm được vai
thế này (Nhà Nước), từ chỗ đó bỏ đi thân phận nghèo khổ của họ, và
loại bỏ mọi giai cấp.
Tuy
nhiên, chúng ta thấy mọi sự việc xảy ra là hoàn toàn trái ngược
những sự như Marx nghĩ. Có nghĩa Nhà Nước rơ ràng là sự dung ḥa của
người dân, nó đă không sinh ra sự phân chia này. Qủa thực, đây là sự
sinh ra một xă hội mới không chính trị như ư Marx muốn, cũng như
Saint Simon muốn. Những ư đó là các tư tưởng và việc làm phản lại
chính trị, hoặc là chống lại chính trị như nhiều triết gia chính trị
học nhận định về Marx và Saint Simon. V́ qủa là chinh trị, th́
người ta luôn thấy các diễn tiến luôn chạy đều trong các công việc
của nó, và luôn bắt đầu lại sự nhổ tận gốc các hành vi bạo lực, dàn
áp nguời dân. Song các nước cộng sản lấy chủ thuyết Marx-Lénine làm
căn bản, th́ hành động bạo lực và đàn áp, sát hại dân không bao giờ
bị loại bỏ.
Từ
những nhận định này, chúng tôi nghĩ rằng đây là những hệ luận của ư
nghĩa chính trị và Nhà Nước, theo chúng tôi th́ Marx không cần đồng
hóa các giai cấp và chủng tộc trong một tinh thần phản chính trị như
thế. Cảm nghĩ của chúng tôi đề nghị, là dẫu trong mọi trường hợp nào
của xă hội loài người, nhưng để thiết tạo nên cái quan niệm chính
trị, th́ bước tiên khởi của việc hành sự chính trị là nh́n nhận các
giá trị tự do thiết yếu của người dân, và xây dựng cùng tôn trọng
các tự do căn bản đó. Sau đó, th́ phải nhổ tận gốc các việc bạo lực
trong đường hướng chính trị của ḿnh. Trong chương này chúng tôi
tŕnh bày cùng qúy vị, uớc mong rằng bằng mọi giá chúng ta chống lại
sự cám dỗ muốn dùng chính trị như một con đường cho ta sử dụng tham
vọng quyền lực cùng thống trị kẻ khác. Chúng tôi xin các vị hăy trả
lại cho chính trị ư nghĩa tự nhiên cùng ư nghĩa tốt đẹp của nó. Để
rồi con người với con người sống thực bản tính tự nhiên trong tự do,
trong nhân quyền của ḿnh, cùng vui sống trong an ḥa và sáng tạo.
V. BẠO
LỰC
Chúng
tôi đă nói qua các hành vi bạo lực ở chương trên, và qua chương V
này chúng ta cùng khảo luận nghĩa rộng hơn về các hiện tượng bạo lực
này.
Trước
hết chúng tôi phủ nhận ở đây rằng ư nghĩa của bạo lực nó không liên
thuộc hẳn về chính trị, song bạo lực hoàn toàn liên thuộc vào quyền
hành. Chính quyền hành tạo nên bạo lực. Chúng tôi xin phép được giải
thích từ đâu mà bạo lực này có? Ư nghĩa của bạo lực cùng sự xác thực
của bạo lực ra sao? Nói một cách khác, bạo lực chỉ là sức mạnh, ngay
cả việc bạo động, bởi sức mạnh là sự cảm nghiệm của con người khi
hành động. Tuy nhiên sức mạnh mà chúng ta có ngoài ư nghĩa nói này.
Hoặc là dùng quyền hành để tạo nên sức mạnh cho ḿnh hay tạo nên bạo
lực, th́ các hành động đó không có chính đáng ǵ cả. Chính sức mạnh
không chính đáng, không có tinh thần cao thượng và hấp lực của ḿnh,
mà chúng tôi muốn tŕnh bày ở đây, th́ họ đă lợi dụng sức mạnh và
bạo lực đó để cướp quyền bất chính. Do từ đó, chúng ta sẽ thấy có
các nguồn tư tưởng muốn giảm thiểu việc chính trị dựa vào sức mạnh
để khống chế và thống trị con người.
5.1. Nền
Tảng Và Nguốn Gốc Của Bạo Lực
Chúng
tôi vừa nói qua nghĩa rộng của sức mạnh, hay hành vi bạo lực đă có
ngay trong thể chế chính trị chuyên chế và độc tài. Để từ đó chúng
ta hiểu rằng hành vi bạo lực không xứng cho người làm chính trị chân
chính, hầu ta thừa nhận các tự do căn bản để tôn trọng con người, và
loại đi các bạo lực đê hèn. Tuy chúng ta đă nhận rơ sự bạo lực,
nhưng bạo lực vẫn luôn xảy ra, và thường hăm dọa đến đời sống của
chúng ta. Do thế, điều chúng tôi nói đây không thực tiễn chút nào
cho ai hiểu chính trị như một tổ chức đơn giản, có kỹ thuật hoặc
kinh tế như một lư do của một xă hội thuần túy, th́ những người ấy
chưa hiểu thấu suốt về chính trị. Bởi chúng tôi nghĩ các câu hỏi về
chính trị thật là quan trọng cùng tinh tế hơn hẳn một vài câu hỏi về
kỹ thuật học hay kinh tế học v.v. Bởi chính trị có nhiều sự khác khó
khăn hơn để giải quyết các vấn đề của con người. Có nghĩa làm sao để
giải quyết hết các vấn nạn của xă hội, rồi đến các tự do của con
người, các vấn đề đạo đức của con người và luân lư của xă hội, tiếp
đến các khả năng của con người phục vụ và sáng tạo v.v.. Nhất là,
vấn nạn con người muốn tạo nên cho chính minh sự tuyệt đối. Chính
khả năng tuyệt đối này mà Carl Schmite, tác giả cuốn sách
« L’Essence du Politique, Bản Chất của Chính Trị », ông viết vào năm
1932. Chính ông đưa ra tư tưởng này, do thế tư tưởng của ông rất gần
với chủ nghĩa « Quốc Xă, National-Socialisme ». Cũng chính chủ nghĩa
Quốc Xă này đă tạo nên những hành động bạo lực khủng khiếp cho nhân
loại. Hay nói như triết gia Hobbes đây là chiến tranh của một nhóm
người điên cuồng chống lại tất cả mọi người, chống lại nhân loại.
Thêm
một nguyên do nữa để tạo nên bạo lực, hiện thực hơn chính là do các
định chế của quyền sở hữu, chính v́ các ông vua, các lănh chúa, các
ông hoàng và những thế lực của thời xưa tạo cho họ qúa nhiều quyền
sở hữu, bắt các người hầu phục dịch họ nhiều sự qúa đáng. Và đây là
nguyên do sự bất công, và mất đi sự an b́nh trong xă hội theo như
Locke nhận định. Khi nói đến quyền sở hữu này th́ chúng tôi nghĩ đến
Rousseau và Engels, các ông đă nh́n thấy rơ vấn đề này. Chúng tôi
xin trích ra đây đôi lời của Rousseau : « những người giàu có chỉ
nghĩ đến bắt các người hầu cận phải phục vụ họ ». Rồi ông ví
họ : « như những con chó sói đói khát, say máu muốn nếm thử thịt
người, họ chán ngán mọi thức ăn khác, không muốn ǵ hơn nữa, là được
cắn xé con người cho thỏa thích » (20). Để từ đó, ông đưa ra các
luận cứ về quyền sở hữu không thể không có sự tác dụng của nó. Bởi
theo Rousseau sức mạnh hơn cả chính là tạo nên các công việc, và đây
là sự khéo léo hơn hết hầu lôi cuốn tiền lương của các thợ thuyền và
công nhân, có người làm việc thật nặng nhọc nhưng kiếm đồng lương
thật vất vă, c̣n người th́ công việc nhẹ nhàng, nhưng đồng lương lại
cao. Và ông cho đây là sự bất công bằng (21). Chúng ta thấy do các
nguyên nhân này, mà các xă hội Tây phương hay các Nước kém phát
triển và các Nước nghèo thế giới Thứ Ba, thường xảy ra các cuộc đ́nh
công, xuống đường, biểu t́nh của các thợ thuyền, công nhân và nghiệp
đoàn, đ̣i tăng lương, hay giảm bớt các giờ làm việc, lắm lúc xảy ra
các sự bạo động, v́ chánh quyền hay các chủ nhân ông không đáp ứng
các đ̣i hỏi cho quyền lợi của họ. C̣n các Nước nghèo Thứ Ba, nhất là
ở Châu Mỹ La Tinh, th́ tài sản như đất đai, ruộng vườn, các đồn
điền, dinh thợ lớn th́ nằm trong tay của một số tài phiệt có thế
lực, c̣n người dân đinh, trải qua bao nhiêu đời, hết cha lại con đến
cháu vẫn là người làm thuê, kẻ làm mướn. Sự bất công b́nh này đă tạo
nên các cuộc bạo động của người dân, và gây nên nhiều phong trào,
cùng các quân du kích tranh đấu cho quyền lợi nông dân. V́ các lư do
nói này mà bạo lực vẫn thường xảy ra trên trái đất ta ở.
Giờ
đây chúng tôi x́n đưa ra một kinh nghiệm về bạo động mà Bertrant de
Jouvenet đă tường thuật lại nguồn gốc của bạo động, mà ông loại suy
từ đứa bé để đưa dẫn vào đời sống xă hội và chính trị. Ông kể lại
rằng, một đứa trẻ lần đầu tiếp xúc với một thế giới ngoại kiều, thế
giới đó xa lạ hoàn toàn đối với em. V́ trước khi đứa bé đến ở nơi xa
lạ, th́ đứa bé đă có được một thời gian ổn định ở quê nhà, thời gian
đó đứa bé cảm thấy b́nh an. Nay bé lại bị ném vào một thế giới xa lạ
từ ngôn ngữ, miếng ăn, con người cùng xă hội v.v., không khác ǵ tạo
nên cho bé cái « sốc ». Do thế ông nghĩ rằng tưởng đứa bé được đưa
vào một xă hội chắc chắn là được bảo đảm, nhưng thực ra là trong một
thế giới không chắc, từ đó đứa bé cảm nhận không được an toàn để
sống trong xă hội loài người này (22).
Cũng
thế, ông tả thêm h́nh ảnh đứa bé được gia đ́nh gửi vào kư túc xá để
học, ông nói : « ngày mà đứa trẻ bị « bắt » đi một cách đột ngột rời
khỏi gia đ́nh, để rồi « bỏ » em vào trong trường học, hay vào trong
kư túc xá (nội trú). Có nghĩa đây là thế giới mới của em, em cảm
nhận xa lạ, nhất là khi người cha hay người mẹ bỏ em ra về. Lúc đó,
em cảm nhận cô đơn, cảm nhận lạc vào trong một nơi ồn ào quay cuồng
và náo nhiệt xâm nhập em, em đang rơi vào trong một vũ trụ của kẻ
không quen và không thông cảm. Đùng một cái, biết bao khuôn mặt,
biết bao tiếng nói, làm cho em phân biệt, có tính cách cá nhân hóa :
trước tiên em phải quan sát các người khác, chính họ, con người đó
một đôi khi là cá nhân, một đôi khi là con người cộng đồng, qua đó
em phải dấn thân, chúng bao quanh và xiết chặt em. Con người đó do
các h́nh thái khác biệt, một đôi khi em cảm nhận như một bức tường
chống lại em. Cũng thế, khi th́ em phải chịu một sự tấn công th́nh
ĺnh do các môi miệng của kẻ lạ này đặt cho em các câu hỏi, hay ra
lệnh cho em phải kết hợp với họ, làm cho em choáng váng. Vâng, cái
cảm tưởng nồng độ của lần đầu này, là cho cái không là tôi
(non-moi), là một phần của các bí ẩn và đ̣i hỏi em, để rồi qua đó,
kể từ này em phải tùng phục và vâng lời. Khi sự việc này đến, em cảm
nhận như tiêu tán, hệ trọng hơn là em phải ở lại nơi đây, do thế,
cái cảm giác em lúc này rằng « mọi người khác » ở đây, tại nội trú
này là nguyên nhân của người lạ… Qủa đây là cái cảm giác sống thực
cho chúng ta là người di dân, th́ chính điều này báo cho chúng ta
không thuộc cùng thân thể này (xă hội hoặc cộng đồng), mà qua đó
(nơi ta đang sống) là các « kẻ khác », họ hiện diện liên quan đến
ta » (23). Chúng tôi thấy Bertrant de Jouvenel đă t́m được một từ
hay để chỉ rơ và xưng tên về « quê hương này mà ở đó có các cộng
đống kẻ lạ, và kẻ lạ-cộng đồng liên hợp này, ông thử dùng danh từ
mới « aultruie, người khác, thiên hạ, c̣n tiếng Anh th́ gọi là
otherdom ». Danh từ mới của chúng ta đây là tha nhân-aultruie. Và
theo ư ông th́ từ đó em có thể có những phản kháng tự nhiên, rồi dễ
tạo các bất măn khi chung đụng với bạn bè mà chúng có thái độ hách
dịch, bắt nạt –Và theo ông th́ bạo động phát xuất từ đây.
Cũng
thế, từ ư nghĩa của câu chuyện này dẫn đến chính trị, th́ chúng ta
thấy ở đâu có chiến tranh, th́ ở đó cũng « bứng đi » bao lớp thanh
niên trẻ phải lao đầu vào trong bạo lực của chiến tranh. Đôi khi
cuộc chiến chỉ bởi một lớp người lănh đạo có quyền hành và quyền lực
tạo nên cuộc chiến với ư đồ tham vọng của họ. Như hai thế chiến đệ
nhất và đệ nhị, cuộc chiến dài đăng đẳng của Việt Nam. V́ sự bạo lực
cuồng điên của Hồ Chí Minh và Lê Duẫn, làm giết chết hàng triệu
người dân lành của hai miền Nam Bắc. Rồi các cuộc chiến của người
Cam Bốt, Savador, Nicaragua, Rwanda, Angola v.v.. Hay giữa dân Do
Thái và Palestine. Dẫu bạo lực vẫn thường xảy ra trên trái đất lắm
khốn khổ này, tuy nhiên con người luôn cố gắng để t́m một phương thế
ḥa giải và dung ḥa hầu sống c̣n. Chúng ta rơ hai dân tộc Do Thái
và Palestine thề không đội trời chung với nhau. Nhưng sau bao nhiêu
năm họ dùng đủ các thứ bạo lực : nào khủng bố, đặt bom, ám sát, đánh
nhau bằng nhiều cách, song cuối cùng hai nhà lănh đạo hai nuớc là
Arafat và Rabin đă bắt tay nhau giảng ḥa. Để rồi hai vị kư kết một
văn kiện ḥa b́nh lịch sử giữa hai nước trên thảm cỏ tại Ṭa Nhà
Trắng ở Wasshington vào năm 1993. Tuy chỉ được một thời gian sống
b́nh an, sau đó lại bất ổn vi cái chết của Thủ Tướng Rabin do một
tên qúa khích cuồng tín cực hữu Do Thái ám sát ông. Từ đó bạo lực
lại tái diễn làm nhiều dân lành chết oan, để rồi các nhà lănh đạo
hai nước là Ariel Sharon và Mahoumoud Abbas và này là Hamas và vi
thủ tưóng mới của Do Thái là Benjamin Netanyahu phải đii vào bàn
hoà đàm lại, hầu t́m được sự ổn định b́nh an cho hai nước.
Thường
các cuộc ḥa giải này thật là gian nan vất vả và khó khăn mới tạo
được. V́ các cuộc ḥa giải đó luôn đ̣i hỏi có sự tương quan và kính
trọng lẫn nhau, cùng nhân nhượng lẫn nhau các quyền lợi về chính trị
và kinh tế v.v.. Nhất là các cuộc ḥa giải này luôn có các trọng uớc
để giữ ǵn ḥa b́nh cho nhau. Vả nữa, các vị lănh đạo và nhà cầm
quyền phải ư thức cao độ cái giá trị của ḥa b́nh cho nhau và tôn
trọng các khế uớc mà ḿnh đă kư kết, c̣n nếu không hiểu rơ luật lệ,
chính trị, th́ sẽ rơi vào lại bạo lực như đă xảy ra nhiều năm giữa
hai nước Do Thái và Palestin hiện nay.
Nói
tóm lại, các cuộc ḥa giải này chính là bản chất cứu lấy các sự tự
do của con nguời, và nhận ra « tha nhân » cũng có quyền tự do sống
b́nh an như tôi muốn. Do vậy, tại sao tôi phải dùng bạo lực để bắt
ép người khác đang sống b́nh an, và bứng người ta đi ra khỏi nơi
người ta đang sống an lành ấy? Như cộng sản Hà Nội trước đây đă dùng
bạo lưc cưỡng ép, bắt biết bao triệu thanh niên, thanh nữ đi bộ đội
để đánh chiếm Miền Nam. Hay sau này th́ họ qua Cam Bốt là nước anh
em, rồi dùng bạo lực chiếm Đất Nước người ta. Vi lư do này mà cả thế
giới ai cũng lên án, và bao vây kinh tế cũng như chính trị với Hà
Nội một thời gian dài.
Thế
nào là quan điểm chống lại quan niệm về việc bạo lực như thế? Điều
này, như chúng tôi đă nói ở trên, đây chính là « khế uớc hóa ». Thế
nhưng, đi xa hơn th́ bất cứ giá nào chúng ta (con người) cũng phải
loại bỏ các bạo lực ra khỏi các viện lư của nó. Do thế, chúng tôi
nghĩ đến các lư thuyết gia, các sứ giả ḥa b́nh, chính họ là những
ngựi làm công việc dấn thân cho công cuộc chính trị này, hầu có thể
tạo nên một khế ước ḥa b́nh chân thực. Hiệp định ḥa b́nh này phải
là sự hoàn toàn tinh tuyền của ư muốn chân thành của phía bên này
cũng như phía bên kia. Chúng tôi nhớ lại điều này không những chỉ là
trường hợp của Rousseau như chúng tôi đă nói ở trên. Song những lư
thuyết ḥa b́nh ḥa giải này thật là thực tế và tế nhị. V́ lư thuyết
này không tin tuởng vào bản chất của bạo lực cưỡng ép người ta vào
bàn hội nghị, nhưng bằng con đường đối thoại và đàm phán, hơn nữa
bạo lực là đàng sau hậu cảnh của sự hiện hữu chính trị. Bởi theo
chúng tôi nghĩ bạo lực không phải là lư do thiết yếu như là một
« động lực » để chúng ta sử dụng nó, hầu giải quyết các vấn đề của
chúng ta. Trái lại, lư thuyết ḥa b́nh ḥa giải được xem là đưa lại
cho chúng ta các ư muốn tự nguyện, tất cả được xem cho việc hiện hữu
bởi các tự do (luật tự nhiên, nhân quyền). Cũng thế, tất cả sự tự do
này phải có cho mọi người, cho người dân được sống b́nh an cùng hạnh
phúc !
5.2. Sự
Thừa Nhận Ḥa B́nh Và Công B́nh
Ở
đây, chúng tôi mong rằng với ư nghĩa của sự thừa nhận, th́ qua ư
nghĩa đó : chúng tôi muốn nói là tất cả cho các tự do. Tuy nhiên,
khi chúng tôi nói đến đây, th́ chúng tôi cũng không phủ nhận các
điều mà người ta nói đến sự thừa nhận này, mà không nghĩ đến các
chiều kích của các tiềm năng của bạo lực. V́ bạo lực vốn sẵn có
trong các sự tự do ( ví dụ, các hành vi bạo lực xảy ra, là do con
người tôi nghĩ, tôi có tự do làm như thế và hành động như vậy). Do
thế, khi đi vào các sự kiện tự do, th́ chúng tôi thích nói đến sự
kiện từ ngữ « thừa nhận ». Bởi con người khi biết thừa nhận th́ sẽ
làm « tươi nở » cho các khế ước, hiệp ước. Sự thừa nhận muốn nói lên
sự nỗi bật của Hiến Pháp hay là thể chế, hầu hổ tương cùng củng cố
các sự tự do (các sự tự do này phải thực sự được tôn trọng), để vượt
qua các bạo lực. Thực ra Hiến Pháp của các tự do, nói ra có vẽ một
cách nghịch lư (paradoxalement, paradoxically). Bởi v́, chúng ta
biết sự tự do, thực ra chính nó sinh ra chính ḿnh (la liberté nait
vraiment à elle-même en sortant de soi), và tự do đó miệt mài đến
một việc khác để tạo nên cái có. Sự tự do vẫn có tiềm năng đơn thuần
như thế, và trở nên thiết thực. Cũng thế, tự do cũng có nghĩa là khả
năng phủ nhận cái này, sự nọ. Thế nhưng kể từ này, th́ tự do của tôi
dựa trên tha nhân.
Hiến
Uớc-Pacte sẽ trở thành Khế Uớc-Contrat (là một giao ước, giao kèo).
Từ đó người ta dấn thân, người ta vượt qua được t́nh thế trước đây
(như xung đột, chiến tranh, hận thù v.v.) để bước vào một giai đoạn
mới, đó là Giao Uớc Ḥa B́nh (Hiệp Ước Ḥa B́nh). Vả nữa, để làm nỗi
bật bước đầu của sự việc chính trị, cho nên chúng tôi lưu ư đến
trong mọi trường hợp để thiết tạo nền ḥa b́nh, th́ chúng ta phải
nhận thức rơ tác dụng của nó (xin để khỏi hố như Hiệp Định Paris lố
bịch, đă « giết chết » một Miền Nam Việt Nam trong tủi hận và đau
thương). Để rồi từ sự nhận thức ấy được biểu lộ bằng một chuyển
động, một sự vượt qua các khó khăn, cùng các nan giải của qúa khứ
trước đây, để đi đến sự đối thọai, sự đàm phán và thỏa ước với nhau…
Cũng thế, Hiến Ước (Hiệp Ước) này là một sự chuyển hoán, hoán đổi
t́nh trạng hiện tại (chiến tranh), có nghĩa đây là sự nhận thức được
giá trị sự sống của người khác, và đây cũng là việc vượt qua được
cái qúa khứ hận thù trước đây, để ngồi lại với nhau mà chung sống
ḥa b́nh trong niềm ước vọng chung của mọi người, của toàn dân.
Chúng
tôi vừa nói đến từ ngữ ḥa b́nh (pacte de paix). Đây chính là ngôn
từ căn bản rất thiết yếu cho chính trị. V́ qua sự ḥa b́nh này,
trong thực tế người ta có thể gặp vài khả nghi (khó khăn) thật là
quan trọng cho cứu cánh của chính trị. Có nghĩa chúng tôi muốn nói
đến sự nan giải của ḥa b́nh là công b́nh. Chúng ta biết đây là
trong ư nghĩa nan giải của vấn đề luân lư hay chính trị rồi. Qủa đây
mới chính là sự khó khăn, để làm sao ta dung hợp được hai từ ngữ ḥa
b́nh và công b́nh này. Từ điểm này chúng tôi tưởng nghỉ đến sự đảo
nghịch của Machiavel đến hai từ ngữ thực tế này trong đời sống. Theo
ông nghĩ th́ ḥa b́nh có trước công b́nh (v́ lúc đó quê hương của
ông có giặc giả nên ông nghĩ như thế, để cần sự cứu thoát quê hương
ḿnh). Tuy nhiên chúng tôi cảm nghĩ rằng ư nghĩa này không nhận ra
sự việc tương hổ : có nghĩa điểm này là điểm yếu của tư tưởng
Machiavel chăng? Cũng từ ư nghĩ này chúng tôi thấy vẫn c̣n các điểm
yếu khác của các tư tưởng gia chính trị xưa và nay. V́ họ là người
luôn đặt ḥa b́nh lên hàng đâu tiên của mọi cứu cánh, mọi mục đích.
Họ bất cần sự ḥa b́nh đó có công b́nh và chân chính không, miễn sao
đạt mục đích và ư muốn cùng quyền lợi của họ là được. Điển h́nh là
những chính trị gia đại bịp Nixon và Kissinger. Nhất là Kissinger,
người đă bán đứng miền Nam Việt Nam bằng một thỏa thuận thương
nhượng với Hà Nội và Trung Cộng, để tạo cho được Hiệp Định Paris, và
giải thưởng Nobel vô liêm sỉ mà ông đi nhận lănh. Nhưng sau biến cố
của ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi cộng sản Hà Nội đă cưỡng chiếm Nam
Việt Nam, th́ thế giới Tây phương đă mở mắt cho sự khờ dại của ḿnh
khi họ mục kích miền Nam bị tắm máu trong hận thù và sự trả thù
người dân trong tù đày, cùng hằng triệu người Việt Nam liều ḿnh bỏ
xứ ra đi t́m tự do, hằng triệu người đă bị vùi thân xác trong ḷng
đại duơng gầm sóng.
Ôi bài
học đắt giá cho người làm chính trị cao ngạo, cho ḿnh là tài trí
hơn người, nhưng thật ra là thiếu thận trọng, khờ khạo trong phương
sách, chiến lược chính trị, thế nên đă diết chết hằng triệu sinh
mạng trong việc vô liêm sĩ, và gian trá của ḿnh. Người Việt Nam
chúng ta có câu :« Hoàng Thiên Hữu Nhạn, Ông Trời Có Mằt, ác giả
thí ác báo, quả báo nhăn tiền », bởi sau biến cố tắm máu sau năm
1975 đă đốt cháy sự nghiệp và tên tuồi của Nixon va Kissinger. Do
đó, chúng tôi xin những ai làm chính trị hay cầm quyền, muốn tạo
được ḥa b́nh th́ phải có công b́nh, hăy đ̣i hỏi thực thi các điều
kiện công b́nh trước khi nói chuyện ḥa b́nh. Công b́nh chưa có lấy
đâu được ḥa b́nh chân thực ?
Giờ
đây chúng tôi xin đưa ra trường hợp của Jean Baechler qua tác phẩm
của ông là « Précis De La Démocratie, Khái Yếu Của Dân Chủ » (24).
Đọc qua tác phẩm này chúng tôi thấy ông dẫn chứng đến các mục đích,
các minh bạch của ḥa b́nh và công b́nh. Theo ông nghĩ rằng việc
chính đáng và hợp pháp trong sự thiết tạo ḥa b́nh và công b́nh này,
đó chính là tất cả việc làm của chính trị, cũng như mọi chính sách
của chính trị phải phù hợp với các mục đích của ḥa b́nh và công
b́nh, hầu mới nói lên được tính cách xác thực của nó » (25). Do thế,
vai tṛ của chính trị rất cần thiết để bảo giữ ḥa b́nh vững bền,
nói như ư Jean Baechler, th́ chính trị là cái trật tự, nhận lănh
trách nhiệm bảo đảm b́nh an cho việc công b́nh của xă hội, hoặc bảo
đảm công b́nh cho một chính sách đề ra, rồi việc làm chính trị phải
quản nhiệm tốt các chính sách này (26). V́ thế, chúng tôi nghĩ chính
trị sẽ là một sự xây dựng, là một việc thiết tạo ḥa b́nh trong công
b́nh. Có nghĩa chính trị ở đây phải có cái nh́n giả định trước. Cái
giả định nh́n xa ở trong ư nghĩa này, là người ta không nh́n thấy
các gian dối, lừa lọc và bạo lực xảy ra như trường hợp Việt Nam sau
Hiệp Định Paris, mực bút kư chưa khô th́ Hà Nội đă vi phạm trắng
trợn, ngang nhiên xô quân bộ đội đánh chiếm Miên Nam. Khi nghĩ đến
điều này, chúng tôi thấy nhiều người Việt Hải Ngoại vẫn c̣n ngây
thơ, chóng quên những kinh nghiệm của gia đ́nh ḿnh, bản thân ḿnh
có biết bao đau thương với Việt cộng : Thế mà cứ muốn nghe chúng dụ
dỗ đ̣i ḥa hợp, ḥa giải, giao lưu văn hóa : nói một cách công b́nh
như chúng tôi bàn luận qua ở trên : họ đă thực thi công b́nh với
chung ta chưa ? Hăy đ̣i hỏi thực thi những công b́nh cho chúng ta
thấy trước đi : như trả lại nhà cửa, ruộng vườn, giáo đường, nhà
chùa của người dân, thả hết tất cả nhửng tù nhân lương tâm, cho đa
đảng, cho tự do báo chí và ngôn luận vv. Khi Hà Nội nghiêm chỉnh
thực thi những điều này, chúng tôi sẽ nghị luận với họ cho một
chương trinh ḥa giải những mối xung khắc và những mối hận thù do
những chính sách sai lầm và tội ác của họ gây ra cho Đất Nước và
người Dân Việt - Để từ đó có một ngày tạ tội với Tiên Tổ với Trời
Đất, với Quốc Dân như các Vua Việt chúng ta trước đă cử hành nghi
Lễ, làm Lễ Tế Trời, và Vua th́ tạ tội trọng thể với Thiên Hoàng và
Quốc Dân – Khi đó ḷng Người, ḷng Trời , ḷng Dân và toàn thể Dân
Việt quy về một mối an ḥa, mới mong cho một bước tiền xây dựng và
canh tân Đất Nước cường thịnh về mọi lănh vực văn hóa, chính trị,
kinh tế và xă hội cùng tôn giáo.
5.3. Sự
Bạo Lực Thái Qúa Nằm Trong Sự Sinh Động Của Tự Do
Phải
chăng người ta nói đúng rằng có một cái ǵ đó có trước của các hành
vi bạo lực, nó ví như một sự sinh ra tuyệt đối của các tự do trên
các nền tảng của bạo lực này ? Sự sinh ra đó có thể một cách tự
nhiên theo một số phân tích gia nghĩ. Cái đáng nói là bạo lực thường
nhắm vào đối tượng tha nhân hoặc người dân, mà khủng bố hoặc hăm dọa
đến mạng sống của họ. Điểm mâu thuẫn ở đây, chính bạo lực là sự
vượt quá ư muốn của tự do thực. V́ bạo lực chính nó có đủ khả năng
vượt qúa, có nghĩa là hành động bạo lực-acte violence, mà người ta
tạo nên nó, rồi xem đó như là sự tự do hành động của ḿnh. Điển h́nh
các việc làm của Lénin, Stalin, Hitler, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh,
Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, và nhóm phỉ quyền Hà Nội hiện nay, rồi Polpot,
Đặng Tiểu B́nh, Sadam Husen, Kim Nhật Thành v.v.. đă tạo ra các bạo
lực và bạo hành. Họ nghĩ « sai trái » rằng họ có tự do, có đủ quyền
lực làm như thế. Đây chính là sự nghịch lư mà chúng tôi muốn nói
đến. Hoặc một cách rơ ràng cùng chính xác, th́ có lẽ do sự huyền vi
của tự do, là năng lực tuyệt đối đă tạo nên chăng. Cái muốn tuyệt
đối này đồng thời cũng là khả năng không giới hạn, dùng sự tự do,
dùng sự tuyệt đối trong bản chất của nó : có nghĩa bản chất khác –
v́ bên cạnh của tự do có ư chí tự do, song đồng thời tự do đó là tự
do như mục đích, cái mục đích tự do của sự tự do khác. (Xin lỗi đọc
giả, chúng tôi phải giải thích đôi gịng ở đây trong lănh vực triết
học, nên đôi lời và từ ngữ hơi khó hiểu, mong được sự thông cảm của
qúy vị. V́ chúng tôi không thể làm ǵ hơn trong bài khảo luận này,
cần đến nhiều ngôn ngữ triết học, xă hôi học, chính trị học, luật
học và tâm lư học v.v., dẫu chúng tôi đă cố gằng nhiều hầu đơn giản
hóa từ ngữ cho dễ hiểu hơn).
Do
vậy chúng tôi nghĩ để có sự quân b́nh, th́ phải có tư tưởng của Luật
giữa ḷng các sự tự do, hầu giảm bớt hay chặn đứng những hành động
tự do (thiếu suy nghĩ, lệch lạc tư tưởng, vô luân, phi đạo đức vv.).
Đây chính là việc tiên khởi và thiết yếu của chính trị, là một thứ
chính trị đạo đức, hay nói nữa, là hành động trước hết hiện nay của
các việc làm chính trị vị nhân. Chúng tôi nghĩ sự khó khăn ở đây là
ngôn từ « Luật », mà một số nhà tư tưởng hiểu là một vài việc ǵ đó
bên ngoài chính sự tự do, được xem là ngoại thuộc. Trái lại, chúng
tôi nghĩ là Luật, th́ có vai tṛ của nó, và đủ ư nghĩa của nó nếu
như con người xem Luật đuợc thể lộ trong các sự tự do (như chúng tôi
đă bàn đến các chương về Luật tự nhiên). Có nghĩa là trong hành
động tự do của tôi làm, hành động đó không phương hại đến mạng sống
người khác. V́ khi hành động tự do của tôi làm phương hại đến mạng
sống tha nhân, th́ tôi đă dùng hành vi bạo lực thô bạo đối với họ.
Thế nên, v́ Luật sự sống, tôi không có quyền ǵ để cướp đi sự sống
của người khác. Tôi không muốn một ai cướp đi sự sống của tôi, lư
nào tôi lại muốn lấy mạng sống của người khác ? Ư này nằm trong lănh
vực nhân quyền. Đúng hơn, đây là quan điểm của triết lư đạo đức thời
đại (philosophie éthique) bàn đến. Do thế, một vài nước văn minh Tây
Phương đă xóa bỏ bản án tử h́nh, thế vào đó là bán án tù chung thân.
Bởi họ nghĩ rằng chỉ có Thượng Đế ban cho chúng ta sự sống và duy
Ngài mới có thẩm quyền cất đi sự sống của chúng ta. Do từ ư nghĩ
này, anh và tôi đều b́nh đẳng như nhau cùng làm người giống nhau,
dẫu anh là ǵ đi nữa, anh không có quyền dùng bạo lực để cướp đi sự
sống của tôi, ngược lại tôi cũng thế.
5.4. Cái
Gốc Biến Tính -Tiếp Cận Trong Tính Năng
Để
nhận rơ, trước tiên, trong con người th́ gốc biến tính, chính là ư
muốn không có giới hạn, ngay cả sự tuyệt đối cũng thế, như chúng tôi
vừa mới gợi ra ở các gịng nói trên đây. V́ bản chất của nó là sự ǵ
khác. Nó không có hoàn toàn lư tưởng (người ta có thể gọi là luân
lư), tuy nhiên nó được phát lộ tức th́ trong tính năng. Và nhờ sự
liên quan đến các liên hệ khác, hoặc là trong tính cách giữa mọi
người với nhau. Đơn cử, sự chống nhau giữa chủ và tớ, hay giữa người
nô lệ và chủ nhân, hoặc là người dân và Nhà Nước, hoặc nữa là các
quốc gia bị trị với các đế quốc xâm thực – mà chúng tôi muốn mượn tư
tưởng của triết gia Hegel để nói về tính năng. Theo Hegel, th́ tính
năng bao hàm một sự phân chia, song tính năng cùng một thời gian là
sự tiếp cận, liên hệ thân mật, nhờ qua sự thân mật này tôi có được
sự cấu thành đó mà tôi chỉ là tôi do bởi người khác này mang lại các
điều ấy cho tôi. Tôi chỉ là một người (sự cách biệt của của cái tôi)
bởi một người khác (chính tôi hoặc là cái tôi đối diện tôi). Để từ
đó, th́ tôi không bao giờ là người khác như thế, tôi không phải là
phái tính khác. Do đó mà phái tính như là cái rễ chia làm đôi này.
Chúng
ta biết trong thời gian qua có nhiều luống tư tưởng của các triết
gia đề cập đến điều này. Song đáng lưu ư đến là triết gia thời danh
Emmanuel Levinas, chính ông là người đă khám phá ra cảm tượng đặc
biệt về tha nhân, để xác định cái chính tôi bởi một người khác trong
cái nh́n mà triết gia bàn đến. Cái nh́n ấy nó hoàn toàn khác với tất
cả sự vật chiếm được. Cái nh́n quan sát. Cái nh́n hướng về chính tôi
và đến người khác, chính là tất cả : nghĩa là không có ǵ chiếm
đọat. Cái nh́n cho phép hiện diện diện. Cái nh́n mời gọi. Cài nh́n
t́m kiếm. Do đó, khuôn mặt của kẻ khác (tha nhân), chính là một cách
có khác, nói như triết gia Levinas. Đây không phải là một khách thể
(người khác) tạo nên cái bức rào ngăn cản, song là một việc để cho
tôi hiện hữu, tạo cho tôi hiện sinh trong cỏi trần này.
Quả
điều nói này, th́ chúng ta thấy việc khởi đầu về sự liên thuộc của
người nam và người nữ hay của người khác, th́ phát xuất từ tư tưởng
nói trên, để rồi từ đó con người có sự liên thuộc trong mối tương
quan với xă hôi. Cũng từ đó ta nhận diện ra ta trong kẻ khác.
Trở
lại vần đề chính trị, th́ ngay cả các vấn đề bạo lực, chỉ hiển lộ
trên bản chất đó, có nghĩa nhắm vào kẻ khác để sử dụng bạo lực. Do
thế, bạo lực không chỉ là bản chất của sự tự do, do sự hấp lực về
tuyệt đối, hoặc là bản tính của tự nhiên, song cũng là bản chất của
cá tính con người được lưu ư do sự biến tính của chính ḿnh. Tuy
vậy, biến tính không phải là sự xung đột, biến tính là tính năng.
Bản chất của biến tính là sự biểu lộ sự tàn bạo của bạo lực. Tuy
nhiên sự bạo lực do con người, th́ con ngựi cũng có thể ư thức được
trong việc chủ tâm khắc phục bạo lực. Hơn nữa, v́ chính trong con
người vẫn c̣n có cái gốc của sự thiện (nhân chi sơ tánh bổn thiện)
mà Ông Trời đă đặt vào trong lương tâm của con người, để khi chúng
ta làm sự ác th́ bị lương tâm cắn rứt dày ṿ. Nhờ đó con người có
thể khắc phục, vượt qua được sự tàn bạo của bạo lực này khi nhận ra
các lỗi lầm trầm trọng của ḿnh đă phạm.
5.5.
