|
Hồi tưởng lại
32 năm trước về
chuyến đi Định
Mệnh của tàu Trường Xuân
Phạm Ngọc
Lũy
Tháng
11/1974, tàu Trường Xuân ra Ḥn Khói lấy muối để chở đi
Singapore. Gió Đông Bắc thổi mạnh, lùa từng cơn gió giật vào
vịnh, khiến những ghe nhỏ không thể cặp vào tầu để vợi muối.
Số muối dự định chở sang Singapore phải bỏ lại đến 1 phần
3.

Tàu Trường
Xuân rời Việt Nam đang lúc t́nh h́nh chiến sự nghiêm trọng.
Giao kèo chuyên chở hàng hóa trong vùng Đông Nam Á đến hết
tháng 6/75 mới có thể trở về Việt Nam. Tôi thật sự lo lắng
miền Nam không thể đứng vững, v́ đồng minh đă bỏ chạy, c̣n
Bắc quân có cả một hậu phương rộng lớn: Trung Cộng và các
nước trong khối Liên Xô. Trường Xuân đến Singapore, ghé
Bangkok, rồi đi Phi Luật Tân... Hết Cebu đến Manila, qua
Ternate Nam Dương rồi đến Balik Papan thuộc Borneo. T́nh
h́nh đất nước ngày một khẩn trương. Qua đài BBC, VOA, hết
Quảng Trị, Đà Nẵng, Qui Nhơn, đến Nha Trang, miền Cao Nguyên
Trung Phần rơi vào tay Cộng Sản. Quân đội miền Nam tiếp tục
di tản, cảnh dân chạy loạn thật hỗn loạn, bi thảm. Những sà
lan, những ghe thuyền chở đồng bào tị nạn từ miền Trung trôi
dạt ngoài biển, không lương thực, không nước uống. H́nh ảnh
những bao rác đựng xác trẻ con đem từ các sà lan xếp thành
hàng dài ngoài băi biển Vũng Tàu cùng những h́nh ảnh bầy trẻ
lạc cha mẹ trong các trại tị nạn đă gây nhiều bàng hoàng và
xúc động mănh liêt.
Tôi không
phải là một sĩ quan trong quân đội cầm súng chống quân thù.
Tôi là một nhà hàng hải, có thể giúp được ǵ cho Quê Hương,
cho đồng bào trong cảnh khói lửa điêu linh này? Tôi rất muốn
được giúp đồng bào tôi, được cùng chia xẻ với đồng bào trong
giờ phút đau thương này. Ngồi trên con tàu cách xa quê hương
ngàn dặm mà ḷng tôi bồn chồn như lửa đốt...

Tôi cố hồi
tưởng và viết lại những sự kiện đă giúp cho 3628 đồng bào
chúng tôi bất chấp hiểm nguy, cùng nhau vượt biển khơi để
tránh khỏi rơi vào tay Cộng Sản và đi t́m Tự Do. Sau đây là
diễn tiến của nhiều việc đă đưa đến chuyến đi định mệnh của
tàu Trường Xuân. Những sự kiện mà sau này lúc ngẫm nghĩ lại
th́ tôi thấy dường như đă được sắp đặt một cách huyền diệu
để đưa tàu Trường Xuân ra khơi, để thử thách mọi người trên
tàu phải phấn đấu để đạt được niềm ước vọng quí giá là hai
chữ Tự Do. Tàu Trường Xuân rời bến Kho Năm, Khánh Hội,
Saigon hồi 1 giờ 25 phút trưa ngày 30/4/1975 sau khi Tướng
Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, và quân Cộng sản tiến
chiếm Saigon hồi 10 giờ sáng...

(1)
Ngày 3/4/75, đài phát thanh Úc loan tin: “Quân đội
Cộng sản c̣n cách Thủ đô Saig̣n 60 cây số và đang tiến về
Thủ đô không gặp sự kháng cự nào.” Tàu cặp bến Pare Pare,
tôi loan tin trên cho thủy thủ đoàn. Tất cả đều muốn về với
gia đ́nh. Tàu Trường Xuân quyết định chỉ ghé Singapore lấy
hàng rồi quay trở về Saigon.
(2)
Lúc ghé Singapore, Cơ khí trưởng tàu Trường Xuân đi
phố chơi, ăn nhậu say, khi về đến cổng thương cảng th́ bị
vấp ngă, bị thương ở đầu bất tỉnh nhân sự. Cảnh sát phải chở
đi nhà thương điều trị. Tàu Trường Xuân về đến Saigon, Cơ
khí trưởng xin tạm nghỉ việc để điều trị vết thương. Vị Cơ
khí trưởng này thường phát biểu ư tưởng có nhiều thiện cảm
với phe bên kia cho nên tôi nghĩ rằng nếu anh ta không gặp
tai nạn th́ đến ngày 30/4 chưa chắc anh ta đă chịu xuống tàu
để di tản và đến giờ phút cuối cùng th́ không dễ ǵ t́m được
một người Cơ khí trưởng.
