From:
VietHai Tran
<viethai712@yahoo.com>
Date: 2010/6/13
Subject: [GoiDan] Re: Điểm sách
"Tâm Tư TT Thiệu"
To: Vo Ba Thien <vobathien42@yahoo.com>,
Tran Huu Gia <tranhuugia@hotmail.com>,
Ton That Tue <anvihy@yahoo.ca>,
Than Trong An <trankimvanmontreal@yahoo.ca>,
Phan Ni Tan <phannitan@yahoo.com>,
Pham Dang Hung <hungphamdang@yahoo.com>,
Nguyen Luong Tuyen <luong.tuyen.nguyen@muhc.mcgill.ca>,
Dang Tan Hau <dhau@rogers.com>,
Mac Van Trong <vantrongmac@gmail.com>,
Lam van Be <van.lam@sympatico.ca>,
Hoang Sa <thuanvtran@yahoo.com>,
Truong Sa <truongsa2002ca@yahoo.ca>,
Lam Cong Quyen <qclam@hotmail.com>,
Lam Chan Tho <tlamchan@excite.com>,
Dang Dinh Long <Longddang92843@yahoo.com>,
Tran Mong Lam <lammongtran@yahoo.com>,
Nghe Thuat <nthuat@sympatico.ca>,
Le thi Yen Thu <yenthule@videotron.ca>,
Le Du <du.le@videotron.ca>,
Nguyen Ba Dinh <nguyenbadinh@yahoo.com>,
Nguyen Luong Tuyen <luongtuyennguyen@yahoo.com>,
Viet Vung Vinh <vietvungvinh@yahoo.com>,
Vietland <admin@vietland.net>,
Vietland 2 <info@vietland.net>,
Hoang Van <hoang4eb@gmail.com>,
Tran Hoang Nam <viethai712@yahoo.com>,
Dong Tran <dongtran.vktn@gmail.com>,
Bang Hoang <hoangraphic2000@yahoo.com>,
Giang Hồng <info@tapchingonluan.de>,
Dieu Van <dieuvan27@yahoo.com>,
Dat Thai <datthai43@live.com>,
Le Chinh <chinh-le@sbcglobal.net>,
Hoa Thai <thaivanhoa05@yahoo.com>,
Huynh Luong Thien <huynhluongthien@yahoo.com>,
Linh Vu <vulinh@hotmail.com>
Cc: Mai Thanh Truyet <envirovn@gmail.com>,
Chau Van De <hoangchaumn@yahoo.com>,
Pham Thong <conongtxusa@yahoo.com>,
Truong Luong <tapchitgm@comcast.net>,
Thu Nga <dofamily@aol.com>,
Duong Phuc <duongphuc@radiosaigonhouston.com>,
Doan Khang <doantankhang@hotmail.com>,
Pham Long <maclyhuong@yahoo.com>,
Van Tran <vietassoc@aim.com>,
Le Khac Ly <lekhacly@yahoo.com>,
Matthew Tran <eaglevn1@yahoo.com>,
Pham Hoai Viet <Pham_hoaiviet1@msn.com>,
Tran Tue <tuetran313@sbcglobal.net>,
Chau Van Loc <vanlocchau@yahoo.com>,
Nguyen Minh Can <innacan2005@yahoo.com>,
Vu Thu Hien <harryvudin@gmail.com>,
Tran Binh Nam <binhnam@sbcglobal.net>,
Ho Duc Chinh <chinhho86@yahoo.com>,
Nguyen Thanh Trang <nttrangvnhr@yahoo.com>,
Tran Van Trung <tran_van_trung.joseph@aliceadsl.fr>,
Ha Mai Viet <vietmha@yahoo.com>,
Dong Anh <donganhndt@yahoo.com>,
Ngo Van Hieu <hieuvanngo@sbcglobal.net>,
Nguyen Van Duc <nguyenvanduc2@sbcglobal.net>,
Le Minh Nguyen <leminhnguyen@gmail.com>,
Chu Ba Yen <yenchu36@aol.com>,
Viet Vung Vinh <hungnguyen00@googlemail.com>,
nguyen.myloan@neuf.fr,
ttnguyen_21@hotmail.com
On Sun, 6/13/10, VietHai Tran <viethai712@yahoo.com>
wrote:
Subject: Vũ Ánh - Điểm sách "Tâm
Tư TT Thiệu"
To: "Thang Cao Nguyen" <nguyenthangcao@yahoo.com>,
"Mai Thanh Truyet" <envirovn@gmail.com>,
"Chau Van De" <hoangchaumn@yahoo.com>,
"Viet Hai" <viethai712@yahoo.com>
Date: Sunday, June 13, 2010,
1:41 PM
Intro chapeau: Góp chữ về sách
“Tâm tư Tổng Thống Thiệu”.