Chính Trị Và Các Khuôn Khổ Khác Của Xă Hội
Chúng
tôi muốn nói đến một sự việc chính trị trong ư nghĩa chúng tôi đề
cập ra đây, được xem là việc tiên khởi trong các chính sách của
chính trị. Việc tiên khởi này là trong ư nghĩa đẹp của chính trị, từ
đó chính trị mang lại một sự « cứu độ » cho kẻ khác, khi nhận ra
được kẻ khác như chính tôi, tôi tôn trọng sự tự do của người khác
như tự do họ có. Tôi kính trọng sự sống của người khác như tôi yêu
chuộng sự sống của bản thân ḿnh, hầu trong con đường sử dụng chính
trị mới có thể loại bỏ sự bạo lực tàn bạo chết người nói này. V́
người khác đây cũng chính là tôi, là h́nh thể của con người tôi,
người ta tôn trọng tôi, th́ lư nào tôi không tôn trọng người ta. Đó
là điều tất nhiên ! Lẽ sống hiển nhiên ! Hơn nữa, bạo lực không
phải là loại chính trị tự nhiên, hay nói cách khác là thứ chính trị
thất nhân tâm. Nhất là, trong các tương quan khác của xă hội như xă
giao, kinh tế, văn hóa v.v., th́ chính trị (chánh phủ) phải nhận ra
giữa mọi người hay các tự do của mọi người là sự gián tiếp tôi phải
tôn trọng . Ư này chúng tôi muốn nói đến Chánh Phủ, Nhà Nưóc, Người
Dân hay Thủ Tướng, Tổng Thổng, Nghị Sĩ, Dân Biểu đêu phải tôn trọng
Hiến Pháp và Luật Pháp, tôn trọng các giao kèo, khế ước, thương ước,
hiệp ước vv. lúc ḿnh kư kết. Thế nhưng phỉ quyền Hà Nội và chánh
phủ gian phi của chúng luôn vi phạm, và chẳng coi Luật Pháp và Hiến
Pháp do chúng làm ra không ra cái thá ǵ.
Cũng
thế, trong các sự tương quan của việc buôn bán, trao đổi kinh tế,
việc đầu tư của người dân vào các lănh vực này, hay việc đầu tư của
các hăng xưởng ngọai quốc vào Đất Nước, th́ chúng ta không thể dùng
« bạo lực » bằng sức mạnh quân sự hay công an, dùng áp lực để « tống
tiền, ăn hối lộ, tham nhũng hoặc cướp đoạt tài sản » của người dân,
của người ta. V́ hành vi chính trị đó thiên hạ gọi là « mafia » hay
là loại chính tri « rừng rú ». Hoặc nói mạnh hơn là thảo khấu, chớ
không phải là hành tác của nhà chính trị cầm quyền.
Do
thế, trong chính trị người ta hiểu rằng cần phải có sự tương quan,
tương hổ, có việc thừa nhận các tự do, xem các sự do như là cái
quyền căn bản của con người trong một thể chế chính trị, đương nhiên
chánh quyền phải tôn trọng mọi người dân. Từ đó bằng bất cứ giá nào
Nhà cầm quyền phải t́m ra các giải pháp để loại trừ các loại bạo lực
« rừng rú, kém văn minh, mafia » ấy ra khỏi xă hội của dân ḿnh
sống. Thế nhưng Hà Nội đă không làm những điều này : Điển h́nh như
vụ Xứ Họ Tam Ṭa ở Đồng Hới tỉnh Quảng B́nh thuôc địa phận Vinh, đă
bị lũ côn đồ phỉ quyền Hà Nội thỏa hiệp cùng đi đêm với lũ « đầu
gấu » xă hội đen, đă đánh đâp tàn nhần các tín hữu hiền ḥa va các
giáo sĩ lương thiện, tranh đấu cho công lư, và công b́nh cùng quyền
sở hữu mảnh đất giáo xứ Tam Toà của ḿnh.
5.5. Tại
Sao Có Bạo Lực ?
Để trở
lại vấn đề bạo lực, th́ bạo lực chính là sự đe dọa đến sự sống của
người khác, của thiên hạ, và cũng là sự đe dọa đến đời sống của tôi,
của dân tộc tôi. Đây là sự vuợt qúa của chính trị, nhưng khổ thay
bạo lực cũng nằm ở trong lănh vực chính trị. Từ đó có thể xảy ra các
thể chế chính trị độc tài, thường dùng bạo lực để đàn áp dân, bịt
miệng dân, hay củng cố quyền lực, hoặc dùng bạo lực để đè bẹp tiếng
nói trung thực bênh vực cho lẽ phải : như Hà Nội, Bắc Kinh, B́nh
Nhưỡng, Ngưỡng Quăng v.v., là những phỉ quyền chuyên chế dùng bạo
lực trong các phương sách chính trị và chiến luợc cuả ḿnh. Qủa thực
bạo lực là cái thường tiềm tàng trong các xă hội cộng sản và quân
phiệt.
Chúng
tôi thấy sư bạo lực với những hậu qủa tai hại và tang tóc của nó gây
ra, đă để lại bao đau khổ cho con người. V́ đâu có bạo lực này, th́
nhiều nhà tư tưởng và triết gia nghĩ rằng bạo lực khi gây ra, th́
chính bạo lực đă có trước trong ư chủ động của con người như một sự
thiết yếu hầu thúc đẩy cho chúng ta nhận ra nó. Tuy nhiên sự thiết
yếu không phải là sự bắt buộc ta hành động. Song chúng ta có thể
hiểu sự thiết yếu ở đây có nghĩa là tạo nên các dấu chỉ tự do : như
tranh đấu cho tự do, độc lập của Dân Tộc, của Quốc Gia. Bởi sự tự
do, độc lập ấy sẽ là mục đích mà mọi người đều muốn có nó, thực thi
các sự ấy trong xă hội ta sống. Điển h́nh, như giữa dân Do Thái và
Palestine trước đây. Người dân Palestine v́ tranh đấu dành lại chủ
quyền Đất Tổ của họ, mà có thời Arafat và người dân Palestine đă
dùng đủ mọi phương cách bạo lực đối với người Do Thái, để bắt Nhà
cầm quyền Do Thái phải ngồi vào bàn hội nghị đàm phán, thương thảo,
hầu đạt thắng lợi dành lại được Đất Tổ như ngày nay. Nhưng dù sao
các hành động bạo lực vẫn là một sự dă man, tàn bạo, khi dùng bạo
lực để đánh phá dân lành. Chẳng hạn như Việt cộng vào Tết Mậu Thân
1968 sử dụng bạo lực, đă chôn sống hơn năm ngàn người dân hiền ḥa
xứ Kinh Thành Huế, làm cho thế giới kinh tởm Hà Nội. Hay vào năm
1972, Việt cộng đă dùng súng bắn xối xả vào những người dân lành
Quảng Trị, Thừa Thiên chạy giặc vào Huế, mà chúng ta có một danh từ
lịch sử để đời là « Đại Lộ Kinh Hoàng ». Hoặc như Đặng Tiểu B́nh và
Lư Bằng đă ra lệnh cho quân đội Trung Cộng dùng xe tăng và súng liên
thanh bắn xối xả, cùng cán chết các khuôn mặt sinh viên hiền ḥa
tranh đấu cho một thể chế dân chủ được hiện hữu và sinh động ở Quốc
Gia ḿnh. Để rồi từ hành vi tàn bạo đó mà Thế gíới đă kinh hoàng,
các đài truyền h́nh Tây Phương đă chiếu đi, chiếu lại một thứ bạo
lực « rừng rú » thất nhân tâm, vô trí của những tên trùm cộng sản
khát máu (27).
Nói
cách khác, là chúng ta biết sử dụng đúng tự do. Để rồi chúng ta thừa
nhận và tôn trọng một cách cụ thể các sự tự do và sự sống của tha
nhân, hầu chúng ta mới có thể vượt quá được sự bạo lực này. Và rồi
đặt ra cho chúng ta sự thực thể của tha nhân : có nghĩa khi tôi đối
diện với tha nhân, th́ tôi tôn trọng họ như bảo toàn chính thân thể
của ḿnh. Tôi không muốn ai làm cho tôi các đau khổ về thể lư cùng
tinh thần, th́ tại sao tôi lại muốn làm cho kẻ khác đau khổ về hai
điều này, khi tôi dùng hành vi bạo lực đối với họ?
Khi
bàn đến điều này, th́ chúng tôi muốn giới thiệu đến qúy vị giáo sư
và triết gia Hobbes, theo ông hiểu rơ sự thiết yếu (của bạo lực)
này, nhưng người ta có thể nói rằng : phải chăng Hobbes hiểu được sự
thiết yếu bạo lực này, tạo nên sự tự do ? Như trường hợp của Arafat
và người dân Palestine mà chúng tôi đă đề cập qua.
Dẫu
sao sự hiện thực của bạo lực dưới h́nh thức nào cũng là sự xấu, gây
bất an cho xă hội, và dễ gây nên nguy hiểm của sự vô luân, phi đạo
đức. Vả nữa, có nhiều nhà chính trị cùng tư tuởng gia chủ trương ư
tưởng hoá sự bạo lực (une idéalisation de la violence). Sự bạo lực,
theo họ nghĩ như một năng tính và có hiệu năng, chính như tư tưởng
của Georges Sorel qua tác phẩm : «Các Suy Tư Về Bạo Lực, Réflexions
Sur La Violence » của ông xuất bản vào năm 1906. Ông nghĩ rằng ông
hành động bạo lực trong tinh thần v́ tranh đấu cho giai cấp vô sản,
và các nghiệp đoàn công nhân hay nông dân. Theo ông cuộc tranh đấu
hoàn toàn giống như một cuộc vũ trang khi tranh các chức vụ công
quyền hoặc dân quyền vậy. Và cái tư tưởng độc đáo của ông mà chúng
tôi cảm thấy ở đây, là tất cả những ǵ khi xảy ra chiến tranh th́ tự
nó không sinh ra có hận thù cũng như không có tinh thần trả thù sau
cuộc chiến. Theo ông lúc chiến tranh người ta không nên giết các kẻ
chiến bại. Cũng thế người ta không nên cổ vơ cho tinh thần trả thù
khi cuộc chiến đă tàn, lúc mà các người lính đă hạ khí giới. Giờ này
những người này trở thành kẻ vô hại, lúc đó sức mạnh của họ sử dụng
lúc chiến tranh tự nhiên tiêu tán, và sau đó th́ họ trở nên bản tính
tự nhiên của ḿnh. Do thế chúng tôi nghĩ sau cuộc chiến, th́ con
người đừng tạo ra các vụ án, vụ xử án nhân danh này, nhân danh nọ
đối với các người chiến bại, v́ họ chỉ làm theo ḷng yêu nước của
minh, và lệnh trên ban ra. Điều chúng tôi nói đây, th́ phỉ quyền Hà
Nội đă bỏ tù, ngược đăi, hành hung và xử án tử hinh nhiều quân nhân
cán chính Miền Nam Việt Nam, và họ gán cho chúng ta nhiều thứ tội
danh họ dựng nên như « nợ máu với nhân dân cùng chống lại cách mạng
v.v. ». V́ đây không phải là việc làm công b́nh và chính đạo. Qủa
thực phỉ quyền Hà Nội đă dạy cho dân chúng ḷng thù hận cùng bắt họ
phải tiêu diệt các kẻ thù. Chúng tôi không biết làm thế nào để các
người dă tâm chủ trương hận thù, và hành động tàn bạo đối với anh em
cùng một dân tộc. một màu da hằng có đuợc lư tưởng của một sự công
b́nh, một hồn vị tha, nhân đạo hầu bước về tương lai xây dựng cho
một Việt Nam phú cường, dân chủ cùng tự do đích thực ?
Chúng
ta ai ai cũng cảm nghiệm với chính bản thân ḿnh, những hành vi bạo
hành bằng một chính sách hoàn toàn ngược đăi của Nhà Nước Hà Nội đối
với chúng ta cùng dân chúng Miền Nam ta.
Để
nói thêm các việc bạo lực, th́ qua lời tường thuật cùng suy tư của
Sorel đă làm nguồn cảm hứng cho Mussolini, dùng phuơng pháp bạo lực
để cuớp chánh quyền. Ngay cả cộng sản Việt đă dùng đến phuơng thế
bạo lực này để thủ tiêu bao nhà cách mạng Quốc Gia, và các lănh tụ
đảng phái quốc gia, hấu cuớp công kháng chiến cùng cướp chánh quyền
vào năm 1945… Theo họ cảm nghĩ, th́ các hành vi bạo lực như khủng
bố, tra tấn, đánh đập, ám sát, đặt bom, gài ḿn v.v. đuợc xem như
các cử chỉ « anh hùng hoặc người hùng ». Như vụ Nguyễn Văn Trỗi đặt
bom ở cầu công Lư xưa kia. Và những biến chuyển mới đây như vụ Giáo
Xứ Thái Hà, Ṭa Khâm Sứ Hà Nội, Giáo Xứ Tam Ṭa ở Quảng B́nh, Và
Loan Lư ở Thừa Thiên, Nhà Nước thổ phỉ Hà Nội đă hành sử bạo lực với
dân ḿnh như một lũ « du côn » chợ búa, đánh đập dă man và cướp của.
cướp đất trắng trợn giữa ban ngày ban mặt thiên hạ.
Chúng
tôi thấy một hinh thái khác mà chúng tôi bắt gặp trong tư tưởng của
người mát-xít (marxiste), thực là một sự nguy hiểm của bạo lực,
nhưng họ lại muốn làm cho có giá trị. Qủa vậy, theo tư tưởng của
người mát-xít đề ra, th́ họ sẽ thực hiện cho tương lai của con người
có được một xă hội cộng sản. Xă hội đó là một sự hiện hữu của con
người không có Nhà Nước và không có bạo lực. Theo chúng tôi rơ th́ ư
họ muốn « làm suy nhuợc Nhà Nước », và đây là ngôn ngữ của Marx,
nhưng chính Lénine đả dùng lại và thực nghiệm, nhung ông sử dụng
triệt để bạo lực để tiêu trừ Nhà Nước Nga Hoàng bằng một cuộc cách
mạng long trời lở đất vào năm 1917. Nhờ Marx ông đă khám phá ra được
phương tiện cụ thể này, để rồi ông hệ thống hóa thêm phần của ḿnh,
nhờ qua đó ông đă đạt được. Thế nhưng, chúng ta hiểu rằng đây là sự
trái ngược và mâu thuẫn của các người theo Marx. V́ như chúng ta mục
kích th́ hôm qua, ngày nay và ngày mai cho đến các xă hội cộng sản
hiện nay như Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Lào không có ǵ
hơn đối với họ là sự bạo lực và thống trị bằng sắt máu. Nhà Nước,
không ǵ hơn là cổ máy chém người, hay dụng cụ để thống trị, đàn áp
dân lành của một giai cấp này trên một giai cấp khác – có nghĩa của
một giai cấp đỏ (Đảng) cầm quyền thống trị sắt đá trên một gai cấp
khác : giai cấp đây là công nhân, nông dân, thợ thuyền, dân chúng
đói khổ, là h́nh ảnh của một « thảm trạng » bi thương, được xem như
một « định mệnh » đă được ghi ấn trong các chương đầu của Bản Tuyên
Ngôn Người Cộng Sản-Manifeste Commumiste, mà họ đă nạnh miệng tuyên
bố :« Lịch sử của tất cả các xă hội trong quá khứ là tranh đấu của
các giai cấp, l’histoire de toute société passée est l’histoire de
luttes de classes ». Để từ câu tuyên bố chất chứa đầy hận thù này mà
trải ḍng lịch sử dài suốt thế kỷ 20, những người cộng sản Liên Sô,
Trung Cộng, Đông Âu Cộng, Việt Cộng, Bắc Hàn, Cam Bốt, Lào, Cu Ba
v.v. đă diết cả trăm triệu sinh mạng người dân lành vô tội không gớm
tay.
C̣n
Lénine, chúng ta biết rằng các quan điểm về việc tranh đấu giai cấp,
th́ ông đă tạo cho mạnh thêm. Theo ông, th́ tất cả sự bạo lực có
tính cách toàn thể hơn ở Marx, v́ trong thế giới mà ông gặp gỡ, ông
thấy ở xă hội thời ấy vẫn c̣n nhiều bất công. Do vậy, ông đặt các
việc làm của chính ḿnh không ǵ hơn là các hành vi bạo lực - dưới
mắt Lénine chỉ có một phương tiện cách mạng trong bạo lực để đánh đổ
chánh quyền Nga Hoàng bằng bất cứ mọi giá. Ông nói chỉ có sử dụng
bạo lực mới chiến thắng. Sau khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ, th́ người
ta đă khám phá ra các lá thư, tài liệu mật về Lénine do Dimitri
Volkogonov thu tập và tung ra cho thế giới biết, sau khi ông đă khảo
cứu và t́m thấy nó trong các ngăn hồ sơ mật được lưu trữ trong các
văn khố, song thời này được khui ra. Nhờ sự khám phá này mà những
nguồn tài liệu mật được giữ kín mấy chục năm qua, nay th́ lộ ra ánh
sáng, người ta mới thấy các lời nói chứa đựng một tâm hồn độc ác,
thú tính cùng các ư định tàn bạo hơn loài cầm thú của Lénine. Các
lời đó như dùng « puissance-quyền lực hoặc pouvoir-quyền hành và
fusiller-xử bắn vv., nói lên và phản ảnh Lénine là con người tàn ác,
thích bạo lực diết người để thỏa măn thú tính của ḿnh.
Danh
từ « chế độ độc tài của người vô sản, la dictature du prolétariat »
là thừa kế của Marx, Lénine đă sử dụng nó trong giai đoạn của cuộc
cách mạng Nga, trong ư nghĩa căn gốc hơn cả mà ông đă đưa ra cho
giai cấp vô sản. Chính tư ngữ độc tài của người vô sản này, được sự
« mớm mồi » và khích động của Lénine, nên đă tạo ra sự bạo lực khủng
khiếp trong giai đoạn cách mạng Nga vào năm 1917. Để từ đó các vị
thừa kế ông như Stalin, đă dùng sự bạo lực khủng khiếp này mà xử
bắn, bỏ tù, khủng bố hảm hại hằng chục triệu người dân Nga.
Cũng
thế, sự bạo lực không thua kém chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa Quốc
Xă (National-Socialisme) của nhà độc tài Hitler. Chúng tôi thấy qua
tác phẩm « Mein Kamfs, Cuộc Chiến Đấu Của Tôi » của ông, th́ tác
phẩm này không thiếu sự qúa độ trong lịch sử tranh đấu của Hitler
bằng bạo lực. Khi nắm giữ được quyền hành và quyền lực trong tay
ḿnh, th́ ông đă tạo ra Đệ Nhị Thế Chiến. Hitler đă triệt để sử dụng
bạo lực một cách dă man đối với người Dân Đức chống lại ông, hay đối
với các quốc gia ông chiếm được, nhất là Hitler đă ra lệnh giết và
triệt tiêu tàn bạo hơn sáu triệu người Do Thái trong các ḷ hơi
ngạt.
Tiếp
đến, chúng tôi muốn đưa ra h́nh ảnh của Mussolini tại ṭa nhà Quốc
Hội Ư vào ngày 6 tháng 6 năm 1924. Lúc đó ông tuyên bố các lời
sau :«chúng ta có tại Nga những vị thầy đáng thán phục. Chúng ta chỉ
có cách là bắt chước các việc làm của họ đă làm tại Nga (…).Chúng ta
chớ hoàn toàn nhầm lẫn để chạy theo các kiểu mẫu của họ. Nếu chúng
ta thực thi các điều người Nga đó, th́ các anh là những người cộng
sản, tất ngay tự bây giờ sẽ làm những công việc khổ sai ở chốn này
(tại Ư)…Lúc ấy, các anh sẽ gống gánh các quả tạc đạn nặng nề trên
đôi vai ḿnh. Chúng ta thiếu sự can đảm, và chúng ta làm sao để
chứng minh được tư tưởng can đảm đó? ». Từ ư này, chúng ta không c̣n
nghi ngờ ǵ nữa, v́ các lời trích dẫn chính trị này được xem là một
nền tảng sinh động của sự bạo lực. Sự bạo lực này là điểm lưu ư cho
chúng ta, cho nhân loại bởi nó đă trải dài suốt thế kỷ XX vừa qua và
vẫn c̣n tiếp diễn ở thế kỷ XXI ở một vài nước lạc hậu, kém văn minh
và nhân bản làm người như Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam, Lào,
Miến Điện, Angola, Congo vv..
Giờ
đây, chúng tôi xin qúy vị được trở lại trường hợp chủ thuyết cộng
sản. Theo người cộng sản, th́ ngày mai sẽ khác tất cả : có nghĩa là
đổi hướng t́nh trạng của con người để đạt tới thân phận vô sản (le
prolétariat). V́ theo họ nhờ chủ thuyết cộng sản này sẽ dẫn đến một
sự hiện hữu dung ḥa đối với mọi người. Nhưng trong đời sống thực tế
th́ hoàn toàn trái ngược những điều họ nói và việc họ làm đối với
người dân, mà chúng ta là dân Việt và người Miền Nam là những nạn
nhân đă có thừa kinh nghiệm cụ thể với người cộng sản. Chúng tôi nhớ
lại câu nói bất hủ của ngạn ngữ Pháp : «Ne croyez pas ce qu’il dit,
mais voyez ce qu’il fait, Xin anh đùng nghe những ǵ nó nói, nhưng
anh hăy xem việc nó làm ». Sau này ông Thiệu có thể muợn từ ư câu
nói này, nên đă nói một câu để đời :« đừng nghe những ǵ cộng sản
nói, mà hăy thấy những việc cộng sản làm ». Qủa đúng thay và nghiệm
thay cho thân phận nguời Việt, cho dân tộc chúng ta.
Như
Marx nói :« chủ nghĩa cộng sản này thực là giải pháp tranh đấu giữa
con người và thiên nhiên, và giữa con người và con người » như là
« giữa sự tự do và sự thiết yếu, giữa cá thể và loại giống » (28).
Tuy thế, trong lịch sử Marx tŕnh bày cho người cộng sản hành động
này, th́ chúng tôi nhận thấy Marx, qủa ra không hiểu thực ǵ khác về
các việc tranh đấu, và để từ đó bạo lực của con người càng ngày càng
tăng trưởng cùng đè nặng trên thân phận con người, và sau cùng là đè
bẹp họ. Do thế, qua ư nghĩa cùng sự bạo lực xảy ra trong thế giới
chúng ta sống, để từ đó chúng ta có thể đặt câu hỏi sau: làm thế nào
để giúp con người tự chế được các bạo lực, làm sao để giúp họ vượt
qua được các bạo lực này ? Bởi ngày nay, người ta đă ư thức được các
tai hại của bạo lực này, khủng khiếp thay đă xảy ra trong ḷng các
chế độ cộng sản, quân phiệt. Hơn nữa, chính ngay người cộng sản khi
giác ngộ đă xem Marx và Lénine, là cha đẻ ra các tội ác tày trời
kinh địa này.
Trái
lại, có một con đường khác không cần đến bạo lực để tranh đấu mà
chúng tôi muốn giới thiệu : đó là lư thuyết khế ước hóa mà chúng tôi
có nói đến ở các chương trước. V́ nhờ các khế uớc hóa nói này, mà
người ta có thể kết hợp và ḥa giải trong đường lối ôn ḥa, chính là
nhờ vào một xă hội trọng nhân, hầu sống tốt đẹp hơn, không cần đến
các bạo lực như kiểu người cộng sản hô hào « đấu tranh » để « giải
phóng » giai cấp thợ thuyền và nông dân v.v.. Cũng thế, như chúng
tôi đă đưa ra lư thuyết của Locke hay của Rousseau, mấu chốt trong
vấn đề các lư thuyết này là tài sản chung. Cũng chính tài sản chung
này mà người cộng sản đă dùng bạo lực « đấu tranh », rồi cướp đoạt
bao nhiêu ruộng vườn, nhà cửa và tài sản của người dân lành.
Chung
chung th́ các lư thuyết nói này, họ đưa ra trước tiên một xă hội
chính trị và tài sản chung của nó - một tài sản chung, một mẫu ăn
chung thực dụng, không cần nói đến căn nguyên của chúng. Do đó,
chúng tôi nghĩ đến một xă hội chính trị như thế, đă có thể hiện hữu
trong thế giới chúng ta sống. Con người tiếp nhận kiểu thức đó, và
xem chúng là tài sản chung, như được cho chung. Các điều nói đây,
chúng ta thấy trong tất cả truyền thống của triết lư kinh viện Công
Giáo xa xưa cho đến các ngày tháng bây giờ, th́ người Công Giáo vẫn
giữ lại các kiểu tài sản chung này : như tài sản chung của giáo xứ,
của địa phận, của tu viện và của Giáo Hội v.v. Đi xa hơn, th́ tài
sản chung đó đưọc thực hiện cụ thể và hoàn hảo hơn cả : như ăn cùng
mâm, ngũ chung một mái nhà, làm việc chung cùng nhau, chia sẻ công
việc và gánh nặng cho nhau, không giữ tài sản riêng, mọi của cải làm
ra được đó là tài sản chung, và đây là cách sống của các cộng đoàn
tu hay các cộng đoàn công giáo của người Kitô hữu nguyên khởi (xin
xem Sách Công Vụ Các Tông Đồ, Chương 2, 44-46 ; hay xem Tu Luật Đức
Thầy hay Tu Luật Thánh Biển Đức sẽ rơ). Hoặc nữa, trong các tu viện
của các tu sĩ Phật Giáo, các vị cũng sống một kiểu thức như thế.
Chúng ta có thể nói đời sống của các vị đây là một sự tự nhiên, tự
nguyện cao độ, một cụ thể thực hiển nhiên, mà các vị đă sống trải
bao nhiêu thế hệ, cả hai ngàn năm nay rồi. Trong lúc đó th́ người
cộng sản đă thất bại ê chề với các chính sách hợp tác xă nông
nghiệp, ngư nghiệp, thương nghệp vv.! V́ họ đă sai lầm trong căn
nguyên và tư tưởng cùng hành động sai trái của ḿnh : như cướp tài
sản, cướp mồ hôi xương máu của người dân.Người cộng sản tưởng dùng
bạo lực một cách sắt máu cùng áp chế người dân th́ có thể thắng được
mọi sự, nhưng họ đă lầm. Bạo lực chỉ đem đến cho người dân ḷng uất
hận, và khi có cơ hội vùng dậy, th́ người dân sẽ đạp đổ tất cả để
đ̣i hỏi quyền lợi chính đáng cho đời sống của ḿnh. Bằng chứng là
Khối Liên Sô, Nga, Đông Âu, người dân ở các vùng này không c̣n sợ
bạo lực, không c̣n sợ xe tăng và súng đạn, đă vùng lên dành lại chủ
quyền của ḿnh. Nói như Quân Sư Tôn Tử :« dẫu thắng được trăm thành
mà không thắng được ḷng dân xem như là thất bại ».
Qủa
thực, trong đời sống chính trị nguời ta vẫn thường thấy xảy ra các
cuộc chiến tranh cục bộ, và chiến tranh đánh nhau với các quốc gia
khác (cũng có thể nói một danh từ khác là sự bạo lực tự nhiên của
các tự do). Tuy nhiên, chúng ta phải nhận ra rằng bạo lực xảy ra
không cách xa con người. Cũng có sự bạo lực xảy ra mà người ta không
ngờ trước, như cuộc nội chiến Tây Ban Nha trong thập niên 30 của thế
kỷ 20, cũng như chủ nghĩa Quốc Xă tàn bạo của Hitler đă làm tan nát
người dân Âu Châu và thế giới. Vả nữa, chúng ta cũng co thể thấy các
cuộc nổi dậy của quần chúng tạo nên sự « bạo lực tự nhiên hay tự
phát, la violence spontanée), để đánh đổ một chế độ độc tài hà khắc
nào đó, thường các cuộc nổi dậy này lưu lại trong kư ức con người
h́nh ảnh đẹp và hào hùng. Điền h́nh như cuộc cách mạng bộc phát của
người dân Pháp phá ngục Bastile vào năm 1789 làm thành cuộc cách
mạng thời danh của thế giới. Hoặc nữa cuộc nỗi dậy hào hùng của
người dân Ba Làng Thanh Hóa và Quỳnh Lưu Nghệ An. Hay nữa trong
những năm tháng qua của người dân làng Kim Nổ và Thọ Đà, rồi Thái
B́nh và Trà Cổ cùng Nguyệt Biều. Nhất là, những biến động trong năm
qua và những tháng vừa qua của Giáo Xứ Thái Hà Hà Nội, Tam Ṭa Vinh
và Loan Lư Thừa Thiên, người dân can cuờng đứng lên đ̣i hỏi công lư,
công b́nh và công đạo. Đẹp thay các giáo sĩ và giáo dân đă can đảm,
anh dũng, kiên cường phản kháng lại chủ trương cướp tài sản của dân
cùng dùng sức mạnh bạo lực hà hiếp dân của Đảng phỉ Hà Nội. Chúng
tôi nghĩ rằng đây là những nét đẹp của người dân Việt Nam.Những nét
đẹp hào hùng thay! Chớ ǵ những người viết sử Việt sau này, nên ghi
lại những mốc điểm lịch sử này cho con cháu biết tấm gương anh hùng,
can cường tranh đấu cho công b́nh, lẽ đạo lư và luân thường của cha
ông, chú bác, cô d́ của các cháu.
Chúng
tôi thiết nghĩ với chủ trương dùng bạo lực giữa người với người, dẫu
thế nào đi nữa th́ vẫn mang một ư nghĩa không đẹp, chẳng hạn như
cuộc nội chiến của người Mỹ (civil war), hay cuộc chiến dai dẳng của
Việt Nam và Đông Dương, thêm nữa cuộc cách mạng văn hóa 1965 tại
Trung Cộng, và cuộc cải cách ruộng đất của cộng sản Hà Nội v.v..
Trong các quốc gia nói này, chúng tôi nghĩ khi chính trị mà dùng bạo
lực, ắt không c̣n là chính trị nữa, mà chỉ có sự thù hận, nó lột
trần cảnh man rợ của thú tính con người đối xử tàn bạo, ghê rợn đối
với người đồng loại, với người cùng một màu da, sắc tộc. Để từ các
cảnh đó c̣n một danh từ khác nói đến là sự « bi thảm » không bao giờ
cách xa trong cách xử thế của chính trị. Bởi khi chính trị và quyền
hành, quyền lực rơi vào tay những kẻ gian hùng, xảo trá, lưu manh và
thất học, tất nhiên chỉ tạo nên ccá thảm họa và vô cùng bi thảm cho
con người như Trung Cộng dưới thời Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai … ;
Liên Sô dười thời Lénine và Stalin…; Việt Nam dưới thời Hồ Chí Minh,
Lê Duẫn và Phạm Văn Đồng cùng Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tân1
Dũng hiện nay, Kampuchea dưới thời Polpot..., Cu Ba dưới thời Fidel
Catro, Bắc Hàn dưới thời Kim Nhật Thành…; Irack dười thời Sadam
Husen v.v.. Thế đó sự bi thảm này vẫn c̣n xảy ra luôn trong các xă
hội thời đại nay. Nói đâu xa, ngay tại ḷng quê hương chúng ta, sự
bi thảm nghèo đói, cảnh bị mất nhà cửa ruộng vườn, cảnh tham nhũng
và đ̣i hối lộ, cảnh hà hiếp dân chúng của các ông cán bộ, đảng viên
cộng sản Việt, rồi cảnh vô luật pháp, sống luật rừng, tùy tiện vv..
C̣n Nhà Nước th́ bắt ép dân, họ thu trăm thứ thuế vô lư, mạnh xă, xă
ra luật thuế, mạnh huyện, huyện đ̣i thuế, đ̣i trà nước, đ̣i bồi
dưỡng v.v.. Thật là cảnh nghịch lư tréo cẳng ngổng, và đây là sự bi
thảm của Đất Nước chúng ta hiện tại. V́ do lớp người thiếu học,
thiếu hiểu biết chính trị, thiếu nhận thức về luật pháp, không ḷng
đạo đức và luân lư, cho nên mới ra cảnh nhiễu nhương nông nỗi trăm
mối đau thương như thế.
Do
đó, chúng tôi thiết tưởng để tránh các cảnh nhiễu nhương cùng các
thứ bạo lực rừng rú và dă man, đ̣i hỏi mọi người chúng ta phải
nghiêm chỉnh học hỏi chính trị và luật pháp, đ̣i hỏi cần đào sâu đạo
đức và luân lư. Nhất là các đấng lănh đạo các đảng phái, những người
cầm quyền lại càng cần học hỏi, nghiên cứu, tham khảo các sách vở,
các tấm gương trị quốc của cổ kim về chính trị cùng nghệ thuật điều
hành guồng máy chính trị và Nhà Nước. Uớc mong thay và ước mong thay
của chúng tôi, là cho Đất Nước mai hậu không c̣n tái diễn cảnh đau
thương bi thảm như thế này nữa.
V.
QUYỀN HÀNH
Sau khi chúng ta đă
cùng nhau khảo luận các chương trên để gợi ra các diễn tiến của đời
sống xă hội con người, được xem là các trạng huống, các phương diện,
các h́nh thái và các nền tảng của chính trị, hầu nhận ra « bộ mặt »
của chính trị. Để rồi từ đó con người hiểu được sự nhận ra này. Cũng
thế, từ bộ mặt của chính trị ấy chúng tôi muốn nói đến một ngôn từ
« quyền hành, pouvoir, power » hoặc nguời ta gọi là « quyền hành
chính trị, pouvoir politique, politcal power », mà biềt bao người
nói đến trong các tác phẩm, trong các văn kiện Hiến Pháp, Luật Pháp
v.v., và ngay cả trong đời sống thường nhật của chúng ta.
Do
đó, các câu hỏi về ư nghĩa của quyền hành được gợi ra, hầu t́m ra sự
thực thể của nó được xuất hiện một cách xác thực trong xă hội, sau
khi người ta đă « nắm bắt » những sự thực hành của chính trị, hoặc
là các sự việc liên quan đến chính trị. Hơn nữa, như chúng tôi đă
nói một chương dài về bạo lực, th́ chính quyền hành là một nhu cầu
phục vụ cho cộng đồng và tài sản cộng đồng dân chúng và quốc gia –
xác thực hơn là để ngăn cản bạo lực vẫn có thể xảy ra làm bất ổn đến
đời sống con người, th́ chính quyền hành được sinh ra từ trong ư
nghĩa này.
5.1. Sức
Mạnh Và Quyền Hành
Qủa
thực sức mạnh và bạo lực không thể giống nhau. V́ trong quyền hành,
th́ sức mạnh tiếp tục được thể hiện, nhưng sức mạnh đó đă được tiết
chế, điều gỉam, có thể nói là văn minh hóa hành động này, để chống
lại sức mạnh tàn bạo của bạo lực và các sự tự do thiếu ư thức của
các băng đảng mafia, trộm cắp, buôn bán thuốc phiện, các tổ chức
khủng bố hay loạn quân vv., thường hăm dọa đến đời sống an sinh của
người dân và xă hội. Do thế, sức mạnh trong quyền hành chỉ sử dụng
một cách có giới hạn, là nhân danh cộng đồng quốc gia và tài sản
chung của cộng đồng cùng sự sống của người dân trong cộng đống quốc
gia, để tái lập an ninh và ổn định sự sống cho người dân. Đó là cách
ngăn cản các hành vi ám muội phá hoại đến việc quyền hành thực thi
bổn phận và trách nhiệm của ḿnh. Cho dẫu một đôi khi việc thực thi
quyền hành có lúc sinh ra một hành động như bạo lực, ví dụ như phải
dẹp loạn quân, các băng đảng mafia, các tổ chức khủng bố… Tuy nhiên,
chúng ta hiểu các hành động bạo lực quyền hành này, là để tái lập an
ninh trật tự, hoặc là hoán cải người phá rối trị an, hầu phục vụ cho
hết thảy mọi người có được đời sống an lành.
Cũng
thế, quyền hành có một đặc tính luân lư và cộng đồng, có nghĩa quyền
hành được xem là dụng cụ của cộng đống và tài sản của họ, song quyền
hành luôn là sức mạnh đặc biệt để bảo vệ đời sống chung của người
dân trong xă hội. Do vậy mà đây cũng là lư do tiềm tàng của tranh
đấu, của sở hữu, của bạo lực biểu lộ bên trong xă hội. Sự tỏ lộ này
không chỉ xuất hiện ra bên ngoài xă hội, nhưng nó cũng là hành động
xuất hiện ra bên ngoài của con người, tức là sức mạnh con người –
như qua sự tương quan của các thành phần của xă hội chính trị tự tạo
nên như thế. Nói như giáo sư Georges Burdeau, một trong những tác
giả quan trọng của môn khoa học chính trị bằng tiếng Pháp của thế kỷ
XX, theo ông nghĩ th́ « quyền hành là một sức mạnh phụng sự một lư
thuyết, le pouvoir est une force au service d’une idée ». Đây chính
là sức mạnh được sinh ra của ư muốn xă hội, định hướng và hướng dẫn
cộng đồng trong sự t́m kiếm tài sản chung, và có đủ khả năng để trao
đổi trong mọi trường hợp, cũng như sức mạnh có trạng thái bảo đảm
cho đời sống của cộng đồng » (29). Chúng tôi nghĩ sức mạnh như thế,
th́ trước hết phải nhấn mạnh trên phương diện của quyền hành này.
C̣n
theo giáo sư Hobbes, th́ chính ông đưa ra ư nghĩ rơ ràng hơn về
quyền hành, cũng như ông khuyến khích và ủng hộ sự cần thiết của sức
mạnh quyền hành. Chúng tôi thấy Hobbes là người nói một cách chính
xác sự thực dụng của quyền hành. Ông chứng minh quyền hành là bởi
ích lợi của người dân, là do nhu cầu của họ và để bảo vệ sự ổn định
và b́nh an. Ở ông chúng tôi thấy luật tự nhiên thật rơ ràng như một
bản năng phải được bảo giữ. Các nhu cầu bảo giữ này và sự b́nh an
dẫn đến giao ước và khế ước. Nhưng căn gốc của khế ước này là khế
ước chuyển giao cho Nhà Nước bằng các luật lệ và quyền lợi chung.
Các quyền lợi và luật lệ chung này phải được bảo pḥng, hầu có đuợc
sự ḥa b́nh cho mọi người. Như thế theo giáo sư Hobbes, th́ phải có
một sức mạnh là Nhà Nước (L’Etat). Nhà Nước ở đây đặc biệt là một
dụng cụ phục vụ hữu ích cho dân chúng, chớ không phải là một guống
máy trấn áp người dân như kiểu Nhà Nước phỉ quyến Hà Nội đă dùng
công an thành một cái máy chém cổ dân hơn là lo cho dân. Nhà Nước
có tính cách dân sự, chớ không là Đảng trị, như công sản Việt là
Đảng cai trị và lănh đạo tất cả : Đảng là Nhà Nước, Đảng là quân
đội, Đảng là công an và cảnh sát, Đảng là cơ quan công quyền, chỗ
nào cũng có bàn tay « bạch tuột » của Đảng tḥ tay vào cuốn xiết hết
mọi người dân.
