Cuộc bạo lọan bàn Phật xuống đường 1966

 

 

 Nhận định:   Tuần tự những chứng nhân của lịch sử sẽ ghi chép lại đầy đủ những dữ kiện trung thực mà những anh hùng đất nước cũng như những tên gian tế đă từng ảnh hưởng sâu đậm đến an nguy của Việt Nam.

Những dữ kiện đó sẽ được đưa ra ánh sáng cho công luận và hậu thế phán xét.

Một trong những nhân chứng khả tín của thời cuộc rối ren 1955-1975 là Hàn Giang Trần Lệ Tuyền đă dày công đóng góp cho pho sử Việt Nam những tài liệu quí giá:

như tài liệu sau đây:

Cuộc bạo lọan bàn Phật xuống đường

tại Miền Trung 1966

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2009

  

 

 

 

 

 Cuộc Bạo Loạn Bàn Phật Xuống Đuờng

  Tại Miền Trung : Mùa Hè 1966 

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

« Ḥa Thuợng » Thích Thiện Hào: Hội chủ Hội Phật Giáo Việt Nam. 

 

   Như đứng truớc Thuợng Đế trong giờ phán xét sau cùng, tôi xin ghi lại tất cả những thảm cảnh tang tóc, đau thương mà cộng sản Hà Nội cùng các lực luợng « Phật Giáo Tranh Đấu » và « Ḥa hợp Ḥa giải » Ấn Quang đa từng gieo rắc trên mănh đất thân yêu là thành phố Đa Nẵng đầy luu dấu của tôi.

  Hôm nay, noi theo lời dạy của nhà học giả Nguyễn Truờng Tộ : « Biết mà không nói là bất lương ». Nên, bằng tất cả tâm thành từ bài này trở đi, tôi sẽ tuần tự viết với đầy đủ những chi tiết trong mọi biến cố mà tôi đa từng mắt thấy, tai nghe, v́ tôi muốn viết khi các nạn nhân và cả chứng nhân tất cả  các vị ấy hiện c̣n đang sống đa số tại hải ngoại, để minh chứng cho tiếng nói trung thực của tôi, mục đích là để cho lớp trẻ sau này biết đuờng mà lánh xa lũ sát nhân tàn bạo ấy.

  Trong những bài truớc tôi có nói đến « công lao » của « Lực luợng Ḥa hợp Ḥa giải » của Phật Giáo Ấn Quang mà không nêu cụ thể chứng minh. Vậy để biết rơ hon, xin mời quư độc giả hăy cùng đọc lại báo Quê mẹ số 108 tháng 3 năm 1990, trang 21, đa đăng ( nguyên văn ) một trong « Năm yêu sách của Phật giáo  do Thuợng Tọa Thích Thanh Từ, Đại biểu giáo quyền Phật giáo  đuong kim Tổng thu kư Hội đồng Trị sự Trung uong Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vào tháng 02 năm 1990 đa đua ra Ban chấp hành Trung uong Đảng cộng sản tại Hà Nội  : 

  « Yêu sách thứ năm : Phải nhớ on các nhà tu hành, các tín đồ Phật giáo đa góp công lao vào công cuộc tranh đấu thống nhất đất nuớc truớc đây. » 

Không những thế, mà « Thuợng tọa » c̣n lo lắng : 

   « … làm cho niềm tin của quần chúng đối với đảng và nhà nuớc bị xói ṃn… và để lấy lại niềm tin của quần chúng. » 

    Nghĩa là « Thuợng tọa » sợ cộng sản sụp đổ. Theo tôi, « TT »Thích Thanh Từ đừng nên quá lo xa, bởi dân tộc Việt Nam từ thuở vua Hùng lập quốc đă có truyền thống kính sợ Trời tức Thuợng Đế, v́ thế những nguời Việt Nam đứng về phía dân tộc họ đều có thừa ḷng nhân ái, không ai có những hành động như các lực luợng « tranh đấu » của Ấn Quang đa đối với các nạn nhân tại Đà Nẵng đâu. Bởi họ có nhân tính, họ tin có Ông Trời, họ sợ  Ông Trời « sẽ đổ con thịnh nộ xuống ». Chỉ có lu vô thần, phi nhân, tàn bạo chúng mới không tin có Trời nên đa đặt Trời xuống ngang bằng với quỷ vật nên chẳng ai biết sợ ai cả.

  Hiện nay bạo quyển Hà Nội đa thỏa măn « Năm yêu sách của Phật giáo » nên « Thuợng tọa » Thích Thanh Từ đuong nắm giữ giáo quyền và cả thế quyền nữa. 

 

Nguyên do và mục đích của Ấn Quang trong cuộc bạo loạn tại Miền Trung : 

  Mục đích chính của Phật giáo Ấn Quang là chiếm giữ miền Trung, để thành lập Chính phủ Miền Trung, liên minh với Việt cộng để đánh Việt Nam Cộng Ḥa. Ấn Quang đă chuẩn bị từ lâu, chỉ chờ có hội để nỗi loạn. V́ vậy, nhân việc tuớng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức vào ngày 10-3-1966. Phật giáo đa lấy cớ đó biểu t́nh đ̣i chính phủ phải trả tuớng Thi trở lại vùng 1. Khi chính phủ trả tuớng Thi trở lại vùng 1 nhung không có chức vụ ǵ cả. Th́ Ấn Quang lại đoi chính phủ phải phục hồi  cho tuớng Thi với các chức : Tu lệnh Quân Đoàn 1, Vùng 1, kiêm đại biểu chính phủ tại Vùng 1 Chiến Thuật. Việc làm này của Phật giáo Ấn Quang đă khiến một tín đồ thuần thành của Phật giáo là ông Bùi Quang Sạn, chỉ huy truởng Đơn vị T́nh báo tác chiến tại Quảng Nam (sau đó ông  là dân biểu ) đă nói : 

«  Chuyện ông Thi bị cách chức là chuyện của quân đội mắc mớ ǵ đến Phật giáo. Chỉ có muốn nỗi loạn  cuớp chính quyền để hợp tác với Việt cộng mà thôi. » 

  Sau đó, trong cuộc nỗi loạn mùa hè 1966, ông Bùi Quang Sạn đa bị bắt giam cùng với hàng trăm vị là các viên chức chính quyền và các chính Đảng. Các vị này đa bị Phật Giáo giam bốn mươi ngày tại « chùa » Phổ Đa tức Phật Học Viện Trung Phần ở số 340, đuờng Phan Châu Trinh, Đa Nẵng. Trong suốt thời gian này Phật Học Viện Trung Phần đă trở thành « Tổng Hành Dinh Quân Đoàn Vạn Hạnh. » Khi bị bắt, Phật giáo đa bắn bể bàn chân trái của ông Bùi Quang Sạn, nhung « Quân Đoàn Vạn Hạnh » đă không cho ai băng bó cả. Chẳng những thế, mà QĐVH c̣n trói thúc ké hai tay ông ra sau lưng và buộc ông phải đi bộ cùng với nhiều nguời bị bắt. V́ thế, trong số tù nhân Phật giáo này có hai ông Ngô Hải Quảng và ông Nguyễn Kim Thành phải d́u ông Bùi Quang Sạn đi trên đuờng phố đến chùa Phổ Đa. Truớc mắt đồng bào, nhiều nguời đa thấy ông Bùi Quang Sạn đi chân đất với bàn chân trái bê bết máu, mặt mày trông rất đau đớn. Nên biết, khác hon cả tù thời Pháp và Việt cộng. Tất cả tù nhân Phật giáo đều bị Quân Đoàn Vạn Hạnh buộc phải cởi bỏ áo quần ngoài chỉ đuợc mặc quần áo lót, phải cởi bỏ luôn giày, dép, vớ, phải đi chân đất trên các đuờng phố, khi vào nhà tù Phổ Đa các vị tù này cung không đuợc mặc áo quần dài chỉ đuợc mặc đồ lót và phải đi chân đất. Và họ đa ở trong nhà tù Phổ Đa, bị đánh đập bốn muoi ngày mới đuợc giải cứu.

    Cũng nên biết, trong suốt bốn muoi ngày chùa Phổ Đa cung đa trở thành một ḷ mỗ heo, ḅ để nuôi ăn cho Quân Đoàn Vạn Hạnh hàng ngày. 

  V́ thế, Giáo su Trịnh Thể, Hiệu truởng truờng Trung học  Nguyễn Công Trứ khi thấy nhà chùa trở thành ḷ mỗ ông đa vào tận « chùa » để nói với « Thuợng tọa »Thích Minh Chiếu, Tuyên Úy Vùng 1, Quân khu 1 là Tu Lệnh Quân Đoàn Vạn Hạnh rằng : 

    « Thua Thuợng Tọa về những việc khác tôi không biết phải nói đuợc một điều ǵ; nhung riêng về chuyện mỗ ḅ, mỗ heo trong chùa tôi xin Thuợng tọa suy nghi lại, v́ không nên biến chùa trở thành ḷ sát sinh ». 

    Nhung Giáo su Trịnh Thể đa không ngờ duợc Thích Minh Chiếu đa trả lời : 

    «  Ḿnh đang làm chuyện đại sự th́ sá ǵ những chuyện tiểu tiết ấy » 

      Nghe những lời của Thích Minh Chiếu đa nói nhu thế, Giáo su Trịnh Thể và ông Phan Thuyết, Chủ sự pḥng hành chánh Bệnh viện Toàn khoa ĐN, bởi quá thuong các vị tù không tội này v́ biết không làm gđiều ǵ khác hon, nên ông đa đến chùa xin đuợc thăm nuôi, các « thầy » đồng ư, nhung không đuợc gặp mặt, chỉ đuợc gửi vào chùa những chiếc chiếu ( nhung không đuợc gửi chăn, màn…) và quần áo lót qua nguời cai tù là Trung si quân cảnh Nguyễn Văn Sự, ngoài ra tù nhân không đuợc nhận một vật dụng hay bất cứ thực phẩm nào cả . V́ số tù quá đông nên các nhân si và đồng bào đa giúp đỡ mua những chiếc chiếu và đồ lót, nhung chỉ có hai vị không thể mang vào chùa đuợc, nên hai vị đa nghi ra một cách là dắt tôi đến chùa « xin các thầy cho con nhỏ này nó phụ anh em tôi mang chiếu và đồ lót vào chùa, các thầy hăy an tâm v́  nó hiền nhu cục đất à. »

  Tôi không biết mấy ông trong chùa thấy tôi hiền, hay chỉ là con gái vô hại, hay ư Trời cho tôi đuợc chứng kiến những điều ấy, nên khiến cho họ bằng ḷng cho tôi đuợc cùng giáo su Trịnh Thể và ông Phan Thuyết đi thăm tù nhân tại « chùa » Phổ Đa.

  Sau đó, hai vị bảo tôi cùng đi t́m nguời, t́m xe để chở số chiếu và đồ lót đó đem đến truớc cổng chùa giao cho Nguyễn Văn Sự, rồi những nguời đi thăm nuôi và tài  xế tất cả đều  phải đi ngay. Một điều ít khó khăn hon những thân nhân của QCCVNCH trong các trại tù « cải tạo » của Việt Cộng, là khi vào thăm nuôi mỗi nguời có nguời thân khác nhau, phải qua kiểm sóat thăm nuôi, phải chờ đợi, c̣n các vị tù nhân Phật giáo này không đuợc phép nhận bất cứ cái ǵ của ai kể cả cha, mẹ, vợ, con. V́ vậy, sau khi giao số chiếu và đồ lót cho cai tù Nguyễn Văn Sự, y cứ cho đem vào chùa rồi hàng trăm vị tù tự chia xẻ với nhau để dùng. Sau 30-04-1975, khi gặp tôi trong trại cải tạo T.154, giáo su Trịnh Thể bảo : « Hồi xua mấy ổng mà biết rơ em hiền nhu vậy th́ đừng ḥng mà đến gần đuợc cái cổng chùa, chứ đừng có nói đến chuyện thăm nuôi. 

  Những diễn tiến của cuộc bạo loạn : 

  Nhu tôi đa nói về nguyên do và mục đích của cuộc bạo loạn. Bây giờ tôi xin trở lại từ những ngày đầu : 

  Sau khi tuớng Nguyễn Chánh Thi trở về Đa Nẵng, nhung chính phủ cuong quyết không  phục chức theo yêu sách của Phật giáo Ấn Quang. Thấy vậy,  Phật giáo lại đoi phải thành lập chính phủ dân sự. Mặc dù biết những đoi hỏi của Phật giáo là quá đáng, nhung Trung tuớng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia, đa triệu tập Quốc dân đại hội và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến trong ṿng sáu tháng. Song, v́ chua đạt đuợc mục đích nên Phật giáo lại tiếp tục biểu t́nh. Lần này với những biểu ngữ và dùng loa phóng thanh hô to những khẩu hiệu : 

  « Đả đảo Thiệu-Kỳ, Thiệu-Kỳ phải từ chức. » 

  Khi nhắc lại điều này, tôi muốn hỏi Phật giáo là tại sao từ sau ngày 30-4-1975, cho đến nay, Ấn Quang vẫn luôn kêu gào nào là từng bị Việt cộng bỏ tù, áp bức, pháp nạn… Nhu vậy, tại sao Phật giáo không tổ chức biểu t́nh đả đảo cộng sản, không đem bàn phật xuống đuờng nhu mùa hè 1966, không đoi bạo quyền Hà Nội phải từ chức, trong khi vẫn ca rằng Việt Nam có tới 90% là Phật tử ? 

   Trở lại cuộc nỗi loạn, khi chính phủ không  từ chức, v́ từ chức rồi giao chính quyền cho ai ? Chẳng lẽ giao cho Thầy chùa ? V́ vậy, Phật giáo bắt đầu cuộc bạo loạn bằng việc công khai tuyên bố đa thành lập «  Quân đoàn Cách mạng Vạn Hạnh », Thích Minh Chiếu là Tu lệnh Quân đoàn. Tổng hành dinh đuợc đặt tại chùa Phổ Đa ở số 340 đuờng Phan Châu Trinh Đa Nẵng nhu tôi đa viết ở trên.