Nhiều độc giả đọc sách “Tâm tư
Tổng Thống Thiệu” (xin được gọi
tắt là 5 Tê) đă thất vọng v́
ngao ngán, và thất vọng, đa số
điều được viết ra do chữ nghĩa
xào nấu cóp nhặt từ kho tài liệu
giải mật của Huê Kỳ, từ những
sách bán trong các tiệm sách hay
có trong thư viện. Ví dụ theo
ông tại Bắc Cali như sau:
“Trước đây hai quyển Hồ Sơ Mật
dinh Độc lập, và Khi Đồng Minh
Tháo Chạy cũng đă được tổ chức
ra mắt rầm rộ, và được khá đông
người mua. Nhưng nội dung những
thông tin chính trong các quyển
sách đó, đều có thể dễ dàng t́m
thấy trong vô số sách của các
tác giả người Mỹ, và trong các
declassified papers của CIA; và
phần nhiều những sách hay tài
liệu đó nay đều có trong các thư
viện và trên các websites. Nghĩa
là free!
Trương Đ́nh Trung, Sunnyvale,
5/18/2010”
Do đó, khi ghi tựa sách
là “Tâm tư Tổng Thống
Thiệu” không chuẩn lắm,
nó như sự thể "dụ khị"
hay "đánh lận con đen"
khiến bà con chú ư để
mua đọc cho đỡ buồn khi
nền kinh tế sa sút của
Obama đáng buồn thật.
Với nhận xét chủ quan,
tôi đề nghị tác giả khi
tái bản đổi tựa đề lả "Những
điều tôi biết về Tổng
Thống Thiệu”, tránh đi
tên 5 Tê mà bị bà con
bảo là "Thật t́nh thật
thất tín".
Tôi đọc nhận xét của quư
vị Nguyễn Đạt Thịnh, Tôn
Nữ Hoàng Hoa, Ngy Thanh,
Lữ Giang và Vũ Ánh, h́nh
như những ng̣i bút này
không mấy hài ḷng với 5
Tê. 5 Tê tiêu biểu cho
những luận cứ bào chữa,
những biện minh, đổ thừa,
đổ lỗi, nói quanh, nói
quẩn, nói chầy, nói cối,
với những dữ liệu cố thể
t́m được từ kho rừng già
Amazon.com hay
BarnesandNoble.com. Khi
mới đầu thoạt nghe về
“Tâm tư Tổng Thống Thiệu”
người viết mừng húm
tưởng đâu cụ Thiệu trao
bản thảo hồi kư giá trị
đại loại như "Mein Kampf"
của me-sừ Adolf Hitler,
hay My Life của tonton
Bill Clinton. Nhưng rồi
sách cho tôi ư tưởng "Lê
Lai phi Lê Lai" hay "Lê
Lai sát Lê Lợi", biện
minh để rồi ṿng vo tam
quốc tổ trác chỉ báo hại
Lê Lợi. Với cái mững này
trưóc 75, Lê Lai mất job
thơm như chơi thôi.
Trong tâm tư tôi nghĩ
tác giả là bậc mô phạm,
nhà giáo nêu gương cương
thường Khổng Mạnh, một
học giả uyên thâm sử
sách, một vị thức giả
viết sách cho ngàn sau,...