Theo
luật tự nhiên, th́ mọi người đều b́nh đẳng với nhau, b́nh đẳng theo
quan niệm làm người mà Tạo Hóa đă dựng nên con người đều binh đẳng
truớc tôn nhan Ngài. Nhờ điểm b́nh đẳng này, và qua quan điểm đó, mà
con người có các tương thuộc liên hệ của các khả năng, cùng nhau về
thể lư cũng như các khả năng của tâm linh, đuợc xem một bẩm sinh để
cậy dựa nhau mà sống. Tuy nhiên, nói vậy mà không được vậy, v́ chúng
ta thấy ở trong xă hội không đơn giản như quan niệm này. Bởi trong
xă hội có người này bộc lộ tài năng hơn nguời, có người kia thông
minh đa tài hơn người nọ, có chị này làm chơi mà tiền vô như nước,
có anh kia làm lụng tối mắt mà khổ vẫn rơ khổ. Anh đó giàu có, sao
chú kia nghèo rớt mồng tơi, chú kia đẻ ra đă làm vua, làm quan, c̣n
nhà bác kia sinh ra bao kiếp cũng là dân đen làm thuê, làm mướn
v.v., điền h́nh như các đẳng cấp trong nển văn hóa Ấn Độ. Qua các
điều này, th́ chúng ta thấy các sự việc nói này đă có sự khác biệt
giữa người này với người khác. Để rồi từ sự thực tế đó, chúng ta
nghĩ người này có quyền đ̣i hỏi cho ḿnh các nhu cầu bằng hay hơn
người khác, và xem người khác thua ḿnh v́ kém tài năng, bằng cấp,
tŕnh độ học vấn v.v..
Do
thế, theo giáo sư Hobbes nghĩ, th́ sự b́nh đẳng nói này bắt đầu có
sự ngờ vực… Từ sự ngờ vực này bắt đầu có sự xung đột, rối nảy sinh
ra tranh dành và tranh đầu, đôi khi tạo ra cuộc chiến : thực thế các
quốc gia thường có sự xung đột, hạ bệ nhau của người này chống lại
người kia. Trong một quốc gia mà xảy ra những chuyện như thế, sẽ
không có một vị thế cho nền kinh tế và kỹ nghệ phát triển mạnh. Do
vậy mà sự gặt hái không có kết quả, hậu qủa chỉ nhờ vào các canh tác
nhỏ của nông nghiệp. Quốc gia th́ không có các hải cảng tốt để giao
thưong cùng chuyên chở hàng hoá trao đổi, c̣n người dân th́ không có
đủ các tiện nghi cần thiết, không có máy móc hóa làm giúp các công
việc nặng nhọc quá sức người, không có sự học hỏi, khảo cứu đất đai,
không có tính toán thời gian, không có nghệ thuật văn chương (trăm
hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng), không có xă hội sinh động. Nói tóm
lại, tất cả các điều nói này là sự tồi tệ, đó chính là cái sơ sài
kéo dài, và là sự nguy hiểm kéo dài các tàn bạo của sự chết. Đời
sống như thế làm đần độn con người, làm đời sống người dân nghèo khỗ
triền miên, làm cho cuộc sống ngắn ngủi và hóa ra u mê (30). Chúng
tôi xin cám ơn giáo sư Hobbes đă nói rất đúng các điều kể trên, được
xem là cụ thể và hiện thực cảnh thực trạng của Đất Nước Việt Nam
chúng tôi dưói chế độ phỉ quyền Hà Nội! Chúng tôi xin phép đọc giả
cho phép chúng tôi được phân tích sự thể Đất Nước chúng ta, với một
chính sách « ngu dân » làm ngu dân hóa của Đảng cộng sản Việt, áp
đặt trên miền Bắc hơn năm chục năm qua, và trong miền Nam hơn ba
chục năm nay : Việt cộng đă áp đặt nào là cải cách ruộng đất, diệt
trừ tư sản mại bản, cải tạo nông thương nghiệp, bắt dân vào các hợp
tác xă thương nghiệp, nông nghiệp, đày dân đi kinh tế mới, bao lần
đổi tiền, rồi các chương tŕnh thủy lợi vv., « đề tiến nhanh tiến
mạnh lên xă hội chủ nghĩa ». Ôi bi đát và năo nùng thay! Tiến lên
đâu chẳng thấy mà quốc gia tụt hậu, thụt lùi xuống hàng một trong
những quốc gia nghèo đói nhất thế giới. Chúng tôi biết rơ có những
người nông dân miền Bắc ước mơ từ đời ông đến đời cha, nay đến đời
cháu để mua một con trâu cày bừa mà họ cũng không thể thực hiện nỗi
ước mơ đó! Những quốc gia như Việt Nam ta, Bắc Hàn, Trung Cộng, Lào,
Cu Ba v.v., đau ḷng thay dân chúng vẫn c̣n nghèo khổ. Nhất là Bắc
Hàn, dân đói qúa đến nỗi gặm cả cỏ mà ăn hầu sinh tồn. Ôi cái thiên
đàng cộng sản, cái b́nh đẳng của mọi giai cấp như các cấp lănh đạo
cộng sản họ thường khoát lát, rêu rao, mà người dân vẫn c̣n làm thân
trâu ngựa kéo cày, đạp xe xích lô, xe ba gát kiếm từng chén cơm,
manh áo độ thân.
Làm
người, th́ con người cũng có một khả thể vượt ra khỏi cái tŕnh
trạng đen tối nói trên do ư muốn được sống b́nh an. Họ sợ hăi cái
chết, và có ư muốn thật tâm đuợc sống đời an lành. Hơn nữa con người
ước mong thay vào đời sống làm việc cực nhọc của ḿnh bằng các máy
móc, hoặc là cơ khí hóa hay kỹ nghệ hóa cho đời sống của họ đỡ cơ
cực hơn. Do thế mà các xă hội Tây phương đă đi tiên phong, họ đă làm
các cuộc cách mạng kỹ nghệ , đẩy mạnh việc cơ khí hóa tân kỳ, để
thay thế sức lao động cho thợ thuyền và con người. Nhờ từ đó dẫn đến
các lư do đưa ra các điều khoản của ḥa b́nh, hầu con người thỏa
thuận sống b́nh an mà không cần đến các cuộc tranh đấu bằng bạo lực
như người cộng sản. Ḥa B́nh và Khế Uớc, mỗi cái đều mang một ư
nghĩa quyền lợi chung của nhau (của anh, của tôi) – Chúng tạo cho
chúng ta một sức mạnh đấy đủ và hiệu lực, có đủ năng lực để nâng đỡ
cho mỗi bên sự tôn trọng trong ranh giới của một sự tự do giới hạn
của ḿnh, hầu tránh đụng chạm đến các sự tự do của người khác.
Bởi
thế, chúng tôi nghĩ sức mạnh nói đây được xem là sự tự nguyện tôn
trọng nhau của hai bên để giữ cho bản khế ước có hiệu nghiệm, và ḥa
b́nh thực được văn hồi. Qủa chúng tôi thấy giáo sư Hobbes trong
những nhận định của ông đưa ra đây, th́ thật giáo sư là nhà tư tưởng
lớn của chính trị. Có nghĩa giáo sư đă xác định vị trí của sức mạnh
được thiết dụng giữa ḷng chính trị ; và chính ông nhắc nhở chúng ta
rằng đứng bao giờ mất đi cái nh́n thiết yếu này cho xă hội chúng ta
sống.
5.2.
Quyền Hành Của Công Việc Và Quyền Hành Của Luật Lệ
Giờ
đây, chúng tôi muốn qúy vị có được cái nh́n phân biệt rơ ràng về
quyền hành của công việc, là việc chung và ích lợi chung, và quyền
hành của luật lệ. Qủa thực trong quyền hành th́ luôn có một yều tố
công việc, luôn có sự thiết thực của sức mạnh. Do từ ư đó mà khởi
đầu của chương quyền hành này chúng tôi đă gợi ra ư của quyền hành ;
qủa quyền hành thường là sức mạnh được biểu lộ do một cá nhân đặc
biệt được xem là người lănh đạo, lănh tụ, được mọi người biết đến và
thừa nhận họ là người phục vụ cộng đồng, phục vụ quốc gia dân tộc,
và họ chính là « người đại diện » cho quyền hành. Tuy nhiên, quyền
lực thô bạo của các tay bạo chúa độc tài như Lénine, Stalin, Hitler,
Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu B́nh và Hố Cẩm Đào ; Hồ Chí
Minh, Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Trường Chinh đến
Nguyễn Minh Triết, Nông Đúc Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng ; Fidel Castro;
Polpot ; cha con Kim Nhật Thành v.v.. và các nhà cầm quyền cộng sản
trước cũng như nay, th́ họ luôn lẫn lộn để đồng hóa quyền hành cùng
quyền lực chính trị là ta (bản thân họ). V́ không hiểu rơ ư nghĩa
của quyền hành và chính trị, thế nên các bạo chúa này đă tạo nên các
tội ác tầy trời của ḿnh, là một bằng chứng hiển nhiên thiên hạ ai
cũng biết. Bởi hiểu rơ được quyền hành dễ trở nên quyền lực tàn bạo
gây thảm họa cho con người này, nên bên cạnh đó chúng tôi muốn đưa
ra sự quyền hành của luật pháp : có nghĩa tôn trọng nhân quyền và
luật tự nhiên, để giảm bớt hoặc có thể gọi là ngăn cản các cuồng
vọng độc ác của các tay bạo chúa.
Qủa
là tiến bộ thay của thời đại này! Khi chúng tôi muốn nói đến việc
người ta càng ngày càng đưa ra các điều luật của sức mạnh quyền
hành, để cho các nhà cầm quyền xem đó mà đối chiếu các việc làm của
ḿnh, hầu sử dụng quyền hành trong các công việc chung của chính trị
và quốc gia. Vi thế, ở đoạn này chúng tôi muốn lấy lại tư tưởng của
Hegel khi ông nói đến quyền hành giữa chủ và tớ, hầu đảo ngược quyền
hành của chủ và làm hữu ích cho các người làm công :« người chủ có ư
thức (lương tâm) cho ḿnh (…) nhưng ư thức cho ḿnh gián tiếp bởi
một người khác » (31). Đây được xem là sự trật tự của cái có độc
lập, để từ đó mà lănh vực của công việc cùng người làm công và ông
chủ thể hiện sự thương nhượng và tôn trọng (32). Chúng tôi thấy ở
đây có một sự hiểu biết của chú bởi một sự ư thức về người khác. Do
vậy, chúng tôi nghĩ rằng tư tưởng của Hegel nói đến quyền hành của
chủ như là ư nghĩa của sức mạnh, để cho ta đối chiếu sự việc khi
hành động chăng?
Thường các dạng thái của lạm dụng quyền hành, và sự kiện thực của nó
hay lộ ra bên ngoài, là khi ta có quyền hành và quyền lực trong tay
ḿnh, th́ sự thường ta dễ sinh ra sự độc tài cùng độc đoán lúc hành
động. Vấn nạn này chúng ta thấy thường xảy ra trong các xă hội chính
trị xưa cũng như nay, đôi khi thật khó hoàn toàn làm tiêu tán nó đi.
Nhưng không v́ thế, chúng ta lại mất đi niềm hy vọng làm tiêu tán đi
các quyền lực của bạo lực quyền hành này chăng. Bởi như chúng ta đă
chứng nghiệm, th́ quyền hành dựa trên bạo lực này đă bị loại bỏ do
bởi sự ư thức chứa đựng các luân lư cùng đạo đức của con người, cũng
như sự khao khát tự do an b́nh và luật pháp vv., mà người dân đă
đánh ngă các sức mạnh quyền lực và bạo lực vô luân này – Như chúng
ta đă mục kích và thấy tường tận tại khối Liên Sô, tại Nga và các
nuớc Đông Âu cựu cộng sản trong những năm 1989-1991. Đây là điển
h́nh và bằng chứng hùng hồn nhất, là khi nhà cầm quyền độc tài dùng
quyền hành dựa trên sức mạnh bạo lực, để áp chế dân và bỏ tù hay sát
hại các tiềng nói xây dựng của người đối lập, th́ nhà cầm quyền ấy
sẽ không được tồn tại măi lâu, có một ngày họ sẽ bị nhận ch́m cùng
chôn vùi bởi sự quật khởi tự nhiên của người dân vùng dậy lật nhào
họ. Nhà cầm quyền Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Miến Điện,
Lào vv. ngày đó sẻ đến với họ không xa đâu : « tức nước vỡ bờ, dồn
chó đến chân tường, cho xé quay đầu lại cắn xé » là lư lẽ tất nhiên
của quy luật sinh tồn của con người hầu tồn tại.
5.3.
Quyền Lực Và Quyền Hành Hay Thẩm Quyền
Chúng
tôi nghĩ rằng để phân biệt phương diện luân lư-xă hội, th́ quyền
hành dùng sức mạnh của ḿnh bảo vệ dân chúng, làm ổn định chính trị
cùng sự an thái của người dân. Tuy nhiên v́ có tính cách đặc biệt
của sự việc, thế nên người ta nghĩ đến cặp đôi nay, là quyền lực
(nhà chức trách, Nhà Nước) và quyền hành thừa tác công vụ. V́ vậy mà
chúng tôi xin giới thiệu với qúy vị triết gia Gaston Fessard, người
theo trường phái Hegel, ông có đủ khả năng và tài t́nh để nói đến
cặp đôi đối nhau này là chánh quyền và quyền hành. Chúng tôi thấy
ông thật khéo léo dùng biện chứng pháp của người giới thiệu, để giới
thiệu cuốn sách :« Autorité Et Bien Commun, Chánh Quyền Và Tài Sản
Chung » của ḿnh.
Theo
triết gia Fessard giải thích, th́ không có nhà chức trách nào mà
không có sức mạnh, do đó chúng tôi xin trích ra đây đoạn văn của ông
chứng minh về chuyện này, là « chắc chắn sự khác biệt về quyền hành
này là các tên đạo tặc (quân cướp), do sức mạnh đặc biệt của nó, do
hành vi tàn bạo của nó, sự quỷ quyệt không biết hổ ngươi của tên
cướp, để nó trở nên chúa trùm băng đảng. Cũng thế, khi là vị thánh,
th́ bởi các hương thơm nhân đức của ngài và bởi sự tỏa sáng ḷng
nhân từ, bác ái của thánh nhân, ngài thu hút cùng lôi kéo được đám
đông quần chúng, rồi có thể tạo nên một tôn giáo… » Tuy nhiên, ông
nghĩ có cái ǵ trong h́nh thái của quyền hành hiện thực này, là nội
dung qua các yếu tố thể lư, tâm lư, yếu tố thông minh và luân lư của
nó, rồi qua các phẩm hạnh đa dạng và phức tạp của nó. Để từ đó, đôi
khi chúng ta thấy có sự đối nhau, nhưng qua sự đối nhau này, th́ ta
thấy có cái nh́n của các quy luật chung. Các quy luật chung đó luôn
có một sức mạnh được thể hiện bằng các nguyên tắc, hầu tạo ảnh hưởng
để hành xử, và bởi đó người ta gọi là thẩm quyền hay quyền lực (33).
Ở đây ông đưa ra cho chúng ta một sự so sánh và chứng minh một cách
cụ thể giữa hai quyền lực khác nhau. Vị thánh tạo uy tín cá nhân
bằng các nhân đức của ḿnh để có quyền lực, khi ngài nói th́ mọi
người nghe trong yêu mến, kính phục. Trái lại, tên tướng cướp, tạo
quyền lực cho ḿnh bằng các hành động dă man, qủy quyệt, làm người
ta sợ, chớ không ai ngưỡng phục nó. Cũng qua đọan văn này triết gia
Fesard đưa dẫn chúng ta vào cái nh́n thực tế hơn, chính là đời sống
chính trị. Như phỉ quyền Hà Nội dùng quyền hành và sử dụng bạo lực
để cai trị dân hay đàn áp dân, th́ người dân sợ, chớ không « tâm
phục, khẩu phục » hoặc cảm mến kính trọng.
Do từ
cái nh́n này, chúng tôi cảm nghĩ qủa Triết gia Fessard đă bộc lộ sự
rơ ràng trong hai câu chuyện nêu ra trong lănh vực đời sống xă hội,
mà ở đó người ta có thể nói đến quyền lực và quyền hành, th́ hiển
nhiên trong lănh vực chính trị, lẽ tất nhiên có sức mạnh, đó là sự
hiện thực của quyền hành hay gọi là thẩm quyền. Cũng thế, sự đặc thù
của sức mạnh quyền hành được sử dụng trong lănh vực chính trị, th́
chúng ta rơ đó là một thẩm quyền. Trái lại, trong lănh vực tôn giáo
như vị thánh nói trên, có tính cách tâm lư và thể lư, th́ nhờ ư chí
và sức mạnh thánh thiện của ngài nên ngài đă lôi cuốn được mọi người
tin và nghe lời ngài nói. Do thế, quyền lực là rơ ràng của phía bên
kia của sự hiện thực sức mạnh. Và chúng tôi thấy theo như ư của
Gaston Fessard, th́ với ông tài sản chung, đây chính là quyền lực tự
bản chất sâu thẳm của nó. Tự gốc của quyền lực đă có sức mạnh, và
mục tiêu quyền lực là trên tha nhân, chính bản chất tác động này
trên tha nhân làm con người tuân phục hoặc chống lại nó.
Cũng
Gaston Fessard đưa ra h́nh ảnh quyền hành của chủ nhân và người làm
công, th́ quyền hành sẽ được khai triển, sẽ được bắt đầu trở nên
quyền lực thực sự. Do thế, để giải phóng thân phận tôi đ̣i, th́
người làm công phải nhận ra sự tối thiểu của quy tắc, cùng hiểu được
sự b́nh đẳng quyền lợi với chủ nhân, hiểu rơ luật tự nhiên, nhân
quyền và các quyền lợi ḿnh được hưởng v.v., hầu tránh đấu cho quyền
lợi và lẻ phải của ḿnh. Cũng từ ư này ông giải thích thêm làm thế
nào để tài sản chung có thể sinh ra sự dung ḥa qưyền lực giữa chủ
và tớ. V́ ông nghĩ cộng đồng là do nhiều người kết tụ lại. Nếu chủ
nhân vi sự ích kỷ hay ư muốn quyền hành mà ông ta từ chối sự dung
ḥa này : ông ta chỉ nghĩ đến quyền lợi của ḿnh, cho sức mạnh và
giai cấp của ông, hoặc nữa cho việc cai trị của ông ta, th́ sớm hay
muộn ǵ cũng có sự phản kháng tranh đấu chống lại các bất công trong
xă hội.
V́
vậy, chúng tôi nghĩ quyền lực, là phải phân biệt với quyền hành cũng
như quyền lợi, và giữa quyền hành hay quyền lực phải có luật lệ,
cũng như quyền lợi giữa chủ và tớ phải phân minh rơ ràng. Để nhờ đó
họ có thể bắt đầu hiểu được ư nghĩa tài sản chung, không đặc quyền
cho một giai cấp hay một quyền hành nào vượt qúa sức tưởng tượng của
chung ta. Ông làm lớn, bà giàu có, th́ con chó, con mèo nhà ông bà
cũng được ăn uống sữa thịt phủ phê, c̣n tôi thân phận tôi đ̣i, bát
cơm cũng không có mà ăn. Sự bất công nằm ở đây, sự vô nhân đạo cũng
từ ư nghĩa này. Nói đâu xa, chỉ nghĩ dến mấy ông Trùm Đỏ Việt gian
cộng sản và Bộ Tà Trị cùng Trung Ương Đảng Phỉ của chúng, th́ gia
tài của các ông ăn cướp tài săn của dân Việt ta, có ông lên đến hằng
tỷ Mỹ Kim, c̣n không cũng hằng trăm triệu và hằng chục triệu Mỹ Kim.
Khi con người đă hiểu được ư thâm sâu của tài sản chung, th́ lúc đó
chúng tôi nghĩ sẽ có một chiều kích tâm linh cao độ, dẫu là nhà lănh
đạo, nhà cầm quyền quốc gia, các ông có quyền hành và quyền lực dân
ban cho, th́ ông cũng mặc chiếc áo như tôi, cũng ăn uống b́nh thường
như tôi, không có mọi đặc quyền, đặc lợi thái qúa như trong chế độ
cộng sản, hay như một vài chế độ độc tài khác.
Giờ
đây chúng tôi xin trở lại nhà xă hội học Max Werber với những tư
tưởng của ông khi nghĩ về quyền lực. Điểm đáng cho chúng tôi lưu ư
các sự phân tích của ông khi nói đến quỳền lực, th́ quyền lực có
tính cách thuộc về xă hội hơn là các điều nói của Fessard, là có
tính cách con người. Các luận cứ của Weber được xây dựng trên sự uy
tín của cá nhân, hay là truyền thống có tính cách chính đáng, hay
nữa ông dựa vào sự thẩm quyền. Theo Weber nghĩ chính sự thẩm quyền
là của hai cái có thể sau : thứ nhất là phẩm hạnh do bản thân, thứ
hai là vai tṛ được xă hội chỉ định, qua đó th́ quyền hành hay quyền
lực được xă hội ban cho, như hội đoàn, đảng phái, các cơ quan công
quyền v.v., được chỉ định để thực thi công việc. Do vậy, để hiểu
quyền lực được xuất phát từ vài nguồn gốc nói này, chỉ trở thành
quyền hành để hợp thức hóa cái khả năng hiệu lực mà sinh động các
công việc chung, từ việc làm này đến việc làm khác. Hơn nữa, trong
các công việc đó, họ phải cần đến sức mạnh như một sự « cưỡng hành »
hầu công việc được trôi chảy. Cưỡng hành đây có nghĩa là nếu anh
không làm công việc của trách vụ anh đây, th́ sẽ có biện pháp chế
tài kỷ luật anh v́ ích lợi chung của cộng đồng, của mọi người. V́
thề, quyền hành luôn mang một chiều kích sau cùng này. Do đó khi sử
dụng đến sự cưỡng chế th́ được chấp nhận như sau : có nghĩa bản chất
của sự cưỡng hành là sức mạnh nối kết giữa sự bất công và sự trừng
phạt. Như thế, giúp cho quyền hành có thể truyền lệnh với lời nói
hàm ẩn, được hiểu ngầm như một sự cưỡng chế công việc chung, hầu cac
công việc được chạy đều trong các guồng máy công quyền hay tư quyền.
Do từ
ư nghĩa này chúng ta hiểu cùng một thời gian, th́ quyền hành ban cho
đó là chính trị thật, và quyền hành đó không phải là sức mạnh cưỡng
chế khi mà sức mạnh ấy đuợc chính trị hành sự cho việc hữu ích chung
của người dân. Có nghĩa sử dụng sức mạnh đây đă được phép hoặc có
thẩm quyền, hoặc được xây dựng trên quyền lực của Nhà cầm quyền, Nhà
chức trách. Chính lư do này mà sức mạnh được thừa nhận ở cái hữu
quyền ấy. Để kết luận, th́ chính tài sản chung của cộng đồng, nó
thuộc về quốc gia. Đây cũng là cái gốc của quyền hành đă được ban
phép cho Nhà Nước và các người chức trách cầm quyền được sử dụng
trong các công việc chung hữu ích cho quốc gia, cho người dân : như
xây xa lộ, bệnh viện, trường học, phi trường, hải cảng, xây cầu
cống, xây các công sở của chánh quyền, xây cất các hảng xưỏng kỷ
nghệ để sản xưất các đồ dùng cho dân chúng, trả lương cho quân đội
và các công nhân viên Nhà Nước v.v..
5.4.
Hướng Về Luật Và Quyền Lợi
Như
chúng tôi kết luận ở các gịng trên đây, chúng ta biết quyền hành
chính trị được sinh ra từ sự chấp nhận của người dân, được bảo đảm
bằng một Hiến Pháp của các cộng đồng chính trị. Có nghĩa quyền hành
ở bên cạnh các luật lệ và quyền lợi của ngựi dân rồi. Do đó, trong
ư nghĩa nói này th́ quyền hành chính ở bên cạnh của cộng đồng và bên
cạnh tài sản chung.
Như
thế, có một số chính trị gia muốn nói rằng quyền hành chính trị phải
luôn tôn trọng và tuân phục luật cũng như tôn trọng hiến pháp, mà
chính họ đă thừa nhận. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ sự thừa nhận này có
tính cách quy phục, nhưng chưa hẳn đă tuân phục. V́ đó, thánh
Augustin đă ghi lại những gịng sau « Thượng Đế đă không muốn con
người sai khiến con người, song con người có thể chỉ huy sai khiến
con vật » (34). Chúng tôi xin trích tiếp ra đây câu nói thời danh
cùng ư nghĩa sâu sắc của triết gia Proudhon « le gouvernement de
l’homme par l’homme, c’est la servitude, chánh quyền của dân do dân,
đó chính là phục vụ » (35). Đẹp thay ư nghĩa thâm trầm của các câu
nói này.
Từ đó
chúng tôi nghĩ qua câu nói trên giúp chúng ta nhận định rằng chỉ có
lư do này mới giúp con người sống an vui, có nghĩa tất nhiên không
có một người đặc biệt có thể sai khiến được người khác ngoài lư do
nói này. Xin chúng ta hiểu rằng, là có một nguyên tắc chung, hoặc
nói cách khác là họ hành động, truyền lệnh nhân danh nguyên tắc
này : chính là luật lệ, nội quy, hiến pháp v.v., để trở nên h́nh
thái chung, hay có thể noí khác là quyền hành của xă hội được công
minh.
5.6. Đối
Diện Với Cái Nh́n Hiện Thực
Qủa
những điều nói đây chính là sự quan hệ bên trong của quyền hành, để
thừa nhận cộng đồng, thừa nhận tài sản chung cùng quyền lợi của mọi
người dân, cũng như thừa nhận luật lệ chung cho tất cả con người.
Mặc dầu sức mạnh là sự đặc thù của quyền hành, và chính sức mạnh đó
thành sự hiện thực hiện có trong xă hội loài người. Để rồi do từ đó
mà có những đề nghị, những tư tưởng của triết học nghị luận và bàn
đến quyền hành. Thực qua tác phẩm nổi tiếng của triết gia Julien
Freund là « Le Nouvel Âge » viết ra, chúng tôi xin tóm lược và trích
ra đây đôi lời ư tưởng của ông :« tôi lắng nghe cái quyết định sai
khiến (truyền lệnh) tùy thích của một người. Chúng ta rơ qua quyền
hành th́ sự sai khiến được xă hội cấu tạo; c̣n qua quyền lực, th́
năng lực của quyền hành được tuân phục » (36). Chúng tôi cảm nhận
những ǵ Freund đưa ra th́ có thể tóm lại trong câu nói trên. Hoặc
chúng ta có thể nhận thấy tất cà sự xác định rơ ràng đáng cho chúng
ta lưu tâm đến ư nghĩa của sự lạm dụng quyền hành và quyền lực. Cũng
qua ư nghĩa này th́ chúng ta hiểu từ « xă hội » chỉ tŕnh bày trong
ư nghĩa là sự truyền lệnh, sự truyền lệnh đó được tổ chức hóa có
tính cách xă hội. Do thế chúng ta hiểu rằng đây là dấu chỉ của một
xă hôi được thừa nhận và có sự tương hổ, tương đồng.
Cũng
thế, theo Freund nghĩ, tất cả mọi quyền hành làm sao có được sự tự
nhiên của nó (37). V́ đó chúng tôi thiết tưởng để có sự tự nhiên
này, ắt làm sao cho quyền hành có uy tín hơn, quyền lực có được hấp
lực hơn, được tăng trưởng sự mở rộng của quyền lực hơn, hầu quyền
lực có thẩm quyền, cũng như tất cả các việc làm của chính trị đều
quy hướng về các việc khả thể này. Hơn nữa, chúng tôi nghĩ rằng, là
giữa ḷng một cộng đồng chính trị, th́ tự nhiên được cấu thành quyền
hành, cho dẫu chúng ta biết quyền hành đó là sức mạnh, thí quyền hàn
luôn là sức mạnh được chứa đựng trong công việc ích lợi cho quần
chúng và quốc gia. Có nghĩa quyền hành là một khí cụ tốt cho xă hội,
đó là bênh vực cho quyền lợi, quyền luật của người dân sống trong xă
hội đó. Để từ ư đó, chúng ta suy thêm điều nói này gần với sự thực
hơn về việc quan tâm đến các lệnh truyền, các công vụ, sự chỉ huy,
sự sai khiến, sự quyết định. Cũng như chúng ta lưu ư đến khả năng
hiệu nghiệm của việc tuân phục lệnh truyền của cấp trên, để hoàn
thành các công việc chung hữu ích cho mọi người và quốc gia, dân
tộc.
5.7. Sự
Tiến Bộ Và Thấu Triệt Quyền Hành Bởi Luật Pháp
Qủa
chúng tôi đă tŕnh bày vấn đề quyền hành như đă nói ở phần trên, th́
quyền hành ấy đă đạt đến mức độ gần với luật pháp hơn. Thực ra trong
lịch sử tiến bộ của con người về việc tạo ra luật pháp và hiến pháp,
để quy định các khoản luật dành riêng cho người nắm quyền hành thấu
triệt, đối chiếu ở đó, hầu sử dụng quyền hành của ḿnh cho đúng
luật, đúng phép, hay nguời ta gọi là sự thẩm quyền được ban cho họ.
Để rồi nhờ đó như một kinh nghiệm mà hành sử quyền hành cho ḷng dân
mến phục.
Chúng
tôi nhận thấy vào thời này, nhất là ở các Nước Âu Mỹ : Mỹ Pháp, Đức,
Gia Nă Đại, Anh, Ư, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Sĩ, Ḥa Lan,
Bỉ, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển vv, th́ quyền hành đă dần dần vuợt
qua được con người cá nhân đă nhân cách hóa ḿnh, hầu chính xác hơn
vào việc sử dụng quyền hành trong tinh thần thượng tôn luật pháp. Có
người lại hỏi chúng tôi lấy đâu để làm chuẩn ? Chúng tôi xin trả lời
nhờ vào những quy tắc kế sản của người đi trước để lại cho người đi
sau, vả nữa chúng ta có thể làm ra các điều luật sau khi chúng ta có
sự bàn thảo và thỏa thuận với nhau. Các quy tắc kế sản này, quả thực
là những câu hỏi cụ thể được đưa ra cho các xă hội chính trị, mà ở
đó nó đă được xuất hiện. Có nghĩa sự xuất hiện xă hội chính trị đó
có quyền hành. Nói như sự giải thích của Pierre Antoine, ông là một
triết gia chuyên biệt của xă hội sau thời đệ nhị thế chiến, nói về
quyền hành cá nhân ( pouvoir personnel). Theo ông nghĩ th́ quyền
hành cá nhân được xem là một quyền hành thực, được gắn chặt vào vị
lănh tụ, quyền hành đó được « đẻo gọt, uốn nắn » theo chiều hướng
của ông để tạo thành một thân xác với ông. Tuy nhiên vị lănh tụ chỉ
là một con người, chớ không phải là một thần linh. Mặc dầu ông giữ
chức lănh tụ cho đến tuổi già, cho đến chết. Và cái chết của ông sẽ
tạo ra một khiếm khuyết quyền hành trong một xă hội, mà ngay từ bây
giờ đ̣i hỏi phải có một quyền hành hiệu dụng để cầm giữ sự trật tự
ổn định cùng sự tiến triển của xă hội. Do thế sẽ có một lộn xộn, hổn
độn xảy ra cho đến lúc xuất hiện một vị lănh tụ mới, mà sự uy tín
của ông được tôn lên. Để tránh khỏi những giai đoạn đi thụt lùi này,
cần phải có một quy tắc kế vị nhất định. Qui tắc được mọi người thừa
nhận (trong đảng hay quốc hội), hầu qui tắc cho phép việc ổn định
một cách an b́nh, một cách minh bạch, và tránh được sự bàn cải và
tranh chấp ai là người nắm giữ quyền hành (38). Đây cũng là kinh
nghiệm bài học lịch sử của Việt Nam sau biến cố 1963, là một sự thất
bại của chánh quyền Mỹ v́ sư việc không tiên đoán, dự liệu chuyện ǵ
xảy ra cho Miền Nam Việt Nam sau khi lật đổ thể chế Đệ Nhất Cộng Ḥa
và giết hại Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu. Đây là sự tồi thiếu hiểu
biết chính trị của chánh quyền Kenedy và các loạn tướng Dương Văn
Minh, Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, Lê Văn
Kim, Nguyền Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Mai Hữu Xuân vv.. Sát hại
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rồi, tức th́ Miền Nam rơi vào hổn loạn của
các loạn tướng kiêu binh này. Các ông cầm quân đánh giặc th́ dở,
đánh cộng sản th́ càng dở hơn, c̣n chính trị th́ mù tịt, thế nhưng
cứ nay đảo chánh, mai lật đổ chánh phủ này, mốt xuống đường lật đổ
chánh phủ kia. V́ không có lănh tụ đức độ và uy tín cùng sáng suốt
trong các chánh sách an dân, trị quốc, diệt cộng và b́nh định lănh
thổ, để rồi cuối cùng miền Nam rơi vào tay cộng sản Hà Nội cho đến
ngày nay là thế.
Chúng
tôi thấy nhận định của triết gia Antoine được xem là việc tiên khởi
của luật chính trị, liên quan đền sự truyền kế của quyền hành. Do
thế, những hiện tượng như thế phải được thận trọng tuân thủ, cho dẫu
hiện tượng đó xảy ra vào thời xưa hay thời đại của chúng ta. Có
nghĩa chúng tôi muốn nói là làm thế nào chúng ta thực thi nó qua con
đường Hiến Pháp bằng việc có thể tu bổ, cải thiện lại Hiến Pháp liên
quan đến người thừa kế (chánh phủ sau), để có được một quyền hành
thực, làm chạy đều các công việc của quốc gia. Đến đây chúng tôi đưa
ra trường hợp của Nước Pháp mà chúng tôi có một sự t́m hiểu vào thập
niên 50 của họ. Nước Pháp mà chúng tôi t́m hiểu, nghĩ phải có một
quyền hành thực sự vào thời kỳ của Tướng De Gaule, quyền hành đó
được sinh ra trong thời kỳ nuớc Pháp vào năm 1958, nhưng sau đó họ
đă tái lập lại được sự ổn định chính trị cho Nước nhà. Tuy nhiên sau
thời gian đó, th́ quyền hành phải được tu chỉnh lại, hầu đi đến sự
tạo lập nên bản Hiến Pháp vượt lên trên cá nhân hoặc đảng phái, là
người nắm giữ quyền hành. Việc làm này của Nước Pháp đă được rơ
ràng, minh xác, họ tạo được là nhờ sự tu chỉnh, đồng thuận và cải
tiến lại bản Hiến Pháp Quốc Gia vào năm 1962. Cho dẫu cựu Tướng
Charle De Gaule là một nhân vật ngoại hạng, với ḥa quang Người Hùng
của Pháp cùng uy tín săn có của ông, th́ ông không cần bỏ thăm sự
tín nhiệm của quần chúng. Trái lại, Hiến Pháp Quốc Gia th́ cần thiết
phải có sự minh bạch, trong suốt các khoản luật, các quyền lợi, các
điều luật căn bản v.v., hầu giúp cho các vị thừa kế quyền hành dễ
dàng khi thực thi công việc quốc sự.
Khi
chúng tôi tŕnh bày cùng qúy vị đến đây, chúng tôi xin phép qúy vị
nghĩ đến hoàn cảnh Đất Nước V́ệt ta sau thời hậu cộng sản, sẽ có một
khoảng trống quyền hành, hoặc là thiếu chưa xuất hiện, chưa t́m ra
một vị lănh tụ tài ba, đức độ, cống hiến cả cuộc đời ḿnh cho Đất
Nước thực sự. Do thế, chớ ǵ chúng ta phải nghĩ ngay từ lúc này các
việc chúng tôi tŕnh bày tự ḷng ḿnh ở đây. Để rồi khi chuyển tiếp
có một chế độ mới, th́ chúng ta đă có lănh tụ đức độ, tài ba và anh
minh, có Hiến Pháp (có thể tạm thời), có đủ người nắm quyền trong
các guồng máy công quyền cũng như dân quyền, hầu kịp thời tạo được
sự ổn định chính trị cho quốc gia, và an sinh xă hội cho người dân.
Nhất là, tránh cho quốc gia khỏi rơi vào cảnh « loạn sứ quân » hay
một cuộc « nội chiến », để dành nhau nắm quyền mà Đất Nước chúng ta
đă có thời xảy ra. Với tâm t́nh thiết tha đến sự hưng vong của Đất
Nước, chúng tôi mong lắm thay thấy được Đất Nước chúng ta thăng
tiến, cất cánh bay cao với các con rồng Nhật Bản, Hồng Kông, Tân Gia
Ba, Mă Lai, Thái Lan, Đài Loan, Đại Hàn v.v. làm tự hào và hănh diện
cho gịng máu con Rồng cháu Tiên trong máu huyết da thịt chúng ta.
Giờ đây, chúng tôi xin luận bàn đến Nhà Nước và Hiến Pháp trong
chương kế tiếp.
5.8.
Quyền Hành Phải Phục Tùng Luật Pháp Ngay Trong Lúc Thực Thi Các Công
Việc Ḿnh
Lư ra
cái đặc tính cá nhân của quyền hành th́ có thể không bị giới hạn bởi
những quy tắc của người thừa kế. Song để vấn đế thượng tôn luật
pháp, để quyền hành ḥan thành các công việc liên quan đến xă hội,
đến người dân, th́ quyền hành phải vẫn c̣n tùng phục luật pháp. Có
nghĩa chiếu theo Hiến Pháp và Luật Pháp quốc gia trong việc thực th́
các công việc chung của ḿnh, th́ dựa vào các quy tắc thích ứng, quy
nhập vào lư tưởng, lợi ích của xă hôi nhà. Do đó, quyền luật trở nên
yếu tố khởi đầu cho quyền hành thực thi các việc chung của quốc gia.
Hoặc nói một cách khác, th́ quyền hành trở thành hợp pháp (le
pouvoir devient juridique). Để kể từ đây th́ tất cả các liên thuộc
của chính trị sẽ dung nạp một yếu tố của luật vô ngă (le droit
impersonnel) như sư đối chiếu của các luật khác đ̣i buộc. Nói như
Montesquieu là « trong sự sinh ra các xă hội, th́ chính là vị Quốc
Trưởng của các nên cộng ḥa, và các vị ấy đă tạo nên thể chế, và
cũng chính thể đó tạo nên vị Quốc Trưởng » (39).