  Lúc này, Thích Đôn Hậu đa kéo một đám đệ tử từ Huế vào Đa Nẵng. Trong số này, có những tên cung đa từng chỉ huy «  Đoàn Thanh niên Phật tử Cứu quốc  » trong cuộc tấn công hai phuờng Thanh Bồ và Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, nhu các tên sau đây :

  Hoàng Phủ Ngọc Tuờng, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên …và hon hai ngàn thanh niên, hợp lại cùng với đám đệ tử tại Đa Nẵng cung đa từng sát cánh với nhau trong cuộc thảm sát Thanh Bồ nhu : Phan Xuân Huy, Phan Chánh Dinh, Vinh Kha, Hồ Công Lộ, Hà Xuân Kỳ …

  Sau khi vào Đa Nẵng, Thích Đôn Hậu và đám đệ tử tập hợp tại chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đa Nẵng, là co quan chỉ đạo chính trị ở số 500 đuờng Ông Ích Khiêm. Chính tại chùa Pháp Lâm, Thích Đôn Hậu đa nhân danh Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung ) dùng truyền đon và loa phóng thanh phát lời kêu gọi :  

« …Các quân nhân Phật tử hăy mau mau quay về gia nhập Quân Đoàn Cách Mạng Vạn Hạnh, các Phật tử trong mọi nghành cảnh sát, công tu chức, sinh viên học sinh, thanh niên và đồng bào Phật tử hăy gia nhập lực luợng đấu tranh để lật đổ chính phủ Thiệu-Kỳ. » 

   Và kể từ ngày ấy, cho đến hôm nay, đa bao nhiêu năm qua rồi. Nhung khi nhắc lại lời kêu gọi này của Thích Đôn Hậu, chắc những ai đa từng chứng kiến cuộc nỗi loạn này cung thấy rằng : Quả thật, lời kêu gọi ấy có hiệu quả, bởi lúc ấy đa có không ít một số si quan, binh lính, công tu chức rời bỏ hàng ngu và nhiệm sở đế gia nhập « Quân Đoàn Vạn Hạnh » Riêng sinh viên, học sinh, thanh niên Phật tử đa đuợc «  Thuợng tọa » Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Truởng pḥng Tuyên úy Phật giáo vùng 1 chiến thuật trang bị súng đạn đủ loại, một số em học sinh nhỏ tuổi th́ đuợc trang bị bằng gậy gộc, gạch, đá để gia nhập « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » Thích Minh Chiếu hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ nhu tôi đa viết ở bài truớc. 

  Lực luợng biểu t́nh từ đâu ra ? 

  Trong suốt thời gian nỗi loạn, tại thành phố Đa Nẵng ai cung thấy con số nguời đi biểu t́nh rất đông đảo, nhung chỉ có nguời dân Đa Nẵng mới biết rơ trong đoàn nguời đó có phải họ đều tự nguyện đi biểu t́nh hay không ?

  Và đây là sự thật : Quư vị đa đọc qua bài 30-4-1975 : Máu và nuớc mắt, quư vị đa biết về số nguời đi « diễn hành » vào ngày 19-5-1975, để « mừng » sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm, th́ quư vị ắt đa biết có một số đông đồng bào đi biểu t́nh trong cuộc bạo loạn này đa  không phải là tự nguyện.

  Để biết rơ hon, tôi xin ghi lại những sự ǵ mà chính tôi đa chứng kiến. Tôi vẫn nhớ nhu in, vào thời gian đầu của cuộc nỗi loạn chỉ có một số ít phật tử đi theo tiếng gọi của…thầy chùa. V́ vậy, « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến từng khu chợ, tay vung gậy, mồm la hét, đe dọa, bắt buộc đồng bào phải băi thị để đi biểu t́nh, ai phản đối th́ bị đánh đập, và Đoàn Thanh niên Phật Tử Quyết Tử đa đạp đổ những sạp hàng, những gánh bún… Cuối cùng, đồng bào phải nuốt nuớc mắt để đi biểu t́nh. Điều này, nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc có biết, nên đa  viết qua trong « Mùa Biển Động » nhung có thể v́ để bán sách nên ông không viết đầy đủ.

 

Bàn Phật xuống đuờng. 

  Truớc khi nói đến chuyện bàn Phật xuống đuờng. Tôi phải nói rơ xuất xứ từ hon ba ngàn cái bàn Phật đa nằm la liệt trên khắp đuờng phố Đa Nẵng. Nên biết, trong hon ba ngàn cái bàn Phật đó, có rất nhiều cái bàn Phật dă chiến. V́ không có đủ bàn Phật, nên chỉ ở các cổng chùa mới có những bàn Phật trang nghiêm, c̣n ở các noi khác th́ các « thầy » ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » ( từ đây xin tôi xin viết tắt là ĐTNPTQT) tay cầm búa, gậy ngang nhiên vào nhà Phật tử khiêng bàn Phật của họ ra đuờng, cung nên biết trong nhà của đồng bào Đa Nẵng chỉ có một cái bàn thờ, họ thuờng để tuợng, ảnh Phật ở trên và thờ chung với Tổ tiên, ông bà, có gia đinh nghèo họ để bàn thờ trên mặt tủ. Khi ĐTNPTQT, đến khiêng bàn thờ họ nhất định không cho, v́ biết đem bàn thờ, đem tủ ra đuờng phoi nắng, dầm mua th́ chắc chắn sẽ bị hu, bị găy. Nhung rồi họ cung không ngăn cản đuợc, bởi trên tay ĐTNPTQT, toàn là búa, gậy, gạch, đá. Nhung thấy cung chua đủ, ĐTNPTQT đa đi vào các chợ khiêng những chiếc bàn vốn là của bà bán hàng xén, ông bán thịt, cô bán bún, chị bán tôm, tép, cá khô …đa bị bắt buộc phải băi thị. V́ thế, khi đem ra đuờng trên mặt bàn c̣n dính đủ loại mặt hàng nhu : Đuờng, bột, tiêu, ớt, dầu, muối, mắm, thịt, văy cá nhầy nhụa. Nhung đa đuợc ĐTNPTQT phủ lên một tấm nylon có in h́nh hoa lá đủ mầu sắc ( loại dùng để trải bàn) Rồi đem tuợng Phật, có cái chỉ là một tấm ảnh Phật đuợc lồng vào khung gỗ. Tiếp theo, ĐTNPTQT dùng những chiếc lon sữa ḅ hoặc những cái hộp đựng thịt, nhặt ở những noi mà các xe thầu rác của sở Mỹ đổ ra, đem rửa sạch, đổ gạo và cắm nhang (huong) vào. Bên cạnh cung là những chiếc lon nhu đa nói, nhung khác hon là nó đuợc úp xuống, gắn đen sáp đỏ lên. Tất cả đuợc thuợng lên bàn duới chân tuợng, ảnh Phật. Sau cùng là đốt nhang đen.

   Nhu thế, từ cái bàn bán hàng, bán thịt, bán bún …ngoài chợ, tất cả chúng đều nghiễm nhiên trở thành những cái bàn Phật, nhang, đen, khói huong nghi ngút.

  Có nguời nói, quân chính phủ đa đạp, đổ bàn Phật, nhang, đen. Nên tôi cung xin nói rơ là điều đó không hề có; mà các chiến si dẹp loạn chỉ khiêng các bàn Phật để lên trên lề đuờng cho xe cộ luu thông mà thôi.

  Nhung v́ hon bốn tháng các chợ tại Đa nẵng đa bị QĐVH của Phật Giáo Ấn Quang dùng bạo lực để bắt buộc phải băi thị, không ai bán gạo hay thức ăn, nên những nguời hành khất và các em thiếu thi hè phố cung phải chịu đói theo đồng bào. Bởi thế, nên cứ chờ khi các chiến si dẹp loạn quay lung, th́ các vị khất si này liền tới ngay các bàn Phật, tay này rút nhang vứt xuống đất, tay kia bung những lon gạo trút vào các túi cái bang. Cùng lúc các chủ nhân của những chiếc bàn cung nhanh chân đi thu hồi lại những chiếc bàn, để c̣n đem ra chợ buôn bán sau một thời gian dài chịu đói khát. Và tất nhiên, những nguời này họ phải đem nhang đen để xuống đất, v́ họ chỉ lấy lại những chiếc bàn của họ mà thôi. 

  Trở lại chuyện bàn Phật xuống đuờng. 

    Trong suốt thời gian Bàn Phật Xuống Đuờng, nguời dân Đa Nẵng đă chứng kiến và gánh chịu những khốn khổ v́ hơn bốn tháng trời bàn Phật nằm đầy đuờng, Đa Nẵng trở thành thành phố chết, xe cộ không thể luu thông, nguời phải đi bộ, các chợ vắng hoe, dân chúng không làm ăn buôn bán ǵ đuợc, quân nhân, công chức, lao công  không có lương, nhiều gia đinh bị đói v́ họ là những nguời dân từ các quận xa xôi nhu : Trà Mi, Tiên Phuớc, Hậu Đức, Khâm Đức, Quế Son …chạy về Đa Nẵng để lánh nạn cộng sản. 

  Hành quân Đinh Bộ Linh : 

  Giữa lúc Phật giáo đă cuớp chính quyền toàn thành phố Đa Nẵng,  trong đó có Đai phát thanh. Chỉ trừ phi truờng, mặc dù có dự tính nhung không dám tấn công v́ sợ Hoa Kỳ. Nguời dân Đa Nẵng đang khốn khổ và giữa lúc sinh mạng của các vị QCCVNCH là những tù nhân Phật giáo trong chùa Phổ Đa đang nhu sợi chỉ mành treo chuông. Nhu ông Lê Nguyên Long Truởng ty Thông tin Quảng Nam đa kể : 

 «  Tui không biết con số chính xác là tại chùa có bao nhiêu nguời, nhung tui biết chúng tui mỗi pḥng có bảy muoi nguời, mà các pḥng của nhà tăng tại chùa Phổ Đa th́ nhiều, v́ chùa này là Phật Học Viện Trung Phần mà, nên nó lớn lắm mà đều kín chỗ hết, chúng tui nằm sát nhau rất chật chội, v́ mùa hè nên nóng lắm, ai cung đều phải trải chiếu nằm trên nền xi măng, lại bị muỗi đốt kinh khủng v́ không có mùng, không đuợc mặc áo quần dài, không có dép, không có khăn tắm, khăn mặt, không có xà pḥng, không có kem và bàn chải đánh răng, không có cái ǵ cả ngoài bộ đồ lót trên nguời và chiếc chiếu, nghia là chúng tui đa sống nhu nguời ở thời tiền sử. C̣n cách hỏi cung của mấy ổng th́ ghê gớm lắm, v́ mỗi lần hỏi cung là mỗi lần chúng tui đều bị tụi nó oánh, mà tụi nó có hỏi cung chi mô, nó kêu từng nguời ra các pḥng khác để nó oánh cho đa thôi,  khi về pḥng nguời nào cung giống nhu cái mền rách. Trời ôi ! tụi nó tàn ác lắm, nó oánh, nó oánh tụi tui, nó oánh ( nó đánh) từ trái sang phải,  chúng tui tuởng đa bỏ xác trong chùa Phổ Đa rồi chớ. Nhung chua hết mô c̣n thêm một nỗi kinh hoàng hon nữa là truớc các cửa sổ các pḥng đều có treo lựu đạn với lời tuyên bố của Quân Đoàn Vạn Hạnh : Đ.M, nếu Thiệu-Kỳ mà đua quân vào đây là chúng tao bung lựu đạn cho chúng mầy chết tan xác hết. » 

  Tuởng cung nên nhắc lại ông Lê Nguyên Long bị bắt trong lúc đang lái chiếc Vespa chở giáo su Nguyễn Hữu Chi, Tỉnh truởng tỉnh Quảng Nam, trên đuờng từ Quảng Nam về Đa Nẵng, vừa đi đến ngă ba Duy Tân ĐN, th́ bị Phật giáo chặn bắt cả hai vị. Sau đó Giáo su Nguyễn Hữu Chi và ông Lê Nguyên Long bị đua vào nhà tù Phổ Đa là noi giam giữ nhiều tù nhân nhất, ngoài ra cung có nhiều chùa cung đa trở thành nhà tù nhu « chùa » Tam Bảo Tự ở số 323 đuờng Phan Châu Trinh ĐN.

  Ngày 16-4-1966, « Phật giáo » đa vây bắt Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận truởng quận Ḥa Vang, và đồng loạt tấn công các trụ sở đảng phái, bắt hàng trăm viên chức chính quyền và các cán bộ của VNQDĐ do cụ Vu Hồng Khanh lănh đạo (ông Lê Nguyên Long cung là VNQDĐ) đồng thời Phật giáo cung tấn công Trụ sở Liên hiệp Nghiệp đoàn Lao công ở số 15 B đuờng Thống Nhất bắt ông Trần Ḥa Tổng thu kư Liên hiệp Nghiệp đoàn và các nhân viên đem giam vào chùa Phổ Đa và c̣n quá nhiều nguời mà tôi không làm sao kể hết. 

  Cung trong thời gian ấy, Phật giáo đa tấn công quân nhân và đốt các xe của quân đội Hoa Kỳ. Một truờng hợp đa có rất nhiều biết đó là tại đầu đuờng Bạch Đằng, truớc Cổ viện Chàm nh́n sang Truờng Trung Học Sao Mai, khi đó một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai Si quan, một Hoa Kỳ và một Đại Hàn vừa chạy trờ đến, th́ « Đoan Thanh niên Phật tử Quyết tử » xông ra chặn đuờng và lôi hai Si quan này xuống đất, hai Si quan này hốt hoảng kêu cứu th́ liền bị đám này túm cổ áo và đánh hội đồng, cùng lúc tuới xăng vào xe và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy th́ có nhiều nguời là nhân viên và khách trọ từ khách sạn Moderne do Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An làm chủ đa chạy ra giải vây, lợi dụng  lúc đó Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An đa kéo cả hai Si quan này chạy vào khách sạn che giấu. Sau đó bà đa t́m cách đua họ trở về đon vị.

  Trong hoàn cảnh đó, ở duới đất th́ diễn ra cảnh đốt phá, vây bắt, đánh nguời th́ trên không máy bay của quân đội đồng minh luợn quanh không phận Đa Nẵng không ngớt phát lời kêu gọi :

   « Chúng tôi quân đội đồng minh, chỉ giúp đỡ và bảo vệ Việt Nam Cộng Ḥa. Chúng tôi không có đụng chạm đến Phật giáo cung nhu chính phủ. Vậy chúng tôi thiết tha kêu gọi quư vị hăy chấm dứt việc hành hung và đốt xe của các quân si đang thi hành công vụ. » 

  Nhung « Lực luợng Tranh đấu Phật giáo » chẳng ai thèm nghe cả. Chính v́ thế,  tại Quảng Nam Việt cộng đa lợi dụng cảnh hỗn loạn ở thành phố để tấn công, nên các đoàn xe của quân đội Việt –Mỹ phải lên đuờng tiếp viện. Nhung khi đoàn xe chạy qua khỏi ngă ba Huế th́ từ  trong chùa Phổ Quang do « Thuợng tọa »Thích Từ Mẫn trụ tŕ đa ra lệnh cho « Phật tử » đông đảo sẵn có ra nằm la liệt trên mặt đuờng, ngăn cản đoàn quân viện không cho tiến vào Quảng Nam để cùng các đon vị bạn chiến đấu với cộng quân.( Thích Từ Mẫn là chủ nhà sách Văn Nghệ tại Cali, Hoa Kỳ). 

