|
GIÁO
HỘI CÔNG GIÁO VÀ NHÂN QUYỀN
Nam Giao Lê Thiện B́nh
|
KÍNH TẶNG ĐỨC
TỔNG GIÁM MỤC GIUSE NGÔ QUANG KIỆT,
LINH MỤC NGUYỄN VĂN LƯ, LUẬT SƯ LÊ
THỊ CÔNG NHÂN VÀ GIÁO HỘI VIỆT NAM
CÙNG NHỮNG ANH CHỊ EM TRANH ĐẤU CHO
NHÂN QUYỀN
|
|
I. VÀO BÀI
Những
biến động và biến cố đau thương xảy ra trên Quê Hương Việt
Nam chúng ta trong những năm tháng vừa qua của Giáo Hội Việt
Nam, làm chúng ta bàng hoàng, xót xa, rồi hằng quan tâm và
hiệp thông với Giáo Hội và Đất Nước. Đó là những chuyện xảy
ra từ Ṭa Khâm Sứ, Giáo Xứ Thái Hà, Tam Ṭa, Loan Lư và Đồng
Chiêm: máu mục tử của các Linh Mục và giáo dân đă đổ ra để
tranh đấu cho công lư và công b́nh. Nhưng đúng hơn nh́n với
nhăn quan pháp lư xă hội cùng một cái nh́n đạo đức luân lư
của thời đại nay, th́ đây chính là sự tranh đấu Nhân Quyền.
Có nghĩa đ̣i hỏi chế độ bạo ngược Hà Nội phải tôn trọng và
thực thi các quyền tự do tôn giáo, quyền tư hữu, quyền sở
hữu đất đai của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, của địa phận Hà
Nội, Huế, Vinh vv.. Bởi những quyền này là quyền căn bản,
tất yếu của con người, đă được thiên hạ trong thế giới văn
minh này công nhận. Trong đó có cả Hà Nội cũng công nhận và
trang trọng đặt bút kư vào các văn kiện của Bản Tuyên Ngôn
Quốc Tế Nhân Quyền này. TrongTuyên Ngôn Nhân Quyền đó, Giáo
Hội Công Giáo Hoàn Vũ đă đóng góp một vai tṛ rất quan trọng :
như bênh vực, hổ trợ và đ̣i hỏi các quyền sống cho nhân loại
qua các Thông Điệp và Tuyên Ngôn của nhiêu triều đại Giáo
Hoàng mà chúng tôi cố gắng tham khảo, nghiên cứu, để viết
nên bài « Giáo Hội Công Giáo Và Nhân Quyến » hầu cống hiến
cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam kính yêu. Một cách thành
kính cống hiến cho các Đấng Mục Tử chăn dắt đàn chiên mà
Chúa Trời kư thác, và Giáo Hội Mẹ tín cẩn giao trọng trách
cho các ngài chăm sóc và bảo vệ con chiên ḿnh.
II. TƯ TƯỞNG NHÂN QUYỀN
Qủa thực sự xuất hiện sinh
động cùng sự phát triển các Nhân Quyền đă được phổ biến khắp
Năm Châu, qua đó chúng ta thấy đánh dấu một giai đoạn lịch
sử cho những tư tưởng và những thể chế chính trị xây dựng
nên văn minh t́nh người cho xă hội nhân loại. Nhờ qua những
biến cố của tiến tŕnh lịch sử này, mà những nhà đạo đức,
luân lư, chính trị và văn hoá đă cùng nhau tranh đấu không
mệt mỏi, không ngừng nghỉ, hầu bênh vực cho các Nhân Quyền
này được hiện hữu trong ḷng xă hội chúng ta sống. Để từ đó
người ta có thể nhận ra Nhân Quyền như một khúc quanh của
hướng đi lịch sử nhân loại, điển h́nh là ở các Nước Tây
Phương, sự phát sinh các quyền luật và quyền lợi cùng các
quyền tự do của con người ở vào thế kỷ XIII, nhất là tại Âu
Châu và Mỹ Châu đă làm rộ nở cho các thể chế chính trị càng
ngày càng nhân bản hơn. Cho dù các Hiền Chương tuyên bố về
các sự tự do, quyền lợi và Nhân Quyền cho người dân, thế
nhưng qua xă hội và thể chế chính trị vào thời đó, th́ Nhân
Quyền chưa được hoàn hảo như ư. V́ sự căn bản được xây dựng
trên lư thuyết, song khi áp dụng vào đời sống xă hội th́ vẫn
c̣n những khó khăn làm cản trở cho bước tiến thực thi hoá
Nhân Quyền vào xă hội thời ấy.
Tuy không phải là sự
tuyệt đối, nhưng cũng từ đó Nhân Quyền dần dần đánh động vào
tâm hồn các người tri thức nhân bản, hầu họ ư thức hơn về
luân lư, công lư, luật lư và chính trị cùng sự công b́nh và
công chính, giúp họ đứng dậy hành động… Nhờ vậy thế giới mới
có những Hiến Chương Nhân Quyền, Hiến Chương Ḥa B́nh hay Tự
Do vv.. Cũng qua họ mà có các cuộc cách mạng, các con đường
mới, qua đó con người có được sự mở rộng về các quyền luật,
về các cơ cấu của xă hội, về các thể chế chính trị, được xem
là sự nẩy nở của một ngày trọng đại cho lịch sử thế giới,
do các tư tưởng tự do và sự công chính cùng công b́nh xă hội
đem lại cho nhân loại bộ mặt mới nhân bản hơn. Đẹp thay, đây
là con đường dài mà nhân loại bước đi cùng hợp tác với sự
tranh đấu chung của các nhà tri thức nhân bản, mang nặng
t́nh người được kể từ thời kỳ của những nền văn minh thời cổ
cho đền hiện nay.
Do gịng lịch sử đó,
mới sinh ra Bản Hiền Chương Quốc Tế Nhân Quyền thời danh, đă
được Toàn Thể Hội Đồng Liên Hiệp Quốc khai mạc và công bố
một cách trọng thể vào năm 1948, được xem như một lư tưởng
phổ quát, qua đó mọi dân tộc và mọi quốc gia phải đạt đến
mục đích Nhân Quyền hoá này. Từ lúc Bản Hiến Chương Nhân
Quyền được nhiều quốc gia công khai thừa nhận, th́ Nhân
Quyền đă diễn tiến như một bước nhảy vọt của nhân loại. Bản
Hiến Chương Nhân Quyền ví thể là một thông điệp hy vọng,
phát xuất từ « sự khởi nghĩa luơng tâm » của nhân loại đối
mặt với những hành vi tàn ác, man rợ (actes de barbarie),
với những tên tội phạm diệt chủng, chống lại nhân loại cùng
đại gian ác như Lénine, Hiller, Mussolini, Lénin, Mao Trạch
Đông, Staline, Hồ Chí Minh, Polpot, Kim Nhật Thành, Sadam
Hussen vv., cùng với một chủ thuyết cộng sản hoàn toàn
chuyên chế và toàn trị, cai trị một cách độc đoán, tàn ác và
tước bỏ tất cả những quyền căn bản của con người. Để rồi từ
đó dựa theo bản Hiến Chương Nhân Quyền Phổ Quyát này, người
ta chiếu theo các cấu trúc và h́nh thức cùng ngôn thức của
bản Hiến Chương, hầu thiết lập các quyền luật và quyền lợi
của con người và người dân, để từ đó mang ra thực thi cho
cộng đồng chính trị và xă hội loài người.
Do vậy, Hiến Chương
Nhân Quyền th́ hướng về tương lai như sự hứa hẹn và hy vọng
cho những ngươi dân bị trị dưới một thể chế phi nhân, có thể
thoát được « xiềng xích và gông cùm » của những Nhà cầm
quyền độc tài, bạo chúa. V́ Bản Hiến Chương đề cập nhiều đến
giá trị nhân phẩm cho hết mọi thành phần gia đ́nh của nhân
loại, cũng như sự b́nh đẳng các quyền luật và quyền lợi của
họ hay sự bất di nhượng, nó được thiết tạo trên nền tảng của
sự tự do, của công b́nh và của ḥa b́nh trong thế giới. Qua
Các Hiệp Định và Hiệp Uớc Ḥa B́nh , rồi Những Khế Uớc Quốc
Tế hay Từng Vùng vv., th́ người ta đồng ḷng chấp thuận và
thừa nhận Những Luật Nhân Quyền hoặc Luật Căn Bản, được xem
là nền tảng của Hiến Pháp và Luập Pháp, để tổ chức đời sống
Quốc Gia và xă hội. Thế đó, vài dấu chỉ chỉ hướng cho một lư
tưởng chung được trải rộng trên con đường của ư thức, của
lương tâm, của phong tục và trong các thể chế chính trị.
Chúng ta biết nhân
loại rất sâu sắc, rất nhạy cảm và xác tín các động ứng của
xă hội và của ḿnh. Nhất là các tôn giáo, cụ thể là Kitô
giáo hằng lưu ư đến những pḥng trào tư tưởng lớn này. Nhất
là Giáo Hội Công Giáo bị thu hút vào Nhân Quyền, để rồi dấn
thân hầu cứu văn nền văn minh và tính nhân đạo của con người.
Do thế, lịch sử Nhân Quyền đă khởi đầu trong các tôn giáo,
mà cụ thể là Kitô Giáo đă loan truyền những Luật Nhân Quyền
một cách rộng răi. Có một vài khuôn mặt khai phá, mở đường
cho Luật Nhân Quyền đă gắn chặt vào những truyền thống tôn
giáo này, và qua đó có những tài liệu, thông điệp mà họ đưa
ra hầu soạn thảo, tinh lọc lại luật pháp và chính trị cùng
kinh tế. Như chúng ta thấy trong thế giới, cụ thể là Âu Châu,
những tương quan của các phong trào cách mạng và tự do với
Giáo Hội Công Giáo, được nhận ra như sự hiệp lực tranh đấu
cho một tiến tŕnh lâu dài vế Nhân Quyền nhân loại. Ngày hôm
nay cũng thế, bên cạnh các tôn giáo lớn, người kitô hữu và
Giáo Hội Công Giáo càng ngày càng dần thân trong sự tán
thành và phát động về Nhân Quyền hơn trong ḷng thế giới.
Cụ thể hơn cả, người
chiến sĩ anh hùng và can truờng luôn dấn thân và bênh vực
cho Nhân Quyền, đó là Đức Cố Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô Đệ
Nhị. Nhờ Ngài mà cả một thành tŕ cộng săn kiên cố của Liên
Bang Sô Viết và Khối Cộng săn Đông Âu đă sụp đổ. Không những
chỉ triều đại Giáo Hoàng của Ngài, mà c̣n các vị tiền nhiệm
của Ngài trước đây nữa. Khi đ̣i hỏi Nhân Quyền cho con người,
th́ Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô Đệ Nhị dựa trên căn bản là
nhân phẩm của con người, các sự tự do và những quyền căn bản
của họ mà tranh đấu giúp nhân loại thoát khỏi khồ nạn. Chúng
ta thấy rằng tất cả những Thông Điệp của Ngài gủi cho các vị
Quốc Trưởng, các Nhà Cầm Quyền, và cho cả các Giám Mục trên
thế giới, nhất là các Quốc Gia đang sống dưới chế độ cộng
sản, quân phiệt, độc tài, và cho cả nhân loại, đều đem lại
một nguồn hy vọng lớn lao cho con người, và mang đến những
sự thay đổi cho bộ mặt thế giới hôm qua và ngày nay mà ai ai
cũng thấy rơ và tường tận.
III. NHÂN QUYỀN TRONG
HỌC THUYẾT XĂ HỘI
VÀ
CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG GIÁO
Người ta có thể quan
sát trong toàn thế giới hôm nay với bao chủ nghĩa thay đổi,
bao biến động của thời cưộc làm đảo điên ḷng người, đă làm
cho nhân loại đau khổ không ít - Để từ đó có nhiều câu hỏi
mới cho vấn đế đạo đức và triết lư quy phạm của Luật căn
bản và của của xă hội được đặt ra. Giữa những câu hỏi mới
này, th́ người ta cũng nghĩ đến biết bao vấn đề về kinh tế
và xă hội, đơn cử những câu hỏi về luật, đến các quyền sở
hữu tư nhân và các bổn phận xă hội của con người, đến những
vấn đề môi sinh và bảo vệ sự sống, cũng như những chứng cớ
hiện thực về sự tra tấn, ngược đăi tù nhân, sự đàn áp tàn
bạo người đối lập và dân chúng của các Nhà Nước độc tài, rồi
sự nghèo khổ, đói khát cơm nước của nhân loại chiếm một phần
lớn của thế giới.
Qua những lư do khủng
hỏang, khó khăn của kinh tế-xă hội và chính trị-văn hóa
(économico-social et politico-culturel) đă tạo nên sự tăng
trưởng của nhiều dân tộc khác nhau, tạo nên nhiều Nhà Nước
và Liên Hiệp Quốc Gia : như Liên Hiệp Âu Châu, Liên Hiệp Bắc
Mỹ, Liên Hiệp Đông Nam Á vv.. Bởi thế nhân loại cần phải có
những nguyên tắc luân lư trải rộng cho đời sống của họ, hầu
có được một giá trị phồ quát hữu hiệu để áp dụng vào đời
sống an sinh xă hội của loài người. V́ vậy người ta đi t́m
ṭi những vần đề mới cho nhân loại, hầu giải quyết cho con
người có được sự hữu hiệu này. Sự hữu hiệu đó qủa không giới
hạn cho một vài hoàn cảnh hay vài quốc gia nào, song là
chúng thể cho nhân loại trần gian chúng ta.