Chúng
tôi xin qúy vị lưu ư đến một từ ngữ khác, từ ngữ đó là liên quan đến
chính trị, và được ghi dấu trong hai chữ Nhà Nước, L’Etat, The
State. Chữ Nhà Nước xuất nguồn từ chữ « Stato », ngôn từ này được
xuất hiện đầu tiên tại Ư Đại Lợi, có nghĩa cơ quan công quyền đă
định. Nhưng qua nó, th́ dễ trở thành độc tài cá nhân, điển h́nh như
các nước công sản. Nhà Nước là thể chế hóa của xă hội chính trị
(L’Etat est l’institutionnalisation de la société politique), qua
đó, th́ tŕnh trạng nguyên khởi của Nhà Nước là được cai quản do
nhân cách của cá nhân. Song ư niệm thực về Nhà Nước như chúng tôi đă
nói là người thừa hành các công việc chung của quốc gia mà người dân
đă tín nhiệm. Có nghĩa là can thiệp bằng mọi trường hợp làm mật đi
tính cách cá nhân hóa, hoặc làm mất đi sự tập trung quyền hành thái
qúa vào một người, như chúng tôi đă nói là con người phàm tục, chớ
không phải là thần linh. Do thế mà người ta cũng có thể nói đó là sự
hợp pháp hóa của Nhà Nước (légalisation) , hay nữa được gọi là đồng
hóa vào Luật Pháp, để rồi Nhà Nước phải phục tùng Luật Pháp. Không
có cái kiểu Nhà Nước ngồi « xổm » trên Luập Pháp như Đảng và Nhà
Nước Hà Nội, thật là không dân chủ chút nào, hành động như vậy, là
mọi rợ luật pháp cùng kém văn minh tiến bộ. Có nghĩa khi gọi Nhà
Nước, th́ chính là Nhà Nước Pháp Quyền. V́ thế sự lưu ư này của
chúng tôi rất quan trọng có tầm mức ư nghĩa của nó, hầu xây dựng nên
một thể chế Nhà Nước Pháp Quyền cho Việt Nam mai hậu (chúng tôi xin
phép sẽ bàn đến trong chương sau), Chúng tôi cũng muốn nói thêm để
kết luận điểm quan trọng này, tất cả quyền hành phải đi theo một
kinh nghiệm, có nghĩa quyền hành phải được hợp pháp hóa và có cả
luật pháp hóa. V́ dụ, Hiến Pháp Quốc Gia đă quy định cho mỗi nhiệm
kỳ tổng thống là bốn năm, có thể được ra ứng cử hai nhiệm kỳ. Sau
hai nhiệm kỳ tự động rút lui. Chớ không thể dùng quyền hành bắt ép,
hay bỏ tiền mua chuộc Quốc Hội cho ra ứng cử thêm nhiệm kỳ nữa hay
vài lần nữa, th́ là cưỡng hiếp Hiến Pháp và cưỡng lực Luật Pháp của
Nhà Nước. Thực vậy, chỉ có kẻ tham quyền cố vị, độc tài, kém nhân
cách, vô liêm sĩ, không có ḷng tự trọng mới có những hành vi quái
gỡ này.
Lư
thực mọi sự tuân thủ cũng đều ở trong sự phán đoán này, là những nhà
cầm quyền có chiếu theo Hiến Pháp để hành sự chăng. Bởi v́ như qúy
vị thựng thấy, th́ những người nắm quyền hành hay có xu hướng lạm
dụng quyền hành, họ có thể vượt qúa các giới hạn của các khoản luật
đă được Luật Pháp hay Hiến Pháp cho phép. Do từ ư nghĩa chúng tôi
nói đây, khi người nắm quyền hành vượt qúa các điều khoản Hiến Pháp
hoặc Luật Pháp Quốc Gia đă định và cho cho phép, th́ quốc gia lúc đó
có thể trở lại cái ṿng lẫn quẫn là có bạo lực, có tang thương và
chết chóc. Hơn nữa, các thành phần trong guồng máy Nhà Nước, của
Đảng, chính họ là các người tạo ra sự bạo lực này, để chính từ
nguyên nhân này họ tự biện minh hóa cho quyền hành trong cái đặc
tính của sức mạnh (justification du pouvoir dans sa caractéristique
de force) như Đảng cộng sản Việt Nam. Cũng thế, v́ ngay trong quyền
hành đă có thể đẻ ra bạo lực. Bởi thế, từ sự thiếu ư thức phân rơ
này mà có các tay bạo chúa, đồ tể như Lénine, Stalin, Hitler, Mao
Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Polpot, Kim Nhật Thành, Causescu
v.v., đă hành động một cách độc đoán, tàn ác diết chết cả trăm triệu
sinh mạng người một cách dă man.
Cho
dẫu có các tay bạo chúa, đồ tể phản chính trị này, bất tuân Hiến
Pháp và Luật Pháp chung mà mọi người tôn trọng, th́ chưa hẳn là cánh
cửa ḥan toàn đóng kín cùng nỗi niềm thất vọng chung cho mọi người.
V́ vẫn c̣n con đường đối kháng lại với những người dùng quyền hành
độc đoán cùng sử dụng bạo lực rất tàn bạo này, đó chính là những
người dân cùng các kháng chiến quân, V́ chính họ là các người triệt
tiêu cái bạo lực này cùng các tay bạo chúa, và rồi tạo lập lại Hiến
Pháp minh xác. Quả lịch sử đă chứng minh rơ ràng cho chúng ta thấy,
người dân của các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức, Lỗ Ma Ni, Hung
Gia Lợi, An Ba Ni, Liên Sô, Nga vv., đă vùng dậy dành lại chủ quyền,
đập tan các tên độc tài khát máu, và tạo lập một Nhà Nước Pháp
Quyền, cùng tạo nên một thể chế dân chủ nhân bản, cùng một nền kinh
tế tự do phồn thịnh.
VI.
NHÀ NƯỚC VÀ HIẾN PHÁP
Như chúng tôi đă
nói đến một Nhà Nước Pháp Quyền, tất nhiên quyền hành phải được tiến
triển trong con đường tôn trọng Hiến Pháp và tuân thủ Luật Pháp. Hơn
nữa, nhờ đó làm mất đi các bạo lực của quyền hành tùy tiện hành sử
theo ư ḿnh. Đồng thời Nhà Nước Pháp Quyền th́ làm mất đi tính cách
cá nhân hóa, mà sự việc cá nhân hóa dễ đưa đến thần thánh hóa. Để
rồi bạo lực được gắn chắt vào cá tính độc ác của người đó, hay nữa
quyền lực của một nhóm người (Bộ Chính Trị), của đảng (như Đảng cộng
sản), đă tạo ra bao thảm họa cho con người, cho dân tộc. Do thế để
tránh t́nh trạng bạo lực và độc tài, chúng tôi xin trích ra câu nói
hợp lư của Georges Burdeau là :« Nhà Nước được cấu thành, khi mà
quyền lực có trụ sở của nó, song không phải trong một con người,
nhưng là trong một thể chế dân chủ » (40).
6.1. Thể
Chế Hóa Và Lư Do Hóa
Những
hiện tượng thể chế hóa của quyền hành và sự sinh ra Nhà Nước đuợc
chúng tôi lấy lại tư tưởng của Georges Burdeau trong tác phẩm thực
dụng và thời danh của ông là « Traité De Science Politique, Khảo
Luận Khoa Học Chính Trị ». Ông dẫn chứng những lời như sau :« việc
thể chế hóa quyền hành là việc làm pháp lư, qua đó quyền hành chính
trị được giao lại từ cá nhân của các việc cai trị đến một thực thể
biểu tượng là Nhà Nước. Hiệu qủa pháp lư của việc làm này chính là
sự tạo nên Nhà Nước. Nhà Nước được xem là nơi nương tựa có tính cách
độc lập của quyền hành, hầu con người qua đó thừa hành cho các việc
cai trị » (41). Chúng ta thấy sự độc lập của sự tương quan này đến
cá nhân hoặc các người khác là đă đuợc phân định rơ ràng. V́ quyền
hành ngay từ nguyên khởi khi nắm quyền đă được gắn liền với tư tưởng
luật pháp, luật pháp chính là sự thiết yều hầu dựa vào các điều tốt
đẹp để hành sự. Do vậy, kể từ nay quyền hành đi đến sự thực hiện hóa
các mục đích tốt, hữu lợi hầu trở nên mọi thực thể pháp lư. Thế đó,
nhờ vào việc thể chế hóa cái quyền hành này, th́ tự dưng « nó » cho
phép các người lư tưởng, xem quyền hành là một kỹ thuật hoàn thiện
hơn, hầu t́m kiếm tài sản chung, là những công việc ích Nước lợi
Dân. Sự thể chế hóa này bảo đảm một sự kết hợp thân t́nh hơn giữa
các việc làm của người cai trị và việc cố gắng thỉnh cầu của các kẻ
bị trị. Nhờ thế, theo Burdeau nghĩ th́ cả hai người nắm quyền cùng
người dân đều nhạy cảm được cái kinh nghiệm của tư tưởng Luật, cũng
như các quyền lợi căn bản chung của xă hôi, qua đó thiết tạo được sự
tiến bộ hơn cả. Để rồi nhờ vậy, người ta có thể thực hiện được trong
một xă hội chính trị dân chủ và văn minh tiến bộ (42).
Chúng
tôi biết vào thời hiện nay, th́ hầu như mọi xă hội chính trị đều
sinh động bằng các việc thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với
sự tiến hóa của con người ngày nay. Qúy vị nên biết sự lănh đạo của
Nhà Nước, đuợc xem như một việc quản trị hành chánh được hợp thức
hóa, đó là theo như ư của Max Weber giải thích. Chúng tôi nghĩ các
cơ cấu quốc quyền này c̣n có một lư do khác nữa, mà theo Weber th́
đây là sự hợp tác để bành trướng các cơ cấu của những tay đại tư bản
(organisation capitaliste)- Theo ông các cơ cấu được sinh thành một
cách lịch sử của một hiện tượng tâm linh như chủ thuyết Đạo Tin Lành
(Protestantisme), hay chính xác hơn là Thánh Giáo (Puritanisme).
Nói như Max Weber bàn về Đạo Tin Lành khổ hạnh này, th́ sự ưng nhận
của việc lư do khổ hạnh ngay trong đời sống trần thế này. Weber nghĩ
Đạo Tin Lành Khổ Hạnh là đạo duy nhất của con người có sự liên kết
qua các nguyen tắc của đạo trong một thế giới kết hiệp có hệ thống
bất khả giảm.Đó là đạo đức của niềm tin trong thế giới tâm linh hầu
bảo đảm được ơn cứu rỗi (43). Qúy vị rơ hiện tượng tâm linh đó phát
triển một cách nhanh chóng. Song chúng tôi nhận thấy v́ qua thời
gian người ta đă quyên đi mọi lời nhắn nhủ và lưu tâm của Max Weber.
Tuy thế, điểm đáng làm cho chúng tôi lưu tâm đến quyển sách nhỏ có
giá trị của ông là « L’Ethique Protestante Et L’Esprit Du
Capitalisme, Đaọ Đức Tin Lành Và Đầu Óc Tư Bản ». Dẫu thế nào đi
nữa, ông cho chúng ta những nhận định sâu sắc sự đạo đức của con
người và đấu óc tính lợi nhuận chi ly của các tay tư bản. Tuy nhiên
chúng tôi thấy hiện tượng tinh thần của Max Weber nghĩ này chỉ « nở
rộ » có một lần, và diễn tiến của việc lư do hóa này không viện dẫn
đủ lư chứng cho tinh thần con người được. Có nghĩa là cấu tạo nên
một xă hội có thể duy tŕ lâu bền. Do đó mà triết gia Raymond Aron
chú giải về Max Weber như sau : « thời đại của chúng ta, thiên hạ
không cần đến sự viện lư siêu h́nh học hay luân lư cho cá nhân, hầu
thích hợp vào các luật của tư bản một lần như điều hiện hữu ở đây
(theo Max Weber). Theo quan điểm của lịch sử-xă hội (au point de vue
historico-sociologique), th́ phải biết phân biệt giữa sự giải thích
của sự cấu tạo nên chế độ và sự giải thích của việc điều hành nên
chế độ » (44). C̣n Weber th́ nghĩ rằng : « Người Tin Lành khổ hạnh
muốn là người túng bần, trong lúc đó th́ chúng ta muốn trở thành
người giàu có » (45).
Với
lịch sử này, th́ chúng tôi cảm nhận như người ta nói về Đạo Tin Lành
khổ hạnh của người Mỹ là một đặc thù. Tuy nhiên nét đặc thù này và
diễn tiến của nó lại đưa ra các câu hỏi không giới hạn cho mọi
người. Bởi chủ nghĩa tư bản, theo chúng tôi nghĩ c̣n có một cái ǵ
khác hơn nữa, mà Max Weber chỉ giải thích theo quan điểm của ông
thôi, dẫu sao ông cũng giúp chúng ta một cái nh́n có thể khám phá về
chủ thuyết xă hội. Nhất là, qúy vị thấy các lư do của cơ cấu Nhà
Nước là một hiện tượng được xem như sự mở rộng. Và chắc chắn rằng
Nhà Nước là một cơ cấu lư do hoá như thế, Nhà Nước bận bịu với các
công việc chung. Cũng theo ông, th́ vào năm 1918 ông quan sát tại
Đức và thấy được sự sụp đổ của đế quốc này qua cuộc cách mạng : để
rồi ông nói sự điều hành của các người cầm quyền sau này, là họ
không đụng chạm, không xung đột, không trả thù đê tiện cùng ngược
đăi với nhà các các nhân viên và các nhà lănh đạo của chánh quyền
trước. C̣n các quy tắc, các công việc cũ trước đây vẫn được các nhà
cầm quyền mới tôn trọng, qua cung cách xử thế tế nhị như thế cho
chúng ta một mẫu gương thật tuyệt vời, đáng khâm phục. Thế đó, họ ư
thức được trách nhiệm và bổn phận của ḿnh, là cùng với các nhân
viên cũ và mới, họ chung lưng bắt tay nhau đều hành công việc chung
của Nước Nhà cho được hiệu qủa hơn (46). Do vậy mà từ ư nghĩa này,
th́ Nhà Nước cũng là Nhà Nước đó, để vẫn tiếp tục điều hành thực thi
quyền hành do các lời cố vấn của các cán bộ cùng các người lính của
chánh quyền hợp tác.
Chúng
tôi thấy cái hay của Max Weber là ông đă lưu lại cho lịch sử của
thời đại chúng ta các lư do của các cơ cấu lớn, mà chúng ta hôm nay
gọi là Nhà Nước. Cũng như ông để lại các h́nh ảnh cao thượng và
tuyệt đẹp của việc chuyển tiếp giữa hai thực thể chánh quyền cũ và
mới, đó là không có sự trả thù đê tiện, và chuyện đáng lo nghĩ chính
là việc hợp tác với nhau cho ích Dân lợi Nước hầu Quốc gia thăng
hóa.
6.2. Tính
Cách Phổ Quát Của Hiện Tượng Nhà Nước
Vừa
qua quư vị hiểu thêm với tư tuởng mới của Max Weber do chúng tôi đưa
ra, th́ ngay nay các tư tưởng gia đă bàn luận nhiều về sự hiệu qủa
của nó trong sự diễn tiến của xă hội. Một trong những tư tuởng gia
bàn luận vấn đề này là giáo sư chính trị học Bertrand Badie. Ông đă
lưu ư đến các đa tạp khác nhau trong những truyền thống của con
người, theo ông nghĩ th́ họ mỗi người giải thích theo mỗi kiểu, theo
mỗi trường hợp của chữ Nhà Nước theo như ư ḿnh. Đơn cử như phỉ
quyền Hà Nội dạy dân và nhồi sọ người dân, là Đảng lănh đạo, Nhà
Nước quản lư, Nhân Dân làm chủ. Để rồi từ đó việc điều hành phản lại
các tư tưởng mà những ǵ người ta đă đạt đến ư nghĩa của một Nhà
Nước đích thực chỉ biết phục vụ cho dân.
Chúng
tôi nghĩ do sự « nhập cảng » các kiểu mẫu mới này, mà mỗi quốc gia
theo ư của ḿnh, nhất là các quốc gia đang phát triển và kém phát
triển ở vào những thập niên 50 và 60 của thời đại chúng ta, đă không
nhất thống một kiểu mẫu chính xác của hệ thống Nhà Nước. Do đó
Bertrand Badie nghĩ răng các Nhà Nước ở Á Châu và Phi Châu vào giữa
bán thế kỷ 20 đă không tương hợp với các kiểu mẫu trước đây. C̣n các
xă hội Tây Phương, th́ thường bị sự phân tư giữa sự chấp nhận hợp lư
và một sự hợp lư canh tân (entre la logique d’adaptation et une
logique d’innovation). Do thế, sự tổng hợp qủa là khó khăn ngặt
nghèo, nhất là nó rất mong manh (47). Chúng tôi xin đưa ra vai đơn
cử, như sự điều hành của các Nhà Nước tân thời trong vùng Trung Đông
có nền văn hóa Ả-Rập và Hối Giáo, th́ Nhà Nước luôn bị quấy nhiễu,
lộn xộn bởi một số đông người, nhất là các ông Iman, đạo trưởng qúa
khích của tôn giáo này, hằng luôn muốn Hối Giáo là Quốc Giáo và
chánh quyền giáo. Tuy thế, nước Ấn Độ đa số dân là theo đạo Hindou,
Bà La Môn, nhưng Ấn Độ đă biết áp dụng tốt kiểu mẫu Nhà Nước Anh
Quốc cho quốc gia và người dân ḿnh, hầu tránh được cảnh tranh dành
Quốc Giáo của đạo ḿnh. Vả nữa sau thời đệ nhị thế chiến, th́ ngọn
gió cách mạng và dân chủ như một phong trào sinh động cho Á Châu,
Phi Châu, điển h́nh như Nhật Bổn chẳng hạn, nay th́ có Nam Hàn và
Đài Loan v.v. biết áp dụng thức thời cho quốc gia ḿnh thăng tiến
trên hai lănh vực chính trị cùng kinh tế. Hiện nay các nước này đă
trở thành những quốc gia giàu có đáng nể. Để rồi nói như Bertrand
Badie, đây chính là phương thế biết dung ḥa giữa các việc quản trị
Nhà Nước và các nền văn hóa của cộng đồng địa phương (48).
Thực
vậy, mỗi một dân tộc có một bản sắc riêng của ḿnh, có văn hóa,
phong tục, lịch sử lập quốc, kiến quốc khác nhau, nên đ̣i hỏi luôn
có một sự « dung ḥa » để du nhập các kiểu mẫu Nhà Nước nào đó cho
thích hợp với tâm thức của quần chúng. Chớ đừng như kiểu tréo cẳng
ngỗng Đảng cộng là ông nội dân, Nhà Nước là chủ nhân, c̣n Dân th́
tôi tớ phục dịch cho Đảng và các ông lớn, các cán bộ theo cách Việt
cộng đă du nhập kiểu Nhà Nước Liên Sô và Trung Cộng của Lénine,
Stalin và Mao Trạch Dông, chỉ làm khổ dân thôi, va thật họ đă làm
khổ dân trăm đắng ngàn cay. Do vậy, chúng tôi nghĩ để giới thiệu một
tinh thần trong sáng và một việc làm xác thực rơ ràng, tất chúng ta
phải biết thừa nhận có các giá trị tốt đẹp qua các nền văn hóa, qua
lịch sử, cũng như có sự khác biệt to lớn của các h́nh thái và cơ cấu
của chính trị cũng như kinh tế. Tuy nhiên, để chúng ta khi thiết lập
chánh quyền hậu cộng sản, cần lưu ư là khi thiết tạo thể chế hoặc là
tạo lập quyền hành, th́ quyền hành đó phải tuân thủ vào các quy tắc
nhất định được đề ra, vào một luật minh định (pháp lư) hẳn hoi, hầu
phát triển quốc gia. Nhất là, để cho quyền hành không thể khống chế
và vượt quá được, là rơi vào quyền lực của một cá nhân như Hitler,
Mao Trạch Đông, Stalin, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Polpot v.v.. Vả nữa,
một Nhà Nước, th́ không thể cuỡng lực nó thành Nhà Nước trong tay
một người, một Đảng. Hay trong tay vài người như Bộ Chính Trị Hà
Nội, rồi thao túng muốn làm ǵ th́ làm, muốn bắt ai thi bắt, muốn
giết ai thi giết, muốn bán dất dâng biển lănh thổ cho Trung Cộng th́
làm, và muốn cướp ruộng vườn , nhà cửa, đất đai của dân, th́ ngang
nhiên cướp. Đúng ra phải gọi Đảng và Nhà Nước Hà Nội là những người
phản chính trị như chúng tôi đă nói ở tiết mục trên. Hăy trả lại cho
Nhà Nước ư nghĩa đích thực của nó : có nghĩa là Nhà Nước của mọi
người, của quần chúng, của người dân. C̣n các người nắm các cơ quan
điều hành guống máy Nhà Nước, tất chỉ là những người phục vụ dân,
phục vụ Đất Nước cho hùng cường, giàu mạnh, an thái. Nhà Nước không
phải là ông nội, cha chú, quan liêu và là bạo chúa hà hiếp dân lành
như chế độ phỉ quyền Hà Nội.
6.3.
Quyền Hành Trong Ư Nghĩa Loại Trừ
Theo
nguyên tắc của pháp lư và chiếu theo luật pháp, th́ quyền hành được
hiẻu trong một ư nghĩa của loài trừ. V́ nói như Georges Burdeau
trong tác phẩm : «Traité de Science Politique, Khảo Luận Khoa Học
Chính Trị », ông nghĩ phải triệt để loại trừ cái tôi đặc quyền của
quyền hành (49) Tại sao? Bởi khi giao cho một người các đặc quyền
của quyền hành, dễ tạo ra quyền lực, quyền thế và dễ trở nên độc
đoán, độc tài sinh ra nguy hại cho xă hôi và người dân.
Đ́ển h́nh là Hitler, Lénine, Stalin, Mao Trạch Dông,
Đặng Tiểu B́nh, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn dến Nguyễn Tấn
Dũng, Nông Dức Mạnh Polpot, Sadam Husen vv. Thực thế, từ đó chúng
tôi nghĩ sự sinh ra Nhà Nước th́ Nhà Nước phải đạt được ư nghĩa
« nhân cách » của quyền hành, với ư nghĩa nghiêm túc này th́ quyền
hành không cần phải loại trừ. Tuy nhiên trong xă hội chính trị như
chúng ta thấy thường xuất hiện nhũng điều trái ngược như chúng tôi
nói đây.V́ thực ra Nhà Nước là sự tạo nên quyền hành. Vả nữa, tất cả
các đặc tính của nó mà chúng ta đă phân biệt, được xem như là riêng
biệt của quyền hành mà nó vẫn c̣n gắn chặt vào trong Nhà Nước. Do
đó, chúng tôi nghĩ để tránh cho sự « tai hại » này, th́ chúng ta
phải loại trừ và ngăn cản sự diễn tiến của quyền hành có tính cách
máy móc cùng đặc quyền. Cũng như tránh xa một Nhà Nước có tính cách
kỳ thị và phân biệt chủng tộc cùng sắc tộc và màu da như Nam Phi
trước đây, hay một Nhà Nưóc độc tài, độc đảng như Việt Nam ta hiện
thực – thêm nữa, qúy v́ rơ sự điều hành các công việc của Nhà Nước,
và các người cầm quyền trong guồng máy quốc gia, th́ phải luôn hướng
về phận vụ chính đáng : đó là phục vụ quần chúng và Tổ Quốc của
ḿnh.
Để
tránh các nan giải của việc đưa đến một Nhà Nước độc tài về nhiều
mặt, khi các người cầm quyền lănh đạo th́ tham nhũng, hối lộ, cậy
quyền, cậy thế như Nhà Nước Hà Nội đương thời, thế nên chúng ta cố
gắng phải loại trừ đi cái quyền hành độc tôn, độc Đảng này, hầu
không c̣n tính cách cá nhân, bé phái nữa. Để rồi từ đó Nhà Nước một
cach rơ ràng là trở nên các cơ quan chánh quyền, các cơ quan công
quyền như các bộ, tỉnh, quận, huyện, xă vv., biết lo lắng, chăm sóc,
quan tâm phục vụ cho sự ấm no, an thái và hạnh phúc của người dân,
chính lúc đó các cơ cấu của một Nhà Nước mới thực chính danh. Hoặc
nữa, chúng tôi nghĩ chúng ta phải có tinh thần xem sự phụng sự cho
lư tưởng chính trị là một ơn gọi « vocation ». Xin qúy vị hiểu chính
trị cũng là một ơn gọi như những ơn gọi làm bậc cha mẹ, tu sĩ, bác
sĩ, khoa hoc gia, kỹ thuật gia vv.. Để ơn gọi chính trị này, là
không có nghĩa tập trung mọi quyền hành cho cá nhân ḿnh và cho Đảng
ḿnh, rồi bắt mọi ngựi phải làm theo ư ḿnh, ai không tuân phục,
không làm theo ư ta, th́ t́m cách loại trừ hoặc thủ tiêu. Chúng tôi
xin các vị ấy hiểu cho là ơn gọi làm chính trị này, chính là sự phục
vụ người dân, phụng sự xă hội và Đất Nước như cha mẹ lo lắng nuôi
dưỡng con cái ḿnh thành thân. C̣n làm trái ngược lại ơn gọi chính
trị này như các nguời cầm quyền hiện tại ở Việt Nam, không thực
phụng sự cho dân chúng và Đất Nước : chánh phủ bất chánh cuả Nguyễn
Tấn Dũng và Bộ Tà Trị cùng Đảng Phỉ của ông đă bán đất Tổ, Dâng Biển
Mẹ và kư cho bọn Tàu Phù, Rợ Hán của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo khoảng
50 tỷ Mỹ Kim, để chúng có đặc quyền khai thác tài nguyên quốc gia
Việt Nam : như quặng mỏ, và quyền cho chúng đem nhân công và gia
đ́nh chúng qua chiếm đất đai, biên cả, sông núi của giang sơn ông bà
ta để lại : th́ quyền hành và quyền lực này không thích hợp cho một
xà hội chinh trị nhân bản, mà chỉ là phường thảo khấu, hay loại vong
nô Tàu cộng, rước voi vê dày mà tổ, phá hoại Đất Nước và làm nhục
Quốc Thể.
V́
đúng là xă hội chính trị nhân bản th́ lấy con người làm gốc, xem dân
là trọng, và lấy Tổ Quốc làm đầu, để lo sống báo hiếu như một người
con hiếu đạo với Tổ Quốc và trung nghĩa với Đồng Bào cùng Dân Tộc,
hầu lo cho dân được no ấm, hạnh phúc, Nước Nhà được phát triển, sung
túc, phú cường làm vẽ vang cho Dân Tộc. Nói tóm lại lấy quyền hành
hợp pháp người dân kư thác để phục vụ con người, phụng sự Đất Nước
và phục vụ dân, chớ không phục vụ cá nhân, cho gia đ́nh, cho tập
đoàn hoặc đảng phái và cầu vinh mại bản.
6.4. Ư
Nghĩa Dân Tộc Và Quốc Gia
Qua
tiểu đề này chúng tôi muốn đưa ra cùng qúy vị một sự hiện thực và
một thực thể, đó là Dân Tộc, mà chúng ta đă khảo luận qua các chương
trước đây. Dân tộc nói cách khác rộng nghĩa hơn là Quốc Gia, chính
Dân Tộc là một dân số, một số quần chúng, một Dân tộc với cá tính
đặc thù của ḿnh. Do thế cái quan điểm này như một lư lẽ tất nhiên.
Nhưng để chúng ta hiểu rơ hơn, th́ Quốc Gia tự bản chất là cái thực
thể được kết cấu của từng cá nhân hợp lại thành một cộng đồng xă hội
chính trị, Nhất là Quốc Gia có được sức mạnh vừa tiềm ẩn vừa bộc lộ
một cách cụ thể ở nơi quần chúng, hay nói cách khác là sức mạnh của
một Dân Tộc mà ông bà ta gọi là Hồn thiêng liêng, nôm na nữa là Hồn
Dân Tộc. Quả chính cái Hồn này quyện lẫn trên một giải dất rộng
chung sống cùng với những mảnh đất của Quốc Gia mà người dân sống.
Cũng thế, cái Hồn này quyện lẫn trong biển cả, sông rạch, hồ ao, mà
người dân giả gọi một tiếng tŕu mến yêu thương, xem sông biển là
Mẹ. Hồn cũng quyện lẫn trong không gian, trong không khí của Đất
Nước trong ruộng vườn, cây trái, trong Núi Đồi mà ông bà ta gọi một
cái tên kính trọng yêu mến : là Cha. Cũng chính các sức mạnh của
quần chúng kếp hợp này là dấu chỉ của Quốc Gia c̣n tồn vong. Thế mà
bọn phỉ quyền Bắc Bộ Phủ : Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Khả Phiêu,
Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, là những quân vô
đạo lư, tán tận luơng tâm dám đem Cha Mẹ ḿnh đi bán cho bọn Tàu
phù, Rợ Hán Trung Cộng. Đời thủa từ thủa lập Quốc dựng Nước Việt cho
đến bây giờ, không người con Việt nào mang gịng máu Lạc Hồng dám
đem bán Cha Mẹ ḿnh cho lũ ngoại ban. Vi dây là cái tội tầy trời,
kinh thiên địa chấn, bất đạo, vô luân như loài cầm thù không có lư
trí. Chúng tôi tha thiết van xin tất cả người dân Việt trong Nước
hay Hải Ngoại hày cứu nguy Cha Mẹ ḿnh có nghĩa là cứu nguy Dân Tộc!
Xin các vị chức sắc lănh dạo Tôn Giáo, lănh đạo tinh thần các tín
hữu và hết moị người dân cần lên tiếng, tỏ thái độ yêu Cha Mẹ của
ḿnh, th́ xin hành động cụ thể ngay … c̣n im lặng, cầu an, không
khác ǵ là chấp nhận hoặc động lơa với hành động bán Cha Mẹ ḿnh
của Hà Nội là dâng biển cùng các quần đảo Hoàng Sa và Trường sa. Hà
Nội vừa bán vưà dâng đất Tổ như Ải Nam Quan và Thác Bản Dốc, cho
khai thác quặng mỏ Bauxiste ở Đắc Nông Tây Nguyên, rồi cho Tàu phù
Trung cộng đem cả trăm ngàn nhân công và gia đ́nh của chúng vào lảnh
thổ Việt Nam sinh sống.
Do dó
những thực thể lưu tại này : như dân số, dân tôc, sông biển, núi
đồi, có ngôn ngữ, các sắc dân, có văn hóa vv.. là cái có trước Quốc
Gia. Sự có trước đó mà chúng tôi đă nói qua là tiền chính trị. Vi
thế Dân Tộc được cấu thành dân tộc chưa có chủ này, đơn cử Dân Tộc
Chàm vẫn sống lế lối phong tục, văn hoá Chàm, nhưng họ không thể gọi
là Quốc Gia được, đă mất đi ư nghĩa của chính trị, không có chủ là
vậy. Hoặc nữa, như dân tộc Palestine trước thập niên 80, người dân
Palestine cũng giống như Dân Tộc Chàm, bi người Do Thái chiếm đất Tổ
của họ, đuổi họ ra khỏi quê cha Đất Tổ của ḿnh. Họ buộc phải lưu
vong ở các Nuớc lân bang hay trên toàn cầu, nhưng họ t́m đủ mọi cách
để lấy lại đất, dành lại chủ quyền của Đất Nước ḿnh. Nhờ vậy chúng
ta hiểu hơn các việc tranh đấu của lănh tụ Arafat và người dân
Palestine, là bằng đủ mọi cách họ nỗ lực cố gắng dành lại Đất Tổ.
Thế đó, là sự cấu tạo lịch sử của các xă hội đa dạng của loài người
thời xưa, nhưng vẫn c̣n hiện hữu cho đến thời đại bây giờ.
Do
thế, như tư tưởng của Burdeau mà ông đă bỏ công nhiều năm nghiên
cứu, theo ông nghĩ trên thế giới có sự hiện diện của nhiều xă hội.
Xă hội đó có nhiều nhóm người sống chung trên một mảnh đất riêng, họ
tùng phục và liên kết vào một vị thủ lănh, th́ trường hợp này ông
nói không phải là quốc gia. V́ khái niệm của Quốc Gia không phải do
một nhóm người kết hợp lại, có một mănh đất và một vị thủ lănh. Và
Burdeau nghĩ đây chỉ là h́nh thái trở nên quyền hành như các vị tù
trưởng của Bộ lạc. Bởi v́ ư nghĩa của Quốc Gia cho phép chúng ta
giải thích các đặc thù của nó như sau : sự hiệp nhất, tiếp tục tồn
tại, c̣n sức mạnh cùng các giới hạn của quyền hành do luật pháp hay
theo thói tục, để rồi chúng ta xem đó là phần toàn diện của lư
thuyết chung của Quốc Gia (50). Tất cả những điều nhận định của giáo
sư Burdeau, theo chúng tôi cảm nghĩ qủa rất đúng và hợp lư của khái
niệm về Quốc Gia. V́ lịch sử của nhiều xă hội đôi khi được tạo thành
theo như kiểu các sắc dân thiểu số, cho nên không thể gọi là Quốc
Gia được.
6.5.
Những Con Người Và Nhà Nước
Theo
chúng tôi nhận định, để phân biệt rơ vai tṛ của sự thông minh tài
trí hơn người của các tư tưởng gia, và ư muốn cộng tác của Nhà Nước
với họ trong một sự hợp tác để tạo nên cái « khế ước » xây dựng hữu
ích cho cộng đồng con người và dân tộc, th́ chúng tôi xin dẫn lược
ra đây đôi gịng tư tưởng của Goerges Burdeau. Theo giáo sư Burdeau,
th́ ư muốn hơp tác của họ không phải tự do sáng tạo nên sự hảo
huyền, trong lúc đó ư muốn hợp tác này tạo nên một ư nghĩa của các
yếu tố xây dựng cộng đồng và dân tộc này. Cũng thế, chúng ta hay sự
tạo nên lịch sử và xă hội, th́ nó có đặc tính riêng của nó. Cái đặc
tính đây là ư muốn con người, và duy ư muốn cộng tác này giữa con
người và con người tất sinh ra Nhà Nước. Thế nên, Nhà Nước là người
trung gian nối kết lại các sự hợp tác và cộng tác của những con
người lại với nhau. Cũng tư ư này, thực vậy thể chế hóa là thành qủa
của một trạng thái thông minh của con người đối với sự nan gỉai của
quyền hành. Có nghĩa Nhà Nuớc là một khái niệm, là nơi nương tựa lư
tưởng của sức mạnh quần chúng. Hoặc nói cách khác, Nhà Nước là thuộc
về con người đẻ ra khái niệm này, và chúng ta có thể nghĩ Nhà Nước
trong ư như vậy.
Do
thế, với ư Nhà Nước như vậy, th́ đời sống chính trị đuợc hiểu nằm
trong ḷng xă hội, nằm trong ḷng dân tộc cùng đồng hành với dân
chúng. Lư thực Nhà Nước hay chính trị, th́ luôn ư thức việc phục vụ
cho dân tộc, cho con người, cho xă hội và quần chúng, chớ không phải
phục vụ cho Đảng, cho cá nhân ḿnh. Đó là những ư nghĩa mà chúng tôi
muốn nói và lập lại nhiều lần qua các chương chúng tôi bàn đến trong
bài « Chính Trị Nhân Bản ». Nhà Nước-Con Người-Dân Tộc, xem như có
một định mệnh chung, trong đó chính trị đóng một vai tṛ quan trọng,
cũng như sự đóng góp của của các tư tưởng gia, lư thuyết gia (không
cộng sản, quân phiệt), sự đóng góp luân lư và đạo đức gia cũng thiết
yếu không kém cho sự sinh tồn của một Quốc Gia. Xă hội và Quốc Gia
được thăng tiến hay thoái hóa, là do vai tṛ đóng góp của những
người làm chính trị, của những tư tưởng gia, luân lư gia, lư thuyết
gia và những đấng bậc lănh đạo Tôn Giáo v.v., cùng chung hợp tác và
lên tiếng xây dựng, là rất hệ trọng đến vận mạng của Dân Tộc, của
Đất Nước. Bại luân, suy vong hay có thể mất Nước là do ở thái độ và
hành động của chúng ta!
6.6. Đời
Sống Trong Nhà Nước Hay Quốc Gia
Những
ǵ chúng tôi vừa nói qua với qúy vị có tính cách lư thuyết và chuyên
môn trong lănh vực chính trị và xă hội. Qua đó nó được bao gồm các
sự việc của con người để dẫn đến y nghĩa Nhà Nước cùng các yếu tố
điều hành thực tế của nó, hầu cho mỗi người chúng ta nhận thức được
sự việc quan trọng, mà chính đời sống của chúng ta gằn chặt vào với
Nhà Nước Do đó, chúng tôi nghĩ để điều hành và cai trị cùng với mục
đích của việc thể chế hóa chế độ dân chủ, th́ chính đây là việc
thực thi ích lợi chung cho Quốc Gia và người dân. Từ đó nó tự cho
phép tạo ra một quyền hành ổn định và công việc được trôi chảy, hầu
cho các công việc chung và đời sống chung của mọi người được bảo
đảm. Cũng thế, các tŕnh trạng chung của quyền hành phải được chính
thức hóa, là đối chiều và dựa vào Luật Pháp. V́ vậy mà tư tưởng Luật
này phải có các quy tắc minh xác. Để rồi nhờ sự minh xác đó, chúng
ta vui sống trong một Quốc Gia có luật pháp hiển minh. chớ không
phải sống trong một băng đảng mafia hay là một bộ lạc du mục, hoặc
nữa là sống trong cộng đồng riêng rẻ. V́ sống trong một Quốc Gia như
nói trên, th́ chúng ta được bảo đảm các quyền lợi và được quyền luật
quốc gia bảo vệ.
Qúy
vi rơ cái quyền hành hiện hữu và ở trong sự hiện thực đó, giờ đây
quyền hành ấy được lồng vào trong thể chế, rồi xem đó là « chức vụ »
phụng sự Quốc Gia Dân Tộc. Do thế mà vị cầm quyền qua đời, th́ các
v́ kế nhiệm phải có để tránh đi cái khoảng trống không có người cầm
quyền phục vụ Đất Nước. V́ đây cũng là yếu tố của đời sống ổn định
chính trị và ổn định xă hội và Nhà Nước. Qúy vị cũng hiểu thêm nhờ
vào việc thể chế hóa của Nhà Nước , th́ làm mất đi quyền hành cá
nhân, bởi quyền hành đó đă trở nên cho mọi người-ngay cả các người
không cầm quyền, có thể đồng hoá vào, và hiểu một cách tích cực rằng
đó là chiều sâu của chính trị trong một thể chế dân chủ đích thực.