  Mặt khác, các thầy đa ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu, ông Sáu là nguời Bắc di cu ở số 19 đuờng Lư Thái Tổ, là noi cung cấp củi cho toàn thành phố và nói với ông Nguyễn Bá Sáu là cho muợn hết số củi đó chở về các chùa để các thầy tự thiêu. Ông Nguyễn Bá Sáu không cho muợn, ông nói :  

  « Tự thiêu củi cháy hết rồi lấy cái ǵ trả cho tôi. » 

   Nhung ĐTNPTQT cứ xông vào khiêng hết số củi của ông bỏ lên xe đem về chất truớc các sân chùa, chùa nào cung có một đống củi, rồi các « thầy » tuyên bố :

  « Nếu Thiệu-Kỳ đem quân vào chùa sẽ có nguời tự thiêu. » 

  Song quân chính phủ không hề động đến một cái chùa nào cả, chẳng phải quân đội sợ các « thầy » tự thiêu, v́ ai cung biết các « thầy » sợ chết lắm, mà v́ sinh mạng của hàng trăm con tin là Quân-Cán-Chính-Việt Nam Cộng Ḥa đang ở trong chùa.

  Đến lúc quân chính phủ đa kiểm soát gần hết thành phố ; ông Nguyễn Bá Sáu vội đem xe đến các chùa đoi củi lại, ông nói : 

  « Các thầy nói muợn củi của tôi để tự thiêu, nhung đến giờ này cung không thấy ai tự thiêu cả, th́ trả củi lại cho tôi, để tôi bán lấy tiền nuôi vợ con tôi. C̣n nếu thầy nào muốn tự thiêu th́ cho tôi biết, tôi sẽ cúng duờng bằng xăng và nếu cần thuốc mê, thuốc tê, thuôc ngủ th́ tôi cung xin cúng duờng luôn (ông Nguyễn Bá Sáu c̣n có tiệm thuốc Tây nữa) v́ tự thiêu bằng xăng sạch sẽ hon. » 

  Song đó là màn cuối cùng của các «  thầy », bởi thấy quân của chính phủ không nhuợng bộ th́ « Quân Đoàn Vạn Hạnh » một số đa « đao ngu » khi biết rơ các thầy là cộng sản, một số không trốn đuợc nhung cung xuống tinh thần, nên các thầy c̣n cần đến những đống củi chất truớc chùa để hù dọa chính phủ. V́ thế, các thầy không cho ông Sáu chở củi về . Nhung ông Sáu th́ cuong quyết thu hồi số củi của ông, ông liền cho nguời khiêng hết củi bỏ lên xe chở về chất truớc nhà. Lúc này, « Quân đoàn Vạn Hạnh » đang rầu thúi ruột v́ quân chính phủ đa kiểm soát gần hết thành phố nên chẳng có ai ngăn cản.

  Nhung sau khi ông Sáu chở hết củi về rồi, các «  thầy » mới thấy lo, v́ không có củi lấy cái ǵ để hù tự thiêu với quân chính phủ. V́ thế, các thầy lại ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu đánh ông một trận cho đỡ tức.

  Phần ông Sáu, khi thấy đám côn đồ này xông vào nhà ông sợ quá liền chui vào đống củi, đám này bảo ông phải ra cho chúng đánh, ông không dám chui ra. Chúng biết ông trốn trong đống củi, nhung củi nhiều quá chúng không biết ông trốn ở chổ nào. Tức quá, chúng liền tuới xăng vào đống củi và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy, vợ con ông kêu cứu, đồng bào trong xóm nhiều nguời la lớn kêu cứu. Trong đó có ông Truong Quang Bông, lúc đó đang ở trên lầu bốn của Khách sạn Tao Nhă do vợ ông làm chủ ở số 172, đuờng Lư Thái Tổ. V́ ở gần nhà ông Nguyễn Bá Sáu, nên khi thấy ngọn lữa bốc cháy và nghe những tiếng kêu cứu của đồng bào,nên ông Truong Quang Bông đa gọi điên thoại cho sở cứu hỏa. V́ thế, lính cứu hỏa đa kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu ông Sáu ra khỏi đống củi và đưa ông đến bệnh viện. Ông chỉ bị bỏng nhẹ nên thoát chết, nhung chua thoát đuợc bàn tay của các «  thầy », nên sau ngày 30-4-1975, ông Sáu lại bị các « thầy » đem ra « Ṭa án nhân dân » đấu tố đủ thứ « tội » cuối cùng tôi lại gặp ông tại Trại cải tạo T.154, và ông cung ở gần muời năm mới đuợc trở về. 

   Qua những hành động nhu đa kể. Chúng ta ai chung thấy rằng các «  thầy » quả thật quá ngang nguợc, đa lấy củi của ông Nguyễn Bá Sáu trong lúc ông không đồng ư, đến khi muốn thu hồi củi ông Sáu phải tự thuê xe chở về, rồi cung không yên thân, các thầy lại cho lu côn đồ tới nhà đánh ông, lại c̣n chuẩn bị cả xăng mang theo để đốt sống ông Sáu nữa. Nhung, nếu sở cứu hỏa không cấp cứu kịp thời th́ chẳng phải một ḿnh ông Sáu và gia đinh ông chịu chết, mà nhà cửa và sinh mạng của đồng bào ở lân cận nhà ông Sáu tại đuờng Lư Thái Tổ cung phải cùng chung số phận !!!.  

Quân chính phủ có gây thuong vong cho nhân mạng hay không ? 

   Vừa qua, trên mạng luới toàn cầu tôi thấy cả hai ông tuớng Tôn Thất Đính và Nguyễn Chánh Thi đa phát biểu hoàn toàn bịa đặt, nhu nói là « …trong cuộc tranh đấu của Phật giáo quân chính phủ đa làm thiệt mạng cho 240 nguời tại Đa Nẵng »

   Nên biết, suốt thời gian ấy ông Thi đa trốn ngoài Huế nên không biết hay thấy những ǵ đa xăy ra tại Đa Nẵng. Bây giờ ông Thi đa chết, nhung cách đây muời năm, sau khi đọc cuốn hồi kư của ông tôi có một bài viết trên Văn Nghệ Tiền Phong số 556, trong đó có một đoạn, nay tôi xin viết lại đoạn đó nhu sau : Tôi đa đọc cuốn hồi kư ấy, ngay từ trang đầu tiên ông đa viết :

   « V́ ḷng yêu nuớc tôi đa gia nhâp quân đội 1940… ».  

Tôi muốn hỏi tuớng Thi : Vào thời điểm đó Trung tuớng nói yêu nuớc là yêu nuớc nào ? Gia nhập quân đội nào ? Cầm súng của ai và để bắn giết ai ? 

  Và những câu hỏi trên cho đến chết tuớng Thi vẫn không trả lời đuợc.  

   Riêng tuớng Tôn Thất Đính. Trong cuộc bạo loạn của Phật giáo tại Đa Nẵng. Sau bốn muoi ngày « Phật giáo bắt giam nhiều vị QCCVNCH, chính phủ đua ông ra Miền Trung để điều đinh với phe nỗi loạn để giải cứu số tù nhân Phật giáo

   Ngày 26-5-1966, khi tuớng Đính đến chùa Phổ Đa gặp các tù nhân Phật giáo, chính ông đa nói với các vị tù nhân câu này tôi xin nhắc lại nguyên văn : 

   «  Tôi đến để trả tự do cho các anh, để các anh trở về chiến đấu với cộng sản. » 

    Với câu nói này tuớng Đính đa bị hai ông Lê Nguyên Long và ông Ngô Hải Quảng phản đối đến rất nặng lời. Riêng ông Lê Nguyên Long v́ ức quá ông đa vung cả hai tay chỉ ngay sát vào ngực áo cà sa của từng ông Su la lớn tôi xin ghi lại nguyên văn nhu sau đây : 

     «  Trung tuớng bảo chúng tôi đi đánh cộng sản hả ? Đánh cộng sản đâu cần phải đi xa. Cộng sản là thầy chùa đây ń, thầy chùa là cộng sản đây ń. »( đây ń: đây này).  

    Tôi không muốn nhắc lại dài ḍng, tôi chỉ nói thêm là khi đó có nhiều nguời không chịu ra khỏi chùa, họ đoi phải đua Thích Đôn Hậu, Thích Minh Chiếu và các thầy chùa cùng nội vụ ra ṭa, đoi thầy chùa phải trả lời tại sao bắt họ ? Họ có tội ǵ ? Thầy chùa lấy tu cách ǵ để bắt giam, đánh đập họ bốn muoi ngày ? Nhung họ đa không đoi được công đạo, v́ chính quyền lúc ấy khiếp nhuợc, cầu an. 

   Cho đến bây giờ, tôi cung không hiểu tại sao tuớng Đính lại nói : « Tôi đến để trả tự do cho các anh … » Phải chăng chính tuớng Đính đa ra lệnh cho « Quân đoàn Vạn Hạnh » bắt giam các vị ấy ? V́ chỉ có nguời ra lệnh và nguời bắt giam mới có tu cách « để trả tự do ».                Và cả hai ông tuớng đều nói đến hàng trăm nguời đa thiệt mạng, nhung tại sao không đua ra đuợc một bằng chứng cụ thể ? C̣n tôi, tôi có đủ bằng chứng và nhân chứng sống cung nhu tên, họ, chánh, trú quán của những nạn nhân c̣n sống cung nhu thân nhân của nguời đa chết.

   C̣n một điều khác nữa là không ai biết được những diễn biến bên trong giữa Phật giáo và tuớng Đính, v́ sau đó Tôn Thất Đính chẳng những không giúp chính phủ mà c̣n đứng về phe nỗi loạn. V́ vậy, chính phủ phải gấp rút đua quân ra Trung để dẹp loạn, khi thấy sự quyết liệt của chính phủ th́ những nguời cầm đầu của loạn quân trong cái gọi là « Quân đoàn Vạn Hạnh » đa rút vào sào huyệt cuối cùng là « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đuờng Ông Ích Khiêm Đa Nẵng.

     Khi quân chính phủ đa kiểm soát toàn thành phố ĐN trừ chùa Pháp Lâm. V́ để hoàn tất kế hoạch hành quân mà không gây đổ máu, quân đội đa bao vây chùa Pháp Lâm, dùng loa phóng thanh kêu gọi tất cả hăy ra đầu hàng. Lúc này mọi nguời đều thấy những nguời này tuần tự buớc ra khỏi chùa, hai tay đều giơ cao khỏi đầu và xin đầu hàng quân chính phủ, trong những nguời ra đầu hàng này nguời ta đa thấy những tên quen thuộc nhu sau đây : 

   1- Trung tuớng Tôn Thất Đính, Tu lệnh quân đoàn 1, Vùng 1 chiến thuât, kiêm Đại biểu chính phủ tại vùng 1.

   2- Đại tá Nguyễn Văn Mô, Tham muu truởng Quân đoàn 1

   3- Đại tá Đam Quang Yêu, Tu lệnh Biệt khu Quảng-Đa

   4- Bác si Nguyễn Văn Mẫn, Thị truởng Đa Nẵng

   5- Luu Văn Ngộ, Truởng ty Cảnh sát Quốc gia ĐN

   6- Âu Quang Minh, Truởng ty cảnh sát Quốc gia Quảng Nam. 

   Tiếp theo sau là những thuộc hạ của những nguời này, trong « Quân đoàn Vạn Hạnh »

   Sau đó, Quân chính phủ đa ra lệnh buộc sáu ông Đính-Mô-Yêu-Mẫn-Ngộ- Minh và thuộc hạ phải leo lên xe bít bùng và chở lên phi truờng đua về Sài G̣n tống giam. 

   Nhung tiếc rằng, chính phủ lúc ấy đa không làm hết việc. Tại sao chỉ bắt tuớng Đính và năm nguời cầm đầu cùng loạn quân c̣n lại trong « chùa » mà không bắt thầy chùa. Nên nhớ, là chính phủ có quyền bắt tất cả những kẻ đa gây ra cuộc bạo loạn để đua ra Ṭa án Quân sự Mặt trận và bỏ tù, cung nhu buộc hoàn tục, v́ họ có tu thật đâu, họ chỉ núp duới chiếc áo cà sa để làm giặc. V́ các « thầy » đều có mang lon si quan Tuyên úy, nhu Thích Minh Chiếu, Thiếu tá truởng pḥng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1 Chiến thuật, Thích Nhu Huệ mang lon Đại úy Biệt động quân đi dụ dỗ trẻ em vị thành niên đến có bầu, bị gia đinh các bé gái ở Hội An kiện ra ṭa, và c̣n rất nhiều nữa. 

   Chính v́ việc làm nữa vời này của chính phủ nên mới di họa cho đến 30-4-1975, và không biết sẽ c̣n đến bao lâu nữa ???!!!  

   Để trả lời tuớng Tôn Thất Đính và trên hết là tôi muốn trân trọng gửi đến quư độc giả những sự kiện đa xăy ra thật chính xác nhu sau đây :

    Truớc hết, tuớng Tôn Thất Đinh v́ đa trốn trong các chùa. Sau cùng là Chùa Pháp Lâm nên không bao giờ thấy hay biết những ǵ xăy ra ở bên ngoài. V́ vậy, tôi khẳng định lại một lần nữa là những ǵ tuớng Đính nói là hoàn toàn bịa đặt. 

    Thảm cảnh của đồng bào tại Thành Phố Đa Nẵng : 

    Sau hon bốn tháng, nguời dân  thành phố Đa Nẵng đang đối mặt với tử thần, th́ Chiến dịch Hành quân Đinh Bộ Linh đuợc ban hành. Khi bộ chỉ huy lực luợng hành quân ĐBL đa chiếm đuợc Đai phát thanh Đa Nẵng th́ đa phát lời kêu gọi của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, Chỉ huy truởng Thủy quân Lục chiến kiêm Quân Trấn Truởng Đa Nẵng nhu sau : 

   « … Nghiêm cấm quân sĩ  không đuợc xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không đuợc nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thuong vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hăy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đuờng cho xe cộ luu thông, văn hồi an ninh trên lănh thổ Quăng Nam-Đa Nẵng. Nhung nhớ phải cẩn thận không đuợc làm ngă đổ tắt nhang đen. » 

   V́ bị đói khổ nhiều ngày tháng, nên đồng bào ĐN rất vui mừng huởng ứng lời kêu gọi và đa hăng hái tiếp tay với các chiến si dẹp loạn, trong đó có em Lê Quang San 16 tuổi, học sinh lớp Đệ tứ truờng Trung học An Hải quận 3, con của ông bà Lê Quang Khâm, chánh quán thôn Bát Nhị, xă Kỳ Ngọc, quận Điện Bàn, Quảng Nam, lánh nạn cộng sản tại An Cu1, phuờng An Hải Đông, quân 3 ĐN.

   Lúc đó, những kẻ cầm đầu của cuộc bạo loạn miền Trung đa rút vào sào huyệt cuối cùng là chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đa Nẵng, tại số 500 đuờng Ông Ích Khiêm ĐN, để pḥng thủ.

   Nhung họ vẫn không chịu ngung tiếng súng, mà từ trong chùa « Quân đoàn Vạn Hạnh » cứ bắn xả từng loạt đạn ra đuờng, những nguời khiêng dọn bỏ chạy, riêng em Lê Quang San v́ sợ quá không chạy đuợc nên đa chui xuống bàn Phật để tránh đạn th́ bị lính của Quân đoànVạn Hạnh lôi vào cổng chùa Pháp Lâm, rồi giáng cho em những trận đon thừa sống thiếu chết, sau đó nổ súng bắn em San chết gục tại phía trong cổng chùa Pháp Lâm; mặc dù đa chết, thân thể quắt queo bởi những cú đấm, đá của Quân Đoàn Vạn Hạnh; nhung đôi mắt em Lê Quang San vẫn mỡ to nh́n vào noi Phật Tự!!! 

