|
CHUYẾN ĐI
TẢO MỘ - THĂM VIẾNG DI TÍCH
THUYỀN NHÂN
Tháng 3 & 4 năm 2010
Singapore – Malaysia – Kuku &
Galang (Indonesia)
Kỷ niệm 35 năm định cư hải ngoại
Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN)
sẽ tổ chức chuyến viếng thăm và
cầu nguyện đến các trại tỵ nạn
cũ ở Malaysia và Indonesia.
Đây là lần thứ 8 kể từ tháng 4
năm 2005 VKTNVN thực hiện các
chuyến Về Bến Tự Do với mục đích
tưởng niệm những đồng bào vĩnh
viễn gửi thân ở xứ người trên
đường vượt biển, thăm lại các
nơi chốn tạm cư của thời tỵ nạn,
thu thập tài liệu – di vật cho
Viện Bảo tàng Thuyền nhân VN
tương lai và, trong khả năng cho
phép, đền ơn đáp nghĩa phần nào
cho những cá nhân, tổ chức thiện
nguyện quốc tế và quốc gia từng
cứu giúp chúng ta trong hoàn
cảnh khốn khó. Từ đó đến nay,
mỗi chuyến là một sự thành công
khác nhau và đều mang những ư
nghĩa đặc sắc riêng. Mọi người
tham dự đều hài ḷng, t́nh thân
ái gắn bó nhau chặt chẽ.
Chuyến Về Bến Tự Do 8
được dự trù tổ chức vào cuối
tháng Ba đến giữa tháng Tư 2010,
gồm 3 chặng. Quư đồng hương có
thể tham dự toàn phần chuyến đi
hoặc có thể tham dự từng chặng:
²
Chặng 1: Singapore – Bidong,
từ ngày 26-03 đến 02-04-2010.
²
Chặng 2: Singapore – Kuku &
Galang,
từ ngày 30-03 đến 11-04-2010.
²
Chặng 3 (gồm cả chặng 1 và chặng
2),
từ ngày 26-03 đến 11-04-2010.
+
Lịch tŕnh chuyến đi Bidong -
Kuku Galang 2010
+
ITINERARY IN NGLISH
+
Những điều cần biết để chuẩn bị
chuyến đi
Đọc tiếp bản tin này ...
Những ngôi mộ bị lăng quên
được t́m
thấy tại Kuku tháng 4-2009
Sau 4 năm vất vả t́m kiếm vị trí
"đảo Kuku" và đường đi đến khu
vực này, cuối cùng chuyến đi
tiền trạm cũng được h́nh thành
với 22 "tiền trạm viên" tham dự.
Chúng tôi đă t́m được nhiều ngôi
mộ thuyền nhân, có trên 30 ngôi
mộ, kể cả những mộ "nhà nghèo"
đánh dấu bằng những gộp đá,
giống như ở trại Bataan
(Philippines). Người địa phương
đi rừng đă biết đến những ngôi
mộ này. Họ hướng dẫn chúng tôi
đến những nơi họ biết.
Dưới đây là một số h́nh các ngôi
mộ tại khu vực Kuku, chúng tôi
giới thiệu để quư đọc giả có thể
h́nh dung ra được. Trong toàn
khu vực quần đảo Anambas và
Natuna, theo suy đoán và t́m
hiểu của VKTN chúng tôi chắc
chắn c̣n có nhiều mộ phần thuyền
nhân với giống như Kuku mà chúng
ta đă biết.
Với kinh nghiệm sẵn có, với một
kế hoạch đầy đủ hơn và sau khi
đă biết được đường đi nước bước
đến khu vực này VĂN KHỐ THUYỀN
NHÂN VIỆT NAM sẽ t́m được nhiều
mộ phần thuyền nhân khác trong
toàn vùng Anambas và Natuna nơi
mà ông Nala, Cao Uỷ Trưởng của
khu vực vào thập niên 70 - 80
cho biết có khoảng 2.000 thuyền
nhân đă qua đời v́ bệnh sốt rét
rừng và được mai táng nơi đây.

Ông Nala, Cao Uỷ Trưởng khu vực
Anambas và Natuna thập niên 70 -
80.