Do đó từ quan niệm này th́ Nhà Nước kể từ đây là việc làm của tôi,
là tài sản và danh dự của tôi. Nhờ đó mà quyền hành không ở trong cá
nhân, không ở trong Đảng, c̣n Nhà Nước là của chung mọi người, ai
cũng có bổn phận làm vinh dự cho Nhà Nước của ḿnh. Đơn cử, trong
các cuộc thi tranh giải điền kinh, thể thao và đá banh, th́ các thể
thao gia, hay điền kinh luôn cố gắng tập luyện hết ḿnh hầu mong
đoạt giải đẻ làm vinh dự cho Quốc gia ḿnh là thế. Vi từ ư nghĩa
này, khi những vị lănh đạo Nhà Nước làm bậy, thoái hoá : như ăn hối
lộ, tham nhũng, tống tinh, cuỡng dâm, cướp của v.v., th́ tất cả các
hành động nói này làm ô danh Dân Tộc và làm mất thể diện Quốc Gia
trên chính trường Qưốc Tế!
6.7. Hiến
Pháp
Quả
thực biến cố quan trọng cho một Quốc Gia độc lập chính là sự sinh
thành ra bản Hiến Pháp.V́ sự cấu tạo của Nhà Nước cùng các cơ chế
của nó được cụ thể hóa trong hành vi pháp lư này. Theo chúng tôi t́m
hiểu và được biết, th́ qủa có các bản Hiến Pháp có thể dựa theo
phong tục, tập quán, nhưng không ghi thành văn bản, cũng có các bản
Hiến Pháp được ghi chép thành bản văn rơ ràng. Nhưng sự quan trọng
là bản Hiến Pháp phải được xác định bằng một h́nh thái đồng quyết.
Có nghĩa là được mọi người dân chấp thuận, là toàn dân bầu cử Quốc
Hội để chọn các vị cầm quyền và trao cho các vị trách nhiệm lănh đạo
Quốc Gia. Để qua đó họ thực thi nhiệm vụ và quyền hành được người
dân tín nhiệm và giao phó. Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Nước Việt Nam
tuy có bản Hiến Pháp ghi thành văn, nhưng bản Hiến Pháp đó không do
toàn dân đồng quyết và chấp thuận như chúng tôi nói trên. Bản Hiên
Pháp đó là do Đảng Cộng nặn ra, nên hoàn toàn chuyên chế và độc
đoán, độc tài, không phục vụ đích thực quyền lợi cho toàn dân và
phụng sự Đất Nước.
Thế
nên ở đâu là sự quan trọng của bản Hiến Pháp trong tinh thần của mọi
người dân? Thưa bản Hiến Pháp phải đuợc Quốc Hội và những cố vấn
chuyên về Hiến Pháp Học và Luật Pháp Học soạn thảo. Ho là những
chuyên gia già kinh nghiệm nghiên cứu và học hỏi, rồi ghi chép các
điều luật, các quyền lợi hợp với ư chung của toàn thể người dân.
Hiến Pháp được xem là mẫu mực để mọi người dân bất phần là ai, là
tổng thống, thủ tướng, nghị sĩ hoặc người dân, tất cả đều phải tôn
trọng Hiến Pháp. Cũng thế, bản Hiến Pháp được xem là một khuôn khổ,
không bất biến, bất dịch, nhưng b́nh thường th́ vững chắc, hầu tạo
nên sự bảo đảm ổn định và b́nh an cho toàn dân. Qủa đúng nhu thế!
Theo chúng tôi học hỏi, th́ vào thời tiền sử, một cách đặc biệt tại
thành phố Athène bên Hy Lạp, người dân ở đó đă có bản Hiến Pháp.
Cũng thế người ta khám phá ra được nhiêu bản Hiến Pháp có từ thời
Trung Cổ, nhất là kể từ thế kỷ XVIII cho đến hiện nay.
Như
chúng tôi t́m hiểu về từ Hiến Pháp, khi người ta nói đến từ ngữ « Hiến
Pháp, Consitution », tiên khởi chữ Hiến Pháp người ta viết số nhiều
để chỉ các bản Hiến Pháp khác nhau giữa các văn bản Hiến Pháp của
Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Nga, Đức, Pháp, Ư v.v.. Quả thực có sự khác biệt
giữa các bản Hiến Pháp của các Quốc Gia này. Nhưng điều làm cho
người ta lưu ư, chính là sự ư nghĩa trong mọi cảnh ngộ và trong tất
cả trường hợp của một bản Hiến Pháp. Ví dụ, như việc định nghĩa chủ
quyền tối thượng của Quốc Gia, xác định các vai tṛ, nhiệm vụ, và
bổn phận của các người cầm quyền, cùng xác minh mục đích các việc
làm của họ, hay nói rơ các cách thức thực thi quyền hạn và thẩm
quyền của họ v.v., hoặc nói rơ các điều khác như quyền lợi của người
dân, và các nhân quyền… Mọi điều này được ghi rơ ràng trong bản Hiến
Pháp và yêu cầu mọi người dân đều tôn trọng cùng thực thi nghiêm
chỉnh. Song trước hết bản Hiến Phái phải xác định các quy chế, điều
lệ cho các người cầm quyền, hay hơn th́ bản Hiến Pháp ghi rơ các quy
chế trước hết cho họ.
Do
thế chúng tôi nghĩ, để tham chiếu vào bản Hiến Pháp, th́ đây là sự
trả lời và xác định rơ các công việc của người có chức quyền cũng
như của mọi công dân. Bản Hiến Pháp cũng giúp các người cầm quyền tự
chủ được ḿnh trong khi hành sử quyền hành, hầu giúp họ ḥa hợp đuợc
các công việc thực thi quyền hành cho lợi ích chung của Đất Nước.
Bản Hiến Pháp cũng làm phân tán quyền hành, hầu không có tŕnh trạng
tập trung quyền hành vào cho một cá nhân, cho một nhóm nguời như Bộ
Chính Trị của phỉ quyền Hà nội, hay chỉ duy một Đảng phái lănh đạo,
như bản Hiến Pháp của Nhà Nước Công Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đă
dành đặc quyền cho Đảng thổ phỉ của Hà Nội lănh đạo. Vả nữa, bản
Hiến Pháp tạo nên cho tất cả mọi người dân sức mạnh của Luật Pháp,
và họ là người thực thi đúng Luật Pháp chung của Quốc Gia. Qủa Hiến
Pháp minh định rơ như thế, th́ được xem là hiệu chính và tu bổ thêm
pháp lư của của các hiện tượng chính trị, ( mà chúng ta rơ chính tri
dễ đưa đến quyền lực). Bởi thế, bản Hiến Pháp phải có các quy chế
trừng phạt, cũng như đưa ra các điều khoản tùng phục vào một nền
tảng pháp lư chính trị. Nhờ vậy mà Hiến Pháp mới giúp làm vô hiệu
hoá các ư muốn « bốc đồng, tùy thích » của các cá nhân cầm quyền một
cách độc đoán, độc tài như Lénine, Stalin, Hitler, Mussolini, Mao
Trạch Đông, Đặng Tiểu B́nh, Hồ Cẩm Đào, cha con Kim Nhật Thành,
Polpot, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng v.v. Dó
đó chúng tôi nghĩ, bản Hiến Pháp khi được ghi lại và tuyên bố với
quần chúng, th́ xin các nhà làm Luật và Hiến Pháp cho Quốc Gia, phải
có các dự đoán và tầm nh́n xa này. Thêm nữa, nhờ qua sự nh́n xa và
rộng này, hầu giúp cho các nhà lănh đạo, các chức sắc cầm quyền cai
trị cùng các người dân làm tṛn được nhiệm vụ của ḿnh đối với Quốc
Gia và Dân Tộc.
Thực
thế Hiến Pháp lập nên nhờ các việc chính xác và hợp pháp của họ. Và
cũng từ đó, khi một chánh quyền có Hiến Pháp minh xác, th́ các nhà
cầm quyền phải bảo đảm được phẩm tính nhân đức của bổn phận và trách
nhiệm lúc được người dân ủy thác cùng tín nhiệm. V́ vậy mà Tổng
Thống Nước Mỹ khi tuyên thệ nhậm chức phải đặt tay ḿnh trên cuốn
sách Thánh Kinh, thề cố gắng làm tṛn trách nhiệm của ḿnh với Tổ
Quốc và toàn Dân. C̣n nữa, nhiều Hiến Pháp Quốc Gia đ̣i hỏi vị Tổng
Thống phải có nhân cách đạo đức cá nhân trong gia đ́nh cũng như
ngoài xă hội. V́ danh dự của Quốc Gia, v́ ích lợi của người dân, nên
Hiến Pháp Quốc Gia đ̣i hỏi ở các vị cầm quyền chăn dân cần có những
giá trị đạo đức cá nhân này. Thật sự con người chỉ có thể điều hành
guống máy Nhà Nước tốt đẹp, công bằng cùng thăng hóa Đất Nước, qủa
thực một phần lớn nhờ vào các nhân đức cá nhân cùng tài năng lănh
đạo của Quốc Trưởng : « tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ »
là đây. Để từ ư đó, chúng tôi nghĩ rằng phải có một điều khoản ràng
buộc họ, phải có một cái tên cho họ áp dụng, để bảo đảm cho các vị
cầm quyền thực hành công việc chung: đó là bản Hiến Pháp có Công
Lư,Công Bằng, Công,Ḿnh, B́nh Đẳng, Tự Do, Đa Đảng, Nhân Quyền, Nhân
Ái, Nhân Luân, Dân Quyền, Pháp Trị, Quyền Lợi, Bổn Phận và Trách
Nhiệm… Để rồi qua bản Hiến Pháp định rơ các điều kiện, các nhu cầu
căn bản của lẽ sống con người, và nhờ qua các điều kiện cùng các nhu
cầu nói này hầu giúp tất cả mọi người dân cảm thấy được sự thoải mái
sống trong một Quốc Gia mà Nhà cấm quyền biết tôn trọng họ. Thế nên,
Hiến Pháp là dấu chỉ giúp cho các Nhà cầm quyền cùng người dân xem
như cái nền tảng chính thức hóa và hợp pháp hóa của họ. Hơn nữa, như
câu nói thời danh của Jean-Jacques Rousseư là : « để trở nên hợp
pháp hóa , th́ không có sự nhầm lẫn giữa guồng máy chánh quyền với
chủ quyền (quốc gia), nhưng đó là sự thừa hành công việc của Nhà
Nước » (51).
Do
thế, Hiến Pháp ban cho những người cầm quyền có được các cơ cấu của
Nhà Nước. Tuy nhiên qúy vị hiểu, không phải trong ư nghĩa là những
người cầm quyền tạo nên ư muốn hợp tác chung, khi trước đó đă có
Hiến Pháp. Đây cũng là các tư tưởng khác nhau của nhiều chính khách
người Đức vào cuối thế kỷ XIX. Đơn cử như Gierke, theo ông nghĩ răng
các nhà cầm quyền có các cơ quan công quyền trong một ư nghĩa hoạt
động. Họ đóng góp thực sự, và hợp thành ư muốn chung của cá nhân
ḿnh, để rồi các nhà cầm quyền thực hiện một sự việc đă được cho
phép. Tuy nhiên, sự cho phép này với một điều kiện là làm triệt tiêu
cái tôi cùng sự tham vọng của họ. Bởi sức mạnh cho nhà cầm quyền
thực hiện các công việc chỉ được xem là sức mạnh riêng, mà họ chỉ là
các « khí cụ » của quyền hành Nhà Nước để làm các công việc chung
cho Đất Nước. Nhà Nước sử dụng họ có tính cách ích lợi chung cho
toàn dân. Cũng thế, chúng ta hiểu rằng cái quyền hành ban cho này
cũng có cái mục đích của nó, để khi các người cầm quyền thực thi
quyền hành, th́ chúng ta nhận thấy ở họ hoàn thành được nhiệm vụ của
ḿnh. Nhất là, người cầm quyền mặc cho ḿnh giá trị pháp lư của Nhà
Nước.
Do
thê, để trở nên các điều như trên, tất ư muốn của các nhà cầm quyền
vẫn phải c̣n tuân hành vào quy chế, vào các khoản luật và quy tắc
được xác định, xác minh rơ ràng của Hiến Pháp. Nhờ các việc làm
nghiêm chỉnh của các người cầm quyền, nhờ bản Hiến Pháp ghi rơ các
điều lệ minh bạch, hầu giúp cho những công việc chung được diễn tiến
tốt đẹp, không hẳn cho các vị lănh đạo nhưng cũng cho hết thảy mọi
người dân. Chúng tôi nghĩ rằng Hiến Pháp là của mọi người dân, không
dành riêng độc quyền cho một Đảng phái nào lănh đạo Đất Nước (như
Hiến Pháp của phỉ quyền Hà Nội, ở điều IV đă dành độc quyền cho
Đảng thổ phỉ Việt cộng, cho nên đă gây biết bao thảm họa cho Đất
Nước và Dân Tộc cùng người Dân Việt chúng ta). Bởi Hiến Pháp khi
dành riêng cho Đảng minh (độc Đảng), th́ dễ gây nên độc đoán, độc
tài, bạo chúa, và trở nên « thần linh » hóa cá nhân cùng Đảng hóa
như gương các nước cựu Liên Sô, Đông Âu, Trung Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba,
Lào, Cu Ba vv.. Do vậy, khi lập Hiến Pháp phải ghi rơ cho nhiều Đảng
phái, hay các đoàn thể, những người đối lập, được có quyền sinh hoạt
chính trị và xă hội , với mục đích là phục vụ dân chúng và Đất Nước
giàu mạnh, hạnh phúc cùng an lạc. Hơn nữa, qúy vi rơ Nhà Nước cần có
các đảng phái và người đối lập sinh hoạt chính trị chung, th́ tránh
được nạn chủ quan sai lầm, ngăn cản được các thể chế độc tài chuyên
chính, các nhà độc tài vô luân và vô đạo.
Chúng
tôi thiết tưởng khi chúng ta nắm được Chánh Quyền, và tạo nên các
người cầm quyền của các cơ quan chánh phủ, th́ chúng tôi xin các vi,
nhất cử nhất động lúc thực thi công việc, nên học hỏi, tham chiếu
Hiến Pháp, hầu tránh cho qúy vị các lỗi lầm, các sai trái, cũng như
tránh cho Chánh Quyền khỏi rơi vào quyền lực « cá nhân hóa, bè phái
hóa, tham nhũng hóa, hối lộ hóa, tệ nạn haó, trộm cắp hóa, cướp của
hoá, dối trá hóa, gian xảo hoà, bạo lực hoá và khủng bố hóa v.v..
thành một chính sách như của Đảng cộng và Nhà Nuớc Hà Nội, làm thối
nát, suy yếu cả Đất Nước, mà dân chúng Việt gọi cho bọn chúng một
cái tên là « tập đoàn mafia đỏ hoặc đảng mafia đỏ ». Cũng như nhờ
học hỏi và tham chiếu đó, giúp cho qúy vị hiểu được cái ǵ thuộc về
quyền hành phục vụ công ích cho Quốc Gia, cho Đồng Bào, và cái ǵ
thuộc về con người ích kỷ, cá nhân hoá, gia đ́nh hóa, đảng hóa v.v..
Nói tóm lại, nhờ Hiến Pháp minh định mà có các tư tưởng Luật Pháp
minh bạch, tất tạo nên sức mạnh vô hiệu hóa quyền hành hoặc quyền
lực trong tay một người, hay một nhóm người.
Chúng
tôi nghĩ bản Hiến Pháp lúc sinh thành cần được soạn thảo kỹ lưỡng,
và được tham khảo cùng viết ra không quá nhắm mục đích vào các giá
trị của thiên tài chính trị (le genie politique). Song nhờ vào bản
Hiến Pháp như « Kim Chỉ Nam » hướng dẫn chúng ta, hướng dẫn mọi
người quy hướng về các điều ích lợi, vào các kinh nghiệm tốt đẹp của
con người, của các thể chế dân chủ, của các giá trị văn hoá đạo đức
và các giá trị luân lư phong tục tốt đẹp v.v. của cha ông ta. Những
giá trị nói này làm nên giá trị văn hiến cho Quốc Gia, làm nên các
gía trị nhân bản cho con người, cùng tạo nên văn minh tiến bộ cho
Đất Nước. Cũng từ ư nghĩa này, mà hành động của các người cầm quyền
sẽ phải thích ứng và tuân thủ vào các quy tắc nền tảng đă được tuyên
bố qua bản Hiến Pháp. Điển h́nh Luật Nhân Quyền, mà chúng tôi đă bàn
đến trong bài « Xây Dựng Những Giá Trị Căn Bản Cho Xă Hội Chính
Trị ». Thế nhưng chúng tôi cũng xin được phép bàn luân tiếp một tiết
mục ở chương sau với quư vị.
Do
thế, chúng tôi nghĩ rằng Hiến Pháp (mới) là một khúc quanh của lịch
sử Đất Nước, là một sự quyết định rất quan trọng của chúng ta, là
những người Quốc Gia c̣n nghĩ đến sự tồn vong của Dân Tộc mai sau
(thời hậu cộng sản). Vả nữa, chúng tôi cũng nghĩ bên cạnh Nhà Nước
thường phải có một cơ quan đặc biệt : có các nhà chuyên môn về Hiến
Pháp và Luật Pháp Quốc Gia và Quốc Tế, cùng những vị cố vấn uyên bác
trong nhiều lănh vực chính trị, văn hoá, xă hội, kinh tế, quốc pḥng
v.v., để theo dơi sự hiệu lực và hiệu nghiệm của Hiến Pháp cùng làm
tṛn nhiệm vụ và bổn phận của ḿnh, là Hiến Pháp Hóa cho Quốc Gia
(La Constitutionnalisation de l’Etat). Nhờ đó mà chánh quyền đạt
được các thành quả của nhiều lănh vực như chính trị, văn hóa, xă
hội, kinh tế vv., và đời sống an sinh của người dân. V́ thế, Hiến
Pháp đă trở nên cái khung cảnh của đời sống chính trị, của đời sống
người dân, Hiến Pháp hằng nhắc nhở chúng ta trong mọi trường hợp,
trong tất cả mọi cảnh ngộ, để rồi qua lời phán đoán của vị Thẩm Phán
Hiến Phán giúp cho các nhà cầm quyền ư thức lại hành động vi hiến
của ḿnh hơn.
6.8. Thế
Quân B́nh Của Quyền Hành Riêng Biệt
Qua
phần này chúng tôi xin phép nói đến một h́nh thái đặc biệt của việc
Hiến Pháp Hóa, đó chính là cái nền tảng của lịch sử, là cái quyền
hành riêng biệt tạo nên sự quân b́nh. Điều này chúng tôi muốn nói là
sự độc lập riêng của dân chủ hóa. Điều này cũng là sự chính xác của
tư tưởng tự do xưa kia, mà người tŕnh bày tư tưởng này chính là
Montesquieu thời danh của Pháp và nhân loại. Tư tưởng của ông dựa
vào sự điều ḥa của quyền hành, là nhờ vào các cơ quan của quyền
hành, để khỏi tập trung hóa quyền hành và quyền lực vào một người
(hoặc một vài người như Bộ Tà Trị của Hà Nội », có nghĩa là chia
quyền hay tản quyền. Qủa thật đây là những tư tưởng độc đáo của
Montesquieu, hầu thắng lại và giảm bớt theo « luật thừa trừ » của
một quyền hành bởi một quyền hành khác. Và qua quyền hành đó, th́
quyền hành đầu không không thể vượt quá.
Giờ
dây chúng tôi xin tóm lược đôi gịng tư tưởng của Montesquieu :
chính thể dân chủ và chính thể qúy tộc (aristocratie, aristocracy)
không phải là các Nhà Nước Tự Do bởi bản chất của nó. Sự tự do chính
trị chỉ bắt thấy ở trong các chánh quyền dung ḥa. Song tự do chính
trị đó lại không có luôn trong các Nhà Nước dung ḥa. V́ tự do chính
trị chỉ có khi nguời ta không lạm dụng quyền hành. Theo ông sự lạm
dụng quyền hành đó là một cái ǵ thường hằng mà người ta nghĩ đến
phải lạm dụng nó. Tuy nhiên Monstesquieu nghĩ rằng quyền hành phải
nhận thấy được sự giới hạn của nó. Và ông nói rằng phẩm hạnh của con
nguời chính là đ́ều kiện của sự giới hạn này. Để rồi nhờ đó người ta
không thể lạm dụng quyền hành. Cũng chính nhờ sự đề nghị đưa ra các
sự việc này, th́ chính quyền hành ngăn chận quyền hành (52). Do thế,
chúng tôi nghĩ phải sinh thành một bản Hiến Pháp với tinh thần
thượng tôn Luật Pháp, th́ mới giúp cho con người không làm những
việc trái nghịch. Cũng nhờ bản Hiến Pháp đó, được xem là « hàng
rào » ngăn chận được các người cầm quyền có tham vọng độc tôn quyền
hành cùng quyền lực và trở nên bạo chúa.
Chúng
ta thấy tấm gương cụ thể của người xưa theo tinh thần của
Montesquieu là Nước Anh. Ông nghĩ phải có một quốc gia trong thế
giới này có lư do trực tiếp thể hiện bản Hiến Pháp của ḿnh, theo
con đường của sự tự do chính trị (53), Nhưng làm thế nào có được như
lời Montesquieu nói? Chúng ta nghe ông trả lời như sau :« mỗi một
quốc gia có ba quyền hành khác nhau, là quyền hành lập pháp, c̣n
quyền hành của hành pháp th́ tùy thuộc vào quyền lợi của người dân,
và quyền hành pháp như thế th́ tùy thuộc vào dân luật. Qua quyền
hành thứ nhất, ông Hoàng hay vị Thẩm Phán làm nên các luật cho một
thời hạn hoặc là cho măi măi ; và họ có thể tu chỉnh hay băi bỏ các
luật mà họ làm nên đó. Qua quyền thứ hai, họ tạo ḥa b́nh hay chiến
tranh, gủi các vị đại sứ hoặc tiếp nhận các vị đại sứ của nuớc bạn,
hầu thiếp lập sự an toàn, cùng dự pḥng các sự xâm lược. Qua quyền
thứ ba, là quyền tư pháp, th́ họ có thể trừng phạt các tội nhân hay
phân xử những cuộc tranh chấp. Người ta sẽ gọi quyền cuối cùng là
quyền tư pháp (pháp lư), và hai quyền trước đơn thuần là quyền hành
của Nhà Nước (54). Chúng tôi nhận thấy sự phân định các quyền hành
Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp thật rơ ràng. Đó cũng là lư do chúng
tôi xin được tóm lược đôi gịng tư tưởng thâm sâu của Montesquieu
cho chúng ta cảm nghiệm, theo ông th́ trong cùng một con người đó
hoặc cũng là chính vị thẩm phán của ngành lập pháp taọ kết hợp với
sức mạnh của ngành hành pháp, th́ thực không có tự do chút nào. Bởi
người ta có thể sợ rằng chính ngay vị quân vương hay các ông nghị
thượng (sénat) sẽ tạo nên các luật bạo ngược, để rồi họ thực thi các
việc tà đạo và tàn bạo. V́ vậy sẽ không có thực sự tự do nếu người
ta không tách biệt các vị thẩm phán ra khỏi quyền lực của lập pháp
và hành pháp. Nếu như quyền tư pháp gằn liền với quyền lập pháp, th́
quyền hành ở trên đời sống và sự tự do của người dân, từ đó sẽ thành
độc đoán, độc tài chuyên chế, bởi v́ các vị thẩm phán đă là các
người làm luật (legislateur, legislator or lawmaker). C̣n nếu như
ngành tư pháp gắn chặt với ngành hành pháp, th́ các vị thẩm phán có
thể có một sức mạnh của người áp chế (55). Quả nghiệm đúng thay tư
tưởng sâu sắc của Montesquieu vẫn c̣n sống thực cho đến ngày hôm
nay, khi chúng ta nh́n lại quảng thời gian dài sống cùng với Việt
cộng sau biến cố năm 1975. Ai trong chúng ta hoặc người dân Việt Nam
không có kinh nghiệm hoặc không rơ bản chất của cộng sản, dù họ là
Nga cộng, Tàu cộng, Bắc Hàn cộng, Cu Ba cộng, Việt cộng, Lào Cộng
vv., th́ chúng vẫn là cộng sản. Đă là cộng sản, th́ thực sự không có
tự do, đa đảng, nhân quyền, chỉ luôn có chuyên chế, độc tài, áp chế.
khủng bố…V́ đó chính là bản chất của chúng, của chủ thuyết họ. Do đó
mà thể chế xă hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa, th́ măi măi và
măi măi không bao giờ thực hiện đúng và tôn trọng ba cái quyền tách
biệt này như tư tưởng nhân bản và độc đáo của Montesquieu có hơn hai
thế kỹ rưỡi này rồi. Chính nhờ tư tưởng nhân bản tuyệt hay cùng thực
tế của Montesquieu, th́ nay đă trở thành là một học thuyết về Hiến
Pháp (Constitutionnalisme), được chia ra ba quyền lập pháp, tư pháp
và hành pháp tách biệt. Riêng với người cộng sản th́ ba quyền này họ
chỉ muốm gom lại một quyền cho Đảng lănh đạo. Dẫu chúng ta thấy
người cộng sản có Quốc Hội, nhưng Quốc Hội của họ chỉ là thứ bù
nh́n, c̣n Nhà Nước hay Tư Pháp th́ chỉ là h́nh thức theo với người
ta cho « màu mè », nhưng thực chất của Quốc Hội chúng là « công cụ,
nô bộc, gia nhân » của Đảng cộng nặn ra, và theo lệnh Đảng chỉ đạo
mà hành sự.
Chúng
tôi ví người người cộng sản hay Việt cộng cũng giống như cón rắn hổ
mang. Con hổ mang có thay đổi lột ra bao nhiều lần đi nữa th́ rắn
vẫn vĩnh viễn là loài rắn không thể hoá rồng. Ai dám bảo rắn hổ
mang khi thay đổi lột da th́ rắn hổ mang cắn không chết người, nọc
nó đă hết độc rồi chăng? Hay nữa, chúng tôi ví họ như con tắc kè
thay đồi màu da : khi th́ nâu, khi vàng, khi màu xanh, màu lục v.v.,
cho phù hợp với môi trường sinh tồn của nó, và khi con tắc kè thay
đổi màu da, nó không c̣n là con tắc kè nữa chăng? Do hai h́nh ảnh cụ
thể hiện thực này, th́ với người cộng sản Việt và chế độ Hà Nội cũng
thế thôi, chúng cũng giống như con rắn hổ mang khi thay da, và con
tắc kè lúc đổi màu sắc của da bên ngoài khi lâm nguy. Bởi thế, nay
chúng đóng vai thế này, mai chúng đóng vai thế khác cho phù hợp với
chiến lược, sách lược và chiến thuật của chúng để sinh tồn. Qủa là
« lố bịch » của những chiếu kế phủ dụ, tung lắm « hỏa mù » của Việt
cộng : nào Nguyễn Hộ với những lá thư trần t́nh, nào Trần Độ với
những lá thư xây dựng Đảng, rồi Vơ Văn Kiệt, qua lá thư « hở » gửi
Bộ Chính Trị, nào Dương Thu Huơng toát miệng chửi Đảng như tát nước,
nào Vơ Nguyên Giáp lên tiếng qua nhiều lá thứ phân trần về việc cho
Tàu cộng khai thác Bauxite vv. ôi nào là giao lưu văn hóa, t́nh tự
dân tộc và giúp đỡ nước nhà, thêm nữa kiểu nịnh đầm cùng vuốt ve
người Việt tị nạn cộng sản chúng ta là « khúc ruột ngàn dặm » của
Quê Hương. Thực là mặt chai mày đá, chúng chỉ thực dụng cái thủ đọan
« xỏ lá ba que » của Đảng cộng Hà Nội nặn ra.
Do
thế, chúng tôi với một tấm ḷng tha thiết của ngườiViệt Quốc Gia,
xin qúy vị là những người Quốc Gia nên nghĩ đến sự hưng thịnh của
Đất Nước và hạnh phúc của Đồng Bào. Để từ ư nghĩa chính đáng này
chúng tôi xin các Đảng phái Quốc Gia, các Hội Đoàn tranh đấu, các
nhà làm chính trị, làm cách mạng vv, xin quư vị b́nh tâm nghĩ cho
sâu : là chớ có thỏa hiệp với Việt cộng, với phỉ quyền Hà Nội bằng
chiêu bài của chúng là « ḥa giải, hoà hợp dân tộc, hay là đối thoại
với tinh thần dân chủ ». Chúng tôi xin thưa với quư vị rằng, chúng
ta vẫn là một dân tộc Việt, có hai dân tộc đâu mà ḥa hợp dân tộc.
Vẫn nói tiếng Việt, có nói tiếng Mỹ, tiếng Pháp, Đức và Nga cùng Tàu
đâu v.v. Vẫn da vàng, tóc đen, như chúng tôi đă bàn qua về ư nghĩa
dân tộc và quốc gia ở các chương trên. Thế nên sáu chữ « hoà giải,
hoà hợp dân tộc » nghe qua đă thấy nghịch tai. Đi xa hơn nữa đă là
nghịch lư cho những lời kêu gọi này. Chúng tôi là những người Quốc
Gia không chối bỏ ḿnh là người Việt. Chỉ có người cộng sản Việt,
chối bỏ cội nguồn, chối bỏ dân tộc, đạo lư của tổ tiên ông bà mà cam
ḷng theo cái lư thuyết tam vô « vô tổ quốc, vô gia đ́nh, vô tôn
giáo ». Lư ra Việt cộng mới chính là ngựi xin hoà giải cùng trở về
với Dân Tộc, hầu ḥa hợp lại với người dân, cũng như nhận mọi lỗi
lầm, tội ác của ḿnh với Đất Nước và Đồng Bào.
Từ ư
thức đó, để có những bước đi ḥa giải và ḥa hợp với dân tộc hay đối
thoại trong tinh thần dân chủ, là khi chúng ta thấy phỉ quyền Hà Nội
có thực tâm làm những công việc sau : thú nhận các tội lỗi của ḿnh
đối với Đất Nước và Đồng Bào một cách công khai, tiếp đến là giải
tán Đảng cộng sản, giải thể các ngành công an, mật vụ, t́nh báo, v́
nó là công cụ, tai mắt, vũ khí sắc bén của Đảng tạo ra để đàn áp và
bắt bớ, khủng bố người dân. Tiếp nữa là đ́nh chỉ tức khắc các tờ báo
Đảng như Nhân Dân, Lao Động, Sài G̣n Giải Phóng. Công An, An Ninh
v.v. là các văn nô, thi nô, báo nô của Đảng. Thêm nữa, Hà Nội phải
trả tự do ngay cho các tù nhân lương tâm, chính trị và tôn giáo vô
điều kiện. Sau, là giải tán tức khắc Quốc Hội v́ chỉ là bù nh́n, rồi
cho bầu cử một cách tự do, mọi công dân đều có quyền ra ứng cử kể cả
những người đối lập. Cuộc bầu cử Quốc Hội hay Tổng Thống phải có sự
giám sát của Liên Hiệp Quốc và các cơ quan truyền thông, truyền h́nh
cũng như báo chí quốc tế thẩm định, hầu cho việc bỏ phiếu vừa có
tính cách dân chủ vừa có tính cách khách quan.
Sau
cùng, chúng tôi nghĩ Hà Nội phải phục hồi danh dự cho các chiến sĩ,
các tù nhân chính trị. Bồi thường xứng hợp cho các nạn nhân bị họ
bắt bỏ tù, vu oan hoặc bắn chết : điển h́nh như vụ thảm sát Tết Mâu
Thân năm 1968 ở Huế, mà Hà Nội đă bắn chết cùng chôn sống hơn năm
ngàn người dân lành xứ Kinh Thành hiền ḥa. Hoặc nữa là các vụ cải
cách ruộng đất, đánh tư sản mại bản, đày dân miền Nam đi kinh tế
mới, cướp nhà ruộng vườn, cướp vợ của dân Nam. Qủa khi người cộng
sản Việt và Hà Nội can đảm làm được các việc chúng tôi nói đây, th́
đây mới chính là sự tỏ hiện sự thật tâm của họ muốn quay về với ḷng
Dân Tộc trong tinh thần « ḥa giải, ḥa hợp dân tôc ». Để rồi trong
t́nh anh em con một Mẹ Âu Cơ và một Cha Lạc Long Quân, sinh ra cùng
một bọc, th́ lúc đó chúng ta và họ mới có thể ngồi lại bàn thảo cùng
nhau trong tinh thần dân chủ tương kính lẫn nhau, hầu lo chung cho
việc tái thiết cùng xây dựng lại Đất Nước. Trái lại Hà Nội vẫn cố đi
ngược lại các điều chúng ta đề nghị ra đây, cứ c̣n khăng khăng cố
chấp bám lấy cái chủ nghĩa xă hội cộng sản làm mục đích cùng tham
vọng cho quyền lực của họ hay Đảng cộng, th́ không c̣n ǵ để nói và
để bàn luận cùng đối thoại về việc « ḥa giải, ḥa hợp dân tộc ». V́
theo cách đó của phỉ quyên Hà Nội, tức làm trái đi lư tưởng của
người Quốc Gia chúng ta. Không khác ǵ chúng ta là những người tiếp
tay cho giặc, cho bạo lực, cho cường quyền Việt cộng xiết thêm sợi
dây thọng lọng vào cổ dân, giúp cho họ thêm những cái kềm để ḱm kẹp
chặt cứng đồng bào ta. Bởi chính trị không phải cứ lấy tinh thần dân
chủ mà đem ra đùa chơi với bạo lực cường quyền, quân vô đạo, vô
luân, th́ vẫn c̣n ấu trĩ với việc làm chính trị. Như ông bà ta dạy :
« ai chơi dao th́ có ngày đứt tay, đùa với chó có ngày chó liếm mặt,
đi đêm có ngày gặp ma ». Bởi thế, để pḥng bị xa cho con cháu, ông
bà chúng ta để lại các lời khôn ngoan, khuyên dạy : « làm thầy
thuốc, có bốc thuốc sai lầm th́ chỉ hại có một người, c̣n làm chính
trị sai lầm thi giết chết cả một dân tộc » Thực là chí lư và thâm
thúy thay các lời cha ông nhắn nhủ ! Và cái gương làm mất Miền Nam
v́ những tay làm chính trị. làm cách mạng « gà mơ » như Dương Văn
Minh, Trần Văn Đôn, Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, Mai
Hữu Xuân, Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên, Nguyễn Cao
Kỳ vv., họ chỉ tham danh, tham tiền, háo sắc, tham sống, sợ chết,
giặc cộng chưa đến nơi th́ đua nhau đào ngũ, chạy trốn như những kẻ
hèn nhát. Không có được cái hào khí can đảm, tự trọng và danh dự như
các Danh Tuớng Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên
Vỹ, Trần Văn Hai, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Nguyễn Văn Long vv.,
là những anh hùng không chịu hàng giặc, can đảm chiến đấu cho đến
giờ thứ 25, và biết cách tự xử ḿnh của người làm tướng, của người
chỉ huy : thực xứng danh lưu truyền cho hậu thế soi gương bắt
chước. Hào Hùng thay là Một Nam Tử Việt không làm xấu mặt Tiền Nhân
và Đất Nước cùng Dân Tộc với người và với đời.
Chúng
tôi có đôi lời tâm huyết muốn nói lên những sự thực này cùng qúy vị,
dẫu những điều nói này có mích ḷng một ai đó, nhưng đó là một sự
thực, và sự thực th́ không thể nào phủ nhận được, đă là sự thực th́
ai cũng muốn tỏ. Nhất là, không ai có thể lấy bàn tay ḿnh mà có thể
che được hết ánh nắng mặt trời. Hơn nữa, như chúng ta đă thấy, đă
biết, là người cộng sản Việt và phỉ quyền Hà Nội chưa làm được một
hành động ǵ gọi là trung tín, trung nghĩa, nhân ái với đồng bào ta
từ lúc họ cướp được quyền cai trị từ ngày 2.9.1945 cho đến nay. V́
ngay cả cha mẹ đẻ ra ḿnh mà Việt cộng c̣n chối bỏ, đem ra đấu tố,
chặt đầu, xử bắn không một chút xót thương. Hay những bà mẹ nuôi như
má Nguyễn Thị Năm, là đại ân nhân nuôi ăn, góp của, giúp đỡ, che
chở cho Hồ Chí Minh. Trường Chinh, Lê Đức Thọ vv., mà chúng cũng đem
ra nhục mạ, đấu tố và bắn bỏ. Thêm nữa, những người sát cánh cùng
một Đảng của chúng, chúng cũng bắt bỏ tù hảm hại cho đến chết như
ông Vũ Đ́nh Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang vv.. Vả nữa, đến
như con trai ḿnh, là giọt máu ḿnh tạo ra, thế mà Hồ Chí Minh vẫn
bỏ rơi. Rồi những phụ nữ được xem là vợ của ḿnh chung chăn, tay
gối má ấp là Nguyễn Thị Minh Khai và Nông Thị Xuân, Hồ Chí Minh c̣n
ra lệnh ngầm cho đàn em là Trần Quốc Hoàn tự do được thỏa măn dục
tính rồi sau đó t́m cách giết đi. Xin lỗi qúy vị, chúng tôi phải nói
lên đôi điều về thực trạng này cho rơ, hầu chúng ta tránh đuợc
những cám dỗ t́nh cảm, t́nh tự dân tộc hay máu chảy ruột mền. Bởi v́
chúng ta có một qủa tim nhạy cảm nên dễ bị mắc phải sự « ru ngủ »
t́nh tự dân tộc, họ cũng là anh chị em ta, là đồng bào ta, mà dễ rơi
vào cái « bẫy chiến lược cùng chiến thuật tinh xảo » và sách lược
phủ dụ của phỉ quyền Hà Nội. Chúng tôi xin được nhắc lại câu nói qủa
cảm can trường của cựu Tổng Thống Reagan nói cho thế giới biết trước
đây rằng « Điện Kremlin là ổ của sự dữ ». Có nghĩa ở đây đă tạo ra
vô vàn sự ác, biết bao nhiêu là thảm họa cho nhân loại! Hay như câu
nói khẳng định của cựu Tổng Thống Nga Boric Elsine « cộng sản chỉ đẻ
ra nghèo đói, dối trá, lừa đảo và tội ác ».