   Sau đó, nghe điện báo của quân si trấn thủ vùng này, Đại tá Nguyễn Thanh Yên đích thân đến tận noi chứng kiến xác chết của em San. Rồi Đại tá Nguyễn Thanh Yên ra lệnh đua thi thể em lên Quân Y Viện Duy Tân, chờ t́m thân nhân nhận xác.

   Sau đó, qua tuờng tŕnh của các viên chức an ninh, biết đuợc gia đinh em nghèo, cha làm nghề đạp xích lô, mẹ làm công việc nội trợ, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đa gửi đến gia đinh em 20.000 đồng để giúp đỡ việc an táng cho em San. 

    Mặc dù chính phủ đua quân ra Trung vào ngày 27-6-1966, nhung cho đến hết tháng bảy các binh si và đồng bào mới thu dọn sạch sẽ trên đuờng phố, đầu tháng tám các chợ mới đông, thành phố Đa Nẵng mới hồi sinh. 

    Về con số thuong vong, ai cung biết có nguời chết và rất nhiều nguời bị thuong do đạn của « Quân đoàn Vạn Hạnh » từ trong các chùa bắn ra để giết chết đồng bào và quân chính phủ làm công việc dọn dẹp trên đuờng phố. Một số nguời bị thuong v́ bị « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đánh đập và dùng gậy gộc, gạch, đá tấn công, bởi họ không chịu băi thị, không chịu đi biểu t́nh, không cho khiêng bàn thờ Phật của họ ra đuờng. C̣n quân chính phủ không dám nỗ súng v́ trong các chùa c̣n có hàng trăm con tin là QCCVNCH. Nên biết, nếu đúng nhu lời của hai ông Thi-Đính th́ c̣n loạn hon nhu thế nữa. Bởi, chỉ cần có một nguời của loạn quân mà chết, dù là trúng gió chết hay bị chó cắn mà chết , th́ chắc chắn quân bạo loạn sẽ khiêng cái xác ấy đi biểu t́nh và nói là quân chính phủ giết họ. Nhung may mắn là trong suốt thời gian bạo loạn gió cung hiền, chó cung biết sợ nên « lực luợng tranh đấu » chẳng có ai trầy suớt ǵ cả.

    Khi t́nh h́nh Đa Nẵng đa ổn định ông bà Lê Quang Khâm đa đến Đặc Khu Quân Trấn gặp Đại tá Nguyễn Thanh Yên, yêu cầu đua ra pháp lư để làm sáng tỏ cái chết của em Lê Quang San th́ đuợc Đại tá trả lời : 

    « Tôi cung là nguời Đa Nẵng, xin thành thật chia xẻ nỗi đau thuong của ông bà, nếu cần ǵ tôi sẽ đề nghị ông Thị truởng giúp đỡ. C̣n điều ông bà yêu cầu, tôi xin lỗi không làm đuợc, v́ nhu mọi nguời đều biết các trụ sở đảng phái, nghiệp đoàn cung bị tấn công, hàng trăm QCCVNCH đa bị bắt giam trong chùa Phổ Đa. V́ thế, truớc mắt mọi nguời Phật giáo đa không c̣n tính chất của tôn giáo nữa. Song, không có cách nào khác hon v́ vu khí của quân đội th́ mang bên ngoài bộ quân phục, nhung vu khí của các thầy lại nằm bên trong chiếc áo cà sa ! Không phải một ḿnh cháu San mà c̣n rất nhiều nạn nhân, trong đó có rất nhiều binh si đa mất mạng ! Nếu tôi có làm điều ǵ hon nữa th́ chỉ tạo nhân tố cho họ dùng biển nguời trấn áp, mà không biết chừng lại nỗi loạn lên nữa, bởi dù là cọp trên rừng mà đa lạc xuống đồng th́ cung đanh chịu vậy !

   V́ huởng ứng lời kêu gọi của quân đội mà ra nông nỗi, vậy tôi thành thật xin lỗi ông bà cung nhu tất cả các gia đinh của những nạn nhân xin hăy thấy đuợc nỗi khó khăn của tôi mà dành cho tôi một sự cảm thông. »

   Truớc những lời chí t́nh của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, ông Lê Quang Khâm đa nói :« Chúng tôi xin cám on Đại tá, nhung ngoài việc muốn làm sáng tỏ về cái chết oan uổng của con tôi, chúng tôi không cần ǵ khác hon nữa cả. »  

   Tôi cung muốn nói thêm rằng, ngoài số người đa bị bắt c̣n có một số cán bộ đảng phái đa chạy thoát, bị Phật giáo truy đuổi, một số chạy lên đuợc phi truờng, một số chạy xuống khu Nội Hà, phuờng Thanh B́nh th́ đuợc đồng bào miền Bắc di cu nuôi giấu trong nhà. Đặc biệt một số đông cùng đuờng đa chạy vào nhà thờ nhờ Cha Bề trên Nguyễn Văn Phuong che chở, nhung Cha Nguyễn Văn Phuong nói :  

   «  Nhà Chúa luôn luôn rộng mỡ, nhung tiếc rằng không thể để  quư vị  trong nhà thờ đuợc, v́ nhu thế nhà thờ sẽ bị tấn công. » 

     Khi nghe vị Linh Mục nói nhu thế, các vị định quay lung, và các vị đa có ư định mỡ đuờng máu để thoát thân. Nhung, thật bất ngờ khi nghe Cha Phuong nói: 

     «  Thôi các vị hăy vào đây, nếu có chết th́ cùng chết với nhau. Bởi các vị mà chết hết th́ tôi sống làm sao yên, mà cung không đáng sống ». 

     Nói xong Cha Nguyễn Văn Phuong đa đua tất cả các vị vào trong nhà thờ. Nhung để bảo toàn cho sinh mạng của các vị này, đồng thời cung để cho nhà thờ khỏi bị tấn công, nên Cha Phuong đa cho nguời gọi ông Trần Văn Tuyên đến đón các vị ấy về nhà nuôi giấu, và vợ con ông bà Trần Văn Tuyên đa com bung, nuớc rót hầu các vị ấy hon hai tháng.

  Ai cung biết hon bốn tháng trời Đa Nẵng là thành phố chết, có tiền không mua gạo đuợc, mà số nguời ẩn trốn lại quá đông. V́ thế, Cha Phuong đa kêu gọi đồng bào miền Bắc di cu đóng góp để nuôi họ. Riêng ông Trần Văn Tuyên v́ nhà ông nuôi giấu nguời đông nhất, nên các vị ấy đa chứng kiến hàng ngày cảnh ông Tuyên đa mang bị đi xin từng lon gạo, từng tí mắm « của tuy to tóc nghia so ngh́n trùng » để đem về nuôi họ. 

   Và cung nên biết, khi chạy đến nhà thờ của Cha Nguyễn Văn Phuong, rồi đến trốn ở nhà ông bà Trần Văn Tuyên; tất cả các vị chỉ có một bộ áo quần trên nguời, ngoài ra không có một vật dụng nào khác. Ví thế, Linh Mục  Nguyễn Văn Phuong đa kêu gọi tất cả giáo dân đóng góp từng bộ áo quần, từng chiếc khăn, đôi dép cho đến những vật dụng cá nhân nhu kem, bàn chải răng ...

    Nhung, đến khi sóng lặng, gió êm các vị này ai cung có chức cả, nào là Chủ tịch, bí thu, nghị si, dân biểu, nghị viên …Lúc này « vị » nào cung đi đứng hiên ngang nên đa số không c̣n nhớ đến cái lúc cùng đuờng xông đại vào nhà nguời ta cầu cứu, cung nhu lúc từ nhà thờ Thanh B́nh đến nhà ông bà Trần Văn Tuyên « quư vị » đa vừa lết vừa ḅ v́ sợ « Phật giáo » phát giác. Hon ai hết, là đồng bào miền Bắc di cu họ thừa hiểu nếu « Phật giáo » biết đuợc họ đa nuôi giấu « quư vị » trong nhà th́ cả phuờng Thanh B́nh cung cùng số phận nhu Thanh Bồ truớc đó; song họ đa bất chấp mọi thứ bởi thấy nguy là phải cứu, thế nhung, làm nguời cái lịch sự tối thiểu là phải biết nói lời cám on khi đuợc nguời khác cứu giúp. Nhung « quư vị » ấy kể từ lúc rời khỏi Thanh B́nh, truớc 1975, « quư vị » ai cung có quyền, có chức vậy mà đa số không hề có một lần ghé lại nhà ông bà Trần Văn Tuyên nói lời cám on. Ngày ông Trần Văn Tuyên mất cung không có nữa lời chia buồn cùng gia đinh.

   Hiện nay, bà Trần Văn Tuyên và các con vẫn c̣n ở nguyên căn nhà cu ở đuờng Cao Thắng, noi mà ngày xua « quư vị » từng ăn trốn ngủ lén hon hai tháng ở đó.  

   Truớc ngày vuợt biển, tôi có đến nhà bà Trần Văn Tuyên nhiều lần, bà nói cuời rất vui vẻ khi nhắc lại những ngày nuôi giấu các vị ấy trong nhà. Lúc ấy, các con của ông bà cung nhu tất cả thiếu nhi phuờng Thanh B́nh, theo sự huớng dẫn của bố mẹ, chúng đa trở thành đội canh pḥng quanh phuờng để giữ an ninh cho các vị. Tôi nhớ tên từng « vị » đấy.  

   Khi nhắc lại điều này, tôi không sánh « quư vị » với Hàn Tín xua. Tôi chỉ nhớ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có đoạn nàng Kiều của lầu xanh, khi thoát con bi cục đa muợn oai của Từ Hải để ân đền, oán trả. Trong truyện Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đinh Chiểu, có nói đến tên tiểu đồng hàng ngày đi xin com về cúng mộ Lục Vân Tiên : 

   «   Sáng đi khuyên giáo tối về cúng đom,

            Dốc ḷng trả nợ áo com,

            Sống mà trọn nghia, thác thom danh hiền. » 

   Lúc thi ân, ông bà Trần Văn Tuyên không hề mong « quư vị » đền đáp, nhung là những kẻ đă thọ ân mà suốt bao nhiêu năm  qua « quư vị » đă thực sự quên đi những ngày tháng ấy th́ rơ ràng là « quư vị » đa không xứng danh là quân tử. 

    Trên đây, là những lời tôi muốn nhắc lại cái t́nh nguời với các « vị chính khách ». C̣n nói đến cuôc bạo loạn bàn Phật xuống đuờng vào mùa hè 1966, th́ c̣n quá nhiều nhung bài viết đă dài. Tôi xin tạm dừng lại ở noi đây. Xin tái ngộ quư độc giả với những tài liệu về Thích Thiện Hào, Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Minh và rất nhiều « ông » Thích nữa của Phật Giáo Ấn Quang cung trên trang báo này; và về Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi,  Đa Nẵng 24-8-1964. 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền 

 

 

Cuộc Bạo Loạn Miền Trung : Mùa Hè 1966

 


 


 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

Như đứng trước Thượng Đế trong giờ phán xét sau cùng, tôi xin ghi lại tất cả những thảm cảnh tang tóc, đau thương mà lũ giặc thù cộng sản cùng các lực lượng « tranh đấu » và « Ḥa hợp Ḥa giải » Ấn Quang đă từng gieo rắc trên mănh đất thân yêu là thành phố Đà Nẵng đầy lưu dấu của tôi.

Hôm nay, noi theo lời dạy của nhà học giả Nguyễn Trường Tộ : « Biết mà không nói là bất lương ». Nên, bằng tất cả tâm thành từ bài này trở đi, tôi sẽ tuần tự viết với đầy đủ những chi tiết trong mọi biến cố mà tôi đă từng mắt thấy tai nghe, v́ tôi muốn viết khi các nạn nhân và cả chứng nhân tất cả các vị ấy hiện c̣n đang sống đa số tại hải ngoại, để minh chứng cho tiếng nói trung thực của tôi, mục đích là để cho lớp trẻ sau này biết đường mà lánh xa lũ sát nhân tàn bạo ấy.

Trong những bài trước tôi có nói đến « công lao » của « Lực lượng Ḥa hợp Ḥa giải » của Ấn Quang mà không nêu cụ thể chứng minh. Vậy để biết rơ hơn xin mời quư độc giả hăy cùng đọc lại báo Quê mẹ số 108 tháng 3 năm 1990, trang 21, đă đăng ( nguyên văn ) một trong « Năm yêu sách của Phật giáo do Thượng Tọa Thích Thanh Từ, Đại biểu giáo quyền Phật giáo đương kim Tổng thư kư Hội đồng Trị sự Trung ương Phật giáo Việt Nam Thống Nhất vào tháng 02 năm 1990 đă đưa ra Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản tại Hà Nội :

 

« Yêu sách thứ năm : Phải nhớ ơn các nhà tu hành, các tín đồ Phật giáo đă góp công lao vào công cuộc tranh đấu thống nhất đất nước trước đây. »

 

Không những thế, mà « Thượng tọa » c̣n lo lắng :

 

« … làm cho niềm tin của quần chúng đối với đảng và nhà nước bị xói ṃn… và để lấy lại niềm tin của quần chúng. »

 

Nghĩa là « Thượng tọa » sợ cộng sản sụp đổ. Theo tôi, « Thượng tọa » đừng nên quá lo xa, bởi dân tộc Việt Nam từ thưở vua Hùng lập quốc đă có truyền thống kính sợ Trời tức Thượng Đế, v́ thế những người Việt Nam đứng về phía dân tộc họ đều có thừa ḷng nhân ái, không ai có những hành động như các lực lượng « tranh đấu » của Ấn Quang đă đối với các nạn nhân tại Đà Nẵng đâu. Bởi họ có nhân tính, họ tin có Ông Trời, họ sợ Ông Trời « sẽ đổ cơn thịnh nộ xuống ». Chỉ có lũ vô thần, phi nhân, tàn bạo chúng mới không tin có Trời nên đă đặt Trời xuống ngang bằng với quỷ vật nên chẳng ai biết sợ ai cả.

Hiện nay bạo quyển Hà Nội đă thỏa măn « Năm yêu sách của Phật giáo » nên « Thượng tọa » Thích Thanh Từ đương nắm giữ giáo quyền và cả thế quyền nữa.