Kuku,
nhật kư dọc đường... (Bài
1/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
Buổi ăn trưa, thay v́ dự định ở
Nam Dương, được đặt bàn cấp tốc
tại một nhà hàng gần khách sạn
để o bế bao tử của “thập bát anh
hào” (v́ ai nấy đều... ăn khỏe
như trâu) trước khi 18 trự (không
kể 4 mạng đă “cắm dùi” trước bên
Nam Dương) chất lên chiếc
mini-bus thuê bao trực chỉ hướng
trung tâm thành phố.
|
 |
|
|
Tại Singapore
|
|
Ông nhà báo Lưu Dân (mà mọi
người cứ “vô tư” bỏ dấu sai
thành... Lựu Đạn) t́nh nguyện
làm hướng dẫn viên du lịch v́ đă
nhiều lần đến Sing. Chiếc xe -
với chàng tài xế nói tiếng Anh
khá sơi - đưa chúng tôi đến các
thắng cảnh nổi tiếng, như: Nhà
hát Sầu Riêng (v́ h́nh dáng của
nó trông giống loại trái cây này),
Viện Bảo tàng Nghệ thuật Á châu
(khi ấy đang có cuộc triển lăm
về các phẩm vật triều cống của
các nước chư hầu cho Trung Hoa
trong những thế kỷ trước), Công
viên Merlion Park (nơi đặt bức
tượng đầu sư tử đuôi cá đang
phun nước, biểu tượng của
Singapore) và Mount Faber (đỉnh
núi có đường giây cáp treo đến
đảo du lịch Sentosa)...
Âm thanh và ánh sáng từ các
chiếc máy h́nh đủ loại, đủ kiểu
cứ vang lên tí tách ở mỗi nơi
dừng lại. Kẻ đứng tạo dáng,
người khom bấm máy rộn cả góc
trời khiến ông trưởng đoàn phát
hoảng la toáng lên: “Nè, chừa
memory cho h́nh ảnh Kuku nghen.
Chuyến đi chưa thực sự bắt đầu
đâu, bà con ơi!” Thế chứ,
tưởng trục trặc hóa ra lại hay,
và đáng đồng tiền bát gạo.
Chuyến City Tour đă “gỡ” lại
được phần tư vé bay rồi đấy! Đến
4 giờ chiều, mọi người lên tàu
tốc hành sang Nam Dương mà câu
chuyện vẫn râm ran chưa dứt.
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 2
(11.04 Terempah - Kuku): Đoạn
đường... chiến binh! (Bài 2/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
Bến tàu khách Matak tuyệt đẹp,
nhà sàn sát mí nước, biển và
rừng trùng điệp xanh ngắt. Chúng
tôi đi cùng khoảng 50 người dân
địa phương (cộng với xe gắn máy,
gà vịt, ḿ gói và đủ thứ hàng
tạp hóa khác) đến Terempah,
giống hệt các chuyến đ̣ ngang ở
miền Tây Nam Bộ của quê hương
nhưng trật tự và an toàn hơn.
Nhiều người trong đoàn cũng cảm
nhận một niềm vui nhẹ nhàng khi
nh́n thấy một nhà sư Phật giáo
trung niên đi cùng trên tàu. Ở
đất nước Hồi giáo này, nhà thờ
Công giáo hay chùa chiền Phật
giáo là những h́nh ảnh hiếm thấy.
Vạt áo cà sa màu vàng nghệ và
khuôn mặt thư thái của vị sư nổi
bật trên nền trời trong xanh
giữa ngổn ngang những tất bật
thế sự trên chuyến tàu hôm ấy đă
mang đến một cảm giác yên b́nh
và may mắn. Chúng tôi nào biết
đó là cái duyên đầu tiên của
ḿnh trong chuyến đi t́m về kỷ
niệm này...
|
 |
|
|
Khu bến tàu Matak
|
|
Tàu càng xa bờ mọi người càng
ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của
thiên nhiên. Ở đất nước có hơn
17 ngàn ḥn đảo này, người ta có
thể bắt gặp bất cứ nơi đâu các
băi cát vàng tươi, các vách núi
cheo leo, các hang động hiểm trở
và các làng chài hiền ḥa muôn
thưở... Nhưng có lẽ ấn tượng đập
mạnh nhất vào mắt chúng tôi khi
tàu đến gần Terempah là ngôi
chùa chênh vênh trên sườn núi,
mái ngói đỏ au như một chấm son
tươi trên nền đá xám dăi dầu.