Chúng
tôi xin phép đuợc trở lại bài viết, thế đó sự riêng biệt hay tách
rời ba quyền hành nói trên là một việc bảo đảm cho sự điều ḥa của
quyền hành. V́ nhờ qua phương thức áp dụng và cách thế kiểu này, th́
sự tự do của các người dân được thể hiện nghiêm túc. Đây là bằng
chứng cụ thể tư tuởng của Montesquieu được áp dụng tại Anh quốc xưa
kia. Cũng thế, chúng tôi cảm nghĩ qua sự tách biệt và riêng biệt của
ba cơ quan quyền hành Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, th́ không chỉ
có một sự riêng biệt của chức vụ, song cũng có một riêng biệt của
cái quyền hành xă hội thực, được tác động bởi con đường đa dạng của
quyền hành chung, và nó được tách biệt giữa chúng với nhau. Do thế,
mà Georges Burdeau đă lưu ư đến điểm này khi ông nói : « sự tự do
không phải là một sản phẩm của một việc phân biệt giữa nhiệm vụ của
quốc gia cùng sự phân chia công việc của họ giữa các cơ quan khác
nhau » (56). V́ vậy, để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ hay công việc
nào, th́ ư muốn của Nhà Nước chỉ có thể lập thành các cơ quan công
quyền hầu tạo cho các kế họach, các dự án của chánh phủ được điều
ḥa và chạy đều. Trong tinh thần này, th́ Nhà Nước can thiệp vào
công việc bằng sự quan tâm, là chia đều các công việc cho các cơ
quan công quyền ; có như thế th́ hệ thống quyền hành được tản quyền
và cấu tạo nên một sự tiến bộ lớn trong con đường thể chế hoá Nhà
Nước là đây.
6.9. Một
Nhà Nước Pháp Quyền
Chúng
tôi đă nói qua ở các phần trên về một Nhà Nước Pháp Quyền. Nhà Nước
th́ phải là Nhà Nước Pháp Quyền, lẽ tự nhiên chính đây là của một
thể chế dân chủ pháp trị công minh.Qủa thực, theo nguyên tắc, th́
Nhà Nước phải là một Nhà Nước của các cơ quan công quyền thực thi
nhiệm vụ phục vụ người dân và phụng sự Đất Nước. Nhà Nước đó có Pháp
Quyền hẳn hoi, nó đương nghĩa chính thực của Nhà Nước, vượt lên trên
kiểu : « Nhà Nước chính là ta, L’Etat c’est moi » của vua Louis
XIV. Hay như kiểu nói « xấc xược » của Lê Đức Thọ « Đảng là tao, tao
là Đảng » (57). Đúng hơn, Nhà Nước là nơi thực thực thi tốt đẹp các
công việc thể chế hóa luật pháp và tuân thủ luật pháp. V́ trước khi
đ̣i hỏi việc thực thi dân chủ, th́ phải có một Nhà Nước Pháp Quyền,
đây là bước đầu tiên và nền tảng căn bản cho dân chủ cùng dân quyền.
Qúy vị hay chính bởi muốn có một Nhà Nước Pháp Quyền này, mà vào thế
kỷ XIX người dân Đức đă có tư tưởng loại bỏ nhũng ǵ c̣n lưu dấu
tích của chế độ phong kiến quân phiệt của người Phồ (đê quốc phổ có
Hung Gia Lợi, Áo, Đức vv). Cũng chính người dân Đức thời đó đă có
một thời kỳ sống theo chế độ độc tài trong trong thế kỷ XX với thể
chế Quốc Xă Hitler và sắc máu với Cộng sản Đông Đức. Cũng chính Đức
Cố Giáo Hoàng Phao Lô Đệ Nhị, Ngài đă nói rất mạnh vào các chủ
thuyết này vào năm 1991 trong các chuyển biến lớn của các năm trước
đó của Đông Âu, của Liên Sô và thế giới.
Nói
đến đây chúng tôi không thể nào quên được vị tiền nhiệm của Đức Cố
Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Đệ Nhị là Đức Giáo Hoàng Léon Thứ XIII,
cũng chính Ngài đă nhắc đến vào năm 1991 nhân kỷ niệm Bách Chu Niên
(100) năm Thông Điệp « Rerum Novarum-Tân Sự » thời danh. Trong Thông
Điệp Tân Sự Đức Léon XIII đă « trinh bày các cơ cấu của xă hội qua
ba quyền hành là : Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp ; và việc trinh
bày này của Đức Léon, được xem là một điều mới trong giáo huấn của
Giáo Hội Công Giáo » (58). Để qua đó, Đức Gioan Phao Lô Đệ Nhị nói
tiếp sự tin tưởng của ḿnh vào ba cơ quan công quyền này là : « với
các cơ cấu kiểu này th́ phản ảnh rơ một quan niệm thực tế của bản
chất xă hội con người, là đ̣i hỏi một pháp chế (lập pháp) thích ứng
để bảo vệ sự tự do cho mọi nguời dân. Trong tiến tŕnh này, Ngài ước
muốn cho mọi quyền hành được quân b́nh nhờ vào một quyền hành khác,
và cái quyền hành khác đó có thẩm quyền hầu duy tŕ được giới hạn sự
công b́nh của nó » (59). Qủa thực khi chúng tôi đọc đoạn văn này th́
thấy Ngài nhắc lại trực tiếp lư thuyết của Montesquieu. Để rồi Đức
Gioan Phao Lô lại nói tiếp « chính đây là nguyên tắc của Nhà Nước
Pháp Quyền », qua Nhà Nước Pháp Quyền th́ quyền hành tối thượng là
lệ thuộc vào Luật, chớ không phải vào các ư muốn độc đoán, độc tài
của con người » (60).
Do từ
ư nói trên, chúng tôi nhận thấy qua Thông Điệp này làm cho chúng tôi
ngạc nhiên cùng cảm phục, là được Đức Cố Giáo Hoàng dẫn hướng lại
hoàn toàn một Nhà Nước Pháp Quyền. Và Nhà Nước ấy tách biệt ra ba
quyền hành, là Tư Pháp, Lập Pháp và Hành Pháp, dựa theo ư tuởng và
lư thuyết của Montesquieu, hầu để điều ḥa cùng dung hợp quyền hành.
Thực chính nhờ sự tách biệt rơ ràng này tạo nên một h́nh thái là đặt
luật pháp cùng quyền lợi của người dân và Tổ Quốc lên trên hết, cững
nhờ vậy người ta mới có thể ngăn chận được những ai muốn trở thành
có quyền hành tuyệt đối. V́ thế, nhờ tách biệt hẳn ba quyền này, mà
nó tác động thành một Nhà Nước Pháp Quyền với nghĩa Nhà Nước tùng
phục Luật Pháp, tất đây chính là nền tảng căn bản trong sự tiến bộ
của chính trị, cũng như trực tiếp đối kháng lại sự độc tài chuyền
chế. Qúy vị đă rơ sự chuyên chế độc tài là cấu trúc tư tưởng của
những người marxiste-leniniste, đă đem lại cho những nhà lănh đạo
cộng sản như Lénine, Stalin, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu B́nh..
Causescu, Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Hô Chí
Minh, Lê Duẫn.. Polpot vv. có được một quyền hành tuyệt đối, và gom
lại mọi quyền bính và quyền lực trong tay họ.
Qúy vị cũng nên biết
trải qua các giai đoạn của các chế độ vua chúa ở vào những thế kỷ
XVII và XVIII, nhất là trong chế độ độc tài sắt máu của cộng săn của
thế kỷ XX vừa qua, đă tạo nên những xă hội nghèo đói, lạc hậu, ngu
dốt, gian dối, và cảnh thảm sát dân lành một cách rùng rợn dă man,
mà lịch sử đă ghi chép lại có hơn trăm triệu người dân chết oan uổng
với chế độ cộng sản này trải dài từ khối Liên Sô, Đông Đức, Tiệp
Khắc, Ba Lan, Hung Gia Lọi, Lỗ Ma Ni, An Ba Ni, Bun Ga Ri, Nam Tư,
Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Lào, Cam Bốt vv.(61). Do cái
thể chế cộng sản phi nhân, vô đạo lư đó, mà ngưởi ta nghĩ ngay đến
sự hiệu lực hệ trọng của một Nhà Nước Pháp Quyền, hầu có thể ngăn
chận được những sự độc tài chuyên chế loại này, đă giết hại và thảm
sát dân vô tội vạ hơn cả những loài thú dữ.
Từ ư nghĩa này, để
trước khi chúng ta muốn nói đến dân chủ, th́ tất nhiên đ̣i hỏi trước
hết phải có một Nhà Nước Pháp Quyền cho người dân. Có thể nói một
cách khác, một chế độ dân chủ đích thực, th́ chế độ ấy chỉ có thể
được sinh ra trong ḷng một Nhà Nước Pháp Quyền, cùng dưạ trên căn
bản của một quan niệm đứng đắn về con người của ḿnh. Nói như ư của
Đức Cố Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Nhị th́ đó có nghĩa là dân chủ. Sự dân
chủ nói này phải trên hết, phải có thực và trước tất cả mọi sự khác,
v́ đây là sự tôn trọng vào một Nhà Nước Pháp Quyền. Có nghĩa là tôn
trọng sư thật, công lư, công bằng, coi trọng con người và nhân quyền
của người dân. Buồn thay và đau khổ thay phỉ quyền Hà Nội không có
được một Nhà Nước Pháp Quyền như thế này, lư chính xác phải gọi họ
có một Nhà Nước Rừng Quyền hay Tà Quyền, Thồ Quyền mới đúng đích
thực những hành sử và cung cách xử thể vô pháp luật, vô văn hóa của
phỉ quyền Hà Nội và các cán bộ nô bộc cùng công an nô bộc của chúng
đối với người dân. Điển H́nh là những h́nh ảnh thời sự mới đây như
vụ đất Nhà Ḍng Thiên An, Toà Khâm Sứ Hà Nội, Giáo Xứ Thái Hà, Giáo
Xứ Tam Ṭa, Giáo Xứ Loan Lư và Tu Viện Bát Nhă vv., mà cả thế giới
đều lên án và cười chê cho một chế độ phi nhân, phi đạo đức, phi dân
tộc, vẫn c̣n tồn tại cùng sót lại vào thế kỷ 21 văn minh của tin học
và tiến bộ của mọi mặt kỹ thuật này.
Chớ ǵ qúy vị cùng
chúng tôi là những người chủ trương nhân bản và đạo nghĩa dân tộc,
hằng luôn xem trọng dân là gốc, dân tộc, quê hương là cội nguồn, là
chiếc nôi nơi minh sinh trưởng và nuôi sống chúng ta. Cũng như xem
ruộng vườn, sông nước, biển cả, đất đai, núi non cây trái của Đất
Nưóc Việt chúng ta là thân thể, da thit cùng máu huyết của tổ tiên
và cha ông chúng ta đă xây đắp bồi bổ cho Tổ Quốc thân yêu ta thêm
đẹp, thêm hùng vĩ và mỹ miều. Thân Xác, Máu Huyết và Hôn Thiêng của
Tổ Tiên Cha Ông chúng ta vẫn luôn quyện lẫn trong ruộng vường, trong
sông nước, biển cả, núi non và đất đai của Quê Hương ta. Do đó,
không thể để măi cho chế độ phỉ quyền Hà Nội cứ tồn tại và tác oai,
tác quái măi đối với ngựi dân và Đất Nước : nay chúng bắt người này
bỏ tù, mai kết tội người khác « phản động », hôm nay chúng cướp
ruộng vườn, đất đai tu viện này, ngày mai chúng cướp trắng trợn đất
giáo xứ khác một cách hiển nhiên dưới ánh sáng mặt trời. Hôm nay Hà
Nội nhượng đất bán biển, dâng đảo này cho Rợ Hán Trung Cộng, ngày
mai hay ngày mốt Hà Nội nhượng quyền hiến dâng cho bọn Rợ Hán Trung
Cộng đặc quyền khai thác các quặng mỏ và tài nguyên của Quốc Gia Dân
Tộc chúng ta.
Không thể để cho sự
thật, công lư và công bằng bị xem thường, và để Hà Nội hết ngày này
và ngày khác chà đạp măi người dân, rối xác thân của Tổ Tiên Cha Mẹ
bị chúng cứ cắt dần da thịt, rồi xương máu của Tổ Tiên Cha Mẹ chúng
hút mà bán, mà dâng cho ngoại bang măi. Xin đứng dậy và đứng dậy hởi
các vị lănh đạo tinh thần, lănh đạo tôn giáo, các nhà tri thức văn
hoá, các anh chị sinh viên yêu nuớc, các anh lính bộ đội quốc gia,
thành khẩn cần làm tṛn bổn phận đạo hiếu của chúng ta với Tổ Tiên
và Cha Mẹ, đó là bằng mọi cách phải giải thể cái chế độ nô dịch bán
nước, hại dân, giết dân này.
VII. SỰ KHÁNG CỰ, CÁCH
MẠNG VÀ NHÂN QUYỀN
Như các nhà chính trị xă hội học nói, th́ theo
thể chế Hiến Pháp có thể được xem là ít khiếm khuyết hay tương đối
hoàn mỹ hơn với phương cách phân chia quyền chính đáng của việc thể
chế hóa quyền hành. Và các quyền hành được định đó là Lập Pháp, Tư
Pháp và Hành Pháp phải hoàn toàn tuân thủ Luật Pháp. Đó cũng là ư
nghĩa cùng mục đích của Nhà Nước theo đuổi việc thực thi và phục vụ
Quốc Gia và người dân.
Một lư tương đối tự
nhiên, th́ sự kháng cự và làm cách mạng là tự nó bị cấm đoán theo
nghĩa sự ổn định của quốc gia. Đây cũng muốn nói lên cách hàm ẩn của
sự việc này. Tuy nhiên các sự cấm đoán này, thường có các sự kiện để
giải thích lư do của sự việc : v́ bảo đảm an ninh, ổn định cho Nhà
Nước vv., mà trong các bộ Luật H́nh Sự đề cập, chớ không có một cách
« méo mó » phản nhân quyền và dân chủ trong các bộ Luật của Nha Nuớc
độc tài chuyên chế như cộng sản, nhất là cộng sản Hà Nội. Người ta
có thể làm ǵ khác để chống lại sự bất công này? V́ do các tương
quan vào các sự cấm đoán, vào các luật tạo ra mâu thuẫn này, tất
nhiên có sự kháng cự, có việc làm cách mạng tự nhiên của người dân,
bởi họ không thể chịu măi nhiều điều thiệt tḥi, cũng như không có
được sự công b́nh trong đời sống của họ. Điển h́nh như những Luật về
Nhà Đất, về Báo Chí, nhất là Nghị Quyết 36 của phỉ quyền Hà Nội.
7.1. Sự Kháng Cự Và Làm
Cách Mạng
Thực sự kháng cự và
làm cách mạng có một vai tṛ cùng một chỗ đứng quan trọng trong
gịng lịch sử của nhân loại, và nó luôn có lư do của các việc làm
này. Trước hết, chính là do việc lập hiến không được chân thật, và
các cơ quan Nhà Nước không thực thi đúng như những điều họ nói, họ
ghi chép trong bản Hiến Pháp, thế là họ đă làm nghịch các ư nghĩa
đẹp của những tư tưỏng, luật định trong Hiến Pháp. Nói tóm lại các
người cầm quyền là những người đă làm phản lại tất cả ư nghĩa đẹp
trong bản Hiến Pháp, gọi là vi pháp hay vi hiến, mà chính họ là
những người phải tôn trọng Hiến Pháp và Luật Pháp hơn tất cả mọi
người dân.
Hơn nữa, các người cầm
quyền thiếu đi sự tế nhị, sự nhẹ nhàng lịch lăm cần thiết để thích
ứng với các quyền lợi sống thực của người dân trong xă hội. Chúng
tôi lấy vị dụ, Nước Pháp vào năm 1968, lư do chánh quyền Pháp cần
nhu cầu thích ứng với một thế giới mới. Chính ước muốn này của chánh
quyền Pháp đă bị sự phản kháng dữ dội của sinh viên cùng dân chúng
Pháp. Do thế, vào thời điểm lúc đó, nói như Pierre Antoine là sự
tiến hóa của xă hội qủa thật là nhanh, mà cứ dùng luật áp dụng th́
qủa là liều lĩnh, để bảo giữ sự nghiêm nhặt, cứng nhắt của luật là
nguy hiểm. Thế nên, chớ có ra một cái lệnh không thích ứng và hiệu
lực đối với dân chúng vào lúc ấy (62). Bởi vậy, chúng tôi nghĩ rằng
những chính thể chính trị chỉ lấy sức mạnh và bạo lực để đàn áp và
cưỡng chế dân như phỉ quyền Hà Nội, tức người dân sẽ quay lại t́m
sức mạnh tinh thần ở quốc gia và dân tộc và tôn giáo, để nuôi một tư
tưởng quyền luật mới. Quyền luật mới này được bộc lộ sự phản kháng
tự nhiên đối lại với những ǵ là luật pháp của quyền hành độc tài.
Đó là lẽ tất nhiên, và hậu qủa của các nước cựu cộng sản Đông Âu vào
năm 1989 và Liên Sô, rồi Nga vv, trả giá cho sự áp bức, cưỡng chế,
đàn áp một cách tàn bạo người dân bao chục năm : là tức nước vỡ bờ,
người dân đứng lên dành lại quyền cai trị và làm chủ chính vận mạng
và sự sinh tồn của ḿnh, mà chúng ta đă thấy rơ cùng mục kích tường
tận sự sụp đổ và vỡ vụn, tan rả của các chế độ sắt máu cộng sản phi
nhân này.
Nguyên nhân của các
cuộc phản kháng hay cách mạng của người dân đánh đổ chánh quyền độc
tài, là do bộ máy chánh quyền chỉ lạm dụng quyền hành bởi những
người cầm quyền chỉ biết phục vụ cho ích lợi của ḿnh, và họ đă làm
trái lại những mục đích của ḿnh khi họ hứa với dân hoặc khi họ ra
tranh cử. Vả nữa, Nhà Nước khi hành sử các công việc phải phù hợp
với luật pháp định ra, chớ không phải loại bỏ cùng khinh thường,
ngồi xổm trên luật pháp quốc gia, cũng không thể hành sự như kiểu
Nhà Nước mang bản chất facisme và chuyên chế cộng sản. Lư ra Nhà
Nước được hiểu và nh́n nhận như bộ mặt thật nhân tính. Để rồi ngươi
dân mới sống cho Nhà Nước và nhờ Nhà Nước. Nói như Mussolini th́
« Nhà Nước chính đạo là cái đạo đức phổ quát tạo nên luật pháp »
(63). Thế nhưng, ít ai sống
được đúng nghĩa của câu nói này. Vi biết bao người cầm quyền lănh
đạo Đất Nước, đă lạm dụng Nhà Nước, nhân danh Nhà Nước để bắt buộc
người dân phải làm theo ư muốn hoặc chỉ phục vụ cho quyền lợi cá
nhân, cho một giai cấp, cho Đảng : như Hitler, Lénine, Stalin, Mao
Trạch Đông, Đặng Tiều B́nh Hồ Cẩm Đào, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Đỗ
Mười, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết., Polpot,
Sadam Husen vv..
Do
đó, mà tạo trong ḷng dân sự bất măn, sự khinh bỉ, gây nên sự phản
kháng, đối đầu : Như Linh Mục Nguyễn Văn Lư và Thượng Tọa Thích
Thiện Minh, Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Chị Phạm Thanh Nghiên, Luật Sư
Nguyên Văn Đài và Lê Chí Luật, Anh Trần Văn Thạch, Ông Vũ Văn
Hùng, Anh Phạm Văn Trội và Anh Nguyễn Xuân Nghĩa, Anh Ngô Quỳnh và
Nguyễn Văn Túc, Anh Nguyễn Mạnh Sơn và Anh Nguyễn Văn T́nh, Anh
Nguyễn Kim Nhân và Anh Đỗ Văn Hải, Anh Lê Thanh Tùng và Anh Nguyễn
Văn Chiến, Chị Phạm Đoan Trang và Chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh cùng Anh
Bùi Thanh Hiếu (Nguời Buôn Gió) vv., để đi đến điểm cuối cùng th́
loại hẳn một chế độ độc tài, áp bức, không có tự do, nhân quyền và
dân chủ. Chúng ta thấy ở đâu có áp bức, sinh cảnh bất công th́ có sự
phản kháng hay cách mạng. Sự phản kháng hay cách mạng thường xảy ra
trong các chế độ độc tài quân phiệt, chế độ độc tài chuyên chính
cộng sản. Như Việt Nam trong bao năm qua : những cảnh hiện thực cán
bộ, ông lớn của chế độ phỉ quyền Hà Nội, đă cướp trắng trợn ruộng
vườn, đất dai nhà cửa của người dân hay của các Tôn Giáo. Do đó, khi
đi đến sự cùng cực của sự chịu đựng bất công, đán áp, khống chế, tức
người dân phản kháng chống lại chánh quyền một cách tự phát như vụ
dân làng Kim Nổ, Thọ Đà Giáo Xứ Thái Hà ở Hà Nội, người dân Thái
B́nh và Trà Cổ ở Biên Ḥa, Nguyệt Biều, Loan Lư ở Thừa Thiên Huế, và
Tam Toà ở Quảng B́nh, cũng như người dân đi biểu t́nh từ Hà Nội. Sài
G̣n, Cần Thơ. Đẹp thay, can đảm và anh hùng anh thư thay! Dân chúng
bất chấp súng ống, bất chấp tất cả quyền lực của Đảng thổ phỉ cộng
sản khát máu, đ̣i hỏi công lư, công bằng, đ̣i lại quyền lợi, quyền
làm chủ của ḿnh trên mảnh đất ḿnh sống đă bị phỉ quyền Hà Nội và
Đảng thổ phỉ của chúng cướp đi.
7.2. Các
Cấp Độ Của Sự Phản Kháng Và Cách Mạng
Trải
gịng thời gian của lịch sử nhân loại, trong quá khứ thời nào cũng
có các cuộc phản kháng và cách mạng của người dân. Dân chúng vùng
dậy chống lại các chế độ quân chủ bạo chúa, chống lại các đế quốc
thực dân cùng chống lại các chế độ phát-xít quân phiệt và các chế độ
cộng sản độc tài khát máu vv., như chúng tôi đă nói qua trong bài
khảo luận T́m Hiểu Thực Chất Những Cuộc Cách Mạng Trong Thế Giới.
Điển h́nh và đáng lưu ư nhất, là trong thế kỷ XIX và nữa bán thế kỷ
XX, nhất là vào các năm 1989-1991 của sinh viên Trung Cộng và các
Nuớc Đông Âu cùng Liên Sô cũ.
Chúng
ta hay có ba cấp độ của cuộc phản kháng. Trước hết là không tuân
phục vào Luật, v́ xă hội không công b́nh. Việc thứ hai của cuộc phản
kháng, là chống lại sự đàn áp cưỡng bức có tính cách lan rộng hơn :
có nghĩa là dân chúng nỗi dậy chống lại các bạo lực áp chế quá đáng
của các cơ quan Nhà Nước, mà các người nắm giữ quyền hành là người
lạm dựng chức quyền và quyền thế hay làm sai luật (có tính cách luật
rừng, luật theo ư họ mới có sự phản kháng của người dân Thái B́nh,
Trà Cổ, Thọ Dà, Kim Nổ, Nguyệt Biều, Thái Hà, Tam Toà, Loan Lư vv.).
Cuối cùng cấp độ thứ ba là cuộc cách mạng. Đây là lúc mà toàn dân
đứng dậy, có thể có bạo lực để đánh đổ chánh quyền thối nát, với một
ư muốn tái lập lại một trật tự xă hội mới tốt đẹp hơn, công lư và
công b́nh, tự do, nhân quyền, dân quyền được thể hiện. Xă hội mới đó
sẽ được chứng minh cụ thể bằng các tư tưởng nhân bản của một việc áp
dụng nghiêm chỉnh luật pháp công minh cùng tạo nên sự công b́nh cho
xă hội thăng tiến.
Chúng
tôi biết hơn hai thế kỷ trước đây, th́ người ta đă dự tính xa rồi,
nên đă lâp pháp hóa và hiến pháp hóa những quyền luật của sự phản
kháng-V́ quyền phản kháng lại sự áp bức, bất công b́nh, th́ đây là
một trong các luật tự nhiên không thể thiếu của con người, và đó
cũng là một trong những điều khoản của các bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền
vào năm 1789. Chúng tôi xin kể ra một vài quyền sau là « quyền tự
do, quyền sở hữu, quyền b́nh an, quyền phản kháng lại sự áp bức »
(64). C̣n bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền vào năm 1791 th́ nói cẩn trọng
hơn là : « nhiều người họp lại trong xă hội, tất phải có một phương
thế hợp pháp hóa sự phản kháng chống lại các sự áp bức, áp chế »
(65). Vả nữa, bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ nhân
kỳ họp đại hội tại Philadelphie vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, họ đă
xác định những lời sau, chúng tôi xin tạm dịch một đọan là « các cơ
quan chánh phủ được thiết lập do các nguời dân, để bảo đảm quyền
luật, quyền lợi mà các quyền luật và quyền lợi đó đă được thiên bẩm
bởi Đấng Tạo Hóa, và các quyền hành đúng này được phát xuất từ việc
ưng thuận của người dân. Do đó cứ mỗi lân mà h́nh thái của chánh phủ
trở nên sự phá hoại những mục đích này, th́ người dân có quyền thay
đối hay loại bỏ và lập nên một chánh phủ mới bằng việc xây dựng trên
các nguyên tắc, và bằng việc xây dựng các cơ cấu với hinh thể mà
người dân cảm nhận các nguyên tắc đó thích ứng cho ḿnh, và chúng
bảo đảm cho ḿnh sự b́nh an cùng hạnh phúc » (66).
7.3.
Những Lư Thuyết Của Sự Phản Kháng
Thực
những lư thuyết chúng tôi nói đây có nhiều sự khác nhau. Tuy nhiên
các lư thuyết này, là để phụng sự việc thực tiễn của nguời dân bị
một chế độ phi nhân đi ngược lại những nguyện vọng của người dân. Do
thế, những lư thuyết này chứng minh cho việc đề khởi trong các
trường hợp phản kháng. Giờ đây chúng tôi muốn đưa ra hinh ảnh của
Nuớc Pháp trong thời kỳ của chánh phủ Vichy, mà Gaston Fessard đă
nói đến trong ngôn ngữ « ông hoàng và kẻ nô lệ, prince và esclave »
để chỉ đích danh chánh quyền khiếp nhược, và qua chánh quyền đó ông
khẩn cấp báo cho chánh phủ Vichy biết sẽ có một sự kháng cự mănh
liệt của người dân Pháp. Chúng tôi thấy tŕnh cảnh Nước Pháp năm xưa
cũng giống như tŕnh cảnh phỉ quyền Hà Nội khiếp nhược với những tên
hèn nhác như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và Bộ
Tà Trị và Quốc Hội bù nh́n của chúng. Chúng tự ngoảnh mặt làm ngơ
cho những việc bọn Rợ Hán Trung Cộng đ̣i dâng biển, dâng đất và, cấm
dâng ngư phủ Việt Nam đánh cá trong vùng biển của Đất Nức chúng ta,
lại c̣n ngang tàng bắt các tàu đánh cá và đánh dân ngư phủ của chúng
ta một cách dă man. Thế mà, phỉ quyền Hà Nội không lên tiếng bênh
vực hay đánh trả lại bọn Rợ Hán, dù một công hàm phản kháng cũng
không có. Chúng khiếp nhược và hèn hạ đến thế là cùng. Phỉ quyền Hà
Nôi và Bộ Tà Trị của chúng thua một em bé lên sáu, c̣n biết tỏ thái
độ yêu nưóc và công phẫn trươc giặc Tàu Phù xâm lấn lănh thổ và biển
cả của Nước Nhà.
Gaston Fessard ví chánh phủ Vichy đó đă quá tùy thuộc vào người Đức
là kẻ xâm lăng quê hương Pháp. Chánh phủ đó tham sống sợ chết, cầu
vinh, cầu lợi, không màng nghĩ ǵ đến dân tộc đang bị gót dày xâm
lăng của quân Đức dày xéo. Chánh phủ không một chút sỉ diện, tự ái
quốc gia, mà đành tâm cúi mặt làm « nộ lệ » cho kẻ xâm luợc bờ cỏi
Đất Nước Pháp, thực là những kẻ làm nhục Tổ Quốc. Ông ví những người
này là ông Hoàng, và ông Hoàng có thể trở nên nô lệ cho những đam mê
dục vọng đê hèn của ḿnh, là quyền hành hoặc tiền bạc. Thực thế,
nguồn gốc của một chánh quyền Vichy cúi mặt này, đă tạo nên một cuộc
kháng chiến anh hùng của người dân Pháp đối với Đức Quốc Xă, điển
h́nh là những danh tướng De Gaule, Leclers v.v..
C̣n
theo Thánh Thomas d’Aquin, ngài nghĩ rằng dẫu một chánh quyền quân
chủ truớc đây là tốt đẹp, nhưng thời gian sau th́ trở thành bạo
chúa, th́ ngài khuyên cần có một thời gian để thảo luận với tên bạo
chúa qua các công việc của ông ta tạo nên, cố gắng nhẫn nại thuyết
phục ông cho công việc được tốt đẹp. Nguyên tắc đầu này, có thể giúp
tên bạo chúa tránh được các sự xấu không xảy ra nữa trong vương
quốc. Đây cũng là một cách khôn ngoan, và bằng con đường ôn ḥa của
các người đối kháng. V́ với thánh nhân dẫu tên bạo chúa có lạm dụng
quyền hành thật đó, nhưng chúng ta có sự khoan dung cho ông một thời
gian để sửa đổi « thái độ, tính nết » ḿnh, cũng như để cho chế độ
bạo quyền khả thể có thời gian điều ḥa lại các công việc. Qủa điều
này có thể đạt được ! C̣n nếu như các người đối kháng vượt qua sự
giới hạn của ḿnh như gây bạo động và bất ổn, th́ đây cũng là cái cớ
cho bạo quân nghiêm trị và sử dụng đến bạo lực để trừng phạt. Ngước
lại, qủa các người đối kháng và dân chúng đă đề nghị bằng những việc
ôn ḥa khoan dung với bạo vương, nhưng ông không chịu nghe, th́
người dân có quyền khởi nghĩa, và sau đó có thể trục xuất ngôi báu,
loại bỏ tên bạo vương, quần chúng có thể đề nghị thiếp lập nên một
vương triều (chánh quyền) mới cho quốc gia.
Tuy
thế, thánh Thomas khuyên chúng ta cần lưu ư về sự việc này, là một
đôi khi sự việc này được thành công, quần chúng đánh đuổi được tên
bạo vương nhờ vào một người cầm đầu lănh đạo, sau khi chiến thắng
th́ người cầm đầu lănh đạo cuộc khởi nghĩa này tiếp nhận quyền hành,
rồi tham vọng chiếm đoạt ngôi báu của tên bạo vương. Lúc đó, chính
ông sẽ làm khổ người khác đau khổ, ông sẽ nghiền nát các mục đích
khởi nghĩa của người dân. Ông bắt dân phục vụ ḿnh, và chế độ của
ông hà khắc hơn trước. Thật vậy, các việc làm này thường thấy xảy ra
trong các chế độ bạo quân, mà tên bạo quân mới c̣n tàn ác hơn, làm
người dân không thể chiụ đựng ông vua mới như các ông vua cựu (67).
Chúng tôi thấy thánh nhân nói rất đúng về các trường hợp xảy ra này
trong ḷng thế giới. Nhất là, trong các chế độ chuyên chế độc tài
cộng sản, tên lănh đạo mới c̣n tàn ác hơn tên lănh đạo cũ, chế độ
sau c̣n tồi tệ hơn chế độ trước đây nhiều.
Gần
chúng ta hơn cả, là theo tinh thần Công Đồng Vatican Đệ Nhị của Giáo
Hội Công Giáo, đă giáo huấn con cái của ḿnh trong « Hiến Chế Vui
Mừng và Hy Vọng – Constitution Gaudium et Spec », ở trong mục đời
sống cộng đồng và chính trị, th́ Công Đồng xác định như sau : « việc
hành sử quyền bính chính trị trong chính cộng đoàn, hoặc các cơ quan
đại diện cho quốc gia luôn phải nằm trong giới hạn của trật tự luân
lư để đem lại kết qủa mưu cầu công ích. Công ích ở đây phải hiểu
theo năng động – tùy theo trật tự pháp lư đă hoặc sẽ được thiết lập
cách hợp pháp… Trong trường hợp đó mọi công dân buộc phải theo luơng
tâm ḿnh mà tuân phục (…)
Tuy
nhiên, khi công quyền vượt qúa quyền hạn của ḿnh mà đàn áp người
dân, th́ lúc đó chính người dân cũng không nên từ chối những ǵ
khách quan xét thấy phù hợp với đ̣i hỏi của công ích. Do thế, họ
được phép bênh vực quyền lợi của riêng ḿnh cũng như của đồng bào
chống lại những lạm dụng của công quyền, trong khi vẫn tôn trọng
những giới hạn của Luật tự nhiên cũng như của Luật Phúc Âm »(68).
Khi đọc đọan văn này chúng tôi rất cảm phục và ngưỡng mộ tinh thần
tranh đấu của các giáo hữu Trà Cổ Biên Ḥa và Nguyệt Biều Quảng Trị,
người dân Thái Hà Hà Nội và Tam Toà Quảng B́nh cùng Loan Lư Thừa
Thiên, đă cam đảm và anh hùng chống lại bạo quyền Hà Nội đă cướp đất
của họ. Chúng tôi xin ghi lại đây đôi lời tâm nguyện, xin chúng ta
sau này có viết lại sử cũng nên ghi lại các cuộc tranh tranh đấu hào
hùng tự phát của các mẹ già, cha già cùng các anh chị em trẻ chất
phát này vào trang sử mới của Dân Tộc.
Nhất
là, chúng tôi ngưỡng phục tinh thần của Đức Cố Giáo Ḥang Phao Lô Đệ
Lục, vị Giáo Hoàng của người nghèo, và hằng tranh đấu cho sự công
bằng của xă hội hay ḥa b́nh cho thế giới. Ngài luôn quan tâm đến
những nơi nào có bạo lực, v́ ở đó một cách minh bạch được xem có
cuộc khởi nghĩa cách mạng của người dân chống lại các chế độ bạo
quyền. Bởi các chế độ bạo quyền ấy thường xúc phạm trầm trọng đến
các quyền căn bản của con người là nhân quyền, và gây nên tổn hại
cùng nguy hại đến tài sản chung của quốc gia (69).
Chúng
ta thấy người xưa cũng như ngày nay, thời đại nào cũng thế, th́
người dân và người tín hữa đạo giáo cho đến các chức sắc tôn giáo :
các vị vẫn hằng lưu ư đến các chế độ bạo quân, hay chuyên chế độc
tài, áp bức, cuỡng bức người dân, vi phạm, xúc phạm đến những quyền
căn bản của người dân, th́ lư thuyết thời xưa cũng như nay vẫn luôn
đứng bên cạnh người dân, hầu bênh vực và ủng hộ các lư lẽ chính đáng
của người dân chống lại các áp chế, bất công đó. Hay là đi xa hơn,
là làm cuộc cách mạng để lật đổ các chế độ bạo quân, bạo lực và bạo
độc tài tàn ác như chế dộ cộng sản, hầu xây dựng một chế độ dân chủ
, tự do, công b́nh và nhân bản hơn. Điển h́nh khuôn mặt tỏa sáng
trong những thập niên gần đây là Đức Cố Giáo Hoàng Phao Lô Đệ Nhị.
Người chiến sĩ can trường, anh dũng chiến đấu cho « Nhân Quyền và Lẽ
Sống » của tất cả mọi người trên ḥan vũ. V́ ở đâu có bất công và áp
bức, có xúc phạm đến nhân phẩm con người, th́ ở đó luôn có tiếng nói
của Ngài cất lên hay gửi đến bênh vực cho các người thấp cổ, bé họng
không có tiếng nói. Ngài can đảm đi đến các vùng xa xôi trên khắp
ḥan vũ, qủa cảm đi vào trong ḷng chế độ cộng sản độc tài sắt máu
Ba Lan, Cu Ba, để ở bên cạnh các người dân bị đàn áp, bị áp chế, bị
trước đoạt hết các nhân quyền, hay ở bên cạnh những tù nhân chính
trị v́ đối lập với chánh quyền cộng sản độc tài và quân phiệt. Và
lúc đó, th́ Ngài vang tiếng nói bênh vực, đ̣i hỏi sự công b́nh và sự
sống cho họ đối với các nhà lănh đạo quốc gia. Đây là mẫu gương
tuyệt vời tranh đấu cho lẽ phải và nhân phẩm của con người, đáng cho
chúng ta, cho các nhà lănh đạo tinh thần, các chức sắc lănh đạo tôn
giáo nên bắt chước cái hào khí can đảm, anh hùng và ḷng nhân ái vị
người của Ngài!
7.4. Nhân
Quyền Hay Các Luật Căn Bản
Qúy
vị và chúng tôi đă cùng nhau khảo luận t́m hiểu về việc sinh động
của đời sống chính trị. Đó là sự phản kháng và cách mạng, mà chúng
tôi đă chứng minh trong vài trường hợp, cũng như điều thực tế của
việc làm này. Tuy thế, chúng tôi muốn nói đến một cố gắng mới của
con người để thể chế hóa cái pháp lư cho người dân mà nhiều Quốc
Gia-Nhà Nước thừa nhận đến sự pháp lư này. Đó chính lá các Luật Căn
Bản hay gọi là Nhân Quyền mà thế kỳ XX vừa qua và nay, th́ người ta
hằng nhắc đến, nhất là trong các thập niên gần đây nảy sinh ra nhiều
hội đoàn tranh đấu cho nhân quyền.
Đẹp
thay đây là một bước quyết định chung của các nước dân chủ tự do,
một bước xác quyết của con người đă được ghi chép thành văn bản có
các điều khoản hẳn hoi, minh định cho các khỏan Luật Nhân Quyền, rồi
được công khai tuyên bố trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, hầu đ̣i hỏi
cho con người khi được sinh ra phải có được các quyền như thế. Từ đó
chúng ta thấy có các quyền luật hơn cho quyền lợi của con người, và
tôn trọng mọi quyền hành được thiếp lập. Vả nữa Khế Uớc Nhân Quyền
đă được nhiều Quốc Gia kư kết và thừa nhận trong đó có Việt Nam,
mong rằng chánh phủ của các Quốc Gia đă kư kết Hiến Chương Nhân
Quyền đó nên tôn trọng nhân quyền của nguời dân như việc ḿnh đă đặt
bút kư trước bàng quan thiên hạ.