Trong hoàn cảnh này,
th́ những truyền thống và những xác tín đặc thù của các
Giáo Hội Kitô anh em cũng được mời gọi đóng góp và hợp tác
chung thể. Có nghĩa mọi kitô hữu và những quốc gia này mang
chung một học thuyết Kitô giáo, tất cần đến sự dấn thân t́m
những ích lợi chung cho tha nhân. Ngay từ buổi đầu của các
triều đại Giáo Hoàng, chẳng hạn như Đức Giáo Hoàng Gioan
XXIII, th́ Ngài đă hướng về mọi Kitô hữu và những người
thiện chí nỗ lực đóng góp chung cho sự thăng hóa của xă hội
và nhân loại này.
Để từ đó, một phần
phương thức của các bổn phận luân lư mang tính cách phổ quát
đă được luật Nhân Quyền thiết tạo. Bởi những giá trị Nhân
Quyền này chung cho tất cả hữu thể nhân loại : chẳng hạn
không kể họ là phái tính nào, màu da hay sắc tộc, ngôn ngữ
tuổi tác, tôn giáo hay chính trị, t́nh trạng kinh tế hay văn
hóa ra sao, đều được kính trọng như nhau. Chúng ta thấy một
bằng chứng cụ thể về sự nhận thức đạo đức và ư nghĩa luân lư
được nâng cao trong ư nghĩa Nhân Quyền. Nhân Quyền đó được
xây dựng do chính Đức Thánh Cha Gio-An Phao-Lô Đệ Nhị. V́
xuyên qua trong các lời nói và hành động cụ thể của Ngài,
thiên hạ thấy được các việc làm vị người của Ngài. Nhất là
kể từ buổi đầu triều đại Giáo Hoàng của ḿnh : th́ trong tất
cả các diễn văn, các thông điệp công bố, Ngài thường nói một
cách minh bạch với một giọng nói qủa quyết và khẩn khoản tha
thiết về Nhân Quyền (Les Droits De L’Hommes, Human
Rights) .Cũng như Đức Thánh Cha hằng đ̣i hỏi sự thực thi hóa
cho con người trong thế giới các quyền tự do, quyền chính
trị, quyền xă hội và văn hóa của người dân. Qủa thật chúng
ta thấy vấn đề Nhân Quyền, được Ngài tỏ lộ ḷng ḿnh một
cách dứt khoát cùng rơ ràng như một chủ ư chính đáng. Do
vậy, chúng ta thấy rơ Nhân Quyền hằng được nhắc nhở cho
việc dấn thân và cam kết của Đức Gioan Phao lô Đệ Nhị đối
với xă hội con người cùng thế giới hoàn vũ (1).
Sự cam kết và dấn thân
này của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, quả được đánh dấu và
lưu ư đến trong học thuyết xă hội và chính trị công giáo (la
doctrine sociale et polotique catholique). Qua học thuyết
xă hội và chính trị công giáo đó, th́ Nhân Quyền cùng những
ư niệm Nhân Quyền được thường xuyên nhắc đến như trọng điểm
các bài diễn văn và thông điệp của Ngài gửi cho các Quốc
Trưởng thế giới. Mỗi một chuyến xuất hành viếng thăm mục vụ
và rao giảng Tin Mừng của Ngài cho nhân loại đây đó trên
trái đất, đều mang đến cho xứ sở nơi Ngài đến viềng thăm một
làn khí hy vọng, có khi là một sự thay đổi t́nh trạng chính
trị và xă hội sống của Quốc gia ấy. Điển hinh như Ba Lan và
Khối Cộng Săn Đông Âu trước đây cũng ở các Nước Nam Mỹ La
Tinh.
Chúng ta nh́n lại công
thức và bản thảo viết về Nhân Quyền qua « Hến Chuơng
Virginian Bill of Rights » 1776, th́ Tuyên Ngôn này cũng
mang nhiều gốc rễ trong các giáo lư của Kitô giáo. C̣n những
bản Hiến Chương Nhân Quyền tiên khởi của Âu Châu, chẳng hạn
như Cách Mạng của người Pháp và Bản Hiến Pháp Cách Mạng của
họ cũng như bản Tuyên Ngôn của Nguời Pháp vào năm 1793, có
những khuynh hướng chống Giáo Hội rơ rệt. Tuy thế, tại Âu
Châu, tinh thần tông đồ và bác ái của người Kitô hữu được
thấm nhuần qua trong những bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của
người Mỹ. Mặc dầu những yếu tố chống lại Giáo Hội Công Giáo
của Bản Tuyên Ngôn Người Pháp , đuợc tập trung về những lănh
vực xă hội, và yếu tố tạo nên sự cốt yếu đó, vẫn có đôi tư
tưởng của Nhân Quyền tương hợp với sự tin tưởng nồng cốt
của kitô hữu. Qua những sự kiện đó, th́ những Giáo Hội Kitô
quyết định loại bỏ những yếu tố chống Giáo Hội của Những
Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Người Pháp. Các Giáo Hội Kitô thời
đó mang nặng một tính cách bảo thủ nên hơi vội vàng có những
lời chỉ trích có tính cách lên án cuộc Cách Mạng Pháp, (2)
và những khuynh hướng xấu do tương quan khai triển của các ư
niệm tự do của thời đại, có t́nh cách cá biệt hơn là chung
thể - Tuy nhiên, theo Giáo Hội Công Giáo sau thời Đệ Nhị Thế
Chiến, th́ đươc biến cải và công hiệu hơn với triều đại Giáo
Hoàng Gio-an XXIII và Công Đồng Chung Vatican Đệ Nhị (Le
II Concile du Vatican) cho vần đề Nhân Quyền.
Phần Tin Lành Giáo, họ
cũng không tránh khỏi được ǵ hơn của những « tâm thức thời
đại » này. Mặc dù tiếp nhận trước hết sự phong phú của cuộc
Cách Mạng Pháp, được xem là một chiến thắng lớn của sự tư do
bởi Fichte, Schelling, Holderlin và Hegel. Thế nhưng Giáo
Hội Tin Lành Đức cố giữ khoảng cách truyền thống với Nhân
Quyền (3). Cuộc Cách Mạng Pháp với những tư tưởng « tự do,
b́nh đẳng và huynh đệ, liberté, égalité et fraternité ».
Nhưng lại là cuôc cách mạng đổ máu nhiếu người khi họ thiết
lập nên thể chế cộng ḥa. Thật một cách không xứng qua những
lời tuyên bố về tự do, b́nh đẳng và huynh đệ mà lại làm một
hành động dă man đổ máu nhiều người. Khi người ta nh́n lại
bản Tuyên Ngôn Nhân Quyên Mỹ, th́ có tính cách nhân bản và
dân chủ hơn nhờ những sự tương quan với những lư do đóng góp
của các kitô hữu Mỹ. Thật thế một phần lớn những người tạo
dựng Hiệp Chủng Quốc Mỹ, là những người kitô hữu thiểu số
đến từ các Nước Ái Nhĩ Lan, họ chạy trốn Nước Anh và châu
lục cũ để tránh một sự cố chấp của tôn giáo và sự bày tỏ của
quyền lực. Cũng thế, do ư kiến đối kháng của triết gia
Emmnuel Kant, được gọi là « triết gia của người Tin Lành
Đức » (4). Tin Lành Đức này không lưu lại giáo lư công giáo
và tránh đi sự tiến hoá đột ngột tại trung tâm Âu Châu này.
Trong sự từ chối Nhân
Quyền của họ, th́ các Giáo Hội Kitô bị những lời mỉa mai
chua chát công kích dèm pha, đuợc bắt thấy ở Karl Marx. Ông
là người ngoan cố, bướng bỉnh chống lại một vài h́nh thái về
quyền tư hữu cá nhân, ông nghĩ như của người giàu có, quư
phái và tư bản, như thế, chúng ta thấy có sự thiêu thốn các
sự tự do ở nơi ông (5). Và Marx lư thực không phải là người
tranh đấu cho Nhân Quyền và xem trọng phẩm giá con người như
các Triết Gia nhân bản của Kitô Giáo, chẳng hạn như Jacques
Maritain.
Cũng thế, chắc chắn
trong giáo thuyết Công Giáo, có những tư tưởng và khuynh
hướng hổ trợ cho những quyền tích cực của con người (les
droits suprapositifs de l’homme), mà những quyền đó thật là
hội đủ sự tương hợp với truyền thống của quyền tự nhiên,
quyền tất nhiên theo chủ thuyết xă hội và chính trị công
giáo. Để từ đó Giáo Hội bài trí những quyền phổ thông công
chúng và quyền tích cực cho nhân loại. Với những tư tư tưởng
mới này, đáng lưu ư đến là giáo thuyết công giáo tự do tại
Pháp. Tuy nhiên trong lúc đó các Đức Giáo Hoàng của thế kỷ
XIX th́ hướng về Nhân Quyền. Các Ngài với một sự khôn ngoan
và thận trọng, cần đào sâu và học hỏi, thế nên Bộ Công Lư
và Hoà B́nh (Commission pontificale Justitia et Pax) có phận
vụ này (7).
Giáo Hội với thái độ
cẩn trọng và khôn ngoan nên có khi từ chối những tư tưởng
nguy hại đến con người, hay có lúc là đón nhận những tư
tưởng tinh túy bổ ích cho nhân loại. Lúc đó các Giáo Hoàng
tuyển chọn, tinh lọc và sửa đổi để đưa vào một phần giáo
thuyết xă hội và chính trị công giáo : như Đức Léon XIII. V́
trong Tông Huấn Immortale Dei đưọc công bố vào ngày
1.11.1885, th́ Đức Giáo Hoàng Léon XIII đă thấy được trong
các luật của thời đó có một tinh thần phá hoại các công
tŕnh tôn giáo (như Marx tuyên bố bừa băi « tôn giáo là
thuốc phiện », đúng hơn Âu Châu và thế giới này xây dựng
được nền văn minh nhân bản là nhơ tôn giáo, đặc biệt là Kitô
giáo), từ đó Ngài trở về lại nguồn cội cho đến thời Canh Tân
(Réforme). Ngài kết án những ǵ không phản ảnh đích thực là
Kitô giáo hoặc không thích ứng trong chủ thuyết xă hội và
chính trị công giáo. Có nghĩa trước hết mọi sự, Ngài đ̣i hỏi
ư niệm b́nh đẳng, chủ thuyết dân chủ, và quyền tối thượng
cuả người dân (souveraineté populaire). Cũng thế, Ngài đ̣i
hỏi một quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và giáo dục,
nhất là sự đ̣i hỏi một quyền tự do tôn giáo vv.. Đức Giáo
Ḥang chống lại một loại giáo hội đồng nhất với Nhà Nước
(như kiếu Nhóm Ùy Ban Đoàn Kết Công Giáo Và Dân Tộc Việt Nam
và Nhóm Giáo Hội Công Giáo Ly Khai Trung Quốc là hoàn toàn
chỉ biết phụ thuộc Hà Nội và Bắc Kinh), không đích thực là
niềm tin, và là đức tin chính tông công giáo của ḿnh (8).
Thực thế qua Đức Giáo
Hoàng Léon XIII và sau Ngài là Đức Giáo Hoàng Pie XI và Đức
Giáo Hoàng Pie XII cũng nói nhiều đến « quyền của con
người » hay nói đúng hơn là « những quyền của con người
(droit de l’être humain hay droits des êtres humains, có thể
dịch là quyền của hữu thể con người hoặc các quyền của những
hữu thể con người, nghe hơi khó hiểu nên chúng tôi tạm dịch
gọn như trên). Những Tuyên Ngôn và Tông Huấn của các Ngài
được làm nên nhờ dựa vào các kinh nghiệm của các chế độ
chính trị đối nghịch với Giáo Hội Công Giáo như Stalin,
Hitler vv., mà Đức Giáo Hoàng Pie XII, đă phản đối kịch liệt
vào năm 1941… Để rồi, với một cung văn, giọng điệu minh
bạch, Ngài đ̣i hỏi các thể chế chính trị này cần đ́ều chỉnh
lại và lưu ư đến nhân phẩm của con người. Tuy nhiên nhân
loại vẫn c̣n chờ cho đến sự xuất hiện của Thông Điệp Ḥa
B́nh Dưới Thế- L’Encyclique Pacem In Terris của Đức Thánh
Cha Gio-an XXIII công bố vào ngày 11.4.1963, để họ am tường
các sự tŕnh bày và giải thích của Giáo Hội Công Giáo về các
câu hỏi liên quan đến Nhân Quyền. Trong Thông Điệp này,
chúng ta thấy Nhân Quyền được sử dụng một ngôn ngữ cương
quyết hơn. Tài liệu qúy giá này, có thể được xem là Hiến
Chương Tuyên Ngôn Nhân Quyền đầu tiên của Giáo Hội Công
Giáo. Kể từ khi Thông Điệp Ḥa B́nh Dưới Thế được công bố,
th́ Nhân Quyền đă được nhận biết như một cái « khung chỉ
nam », chỉ hướng cho hành động công kích những sai trái và
tội ác chống lại nhân loại. Để rồi từ ư đó, Thông Điệp Ḥa
B́nh Dưới Thế trở nên một phần tất yếu của chủ thuyết xă hội
và chính trị công giáo hoàn vũ.