 


 


 

 

Thích Thanh Từ
 

 

Nguyên do và mục đích của Ấn Quang trong cuộc bạo loạn tại Miền Trung :

 

Mục đích chính của Phật giáo Ấn Quang là chiếm giữ miền Trung, để thành lập Chính phủ Miền Trung, liên minh với Việt cộng để đánh Việt Nam Cộng Ḥa. Ấn Quang đă chuẩn bị từ lâu, chỉ chờ cơ hội để nỗi loạn. V́ vậy, nhân việc tướng Nguyễn Chánh Thi bị cách chức vào ngày 10-3-1966. Phật giáo đă lấy cớ đó biểu t́nh đ̣i chính phủ phải trả tướng Thi trở lại vùng 1. Khi chính phủ trả tướng Thi trở lại vùng 1 nhưng không có chức vụ ǵ cả. Th́ Ấn Quang lại đ̣i chính phủ phải phục hồi cho tướng Thi với các chức : Tư lệnh Quân Đoàn 1, Vùng 1, kiêm đại biểu chính phủ tại Vùng 1 Chiến Thuật. Việc làm này của Phật giáo Ấn Quang đă khiến một tín đồ thuần thành của Phật giáo là ông Bùi Quang Sạn, chỉ huy trưởng Đơn vị T́nh báo tác chiến tại Quảng Nam (sau đó ông là dân biểu ) đă nói :

« Chuyện ông Thi bị cách chức là chuyện của quân đội mắc mớ ǵ đến Phật giáo. Chỉ có muốn nỗi loạn cướp chính quyền để hợp tác với Việt cộng mà thôi. »

 

Sau đó, ông Bùi Quang Sạn đă bị bắt giam tại « chùa » Phổ Đà tức Phật Học Viện Trung Phần và trong cuộc nỗi loạn mùa hè 1966, Phổ Đà- Phật Học Viện đă trở thành « Tổng Hành Dinh Quân Đoàn Vạn Hạnh. » Khi bị bắt, Phật giáo đă bắn bể bàn chân trái của ông Bùi Quang Sạn, nhưng « Quân Đoàn Vạn Hạnh » đă không cho ai băng bó cả. Chẳng những thế, mà Quân Đoàn Vạn Hạnh c̣n trói thúc ké hai tay ông ra sau lưng và buộc ông phải đi bộ cùng với nhiều người bị bắt. V́ thế, trong số tù nhân Phật giáo này có hai ông Ngô Hải Quảng và ông Nguyễn Kim Thành phải d́u ông Bùi Quang Sạn đi trên đường phố đến chùa Phổ Đà. Trước mắt đồng bào, nhiều người đă thấy ông Bùi Quang Sạn đi chân đất, bàn chân trái bê bết máu, mặt mày trông rất đau đớn. Nên biết, khác hơn cả tù thời Pháp và Việt cộng. Tất cả tù nhân Phật giáo đều bị Quân Đoàn Vạn Hạnh buộc phải cởi bỏ áo quần ngoài chỉ được mặc quần áo lót, phải cởi bỏ luôn giày, dép, vớ, phải đi chân đất trên các đường phố, khi vào nhà tù Phổ Đà các vị tù này cũng không được mặc áo quần dài chỉ được mặc đồ lót và phải đi chân đất. Và họ đă ở trong nhà tù Phổ Đà, bị đánh đập bốn mươi ngày mới được giải cứu.

chùa Phổ Đà
 

332 Phan Châu Trinh Đà Nẳng
 


 


 

V́ thế, Giáo sư Trịnh Thể, Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Công Trứ và ông Phan Thuyết, Chủ sự pḥng hành chánh Bệnh viện Toàn khoa ĐN, bởi quá thương các vị tù không tội này nên ông đă đến chùa xin được thăm nuôi, các « thầy » đồng ư, nhưng không được gặp mặt, chỉ được gửi vào chùa những chiếc chiếu ( nhưng không được gửi chăn, màn…) và quần áo lót qua người cai tù là Trung sĩ quân cảnh Nguyễn Văn Sự, ngoài ra tù nhân không được nhận một vật dụng hay bất cứ thực phẩm nào cả . V́ số tù quá đông nên các nhân sĩ và đồng bào đă giúp đỡ mua những chiếc chiếu và đồ lót, nhưng chỉ có hai vị không thể mang vào chùa được, nên hai vị đă nghĩ ra một cách là dắt tôi đến chùa « xin các thầy cho con nhỏ này nó phụ anh em tôi mang chiếu và đồ lót vào chùa, các thầy hăy an tâm v́ nó hiền như cục đất à. »
 


 

Tôi không biết mấy ông trong chùa thấy tôi hiền, hay chỉ là con gái vô hại, hay ư Trời cho tôi được chứng kiến những điều ấy, nên khiến cho họ bằng ḷng cho tôi được cùng giáo sư Trịnh Thể và ông Phan Thuyết đi thăm tù nhân tại chùa Phổ Đà.
 


 

Sau đó, hai vị bảo tôi cùng đi t́m người, t́m xe để chở số chiếu và đồ lót đó đem đến trước cổng chùa giao cho Nguyễn Văn Sự, rồi những người đi thăm nuôi và tài xế tất cả đều phải đi ngay. Một điều ít khó khăn hơn những thân nhân của quân cán chính Việt Nam Cộng Ḥa trong các trại tù cải tạo của công sản, là khi vào thăm nuôi mỗi người có người thân khác nhau, phải qua kiểm sóat thăm nuôi, phải chờ đợi, c̣n các vị tù nhân Phật giáo này không được phép nhận bất cứ cái ǵ của ai kể cả cha, mẹ, vợ, con. V́ vậy, sau khi giao số chiếu và đồ lót cho cai tù Nguyễn Văn Sự, y cứ cho đem vào chùa rồi hàng trăm vị tù tự chia xẻ với nhau để dùng. Sau 30-04-1975, khi gặp tôi trong trại cải tạo T.154, giáo sư Trịnh Thể bảo :
 

« Hồi xưa mấy ổng mà biết rơ em hiền như vậy th́ đừng ḥng mà đến gần được cái cổng chùa, chứ đừng có nói đến chuyện thăm nuôi.

 

Những diễn tiến của cuộc bạo loạn :

 

Như tôi đă nói về nguyên do và mục đích của cuộc bạo loạn. Bây giờ tôi xin trở lại từ những ngày đầu :

 

Sau khi tướng Nguyễn Chánh Thi trở về Đà Nẵng, nhưng chính phủ cương quyết không phục chức theo yêu sách của Phật giáo Ấn Quang. Thấy vậy, Phật giáo lại đ̣i phải thành lập chính phủ dân sự. Mặc dù biết những đ̣i hỏi của Phật giáo là quá đáng, nhưng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lănh đạo Quốc gia, đă triệu tập Quốc dân đại hội và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến trong ṿng sáu tháng. Song, v́ chưa đạt được mục đích nên Phật giáo lại tiếp tục biểu t́nh. Lần này với những biểu ngữ và dùng loa phóng thanh hô to những khẩu hiệu :

 

« Đả đảo Thiệu-Kỳ, Thiệu-Kỳ phải từ chức. »

 

Khi nhắc lại điều này, tôi muốn hỏi Phật giáo là tại sao từ sau ngày 30-4-1975, cho đến nay, Ấn Quang vẫn luôn kêu gào nào là từng bị Việt cộng bỏ tù, áp bức, pháp nạn… Như vậy, tại sao Phật giáo không tổ chức biểu t́nh đả đảo cộng sản, không làm như mùa hè 1966, không đ̣i bạo quyền Hà Nội phải từ chức, trong khi vẫn ca rằng Việt Nam có tới 90% là Phật tử ?

 

Trở lại cuộc nỗi loạn, khi chính phủ không từ chức, v́ từ chức rồi giao chính quyền cho ai ? Chẳng lẽ giao cho Thầy chùa ? V́ vậy, Phật giáo bắt đầu cuộc bạo loạn bằng việc công khai tuyên bố đă thành lập « Quân đoàn Cách mạng Vạn Hạnh », Thích Minh Chiếu là Tư lệnh Quân đoàn. Tổng hành dinh được đặt tại chùa Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh Đà Nẵng như tôi đă viết ở bài trước.


 

 


 

 

trai.gif

 

TT Thích Minh Chiếu Trưởng Ban HDPT tỉnh phát biểu khai mạc
 

“Chùa Phật GiáoViệt Nam” tại 1651 S. King St. Seattle, WA. 98144, USA. Điện thoại số: (206) 323-2269. ( Địa chỉ và số điện thoại này cho đến nay vẫn không thay đổi).


 


 

Nguyễn Đắc Xuân
 


 

Click the image to open in full size.
(hoàng phủ ngọc tường)

 

Lúc này, Thích Đôn Hậu đă kéo một đám đệ tử từ Huế vào Đà Nẵng. Trong số này, có những tên cũng đă từng chỉ huy « Đoàn Thanh niên Phật tử Cứu quốc » trong cuộc tấn công hai phường Thanh Bồ và Đức Lợi vào ngày 24-8-1964, như các tên sau đây :

Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Tuyên …và hơn hai ngàn thanh niên, hợp lại cùng với đám đệ tử tại Đà Nẵng cũng đă từng sát cánh với nhau trong cuộc thảm sát Thanh Bồ như : Phan Xuân Huy, Phan Chánh Dinh, Vĩnh Kha, Hồ Công Lộ, Hà Xuân Kỳ …

Mo ta anh.

 

Sau khi vào Đà Nẵng, Thích Đôn Hậu và đám đệ tử tập hợp tại chùa Pháp Lâm, tức chùa tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, là cơ quan chỉ đạo chính trị ở số 500 đường Ông Ích Khiêm. Chính tại chùa Pháp Lâm, Thích Đôn Hậu đă nhân danh Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung ) dùng truyền đơn và loa phóng thanh phát lời kêu gọi :

 


 

Chùa Pháp Lâm , Đà Nẳng
 

« …Các quân nhân Phật tử hăy mau mau quay về gia nhập Quân đoàn Cách mạng Vạn Hạnh, các Phật tử trong mọi nghành cảnh sát, công tư chức, sinh viên học sinh, thanh niên và đồng bào Phật tử hăy gia nhập lực lượng đấu tranh để lật đổ chính phủ Thiệu-Kỳ. »

 

Cho đến nay, đă bốn mươi hai năm qua rồi. Nhưng khi nhắc lại lời kêu gọi này của Thích Đôn Hậu chắc những ai đă từng chứng kiến cuộc nỗi loạn này cũng thấy rằng : Quả thật, lời kêu gọi ấy có hiệu quả, bởi lúc ấy đă có không ít một số sĩ quan, binh lính, công tư chức rời bỏ hàng ngũ và nhiệm sở đế gia nhập « Quân Đoàn Vạn Hạnh » Riêng sinh viên, học sinh, thanh niên Phật tử đă được « Thượng tọa » Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng pḥng Tuyên úy Phật giáo vùng 1 chiến thuật trang bị súng đạn đủ loại, một số em học sinh nhỏ tuổi th́ được trang bị bằng gậy gộc, gạch, đá để gia nhập « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » Thích Minh Chiếu hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ như tôi đă viết ở bài trước.

 

Lực lượng biểu t́nh từ đâu ra ?

Trong suốt thời gian nỗi loạn, tại thành phố Đà Nẵng ai cũng thấy con số người đi biểu t́nh rất đông đảo, nhưng chỉ có người dân Đà Nẵng mới biết rơ trong đoàn người đó có phải họ đều tự nguyện đi biểu t́nh hay không ?

Và đây là sự thật : Quư vị đă đọc qua bài 30-4-1975 : Máu và nước mắt, ở số báo trước, quư vị đă biết về số người đi « diễn hành » vào ngày 19-5-1975, để « mừng » sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Pháp Lâm, th́ quư vị ắt đă biết có một số đông đồng bào đi biểu t́nh trong cuộc bạo loạn này không phải là tự nguyện.

Để biết rơ hơn, tôi xin ghi lại những sự ǵ mà chính tôi đă chứng kiến. Tôi vẫn nhớ như in, vào thời gian đầu của cuộc nỗi loạn chỉ có một số ít phật tử đi theo tiếng gọi của…thầy chùa. V́ vậy, « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến từng khu chợ, tay vung gậy, mồm la hét, đe dọa, bắt buộc đồng bào phải băi thị để đi biểu t́nh, ai phản đối th́ bị đánh đập, và ĐTNPTQT đă đạp đổ những sạp hàng, những gánh bún… Cuối cùng, đồng bào phải nuốt nước mắt để đi biểu t́nh. Điều này, nhà văn Nguyễn Mộng Giác chắc có biết, nên đă viết qua trong « Mùa Biển Động » nhưng có thể v́ để bán sách nên ông không viết đầy đủ.

 

3000 Bàn Phật xuống đường.

Trước khi nói đến chuyện bàn Phật xuống đường. Tôi phải nói rơ xuất xứ từ hơn ba ngàn cái bàn Phật đă nằm la liệt trên khắp đường phố Đà Nẵng. Nên biết, trong hơn ba ngàn cái bàn Phật đó, có rất nhiều cái bàn Phật dă chiến. V́ không có đủ bàn Phật, nên chỉ ở các cổng chùa mới có những bàn Phật trang nghiêm, c̣n ở các nơi khác th́ các « thầy » ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » ( từ đây xin tôi xin viết tắt là ĐTNPTQT) tay cầm búa, gậy ngang nhiên vào nhà Phật tử khiêng bàn Phật của họ ra đường, cũng nên biết trong nhà của đồng bào Đà Nẵng chỉ có một cái bàn thờ, họ thường để tượng, ảnh Phật ở trên và thờ chung với Tổ tiên, ông bà, có gia đ́nh nghèo họ để bàn thờ trên mặt tủ. Khi ĐTNPTQT, đến khiêng bàn thờ họ nhất định không cho, v́ biết đem bàn thờ, đem tủ ra đường phơi nắng, dầm mưa th́ chắc chắn sẽ bị hư, bị găy. Nhưng rồi họ cũng không ngăn cản được, bởi trên tay ĐTNPTQT, toàn là búa, gậy, gạch, đá. Nhưng thấy cũng chưa đủ, ĐTNPTQT đă đi vào các chợ khiêng những chiếc bàn vốn là của bà bán hàng xén, ông bán thịt, cô bán bún, chị bán tôm, tép, cá khô …đă bị bắt buộc phải băi thị. V́ thế, khi đem ra đường trên mặt bàn c̣n dính đủ loại mặt hàng như : Đường, bột,tiêu, ớt, dầu, muối, mắm, thịt, văy cá nhầy nhụa. Nhưng đă được ĐTNPTQT phủ lên một tấm nylon có in h́nh hoa lá đủ mầu sắc ( loại dùng để trải bàn) Rồi đem tượng Phật, có cái chỉ là một tấm ảnh Phật được lồng vào khung gỗ. Tiếp theo, ĐTNPTQT dùng những chiếc lon sữa ḅ hoặc những cái hộp đựng thịt, nhặt ở những nơi mà các xe thầu rác của sở Mỹ đổ ra, đem rửa sạch, đổ gạo và cắm nhang (hương) vào. Bên cạnh cũng là những chiếc lon như đă nói, nhưng khác hơn là nó được úp xuống, gắn đèn sáp đỏ lên. Tất cả được thượng lên bàn dưới chân tượng, ảnh Phật. Sau cùng là đốt nhang đèn.

Như thế, từ cái bàn bán hàng, bán thịt, bán bún …ngoài chợ, tất cả chúng đều nghiễm nhiên trở thành những cái bàn Phật, nhang, đèn, khói hương nghi ngút.