Nơi đây, vào buổi tối hôm đó,
chúng tôi đến lễ Phật và gặp lại
vị sư đi cùng tàu, người chỉ
thỉnh thoảng từ Matak sang
Terempah một lần nhân những ngày
vía lớn.
Đến Terempah, chẳng có “quan
chức” nào... ân cần tiếp đón cả,
ngoài một bầy con nít tíu tít
reo ḥ và những ánh mắt hiếu kỳ
từ các hàng quán bên cầu tàu. Ừ,
như thế dễ chịu hơn, chứ khách
sáo hoài cũng mệt. Vậy mà chúng
tôi vẫn nh́n thấy một tấm
băng-rôn lớn giăng ngay trên
đường phố chính của đảo “Chào
mừng đoàn du khách đến thăm
Kuku”.
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 3
(12.04 Letung - Kuku): Trời quen
đất lạ… (Bài 3/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
Chiếc ca-nô lại phóng ḿnh ra
biển với những tiếng cười và
chuyện kể rôm rả. Ai nấy đều đă
quên bản mặt đăm đăm như bị táo
bón của Xếp Bến Tàu như quên một
lỗ ổ gà dọc đường. Tàu ghé đảo
Air Raya rước hai người hướng
đạo địa phương đến Kuku v́ họ
biết rành các thủy lộ tránh đá
ngầm và cũng đă từng sống ở Kuku
trong thời gian có người VN tỵ
nạn. Họ mang cả dao rựa (thấy mà
khiếp!) để phát hoang mở đường
cho chúng tôi đến những địa điểm
muốn đến.
|
 |
|
|
Kuku đây rồi!
|
|
Theo hướng chỉ của người dẫn
đường, Kuku hiện ra mờ mờ từ
phía chân trời sau khoảng nửa
giờ hải hành. Chúng tôi yêu cầu
tài công giảm tốc độ để mọi
người có thể ngắm nh́n ḥn đảo
một thời từng là mảnh đất hồi
sinh của ḿnh. Ai nấy đều chồm
ra ngoài khung cửa sổ, tất cả
máy chụp h́nh giương cao lên để
bấm những tấm ảnh để đời, bất
chấp các quy định về an toàn di
chuyển. Viên tài công mỉm cười
thông cảm và chia sẻ. Mấy khi
một đoàn khách thế này có dịp về
thăm lại nơi chốn đầy ắp kỷ niệm
như vậy...
Kuku không phải là một địa danh
du lịch nổi tiếng hay một vùng
dân cư trù phú. Nó chỉ là một
rẻo đất đảo rộng chừng vài chục
cây số vuông mà ngay cả một số
người địa phương chưa hề nghe
tên. Nhưng đối với gần trăm ngàn
thuyền nhân Việt Nam, Kuku nằm
tận trong ngăn sâu kư ức bồi hồi
v́ nó từng là nơi đặt chân đầu
tiên của họ trên đường vượt biển
tỵ nạn cách đây hơn một phần tư
thế kỷ.
Nhớ lại, nhân chuyến Về Bến Tự
Do lần thứ nh́ hồi tháng 8.2005
- sau khi hai tượng đài tưởng
niệm thuyền nhân ở các trại tỵ
nạn Bidong (Mă Lai) và Galang
(Nam Dương) bị đập bỏ v́ áp lực
từ Hà Nội - VKTNVN đă có dịp
tiếp xúc với Thống đốc của Tiểu
bang Tanjung Pinang để bày tỏ
ḷng tri ân của người tỵ nạn VN
với Chính phủ Nam Dương và đồng
thời xin phép đến thăm Kuku.