Hiến
Chương Nhân Quyền này không chỉ nói lên các quyền tự nhiên của con
người, nhưng c̣n tuyên bố các quyền tự nhiên đó một cách công khai
bằng viêc ghi lại trong các văn bản, và các quyền đó được đặt vào
hàng đấu của bản Hiến Pháp - Qủa có một điều không rơ lắm như chúng
tôi đă nói ở đây là Luật tự nhiên nó vượt lên trên chính ḿnh, song
vẫn được tuyên bố một cách tích cực. Chính Luật đó vẫn được xem là
thực tiễn như một luật thường nghiệm. Do vậy chúng tôi thấy bản
Tuyên Ngôn Nhân Quyền có một ích lợi lớn cho mọi người, cho nhân
loại. Và chẳng bao lâu chúng ta thấy các pháp quyền (juridictions)
như Tối Cao Pháp Viện của Mỹ và Hội Đồng Hiến Pháp Viện của Pháp đă
hoan hỉ đón nhận, bằng cách loại lọc lại, hoặc bằng điếu chỉnh lại
các luật hay là đón nhận các quyền một cách trân trọng. Để rối được
hai Quốc Gia này ghi lại trong bản Hiến Pháp của ḿnh, theo thể chế
Cộng Ḥa như Pháp, hay Hiệp Chủng Quốc như Mỹ.
Như
chúng tôi biết tại Pháp, th́ Hội Đồng Hiến Pháp Viện khi lập bản
Hiến Pháp năm 1958, th́ các vị trong Hội Đồng Hiến Pháp Viện đă
không ngần ngại đưa vào những nguyên tắc rất phổ quát được tích chứa
trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền năm 1789 vào bản Hiến Pháp Quốc Gia.
Cũng thế, một phần nào sau khi bổ túc lại bản Hiến Pháp mới, th́ họ
cũng lấy lại phần nhiều giống như bản Hiến Pháp của năm 1946. Qủa
đây là một bước tiến bộ lớn của Nuớc Pháp đáng cho chúng ta ngưỡng
phục và bắt chước.
Thế
đó, nhân quyền phải được tỏ lộ trước hết cho thiên hạ thấy như một
khuôn mặt xinh xắn, thiện cảm của thế chế Quốc Gia. V́ đó là cảm
nghĩ của sự tự do, sự tự do đó đ̣i hỏi đứng trước các thể chế. Tuy
nhiên v́ cảm nghĩ của sự tự do này, mà nguời ta đă t́m kiếm tức th́
để thể chế hóa chúng cho đươc toàn hảo, và trực tiếp đi vào đời sống
của người dân những việc thể chế hóa những điều người ta có thể làm
cho người dân được hạnh phúc cùng vui sống trong b́nh an. Đơn cử ở
các Nước Âu Mỹ luôn có các hội đoàn và các tổ chức tranh đấu cho
nhân quyền cùng bênh vực cho nhân quyền, điển h́nh là Annesty
International mà trụ sở chính tọa lạc tại London.
Đến
đây chúng tôi xin trích ra một vài điều khoản trong bản Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền vào ngày 10.12.1948.
- Điều
1. Tự Do, B́nh Đẳng, Huynh Đệ
Tất
cả mọi người từ lúc sinh ra đều có tự do và b́nh đẳng trong phẩm giá
và quyền lợi, được thiên bẩm bằng lư trí và lương tâm. Do thế mọi
người phải cư xử với nhau trong tinh thần huynh đệ.
- Điều
2. Quyền Sống và Quyền Tự Do
Mỗi
nguời đều có quyền sống, quyền tự do và quyền bảo vệ cá nhân.
- Điều
5. Cấm Tra Tấn
Không
được tra tấn, đối xử hay trừng phạt dă man, vô nhân đạo và hạ cấp
(với tù nhân).
- Điều
9. Sự Bảo Vệ Chống Lại Việc Bắt Giữ Và Trục Xuất
Không
ai được phép bắt giữ, giam cầm hoặc trục xuất bất cứ ai ra khỏi Nước
ḿnh.
- Điều
13. Tự Do Đi Lại, Tự Do Cư Trú
1. Mọi
người đều có quyền tự do đi lại và quyền tự do chọn lựa nơi cư trú
trong một quốc gia.
2.
Mọi người có quyền rời bỏ nước ḿnh đang sống để sang nước khác xin
cư trú, và có quyền về lại nước ḿnh trước đây.
- Điều
18. Tự Do Lương Tâm Và Tự Do Tôn Giáo
Mọi
người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo
(niềm tin) ; quyền này bao gốm tự do thay đổi tôn giáo hoặc niềm tin
cũng như tự do quảng bá, rao truyền tôn giáo hay niềm tin của ḿnh
nơi công cộng, nơi tự nhân, bằng giáo lư, bằng nghi lễ, bằng những
nghi thức truyền thống hoặc các h́nh thái khác, hay nữa là một ḿnh
hoặc trong một tập thể.
- Điều
20. Tự Do Hội Họp Và Tự Do Lập Hội
1. Mọi
người đều có quyền tự do hội họp và quyền tự do lập hội với những
mục đích ôn ḥa.
2.
Không được phép cưỡng bức hay bắt buộc ai gia nhập một tổ chức nào.
- Điều
21. Quyền Đầu Phiếu B́nh Đẳng
1. Mọi
người đều có quyền tham dự vào việc lănh đạo quốc gia của ḿnh, hoặc
trực tiếp hoặc qua các đại biểu đă được tuyển chọn theo tinh thần tự
do.
2.
Với các điều kiện giống nhau, mỗi người đều có quyền được chấp nhận
đẻ đảm nhiệm một cơ quan công quyền trong nước họ.
3.
Nguyện vọng của dân là nền tảng của công quyền ; nguyện vọng này
phải được biểu lộ qua các cuộc bầu cử theo chu kỳ và nơi chốn đối
với quyền đầu phiếu chung và b́nh đẳng, có thể qua việc bỏ phiếu kín
hay một phương pháp nào khác có giá trị tương đương.
- Điều
23. Quyền Lao Động, Quyền B́nh Đẳng Luơng Bổng, Quyền Tự Do Liên
Hiệp
1.
Mọi người đều có quyền lao động, quyền lựa chọn nghề nghiệp, quyền
có những điều kiện lao động thích hợp và thỏa đáng, cũng như quyền
được bảo vệ chống thất nghiệp.
2.
Mọi người đều có quyền b́nh đẳng lương bổng cho cùng một việc, không
được phép có sự đối đăi phân biệt dưới mọi h́nh thức.
3.
Mỗi cá nhân lao động đều có quyền được thích hợp và thỏa đáng để bảo
đảm cho đời sống của chính họ và gia đ́nh họ hầu xứng đáng với nhân
phẩm, và nếu cần được bổ xung bằng những biện pháp khác.
4.
Mỗi người đều có quyền thành lập nghiệp đoàn hay tổ chức tưong tự
với mục tiêu bảo vệ các quyền lợi của họ.
- Điều
24. Sự Nghỉ Ngơi Và Ngày Nghỉ
Mỗi
người đều có quyền đ̣i hỏi cho ḿnh có được sự nghỉ ngơi và các ngày
nghỉ, cũng như sự giới hạn giờ giấc làm việc cách hợp lư cùng một
thời gian nghỉ theo chu kỳ (như nghỉ hè, nghỉ thường niên) và được
trả lương (70).
Chúng
tôi chỉ xin trích ra một số điều căn bản của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế
Nhân Quyền, qua bản Tuyên Ngôn và các điều nêu ra đây là một cách
trong sáng. Thực điều ước mong chung của con người là thể chế hóa và
luật hóa các Nhân Quyền vào trong các quốc gia trên thế giới. Tuy
bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đă được rất nhiều quốc gia hạ bút
kư thừa nhận. Thế nhưng trong thực tế như chúng ta thấy, th́ vấn đề
nhân quyền, công b́nh mà nói vẫn chưa được thực hiện đúng cho mọi
người trong tất cả các trạng huống cụ thể. Nhất là, chúng ta thấy
trong tất cả các quốc gia chuyên chính độc tài như Hà Nội, Trung
Cộng, Lào, Cu Ba, Bắc Hàn, Miến Điện, Iran và Turkmenistan vv., th́
chính họ luôn vi phạm trắng trợn các nhân quyền. Cũng thế v́ quyền
lợi kinh tế và chính trị mà nhiều quốc gia Tây Phương đă làm ngơ
trước các vấn đề nhân quyền, hoặc là tranh đấu bằng áp lực ngoại
giao cho người dân thống khổ, các tù nhân lương tâm, tôn giáo và
chính trị của các nước chuyên chính độc tài và quân phiệt.
Vả
nữa, chúng tôi muốn nói đến một quyền mà người ta gọi cái quyền
thông thường hơn, đó là quyền xă hội, bổ túc thêm cho các tự do
chung của quyền xă hội. Đề rối từ sự suy tư đó, tất cả các quyền đặc
thù, th́ nó có một chỗ cho người dân quyền tham dự vào đời sống xă
hội và chính trị như nhân quyền trong một căn bản vững chắc hơn. Bởi
chúng ta rơ con người không phải là một hữu thể cô độc. Hơn nữa, con
người thiết tạo nên xă hội mà lại không có các liên hệ tương quan
với tha nhân sao? Do thế, với ư nghĩ chúng tôi tŕnh bày đây với qúy
vị, qủa cần để cho chúng ta bàn đến một chương tiếp về việc khai
triển của ư nghĩa chính trị, mà ở đó chúng tôi thấy rằng chế độ dân
chủ không đơn giản là một chánh quyền khác thường. Nhưng lư hơn là
một giai đoạn chính yếu, một nhu cầu cần thiết, cấp bách cho một đ̣i
hỏi chính đáng, và một việc t́m kiếm thực chất của Dân Chủ. Do vậy
mà Nhà Nước Pháp Quyền hoặc Nhà Nước Nhân Quyền (L’Etat Des Droits
De L’Homme) phải được nở rộ trong một Quốc Gia Dân Chủ nói này.
IIX.
BẢN CHẤT DÂN CHỦ
Qủa thực để có một
Nhà Nước Hiến Pháp hội đủ những việc tốt đẹp của nó, th́ Luật Pháp
phải được bảo đảm giữa sự tương quan với chính trị. Do đó, việc thể
chế hóa nhân quyền phải là điều hiện thực và là dấu chỉ bên trong
của việc quan hệ chính trị. Có nghĩa là sự thừa nhận mọi nguời, mọi
kiểu thức cùng tất cả phương sách xây dựng của ngựi dân đóng góp,
để kể từ nay các việc này được xem là mục đích chính của các chính
sách hữu ích của Nhà Nước, và đây là một bước dài của chính trị thể
hiện ra bên ngoài xă hội và được quyền hành thực dụng. Thực vậy,
nhân quyền được xem là cái bên trong của chính trị, và là những điều
khỏan của Hiến Pháp Nhà Nước, rồi đặt nó thành những Luật căn bản,
mà các cơ quan công quyền phải nghiêm chỉnh tùng phục các Luật chung
này.
Sau
nữa, nhờ sự tản quyền của các cơ quan này, cũng như sự tách biệt rơ
ràng các quyền Tư Pháp, Hành Pháp, Luật Pháp, th́ Quốc Gia mới hy
vọng tạo nên một sự điều ḥa cùng quân b́nh. Tuy nhiều quốc gia có
ba cơ quan tách tách biệt này, nhưng trong thực tế th́ nhân quyền
một đôi khi vẫn có khuynh hướng bị làm hạ giá, cụ thể như các tự do
của quần chúng bị thu hẹp lại – và chỉ tóm lại bên trong các cơ quan
Nhà Nước. Thế nên, chúng tôi mới nghĩ muốn bàn rộng thêm ư nghĩa dân
chủ, để nhận ra sự cụ thể mà chúng tôi đă khảo cứu và thực nghiệm
hầu tŕnh bày cùng qúy vị.
Trước
hết, chúng tôi nghĩ các « quyền xă hội » thường chúng được nh́n theo
quan niệm tạo nên nhân quyền cụ thể, và qua đó th́ được người ta
thực thi và tôn trọng. Tuy nhiên các quyền xă hội này chánh quyền
chưa tạo được các ích lợi chung cho người dân. Do thế mà quyền hành
của chánh quyền phải nhân đạo hóa bằng các cách phục vụ các mục đích
như thế, bắng cách trả lời các đ̣i hỏi về các quyền xă hội này : như
các quyền tự do hội họp, tự do lập hội, lập đảng đối lập, an ninh xă
hội, quyền lao động, quyền b́nh đẳng lương bổng, quyền nghỉ ngơi và
các ngày nghỉ, quyền lợi hưu bổng và những quyền khác như quyền tham
dự vào chính trị và việc cai trị vv., là bằng cách Nhà Nước phục vụ
hết mọi người dân các thứ quyền đó. V́ theo quan niệm đạo đức, th́
chánh quyền là cho dân, chánh quyền là của dân (le gouvernement pour
le peuple).
Sau
cùng, như chúng tôi đă mục kích cùng quan sát những sự tiến bộ phản
ảnh về nhân quyền của nhiều quốc gia dân chủ Âu Mỹ, qua đó những
quyền đặc thù của người dân được thừa nhận, được b́nh đẳng, và đó là
mục đích của Nhà Nước phải thực hiện cho toàn dân ḿnh. Điển h́nh là
Thụy Sĩ, Đức, Pháp, Hoà Lan, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển, Ư, Bỉ, Anh
và Mỹ vv., chánh quyền các nuớc này họ nghiêm túc thực thi các thứ
quyền đó cho người dân, hầu làm thỏa măn các nhu cầu chính đáng của
những quyền xă hôi hay đời sống xă hội an vui cho mỗi một người dân.
Ví dụ quyền tham dự, người dân phải có phần của họ, và quyền đó th́
người dân có tiếng nói trực tiếp của ḿnh, cũng như ưng nhận và tiếp
nhận theo ư chọn của ḿnh muốn. V́ vậy mà Dân Chủ, người ta sẽ nói
ngay rằng là chánh quyền cho dân và v́ dân. Cũng chính v́ người dân
mà giờ đây chúng ta bàn luận thêm, cũng như chính cái cảm nghĩ này
là một dấu chỉ đặc thù, một bản chất kết liền với con người, mà
chúng ta có bổn phận phải đ̣i hỏi cái quyền của chúng ta cùng của
người dân cho bằng được.
8.1. Việc
Tham Dự Và Quyền Lợi
Qủa
thực, sự đ̣i hỏi tham dự của người dân vào chính trị được thiết tạo
như một điều mới và sâu sắc của việc tranh luận, bàn cải của các tư
tưởng gia về thể chế Nhà Nước. Bởi v́ sự b́nh đẳng nhân quyền trở
thành là các tự do chung, nói lên sự liên quan đến các mục đích và
các thực thi của quyền hành, do vậy mà các đề nghị nói này làm điều
ḥa cùng trực tiếp tiết chế các cá nhân của mỗi người, và của người
công dân. Để rồi từ đó, th́ các cơ quan của Nhà Nước theo nguyên tắc
đă có, hầu khả thể bảo đảm cho các tự do chung của người dân, cùng
khỏi xướng việc thực thi tôn trọng nhiều quyền khác nữa của người
dân. Nhờ vậy Nhà Nước mới có thể phục vụ một cách cụ thể tốt đẹp cho
mọi người dân, bằng cách làm hài ḷng các quyền lợi xă hội của họ.
Tuy nhiên trong hiện thực xă hội của nhiều quốc gia như trong các
nước cộng sản, chẳng hạn như Hà Nội, Bắc Hàn, Trung Cộng, Cu Ba, Lào
vv., th́ người dân chưa hoàn đủ các quyền lợi này. V́ qủa thực các
cơ quan của Nhà Nước cộng sản không hoàn toàn giúp đỡ thực hiện các
quyền lợi xă hội nói này, cũng như họ « bóp chết » sự tham dự cùng
thông phần của người dân vào điều nói trên trong đ̣i sống xă hội và
chính trị, mà Nhà Nuớc cần thể hiện và thực thi các quyền lợi xă hội
này cho người dân như là diều cốt yếu cho họ.Thêm nữa, sau nhu cầu
Hiến Pháp, và sau khi thể chế hóa nhân quyền ḥan đủ, th́ cần xuất
hiện một nhu cầu thứ ba, đó là sự đ̣i hỏi « Dân Chủ ».
Thế
đó, dân chủ qủa đuợc nói đến trong các bản Hiến Pháp của chánh
quyền. Tuy nhiên dân chủ c̣n vượt hơn thế nữa, nói như Georges
Burdeau, một kiểu nói hóm hỉnh th́ : « dân chủ ngày hôm nay là một
triết lư, một h́nh thức sống, một tôn giáo và một cách phụ thuộc, đó
là một h́nh thể của chánh quyền » (71).
Qủa ông
nhắn nhủ chúng ta sự ư nhị của câu nói này. Do thế, chúng tôi nghĩ
rằng dân chủ được xem là thời kỳ chính yếu của chính trị cho Đất
Nước Việt chúng ta, cũng như một xă hội tự do đương nhiên phải có
trong một chánh quyền. V́ ai ai cũng khao khát dân chủ, và ḿnh được
tham dự vào thể chế dân chủ đó như là một dấu chỉ b́nh thường của
tiến tŕnh văn minh và kỷ thuật của thời nay, là quyền của người
dân, để nói lên sự hiện diện của người dân trong ḷng xă hội con
người.
8.2. Phải
Chăng Thể Chế Dân Chủ Là Một Chế Độ Ở Giữa Mọi Chề Độ?
Chúng
tôi nghĩ rằng nhiều người không tin vào sự hữu lư của thế chế dân
chủ, đó là phỉ quyền Hà Nội, họ không thừa nhận dân chủ là một dấu
chỉ phổ quát của con người, của người dân. Và họ từ chối thể chế dân
chủ thực như chúng tôi nói đây, và hiểu một cách « méo mó » hoặc kém
hiểu biết như người cộng sản hiểu sai nghĩa tự do và dân chủ. V́ dân
chủ được xem là một chế độ chính trị ở giữa các chế độ chính trị.
Chúng ta cần hiều rằng sự khác biệt ở giữa các chế độ này, chính là
sự liên quan đến cái cốt yếu và bản chất của dân chủ. Theo như giáo
sư chính trị học Julien Freund trong tác phẩm « Essence Du
Politique, Bản Chất Chính Trị » (72), cũng như trong tác phẩm :
« Le Nouvel Âge, Thời Đại Mới », ông nghĩ rằng « dân chủ không là
một chính trị ǵ mới, mà người ta không biết đến trong thời đại
chúng ta, cũng thế dân chủ không là một thể chế chính trị hoàn toàn
trong sạch, nó thay thế cho một thể chế chính trị phạm tội. Trái
lại, dân chủ là một trong các cách thức trường cửu đề cập đến sự
trường cửu của chính trị, mà dân chủ sẽ điều ḥa lại các luật xác
định » (73). Qủa chúng tôi thấy rất sâu sắc và ư vị thay câu nói này
của giáo sư.
Cũng
thế, vẫn theo giáo sư Freund th́ các luật xác định của chính trị,
hoặc là giả thiết trước các luật này, ví như sự tương quan điều hành
và tùng phục của những người cầm quyền, và theo ông cặp đôi này là
như Bạn-Thù (Ami-Ennemi). Sự đầu tiên điều hành là một danh gọi khác
cho quyền hành. Theo ư ông th́ dân chủ luôn t́m kiếm sự vô hiệu hóa
cái quyền hành này và tránh cho người cầm quyền không dành hết mọi
quyền hành và quyền lực trong tay ḿnh hoặc đảng phái ḿnh (có nghĩa
khi Thủ Tướng hay Tổng Thống ban ra một đạo luật nào đó phải thông
qua quốc hội bỏ phiếu và cho phép). Giáo sư giải thích tiếp nguyên
ngữ của chữ « dân chủ là một cratie, là chế độ qúy tộc, chế độ
chuyên gia trị, lư thuyết gia trị, chính thể lăo trị - la démocratie
est une cratie, comme l’aristocratie. Le technocratie, la
théocratie, la gérontocratie, dân chủ như một loại giống, như một
h́nh thể quyền hành (74). Thế nhưng « tất cả mọi quyền hành đưa đến
từ tự nhiên th́ quyền hành hơn, trở nên mạnh hơn và tăng trưởng hơn,
quyền lực rộng hơn, có thẩm quyền hơn. Như bất kỳ hành động nào của
con người, th́ tất cả chính trị đưa đến sự tột độ có thể của quyền
hành này » (75). Do đó mà Freund nghĩ là « để dốc toàn lực đối lực
với chủ nghĩa bảo hoàng, th́ hướng về một tột cùng khác, có nghĩa đó
là chính tri không có quyền hành hoặc vô chánh phủ » (76). Tuy
nhiên, chúng tôi nghĩ thể chế dân chủ như giáo sư Freund tŕnh bày
cho chúng ta hiểu đây là một trạng thái không vững, dân chủ trong
tŕnh trạng ở giữa sự tột độ của chế độ bạo chúa và vô chánh phủ. Để
từ ư khơi ra đây, giáo sư giải thích tiếp, là dân chủ thực, th́ t́m
kiếm sự kiểm soát quyền hành, để đập vỡ sự trọng lực tự nhiên của nó
thường gây ra chế độ bạo quyền (cộng sản, quân phiệt), dân chủ cũng
đử sức mạnh trục xuất chính trị tự nhiên của con người, dân chủ cũng
giống như một « tṛ chơi » bởi thể chế vô chánh phủ. Cũng thế, giáo
sư giải thích dân chủ là một sự trung gian, một « metaxu » - dân chủ
đóng một vai tṛ xem ra la nghịch lư, là một sự trung gian của niềm
tin và của sự xem thường của mọi người (77) (Metaxu là từ Hy Lạp,
muốn nói là : đi vào, ở giữa cả hai).
Cũng
thế, dân chủ lắm lúc như sự cạm bẩy, khi chúng ta tin rằng thể chế
ấy có hội đủ khả thể có được sự ḥa b́nh hơn các thể chế khác
chăng? Bởi theo ông th́ « khi hiện hữu chính trị ở đây, th́ ở đó
có địch thù », và nữa « chế độ dân chủ không tránh đuợc cái định
mệnh của nó (như một vận số rủi ro) » (78). Tuy nhiên, giáo sư
Freund đưa ra luận cứ tiếp, dân chủ là sự chiến đấu chống lại kẻ thù
bên trong và bên ngoài, như đây là việc g̣ ép của dân chủ, có nghĩa
để đè pḥng, để bênh vực dân nhờ vào các phương thế tự do mà chỉ có
chế độ này mới có. Các phương thế này đôi khi có sự mâu thuẫn, không
chỉ với những nguyên tắc của nó, nhưng c̣n với các luân lư đạo đức
chung và ḷng nhân đạo. V́ theo giáo sư những điều nói này đây chúng
nằm ở trong ḷng chính trị. Những điều nói này dễ làm tổn thương các
việc không công b́nh, nó sử dụng một cách qủy quyệt, sử dụng cả đên
sự bạo lực, và một đôi khi nó núp bóng cùng dựa vào lư do là Nhà
Nước để hành sự. Do đó mà tạo nên các nạn nhân của chế độ (79).
Để
rồi giáo sư Freund kết luận v́ sự đó và để thực hiện một cách cụ thể
chế độ dân chủ trong sự hoàn mỹ của nó, th́ nên phải loại bỏ ngay
chính trị trước tiên. Điều này muốn nói là phải thay thế con người
cũ đi bằng một sự việc khác, là thế vào một người mới. Có nghĩa là
khi chúng ta bầu ông thủ tướng, tổng thống hoặc dân biểu, nghị sĩ,
để thực thi công việc chung của Nhà Nước không được chu toàn, làm
mất ḷng dân, th́ hết nhiệm kỳ của ho, người dân không bầu họ nữa
(80). Hay nữa, trong lúc tổng thống hay thủ tướng tại chức mà có
những việc làm gây nhiều tai tiếng cho Quốc Gia, th́ Quốc Hội và dân
chúng có thể đ̣i các ông từ chức, hay truất phế các ông. Đơn cử là
cố tổng thống Richard Nixon về vụ « Watergate » nghe lén vào năm
1974, buộc phải từ chức tức th́, hay như Bà Bộ Truởng Nội Vụ của
Thụy Sĩ là Elizabeth Kopp, bị báo chí khui ra việc Bà thông báo cho
chồng về tội phạm rữa tiền, để ông trốn thoát, thế là dân chúng yêu
cầu bà từ chức tức th́.
Ở đây
chúng tôi nhận thấy Freund đưa ra nhận xét rất đúng về thể chế dân
chủ. Freund không xem dân chủ là một chế độ ở giữa các chế độ chính
trị. Song ông xem dân chủ hơn hẳn các chế độ khác, đó chính là người
dân có quyền chọn các vị lănh đạo Đất Nước theo ư ḿnh. Nếu các
chính sách của ông đề ra làm tốt công ích cho Dân Tộc, cho Đất Nước
th́ tôi bầu cho ông tiếp, qủa tồi, thất hứa không làm tṛn nhiệm vụ
ḿnh, th́ tôi sẽ chọn một người khác lên lănh đạo. Cái hay và cái
đẹp của thể chế dân chủ, là tôn trọng ư dân và quyền lợi chính trị
và tham dụ trực tiếp vào chính trị của người dân qua lá phiếu, hoặc
sự tín nhiệm của họ với những vị cầm lái vận mệnh quốc Gia Dân tộc.
Freund chứng minh tiếp về cái tốt hơn của dân chủ đối với các thể
chế khác, là người ta có thể tin tưởng hoặc có thể cảm nghiệm về dân
chủ, đó chính là sự so sánh các quan niệm, các sự phân tích giữa dân
chủ và các quan niệm được xem là nhân đức. Các nhân đức ấy là ḥa
b́nh, là công bằng xă hội, công minh và công lư của Luật Pháp, rồi
sự tiến bộ và văn minh, với nghĩa là thiên hạ có thể nghĩ rằng dân
chủ là chế độ duy nhất có năng lực để giải quyết một cách thích hợp
với các vấn đề nói này (81). Thêm nữa, giáo sư lại dẫn chứng, là kể
từ khi có sự hiện hữu của các thể chế dân chủ, th́ các chế độ đó đó
cũng tạo chiến tranh và tạo ḥa b́nh, đúng thế, v́ cũng như bất cứ
các chính thể nào khác, th́ dân chủ cũng là một chính thể. Theo
Freund th́ một vài chính thể quân chủ cũng có tạo chiến tranh và tạo
nền ḥa b́nh vững chắc cho chúng ta hơn là các ḥa b́nh của các chế
độ dân chủ của thời đại ta. V́ giáo sư nghĩ, th́ không có thể chế
chính trị nào tự nó có ḥa b́nh bởi tự nhiên, trong lúc đó th́ các
chính thể khác là có sự hiếu chiến chăng (82). Chúng tôi nghĩ rằng
như Freund nói sự tương quan Bạn-Thù là hiện diện khắp cả khi ở đâu
có chính trị. Do thế, giáo sư nghĩ là « chiến tranh đă ở ngay trong
ḷng chính trị » rồi (83).
Thế
nhưng qúy vị rơ vẫn c̣n một dạng thái khác nữa, đó là dân chủ có thể
làm các việc ǵ trái ngược lại với dân chủ. Có nghĩa là dân chủ th́
phải có đối lập. Do vậy thể chế dân chủ luôn phải có hai đảng phái
hay hơn (hữu hay tả) để tạo một thế quân b́nh hầu ngăn chận sự độc
đoán và độc tài của quyền hanh.
Hơn
nữa, chúng tôi nghĩ thế chế dân chủ, ngoại trừ b́nh đẳng và công
b́nh, đó là tự do. Đây chính là tạo nên phần định nghĩa cho dân chủ.
Lư thực dân chủ phải đưa đến sự b́nh đẳng và công b́nh xă hội cho
người dân, tôn trọng nhân quyền và tôn trọng lẽ sống của ngựi khác,
th́ dân chủ không trái ngược với mục đích của nó. Tuy nhiên các lời
phẩm b́nh và nhận định trên giúp cho chúng ta một cái nh́n rơ hơn về
dân chủ. V́ bất cứ một thể chế chính trị nào cũng có cái khuyết điểm
của nó. Người cộng sản cũng dùng ngôn ngữ dân chủ, thế nhưng họ lại
làm trái ngược lại tất cả ư nghĩa của dân chủ : trong chế độ cộng
sản, th́ người dân không có các thứ tự do, nhân quyền, và xă hội th́
không công bằng, bất b́nh đẳng, hối lộ và tham nhũng, đàn áp và bỏ
tù những người đối lập vv, như tŕnh trạng phỉ quyền Hà Nội, Bắc
Kinh, Havana, B́nh Nhưỡng, Vạn Tượng, Ngưỡng Quảng vv.. Hay nữa các
nước dân chủ Tây Phương như Mỹ. Pháp, Anh vv., thường ỷ vào cường
lực mà bắp ép nhiều điều không công bắng đối với các nuớc nghèo và
nhược tiểu vế lănh vực chính trị cũng như kinh tế.
8.3.
Chiều Độ Cốt Yếu Của Dân Chủ
Qủa
chúng tôi thấy rằng một vài tư tưởng phẩm b́nh cùng nhận định chung
của giáo sư Freund trên đây có phần đúng! Tuy nhiên để so sánh giữa
các chế độ với nhau : là dân chủ và các chế độ khác, thực rằng chúng
có các khuyết điểm, và các khuyết điểm đó của các chế độ xảy ra :
đơn cử, như sự tham nhũng và hối lộ trong chế độ này dưới h́nh thức
này, và trong chế độ nọ dưới dạng thái khác. Do vậy, những khyết
điểm này đối với chúng tôi, th́ không thể ví lư do đó mà người ta
loại đi các giá trị của dân chủ. Mặc dấu có các quan điểm khác nhau
này, nhưng chính ta chiếu theo công việc của dân chủ, th́ chúng ta
thấy thể chế dân chủ càng ngày càng thực thi thêm sự can thiệp của
người dân vào chế độ. Bởi nhũng người dân đó có quyền trực tiếp tham
dự vào guồng máy chánh quyền qua cuộc đầu phiếu, qua lá phiếu của
ḿnh, qua các cơ quan báo chí, qua ngôn luận, rồi truyền h́nh và
truyền thanh…Trong thể chế dân chủ người ta nói có thêm một quyên
hành nữa chẳng thua kém sức mạnh và quyền hành như hai quyền Lập
Pháp và Hánh Pháp. Đó chính là Quyền Báo Pháp và Ngôn Pháp của báo
chí, truyền h́nh, tuyền thanh, thi văn và ngôn luận quần chúng.
Trong
thể chế dân chủ tự do, chánh quyền tôn trọng hai quyền Báo Pháp và
Ngôn Pháp này. Và cũng nhờ quyền ngôn pháp và báo pháp này giúp cho
ngướ dân sáng tỏ những vụ « lem nhem tiền bạc hay t́nh ái lăng
nhăng » của các ông lớn cầm quyền trị dân. Điển h́nh như vụ tai
tiếng của cựu tổng thống Bill Clinton về t́nh ái, và cựu thủ tướng
Helmut Kohl lem nhem tiền bạc cho Đảng, ông nào cũng phải ra hầu ṭa
làm sáng tỏ tội ḿnh phạm đối với bàng dân, thiên hạ.
Vả
nữa, trong thể chế dân chủ tự do, th́ người dân ư thức quyền hành
của chế độ phải tự đặt ḿnh đối diện với họ, đây là cái chiều độ cốt
yếu của chế độ dân chủ, sự tất yếu hiện thời của chính trị, của
những nhà làm chính trị. Thế nên, dân chủ không đối nghịch với chính
trị, cũng không có khuynh hướng đi ra ngoài chính trị, chúng ta có
thể hiểu dân chủ là quyền hành và quyền làm chủ của người dân. Nếu
dân chủ không có vai tṛ tất yếu của tự do, cũng như không thừa nhận
dân chủ ở giữa các sự tự do của con người, th́ phải chăng tạo cho có
dân chủ trong cái bản chất của chính trị xảo quyệt? Đây là điều lưu
ư của chúng tôi đến những tṛ ma giáo xảo quyệt của Việt cộng chơi
tṛ « dân chủ giả tạo », Hà Nội đưa ra một vài khuôn mặt của cựu
đảng viên cộng sản, hoặc những cán bộ cao cấp của cộng sản mà chúng
ta cho là phản tỉnh, hoặc nữa đưa ra vài cựu tù nhân chính trị và
vài chính khách trở cờ theo họ như tên Nguyễn Cao Kỳ chẳng hạn, để
lừa bịp một số người nhẹ dạ muốn hợp tác với Việt cộng, hầu thực th́
dân chủ cuội theo chính sách của Đảng cộng đưa ra.
Một
lẽ khác mà chúng tôi muốn tŕnh bày với qúy vị ở đây, là dân chủ
được xem là một chế độ cho mục đích b́nh đẳng, bởi theo như ư nghĩ
của giáo sư Freund, th́ chúng tôi nhận thấy người ta không thể bác
bỏ và chối căi điều này. Riêng phần chúng tôi nghĩ dân chủ được xem
là sự trực tiếp tham dự của người dân vào nhiều lănh vực chính trị,
kinh tế, văn hoá cùng xă hội vv., có nghĩa nữa là sự can thiệp của
người dân vào chánh quyền. V́ chánh phủ là dân, cho dân và v́ dân,
đây mới là bản chất thực của dân chủ. Nhất là, qua đó th́ mọi người
dân cố gắng thực thi dân chủ, và họ sẽ thực thi dân chủ trong phần
tối thiểu của ḿnh, cho dẫu họ không đạt đến mục đích của quyền hành
– Thế nhưng người dân luôn có quyền hành, tuy nhiên ở dây chúng ta
hiểu rằng quyền hành là điều có thể ở bên trong các việc ích lợi
này. Các việc lợi ích này mặc dầu không đạt được hoàn toàn như ư
muốn của người dân, tuy nhiên thể hiện đươc ư dân chủ và tự do.
Do
thế, chúng ta hiểu dân chủ như một việc đơn giản là « làm cho mền
dịu » của việc tương quan của sự chỉ huy và sự tùng phục. Dân chủ
cũng có nghĩa là sự hoán đổi, là bằng các lời ra « lệnh » của chánh
quyền, bằng việc ủy nhiệm người thực hành công việc chung của chánh
quyền theo như ngôn ngữ của Freund nói. Do đó, dân chủ ở đây tạo nên
một chiều độ tùy thuộc vào thực thể chính trị, đó là quyền hành
(hoặc là sự tương quan củ sự chỉ huy và sự tùng phục) : để từ đó
người dân biết thừa nhận sự hiện hữu sinh động của chính trị, và
cũng nhờ vậy người dân hiểu rằng chế độ có tính cách dân chủ và tự
do. Và để qua đó chế độ bảo đảm trước hết cho cái bền ngoài của
chính trị của người thừa hành công việc là chỉ huy hoặc điều hành,
cững như đến người khác là sự ủy nhiệm hơặc thừa hành công việc
chung của Nhà Nước. Sự nhận ra hay ư thức này là việc khởi đầu ngay
từ lúc thiếp lập sự quan hện trước tiên của Chính Trị và Nhà Nước.
Để rồi nhờ đó tạo nên sự dung ḥa giữa Chính Trị-Nhà Nước, cùng
Người Điều Hành-Kẻ Thừa Hành công việc. Và nói như ư của triết gia
Raymond Aron, th́ qua đó Chính Tri-Nhà Nuớc cũng như Người Điều
Hành-Kẻ Thừa Hành tạo nên bằng chứng đủ chứng minh rằng cái lư
thuyết này tương dối có giá trị của chế độ dân chủ, mà các triết gia
đă không nhầm lẫn nhắc nhở rằng chế độ này khả thể có ḥa b́nh như
thế, làm chúng ta thích thú hơn các chế độ bạo lực (84).
Thực
vậy những điều triết gia Aron nói đây, theo chúng tôi thấy rằng lẽ
tất nhiên người ta yêu cầu phải thừa nhận việc tranh đấu chống lại
cái quyền hành bạo lực vẫn c̣n dính chặt vào các thể chế độc tài,
thành một quyền của người dân. Khi người dân yều cầu và đ̣i hỏi như
thế, th́ chính đây là niềm khao khát dân chủ, và họ muốn quyền tranh
đấu đó, có một vị thế chính thức trong bản Hiến Pháp Quốc Gia, hầu
quyền đó tạo nên sự tương quan và liên thuộc vào chính trị. Ví dụ
người dân Việt Nam bấy lâu nay đ̣i hỏi Đảng cộng sản và Hà Nội chấp
nhận đa đảng, thừa nhận người đối lập chính trị, và tranh đấu đ̣i
Đảng cộng không được độc tôn lănh đạo Đất Nuớc một cách độc đoán và
chuyên chính độc tài, hay người dân đ̣i hỏi bầu cử chánh phủ cùng
quốc hội một cuộc đầu phiếu tự do … Các điều này phải được ghi thành
văn minh bạch trong bản Hiến Pháp Quốc Gia. Thực tế, các điều nói
này không chỉ ở sự cân bằng dưới h́nh thể của việc chỉ huy cùng sự
tuân phục vào Hiến Pháp, vào Nhà Nước. Nhưng các việc này là không
ngừng xuyên qua cái mới nhờ vào sự uyển chuyển và linh động của bánh
xe lịch sử, của thời thế, hầu cho chúng ta nhận ra sự sinh động của
các tự do ngay từ buổi đầu trong việc tranh đấu. Do vậy, mà có nhiều
câu hỏi được đặt ra : biết làm thế nào thực thi đúng ư nghĩa chế độ
dân chủ? Làm thế nào tạo nên thực quyền và các đ̣i hỏi theo thời thế
của người dân, cũng như nhu cầu của dân chủ thời đại, mà không rơi
vào trong không tưởng của sự loại bỏ tất cả uy quyền Nhà Nước? Như
qúy vị biết những biến cố lịch sử đau thương xảy ra trong những thập
niên qua tại Đất Nước chúng ta, đây chính là sự khổ tâm và thao thức
lo nghĩ của chúng tôi, là cố gắng t́m kiếm, quan sát và khảo cứu
cùng phân tích, tổng hợp về ư nghĩa của chính trị này, hầu chúng
tôi hy vọng t́m ra một thể chế dân chủ nhân bản cho Nuớc Nhà như
chúng tôi vừa nêu ra ở các câu hỏi trên.
Theo
chúng tôi học hỏi và biết rằng người tiền sử và người xưa trước đây,
họ đă chọn chế độ dân chủ như một lư do chính đáng. Người xưa nghĩ
dân chủ không phải là một chế độ tuyệt đối, song dân chủ là một chế
độ tốt hơn ở giữa các chế độ khác ( quân chủ, cộng sản, quân phiệt).