Trong những quan điểm
và lư do này về Nhân Quyền, th́ Công Đồng Vantican Đệ II
được khai mở và nối kết với những Thông Điệp và công bố của
Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII. Những Tài Liệu quan trọng hơn
cả là : Sự Khởi Đầu Tông Huấn về Sự Giáo Dục Kitô Giáo vào
năm 1965 (La Déclaration sur l’éducation chrétienne). Song
hơn hết, là Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo (Déclaration sur la
Liberté Religieuse) và Tông Huấn Dignitatis Humanoe - Phẩm
Giá Con Người, cũng thế trong Hiến Chế mục vụ của Giáo Hội
trong ḷng thế giới này qua Thông Điệp Gaudium et Spes- Vui
Mừng và Hy Vọng, hai thông điệp này được công bố vào ngày
7.12.1965. Cũng thế, Nhân Quyền được nhận ra qua việc đ̣i
hỏi do việc đưa vào việc mục vụ qua Tông Huấn Communio et
Progressio-Truyền Thông và Phát Triển vào ngày 3.6.1971,
nhất là Thông Điệp xă hội Populorum Progressio- Phát Triển
Các Dân Tộc vào năm 1967 và bài Diễn Văn chúc mừng đầu năm
mới của Đức Giáo Hoàng Phao Lô Đệ VI vào năm 1969. Vả nữa
Thông Điệp của Đức Phao Lồ Đệ VI đọc ở Hội Nghị Quốc Tế về
Nhân Quyền tại Thủ Đô Téhéran ngày 15.04.1968, rồi lá thư
của Đức Thánh Cha gửi cho Cuộc Họp Thượng Đỉnh của 28 Nhà
Lănh Đạo Quốc Gia trên thế giới nhóm họp tại Trụ Sở Liên
Hiệp Quốc vào ngày 10.12.1973. Nhất là qua Thông Điệp về
Nhân Quyền và Sự Ḥa Giải, qua đó Đức Phao Lô Đệ VI kết
thúc cuộc Hội Nghị của Thượng Hội Đồng Giám Mục La Mă vào
tháng 10 năm 1974. Trong cuôc họp này, th́ sự hội thảo và
bàn về vấn đề Nhân Quyền, được các nghị phụ chung nhau chia
thành 5 nhóm : nhóm 1, bàn về quyền sự sống (le droit à la
vie) ; nhóm 2 bàn về quyền nuôi duỡng (le droit à la
nourriture) ; nhóm 3 bàn về những quyền xă hội và kinh tế
(les droits sociaux et économiques) ; nhóm 4 bàn về các
quyền chính trị và văn hóa (les droits politiques et
culturels) ; nhóm 5 bàn về quyền tự do tôn giáo (le droit à
la liberté religieuse). Các nghị phụ đă bàn luận sôi nỗi,
nhưng có một cái ǵ đó trong sự giải thích có tính cách đơn
phương và cá nhân về các quyền con người. Tuy vậy, càc nghị
phụ có một sự cố gắng đồng cảm hầu vượt qua những sự khác
biệt này.. Để ngày nay, Nhân Quyền được tỏa rộng phổ quát
hơn giữa những quyền tự do cá nhân và những quyền xă hội của
con người (les droits personnels à la liberté et les droits
sociaux de l’homme). Qua những Tuyên Ngôn Của Đức Giáo Hoàng
về Nhân Quyền, cũng nên nhắc đến bài diễn văn của Đức Phao
Lồ VI nói với các vị Ngoại Giao Đ̣an nhân đầu năm 1978.
Qủa thực những bài
diễn văn, những Tuyên Ngôn hay Thông Điệp, Tông Huấn này thể
hiện một sự tiến bộ quan trọng của học thuyết công giáo về
sự công b́nh xă hội và chính trị (9). Cũng một lúc người ta
nhận ra được các Nhân Quyền, đó chính là một sự chinh phục
chính trị và đặc biệt luân lư cho thời đại tân kỳ của chúng
ta, hầu người ta bắt thấy được sự thánh thiêng và sự cống
hiến của Giáo Hội Công Giáo cho con người. Nhất là, có một
sự tiến hóa pháp lư và hiến pháp, mang lại cho con người
hiểu đuợc ư thức của sự tự do thời đại, để từ đó dẫn đưa từ
một Nhà Nước thiên mệnh tuyệt đối đến một Nhà Nước Dân Chủ
và Xă Hội, rồi có được một Nhà Nuớc Pháp Quyền và Hiến Pháp
minh bạch.
Nói đến đây, chúng tôi
cần nhắc đến một triết gia công giáo thời danh, đó là triết
gia Jacques Maritain. Ông đă tranh đấu một cách cương quyết
và nhiệt thành, bằng lư thuyết và thực hành cho các quyền
căn bản của con người, đơn cử là sự đóng góp của triết gia
cho sự ra đời bản Hiến Chương Quốc Tế Nhân Quyền vào năm
1948 (10). Thực thế, một cách chính xác nguời ta bắt thấy
những nguồn cội ư niệm của các Nhân Quyền thời nay, được
khai triến từ các gia sản của các trường phái khắc kỷ và các
tổ phụ xa xưa, thực chất các tư tưởng này hoàn toàn là ki tô
hữu. Bởi thế qua Thông Điệp về Nhân Quyền và sự Ḥa Giải,
th́ người ta có thể nói với ly do rằng : trước những yêu
sách của Nhân Quyền giống như những yêu sách của Tin Mừng
(11). Mặc dầu như thế, người ta không thể chối bỏ rằng học
thuyết xă hội và chính trị công giáo không bắt thấy được
những nguồn cội trực tiếp đền từ sự phát triển của thời đại
Nhân Quyền. Để từ đó làm trong sáng thêm những hành động của
con người duới ánh sáng của triết lư luật học và chính trị
(12) cũng như luân lư để giúp con người và xă hội thăng hóa
hơn (13)
IV. TRIẾT LƯ THỜI NAY VỂ
NHÂN QUYỀN
1. Khái Niệm Các Nhân
Quyền
Chúng ta rơ nhờ ư thức
đạo đức cùng luân lư của thời cận đại và thời nay, để qua đó
th́ người ta nhận thấy trong các Nhân Quyền có đuợc những
điều quan trọng đồng nhất của chúng. Như trong các Nhân
Quyền được cấu tạo thành một ư thức chung cho toàn thế giới
thời cần đại – đó là sự hội tụ khao khát và sự đ̣i hỏi những
căn bản đạo đức cho xă hội và chính trị (xin qúy vị xem thêm
bài « Những Giá Trị Căn Bản Cho Xă Hội Chính Trị » để hiểu
thêm). Với những yếu tố chủ thể duới dạng thức quyền công
chúng, th́ các Nhân Quyền trước hết là những lư thuyết đ̣i
hỏi quyền tự nhiên, quyền tất nhiên do sự tiến bộ và văn
minh của người Âu Châu, và do lư thuyết chính trị của chủ
nghĩa tự do. Chúng được nảy sinh trong những hoàn cảnh lịch
sử của Những Quốc Gia Quân chủ chuyên chế của Châu Âu, từ đó
những Nhân Quyền này được phát śnh rộng răi, song trước
hết được xem là những quyền tự vệ : có nghĩa một sự che chở
cho người dân chống lại những sự lạm dụng của quyền hành
chính trị gây ra.
Tính cách thường,
người ta gọi Nhân Quyền là những quyền chủ thể, qua đó th́
mỗi ngựi, là hữu thể con người, thế nên có thể đ̣i hỏi cho
ḿnh được tôn trọng và có các quyền tất nhiên này. Với Nhân
Quyền là một sự đ̣i hỏi thích đáng cho mỗi một người dân,
một cách đặc biệt đối với những nhà cầm quyền và đối diện
với những người làm chính trị. Bởi Nhân Quyền chính là cái
trật tự của luân lư và đạo đức của chính trị, hơn nữa Nhân
Quyền được xem là một phần thân thể của xă hội chính trị (socio-politique).
Qủa thế Nhân Quyền không chỉ sinh ra từ ḷng bác ái hay ḷng
từ tâm của con người. Đúng hơn Nhân Quyền là một yếu tố
thiết thực của sự công bằng và công chính của chính trị và
xă hội thời nay. Bởi Nhân Quyền đem lại cho tất cả mọi người
thực là con người của họ với nhân phẩm của ḿnh. Nhân Quyền
cũng được gọi là những quyền tự nhiên, tất nhiên, quyền bẩm
sinh, quyền không thể nhượng lại - hằng luôn giá trị và hiệu
lực – trong thời gian – và khắp cả mọi nơi – trong không
gian. Từ quan niệm và ư nghĩa này, th́ Nhân Quyền được xem
là không thể phủ nhận, không thể đụng chạm đến và không thể
bải bỏ nó được như kiểu các chế độ độc tài, quân phiệt và
cộng sản : chẳng hạn Hà Nội, Bắc Kinh, Miến Điện, Bắc Hàn vv.,
xem thường và loại bỏ Nhân Quyền trong đời sống xă hội và
chính trị. Những quyền chúng tôi nói đây không cho phép
người dân sống trong hèn hạ, nhục nhă và đê tiện, mất nhân
phẩm hay tư cách liêm sĩ của ḿnh, nhưng là sống trong niềm
tự hào « đầu ngẫng cao, không khiếp sợ và không thể chê
trách ». Những nguyên tắc căn bản này chính là phẩm giá của
con người, tư cách tự trọng và cũng chính là sự tự do cho
hết thảy con người, hết mọi người dân.
Qủa thực Nhân Quyền
mang lại cho hết mọi người như những dấu chỉ của các nguyên
tắc tốt đẹp hầu các nhà cấm quyền qua đó mà áp dụng cho dân
chúng. Hơn nữa, Nhân Quyền là những nguyên tắc của những
luật định sẵn, những luật thực tiễn và siêu hiến pháp (superpositifs
et supraconstitutionels). Tuy nhiên, qui chế thực tiễn của
Nhân Quyền không những là hợp lư và thực tế cho những quyền
luật thực tiễn và những cơ cấu chính trị khác biệt của con
người. Qui chế thực tiễn này chỉ là ư nghĩa và dấu chỉ Nhân
Quyền được thiết lập, hay được xem là thiết thực cho đời
sống người dân khi quyền hành chính trị tôn trọng cùng Nhân
Quyền hóa và tích cực hóa việc làm này. Do đó, Nhân Quyền
trở thành một trong những Luật căn bản cho sự sống tất nhiên
của con người và của người dân.
Thế đó, Nhân Quyền có
thể và phải trở nên được nhận biết và bảo vệ cho người dân,
để rồi tạo cho Nhân Quyền hiện hữu vào đời sống chính trị
và xă hội người dân. Có nghĩa Nhân Quyền được xem là những
quyền hiệu lực định sẵn cho một thể chế chính trị vị nhân và
dân chủ. Thực thế, một chánh phủ không thể đồng ư hay từ
khước Nhân Quyền : chánh quyền không chỉ bảo đảm và từ chối
Nhân Quyền. Bởi Nhân Quyền không chỉ là chủ đích của triết
lư đạo đức và luân lư quy phạm, hơn nữa Nhân Quyền c̣n cung
cấp một trách nhiệm, một bổn phận - nhất là giải tỏa mối bất
ḥa cho thể chế chính trị thời nay khi gặp khó khăn và khủng
hoảng.
2. Thực Tế Hóa Nhân Quyền:
Quyền Căn Bản, Chủ Trương Của Nhà Nước & Những Hiệp Định
Quốc Tế
Bất cứ thể chế chính
trị nào cũng phải đem lại hạnh phúc, tự do và b́nh an cho
con người, thế nên Nhân Quyền chỉ là những đ̣i hỏi và yêu
cầu của đạo đức và luân lư có tính cách mang lại sự phổ quát
cho hết mọi người. Do thế, Nhân Quyền theo quan điểm và ư
niệm của quyền tự nhiên, tất nhiên và hợp lư của nó, hầu áp
dụng phổ quát cho hết mọi người dân sống có được tự do và
hạnh phúc. Thế nhưng, chúng lại vắng bóng đâm sâu trong
quyền thực tiễn, Nhân Quyền chỉ được thực hành do những giá
trị tư tưởng và hy vọng, được kêu gọi và thỉnh cầu, được
tuyên bố và quảng bá, hầu đối thực với luật pháp hiện thời
và hiến pháp hiện nay. Tuy nhiên nhiều quốc gia vẫn c̣n lưu
măi tŕnh trạng chưa thực thi : chẳng hạn Việt Nam, Trung
Cộng, Miến Điện, Bắc Hàn, Cu Ba vv.. Trái lại, khi Nhân
Quyền được bảo đảm và bảo vệ do những quyền thực tiễn nói
trên, tất khi đó Nhân Quyển trở thành một phần tất yếu của
các thể chế chính trị, khi mà Nhân Quyền được nh́n nhận và
đóng một vai tṛ bảo đảm cho thể chế và pháp chế của Nhà
Nước đó. Có
nghĩa tất th́ Nhân Quyền được thiết tạo nên qui chế của
những luật căn bản : như quyền cá nhân, quyền tự do, quyền
tự do báo chí và hội họp, quyền tư hữu. quyền tự do tôn giáo,
quyền giáo dục con cái, quyền tham dự chính trị, các quyền
xă hội và văn hóa vv., hay là những hợp lư, những nguyên tắc
cấu trúc căn bản và những sự bắt buộc, được qui chiếu, được
ghi khắc trên những mục đích của Nhà Nuớc : như theo đuổi sự
tự do, dân chủ, chủ trương Nhà Nước Xă Hội và Nhà Nước Pháp
Quyền vv.. tôn trọng người dân.