Chính vị Thống đốc rất thân
thiện này, một Tiến sĩ tốt
nghiệp từ Bỉ có sự hiểu biết sâu
sắc về hoàn cảnh của người tỵ
nạn từ Việt Nam, cũng không biết
Kuku nằm ở đâu, dù nó thuộc
quyền quản trị hành chánh của
ông.
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 3
(12.04 Kuku): Phép lạ giữa đời...
(4/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
Trong đoàn trở về Kuku có ba
nhóm t́m kiếm phần mộ người thân
và hỏa thiêu hài cốt nếu t́m
thấy. Các thành viên khác trong
đoàn - ngoài mục đích thăm viếng,
cầu nguyện và thu thập di vật
thuyền nhân - cũng nhân chuyến
đi này tự nguyện “đỡ đần một tay”
với các nhóm đó, dù đa số không
quen biết nhau trước khi lên
đường.
Nhóm thứ nhất là “Băng 3T”, gồm
3 anh em cột chèo: Triệu (từ
Melbourne, Úc), Tài và Tước (từ
Sài G̣n, Việt Nam). Triệu là
người chèo lái, “rước” người chị
đầu, Tài và Tước là hai người
chèo mũi, “ẵm” hai cô em sau. Do
một cơ duyên t́nh cờ từ mấy
tháng trước, ba anh em cùng hẹn
đến Kuku v́ một lư do rất xa và
rất gần...
Cách đây gần đúng 27 năm, anh
Triệu cùng người vợ mới cưới,
chị Cecile Hoàng Thu Minh, đến
Kuku sau một chuyến vượt biên
gian nan vào đầu tháng 6.1982.
Mối t́nh đầy trắc trở và thử
thách qua thời gian dài đă bắt
đầu kết hoa đơm trái trên ḥn
đảo tỵ nạn này, một nơi thiếu
hụt mọi bề mà đôi vợ chồng son
coi như thiên đường trăng mật
của họ.
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 4
(13.04 Kuku - Letung): Hạnh ngộ
tuyệt vời (Bài 5/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
|
 |
|
|
Hoả táng được thực hiện
trên bờ biển Kuku
|
|
Thực sự, sau khi t́m được gương
và lược, anh Triệu vẫn chưa
“chắc ăn” rằng bộ hài cốt trong
tấm bọc nylon là di thể của vợ,
v́ trong vài ngày qua chúng tôi
đă tận mắt chứng kiến nhiều sự
kiện huyền nhiệm không thể giải
thích được. Anh vẫn c̣n âm thầm
chờ đợi một xác định cuối cùng.
Anh căn dặn Tài và Tước cả chục
lần: “C̣n chiếc nhẫn cưới nữa!”
Và khi Tài t́m thấy nó, anh
đă thở phào như trút ra tất cả
những ưu tư chất chứa từ đầu
chuyến đi...
Ôi, bằng chứng kết ước của t́nh
nghĩa vợ chồng vẫn c̣n nguyên
vẹn. Anh Triệu cầm lấy chiếc
nhẫn c̣n dính đất và đeo ngay
vào tay ḿnh, như thể không c̣n
chờ đợi thêm một giây nào nữa!
Anh kể lại rằng anh đă giữ lại
và đem theo bông tai và dây
chuyền của chị như một kỷ vật v́
sợ người chết bị quấy nhiễu bởi
những kẻ đạo chích vô lương muốn
quật mộ để t́m vàng. Riêng chiếc
nhẫn này anh quyết định chôn
theo chị như lời nguyện chung
thân của hai người trong ngày
hôn lễ. Chiếc nhẫn đó sẽ nằm
trong hủ cốt của chị khi anh đưa
chị về Việt Nam.