Có người nói, quân chính phủ đă đạp, đổ bàn Phật, nhang, đèn. Nên tôi cũng xin nói rơ là điều đó không hề có. Các chiến sĩ dẹp loạn chỉ khiêng các bàn Phật để lên trên lề đường cho xe cộ lưu thông mà thôi.

Nhưng v́ hơn bốn tháng bị bắt buộc băi thị, không ai bán gạo hay thức ăn, nên những người hành khất và các em thiếu thi hè phố cũng phải chịu đói theo đồng bào. Bởi thế, nên cứ chờ khi các chiến sĩ dẹp loạn quay lưng, th́ các vị khất sĩ này liền tới ngay các bàn Phật, tay này rút nhang vứt xuống đất, tay kia bưng những lon gạo trút vào các túi cái bang. Cùng lúc các chủ nhân của những chiếc bàn cũng nhanh chân đi thu hồi lại những chiếc bàn, để c̣n đem ra chợ buôn bán sau một thời gian dài chịu đói khát. Và tất nhiên, những người này họ phải đem nhang đèn để xuống đất, v́ họ chỉ lấy lại những chiếc bàn của họ mà thôi.

 

Trở lại chuyện bàn Phật xuống đường.

Người dân Đà Nẵng đă chứng kiến và gánh chịu những khốn khổ v́ hơn bốn tháng Trời bàn Phật nằm đầy đường, Đà Nẵng trở thành thành phố chết, xe cộ không thể lưu thông, người phải đi bộ, các chợ vắng hoe, dân chúng không làm ăn buôn bán ǵ được, quân nhân, công chức, lao công không có lương, nhiều gia đ́nh bị đói v́ họ là những người dân từ các quận xa xôi như : Trà Mi, Tiên Phước, Hậu Đức, Khâm Đức, Quế Sơn …chạy về Đà Nẵng để lánh nạn cộng sản.

 

Hành quân Đinh Bộ Lĩnh :

Giữa lúc Phật giáo đă cướp chính quyền toàn thành phố Đà Nẵng, trong đó có Đài phát thanh. Chỉ trừ phi trường, mặc dù có dự tính nhưng không dám tấn công v́ sợ Hoa Kỳ. Người dân Đà Nẵng đang khốn khổ và giữa lúc sinh mạng của các vị quân cán chính Việt Nam Cộng Ḥa là những tù nhân Phật giáo trong chùa Phổ Đà đang như sợi chỉ mành treo chuông. Như ông Lê Nguyên Long Trưởng ty Thông tin Quảng Nam đă kể :

« Tui không biết con số chính xác là tại chùa có bao nhiêu người, nhưng tui biết chúng tui mỗi pḥng có bảy mươi người, mà các pḥng của nhà tăng tại chùa Phổ Đà th́ nhiều, v́ chùa này là Phật Học Viện Trung Phần mà, nên nó lớn lắm mà đều kín chỗ hết, chúng tui nằm sát nhau rất chật chội, v́ mùa hè nên nóng lắm, ai cũng đều phải trải chiếu nằm trên nền xi măng, lại bị muỗi đốt kinh khủng v́ không có mùng, không được mặc áo quần dài, không có dép, không có khăn tắm, khăn mặt, không có xà pḥng, không có kem và bàn chải đánh răng, không có cái ǵ cả ngoài bộ đồ lót trên người và chiếc chiếu, nghĩa là chúng tui đă sống như người ở thời tiền sử. C̣n cách hỏi cung của mấy ổng th́ ghê gớm lắm, v́ mỗi lần hỏi cung là mỗi lần chúng tui đều bị tụi nó oánh, mà tụi nó có hỏi cung chi mô, nó kêu từng người ra pḥng khác để nó oánh cho đă thôi, khi về pḥng người nào cũng giống như cái mền rách. Trời ôi ! tụi nó tàn ác lắm, nó oánh, nó oánh tụi tui, nó oánh ( nó đánh) từ trái sang phải, chúng tui tưởng đă bỏ xác trong chùa Phổ Đà rồi chớ. Nhưng chưa hết mô c̣n thêm một nỗi kinh hoàng hơn nữa là trước các cửa sổ các pḥng đều có treo lựu đạn với lời tuyên bố của Quân Đoàn Vạn Hạnh : Đ.M, nếu Thiệu-Kỳ mà đưa quân vào đây là chúng tao bung lựu đạn cho chúng mầy chết tan xác hết. »

 

Tưởng cũng nên nhắc lại ông Lê Nguyên Long bị bắt trong lúc đang lái chiếc Vespa chở giáo sư Nguyễn Hữu Chi, Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam, trên đường từ Quảng Nam về Đà Nẵng vừa đi đến ngă ba Duy Tân ĐN, th́ bị Phật giáo chặn bắt cả hai vị. Sau đó Giáo sư Nguyễn Hữu Chi và ông Lê Nguyên Long bị đưa vào nhà tù Phổ Đà là nơi giam giữ nhiều tù nhân nhất, ngoài ra cũng có nhiều chùa cũng đă trở thành nhà tù như chùa Tam Bảo Tự ở số 323 đường Phan Châu Trinh ĐN.

http://www.giacngo.vn/UserImages/admin/images1548392_phatdan4.jpg

Lập lễ đài chào đón Đại lễ Phật đản Vesak 2008 tại chùa Tam Bảo Tự (Đà Nẵng). số 323 đường Phan Châu Trinh
 


 

Ngày 16-4-1966, « Phật giáo » đă vây bắt Thiếu tá Mai Xuân Hậu, quận trưởng quận Ḥa Vang, và đồng loạt tấn công các trụ sở đảng phái, bắt hàng trăm viên chức chính quyền và các cán bộ của VNQDĐ do cụ Vũ Hồng Khanh lănh đạo (ông Lê Nguyên Long cũng là VNQDĐ) đồng thời Phật giáo cũng tấn công Trụ sở Liên hiệp Nghiệp đoàn Lao công ở số 15 B đường Thống Nhất bắt ông Trần Ḥa Tổng thư kư Liên hiệp Nghiệp đoàn và các nhân viên đem giam vào chùa Phổ Đà và c̣n quá nhiều người mà tôi không làm sao kể hết.

 

Cũng trong thời gian ấy, Phật giáo đă tấn công quân nhân và đốt các xe của quân đội Hoa Kỳ. Một trường hợp đă có rất nhiều biết đó là tại đầu đường Bạch Đằng, trước Cổ viện Chàm nh́n sang Trường Trung Học Sao Mai, khi đó một chiếc xe Jeep nhà binh trên xe có hai Sĩ quan, một Hoa Kỳ và một Đại Hàn vừa chạy trờ đến, th́ « Đ̣an Thanh niên Phật tử Quyết tử » xông ra chặn đường và lôi hai Sĩ quan này xuống đất, hai Sĩ quan này hốt hoảng kêu cứu th́ liền bị đám này túm cổ áo và đánh hội đồng, cùng lúc tưới xăng vào xe và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy th́ có nhiều người từ khách sạn Moderne do Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An làm chủ đă chạy ra giải vây, lợi dụng lúc lúc đó Phu nhân Trung tá Trần Nguyên An đă kéo cả hai Sĩ quan chạy vào khách sạn che giấu. Sau đó bà đă t́m cách đưa họ trở về đơn vị.

Trong hoàn cảnh đó, ở dưới đất th́ diễn ra cảnh đốt phá, vây bắt, đánh người th́ trên không máy bay của quân đội đồng minh lượn quanh không phận Đà Nẵng không ngớt phát lời kêu gọi :

« Chúng tôi quân đội đồng minh, chỉ giúp đỡ và bảo vệ Việt Nam Cộng Ḥa. Chúng tôi không có đụng chạm đến Phật giáo cũng như chính phủ. Vậy chúng tôi thiết tha kêu gọi quư vị hăy chấm dứt việc hành hung và đốt xe của các quân sĩ đang thi hành công vụ. »

 

Nhưng « Lực lượng Tranh đấu Phật giáo » chẳng ai thèm nghe cả. Chính v́ thế, tại Quảng Nam Việt cộng đă lợi dụng cảnh hỗn loạn ở thành phố để tấn công, nên các đoàn xe của quân đội Việt –Mỹ phải lên đường tiếp viện. Nhưng khi đoàn xe chạy qua khỏi ngă ba Huế th́ trong chùa Phổ Quang do « Thượng tọa »Thích Từ Mẫn trụ tŕ đă ra lệnh cho « Phật tử » đông đảo sẵn có ra nằm la liệt trên mặt đường, ngăn cản đoàn quân viện không cho tiến vào Quảng Nam để cùng các đơn vị bạn chiến đấu với cộng quân.( Thích Từ Mẫn là chủ nhà sách Văn Nghệ tại Cali, Hoa Kỳ).


 

Chùa Phổ Quang , Đà Nẳng


 

 


HOÀ THƯỢNG THÍCH TỪ MẪN (1932-2007)

Mặt khác, các thầy đă ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu, ông Sáu là người Bắc di cư ở số 19 đường Lư Thái Tổ, là nơi cung cấp củi cho toàn thành phố và nói với ông Nguyễn Bá Sáu là cho mượn hết số củi đó chở về các chùa để các thầy tự thiêu. Ông Nguyễn Bá Sáu không cho mượn, ông nói : « Tự thiêu củi cháy hết rồi lấy cái ǵ trả cho tôi. » Nhưng ĐTNPTQT cứ xông vào khiêng hết số củi bỏ lên xe đem về chất trước các sân chùa, chùa nào cũng có một đống củi, rồi các « thầy » tuyên bố :

« Nếu Thiệu-Kỳ đem quân vào chùa sẽ có người tự thiêu. »

 

Song, quân chính phủ không hề động đến một cái chùa nào cả, chẳng phải quân đội sợ các « thầy » tự thiêu, v́ biết các « thầy » sợ chết lắm, mà v́ sinh mạng của hàng trăm con tin là quân cán chính Việt Nam Cộng Ḥa đang ở trong chùa.

Đến lúc quân chính phủ đă kiểm soát gần hết thành phố ; ông Nguyễn Bá Sáu đem xe đến các chùa đ̣i củi lại, ông nói :

« Các thầy nói mượn củi của tôi để tự thiêu, nhưng đến giờ này cũng không thấy ai tự thiêu cả, th́ trả củi lại cho tôi, để tôi bán lấy tiền nuôi vợ con tôi. C̣n nếu thầy nào muốn tự thiêu th́ cho tôi biết, tôi sẽ cúng dường bằng xăng và nếu cần thuốc mê, thuốc tê, thuôc ngủ th́ tôi cũng xin cúng dường luôn (ông Nguyễn Bá Sáu c̣n có tiệm thuốc tây nữa) v́ tự thiêu bằng xăng sạch sẽ hơn. »


 

Song, đó là màn cuối cùng của các « thầy », bởi thấy quân của chính phủ không nhượng bộ th́ « Quân đoàn Vạn Hạnh » một số đă « đào ngũ » khi biết rơ các thầy là cộng sản, một số không trốn được nhưng cũng xuống tinh thần, nên các thầy c̣n cần đến những đống củi chất trước chùa để hù dọa chính phủ. V́ thế, các thầy không cho ông Sáu chở củi về . Nhưng ông Sáu th́ cương quyết thu hồi số củi của ông, ông liền cho người khiêng hết củi bỏ lên xe chở về chất trước nhà. Lúc này, « Quân đoàn Vạn Hạnh » đang rầu thúi ruột v́ quân chính phủ đă kiểm soát gần hết thành phố nên chẳng có ai ngăn cản.

Nhưng sau khi ông Sáu chở hết củi về rồi, các « thầy » mới thấy lo, v́ không có củi lấy cái ǵ để hù tự thiêu với quân chính phủ. V́ thế, các thầy lại ra lệnh cho « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » tay cầm gậy gộc đến nhà ông Nguyễn Bá Sáu đánh ông một trận cho đỡ tức.

Phần ông Sáu, khi thấy đám côn đồ này xông vào nhà ông sợ quá liền chui vào đống củi, đám này bảo ông phải ra cho chúng đánh, ông không dám chui ra. Chúng biết ông trốn trong đống củi, nhưng củi nhiều quá chúng không biết ông trốn ở chổ nào. Tức quá,chúng liền tưới xăng vào đống củi và châm lửa đốt. Khi ngọn lửa bốc cháy, vợ con ông kêu cứu, đồng bào trong xóm nhiều người la lớn kêu cứu. Trong đó có ông Trương Quang Bông, lúc đó đương ở trên lầu bốn của Khách sạn Tao Nhă do vợ ông làm chủ ở số 172, đường Lư Thái Tổ. V́ ở gần nhà ông Nguyễn Bá Sáu, nên khi thấy ngọn lữa bốc cháy và nghe những tiếng kêu cứu của đồng bào,nên ông Trương Quang Bông đă gọi điên thoại cho sở cứu hỏa. V́ thế, lính cứu hỏa đă kịp thời dập tắt ngọn lửa, cứu ông Sáu ra khỏi đống củi và đưa ông đến bệnh viện. Ông chỉ bị bỏng nhẹ nên thoát chết, nhưng chưa thoát được bàn tay của các « thầy », nên sau ngày 30-4-1975, ông Sáu lại bị các « thầy » đem ra « Ṭa án nhân dân » đấu tố đủ thứ « tội » cuối cùng tôi lại gặp ông tại Trại cải tạo T.154, và ông cũng ở gần mười năm mới được trở về.

 

Qua những hành động như đă kể. Chúng ta ai chũng thấy rằng các « thầy » quả thật quá ngang ngược, đă lấy củi của ông Sáu trong lúc ông không đồng ư, đến khi muốn thu hồi củi ông Sáu phải tự thuê xe chở về, rồi cũng không yên thân, các thầy lại cho lũ côn đồ tới nhà đánh ông, lại c̣n chuẩn bị cả xăng mang theo để đốt sống ông Sáu nữa. Nhưng, nếu sở cứu hỏa không cấp cứu kịp thời th́ chẳng phải một ḿnh ông Sáu và gia đ́nh ông chịu chết, mà nhà cửa và sinh mạng của đồng bào ở lân cận nhà ông Sáu tại đường Lư Thái Tổ cũng phải cùng chung số phận !!!.

 

Quân chính phủ có gây thương vong cho nhân mạng hay không ?


 

Vừa qua, trên mạng lưới toàn cầu tôi thấy cả hai ông tướng Tôn Thất Đính và Nguyễn Chánh Thi đă phát biểu hoàn toàn bịa đặt, như nói là « …trong cuộc tranh đấu của Phật giáo quân chính phủ đă làm thiệt mạng cho 240 người tại Đà Nẵng »


 

Nguyễn Chánh Thi
 





















Cựu Tướng Tôn Thất Đính
B

 

 

 

Nên biết, suốt thời gian ấy ông Thi đă trốn ngoài Huế nên không biết hay thấy những ǵ đă xăy ra tại Đà Nẵng. Bây giờ ông Thi đă chết, nhưng cách đây mười năm, sau khi đọc cuốn hồi kư của ông tôi có một bài viết trên Văn Nghệ Tiền Phong số 556, trong đó có một đoạn, nay tôi xin viết lại đoạn đó như sau : Tôi đă đọc cuốn hồi kư ấy, ngay từ trang đầu tiên ông đă viết : « V́ ḷng yêu nước tôi đă gia nhâp quân đội 1940… ». Tôi muốn hỏi tướng Thi : Vào thời điểm đó Trung tướng nói yêu nước là yêu nước nào ? Gia nhập quân đội nào ? Cầm súng của ai và để bắn giết ai ?