Nhờ vậy, Nhân Quyền được
bảo đảm, và thể chể hóa Nhân Quyền bằng những phẩm chất của
những quyền căn bản và những nguyên tắc hợp lư của Nhà Nuớc.
Từ đó Nhà Nước được thiết tạo như một trách nhiệm luân lư
của tất cả các cộng đồng chính trị đă và đang phục vụ dân
ḿnh. V́ ở đâu sự đảm bảo này được hiện hữu, th́ cộng đồng
chính trị hay thể chế chính trị đó được xem là chính đáng và
hợp pháp, được xem là công chính. Ở đâu những quyền căn bản
này bị khinh thị và bị loại trừ, tầt nhiên Nhà Nước đó được
xem là không chính đáng và hợp pháp, lẽ tất nhiên không công
chính. Cho dẫu Luật Pháp và Hiến Pháp hoặc thể chế của một
quốc gia tạo nên sự ổn định chính trị, và xă hội th́ tốt
đẹp ở quốc nội lẫn quốc ngoại, cho dẫu Quốc Gia đó có những
dấu hiêu hợp tác, có sự thành công và sự quân b́nh giá cả
thị truờng và tiền tệ, cũng thế , cho dầu Nhà Nước đó bảo
đảm rằng nền kinh tế Quốc Gia của họ đang phát triển tốt đẹp
(chẳng hạn như Trung Cộng) vv. Thế nhưng, với quan điểm
triết lư đạo đức thời đại, th́ đương nhiên cùng một thời
gian ấy Nhà Nước đó đi ngược lại và mâu thuẫn với Nhân
Quyền, với các quyền căn bản của con người, của người dân
họ. Thế nên, những Luật Pháp và Hiến Pháp của Nhà Nước này
phải cần điều chỉnh lại cho phù hợp với Nhân Quyền, để cho
sự hiện hữu của Quốc Gia ḿnh được xem là một cách chính
đáng và hợp pháp trên chính trường quốc tế.
Do đó Nhân Quyền được
tŕnh bày trên hết ở đây, chính là sự chống lại những “bức
thành cản trở”, chống lại những sự sai lầm, những sự lạm
dụng quyền hành của tất cả những Nhà cầm quyền. Nhân Quyền
ví thể giống như “tấm thuẫn” che chở, bênh vực và bảo vệ cho
những người dân thấp cổ, nhỏ bé, cho những người dân thiểu
số. Vả nữa, Nhân Quyền bảo đảm những quyền b́nh đẳng với
những người cùng tham dự, chia sẻ một đời sống tôn giáo,
kinh tế, chính trị và văn hóa của sắc dân đa số. Thêm nữa,
Nhân Quyền là những quyền trước hết của con người, trong ư
nghĩa của quan niệm căn bản và những lư do chỉ đạo cho tất
cả những thế chế chính trị chính đáng và hợp pháp. Và v́ thế
Nhân Quyền được tŕnh bày như một sự phẩm nghị ngay thẳng,
trong sáng đối với những sự tiếm đoạt quyền tối thượng của
người dân bởi những chế độ độc tài như cộng sản, quân phiệt.
Nhân quyền cũng phẩm nghị những sự sai lầm và tội ác của
những Nhà cầm quyền, lănh đạo nữa, dù họ là ai chính trị hay
tôn giáo khi xúc phạm đến phẩm giá con người, của người dân,
th́ Nhân Quyền lên tiếng bênh vực, tranh đấu cho phẩm giá
của con người được hồi phục.
Để cho những qui tắc
này được nhận biết như sự căn bản hợp lư và những nguyên tắc
nền tảng, th́ chúng ta không chỉ ngồi đó mà hưởng những ích
lợi của Nhân Quyền đem lại cho ḿnh. Trái lại, điều cần
thiết hơn cả, chúng ta cần phải nỗ lực cộng tác bằng trí tuệ
và nghị lực của ta cho việc tranh đấu, để tạo cho Nhân Quyền
một sự chắc chắn và vững mạnh. Nhất là, đưa Nhân Quyền vào
đời sống xă hội của người dân, tập cho họ quen dần với những
nhận thức cái quyền căn bản và quyền lợi của ḿnh đương
nhiên có để tranh đấu, để đ̣i hỏi… Vả nữa, cũng tập cho
những người làm chính trị, cai trị làm quen với nền văn hóa
chính trị nhân bản cần được lưu thông này, hầu tạo nên sự
pháp chế hóa và Nhân Quyền hóa vào thể chế chính trị thời
nay. Thế đó, ắt Nhân Quyền sẽ được định chế hóa một cách
chính đáng và hợp pháp hóa, được sự che chở và bảo vệ của
Hiến Pháp và Luật Pháp, để qua đó chúng ta có thể tin tưởng
và kê ra rằng :
1. Sự hiểu biết và nh́n nhận
Nhân quyền là những quyền căn bản, tất nhiên trong Hiến Pháp
được ghi thành văn một cách trang trọng qua Hiến Pháp Quốc
Gia.
2. Sự tùy thuộc chính đáng và
hợp pháp vào Hiến Pháp, nhờ thế mà kiểm soát đuợc sự tùy
thuộc này do những vị thẩm cấp tối cao của Luật Pháp (do
những vụ kiến tụng, tố tụng của người dân về các hành vi sai
trái vi hiến, vi phạm của các quan chức thoái hóa nhân cách
vv.).
3. Sự tùy thuộc của quyền
hành chính trị như guồng máy Chánh Quyền, các người cầm
quyền, lănh đạo, các người quản trị và quyền hành chánh vv.,
do Hiến Pháp qui định, cần được kiểm soát, theo dơi và tùy
thuộc này qua bởi một quyền hành khả thể của ṭa Tối Cao
Pháp Viện v.v.. Để từ đó, khi họ đứng trước các vị quan Thâm
Phán này mà trả lời những hành vi sai trái và phạm luật của
ḿnh.
4. Sự tùy thuộc quyền hành
chính tri vào những luật tương hợp, thích ứng đến Hiến Pháp
này và luôn được kiểm soát b́nh phẩm của sự tùy thuộc này do
một quyền tư pháp có tính cách hành chánh (đơn cử khi chánh
phủ hay các vị cầm quyền đi trật đường rấy của Luật Pháp hay
Hiến Pháp Quốc Gia, th́ sẽ được nhắc nhở, hiệu chính cho
đúng).
5. Sự tách biệt và phân chia quyền hành
chính trị, đây là hệ thống của “ những sự kiểm soát và những
sự quân b́nh; chechs and balances, contrôles et equilibres”,
và đặc biệt là các Ṭa Án và các vị thẩm phán độc lập, nhờ
vậy có được một sự đối lập chính đáng và hiệu nghiệm, cũng
thế cần phải phân quyền hành minh bạch tương hợp theo chế độ
liên bang ( như Mỹ, Đức, Thụy Sĩ) và chế độ làng xă, hương
thôn. Không như kiểu tập trung quyền hành và quyền lực tất
cả vào cái “Bộ Chính Trị” như phỉ quyền Hà Nội.
Thế đó, bản khuôn mẫu chúng tôi tạm đưa
ra này, có thể được xem là một thể chế hợp pháp và chính
đáng, từ sự thực tiễn hóa này của Nhân Quyển là có được một
Nhà Nước Pháp Quyền hoặc Nhà Nước Hiến Pháp, một Nhà Nước
Dân Chủ và Xă Hội trọng dân, v́ dân. Sự chủ xướng của Nhân
Quyền và sự tiến triển thực hiện hóa của nó có thể được xem
là sự chinh phục chính trị lớn lao nhất của thời đại nay,
cùng một lúc là những thành tích lớn lao của nền văn hóa
nhân bản và phổ quát.
Những Hiệp Uớc Quốc Tế được xem là những
chặng đường của Châu Âu hay Thế Giới, có thể sinh thành một
yếu tố và một động lực quan trọng của sự thực tiễn của Nhân
Quyền này. Cũng thế qua một vài hiệp hội quốc tế : điển h́nh
như Amnesty International, Le Comité International de la
Croix-Rouge, Hội Ân Xá Quốc Tế, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế,
L’Association Internationale des Juristes, Hiệp Hội Luật Gia
vv., được tiêu biểu qua những dạng thái khác nhau và bổ túc
thêm cho một sự hài ḥa chính đáng về những trường hợp vi
phạm Nhân Quyền do bởi các Nhà Nước độc tài, quân phiệt như
Hà Nội, Bắc Kinh, B́nh Nhưỡng vv., quấy nhiễu và vi phạm.
Chúng ta hiểu rằng qua những giai đoạn và
chặng đường quan trọng hơn cả của v́ệc thực thi hóa Nhân
Quyền vào đời sống chính trị và lịch sử cùng xă hội của con
người : th́ ở đây chúng ta phải kể ra rằng , tiên khởi là
phong trào Nhân Quyền của những người Mỹ. Họ đă bắt đầu qua
bản Tuyên Ngôn hay có thể gọi là Hiến Chương Virginian Bill
of Rights vào ngày 12.06.1776, tiếp là Tuyên Ngôn Độc Lập
của Hiệp Chủng Quốc vào ngày 04.07.1776 La Déclaration
d’Indépendance des Etas-Unis, tiếp nữa là Cuộc Cách Mang của
người Pháp và bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Công Dân vào ngày
26.08.1789, được làm đầu cho bản Hiến Pháp của người Pháp
vào ngày 03.09.1791. C̣n tại Đức, th́ Nhân Quyền đuợc thừa
nhận trong những bước tiên khởi của các bản Hiên Pháp sau
năm 1815, như miền Bavière, Wurtemberg, Bade, kế đến trong
các kế hoạch và dự án của Hiến Pháp Quốc Hội của thành phố
Francfort, c̣n tai Phổ, thi vào năm 1850. Nhưng quan trọng
hơn của nguời Đức, là được xác định trong bản Hiến Pháp
Weimar vào năm 1919. Hơn nữa, những chặng đường và ư nghĩa
quan trọng hơn hết là sau Đệ Nhị Thế Chiến, thiên hạ bắt
thấy qua bản Hiến Chương Quốc Tế Nhân Quyền được công bố
trọng thể trước Diễn Đàn Liên Hiệp Quốc vào ngày 10.12.1948;
kế là Hiệp Uớc Châu Âu Cho Sự Bảo Vệ Nhân Quyền Và Những
Quyền Tự Do Căn Bản vào ngày 4.11.1950, và Hiến Chương Xă
Hội Âu Châu vào ngày 18.10.1961, kế đến nữa là Ủy Ban Nhân
Quyền Châu Âu và Ṭa Án Nhân Quyền Âu Châu , hai Hiệp Uớc
Nhân Quyền Quốc Tế này được công bố vào năm 1966 (với Khế
Uớc Quốc Tế về các quyền kinh tế, xă hội và văn hóa), cuối
cùng là Hiệp Uớc Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị,
sau cùng là Cuộc Hội Thượng Đỉnh về An Ninh và Sự Hợp Tác
của Âu Châu tại Helsinki, Phần Lan, được kư kết và công bố
vào ngày 1.8.1975.
3. Đặc Tính của Nhân Quyền: Quyền Tự Do,
Những Quyền Chính Trị, Những Quyền Xă Hội & Văn Hóa
Hai nguyên tắc và lư do căn bản của Nhân
Quyền, đó là phẩm giá con người không thể đụng chạm (la
dignité intangible) và sự b́nh đẳng tự do, có thể mỏng ḍn
dễ vỡ song được đọc rơ bằng một số quyền đặc biệt, tất cả có
thể chung nhau thành trong bốn nhóm sau:
3.1. Nhóm thứ nhất của Nhân Quyền được thiết
lập do những quyền tự do cá nhân, tự do đó đ̣i hỏi cho mỗi
một hữu thể con người có một không gian sống thực, và một tự
do cá nhân hành động nghiêm túc, cùng bảo đảm chống lại tất
cả sự can dự của người khác, và trườc hết là của Nhà Nước.