(3)
Tàu Trường Xuân về đến Saigon ngày 17/4/75, cặp bến
Thương cảng Khánh Hội gặp nước ṛng nên tàu cặp bến quay lái
(phía sau tàu) ra biển. Tàu đă đến hạn lên ụ để tu sửa đại
kỳ hàng năm. V́ công xưởng hải quân bận việc nên tàu chỉ tu
sửa những bộ phận cần thiết ngay tại bến thay v́ nằm ụ cả
tháng trời. Tàu lấy hàng 300 tấn sắt vụn, lấy 80 tấn dầu,
100 tấn nước ngọt và 10 bao gạo để chuẩn bị đi Manila. Tàu
có thể khởi hành ngày 24/4/75 nhưng tôi nấn ná chưa khởi
hành v́ t́nh h́nh đất nước mỗi ngày một nghiêm trọng...
(4)
Tôi xin Công Ty Vishipco tuyển dụng Cơ khí trưởng Lê
Hồng Phi. Măi đến sáng ngày 29/4/75 Công Ty mới chấp thuận
cho Cơ khí trưởng Phi nhận việc.
(5)
5 giờ chiều ngày 29/4/75, tôi xuống tàu không gặp Cơ
khí trưởng Phi, và sĩ quan phụ tá cho biết là Phi đă về nhà
đưa gia đ́nh ra bến thương cảng để cùng di tản. Tôi dùng
phấn viết lệnh rời bến lên bảng đen cho thủy thủ đoàn: “Tàu
rời bến ngày 30/4/75 hồi 11:30 sáng.”
(6)
6 giờ sáng 30/4/75, Trần Khắc Thuyên chở tôi ra tàu
cùng với Phạm Trúc Lâm. Đường sang thương cảng Khánh Hội bị
chắn nhiều khu phố. Sau khi quan sát tàu, Thuyên đưa tôi về
nhà để hướng dẫn hai xe GMC chở khoảng 200 người gồm gia
đ́nh, thân nhân và bà con lối xóm, ra thương cảng...
(7)
B́nh thường trước khi tàu khởi hành, sĩ quan phụ tá
phải cho thử tay lái trên đài chỉ huy để bảo đảm chạy tốt,
và chính tôi cũng thân hành tự kiểm soát lại. Tuy nhiên sáng
30/4/75, tôi nhớ là đă tự nhủ phải đi kiểm soát lại tay lái
xem có ǵ trục trặc không, nhưng tôi lại quyết định không
thử tay lái v́ bụng bảo dạ: “Giờ này mà c̣n đi lo những việc
nhỏ... Cộng quân đă tiến vào Saigon rồi... Việc thử tay lái
đă có sĩ quan phụ tá lo...” Rồi tôi lại tự trách sao lại đi
lo những chuyện không đáng lo. Và thực ra không hiểu v́ sao
chính sĩ quan phụ tá lần đó cũng quên thử tay lái trước khi
nhổ neo, v́ nếu được biết trước tay lái đă bị hỏng hay bị
phá hoại th́ tôi đă không dám cho tàu rời bến.
(8)
9 giờ sáng, Sĩ quan Vô tuyến điện Nguyễn Văn Diệt yêu
cầu tôi ra cổng thương cảng để can thiệp với nhân viên cảnh
sát gác cổng cho gia đ́nh anh vào trong lên tàu để di tản.
Ra đến cổng th́ thấy đồng bào chạy nhớn nhác như một đại nạn
đang ập đến. Không thấy gia đ́nh, Diệt xin nghỉ ở lại t́m
gia đ́nh...
Một thủy thủ
đoàn tối thiểu phải có Thuyền Trưởng, Cơ khí trưởng và Sĩ
quan Vô tuyến, nhưng bây giờ Sĩ quan Vô tuyến đă xin ở lại.
Tôi đành phải chấp thuận v́ biết dù có ra lệnh buộc anh phải
đi cũng chẳng được... (Ba năm sau anh Diệt di tản bằng
thuyền, định cư ở vùng Virginia. Sau bị tai nạn xe cộ đă mất.)
Tôi buồn bă
trở về tàu, trong ḷng hoang mang lo ngại v́ không biết t́m
đâu ra một Sĩ quan Vô tuyến điện trong giờ phút này. Vừa về
đến tàu th́ gặp anh Nguyễn Ngọc Thanh, Sĩ quan Vô tuyến điện
của một tàu khác đến xin nhận việc. Tôi mừng rỡ nhận lời
ngay và thầm cảm ơn Trời Phật sao đă khéo léo xếp đặt. (Anh
Nguyễn Ngọc Thanh đă mất tại Pháp quốc.)