Rồi tôi nghe tác giả
không nhận ḿnh là người
viết sử nhưng những suy
luận, những ghi chép
trong 5 Tê thuộc về phạm
vi sử, thất vọng (I);
Rồi tôi nghe tác giả
không nhận ḿnh là người
am tường về lănh vực
quân sự khi bị bà con ta
quây quần on air theo
sách viết về những quyết
định quân sự th́ tác giả
xin mặc giáp "no
comment".
Cụ Thiệu vốn kín đáo và
đa nghi từ bản tính,
nhiều nguồn tin cho hay
cụ Thiệu ông không tin
cả cụ Thiệu bà, huống hồ
chi Mỹ, tướng lănh, quốc
hội, cụ Hương, cụ Khiêm,...
nhưng với tác giả được
cụ Thiệu lại ưu ái tâm
t́nh thỏ thẻ những điều
thuộc về dĩ văng nội tâm
của người mà thế giới
báo chí thèm thuồng nhỏ
dăi.
Sáng nay ḷng buồn thối
ruột, trước mặt là cuốn
hồng thư phảng phất ư
tưởng "Tâm t́nh về Lê
Lợi" do Lê Lai biên soạn,
rồi email bài viết do
nhà báo Lữ Giang gửi cho,
rồi nhà báo Vũ Ánh nhận
định hữu lư về 5 Tê, bài
được ông nhà báo từ OC
email chuyển cho xem đỡ
buồn. Nhà báo Vũ Ánh ao
ước với giả thuyết phải
chi sách 5 Tê ra đời
thuở cụ Thiệu c̣n sinh
tiền, sách sẽ giá trị
biết bao.
Nếu cụ Thiệu c̣n sinh
tiền, th́ có thể bề dầy
của sách 5 Tê sẽ khiêm
nhường hơn sách hiện hữu
trước mặt tôi, lời có
thể ít lời hơn cho hai
phạm trù ư tưởng bóng
bẩy cũng như đen ng̣m.
Nhưng biết đâu rằng nhờ
vậy mà những đứa bé tinh
thần và đường văn nghiệp
của "Lê Lai tân thời" có
chiều hướng đi lên thật
cao và thật bạo th́ sao
nhỉ ?
Cám ơn quư nhà báo Vũ
Ánh, Nguyễn Đạt Thịnh,
và Lữ Giang tiếp tục cho
tầm nhả tơ để bà con ta
mua vui chữ nghĩa ở thời
điểm kinh tế éo uột cuối
thu Obama buồn muốn chết
đi thôi. Nỗi buồn không
tên của cụ Hương khi
ngồi buồn...

Về cuốn “Tâm tư Tổng Thống
Thiệu”
Ngày 30 tháng 4 vừa rồi, có
khá nhiều sinh hoạt để đánh
dấu một thảm kịch chính trị
và quân sự lớn diễn ra trong
đời của những người thuộc
lớp tuổi chúng tôi hiện nay,
70, ngoài 70 hay ít hơn tuổi
70. Nhưng tôi và một số bạn
bè của tôi là những người
không đi hành hương ở trên
hàng không mẫu hạm USS
Midway, hay căn cứ Camp
Pendleton hoặc tham dự một
cuộc hội ngộ của những trẻ
mồ côi được những người Mỹ
tốt bụng như bà Betty
Tisdale mang ra khỏi những
cơn lốc dẫn tới sụp đổ của
miền Nam Việt Nam mà nay họ
đă trở thành những người
thành công ở xă hội Mỹ muốn
trở về Little Saigon như một
lời xác nhận nguồn gốc của
ḿnh.
Đằng sau pḥng làm việc của
tôi tại nhật báo Việt Herald
là một hội trường, nơi một
đồng nghiệp của tôi cách đây
35 năm, ông Trần Khiêm một
phóng viên mặt trận, từng
làm việc cho hai công ty
truyền h́nh Mỹ ABC và CBS
trưng bày một số h́nh ảnh
ông đă chụp được lúc bỏ Huế,
bỏ Đà Nẵng và cuộc di tản
đầy máu, nước mắt và sự tủi
nhục của lính, của dân tại
miền Trung Việt Nam. Đằng
trước cửa ṭa báo, một chiếc
xe sơn mầu cờ VNCH với cái
biểu ngữ chụp h́nh tướng
Nguyễn Văn Thiệu mặc lễ phục
trắng với đầy đủ huy chương
và trên chiếc nón của ông
chắc chắn có một tín niệm:
Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm.