Tiên khởi phải đặt quyền này vào sự bảo vệ toàn vẹn thân thể
và sự sống. Pháp chế không thể trực tiếp quan tâm lo nghĩ
đến mọi người dân trong đời sống hay ngăn cản sự chết của họ,
hay ngăn cản trở thành tật nguyền tàn phế như nguyên nhân
bệnh hoạn, tai nạn, già cả vv.. . Trái lại, Nhân Quyền có
thể nghĩ đến sự lăo hóa của thân thể và sự sống đuợc bảo vệ
bằng cách chống lại những sự xâm phạm, những sự làm tổn
thương đến người khác do Nhà Nước tạo nên. Quyền con người
hay quyền căn bản là quyên liên hệ đến sự sống, là quyền bảo
vệ sự toàn vẹn thân thể và sự sống của người dân, thỉnh cầu
chánh phủ và quyền hành chính trị phải tôn trọng :
a) Tuyệt đối cấm giết người và diệt
chủng, cấm bạo hành, cấm làm thiệt tḥi đến người ta, như
đánh đập và đối xử tàn tệ với thân thể người dân cũng như
đối xử khắc nghiệt, tàn ác với tinh thần người dân.
b) Qua tương quan với chính Nhà Nước, th́
sự bảo vệ che chở chống lại sự bắt bớ và trừng trị trái phép
người dân, qua gịng thời gian Nhân Quyền xa xưa này đă được
ghi dấu trong lịch sử Hiến Pháp; cuối cùng quyền toàn vẹn
thân thể và sự sống cũng thỉnh cấu sự cấm các h́nh phạt dă
man và tra tấn tàn bạo đối với người người dân.
Một điều kiện căn bản khác của sự thực
thi tư do cá nhân là cái khả thể xử dụng chủ đích ư muốn và
quyền lợi riêng tư của người dân, điều này muốn nói rằng là
quyền sở hữu cá nhân. Quyền này cũng muốn nói rằng làm thế
nào người ta có thể tạo được các tài sản cá nhân và tài sản
chung. Tuy nhiên Nhân Quyền này bắt buộc cho phép một cái
quyền công chúng, có tính cách chung, th́ tất nhiên sự tạo
được tài sản cá nhân, và những tài sản cá nhân của người dân
đó phải đuợc dưới sự bảo vệ che chở của Nhà Nước. Việc tiên
khởi, là Nhà Nước ra lệnh cấm trộm cắp hay tước đoạt tài sản
của người dân, sau là, Nhà Nuớc cấm trưng thu trái phép tài
sản hay bất động sản của họ.
Những quyền tự do cá nhân cũng được hiểu
bao gồm các quyền tự do khác : chẳng hạn tự do niềm tin, tự
do lương tâm và tôn giáo, tự do ngôn luận và báo chí, tự do
khoa học và nghệ thuật, tự do hội họp và hiệp hội, tự do bí
mật thư từ và truyền thông; la liberté de croyance, de
conscience et de religion, la liberté d’opinion et de la
presse, la liberté de réunion et d’association, le secret de
la correspondance et des télécomamunications. Các quyền tự
do chúng tôi kể ra đây, trong thực tế ở xă hội Việt Nam, th́
Hà Nội đều tướt đọat và có cung cách hành xử thô bạo cùng
luôn vi phạm trắng trợn đối với người dân Việt.
3.2. Để có được một Nhà Nước chính danh và
mang được hai chữ Chánh Quyền chính đáng, th́ Nhà Nước đó và
Chánh Quyền đó cần có Hiến Pháp, có Luật Pháp và một Guồng
Máy cai trị, cần có nguyên tắc quy phạm xem trọng phẩm giá
con người không thể nào đụng đến được. Nhất là, đ̣i hỏi mỗi
một công dân đều có cái quyền của ḿnh, không những thể chế
chính trị không thể đụng đến các phẩm giá của họ, mà trái
lại c̣n bênh vực và bảo vệ ho. Thêm nữa, Nhà Nước hằng quan
tâm và bảo vệ cho bằng đuợc cái quyền cao cả này của người
dân ḿnh. Thực thế, cái quyền của mỗi một cá vị người phải
trở nên chủ trương của chính trị, có nghĩa trong sự quảng
bá rộng răi của cái quyền này. Hơn nữa, trong ư nghĩa cao
trọng của quyền này, tất Nhà Nưóc có trách nhiệm, là ḥan
toàn cấm một cách tuyệt đối những ai xúc phạm vào cái quyền
hệ trọng này. Cũng thế, Nhân Quyền này tự nhiên đ̣i hỏi cần
trục xuất sự hiện hữu của một giai cấp chính trị đặc quyền,
ưu đăi như “Bộ Tà Trị Hà Nội”. Bởi chính họ là sự cản trở
cho Hiến Pháp và Luật Pháp thực thi nhiệm vụ ḿnh, lại nữa
họ c̣n được xem là “chướng ngại vật”, làm đảo lộn sự thăng
hóa của Quốc Gia. Cũng chính cái “Bô Tà Trị” này đă tạo nên
một giai cấp hạ tầng chính trị toàn là nhũng người bất chính,
từ đó họ loại bỏ tất cả những nguyên tắc Nhân Quyền hay vài
nguyên tắc đạo đức quyền hành của Nhà Nước. Do thế Nhà Nước
tất nhiên mang tiếng là bất chính và phi nhân bản. Thế nên,
chúng ta cần có sự đối kháng với các đặc quyền, các ưu đăi
này của Hà Nội và sự phân biệt chính trị của họ, hầu trở lại
một cộng đồng chính tri nhân bản chính danh cho mỗi một cá
vị người dân.
Như đă nói trên, cũng Nhân Quyền này trở
nên chủ trương của chính trị hoàn toàn được xem là một cái
quyền tự quyết định của mọi người dân trong lănh vực chính
trị, nó đưọc xem là chủ đích của Nhà Nước : chẳng hạn như
quyền ứng cử và tuyển cử, quyền bỏ phiếu và chọn ứng cứ viên,
và Nhà Nước không có quyền xâm phạm vào cái quyền này của
hết mọi người dân – Các quyền này xem như là thể thức của
Nhà Nước. Vả nữa, thể chế dân chủ là nguyên tắc căn bản của
Nhà Nước. Như thế bên cạnh các quyền tự do cá nhân, th́
quyền của mỗi người dân tự quyết định và chọn chế độ dân chủ
cho minh là hợp lư, được xem trong tiến tŕnh của quyền công
chúng. Do đó, tất cả mọi người dân đều có cái quyền tham dự
vào đời sống chính trị, và tự quyết định cho vận mạng ḿnh
qua lá phiếu chọn người lănh đạo Quốc Gia, chọn thể chế
chính trị cùng lập trường, chọn quyền lợi và bảo vệ đời sống
cho ḿnh. Tất cả những thể thức chúng tôi nói đây tạo nên
phần toàn diện của Nhân Quyền.
3.3. Hơn nữa, một cộng đồng chính trị thực sự
tôn trọng nhân phẩm : đó là các quyền tự do cá nhân và các
quyền chính trị và tham dự chính trị được Nhà Nước xem trọng
và thực thi nghiêm túc, tất đ̣i hỏi cộng đồng chính trị đó
hằng quan tâm, lo nghĩ đến tất cả các điều kiện và nhu cấu
này của người dân được hiệu lực. V́ không có các quyền nói
này, th́ người ta sẽ không đem lại một đời sống tương xứng
với phẩm giá con người, và không có các quyền tự do này tất
nhiên cho dẫu một Nhà Nuớc nào đi nữa vẫn mang tiếng là độc
tài và vẫn c̣n lạc hậu trong thời đại nay. Nhục nhă cho Việt
Nam chúng ta dưới chế độ phỉ quyền Hà Nội vẫn bị các Hội
Đoàn Bảo Vệ Nhân Quyền, Bác Sĩ Không Biên Giới, Hiệp Hội
Phóng Viên Báo Chí và Nhà Văn vv. hằng luôn liệt kê Hà Nội
vào danh sách Những Nước không có Nhân Quyền, tức là đàn áp
bắt bớ bỏ tù nhà văn, báo chí, bỏ tù người đối lập với ḿnh.
C̣n Liên Hiệp Quốc, Qưốc Hội Liên Hiệp Âu Châu và Chánh Phủ
Mỹ th́ báo động đỏ với thiên hạ rằng : Hà Nôi vi phạm trầm
trọng Nhân Quyền. Bởi thế muốn được tiếng là Nhà Nước chính
danh, tất Nhà Nước đó có bổn phận quy hướng về các tư tưởng
Nhân Quyền, các quyền lợi của người dân, có trách nhiệm mang
lại những điều kiện phát triển kinh tế, ổn đinh xă hội, nâng
cao văn hóa và đời sống chính trị cho người dân ḿnh. Chính
nhờ qua các quan tâm và các sự thực hiện này của Nhà Nước,
Nhà Nước ấy mới thể hiện được một sự hiện hữu tương ứng với
phẩm giá và nhân vị của người dân, thế đó th́ người ta mới
thấy được các quyền tự do của người dân được chia sẻ và tham
dự vào đời sống chính trị và xă hội một cách thích đáng.
Đẹp thay một Nhà Nước biết tôn trọng cái
quyền ngôn luận, phát biểu, phê b́nh và sữa sai cùng xây
dựng cuả người dân ḿnh về mọi lănh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, xă hội, an ninh quốc pḥng và quân đội vv., hầu
thăng tiến Đất Nước hơn. Vả nữa, Nhà Nước cũng mang trọng
trách về các việc làm, về các dự án, đề án, thực hiện và
phát triển Đất Nước – Và phải chịu trách nhiệm về các sai
lầm làm hư hỏng công việc của ḿnh đối với dân chúng. Chớ
không có cái cảnh vô trách nhiệm và vô liêm sỉ như Nhà Nước
phỉ qưyền Hà Nội và tập đoàn lănh đạo u tối của chúng hại
Dân, bán Nước rành rành ra đó … Thế nhưng, chúng không
chịu nhận những sai lầm tày tời của ḿnh đối với Đất Nước và
Dân Tộc, hầu có một lời xin lỗi, mà lại ra lệnh bắt bỏ tù
những người dân yêu Nuớc vạch tội cho chúng thấy cái sai lầm
và nguy hại đến Đất Nước.
Tóm lại đôi lời : Nhân Quyền liên quan
đến các quyền tự do cá nhân, liên quan đến các quyền tham dự
vào chính trị, cũng thế Nhân Quyền liên quan đến các quyền
xă hội và văn hóa. Từ những quyền này của người dân mà các
Quốc Gia mới phát triển, trên đà phát triển, đang phát triển,
vừa được độc lập vv., đ̣i hỏi Nhà Nước và các Nhà cầm quyền
cần tôn trọng tối đa cái quyền tự quyết định chọn thể chế
chính trị, tự quyết định chọn dân chủ, chọn huớng đi cho vận
mạng Đất Nước và Dân Tộc ḿnh của người dân. Qua những tiểu
luận nhỏ này, chúng tôi đă cố gắng đưa ra những tư tưởng
Nhân Quyền hầu mưu ích cho Dân Việt! Chớ ǵ Nhân Quyền được
thực hiện hóa sớm cho Đất Nước Việt Nam chúng ta ngày nay,
mong lắm thay và mong lắm thay!
CHIẾN LƯỢC THỰC THI HÓA NHÂN QUYỀN VÀ NHỮNG
QUYỀN CĂN BẢN
Mặc dầu có những sự khác nhau trong những
quyền đặc thù và những thể chế của nhân loại, hoặc những
quyên căn bản và các mục đích cùng hướng đi của Nhà Nước,
tuy nhiên Nhân Quyền chỉ đ̣i hỏi cho ḿnh sự hiện hữu trực
tiếp hay gián tiếp tức thời vào các cơ chế thực thi quyền
hành của Nhà Nước đó. Nhân Quyền phải được xem là một dấu
chỉ thường hằng cho người ta hành động. Tiên vàn, Nhân
quyền thiết tạo nên những lời phẩm b́nh các nguyên tắc sống,
mà các cộng đồng chính trị cần phải bảo giữ, và qua đó mới
hy vọng có được một thể chế chính trị pháp quyền cụ thể và
hữu hiệu. Vả lại khi có đuợc một thể chế nhân bản, từ đó
người dân mới có được một làn không khí hít thở chân thật
của sự tự do và giá trị nhân phẩm làm người của ḿnh để cố
gắng đóng góp hết khả năng, tài năng của ḿnh cho Đất Nước,
( như có lấn chúng tôi đă nói : Tất Cả Cho Tổ Quốc Và Dân
Việt Hạnh Phúc, No Ấm). Thế đó, Nhân Quyền là những lời phẩm
nghị có tính cách nhân bản và đạo đức, trong ư nghĩa của
những quy tắc căn bản làm người. Chúng ta có thể gọi Nhân
Quyền là những tiêu chuần định hướng cho một xă hội dân chủ.
Nhờ vậy chúng ta mới có thể chỉnh đốn được những tệ đoan của
xă hội hay của giai cấp cầm quyền : như tham nhũng, hối lộ,
đánh mất bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc cùng những
thối nát của guồng máy Nhà Nước vv., hầu đưa đẩy Đất Nuớc
chúng ta phát triển và thăng hóa.
Sự thực hiện thiết thực Nhân Quyền nằm ở
trong các hoàn cảnh, ở trong môi trường cụ thể của đời sống
hay trong sự giáo dục (học đường), trong sự hiểu biết, trong
pháp học, trong thế giới kinh tế và việc làm, trong các cơ
chế của chính trị và luật pháp vv.. Tiếp nữa, Nhân Quyền
được mở rộng cho tất cả mọi người dân được hiểu biết, cho
tương xứng với giá trị nhân phẩm của con người và cũng tương
xứng những ǵ mà luật tự nhiên đ̣i hỏi. Vậy th́, trách nhiệm
và phận vụ chính đáng mà chúng tôi đă luận bàn đó, tất yêu
cầu Nhà Nước phải bảo đảm những quyền căn bản này cho người
dân. Có nghĩa những chủ trương cùng mục đích của Nhà Nước
phải đươc thiết tạo dựa vào Nhân quyền, hầu tương hợp cho
những điều kiện chạy đều nền kinh tế, chạy đều đời sống xă
hội và chính trị cùng thăng hoá người dân và Đất Nước Nhà.