(9)
Khoảng 12
giờ trưa, dân cũng như quân ào ào đổ xuống tàu. Cầu thang để
leo lên tàu đă bị găy. Cơ khí trưởng Phi báo tin tàu có thể
khởi hành và tôi ra lệnh khởi hành. Vừa mở giây buộc cho tàu
tiến nhẹ, bẻ nhẹ tay lái sang phải, tàu chạy thẳng. Tay lái
không ăn! Tàu ngừng chạy, cặp lại bến. Tôi mới nhận ra là
tay lái đă bị hỏng. Hệ thống tay lái dùng dầu ép để điều
khiển bánh lái, nhưng sau được biết hệ thống điều khiển bánh
lái đă bị kẻ nào phá hoại trút dầu ra và cho nước vào. Thật
là một sự kiện kinh hoàng đến choáng óc. Tôi đă thoáng nghĩ
đến việc hủy bỏ chuyến đi... Cơ khí trưởng sau khi xem xét
lại hệ thống lái, cho biết tay lái pḥng hờ c̣n xử dụng được.
Trong suốt cuộc đời làm Thuyền trưởng tôi chưa bao giờ phải
xử dụng tay lái pḥng hờ, mà bây giờ lại không có lấy được
một người thủy thủ biết lái. Chưa biết đối phó với t́nh
huống nan giải th́ một người đứng gần đó tự nguyện nhận điều
khiển tay lái phụ...
(10)
Khoảng 13 giờ, nước bắt đầu lớn - thủy triều lên. Tôi
cho mở giây ở phía lái tàu để tàu tự động xoay 180 độ trên
sông, hướng mũi ra khơi... Ngay lúc tàu vừa rời bến, một cơn
gió nhẹ thổi từ bờ đẩy tầu ra giữa sông. 13 giờ 25 tàu khởi
hành. Từ đài chỉ huy, tôi ra lệnh lái tàu qua một ống loa
dài chừng 20 thước dẫn đến người bẻ bánh lái ngồi trong một
cái cḥi ở phía sau tàu. Lúc đầu tôi ra lệnh sang phải 10 độ
th́ tàu lại hướng sang phía trái. Tôi chợt nhận ra ngay là
núm điều khiển tay lái phụ chỉ ngược chiều với hướng tàu
chạy. Bắt đầu từ đó, muốn tàu sang bên phải th́ tôi lại ra
lệnh ngược lại. Cứ thế mà đi trên sông.
(11)
Đến khúc sông rộng, tàu đang chạy ngon trớn, bỗng Cơ
khí trưởng hét lên qua ống loa: “Thuyền trưởng cho bỏ neo
ngay! Phải ngừng máy đèn!” Ai bỏ neo bây giờ? Bỏ neo rồi làm
sao kéo neo lên? Máy tàu ngưng, tàu vẫn chạy ngon trớn. Đầu
óc rối như tơ ṿ! Nhưng lúc này cần phải b́nh tĩnh, không
thể làm một quyết định sai lầm. Tôi biết rằng không thể bỏ
neo ngay lúc này khi máy trên tàu bị hỏng và sẽ không dùng
máy để kéo neo lên được. Cũng không thể để tàu chết máy nằm
dọc bờ sông v́ khi nước triều xuống th́ tàu sẽ mắc cạn và
tầu sẽ lật nghiêng. Cách c̣n lại duy nhất mà tàu có thể tự
cứu văn là t́m cách cho tàu lên cạn, mũi ghếch lên bờ, chân
vịt ch́m dưới nước. Chờ máy sửa xong th́ tàu sẽ tự rút ra
được.
Chiều xuống,
tàu vẫn đâm mũi vào bờ chờ sửa máy. Hỏa châu của Cộng sản
mừng thắng trận nổ vang rền, sáng rực khu Rừng Sát. Tàu
không thể rút ra được v́ không c̣n hơi ép cho nổ máy. Cái
nguy căn bản nhất là không c̣n hơi ép để cho chạy máy đèn.
Máy đèn chạy mới có thể có hơi ép làm nổ máy cái. Cơ khí
trưởng Phi cho biết nhân viên châm dầu đă tự ư khóa hệ thống
làm nguội máy đèn... Đây có thể là một hành động vô ư thức
hay là phá hoại, nhưng tôi nghĩ bây giờ không phải là lúc
xét xử và điều tra mà phải làm sao cứu văn được con tàu. Tàu
ở t́nh trạng hiểm nghèo. Tôi đă phải tự trấn an: “Cần b́nh
tĩnh! Nếu tàu nằm mắc cạn ở đây chắc chắn Cộng sản sẽ bắt
hết mọi người. Cùng lắm chúng xử bắn ḿnh là cùng...” Tự nhủ
như thế để tâm trí không bị rối loạn v́ nếu làm những điều
sai lầm trong giờ phút này là mất hết.