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 5
(14.04: Berhala - Air Biru): Quê
người chạnh nhớ... (Bài 6/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
|
 |
|
|
Ḥn đảo
Berhala, nơi ngày xưa có
hàng ngàn thuyền nhân
tạm trú nay có cầu nối
vào Letung.
|
|
Tuy là ngày "sinh
hoạt tự do" trong chương tŕnh
nhưng chúng tôi cũng đă tận dụng
thời gian để... đi cho biết đó
biết đây. Theo lời chỉ dẫn của
người dân địa phương, cả đoàn rủ
nhau đi bộ đến đảo Berhala kế
cận, nơi được biết có vài chục
ngôi mộ thuyền nhân VN an táng
từ gần 30 năm trước. Nghe "đi bộ
đến đảo" có vẻ hơi... là lạ,
nhưng thật sự là vậy. Một chiếc
cầu đá dài và vững chắc đă được
xây từ nhiều năm trước (sau thời
người tỵ nạn VN đến đây) nối
liền Letung với Berhala cho
người đi bộ. Xe hơi nhỏ cũng có
thể chạy trên chiếc cầu.
Trên đảo Berhala
chỉ có vài ngôi nhà và một đài
hải đăng hướng dẫn tàu bè quốc
tế qua lại trên vùng biển này.
Nơi đây cũng rất gần với hải
phận quốc tế và là một "khu vực
nhạy cảm" trong t́nh h́nh tranh
chấp lănh hải hiện nay giữa
những quốc gia lân cận, đặc biệt
là từ khi Trung Quốc công bố "bản
đồ lưỡi ḅ" dành phần chủ quyền
của họ trên Biển Đông. Chính phủ
Nam Dương không ồn ào tranh căi
về tham vọng bành trướng của chủ
nghĩa Đại Hán từ phương Bắc
nhưng rơ ràng họ đă khẳng định
tư cách chủ nhân của ḿnh bằng
hành động. Chiếc cầu Berhala và
lá cờ đỏ trắng trên đỉnh đảo là
một tuyên ngôn không lời, nhưng
rơ ràng và quyết liệt biểu hiện
ư chí bảo vệ giang sơn của họ.
Đọc tiếp bài này
...
Ngày 6
(15.04 Keramut - Air Raya): Cầu
nguyện giữa trưa (Bài 7/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
|
 |
|
|
Băi biền Air Raya.
Cầu tàu ngày xưa giờ c̣n
trơ những trụ gỗ
|
|
Chúng tôi đào một hố cát trên
băi để lấp lại tro than như một
phần mộ trong tâm tưởng và cũng
để tránh cháy rừng v́ những cơn
gió khô thổi lan sang các bụi
cây chung quanh trước khi rời
đảo.
Lội ra lại ca-nô, Edi, người dẫn
đoàn luôn ở bên cạnh chúng tôi
trong suốt chuyến đi, chợt thốt
lên một câu trào phúng để xóa
bớt không khí lắng đọng sau buổi
lễ tưởng niệm: “Các bạn đă
đói rồi chắc? Chúng ta ăn trưa ở
Thiên đàng nhé? Có ai muốn theo
tôi không?”
Dĩ nhiên rồi, nhưng Thiên đàng ở
đâu?
Từ xa, mọi người đă ồ lên một
tiếng kinh ngạc. Chúng tôi chưa
từng nh́n thấy một hải đảo đẹp
như thế bao giờ! Ḥn đảo như
chưa hề có vết chân người, những
bụi cây thấp với màu lá xanh
mướt như ngọc, hàng dừa lă thân
trên băi cát trắng tinh tít tắp.
Và làn nước trong vắt như pha lê,
nh́n rơ cả những đàn cá đủ màu
nhởn nhơ đẹp như... màn h́nh
computer. Thảo nào, người địa
phương đặt tên ḥn đảo này là
Impol (Waters of God): Nước của
Trời!
Chúng tôi “hạ trại” ở đó. Mấy
thùng ḿ xào ớt (độn ṣ điệp và
tôm sú) được mang ra “xử lư” tại
chỗ với những ngụm nước dừa tươi
ngọt lịm. Ai cũng tưởng cái món
truyền thống của Xứ Vạn Đảo đă
làm mọi người ngán tận cổ mấy
ngày hôm nay, nhưng anh bạn
người Huế sành ăn lại so sánh
“ḿ thiên đàng” Nam Dương là kỳ
phùng địch thủ với “cơm âm phủ”
của đất thần kinh ở Việt Nam.