Và những câu hỏi trên cho đến chết tướng Thi vẫn không trả lời được.

 

Riêng tướng Tôn Thất Đính. Trong cuộc bạo loạn của Phật giáo tại Đà Nẵng. Sau bốn mươi ngày « Phật giáo bắt giam nhiều vị quân cán chính Việt Nam Cộng Ḥa, chính phủ đưa ông ra Miền Trung để điều đ́nh với phe nỗi loạn để giải cứu số tù nhân Phật giáo

Ngày 26-5-1966, khi tướng Đính đến chùa Phổ Đà gặp các tù nhân Phật giáo chính ông đă nói với các vị tù nhân câu này tôi xin nhắc lại nguyên văn :

« Tôi đến để trả tự do cho các anh, để các anh trở về chiến đấu với cộng sản. »

Với câu nói này tướng Đính đă bị hai ông Lê Nguyên Long và ông Ngô Hải Quảng phản đối đến rất nặng lời. Riêng ông Lê Nguyên Long v́ ức quá ông đă vung cả hai tay chỉ ngay sát vào ngực áo cà sa của từng ông Sư la lớn tôi xin ghi lại nguyên văn như sau đây :

 

« Trung tướng bảo chúng tôi đi đánh cộng sản hả ? Đánh cộng sản đâu cần phải đi xa. Cộng sản đây ń, cộng sản đây ń.( cộng sản đây này). »

 

Tôi không muốn nhắc lại dài ḍng, tôi chỉ nói thêm là khi đó có nhiều người không chịu ra khỏi chùa, họ đ̣i phải đưa Thích Đôn Hậu, Thích Minh Chiếu và các thầy chùa cùng nội vụ ra ṭa, đ̣i thầy chùa phải trả lời tại sao bắt họ ? Họ có tội ǵ ? Thầy chùa lấy tư cách ǵ để bắt giam, đánh đập họ bốn mươi ngày ? Nhưng họ đă không đ̣i được công đạo, v́ chính quyền lúc ấy khiếp nhược, cầu an.

Cho đến bây giờ, tôi cũng không hiểu tại sao tướng Đính lại nói : « Tôi đến để trả tự do cho các anh … » Phải chăng chính tướng Đính đă ra lệnh cho « Quân đoàn Vạn Hạnh » bắt giam các vị ấy ? V́ chỉ có người ra lệnh và người bắt giam mới có tư cách « để trả tự do ». C̣n một điều nữa là cả hai ông tướng đều nói đến hàng trăm người đă thiệt mạng, nhưng tại sao không đưa ra được một bằng chứng cụ thể ? C̣n tôi, tôi có đủ bằng chứng và nhân chứng sống cũng như tên, họ, chánh, trú quán của những nạn nhân c̣n sống cũng như thân nhân của người đă chết.

C̣n một điều khác nữa là không ai biết được những diễn biến bên trong giữa Phật giáo và tướng Đính, v́ sau đó Tôn Thất Đính chẳng những không giúp chính phủ mà c̣n đứng về phe nỗi loạn. V́ vậy, chính phủ phải gấp rút đưa quân ra Trung để dẹp loạn, khi thấy sự quyết liệt của chính phủ th́ những người cầm đầu của loạn quân trong cái gọi là « Quân đoàn Vạn Hạnh » đă rút vào sào huyệt cuối cùng là « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN.


 

Tái hiện sự tích Đức Phật đản sinh tại chùa Pháp Lâm (Đà Nẵng).

 

Khi quân chính phủ đă kiểm soát toàn thành phố ĐN trừ chùa Pháp Lâm. V́ để hoàn tất kế hoạch hành quân mà không gây đổ máu, quân đội đă bao vây chùa Pháp Lâm, dùng loa phóng thanh kêu gọi tất cả hăy ra đầu hàng. Lúc này mọi người đều thấy những người này tuần tự bước ra khỏi chùa, hai tay đều giơ cao khỏi đầu và xin đầu hàng quân chính phủ, trong những người ra đầu hàng này người ta đă thấy những tên quen thuộc như sau đây :

 

1- Trung tướng Tôn Thất Đính, Tư lệnh quân đoàn 1, Vùng 1 chiến thuât, kiêm Đại biểu chính phủ tại vùng 1.

2- Đại tá Nguyễn Văn Mô, Tham mưu trưởng Quân đoàn 1

3- Đại tá Đàm Quang Yêu, Tư lệnh Biệt khu Quảng-Đà

4- Bác sĩ Nguyễn Văn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng

5- Lưu Văn Ngộ, Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia ĐN

6- Âu Quang Minh, Trưởng ty cảnh sát Quốc gia Quảng Nam.

 

Tiếp theo sau là những thuộc hạ của những người này, trong « Quân đoàn Vạn Hạnh »

Sau đó, Quân chính phủ đă ra lệnh buộc sáu ông Đính-Mô-Yêu-Mẫn-Ngộ- Minh và thuộc hạ phải leo lên xe bít bùng và chở lên phi trường đưa về Sài G̣n tống giam.

 

Nhưng tiếc rằng, chính phủ lúc ấy đă không làm hết việc. Tại sao chỉ bắt tướng Đính và năm người cầm đầu cùng loạn quân c̣n lại trong « chùa » mà không bắt thầy chùa. Nên nhớ, là chính phủ có quyền bắt tất cả những kẻ đă gây ra cuộc bạo loạn để đưa ra Ṭa án Quân sự Mặt trận và bỏ tù, cũng như buộc hoàn tục, v́ họ có tu thật đâu, họ chỉ núp dưới chiếc áo cà sa để làm giặc. V́ các « thầy » đều có mang lon sĩ quan Tuyên úy, như Thích Minh Chiếu, Thiếu tá trưởng pḥng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1 Chiến thuật, Thích Như Huệ mang lon Đại úy Biệt động quân đi dụ dỗ trẻ em vị thành niên đến có bầu, bị gia đ́nh các bé gái ở Hội An kiện ra ṭa, và c̣n rất nhiều nữa.

1) Thích Như Huệ:
- Tổng Uỷ Viên liên lạc GHPGVNTNHN tại UĐL-TTL
- Hội Chủ Điều Hành Giáo Hội

CHÙA PHÁP QUANG,
Tiểu Bang Queensland, ÚC CHÂU

Chính v́ việc làm nữa vời này của chính phủ nên mới di họa cho đến 30-4-1974, và không biết sẽ c̣n đến bao lâu nữa ???!!!

 

Để trả lời tướng Tôn Thất Đính và trên hết là tôi muốn trân trọng gửi đến quư độc giả những sự kiện đă xăy ra thật chính xác như sau đây :

Trước hết, tướng Tôn Thất Đinh v́ đă trốn trong các chùa. Sau cùng là Chùa Pháp Lâm nên không bao giờ thấy hay biết những ǵ xăy ra ở bên ngoài. V́ vậy, tôi khẳng định lại một lần nữa là những ǵ tướng Đính nói là hoàn toàn bịa đặt.

 

Thảm cảnh của đồng bào tại Thành Phố Đà Nẵng :

Sau hơn bốn tháng, người dân thành phố Đà Nẵng đang đối mặt với tử thần, th́ Chiến dịch Hành quân Đinh Bộ Lĩnh được ban hành. Khi bộ chỉ huy lực lượng hành quân ĐBL đă chiếm được Đài phát thanh Đà Nẵng th́ đă phát lời kêu gọi của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, Chỉ huy trưởng Thủy quân Lục chiến kiêm Quân Trấn Trưởng Đà Nẵng như sau :

« … Nghiêm cấm quân sĩ không được xâm phạm chốn tôn nghiêm, tuyệt đối không được nổ súng bắn trả lại quân phản loạn cho dù có bị thương vong. Đồng thời kêu gọi đồng bào hăy tiếp tay quân đội chính phủ, khiêng các bàn thờ Phật tổ để tạm yên trên lề đường cho xe cộ lưu thông, văn hồi an ninh trên lănh thổ Quăng Nam-Đà Nẵng. Nhưng nhớ phải cẩn thận không được làm ngă đổ tắt nhang đèn. »

 

V́ bị đói khổ nhiều ngày tháng, nên đồng bào ĐN rất vui mừng hưởng ứng lời kêu gọi và đă hăng hái tiếp tay với các chiến sĩ dẹp loạn, trong đó có em Lê Quang San 16 tuổi, học sinh lớp Đệ tứ trường Trung học An Hải quận 3, con của ông bà Lê Quang Khâm, chánh quán thôn Bát Nhị, xă Kỳ Ngọc, quận Điện Bàn, Quảng Nam, lánh nạn cộng sản tại An Cư1, phường An Hải Đông, quân 3 ĐN.

Lúc đó, những kẻ cầm đầu của cuộc bạo loạn miền Trung đă rút vào sào huyệt cuối cùng là chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng, tại số 500 đường Ông Ích Khiêm ĐN, để pḥng thủ.

Nhưng họ vẫn không chịu ngưng tiếng súng, mà từ trong chùa « Quân đoàn Vạn Hạnh » cứ bắn xả từng loạt đạn ra đường, những người khiêng dọn bỏ chạy, riêng em Lê Quang San v́ sợ quá không chạy được nên đă chui xuống bàn Phật để tránh đạn th́ bị lính của Quân đoànVạn Hạnh lôi vào cổng chùa Pháp Lâm, rồi giáng cho em những trận đ̣n thừa sống thiếu chết, sau đó nổ súng bắn em San chết gục tại phía trong cổng chùa Pháp Lâm.

Nghe điện báo của quân sĩ trấn thủ vùng này, Đại tá Nguyễn Thanh Yên đích thân đến tận nơi chứng kiến xác chết của em San. Rồi Đại tá Nguyễn Thanh Yên ra lệnh đưa thi thể em lên Quân y viện Duy Tân chờ t́m thân nhân nhận xác.

Sau đó, qua tường tŕnh của các viên chức an ninh, biết được gia đ́nh em nghèo, cha làm nghề đạp xích lô, mẹ làm công việc nội trợ, Đại tá Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia, đă gửi đến gia đ́nh em 20.000 đồng để giúp đỡ việc an táng cho em San.


 

Mặc dù chính phủ đưa quân ra Trung vào ngày 27-6-1966, nhưng cho đến hết tháng bảy các binh sĩ và đồng bào mới thu dọn sạch sẽ trên đường phố, đầu tháng tám các chợ mới đông, thành phố Đà Nẵng mới hồi sinh.

 

Về con số thương vong, ai cũng biết có người chết và rất nhiều người bị thương do đạn của « Quân đoàn Vạn Hạnh » từ trong các chùa bắn ra để giết chết đồng bào và quân chính phủ làm công việc dọn dẹp trên đường phố. Một số người bị thương v́ bị « Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử » đánh đập và dùng gậy gộc, gạch, đá tấn công, bởi họ không chịu băi thị, không chịu đi biểu t́nh, không cho khiêng bàn thờ Phật của họ ra đường. C̣n quân chính phủ không dám nỗ súng v́ trong các chùa c̣n có hàng trăm con tin là quân cán chsinh Việt Nam Cộng Ḥa. Nên biết, nếu đúng như lời của hai ông Thi-Đính th́ c̣n loạn hơn như thế nữa. Bởi, chỉ cần có một người của loạn quân mà chết, dù là trúng gió chết hay bị chó cắn mà chết , th́ chắc chắn quân bạo loạn sẽ khiêng cái xác ấy đi biểu t́nh và nói là quân chính phủ giết họ. Nhưng may mắn là trong suốt thời gian bạo loạn gió cũng hiền, chó cũng biết sợ nên « lực lượng tranh đấu » chẳng có ai trầy sướt ǵ cả.

 

Khi t́nh h́nh Đà Nẵng đă ổn định ông bà Lê Quang Khâm đến Đặc khu quân trấn gặp Đại tá Nguyễn Thanh Yên, yêu cầu đưa ra pháp lư để làm sáng tỏ cái chết của em Lê Quang San th́ được Đại tá trả lời :

« Tôi cũng là người Đà Nẵng, xin thành thật chia xẻ nỗi đau thương của ông bà, nếu cần ǵ tôi sẽ đề nghị ông Thị trưởng giúp đỡ. C̣n điều ông bà yêu cầu, tôi xin lỗi không làm được, v́ như mọi người đều biết các trụ sở đảng phái, nghiệp đoàn cũng bị tấn công, hàng trăm quân cán chính Việt Nam Cộng Ḥa đă bị bắt giam trong chùa Phổ Đà. V́ thế, trước mắt mọi người Phật giáo đă không c̣n tính chất của tôn giáo nữa. Song, không có cách nào khác hơn v́ vũ khí của quân đội th́ mang bên ngoài bộ quân phục, nhưng vũ khí của các thầy lại nằm bên trong chiếc áo cà sa ! Không phải một ḿnh cháu San mà c̣n rất nhiều nạn nhân, trong đó có rất nhiều binh sĩ đă mất mạng ! Nếu tôi có làm điều ǵ hơn nữa th́ chỉ tạo nhân tố cho họ dùng biển người trấn áp, mà không biết chừng lại nỗi loạn lên nữa, bởi dù là cọp trên rừng mà đă lạc xuống đồng cũng đành chịu vậy !

V́ hưởng ứng lời kêu gọi của quân đội mà ra nông nỗi, vậy tôi thành thật xin lỗi ông bà cũng như tất cả các gia đ́nh của những nạn nhân xin hăy thấy được nỗi khó khăn của tôi mà dành cho tôi một sự cảm thông. »

 

Trước những lời chí t́nh của Đại tá Nguyễn Thanh Yên, ông Lê Quang Khâm đă nói :

« Chúng tôi xin cám ơn Đại tá, nhưng ngoài việc muốn làm sáng tỏ về cái chết oan uổng của con tôi, chúng tôi không cần ǵ khác hơn nữa cả. »


 

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, ngoài số người đă bị bắt c̣n có một số cán bộ đảng phái đă chạy thoát, bị Phật giáo truy đuổi, một số chạy lên được phi trường, một số chạy xuống khu Nội Hà, phường Thanh B́nh th́ được đồng bào miền Bắc di cư nuôi giấu trong nhà. Đặc biệt một số đông cùng đường đă chạy vào nhà thờ nhờ Cha Bề trên Nguyễn Văn Phương che chở, nhưng Cha Nguyễn Văn Phương không thể để « quư vị » ấy trong nhà thờ được, v́ như thế nhà thờ sẽ bị tấn công.

Bởi vậy, Cha Phương đă cho người gọi ông Trần Văn Tuyên đến đón « quư vị » ấy về nhà nuôi giấu, và vợ con ông Tuyên đă cơm bưng, nước rót hầu « quư vị » ấy hơn hai tháng.