Bên cạnh bức h́nh là hàng
chữ đ̣i tờ Việt Herald phải
trả lại danh dự cho Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu và
quân, dân, cán, chính VNCH.
Chờ cho đến lúc pḥng trưng
bày vắng khách, tôi lặng lẽ
hàng giờ trước những bức ảnh
là nhân chứng thực sự cho
một giai đoạn không tránh
được cái thế thua của miền
Nam Việt Nam dù những người
lính trong những bức h́nh
này một thời chiến đấu dũng
mănh. Họ c̣n rất trẻ, đứng
ngồi dồn cục trên những băi
biển, chờ đợi trong tuyệt
vọng những chiếc tầu hải
quân đến để đưa họ xuống một
tuyến pḥng vệ nào đó ở
phương Nam .
Những bức h́nh khác mô tả
những đoàn dân chúng bỏ làng
mạc đồng ruộng mang theo cả
những con trâu, chân phải bó
bằng những tấm mền được xé
ra v́ đă sứt móng do kéo lê
quá lâu trên mặt đường nhựa
quốc lộạ 1, một thiếu phụ bế
đứa con nhỏ và một người
lính trên một băi biển vắng
đầy những vỏ xe mà dân chúng
và lính dùng để bơi ra các
tầu hải quân. Rơ ràng người
lính, thiếu phụ với đứa con
nhỏ đă ở trong tuyệt lộ.
Chắc chắn trong làn sóng
người cả quân lẫn dân di tản
về phương Nam ít có người
hiểu được hay được nói cho
biết những ǵ mà 35 năm sau
được tŕnh bày trong những
tác bán rất chạy của tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng, một người
cũng nằm trong số những nhà
lănh đạo của họ.
Lần đầu khi vị tiến sĩ trẻ
tuổi từng lănh đạo một bộ
trong chính phủ của Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu khai
sinh cuốn “Hồ sơ mật Dinh
Độc Lập,” chúng tôi c̣n nằm
trong những trại tù Cộng Sản.
Cuốn thứ hai “Khi Đồng Minh
tháo chạy” được in ra, chúng
tôi đang mưu sinh ở một quê
hương mới sau khi phải trả
cái giá của gần 14 năm tù
trong các trại tù Cộng Sản,
nơi mà nhiều người bạn,
nhiều đồng đội của chúng tôi,
trong đó có cả người sĩ quan
phi công thân tín, lái trực
thăng riêng cho Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu đă phải bỏ
ḿnh trong một trại tù khổ
sai mà Cộng Sản thiết lập ở
miền Bắc Việt Nam.
Đọc “Khi Đồng Minh tháo chạy”
ḷng bùng lên sự giận dữ,
nhớ lại nụ cười sởi lởi,
những lời nói vỗ về đăi bôi
của Richard Nixon và Henry
Kissinger với ông Thiệu tại
Ṭa Bạch Ốc Miền Tây ở San
Clemente, nhưng rồi khi cơn
giận qua đi, tôi lại tự hỏi:
“VNCH mà ông Thiệu là đại
diện phải trách chính ḿnh
hay trách người?” Đă có một
thời gian khá dài sau Hội
Nghị San Clemente, chúng tôi
hy vọng ông Thiệu sẽ xuất
hiện khắp nơi trên đất nước
để nói với quân, với dân
rằng chúng ta sẽ phải đánh
trận theo kiểu nhà nghèo, sẽ
phải thắt lưng buộc bụng, sẽ
phải bớt dùng trực thăng,
phi pháo, sẽ phải cơm nắm
muối mèợ hành quân, sẽ phải
tiết kiệm từng viên đạn, hậu
phương phải bớt xa hoa lăng
phí, sẽ phải đem những sâu
dân mọt nước ra bắn vài tên
làm gương. Nhưng rất tiếc đó
vẫn chỉ là giấc mơ hoang
đường của lớp trẻ chúng tôi
thời ấy.