Nhiều người trong đoàn chưa biết
món đặc sản Huế nổi tiếng này
nhưng ai cũng vét đến cọng ḿ
cuối cùng trong “cái tô” làm
bằng nửa trái dừa tươi c̣n
nguyên lớp cơm đúng nạo trơn mềm
và béo ngậy...
|
 |
|
Nước biển trong vắt lóng
lánh như pha lê |
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 7
(16.04 Terempah - Batam): Đồng
bào bỏ rơi... (Bài 8/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
Buổi gặp gỡ ngắn ngủi với nhóm
ngư dân ở Terempah bị cảnh sát
cắt ngang v́ “hết giờ thăm nuôi”.
Chúng tôi góp lại những món quà
thực tế để giúp họ qua cơn ngặt
nghèo và nhận chuyển những lá
thư gửi về nhà với cơi ḷng nặng
trĩu...
|
 |
|
|
Trong một nhà hàng nhỏ
ăn trưa tại Terempa và
chờ giờ ra sân bay về
Tanjung Pinang!
|
|
Chuyến ca-nô tốc hành đưa chúng
tôi về lại Matak vào buổi trưa
nắng đẹp. Cũng như lượt đi, máy
bay đến Tangjung Pinang lại...
trễ giờ. Ngồi chờ lây lất trong
một quán ăn ven đường, anh
Trưởng đoàn và Edi cứ quưnh
quáng như gà mắc đẻ, v́ nếu
không kịp chuyến phà chót trong
ngày về Batam, chúng tôi phải
nằm lại đây và ngủ... màn trời
chiếu đất.
Cũng hên, khi mọi người gần như
đă... đầu hàng giờ giấc của Air
Riau, chúng tôi được báo tin máy
bay đă đến và sẽ cất cánh trong
ṿng 10 phút nữa. Thế là ba-lô
lên vai và mạnh ai nấy chạy! Khi
người cuối cùng bước qua khỏi
cầu thang, máy bay cũng vừa lăn
bánh ra phi đạo. Nhờ Edi sắp xếp
sẵn, hành lư của chúng tôi gửi
lại khách sạn mấy ngày trước đă
được chuyển thẳng ra bến phà.
Một lần nữa, chúng tôi là nhóm
hành khách cuối cùng của chuyến
chót trong ngày về Batam, nơi
chúng tôi chỉ c̣n kịp thời gian
để nhận pḥng ở khách sạn Nagoya
và... lăn đùng ra ngủ!
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 8
(17.04 Galang - Singapore):
Ngưỡng cửa T́nh người (Bài 9/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
|
 |
|
|
Giờ chia tay tại Batam
|
|
Màn “Lên xe tiễn nhau đi, chưa
bao giờ... mừng thế” diễn ra khá...
rươm rướm (gớm, chẳng biết mấy
bà mấy cô lấy đâu ra thứ chất
lỏng quư hiếm này dễ dàng thế!)
nhưng cũng gọn nhẹ v́ chúng tôi
c̣n phải tranh thủ ngày cuối
cùng của chuyến đi để thăm trại
tỵ nạn Galang, nơi từng là trạm
dừng chân của nhiều cựu Kuku
trước khi lên đường định cư.
Thật ra, chặng Galang không nằm
trong chương tŕnh ban đầu nhưng
theo yêu cầu của nhiều người
trong đoàn, Trần Lăo Gia đă thu
xếp với công ty du lịch để chúng
tôi trở lại nơi từng được đặt
tên là “Ngưỡng cửa của Tự do và
T́nh người” chỉ cách Batam hơn
một tiếng lái xe.
Dù chỉ trong vài giờ ngắn ngủi,
chúng tôi đă đến được các địa
điểm ghi dấu nhiều kỷ niệm trong
đời tỵ nạn như Cầu tàu và Chùa
Quan Âm ở Galang I, Nghĩa trang
Galang III, Miếu Ba Cô và Nhà
thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Galang
II... Tại những nơi này, chúng
tôi cũng đă thực hiện những buổi
lễ cầu siêu cho hương linh đồng
bào nằm lại trước khi trở lại
bến phà Batam về Singapore vào
buổi chiều.