Tàu kéo Song
An từ Vũng Tàu về đi ngang vào đúng lúc này. Nhiều người lên
tiếng kêu cầu cứu nhưng Song An vẫn chạy thẳng. Trong lúc đó
có một chiếc tàu Hải quân nhỏ chạy từ hướng Saigon đến. Tàu
Hải quân thấy vậy bèn nổ một phát súng thị uy. Tiếng nổ ầm
vang chấn dội lồng ngực, Song An quay trở lại. Sau nhiều lần
cố gắng kéo tàu Trường Xuân giây kéo đều bị đứt. Đến gần tối
th́ nước lớn, Song An mới kéo được tàu Trường Xuân ra sông,
rồi tiếp tục kéo cho măi đến 8 giờ ngày 1/5/75 mới tới Vũng
Tàu.
(12)
Rút kinh nghiệm di tản từ miền Trung đă có bạo động
trên những xà lan, cho nên tàu vừa rời bến Saigon, tôi đă
kêu gọi thành lập Ban Trật tự và Ban Cứu thương. Nhờ sự tận
tâm của Ban Trật tự nên không xảy ra bạo động. Nhờ Ban Cứu
thương, đă có em bé sinh ra trên tàu, giữa biển cả, được mẹ
tṛn con vuông.
(13)
Vừa tới hải phận quốc tế, lệnh hạ khí giới được triệt
để tôn trọng.
Tàu khởi
hành ra khơi mà tám cần trục kéo hàng vẫn chưa được hạ
xuống. Thật là may mắn khi chúng ta gặp biển lặng và sóng
êm. Nếu biển động những dây buộc cần trục sẽ bị đứt. Cần
trục nặng cả tấn sẽ rớt xuống tàu và nhiều người có thể bị
thương hay bị thiệt mạng v́ tai nạn khủng khiếp này.
(14)
Gần tối ngày 1/5/75, sau khi vớt được anh Vũ Văn Thụ,
tôi cảm thấy yên tâm hơn. Tôi tin tưởng đồng bào đều chứng
kiến việc làm đầy thiện chí, lo lắng cho sự an nguy của một
nhân mạng, mà mọi người cũng sẽ từ bỏ ḷng vị kỷ và nghĩ đến
những người đồng cảnh ngộ với ḿnh.
(15)
Nhờ có Sĩ quan Vô tuyến gửi đi những tiếng kêu cầu
cứu nên con tàu thiên thần Clara Maersk đă đến cứu và đưa
chúng ta đến bến bờ Tự Do.
(16)
Ngày 2/5/75, khi tất cả mọi người đă được chuyển sang
tàu Clara Maersk an toàn th́ một người từ pḥng máy đi lên,
thấy tôi vẫn đứng một ḿnh trên đài chỉ huy. Ḷng tôi vẫn
luyến tiếc con tàu đă cứu bao nhiêu đồng bào và gia đ́nh mặc
dù họ đă phải trải qua những hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm.
Thân hữu này nh́n tôi với cặp mắt thật buồn rồi nói: “Tôi
vừa ở pḥng máy lên, pḥng máy đă ngập nước. Thuyền trưởng
phải rời tàu ngay.” Nói xong anh lặng lẽ bước sang tàu Clara
Maersk.
Tôi đă đi nhiều nơi và gặp
nhiều thân hữu Trường Xuân, có để ư t́m gặp vị thân hữu này
nhưng vẫn chưa t́m ra.
o
o o
Hội Ngộ
Trường Xuân 30 năm ở Houston vào đúng ngày 30/4/2005, tôi đă
gặp Đại Úy Cơ khí trưởng Nguyễn Thế Phiệt, người đă tự
nguyện xử dụng tay lái phụ.
Ngày
12/6/2006, tôi được gặp lại Trưởng Ban Lực Lượng Đặc Biệt
Bùi Đăng Sự đi trên chiếc tàu Hải Quân nhỏ từ Saigon chạy ra.
Anh đă bắn phát súng thị uy bằng súng phóng lựu M79, nên tàu
Song An đă quay lại đưa 3628 người chúng ta ra khơi. Anh Sự
và một số người trên tàu Hải quân đă lên tàu Trường Xuân
trong lúc tàu Song An buộc dây kéo tàu Trường Xuân ra khỏi
cạn.
32 năm đă
trôi qua mà h́nh ảnh và diễn tiến chuyến đi định mệnh của
tàu Trường Xuân vẫn c̣n in rơ trong tâm trí tôi. Những sự
kiện dường như đă được tiền định để cho tất cả chúng ta cùng
gặp nhau trên con tàu để phải cùng phấn đấu và cùng đến được
bến Tự Do.
2005 |