Ai cũng biết hơn bốn tháng trời Đà Nẵng là thành phố chết, có tiền không mua gạo được, mà số người ẩn trốn lại quá đông. V́ thế, Cha Phương đă kêu gọi đồng bào di cư BV đóng góp để nuôi họ. Riêng ông Trần Văn Tuyên v́ nhà ông nuôi giấu người đông nhất, nên « quư vị » ấy đă chứng kiến hàng ngày cảnh ông Tuyên đă mang bị đi xin từng lon gạo, từng tí mắm « của tuy tơ tóc nghĩa so ngh́n trùng » để đem về nuôi họ.

 

Đến khi sóng lặng, gió êm « quư vị » này ai cũng có chức cả, nào là Chủ tịch, bí thư, nghị sĩ, dân biểu, nghị viên …Lúc này « vị » nào cũng đi đứng hiên ngang nên tuyệt đối không một ai c̣n nhớ đến cái lúc cùng đường xông đại vào nhà người ta cầu cứu, cũng như lúc từ nhà thờ Thanh B́nh đến nhà ông bà Trần Văn Tuyên « quư vị » đă vừa lết vừa ḅ v́ sợ « Phật giáo » phát giác. Hơn ai hết, là đồng bào miền Bắc di cư họ thừa hiểu nếu « Phật giáo » biết được họ đă nuôi giấu « quư vị » trong nhà th́ cả phường Thanh B́nh cũng cùng số phận như Thanh Bồ trước đó, song họ bất chấp mọi thứ bởi thấy nguy là phải cứu, thế nhưng, làm người cái lịch sự tối thiểu là phải biết nói lời cám ơn khi được người khác cứu giúp. Nhưng « quư vị » ấy kể từ lúc rời khỏi Thanh B́nh, trước 1975, « quư vị » ai cũng có quyền, có chức vậy mà không hề có một ai ghé lại nhà ông bà Trần Văn Tuyên nói lời cám ơn. Ngày ông Trần Văn Tuyên mất cũng không có nữa lời chia buồn cùng gia đ́nh.

Hiện nay, bà Trần Văn Tuyên và các con vẫn c̣n ở nguyên căn nhà cũ ở đường Cao Thắng, nơi ngày xưa « quư vị » từng ăn trốn ngủ lén hơn hai tháng ở đó.

Trước ngày vượt biển, tôi có đến nhà bà Tuyên nhiều lần, bà cười rất vui vẻ khi nhắc lại những ngày nuôi giấu « quư vị » trong nhà. Lúc ấy, các con của ông bà cũng như tất cả thiếu nhi phường Thanh B́nh, theo sự hướng dẫn của bố mẹ, chúng đă trở thành đội canh pḥng quanh phường để giữ an ninh cho « quư vị ». Tôi nhớ tên từng « vị » đấy.

Tôi không sánh « quư vị » với Hàn Tín xưa. Tôi chỉ nhớ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có đoạn nàng Kiều của lầu xanh, khi thoát cơn bĩ cục đă mượn oai của Từ Hải để ân đền, oán trả. Trong truyện Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu, có nói đến tên tiểu đồng hàng ngày đi xin cơm về cúng mộ Lục Vân Tiên :
 

« … Sáng đi khuyên giáo tối về cúng đơm,

Dốc ḷng trả nợ áo cơm,

Sống mà trọn nghĩa, thác thơm danh hiền. »

 

Lúc thi ân, ông bà Trần Văn Tuyên không hề mong « quư vị » đền đáp, nhưng là những kẻ đă thọ ân mà suốt mấy chục năm qua « quư vị » đă thực sự quên đi những ngày tháng ấy th́ rơ ràng là « quư vị » đă không xứng danh là quân tử.

Trên đây, là những lời tôi muốn nhắc lại cái t́nh người với các « vị chính khách ». C̣n nói đến cuôc bạo loạn bàn Phật xuống đường vào mùa hè 1966, th́ c̣n quá nhiều nhưng bài viết đă dài. Tôi xin tạm dừng lại ở nơi đây. Hẹn tái ngộ quư độc giả trên trang báo này về Cuộc Thảm Sát Thanh Bồ-Đức Lợi, Đà Nẵng 24-8-1964.

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

 

Nguyễn Đắc Xuân

Người cầm bút xứ Huế

LTS: Trong một bức thư tâm t́nh gửi trang sachhiem.net ngày 17-7-2008, tác giả Nguyễn Đắc Xuân thố lộ: "Trong túi tôi có 3 cái thẻ: Nhà văn, nhà sử học và nhà báo Việt Nam. Nhưng không có nhà nào thích hợp với tôi cả. Từ xưa đến nay tôi luôn nhận ḿnh chỉ là một cây bút (a pen) ở Huế thôi. Xin các anh chị từ nay cứ gọi tên tôi là đủ rồi."

 

Đôi hàng về tác giả

 

Cha: Người Thừa Thiên Huế. Mẹ: Người Thanh Hoá.

Sinh ngày 15-7-1937 tại Huế.

Ba tuổi theo mẹ lên Đà Lạt cho đến năm 17 tuổi mới về lại Huế.

Tuổi nhỏ được linh mục Nguyễn Văn B́nh khai tâm tại nhà thờ Cầu Đất. Nhưng sau đó chiến tranh, ở trong rừng không được đi học. Măi đến năm 15 tuổi mới đến trường Trại Mát học và hai năm sau đậu Tiểu học (1954). Từ năm 1954 đến năm 1966 học qua các địa phương Đà Nẵng, Quảng Ngăi, Huế.

Từ năm mới vào Trung học đă bắt đầu làm thơ, có thơ in từ năm 1959. Năm 1963 vào Đoàn Sinh viên Phật tử Huế và từ đó tham gia các Phong trào đầu tranh ở các đô thị miền Nam.

H́nh tác giả thời sinh viên Đại Học Sư Phạm (1962-1966)

Năm 1966 vừa học xong Ban Việt Hán Đại học Sư phạm Huế, tham gia tranh đấu và được bầu làm Đoàn trưởng Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế, vũ trang tự vệ, chống Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ. Bị lùng bắt phải ẩn náu trong các chùa Phật và sau đó thoát ly theo kháng chiến ở vùng chiến khu Thừa Thiên Huế. Trong kháng chiến làm thơ, viết báo, vận động thanh niên đô thị tham gia kháng chiến. Năm 1974 được cử đi dự Đại hội Sinh viên Quốc tế (IUS) tại Budapest.

H́nh tác giả thời kháng chiến trong rừng (1966-1974)

Sau 30-4-1975 hoà b́nh lập lại, đất nước thống nhất, làm Tuyên huấn Thành ủy Huế, tiếp tục làm thơ, viết văn và được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1989, được bầu làm Tổng thư kư Hội Văn nghệ Thành phố Huế. Sau năm 1990 làm Phó TBT kiêm thư kư Toà soạn tạp chí Sông Hương. Năm 1993 chuyển qua làm báo Lao Động, từ 1994 làm Trưởng VPĐD báo Lao Động tại miền Trung và Tây nguyên.

Ngày 15-7-1998, đúng 61 tuổi được hưu trí.

Ngoài việc làm cán bộ, làm báo để kiếm sống, tác giả Nguyễn Đắc Xuân c̣n có đam mê nghiên cứu văn hoá lịch sử triều Nguyễn và Huế Xưa. Đă nhiều lần đi nghiên cứu sưu tập tư liệu lịch sử văn hoá Huế ở Pháp và ở Mỹ.


 

TIỂU SỬ
HOÀ THƯỢNG THÍCH TỪ MẪN
(1932-2007)

 

A/ Thân thế:

Ḥa thượng thế danh là Nguyễn Hữu Độ, sinh ngày 01 tháng 11 năm Nhâm Thân (nhằm ngày 28/11/1932) tại thôn Thuận Ḥa, xă Hương Phong, huyện Thuận Hóa, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Hữu Oai, thân mẫu là cụ bà Đặng Thị Kiếm. Ḥa Thượng là người con thứ 5 trong gia đ́nh có 6 anh em. Sớm bộc lộ bản tánh thông minh hiếu học, lại là một người con hiếu thuận, nên Ḥa Thượng rất được song thân yêu mến. Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc học hành sau này của Ḥa thượng, song thân đă cho Ngài vào Đà Nẵng ở nhà người bạn thân là cụ ông Trần Văn Thuần và cụ bà Nguyễn Thị Đắc (pháp danh Tâm Kế, tự Từ Lưu). Sau một thời gian ở với 2 ông bà, với bản tánh thuần lương hiếu đạo và ư chí ham học hỏi, Ḥa thượng được 2 ông bà yêu mến, nên đă xin với Song thân của Ḥa thượng cho Ḥa thượng làm con nuôi của ḿnh. Cũng từ đó Ḥa thượng được song thân nuôi dưỡng đặt lại tên là Trần Văn Độ. Ḥa thượng thường cùng song thân nuôi dưỡng đến chùa, theo tháng năm căn duyên Phật Pháp được huân tập. Đến năm 10 tuổi Ḥa Thượng phát đại tâm xuất gia và được song thân nuôi dưỡng chấp thuận cho làm đệ tử của Ḥa thượng Bổn sư là Ngài cố đại lăo Thích Tôn Thắng trú tŕ sắc tứ Phổ Thiên. Song thân nuôi dưỡng của Ḥa thượng đă phát tâm cúng dường đất cho Ḥa thượng Bổn Sư xây dựng một ngôi chùa nay là chùa Diệu Pháp ở phường B́nh Thuận.

............ ......... .
 

Năm 1963 trước chính sách kỳ thị Tôn giáo của chế độ Ngô Đ́nh Diệm, Ḥa Thượng đă tham gia với các vị tôn túc trong Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng, tích cực hướng dẫn Tăng Ni bảo vệ Chánh Pháp. Mặc dầu bị bắt bớ, giam cầm, hành hạ... Ḥa Thượng vẫn thường răn dạy tín đồ: “Đă hiến thân cho Đạo th́ không ngại gian khổ, hiểm nguy, v́ sống chết là lẽ thường, chỉ có Chánh Pháp mới là lẽ sống đích thực”.

Năm 1964 , cuộc tranh đấu bảo vệ Chánh pháp thành công, Giáo hội trở lại sinh họat b́nh thường, Ḥa Thượng được cử làm đặc ủy Pháp sự, kiêm Giám đốc trung tâm văn hóa Phật giáo Đà Nẵng.

Năm 1965, Ḥa thượng làm Phó đại diện GHPGVNTN, kiêm trưởng ban quản tŕ trường Trung học tư thục Bồ Đề Đà Nẵng và giảng dạy Giáo lư cho cấp Trung học.

Năm 1967, Ḥa Thượng được cử làm Phó giám viện Phật học viện Phổ Đà kiêm giám học. Với phương pháp giảng dạy đầy tính Sư phạm nên phần lớn học Tăng Phật học viện và học sinh trường Bồ Đề tiếp thu Giáo lư một cách dễ dàng.

Năm 1970 GHPGVNTN tổ chức Đại giới đàn tại Phật học viện Phổ Đà do Ḥa Thượng Bổn Sư Thích Tôn Thắng làm Chánh chủ đàn. Giới đàn được đặt tên là “Giới Đàn Vĩnh Gia” và được Ḥa Thượng Thích Mật Nguyện chánh đại diện miền Vạn hạnh hổ trợ. Đại giới đàn được tổ chức một cách trọng thể, trên hai ngàn giới tử kể cả giới tử tại gia thọ Thập thiện tại chùa Pháp Lâm. Tại giới đàn này, Ḥa Thượng được cử vào Hội đồng Giám khảo kiêm tri sự Đại giới đàn.

Năm 1971, Cao đẳng Phật học viện Hải Đức Nha Trang khai mở Đại giới đàn Phước Huệ, Ḥa Thượng được cung thỉnh vào Ban giám khảo.

Năm 1972 Ḥa Thượng trùng tu Tổ đ́nh Diệu Pháp là ngôi chùa mà Ḥa Thượng Bổn Sư đang trú tŕ để ngôi chùa được khang trang và tín đồ có nơi tụng kinh lễ bái.

Năm 1975, trong buổi giao thời khó khăn này, Ḥa Thượng vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của một tu sĩ và được suy cử làm Phó đại diện Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất.

Năm 1976 Ḥa Thượng được viện hóa đạo suy cử trú tŕ chùa Phổ Đà. Trong giai đọan này Ḥa Thượng tổ chức tu học để ổn định đời sống hành tŕ cho chư Tăng Đà Nẵng, bằng cách tổ chức an cư kiết hạ, tự tứ và Bố Tát tại trú xứ Phổ Đà. Cũng trong năm này Ḥa Thượng được UBMTTQVNTPĐN mời làm ủy viên mặt trận nhiệm kỳ 1976 và đắc cử làm thành viên HĐND Tỉnh QNĐN khóa 2. Việc đời, việc Đạo gánh nặng hai vai, nhưng Ḥa Thượng vẫn tổ chức lớp Giáo lư cho Tín đồ có thiện duyên học Phật pháp vào các tối thứ 7 và sáng chủ nhật hàng tuần.

Năm 1979, Ḥa Thượng đă cùng sư huynh là Ḥa Thượng Chơn Ngộ cùng nhau trùng tu chùa Tịnh Độ do Ḥa Thượng Bổn Sư kiến tạo năm 1956 tại thị xă Tam Kỳ - Quảng Nam.

Năm 1981 Phật giáo cả nước đă ngồi lại trong ngôi nhà chung có tên là GHPGVN. Trong tổ chức mới này, Ḥa Thượng được cử làm Phó ban tri sự Tỉnh hội GHPG Đà Nẵng cho đến ngày hôm nay.

 

Năm 1995, sau cơn bạo bệnh, Ḥa Thượng bị tai biến và bị liệt một bên ḿnh, nhưng trí tuệ vẫn minh mẫn sáng suốt, thân bệnh mà tâm không bệnh, cho nên trong các nhiệm kỳ của giáo hội, Ḥa Thượng vẫn được suy cử làm Phó ban trị sự Tỉnh kiêm Trưởng ban giáo dục Tăng ni và là Hiệu trưởng trường Trung cấp phật học Đà Nẵng.

Năm 2001, mặc dù tật bệnh, lại thêm tuổi cao sức yếu, nhưng với nhu cầu tu học của Tăng tín đồ PGTPĐN, Ḥa Thượng cùng với Chư huynh đệ phát tâm trùng tu chánh điện chùa Phổ Đà. Nhờ đó mà ngôi chùa Phổ Đà trở thành một ngôi phạm vũ huy hoàng như hiện nay.

Năm 2007, hóa duyên đă măn, Phật sự độ sanh đă viên thành, Ḥa Thượng đă an nhiên thị tịch lúc 20 giờ 25 phút, ngày 28 tháng 05 (nhằm ngày 12 tháng tư năm Định Hợi).


 

 

 

 <<< Trở về trang chính     ĐẠI CÁO TRẠNG

 <<< Trở về trang chính   Phương Sách Giành Lại  CHỦ QUYỀN