Buổi ăn tối chia tay trên cầu
tàu Boat Quay ở Singapore tuy
dập d́u tài tử giai nhân, đèn
màu rực rỡ cả một khúc sông và
nhiều món ăn hấp dẫn nhưng không
khí trong nhóm dường như trầm
hẳn xuống. Mấy tay “quậy” cũng
nín khe không moi ra được một
câu bông đùa thường ngày khi
chúng tôi uống cạn hớp bia cuối
cùng và đứng dậy ôm nhau hát khẽ
bài tạm biệt “Gặp nhau đây,
rồi chia tay...” lúc đồng hồ
chỉ quá nửa đêm.
Đọc tiếp bài này ...
Ngày 9
(18.04 Singapore - Home): Gặp
nhau đây, rồi chia tay... (Bài
10/10)
Lưu Dân (Sydney - Australia)
Trong chuyến đi, không ai trong
đoàn tiên đoán được hết những
bất ngờ dọc đường. Chương tŕnh
được linh động điều chỉnh liên
tục v́ sự thay đổi ngoài dự tính.
Chúng tôi đă di chuyển bằng mọi
phương tiện có thể thu xếp được
tại chỗ; từ những phi cơ hiện
đại của các hăng hàng không quốc
tế đến các chuyến bay nội địa
bằng phi cơ cánh quạt thời... Đệ
nhị Thế chiến, từ những chiếc
ca-nô cao tốc đến các chiếc tàu
khách chậm ŕ, từ những xe du
lịch ŕ rào máy lạnh êm như ru
đến các chiếc xe đ̣ cởi hết cả
áo vẫn c̣n chảy mồ hôi (thật là...
tội nghiệp cho các bà các cô!),
từ các đoạn "xe ôm" từng cặp bất
đắc dĩ đến những cuốc... xe dép
mỏi nhừ đôi chân. Vậy mà chẳng
ai thốt ra một lời than. Vậy mà
chỉ nghe tiếng cười, câu hát,
chuyện vui rộn ràng trên những
đoạn đường t́m về kỷ niệm...
|
 |
|
|
Thơ mộng của Letung!
Thiên nhiên, trời và
nước! |
|
Chúng tôi đă hưởng thụ - theo
nghĩa đúng nhất - những phong
cảnh kỳ vĩ của thiên nhiên và
thổ sản địa phương độc đáo mà
những du khách dư dă tiền bạc
chưa chắc đă mua được. Làm sao
bạn có thể ngắm được ánh nắng
chiều ráng đỏ trên đường chân
trời giữa chập chùng hải đảo?
Làm sao bạn có thể ngâm ḿnh
dưới làn nước trong veo như thủy
tinh trên băi cát trắng mịn ở
băi biển mà người địa phương đặt
tên là "Nước của Trời", uống
ngụm nước dừa mới hái và ăn ngay
tại băi những con tôm hùm c̣n
quẫy đuôi tanh tách do các ngư
dân mang đến trên những chiếc
ghe độc mộc chèo tay? Và làm sao
có được những đêm văn nghệ ngẫu
hứng vui nhộn bằng các ngôn ngữ
Anh, Pháp, Đức, Việt và Nam
Dương được tŕnh diễn bởi "những
giọng hát quốc tế chưa hề cầm
micro chuyên nghiệp" nhưng hay
chẳng kém bất cứ siêu sao ca
nhạc nào?
Chúng tôi cũng đă sớt chia với
nhau những ḍng nước mắt rưng
rưng hạnh phúc khi cùng các bạn
đồng hành t́m thấy mộ phần quạnh
hiu nhang khói từ hàng chục năm
qua của người thân nằm lại trên
đảo, nhặt từng chiếc dép, sợi
neo, mảnh chén... c̣n vương mùi
dâu bể của cuộc hành tŕnh gian
truân và bi thảm nhất trong lịch
sử dân tộc.
Nhưng thú vị và cảm động nhất
vẫn là những ân t́nh đậm đà với
những người mà chúng tôi một
thời đă chịu ơn, hoặc với những
người đương thời mà chúng tôi
đang mắc nợ.
Đọc tiếp bài này ...
 |