Thực thế, tư tưởng phổ quát của Nhân Quyền đ̣i hỏi các Chánh
Phủ trong thế giới ngày nay cần xây dựng một thể chế chính
trị lành mạnh, và một đời sống xă hội an ṭan cho ngươi dân
được no ấm cùng hạnh phúc làm người.
Do thế, đây chỉ là những tất yếu của
những quyền căn bản của con người mà lịch sử cụ thể của nhân
loại đă nhận thức được. Cho dù lịch sử con người có những
đa diện khác biệt, thế nhưng qua gịng thời gian, với những
nỗ lực của những người thiện chí, yêu chuộng dân chủ, tự do,
ḥa b́nh và đạo đức nhân bản, họ vẫn tiến tới sự hoàn thành
thực thi hóa Nhân Quyền cho hết con người. Sự thực thi hoá
Nhân Quyền cụ thể này không thể nào là không “đụng chạm” đến
những lời kết án về chính trị, về hành vi đạo đức và luân lư
của giai cấp cầm quyền. Bởi lư do thường là những phức tạp
và tương thuộc vào các nan giải của đời sống xă hội, và
những học thuyết phi nhân, không tưởng hoặc những chủ nghĩa
di hại đến con người. Tuy thế, những nhà chính trị có thể có
một chỗ dựa hoàn toàn bảo đảm cho ḿnh, là những lời khuyên
của những nhà khao học nhân bản, các nhà đạo đức, hầu giải
quyết cho họ những khó khăn của Đất Nước và xă hội loài
người.
V. TƯ TƯỞNG CỦA ĐỨC CỐ GIÁO HOÀNG
GIO-AN PHAO-LÔ ĐỆ II VỀ NHÂN
QUYỀN
Qủa khi người ta muốn chú giải hay b́nh
phẩm những ngôn ngữ của Đức Thánh Cha Gio-An Phao-Lô Đệ Nhị,
th́ người ta không quên rằng những ngôn ngữ Ngài phát ngôn
và sử dụng đó không chỉ là lư thuyết của hệ thống triết lư
hay thần học – nhưng c̣n được phát xuất từ sự sinh thành của
những cơ hội cụ thể khác nhau – đó là những cơ hội liên quan
đến đời sống, hoàn cảnh cụ thế của giáo hữu, của nhân loại.
5.1. Lư Do Của Nhân Quyền Trong Giá Trị Nhân
Phẩm Của Mỗi Cá Vị Con Người
Nhân Quyền là điểm tối quan trọng, qua đó
Đức Giào Hoàng Gio-an Phao lồ Đệ Nhị thường lập đi, lập lại
ư tưởng của ḿnh không ngừng với sự thiết tha khẩn nài các
nhà cầm quyên, các cộng đồng chính trị cần tôn trọng và thực
thi. Theo Ngài, Nhân Quyền là nguồn suối, cội nguồn trong
nhân phẩm không thể xúc phạm đến cái hữu thể con người hay
cá vị con người. Sự biểu thị nguồn gốc của Nhân Quyền này
được dựa vào một lư thuyềt chung của triết học, dựa vào một
sự đạo đức chung của nhân loại. Những luận cứ về “ phẩm giá”
không thể đụng đến mỗi cá vị con nguời, được Ngài quy hướng
vế các giáo hữu cũng như cho hết thảy những người không Kitô
giáo, nói tóm lại Ngài quy hướng cho có một hiệu lực chung
cả hoàn vũ. Sự hoàn vũ và phổ quát này cũng cho phép Đức
Thánh Cha không ngưng đối chiếu các việc làm của các vị tiên
nhiệm của ḿnh. Giống như tất cả các vị tiền nhiệm trước đây,
các Vị đă đọc những lời tuyên ngôn quốc tế Nhân Quyền,
đáng lưu ư tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc, đơn cử Thông Điệp
Redemptor Hominis, Đấng Cứu Thế. Đây là một hoàn cảnh đặc
biệt tôn giáo được hiện diện trang trọng trước Diễn Đàn
Quốc Tế, và ngươi ta trông thấy được sự chuyển động của Nhân
Quyền, mà qua đó nhân phẩm không thể xúc phạm của con người
được xây dựng trên h́nh ảnh Thiên Chúa. Lấy đó là sự chính
đáng Nhân Quyền của Kitô hữu, mà người ta được nghe thấy
giải thích như thế tại Diễn Đàn Liên Hiệp Quốc này (14). Qủa
thực, qua Thông Điệp này th́ Nhân Quyền một đôi khi xây dựng
trên một quan điểm hoàn toàn con người, và không những chỉ
hướng về cho những người Công Giáo, hay nhũng người Kitô
giáo, song hoàn toàn hướng về cho hết thảy mọi người, hết
thảy các Quốc Gia, Dân Tộc. Đó là những luận cứ mà Đức Thánh
Cha Gioan Phao lô II hằng quan tâm và nhấn mạnh. Như thế
Thông Điệp Redemptor Hominis, có phần mang những ngữ căn là
Nhân Quyền, để tăng thêm một điểm mạnh cho Kitô giáo, cho
Giáo Hội và Thần Học.
Trong nhiều lần công bố, chúng tôi thấy
Ngài gần gủi với tư tưởng triết lư căn bản của Nhân Quyền,
trong sự hệ trọng này Đức Giáo Hoàng tỏ thái độ bênh vực
Nhân Quyền đối với hết mọi người nam và nữ, không có sự phân
biệt sắc tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo. Và
thái độ này của Ngài cũng hướng về các trẻ em: các em không
phải là một cá thể để trục lợi, không phải là đồ vật, nhưng
là một chủ thể với những quyền không thể xâm phạm được. Các
em là một con người, một nhân vị, được ở trong thế giới để
tươi nở, thế nên các em trẻ có giá trị đặc thù của em, có
một dụng đích độc đáo của em (bài Diễn văn đọc vào Năm Quốc
Tế Trẻ Em). Với chủ đích này, Đức Gioan Phao-lô II quan tâm
đến tất cả mọi diễn biến của thời sự quốc tế, có nghĩa là
trong những lư thuyết mới và trong sự tuyên bố về Nhân
Quyền. Nhất là, Ngài lưu ư đặc biệt đên quyền sự sống (như
bài diễn văn Ngài đọc trước Đại Hội của Phong Trào Sự Sống
vào ngày 26.2.1979., và bài giảng của Ngài tại Nowy Tags vào
ngày 8.6.1979, Ngài nhấn mạnh đến một cái quyền bắt đầu tư
giây phút thụ thai, cho nên phải có cái quyền được sinh ra
(un droit à la naissance), cũng như có cái quyền được hiện
diện với thế giới trong một gia đ́nh chân thực ( xin xem bài
diễn văn Ngài đọc trước Hiệp Hội Báo Chí Âu Châu cho những
quyền của trẻ em, vào ngày 13.1.1979).
Cũng thế những chuyến công du mục vụ của
Ngài, Đức Gioan Phao-lô Đệ Nhị đều xem trọng vấn đề Nhân
Quyền, như hai bài diễn văn Ngài đọc trước diễn đàn Hội Nghị
tại Puebla : trước một số thính giả nguời Ấn Độ và những
người nông dân, cũng như đứng trước những thợ thuyền tại
Monterrey, Ngài hằng xem trọng đến nhân phẩm không thể xúc
phạm, và đến Nhân Quyền mà Ngài đề cao đến nhân vị của họ.
Ngài nhận ra những con người mà thiên hạ xem là anh thợ tâm
thường, hay bác nhà nông quê mùa cũng có phẩm giá của họ,
chúng ta không có quyền trục lợi và ngược đăi xem thường họ.
Bởi vậy Ngài muốn loại bỏ tất cà những hàng rào trục lợi này
qua một cái “quyền của thợ thuyền, quyền được tổ chức nghiệp
đoàn để bênh vực, bảo vệ cho những quyền lợi chính đáng của
họ (droit de l’ouvrier, de s’organiser en syndicat pour la
défence de ses propres intérêts). Cũng thế, Đức Giào Hoàng
đ̣i hỏi cho họ có cái quyền hưởng được một đồng lương xứng
đáng và một quyền an sinh xă hội (droit à un salaire décent
et à une sécurité sociale).
Những quyền của mỗi người khi họ là người,
th́ được xây dựng trên giá trị phẩm giá của họ, những quyền
đó cũng đuợc đánh giá và phê b́nh cho tất cả các chủ trương,
các hệ thống và các chế độ chính trị (xin xem Redemptor
Hominis £ 17). Những quyền giá trị đó là chiều kích của sự
công b́nh xă hội trong đời sống của những thể chế chính trị,
được xem là điều kiện của ḥa b́nh và ngăn cản sự chiến
tranh, được xem là hàng rào chống lại chế độ độc tài, chế độ
tân thực dân và chế độ đế quốc cùng bá quyền.
5.2. Tính Xác Thực Của Nhân Quyền
Đức Giáo Hoàng Phao Lô Đê Nhị thường lo
lắng và hằng ư thức ḿnh chưa hội đủ việc tranh đấu và bênh
vực cho Nhân Quyền. Thế nên trong một thông điệp Ngài gửi
cho ông Kurt Waldheim, Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, nhân cơ
hội kỷ niệm 30 mươi năm công bố Bản Hiến Chương Quốc Tế Nhân
Quyền, Ngài cổ vơ và ủng hộ cho những công việc hệ trọng và
những sự cố gắng của Liên Hiệp Quốc giải quyết các vần đề
Nhân Quyền trên thế giới, hầu tạo thêm những phương tiện cho
những quyền riêng tư này đuợc bảo đảm hơn. Ngài lưu ư với
ông rằng, Nhân quyền đă bi xúc phạm trong các phân bộ của xă
hội thế giới. cũng như sự vi phạm hay sự chà đạp Nhân Quyền
không những ở nơi quyền hành thể chế của Nhà Nước. Nhưng
cũng c̣n ở nơi các trại tập trung, trại tù, các sự tra tấn,
khủng bố và phân biệt chủng tộc. Cũng thế, với những lư do
chính trị và xă hội tự do thái qúa, Ngài cũng đ̣i hỏi một sự
bảo đảm hiệu qủa hơn cho Nhân Quyền.
Chúng ta cũng thấy Ngài hằng theo dơi,
quan sát và nhận thức các Hiệp Định, Hiệp Uớc của các Quốc
Gia, của Quốc Tế, và hằng quan tâm đến sự hiệu lực, sự công
b́nh của các Hiệp Ứớc và các Hiệp Định này.. Để rồi, Ngài
gửi những lời chào thăm hỏi và chúc thành đạt các Hiệp Định
trong b́nh đẳng và công b́nh.
Ngài cũng luôn theo dơi và quan tâm đến
những vấn đề vi phạm Nhân Quyền, thế nên Ngài thỉnh cầu một
sự bảo đảm b́nh đẳng trước một toà án chống lại các sự vi
phạm Nhân Quyền, và ṭa án đó cần giữ một sự công chính và
công minh xét xử cho vấn đề này. Cũng thế, với cái nh́n rộng
và quan điểm quốc tế, Ngài cổ vơ cho kiểu mẫu cùa Ủy Ban Âu
Châu Nhân Quyền hay Toà Án Nhân Quyền Âu Châu (La Commissin
Européen Des Droirts De L’Homme et de La Cour Européenne Des
Droits De l’Homme). Tuy nhiên Đức Giáo Hoàng Phao-lô Đệ Nhị
không đến đó, và các Vị tiền nhiệm của Ngài cũng thế. Ngài
đánh giá một vài sự thực thi và hiệu nghiệm của sự việc bằng
các lời khích lệ hoặc sự yêu cầu về tinh thần và luân lư.
5.3. Sự Đặc Biệt Của Nhân Quyền
Giáo Hội Công Giáo với vấn đề Nhân Quyền,
được tiêu biểu qua khuôn mặt của Đức Giáo Hoàng Gio-an
Phao-lô Đệ Nhị, là Người chiến sĩ kiên cường của Chúa Kitô,
tranh đấu không biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ cho những
người nghèo khổ, cho những sự bất công của xă hội, tranh đấu
với các nhà cầm quyền, với thể chế chính trị phi nhân bản
vv., để có được một thế giới an ḥa, t́nh thương và nhân đạo.
Những Thông Điệp, những Diễn Văn của Ngài vang dội đó đây
khắp thế giới qua những chuyền du hành thời danh viếng thăm
mục vụ. Qua một vài đặc tính chung của những tư tưởng và
những lời công bố của Ngài : không ǵ hơn, chính là tâm điểm
Nhân quyền. Để qua tâm điểm Nhân Quyền này, Đức Giáo Hoàng
Gio-an Phao-lô Đệ Nhị luôn tiếp tục khẩn nài lưu ư đến vấn
đề đ̣i hỏi chung cho xă hội: như đạo đức công giáo phải được
bảo vệ, kế là những điều kiện và những quyền hành động của
Giáo Hội phải được các Nhà Nước tôn trọng: chẳng hạn như sự
phong chức Linh Mục, tấn phong Giám Mục, thuyên chuyển các
vị vv..