C̣n triết gia Aristôte, ông thích một chế độ lẫn lộn : một nữa là
quư tộc và một nữa là dân chủ. C̣n Machiavel vào thời Trung Cổ, th́
ông yêu thích chế độ cộng ḥa. Thế nhưng vào thời của ông, th́ có
một thời gian Đất Nước ông bị chia rẻ trầm trọng, và v́ vậy cần đến
sự hiệp nhất, nên ông không ngần ngại chọn một chế độ quân chủ
chuyên chế (la monarchi despotique). Riêng Hobbes, th́ ông muốn tất
cả những phán đoán, những phẩm b́nh về chế độ dân chủ, là sau « khả
năng để tạo nên hoà b́nh và sự an thái cùng no ấm cho người dân »,
th́ chính đó là mục đích trước hết của tất cả mọi quốc gia t́m kiếm
chế độ dân chủ và thực thi dân chủ. Qúy vị rơ sự thảo luận về dân
chủ mà chúng tôi tổng hợp trinh bày cùng qúy vị đây, được xem là một
chế độ giữa mọi chế độ, song dân chủ có sự tương đối, và nhất là chế
độ dân chủ vẫn tốt hơn các chế độ khác mà người xưa trước đă biết
chọn cho ḿnh rồi.
Tuy
thế, giờ đây chúng tôi muốn giới thiệu lại triết gia Rousseau, và
với cuộc cách mạng Pháp thời danh, sẽ đem đến một ư nghĩa mới của
dân chủ cho chúng ta. Có nghĩa theo ư Rousseau, th́ sự liên hệ khác
biệt đối với h́nh thể chánh quyền phong kiến ở đây là lộn xộn, do
thế mà dân chủ xuất hiện như một h́nh thái chấp nhận cái quyền hành
chính trị. Thế nên dân chủ không c̣n quan hệ hơn một chế độ ở giữa
các chế độ, nhưng dân chủ là một khuynh hướng căn bản, là sự cần
thiết và tất yếu phải có của xă hội loài người.
Thêm
nữa, chúng tôi muốn qúy vị cùng nhau lưu ư đến tư tưởng của
Rousseau, là một trong những tư tưởng gia lớn của thế giới về lănh
vực chính trị và xă hội, trong đó ông nói và bàn luận nhiều về dân
chủ. Chúng tôi xin trích dẫn và tóm lại đây nhiều đọan tư tưởng hay
của ông mà người ta đă bàn thảo rất nhiều qua mọi thời đại, đó là
h́nh thể nào tốt nhất của chánh quyền. Ông nghĩ rằng chúng ta không
thể xem mỗi một trong các chế độ con người có này, là tốt nhất trong
một vài trường hợp, c̣n sự xấu và tồi tệ là của các chế độ kia (85).
Hoặc ông nghĩ là, khi người ta đ̣i hỏi sự tuyệt đối của chánh quyền,
của chính thể nào là tốt nhất, th́ theo ông người ta đưa ra một câu
hỏi không thể giải thích, v́ như thế không có xác định được (86). Có
nghĩa là sự đ̣i hỏi của con nguời không thể có sự tuyệt đối, mà chỉ
có sự tương đối thôi. Cũng thế, chúng tôi thấy Rousseau là người nói
rất mạnh ư nghĩa dân chủ, theo triết gia nghĩ th́ khi chánh quyền sử
dụng thời hạn của ḿnh để thiên vị cho một giai cấp, th́ chánh quyền
đó không bao giờ c̣n tồn tại thực dân chủ nữa, và chánh quyền đó sẽ
không hiện hữu được lâu dài. Cũng vậy, chánh quyền đó chống lại cái
trật tự tự nhiên, mà người ta có thể tưởng tượng rằng người dân
không ngừng hội tụ lại để làm những công việc phản kháng, tranh đấu
chung hầu đạt đến nền dân chủ hơn. Từ đó, Rousseau suy diễn răng nếu
người dân là một dân tộc thần linh, tức họ điều hành guồng máy một
cách dân chủ. V́ một chánh quyền đ̣i hỏi tuyệt đối toàn mỹ, toàn
chân thiện th́ không đến từ con người (87).
Chúng
tôi cảm nghĩ sự việc giải thích những đọan tư tưởng trên đây, có thể
làm nhiều ngựi ngạc nhiên, họ hiểu rằng Rousseau là người hảo
huyền, hoặc không đúng với những suy tư thâm thúy của ông. Đúng hơn,
chúng tôi thấy Rousseau có những tư tưởng đi tiên phong « cách
mạng » trước thời gian, theo ư ông th́ chánh quyền (le gouvernement)
là một việc chung, nhưng chánh quyền phải tùy thuộc vào quyền hành
lập pháp, c̣n vua (souverain) là một việc khác : vua cầm nắm quyền
hành lập pháp tối cao, và vị vua này phải là người của dân, thuộc về
dân. Sự phân biệt rơ ràng này qủa là tư tưởng độc đáo của Rousseau.
Bởi chính khi nghĩ đến chánh quyền th́ người ta có thể nghĩ đến sự
tương đối… Hơn nữa, chúng tôi thiết tuởng Rousseau không có thiện
cảm cho sự việc ủy nhiệm hoàn toàn vào chánh quyền. Ông chỉ chấp
nhận rằng chánh quyền phải là thiết thực của dân và v́ dân, lo cho
dân. Do thế, chúng tôi cảm nhận rằng thực là dân chủ khi chánh quyền
đó làm hết ḿnh phụng sự dân, c̣n người dân th́ được hít thở thoải
mái sự tự do và có đủ mọi quyền như họ muốn trong xă hội dân chủ
kiểu này.
8.4. Phải
Chăng Dân Chủ Là Một Chế Độ Tốt?
Trước
hết chúng tôi nghĩ đến các lư do hoàn thành dân chủ này, là theo
nguyên tắc đă được chúng ta cùng nhau khảo cứu qua các lời nghị luận
của các triết gia, hầu ta có cái nh́n xác thực hơn về dân chủ được
xem là một chế độ ở giữa các chế độ. Quả dân chủ là một khuynh
hưóng, là một nhu cầu, một đ̣i hỏi chính đáng của người dân trong xă
hội, nhất là trong thời đại ta, và Đất Nước Việt ta, th́ càng đ̣i
hỏi cấp bách hơn cho Nuớc Nhà có được một thể chế dân chủ thực sự.
Qua
tác phẩm nỗi tiếng có thể gối đầu giường của người làm chính trị là
« Précis De La Démocratie » của Jean Baechler, ông đả tŕnh bày chế
độ dân chủ là « sự tự nhiên của con người » (88). Chúng tôi thấy ông
c̣n đi xa tư tưởng của ḿnh hơn, đó là sự « tiếp cận tự nhiên của
dân chủ vào các mục đích chính tị », và ông tỏ bày ư của ḿnh là dân
chủ nó đẹp biết bao, qủa là « một chế độ tốt ». Hơn nữa, theo
Baechler th́ dân chủ dự trữ sự may mắn hơn cả hầu đạt đến ḥa b́nh,
và giúp ta hiểu được sự công b́nh hơn hẳn chế độ xă hội chủ nghĩa
hoặc cộng sản (89). Thực những điều vừa nói qua, ông cho chúng ta
thấy được điều mới của dân chủ như một chế độ tốt, để rồi ông nghĩ
là dân chủ được nghị phẩm sau cái kết qủa thành đạt của nó trong
lănh vực chính trị, kinh tế, khoa học và kỷ thuật vv.. Chúng ta nh́n
xem các Nước dân chủ Tây Phưong và Mỹ th́ rơ cái thành qủa nói này.
Mới đây trên diễn đàn « hoangsa.org. » có đăng bài viết « Cũng Bởi
Thằng Dân Ngu Quá Lợn » của Shinra, một người dân Việt trong Nước
viết lên những so sánh rất sâu sắc giữa hai chế độ tư bản dân chủ và
xă hội cộng sản Hà Nội độc tài, tham nhũng và cướp của dân. Chúng
tôi xin chân thành cảm phục sự nhận định sâu sắc của Shinra về chế
độ tồi tệ của phỉ quyền Hà Nội hiện thực, để nói lên đâu là một chế
độ tốt nảy sinh ra những con nguời cầm quyền tốt và các mặt hàng hoá
tốt, c̣n đâu là một chế độ tồi sinh xuất ra những con người cầm
quyền tồi bại, các mặt hàng hoá dổm, xấu và không đủ tiêu chuẩn kỷ
thuật.
Thế đó,
với chế độ dân chủ, th́ Baechler nghĩ rằng sự tương quan với các mục
đích bằng các việc thực hiện bên ngoài hoặc có trước tiên, như là
sự ḥa b́nh và công b́nh, công lư. Nhưng tiên vàn là hoà b́nh và
công b́nh phải có, để tất cả mọi công dân có niềm vui chung sống.
Bởi thế, dân chủ đóng góp vào niềm vui sống chung này, v́ theo ông
th́ « các công dân đoàn kết lại nhờ một khế ước, qua khế ước đó, họ
từ bỏ các hành động bạo lực giữa họ với nhau » (90). Chúng ta lưu ư
đến câu nói này, họ từ bỏ bạo lực, nhưng như thế là chưa hẳn không
có sự đối nghịch chăng ?
Tiếp
đến là vấn đề công b́nh : đây chính là việc tất yếu hơn cả của xă
hội, để phân biệt sự độc đoán, độc tài, việc trái phép, sự cướp đoạt
tài sản của công cũng như của tư, tham nhũng hối lộ vv, và những
việc làm « u tối » bên cạnh sự « trong sáng » cùng cần thiết. Hơn
nữa, sự công b́nh là một đặc tính phổ quát của chế độ dân chủ, thế
nên chánh quyền tự nguyện đề ra để dung hợp với các đ̣i hỏi của
người dân cho sự công b́nh xă hội (justice social) này. Thêm nữa, dù
có sự phân biệt giữa các ích lợi cá biệt và các ích lợi chung, song
nên có sự phân phối đều một cách nghiêm túc giữa tư nhân và quần
chúng ; nhất là Nhà Nước nên biết tuyển chọn những nhân tài trong
nhiều lănh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và kỷ thuật, và
ưu dụng họ theo sở trường của họ. Theo dân chủ, th́ tất cả những ǵ
là độc đoán, chuyên chế độc tài, không minh bạch, khó có « chỗ
đứng » trong xă hội này. Trong xă hội dân chủ th́ luôn có sự thương
luợng trong lănh vực nghiệp đoàn, và thị trường buôn bán th́ được tự
do vv.(91), qủa chúng ta thấy đây là một hữu ích của chế độ dân chủ.
Sau
khi nói đến sự công b́nh mà Jean Baechler gọi là « theo khế
ước-contractuelle », ông nói tiếp là thể chế dân chủ là thích hợp
cho khế ước công b́nh nhờ váo đặc tính và bản chất của dân chủ. Dân
chủ trị v́ trước hết là một cuộc phổ thông « đầu phiếu » một cách tự
do ở trong ḷng chế độ ấy, Cuộc bầu phiếu này được xem là bản chất
của khế ước đó. Cũng theo ông nghĩ đây là việc tiếp nhận các ngôn
ngữ tri thức về lư thuyết của khế ước này. Do thế tất cả những việc
làm này được gọi là một khế uớc dân chủ-công b́nh. Vả nữa theo ông
nghĩ, th́ dân chủ để cho cái lợi cá biệt được gặp gỡ một cách tự do
của các sự trao đổi, cũng như dân chủ càng ngày càng tăng thêm việc
thực hiện hoá các mậu dịch trao đổi hàng hoá, tiền tệ vv., và hiệu
nghiệm hơn trong xă hội thương mại (92). Nhất là, chỉ có chế độ dân
chủ mới có sự phát triển rộ nở tất cả những lănh vực nói này một
cách rộng răi.
Để
kết luận, chúng tôi có thể nói dân chủ là một « chế độ tốt » cho
người dân. V́ theo nhận định của chúng tôi sau bao nhiêu năm miệt
mài nghiên cứu, học hỏi, quan sát, thực nghiệm, tranh luận vv., th́
chúng tôi xin được « nhân danh » của một kết qủa, của sự hiệu nghiệm
tốt của thể chế dân chủ cụ thể đó. Để rồi chúng tôi xin xác định ư
ḿnh rằng : đó chính là đặc tính tất yều, bản chất tốt nếu như người
ta muốn nói đến là dân chủ. Hơn nữa, chúng tôi nghĩ dân chủ là một
sự t́m kiếm, là một nhu cầu, một đ̣i hỏi thực dụng, được ghi dấu
trong sự tưong quan tất yếu của chính trị. Cũng như dân chủ, là được
tất cả chúng ta hoàn toàn quan tâm trong mọi vận động quốc tế và
quần chúng, hầu có thể hoàn tất sứ mạng cao cả của lịch sử này, thực
đây là sự tất yếu của sự việc chính trị nhân bản. Để rồi từ đó chúng
ta mới hy vọng taọ nên cho Nước Việt một Nhà Nước Pháp Quyền, có
Hiến Pháp đích thực, và tất cả quyền hành, quyền lực đều tùng phục
Pháp Luật, c̣n Nhà Nước-Chính Trị th́ tôn trọng nhân quyền và quyền
lợi của người dân.
Để
tiến xa hơn trên con đường này mà qúy vị đă dấn thân : thực ḷng
chúng tôi cầu mong tất cả người Việt Nam là Quốc Nội hay Hải Ngoại,
chúng ta cùng chung một ḷng, cố gắng tranh đấu để Đất Nước có được
dân chủ hóa, cũng như làm tăng thêm phần tham dự vào chính trị-xă
hội của mọi người dân Việt vào trong guồng máy chánh quyền. Qủa dân
chủ đang ở trong con tim nồng nàn của qúy vị, cũng như đang ở trong
khối óc xây dựng và đang ở trước mặt chúng ta mỗi ngày khi người
Việt Hải Ngoại đang sống ở các nước Tây Phương dân chủ. Để tư đó,
phần chúng ta làm sao để cho dân chủ trở nên một chế độ hiện thực
trong Đất Nước Việt Nam, như mọi chế độ dân chủ của nhiều quốc gia
được hiện hữu trong ḷng thế giới này!
Dân
chủ có hiện hữu trong ḷng Quê Hương Việt chúng ta chăng? Sự thực
này ở điều kiện khi qúy vị vượt qua được sự « sợ hăi », can đảm đứng
lên làm lịch sử mới cho Dân Tộc, hầu con cháu chúng ta được hít thở
tự do, nhân quyền và hạnh phúc. Qúy vị biết chăng, mới đây vào ngày
21.09.2009 trên tờ báo Asia Sentinel có đăng bài « Vietnam Seeks to
Silence in China Critics, Việt Nam bịt miệng những người chỉ trích
Trung Cộng » (93). Bài báo có đề câp đến Chánh Phủ Việt Nam vvà Đảng
cộng bán Biển và Đất Việt cho bọn Rợ Hán Trung Cộng với sồ tiền là
5O tỷ Mỹ Kim đế cứu nguy quyền bính của chúng. Bởi lư do Đảng gian
phi và phỉ quyền Hà Nội trong mấy năm vừa qua bị thất bại ê chề
trong vần đề kinh tế : làm ăn th́ thua lỗ, cán cân mậu dịch xuất
nhập bi thâm thụt, vốn đầu tư của nước ngoài càng ngày càng « teo
lại », chỉ toàn là âm cực. Đảng và Bộ Tà Trị sợ một cuôc bùng nổ lớn
trong ḷng chế độ, nhất là đối với dân chúng. Rợ Hàn ta đánh hơi
được những yếu huyệt sắp dẫy chết của bọn Bắc Bộ Phủ, nên ra tay vừa
bắt bí vưà làm như cách cứu sống cho quyền bính của Đảng và Hà Nội :
Nị muốn sống, muốn c̣n nắm quyền thi bán đất bán biển, nhượng quyền
khai thác các quạng mỏ của Đất Việt cho Ngộ, không thôi th́ Nị để
cho các Ngộ đi chầu diêm vương.
Do đó
đă đến lúc chúng ta phải hành động, không để cho sự sợ hải Đảng và
phỉ quyền Hà Nội chế ngự ḷng chúng ta. Vi sự tồn vong của tiến đồ
Tổ Quốc và sự sinh tồn của chúng ta và con cháu chúng ta là rất hệ
trọng. Thế nên chỉ có con đường chúng ta cùng toàn dân đứng lên, th́
Đảng gian phi và phỉ quyền Hà Nội mới giải thể toàn bộ. Lúc ấy chúng
ta hy vọng mới có cơ hội xây dựng một chế độ dân chủ tự do, một thể
chế chính trị nhân bản. Nhất là chúng ta mới tiếp tục xây dựng một
Đất Nước giàu có và một quân đội hùng mạnh, để đ̣i hỏi lại những
vùng biển Vịnh Bắc Bộ, vùng dất Ải Nam Quan, Thác Bản Dốc các quần
đảo Hoàng Sa và Trường sa của Đất Việt chúng ta bị cưỡng bán, và bị
Trung Cộng cướp đoạt.
XI.
ĐÔI LỜI TÂM HUYẾT
Qủa chúng tôi đă
nói qua, là sau nhiều năm sống xa quê hương, tạm lưu ở xứ người,
hưởng được nhiều may mắn hơn đồng bào Việt ở quê nhà. Dẫu thế, chúng
tôi luôn sống trong khắc khoải, ưu tư, xót xa thương đến thân phận
của người dân Việt đang sống đau khổ dưới chế độ sắt máu tàn bạo của
chế độ phi nhân Hà Nội. Thế nên chúng tôi tự nhủ thầm với ḷng ḿnh
phải cố gắng học hỏi, t́m kiếm, khảo cứu trong các sách vở xưa cũng
như nay, cố gắng quan sát đời sống sinh thực của các chế độ dân chủ
của thiên hạ, rồi thực nghiệm để t́m hiểu lư lẻ và bản chất thực của
chính trị. Để từ đó, chúng tôi rút tỉa những tinh túy, những cái
đẹp, những cái thực của người, cộng thêm sự tổng hợp, phân tích, và
đóng góp phần nhỏ của ḿnh, hầu góp phần vào việc xây dựng một thể
chế chính trị nhân bản cho Đất Nước.
Đó
chính là tâm nguyện cùng tâm huyết của chúng tôi, và ước mong sao
thấy được ngày Đất Nước Việt Nam có được một thể chế dân chủ nhân
bản thưc sự. Bài khảo luận của chúng tôi tŕnh bày với qúy vị tương
đối khá dài. Do thế, để kết thúc, chúng tôi xin tóm lại đôi điều
quan tâm và ḷng thành của chúng tôi với quê hương Đất Nước, là bất
cứ giá nào chúng ta cũng phải cố gắng tạo dựng cho được một thể chế
dân chủ đích thực cho Nước Việt thân yêu của ta ; và xem sứ mạng này
là một sự ân t́nh đối với Đồng Bào và Dân Tộc. Bởi một Đất Nước đă
chịu quá nhiều tang thương và trầm thống. Đồng Bào th́ chịu quá
nhiều cay đắng, tủi nhục : nào một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm
năm đô hộ giặc Tây, hơn nữa thế kỷ nay th́ bị đô hộ giặc cộng sản.
Một thứ chủ nghĩa không tưởng, phi nhân, vô thần, bất đạo nghĩa, phi
dân tộc. Chủ nghĩa xă hội cộng sản này vừa tàn ác vừa độc hại đă
gieo kinh ḥang, tang thuơng, nghèo đói triền miên trên Đất Việt
chúng ta từ lúc Hồ Chí Minh cướp đưọc chánh quyền vào mùa thu 1945.
Hồ Chí Minh và những tên Việt cộng cuồng tín Lê Duẫn, Vơ Nguyên
Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ và đám đàn em đồ đệ
của chúng đă vay mượn thứ chủ nghĩa « hùm beo của Marx-Lénine-Mao »
về mà cắn xé, nghiền nát người dân lành Việt Nam. Chúng đă tước đoạt
hết mọi thứ quyền căn bản của người dân : như nhân quyền th́ bị chà
đạp và coi rẽ hơn con vật. Do vậy, đă đến lúc chúng ta người dân
trong Nuớc và Hải Ngoại ngồi lại với nhau, xoá các mặc cảm, dẹp đi
tị hiềm, để nghĩ đến sự tồn vong và sự hưng thịnh của Việt Nam trong
thế kỷ XXI này. Đây là thế kỷ của tin học và kỷ thuật tân kỳ tuyệt
hảo. Xin chúng ta tất cả cùng nhau hiệp nhất, cùng nhau đứng lên đ̣i
lại tất cả những thứ quyền của chúng ta, đ̣i cho bằng được phỉ quyền
Hà Nội phải trả lại chánh quyền cho người dân.
Từ
đó, trong ư thức của một người Việt c̣n trái tim rỉ máu hồng, c̣n
nước mắt mặn cay cho Dân Tộc, v́ vậy mà chúng tôi có đôi lời tâm
huyết sau đây xem la một kết luận của bài viết Chính Trị Nhân Bản.
Lời tâm huyết của chúng tôi cầu mong là :
- Chính
trị hay quyền hành là chỉ phục vụ con người, phục vụ người dân, đó
là ư nghĩa cao cả của nó.
- Nhà
Nước là của Dân. Do thế phải phục vụ cho các quyền lợi của mọi người
dân, bất phân họ là ai. Nhà Nước phải bênh vực Dân và lo cho Dân
được hạnh phúc, no ấm và an thái.
- Nhà
Nước phải tôn trọng nhân quyền và tùng phục Luật Pháp.
-
Dân chủ là do dân
và bởi dân mà có, c̣n quyền hành là do dân ủy nhiệm cho các vị cầm
quyền lo điều hành cho Quốc Gia thăng tiến. V́ vậy chế độ dân chủ
cần phải thực hiện và tạo lập công lư, công b́nh, nhân quyền, tự do
và an thái cho dân. Có đuợc như thế mới gọi là chế độ dân chủ thực
sự đem lại hạnh phúc no ấm cùng nguồn vui sống cho dân.
Đôi
lời tâm nguyện, chúng tôi mong chờ thấy được Đất Nước Việt Nam sớm
có ngày tạo được một thể chế chính trị nhân bản, hầu tất cả người
dân Việt trong Nuớc cũng như Hải Ngoại đồng một ḷng, chung một vai
cùng một con tim, nằm tay nhau để xây dựng và tái thiết lại Quê
Hương, Đất Nước dấu yêu. Chúng tôi mong lắm thay và ước mong thay
thấy được ngày hoan hỉ và vinh quang đó của Dân tộc Việt mau đến!
Một lần nữa, chúng
tôi xin phép nhắc lại câu nhắn nhủ thời danh của Đức Cố Giáo Hoàng
Phao Lô Đệ Nhị với các giáo hữu của ḿnh là « các con đừng sợ ! ».
Vâng nguời dân Ba Lan, Tiêp Khắc, Hung Gia Lợi, Nam Tư, Lỗ Ma Ni,
Đông Đúc, Liên Sô, Nga Sô, Ukrain, Bun Ga Ri vv., đă nắm được
ch́a khóa của câu khuyên nhủ của Đúc Thánh Cha, giúp cho họ hiểu
được sự chiến thắng không phải ở trên họng súng hay gươm giáo.
Nhưng sư chiến thằng là chế ngự được sự sợ hăi của bản thân ḿnh, Tư
đó họ đă quyết tâm, đồng ḷng đứng lên đánh ngă các thành tri kiên
cố cộng sản không tốn một viên đạn, song bằng chính sự không sợ hăi
của ḿnh trước những tên công sản sắt máu. Để rồi các người dân các
xứ Đông Âu và Nga Sô đă có lại các thứ tự do và nhân quyền để thiếp
lập nên chế độ dân chủ , và theo phương sách kinh tế thi trường tự
do của chế độ tư bản mà nay các Nước Tiệp, Slovanie, Hung Gia Lợi,
Ba Lan, Nga Sô đă khởi sắc thái đưọc sự giàu có và hạnh phúc cho
người dân.
Do đó,
Việt Nam ta hiện nay không thể đi ra ṿng ngoại lệ của tiến tŕnh
này. Bởi muốn dân chủ hoá cho Đất Nước kiểu như thế, tất đương nhiên
đ̣i hỏi chúng ta phải cùng nhau đứng dậy ! Xin toàn thể quư vị cùng
nhau đứng dậy: xin từ người dân thường, đến các vị tri thức và văn
hoá, xin đứng dậy từ các chức sắc lănh đạo tôn giáo và tinh thần đến
các anh lính bộ đội, công an, xin đứng dậy từ chú đạp xích lô cùng
xe ba gác và lái xe taxi đến anh chạy xe ôm, xin đứng dậy tư d́ bán
hàng rong đến cô chủ quán café, xin các em sinh viên học sinh đến
các em bán vé số và đánh giày, xin bác nông dân đến qúy anh chị thợ
thuyền vv. Tất cả chúng ta cùng nhau xuống đường đ̣i hỏi phỉ quyền
Hà Nội và Đảng gian phi Việt gian phải trả lại quyền lănh dạo Đất
Nước vào tay chúng ta, đ̣i hỏi quyền tự quyết vận mang dân tộc cho
người dân.
Lúc đó,
chúng ta ắt có đủ các thứ quyền tự do, có công lư công b́nh, công
minh và nhân quyền, có đạo nghĩa, đạo lư truyền thống cha ông vv
Nhất là, chúng ta mới có thể thiết lập được một chế độ nhân bản như
ḷng ḿnh muốn.
Kính Chào Quyết Thắng
Nam Giao Lê Thiện B́nh
CHÚ THÍCH
1. Xin xem Jean Luc Chabot : « Introduction A La
Politique », PUF. Paris 1991.
2. Xin xem Eric Weil : « Phlosophie Politque »,
Vrin, Paris 1991.
3. Sách đă trích dẫn,
trang 61.
4. Sách đă trích dẫn,
trang 68 và 72.
5. Xin xem Friedrich
Hegel : « Principes De La Philosophie Du Droit », trang 141.
6. Sách đă trích dẫn,
trang 142.
7. Sách đă trích dẫn,
trang 147-148.
8. Xin xem Machiavel (Niccolo
Machiavelli) : « Le Prince », chap. XV.
9. Xin xem Charles
Maurras : « Mes Idées Politiques », Fayard, Paris 1937.
10. Sách đă trích dẫn,
trang 96.
11. Sách đă trích dẫn,
trang 97.
12. Sách đă trích dẫn,
trang 98.
13. Sách đă trích dẫn,
trang 113,
14. Sách đă trích dẫn,
trang 120.
15. Xin xem Jugen Harbemas :«
L’Industrie Des Allemands, Une Fois Encore » dans Ecrits Politiques,
Le Cerf, Paris 1990, trang 249.
16. Xin xem Claude
Lefort :« Essais Sur Politique, XIX-XX Siècle », Le Seuil 1986,
trang 274.
17. Sách đă trích dẫn,
trang 274-275.
18. Sách đă trích dẫn,
trang 275.
19. Sách đă trích dẫn,
trang 275.
20. Xin xem Saint Simon :«
Œuvres De Saint Simon Et D’Enfantin », chap.XX, trang 17-26.
21. Xin xem Jean Jacques
Rousseau :« Discours Sur L’Origine De L’Inégalité », chap. II.
22. Sách đă trích dẫn.
23. Xin xem Bertrand de
Jouvenel :« De La Politique Pure », Calmann-Lévy, Paris 1963.
24. Sách đă trích dẫn,
trang 87-88.
25. Xin xem Jean
Baechler :« Précis De La Démocratie », Calmann-Lévy, Paris 1994.
26. Sách đă trích dẫn,
trang 29.
27. Sách đă trích dẫn,
trang 28.
28. Xin xem :« Thảm Sát
Mậu Thân », Định Hướng Tùng Thư, Pháp 1998.
28b. Xin xem K. Marx :«
Manuscrits 1884 ».
29. Xin xem Georges
Burdeau :« Traité De Science Politique », LGDJ, I, trang 216.
30. Xin xem Hobbes :« Léviathan »,
I, XIII.
31. Xin xem Friedrich
Hegel :« Phénoménologie De L’Esprit », IV.A.
32. Xin xem Friedrich
Hegel, Triết gia Đức (1770-1831), các tác phẩm của ông gồm có :
Phénoménologie De L’Esprit en 1807, La Science De Logique en 1812,
et Principes De La Philosophie Du Droit en 1821.
33. Xin xem Gaston
Fessard :« Autorité Et Bien Commun », Aubier, Paris 1945, trang 15.
34. Xin xem Saint
Augustin :« La Cité De Dieu », XIX, 15, PL :XLI, 643.
35. Xin xem
Proudhon :« Condessions D’Un Révolutionnaire ». 1849.
36. Xin xem Julien
Freund :« Le Nouvel Âge », Marcel Rivière, 1970, trang 41 hoặc
« L’Essence Du Politique », Sirey 1945.
37. Sách đă dẫn, như
trên.
38. Xin xem Pierre
Antoine :« Du Pouvoir Personnel À La Démocratie », dans Démocratie
Aujourd’hui, Spéc., 1963, trang 20-29.
39. Xin Xem
Montesquieu :« Considérations Sur Les Causes De La Grandeur Et De La
Décadance Des Romains », chap.I.
40. Xin xem Georges
Burdeau :« Traité De Science Politique », LGDJ, II, trang 128.
41. Sách đă trích dẫn,
trang 188.
42. Như trên, trang
190-191.
43. Xin xem Max Weber :«
Économie Et Société », Plon, Paris 1971, trang 567.
44. Xin xem Raymond
Aron :« Les Étapes De La Pensée Sociologique », Gallimard,
Colletion, Tel. 1967, trang 547.
45. Xin xem Max Werber :«
L’Éthique Protestante Et L’Esprit Du Capitalisme », Plon, Paris
1970, trang 249.
46. Xin xem Max Weber :
« Économie Et Société », Plon, Paris 1971, trang 273.
47. Xin xem Bertrand
Badie :« L’Etat Importé », Fayard, Paris 1972, trang 191.
48. Sách dă trích dẫn,
trang 194.
49. Xin xem Georges
Burdeau :« Traité De Science Politique », LGDJ, II, trang 295.
50. Sách đă trích dẫn,
trang 207-208.
51. Xin xem Jean Jacques
Rousseau :« Du Contrat Social », II, VI.
52. Xin xem
Montesquieu :« L’Esprit Des Lois », XI, V.
53. Như trên
54. Như trên, XI, VI.
55. Xin xem Georges
Burdeau :« Traité De Science Politique », LGDJ, II, trang 295.
56. Như trên, trang 295.
57. Xin xem Vũ Thư
Hiên :« Đêm Giữa Ban Ngày », Thiện Chí, Đức Quốc 1997.
58. Xin xem Jean Paul
II :« Encyclique Centesimus annus », 1991.
59. Như trên.
60. Như trên.
61. Xin xem Stéphane
Courtois : « Le Livre Noir Du Communisme », Robert Laffont, Paris
1998.
62. Xin xem Pierre
Antoine :« Du Pouvoir Personnel À La Démocratie », dans Démocratie
Aujourd’hui, Spec. 1963, trang 21.
63. Xin xem Mussolini :«
Article « Fascisme » de L’Encyclopédie Italienne, 1927.
64. Xin xem :« Bản Tuyên
Ngôn Nhân Quyền 1789 ».
65. Xin xem :« Bản Tuyên
Ngôn Quốc Tế Girondine » 1791.
66. Xin xem :« Bản Tuyên
Ngôn Độc Lập của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ » vào ngày 4.7.1776 tại
Philadelphie.
67. Xin xem Saint Thomas
d’Aquin :« De Regime Principum, Du Gouvernement Royal », Librairie
du Dauphine 1931, chap. VI.
68. Xin xem :«
Constitution Gauduim Et Spec », 74, 4-5.
69. Xin xem : « Encyclique
Populorum Progrssio » 31, của Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Lục.
70. Xin xem Yves
Madiot :« Les Droits De L’Homme », Paris 1987 và xem thêm :« Bản
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền », ấn bản đặc biệt của Nguyệt San Dân
Việt, Hamburg 1996, và Luật Sư Nguyễn Hữu Thống « Luật Quốc Tế Nhân
Quyền, The International Bill Of Human Rights », xuất bản Mạng Luới
Nhân Quyền Việt Nam 1998.
71. Xin xem Georges
Burdeau :« La Démocratie, Essai Synthétique », Neuchâtel-La
Bacomière, Paris 1965, trang 5.
72. Xin xem Julien
Freund :« Le Nouvel Âge », Marcel Rivière, Paris 1970, trang 33.
73. Sách đă trích dẫn,
trang 41.
74. Như trên.
75. Như trên.
76. Sách đă trích dẫn,
trang 41-42.
77. Như trên, trang 45.
78. Như trên, trang 47.
79. Như trên, trang 47.
80. Như trên, trang 54.
81. Như trên.
82. Sách đă trích dẫn như
trên, trang 54.
83. Như trên, trang 62.
84. Xin xem Raymonf
Aron :« Démocratie Et Totalitarisme », Gallimard, Coll. Idées 1965,
trang 358.
85. Xin xem Jean Jacques
Rousseau :« Du Contrat Social », chap. III.
86. Như trên, IX.
87. Như trên, IV.
88. Xin xem Jean
Baechler :« Précis De La Démocratie », Calmann-Lévy, Paris 1994, p.
67.
89. Như trên, trang 85.
90. Sách đă dẫn như trên,
trang 88.
91. Như trên, trang
88-89.
92. Như trên, trang 99.
93. Nhật Báo Asia Sentinel ngày
21.09.2009, bài báo « Vietnam Seeks to Silence in China Critics ».
NHỮNG SÁCH BÁO THAM
KHẢO
-
Jean Luc Chabot :«
Introduction À La Politique », PUF. Paris 1991.
- Eric
Weil :« Philosophie Politique », Vrin, Paris 1956.
- Friedrich
Hegel :« Phénoménologie De L’Esprit en 1807, La Science De Logique
en 1812 et Principes De La Philosophie Du Droit en 1821 ».
- Marchiavel (Niccolo
Machiavelli) :« Prince ».
- Charles Maurras :« Mes
Idée Polirique », Fayard, Paris 1937.
- Jugen Harbemas :«
L’Industrie Des Allemand, Une Fois Encore » dans Ecrits Politique,
Le Cerf 1990.
- Claude Lefort :« Essais
Sur Politique, XIX-XX Siècle », Le Seuil, Paris 1986.
- Saint Simon :« Parabole
Des Abeilles Et Des Frelons, Œuvres De Saint Simon Et D’Enfantin ».
- Jean Jacques
Rousseau :« Discours Sur L’Origine De L’Inégalitté Et Du Contrat
Social »
- Bertrand de
Jouvenel :« De La Politique Pure », Calmann-Lévy, Paris 1963.
- Karl Marx :« Manifeste
Communiste Et Manuscrits 1884 ».
- H.Chambre :« De Karl
Marx À Mao Tsé-Tung » Biliothèque de la Recherche Social, éd. Spec
1960.
- Pierre Masset :« Les 50
Mots Clés Du Marxisme », Ed. Privat, France 1970.
- René Coste :«Les
Dimensions Politiques De La Foi», Collection Appui et Les Editions
Ouvrières, Toulouse 1973.
- Georges Burdeau :«
Traité De Science Politique, et Démocratie, Essai Synthétique »,
Neuchâtel-La Bacomière 1956.
- Hobbes :« Leviathan »
- Gaston Fessard :«
Autorité Et Bien Commun », Aubier, Paris 1945.
- Proudhon :« L’Essence Du
Politique », Sirey 1945 ; et « Le Nouvel Âge », Marcel Rivière 1970.
- Pierre Antoine :« Du
Pouvoir Personnel À La Démocratie » dans Démocratie Aujourd’hui,
Spéc. 1963.
- Montesquieu :«
Considérations Sur Les Causes De La Grandeur Et De La Décadance Des
Romains, et L’Esprit Des Lois ».
- Max Weber :« Économie Et
Société »,Plon, Paris 1971, et « L’Éthique Protestante Et L’Esprit
Du Capitalisme », Plon 1964.
- Georges Sorel :«
Réflexions Sur La Violence ». Marcel Rivière 1966.
- Dimitri Volkogonov :«
Lénine, Moucou, Novosti », 1994.
- Bertrand
Badie :« L’Etat Importé », Fayard, Paris 1971.
- Thảm Sát Mậu Thân, Định
Hướng Tùng Thư, Pháp 1998.
- Raymond Aron : « Les
Étapes De La Pensée Sociologique », Gallimard. Coll. Tel 19967, et
« Démocratie Et Totaliarisme », Gallimard, Coll. Idées 1965.
- Vũ Thư Hiên :« Đêm Giữa
Ban Ngày », Thiện Chí, Đức Quốc 1997.
- Le Pape Jean Paul II :
« Encyclique Centesimus Annus », 1991.
- Le Pape Paul VI :«
Encyclique Populorum Progressio ».
- Mussolini :« Article
« Fascisme » de L’Encyclopédie Italienne, 1927.
- Bản « Tuyên Ngôn Nhân
Quyền » năm 1789.
- Bản « Tuyên Ngôn Nhân
Quyền Girondine » năm 1791.
- Bản « Tuyên Ngôn Nhân
Quyền của Hiệp Quốc Chủng Quốc Hoa Kỳ » năm 1776.
- Bản « Tuyên Ngôn Nhân
Quyền », ấn bản đạc biệt của Nguyệt Sản Dân Việt, Hamburg 1996.
- Bản « Luật Quốc Tế Nhân
Quyền » do Luật Sư Nguyễn Hữu Thống phiên dịch, Mạng Luới Nhân Quyền
Việt Nam 1998.
- Yves Madiot : « Les
Droit De L’Homme », Paris 1987.
- Saint Thomas :« De
Regimie Principum, Du Gouvernement Royal », Librairie du Dauphine
1931.
- Thánh Công Đồng
Vanticano II, Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt, 1972.
- Julien
Freund :« L’Essence Du Politique », Sirey 1965 et « Le Nouvel Âge »,
Marcel Rivière 1970.
- Saint Augustin :« La
Citté De Dieu » XIX, 15, Patologie Latin, XIX.
- Carl Schmite :« La
Notion Du Politique », Flammarion, Paris 1992.
- Stéphane Courtois :« Le
Livre Noir Du Communisme », Robert Laffont, Paris 1998.
- Charles Journet :«
Théologie De La Politique », Ed. Universitaires Fribourg Suisse
1987.
- Nguyễn An Tôn :« Công
Giáo Miền Nam Việt Nam Sau 30.4.1975 », Dân Chúa Xuất Bản, LA.
1988.
|