Cũng thế, trong vấn đề Nhân Quyền, th́
Ngài đ̣i hỏi quyền tự do cho con người, Ngài bênh vực cho
quyền tôn trọng thân thể con người và quyền sự sống. Ngài
viết hẳn một Thông Điệp Quyền Sự Sống này. Qua Thông Điệp
Tin Mừng Sự Sống thời danh (15). V́ cái quyền sự sống này là
một quyền chính đáng và lành mạnh, vả nữa khi chúng ta đối
chiếu với những đ̣i hỏi của Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, qua
cái quyền được sinh ra mà Đức Phao-lô viết nên Thông Điệp Sự
Sống Con Người. Một quyền như thế tất nhiên là tương hợp với
học thuyết xă hội công giáo, cũng như tương hợp trong khung
cảnh của sự phát triển quốc tế của Nhân Quyền. Tuy Thông
Điêp và tư ttởng là mới mẻ, nhưng nó xứng đáng là một bằng
chứng xác thực hơn về sự đóng góp lớn lao của Giáo Hội Công
Giáo cho những quyền căn bản thiết thực của con người. Hơn
nữa, ư thức quyền đuợc sinh ra này, làm cho chúng ta thấy
được sự xác tín của cái quyền sư sống hệ trọng dường bao, và
khi nói đến đây, th́ cũng đáng cho thiên hạ quan tâm đến
Thông Diệp Ḥa B́nh Dưới Thế của Đức Giáo Hoàng Gio-an
XXIII. Từ đó chúng ta thấy học thuyết xă hội của Giáo Hội
Công Giáo đă phục vụ một ngôn ngữ t́nh người, ngôn ngữ của
yêu thương và Nhân Quyền của thời đại mới, phổ quát và được
nh́n nhận hơn ở trong ḷng thế giới hoàn vũ.
Để tương hợp với hiệu năng và tiềm lực
của sự b́nh phẩm cùng chính xác hơn cho một phần học thuyết
xă hội công giáo, th́ Đức Thánh Cha quan tâm và nhấn mạnh về
những quyền xă hội, đại để về những nguyền tắc của sự công
b́nh xă hội. Nói chính xác hơn, đơn cử quyền làm việc và
quyền tổ chức nghiệp đoàn, đó là những quyền lành mạnh mà
Nhà Nước không thể xâm phạm và bác bỏ những quyền này của
người dân. V́ khi Nhà Nước bác bỏ, không cho phép thi rơ
ràng là một Nhà Nước độc tài, chuyên chế và bạo chúa như Bắc
Kinh, Hà Nội, B́nh Nhưỡng, Cu Ba, Miến Điện vv.. Cho dù họ
giải thích thế nào đi nữa th́ chỉ là một cách đơn phương,
theo chủ nghĩa tập trung quyền hành và quyền lực. Lư hơn đây
là một sự hạn chế của những quyền tự do cá nhân của ngựi
dân, tất nhiên các Nhà Nước ấy đă vi phạm trắng trợn Nhân
Quyền. Thực thế, những ǵ liên quan đến quyền làm việc, lư
tự nhiên người ta yêu cầu cần có quyền tổ chức một nghiệp
đoàn (h́nh thái của một quyền tự do cá nhân, đúng hơn quyền
tự do hiệp hội).
Để từ quan điểm này nó tự quan hệ đến Nhân
Quyền trong ư nghĩa nghiêm túc của một quyền công chúng. Bởi
v́, khi giải thích quyền tự do hiệp hội hay tự do tổ chức
nghiệp đoàn như quyền công chúng, th́ có thể tạo thành sự
đưa vào đinh chế hầu đem lại những công việc hữu ích cho Nhà
Nước, nhất là không thể mâu thuẫn lại Nhân Quyền khác, đáng
lưu ư là những quyền tự do cá nhân. Hay nữa, quyền việc làm
có thể hiểu ngầm là cái quyền chung cho mọi người dân, trong
đó chúng ta cũng hiều rằng cái quyền tổ chức và thành lập
các nghiệp đoàn. Điều này là dấu chỉ muốn nói rằng chính
sách kinh tế hay chính trị xă hội đước bảo đảm hiệu lực cho
những người thất nghiệp không bị thiết hại về đời sống cá
nhân hoặc gia đ́nh họ. Thế đó cái bổn phận và trách nhiệm
này không chỉ đưa ra cho những lư do sự hoàn hảo của xă hội,
nhưng trước hết đó là h́nh thái của sự công b́nh xă hội và
phẩm giá con người, đ̣i hỏi bất cứ Nhà Nước nào hiện hữu
trên địa cầu đều phải tôn trọng và thực thi cho người dân
ḿnh được tự do có những quyền nói này.
Trong những Nhân Quyền đuợc gợi ra hơn cả
và đuợc Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô Đệ Nhị thỉnh cầu và
đ̣i hỏi hơn hết, chúng ta bắt thấy nó trên tất cả mọi sự, đó
là sự thiết yếu các hoạt động của chính Giáo Hội. Được liệt
vào hàng đầu, th́ người ta bắt thấy là quyền con người, Ngài
luôn đ̣i hỏi nhiều quyền cho con người : chẳng hạn quyền tự
do tư tưởng, tự do luơng tâm và tôn giáo, tự do ngôn luân và
báo chí, tự do truyền thông vv., tất cả điều đặc biệt dưới
dạng thái của tôn giáo. Đức Gioan Phao lô Đệ Nhị xem sự tự
do tôn giáo này chính là nền tảng của tất cả các sự tự do
khác. Sự tự do đó một đôi khi có tính cách lịch sử và cũng
có tính cách khách quan, chúng tương hổ và liên quan nhau.
Do thê, Ngài nh́n thấy cái điểm tôn giáo này đáng lo ngại
hơn hết, thường bị đe dọa do một vài chính quyền độc tài
thường thấy ở các nước cộng sản tạo ra. Thế nên, mới được
gợi ra và công bố về sự tự do tôn giáo do Công Đồng Vaticano
Đệ II qua Thông Diệp Dignitatic Humanae, Phẩm Giá Con Người
: “phải có cho mỗi cá vị con nguời trong khung cảnh sự hiện
hữu của chúng ta, chính là với cơ hội tuyên xưng niềm tin và
sự xác tín của họ, một ḿnh hay với người khác, trong tư gia
hoặc nơi công chúng”.
Cũng trong những Nhân Quyền thỉnh cầu với
những Nhà cầm quyền hấu mưu ích cho Giáo Hội, chúng tôi phải
cần kể ra đây rằng : Giáo Hội thương nhắc nhở các Nhà Nước
trong trách nhiệm và bổn phấn của ḿnh, phải sẵn sàng giúp
đỡ và uỷ lạo những bệnh nhân, người nghèo khổ và người tàn
tật, mà Đức Thánh Cha yêu cầu cần có một thái độ niềm nở,
yêu chuộng những công việc cứu trợ, một cách tương hợp như
những hội đoàn bác ái và các tổ chức thiện nguyện cùng cứu
giúp của Giáo Hội Công Giáo giúp đỡ tha nhân. Ngài chống lại
một thái độ và một h́nh thái độc quyền trợ giúp do Nhà Nuớc,
đôi khi nghịch lại những nguyên tắc nền tảng của học thuyết
xă hội và chính trị công giáo : có nghĩa nguyên tắc phụ trợ
(le principe de la subsidiarité).
Những đ̣i hỏi của Nhân quyền không trực
tiếp thuộc về những giáo luật đạo đức xă hội xưa của công
giáo, cũng không là quyền cá biệt của Giáo Hội đối với uy
quyền của Nhà Nước, nhưng chỉ xuất hiện cho những quyền căn
bản, những quyền tất nhiên và sự tự do cùng quyền lợi, cho
phẩm giá và sự sống của con người. Thế đó, qua sự tuơng hợp
quyền sự sống, quyền được sinh ra và quyền tự do tôn giáo,
cùng những quyền tự do cá nhân khác của con người được Ngài
nhắc nhở luôn trong các thông diệp và diễn văn của ḿnh, tất
cả chỉ v́ Nhân Quyền. Ngay cả những quyền chính trị và tham
dự vào đời sống chính trị, th́ Đức Gio-an Phao-lô II cũng
thường đề cập đến, hầu như Ngài không thể im lặng trước
những vần đề các Nhà Nước và Chánh Quyền trên thế giới luôn
xúc phạm Nhân Quyền và hạ giá trị nhân phẩm của người dân.
Do vậy Đức Thánh Cha hằng hướng về các vị Quốc Trưởng hay
các vị Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, Ngài nêu rơ cái quyền
tham dự vào những quyết định hệ trọng của Đất Nước th́ cũng
liên quan đến người dân. Và qua các bài diễn văn hay thông
điệp, Ngài nhắc nhở đến cái quyền chính trị, cái quyền xă
hội và quyền tự quyết định của người dân và dân tộc họ.
Những quyền đó trở nên làm chủ cho chính vận mạng của ḿnh,
chớ không phải sống theo vận mạng của ḿnh do người khác đặt
định. Cũng thế Ngài nói một yếu tố tất nhiên cho cái quyền
tự định đoạt này của người dân là cái quyền hiện hữu và đóng
góp vận mạng ḿnh và vận mạng dân tộc (bài giảng Lễ cho một
chuyến công du mục vụ ở Nam Mỹ vào năm 1999).
5.4. Sự Quan Trọng Của Nhân Quyền Trong Đời
Sống Nội Tâm Của Giáo Hội
Bên cạnh bản chất tôn tôn giáo và uy tín
của ḿnh, th́ Giáo Hội cũng kết án những h́nh thức đậm nét
phi nhân bản của một vài thế chế chính trị-xă hội rất được
nhiều người trên thế giới chăm chú lắng nghe. Bởi thế vị
lănh đạo Giáo Hội, là Đức Giáo Hoàng, không chỉ là một sức
mạnh tinh thần, nhưng cũng c̣n là một sức mạnh của quyền
chính trị . Như thế, trong chiều hướng này mà Giáo Hội cũng
được xem là một thể chế chính trị-xă hội (nh́n theo quan
điểm đạo đức chính tri-xă hội, xin hiểu Giáo Hội đứng về mặt
lănh đạo tinh thần, chớ không phải về mặt cai trị khi xét về
khiá cạnh tôn giáo. Thế nhưng Giáo Hội cũng là con người,
tất đương nhiên cũng có những quyền căn bản của con người
hay gọi là Nhân Quyền. Khi người ta xét về khiá cạnh con
nguời và xă hội, th́ Giáo Hội có quyền đ̣i hỏi những quyền
căn bản này cho ḿnh, cho con người và cho người dân. Chỉ có
phỉ có phỉ quyền Hà Nội và tập đoàn Đảng gian phi của chúng
kém học thức và hiểu biết, nên thường “chụp mũ” ẩu và vu
khống bậy bạ cho những vĩ lănh đạo tôn giáo tranh đấu nhân
quyền là làm chính trị). Thế nên, Giáo Hội cũng phải chịu
những lời chỉ trích, phê phán mà Giáo Hội nỗ công xây dựng
cùng thiết lập cho tất cả những thể chế chính trị-xă hội có
được một bộ mặt nhân bản, đáng lưu ư đến những quy tắc công
chính của chính trị-xă hội và những giá trị đạo đức mới của
thời đại nay trong tiến tŕnh Nhân quyền. Như có lần Đức
Thánh Cha Gio-an Phao-lô đứng trước các nhà lănh đạo các tổ
chức Hiệp Hội người Do Thái, Ngài nói với họ rằng “Giáo Hội
Công Giáo phản đối, bằng thực hành và bằng nguyến tắc tất cả
những sự vi phạm Nhân Quyền khắp mọi nơi, mà ở đâu sự vi
phạm Nhân Quyền đó xuất hiện trong thế giới”. (1999). Lời
tuyên bố này cũng hướng về cho các cộng đồng chính trị và
những những uy quyền chính trị và các Nhà cầm quyền bên
ngoài Giáo Hội, tuy nhiên chính Giáo Hội cũng cấu thành một
cộng đồng chính trị tạo được một sức mạnh tinh thần cùng
những uy quyền và uy tính của ḿnh (xin qúy vị xem thêm bài
“Chính Trị Nhân Bản”). Điều này Đức Giáo Hoàng giải thích
một cách mặc nhiên, qua đó Ngài đă khẳng định và giải thích
qua trong bài diễn văn ngắn đối với các vị thẩm phán và luật
sư của Toà Án Rote vào ngày 17.2.1979. Ngài nói rằng “V́ lẽ
rằng Giáo Hội cũng có những cơ cấu của quyền chính trị,
những cơ cấu đó hoàn toàn là tuỳ thuộc cho những đ̣i hỏi của
Nhân Quyền, Pour autant que l’Eglise a aussi des structures
de droit politique, celle-ci sont également subordonnées aux
exigences des droits de l’homme”. Và c̣n nữa “ Giáo Hội có
một nhiệm vụ đặc thù huớng về Nhân Quyền; bởi v́ Giáo Hội
phải trở nên một cái gương soi của sự công chính, l’Eglise a
une tâche particulière envers les droits de l’homme; car
elle doit être un miroir de justice”. Quan điểm này có những
thành quả được kể như sau :
Như Khóa Họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục
vào năm 1971 đă thể hiện một cách nhiệt t́nh rằng “ Ai muốn
nói sự công b́nh cho mọi người th́ trước tiên phải trở nên
công chính trước mắt họ, Quiconque veut parler de justice
aux hommes doit d’abord être juste à leurs yeux”. Và trong
Thông Điệp về Nhân Quyền và sự hoà giải, Đức Giáo Hoàng
Phao-lô Đệ VI đă nói lên những lời sau “ Giáo Hội nhờ kinh
nghiệm nên biết phục vụ Nhân Quyền trong một thế giới hằng
đ̣i hỏi cấn có một sự thường trực xét lại lương tâm, và một
sự tẩy rửa những vết bẩn của đời sống riêng của ḿnh, một sự
tẫy rữa của các thể chể, của các guống máy cầm quyền và của
các h́nh thức hành động … Dưới ánh sáng của bổn phận Tin
Mừng hóa cho chúng tôi thụ lănh, để thích ứng về những quyết
định riêng của chúng tôi cho sự phát động, sự phát động đó
khắp cả trong Giáo Hội, đó là Nhân Quyền và sự ḥa giải”
(16). Đoạn văn này là biểu thị không những vế sự tranh đấu
Nhân Quyền của Đức Phao Lô VI – mà qua đó trong những diễn
tiến cũng như trong tất cả những lời tuyên bố của Đức Giáo
Ḥang Gio-an Phao-lô Đệ II, được xem là một chủ đích cho
t́nh thế chính trị-luân lư của Giáo Hội hướng về tha nhân,
la position politico-morale de l’Eglise envers d’autres.
VI. ĐÔI LỜI KẾT LUẬN
Thế đó Giáo Hội Công Giáo, qua gương và
chứng nhân hùng hồn của các vị Thủ Lănh Giáo Hội, hằng quan
tâm, lo lắng và tranh đấu cho Nhân Quyền được tôn trọng và
thực hiện trong ḷng các xă hội con người trên thế giới này.
Con đường đem lại yêu thương, đem lại b́nh an, hạnh phúc và
phục vụ con cái ḿnh, không ǵ đẹp hơn là phương cách “tranh
đấu” bằng Nhân Quyền mà qua nhiều triều đại Giáo Hoàng của
Giáo Hội, các Ngài đă thể hiện tấm ḷng yêu thương con người
cùng tôn trọng họ của ḿnh qua các Thông Điệp, Tông Huấn,
Diễn Văn và Huấn Từ, mà chúng tôi đă nói qua và trích ra tư
tưởng cùng hành động của các Ngài. Điển h́nh khuôn mặt nỗi
bật nhất trong thời đại chúng ta là Đức Cố Giáo Hoàng Gio-an
Phao-lô Đệ II, chính sự tranh đấu không biết mệt mỏi, nhờ
ḷng can đảm và yêu người chí t́nh như Lời Chúa dạy, mà Ngài
đă cứu sống cả tỷ người thoát được cái nạn gông cùm của Cộng
Sản vô thần và phi nhân bản. Ngài trở nên vị đại cứu tinh
anh hùng của hằng trăm triệu con tim, là tấm gương soi cho
tất cả chúng ta nên bắt chuớc noi theo mà hành động cứu
người, cứu đời và cứu thế giống Ngài.
Do thế, xin qúy vị đừng sợ chính trị hay
ngại dấn thân vào chính trị! V́ chính trị của chúng ta là
bằng phương cách tranh đấu Nhân Quyền, đ̣i hỏi Nhân Quyền
cho người dân. Phương cách tranh đấu này là một loại chính
trị tinh thần, đạo đức, nhân đạo và nhân bản hợp với tinh
thần Tin Mừng của Chúa Kitô Cứu Thế, và hợp với học thuyết
xă hội chính trị công giáo của Giáo Hội Công Giáo, mà chúng
tôi đă luận bàn với qúy vị ở những phần trên.
Xin quư vị và chúng tôi phó thác vào sự
phù trợ của Đức Mẹ La Vang cho con đường tranh đấu này, là
đ̣i hỏi công lư, công minh và công b́nh, và đ̣i hỏi cho
những Nhân Quyền làm người, quyết định vận mạng của ḿnh,
của người dân Việt. Với Quyền Năng của Chúa Thánh Thần, và
với Đức Mẹ La Vang hằng cứu giúp, phù trợ cho con cái của
ḿnh… Thế nên chúng ta tin rằng trái tim Chúa sẽ thắng, trái
tim Mẹ sẽ thắng, tất thắng và chúng ta cũng được dự phần
đồng thắng với Chúa và Đức Mẹ La Vang.
Nam Giao Lê Thiện B́nh
CHÚ THÍCH
1. Xin xem : “ La
Consutation Du Conseil Oecumenique Des Eglises” à Saint
Pölten, oct.1974. và :“Droits De L’homme Et Anti-Racisme :
Un Programme Pour La Fédération Des Eglises Protestantes De
La Suise”, Lausanne-Berne 1976; et “Communiqué Conjoint à La
L’Occasion Du XXV Aniversaire De La Déclaration Universelle
Des Droits De L’Homme, par La Commission Pontificale
“Justitia et Pax” et Le Conseil Oecumenique Des Eglises,
Oss. Romano, 14.12.1973, éd. Hebdomadaire en lange francaise.
2. Xin xem E. Burke : “
Reflection On The Revolution In The France”, 1970, trad.
Francaise de la 3 édition anglaise; và H. Taine : “Les
Origines De La France Contemporaine, 1876-1894. En
particulier pour la réaction catholique à la Déclaration de
1789; xin xem thêm F. Le Play, Réforme Sociale, 1864.
3. Xin
xem Chương “Die traditionellle Distanz des deutschen
Protestantismus zu den Menschenrechten” trong sách: của W.
Huber, H.E. Tödt : Menschenrechte, Perspektiven einer
menschlichen Welt, Stuttgart -Berlin 1977, trang 44-55.
4. Xin
xem Kant “Métaphysique Des Moeurs”, Paris 1971, 1re. partie:
La Doctrine du Droit, Princinpes métaphysiques de la
doctrine du droit, Introduction à la doctrine du droit et &
46 et 47; Vers la paix perpétuelle, éd. J. Darberllay,
Paris-St-Maurice 1974.
5. K.
Marx : “La Question Juive”, éd. Allemande-Francaise, Paris
1971, p. 154 (104ss.)
6. Xin
xem H. Maier : “ Revolution und Kirche: Studien zur
Frügeschichte der christlichen Demokratie,
1965;
xin xem thêm H. Guillemet : “ Histoire Des Catholiques
Francaises au XIX Siècle, Paris 1974; và E. Lecanuet,
Montalembert, t. II, p. 286-315.
7. Xin xem “L’Eglise et Les
Droits de L’homme”, Document de travail de la Commission
“Justitia et Pax”, Rome 1975.
8. Xin xem Le Pape Léon
XIII, Lettre Encyclique “Immortale Dei”, dans : A.F. Utz, La
doctrine sociale de L’Eglise, Fribourg 1973, p.2021-2057.
“De la constitution chrétienne des Etats”, Latin-Francaise,
p.2033. Xin xem thêm các Tài Liệu của các Đức Giáo Hoàng
về Công Đồng Vaticano Đệ II, Pape Jean XXIII “Pacem in
Terris”, Paris 1963; Concilium Oecumenicum Vaticanum II.
Concile Oecuménique Vatican II, Documents Conciliaires,
Paris 1967; Pape Paul VI “Documents Pontificaux de Paul
VI”, St-Maurice 1967-1979; Muốn xem thêm các tài liệu và
những sự can thiệp của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô Đệ Nhị :
xim xem tuần báo bằng Anh Ngữ hay Pháp Ngữ, Ư Ngữ của
“L’Osservatore Romano”.
9. Xin xem và tham khảo các
tài liệu và sách báo về Nhân Quyền và Kitô Giáo sau: J.Y.
Calvez “Johannes XIII und die Menschenrechte”, Mannheim
1966;
- Ph. De La Chapelle :
“La Déclaration Universelle des Droirts de L’Homme et le
Catholicisme”, Paris 1967.
- P. Gramain “Les
Droitrs Internationaux de l’Homme”, Paris 1933.
- G. Gurvitch “ La
Déclaration des Droits Sociaux”, New York 1944.
- A. N. Mandeltam “La
Protection Intrenationale des Droits de L’Homme”, dans
“Reccuiel des cours” par L’Académie de Droit International,
Paris 1931, IV, p. 128-230.
- J. Mourgeon “Les
Droits de L’homme”, Paris 1978.
10. Jacque Maritaine “ Les
Droits de L’Homme et La Loi Naturelle”, Paris 1947, Nguyên
bản Anh Ngữ “Human Rights”, New York 1942, et “L’Homme et
Etat”, Paris 1953; ibid. “Les Droits de L’Homme”, Paris-Unesco
1950; ibid. “Christianisme et Démocratie”, New York 1943;
ibid. “Pour La Justice”, New York 1945; ibd. “Principes
d’une Politique Humaniste”, New York 1944.
11. Xin xem Tài Liệu Synode
Romain des Evêques (26.10.1974). trích từ Herder
Korrespndenz 28(1974), p. 624.
12. Xin xem J. M. Aubert
“Vivre en Chrétienne au XX Siècle”, 2 vol; t. II: No. III;
La Politique, Mulhouse 1976-1977; et J. Leclercq “Essai de
morale Catholique”, 4 vol., Tournai-Paris 1947-1950; et A.
Manaranche “L’Esprit de la Loi : Morale Fondamentale”, Paris
1977.
13. Xin xem O. Höffe “Die
Menschenrechte als Legitimation demokratischer Politik” dans
“Freiburger Zeitschrift für Philosophie und Theologie”, 26
(1979), p.3-24.
14. Xin xem O. Hoffe
“Philosophie und christliche Ethik :
überlegungen zu einem
neuen Handbuch”, dans “Freiburger Zeitschrifs für
Philosophie und Theologie” 26 (1979) 3e partie.
15. Xin xem Jean Paul II
“L’Evangile De La Vie”, éd. Cef-Flamarion, Paris 1995.
NHỮNG SÁCH BÁO VÀ TÀI
LIỆU THAM KHẢO THÊM
-
Vantican II “Les Seize Documents Conciliaires”, éd. Fides,
Montréal-Paris 1967.
-
Centesimus Annus (Prix de position et texte de l’encyclique
Rerum Novarum”, éd. Universitaires Fribourg 1992.
-
Henri Tincq “Jean Paul II “1920-2005” L’Homme, Le Salut,
Père, Le Stratège”, éd. Libiro, Paris 2005.
-
Jean Offredo “20 Ans De Pontifcat”, éd. Michel Lafon, Paris
1988.
-
Jean Paul II “Mémoire Et Identité”, Le Testament Politique
et Spirituel du Pape, éd. Flamarion, Paris 2005.
-
Jean Paul II “L’Evangile De La Vie”, Présentation par Xavier
Lacroix, éd. Cerf-Flamarion, Paris 1995.
-
Jean Paul II “ Le Centenaire De Rerum Novarum”,
L’enseignement sociale de l’Eglise – Lettre Encyclique
Centesismus Annus de Jean Paưl II, Introduction de Hugues
Puel, op., éd. Cef, Paris 1992.
-
Lettre Apostoslique Mulieris Dignitatem Du Souverain
Pontifle Jean Paul II sur la Dignité et la Vocation de la
Femme à l’occasion de l’Année Mariale, éd. Cité du Vatican.
-
Jean Paul II “L’Encyclique Veritatis Splendor”, éd.
Centurion, Paris 1993.
-
Jean Paul II, Lettre Encyclique de Jean Paul II “Solicitudo
rei Socialis-La Question Sociale”, ed. Cerf, Paris 1988.
-
Paul VI “ L’Encyclique Populorum Progressio-Le Développement
des Peuples”, éd. Centurion, Paris 1967.
-
Jean XXIII “ L’Encyclique Pacem in Terris- Paix sur Terre”,
éd. Fleuris, Paris 1963.
-
Encylical of John XXIII “Master et Magistra”, Christianity
and Social, New York 1962.
- Pie
XII “Qu’est ce qu’une vraie Démocratie?”, Message
Radiophonique de Noel 1944, éd. Lux, Genève 1945.
- Pie
XII “Humani Generis” Lettre Encyclique du 12 Aout 1950, sur
certaines opinions fausses qui menacent de ruinner les
fondaments de la doctrine catholique.
- Pie
XII “Quanta Cura et Syllabus”, Publication diffusée par :
l’office international des oeuvres de formation civique et
l’action doctrional selon le droit naturel et chrétien,
Canada-Espaznà-France-Great Britaine-Susse-U.S.A.
-
Léon XIII “Libertas Praestatintissimun-Sur La Liberté
Humaine, 20 Juin 1888, Publication recommadée et diffusée
par l’office international des oeuvres de formation civique
et d’action doctrionale selon le droit naturel et chrétien,
Sion- Paris-Buenos-Aires, Londres-Madrid-Quebec 1962.
- Pie
XI “Quadragessimo Anno” L’Encyclique sur la Restauration de
l’Ordre Social 15.Mai 1931, éd. Spec, Paris 1932.
- Ecole
Nomale Social “Commentaire Pratique de l’Encyclique sur
Condition des Ouvriers”, éd.
Spec, Paris 1932.
- La Croix
“25 Ans Le Journal Du Pontificat”, Paris 2006.
|