Nhớ lại khi về tới Sài G̣n
sau một chuyến đi đầy căng
thẳng và thất vọng, người
dân miền Nam không hề được
Tổng Thống Thiệu cho biết ǵ
về những thử thách mất, c̣n
của họ từng được định đoạt
tại Hội Nghị Paris và Hội
Nghị San Clemente. Những
người lính, những người dân
qua ống kính của Trần Khiêm
lại càng không biết ǵ về
nguyên nhân đẩy đưa họ vào
tuyệt lộ. Những người này
bây giờ ra sao? Số phận của
họ như thế nào? Họ có cần
một lời xin lỗi của những
nhà lănh đạo VNCH không?
C̣n nữa, những người vượt
biển may mắn đến được bến bờ
tự do, những gia đ́nh có
người nằm lại trên các đảo
tị nạn ở Đông Nam Á, hay làm
mồi cho cá ở Biển Đông trên
đường vượt biển, những người
HO, những người tới được
ngưỡng cửa của tự do rồi lại
bị trả lại chốn cũ, và nhất
là những người dân c̣n đang
số dưới chế độ khắc nghiệt ở
Việt Nam hiện nay có cần một
lời xin lỗi của những người
mà trước đó chỉ một chữ kư
của họ, cuộc đời của quân,
dân, cán, chính, có thể có
những thay đổi nghiêm trọng
không?
Những cái chết lẫm liệt của
các tướng lănh Nguyễn Khoa
Nam , Lê Văn Hưng, Trần Văn
Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn
Phú và đại tá Hồ Ngọc Cẩn,
TNS Trần Chánh Thành là
những di sản sáng ngời của
VNCH. Nhưng cái di sản về
trách nhiệm c̣n cần phải
được xét lại. Sự sụp đổ của
căn nhà VNCH cần phải được
qui trách chứ không lẽ tự
nhiên căn nhà ấy đổ sập
xuống? Việc làm hời hợt và
dễ dàng nhất là đổ cho Tổng
Thống Dương Văn Minh, người
ra lệnh đầu hàng. Nhưng việc
làm này không giải thích
được lịch sử miền Nam Việt
Nam sau Hiệp Định Geneva
1954 mà c̣n bóp méo sự thật.
Trong suốt thời kỳ cầm quyền
ở miền Nam hai chế độ được
nói tới nhiều nhất, đó là Đệ
Nhất Cộng Ḥa mà Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm là đại diện và
Đệ Nhị Cộng Ḥa mà Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu là
đại diện. Biến cố 30 tháng 4
liên hệ trực tiếp với thời
kỳ Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu cầm quyền nhiều hơn.
Những quyết định liên hệ đến
số phận của miền Nam Việt
Nam phần lớn đến từ chính
quyền Nguyễn Văn Thiệu.
Ấy vậy mà khi ra đi khỏi
nước ngày 25 tháng 4, 1975
giữa lúc đất nước ngả
nghiêng, Tổng Thống Thiệu đă
không hề để lại một hồi kư
nào, điều mà lẽ ra ông phải
làm cho dù ông là một tổng
thống bại trận. Trong bài
viết tưởng niệm niên trưởng
là trung tướng Nguyễn Văn
Thiệu đă ra đi, cựu đại tá
Vũ Văn Lộc (nhà b́nh luận
Giao Chỉ) đă viết: “Ông
Thiệu ra đi không để lại hồi
kư. Suốt 30 năm lưu vong,
trừ một thời gian xuất hiện
ngắn tại San Jose , ngoài ra
ông hoàn toàn kín tiếng và
sống ẩn dật. Không tiếp xúc
với báo chí, không để lại
các di sản cho lịch sử. Đặc
biệt là vấn nạn số 1 của
quốc gia là câu chuyện bang
giao với Hoa Kỳ trong các
năm cuối cùng không hề được
ghi lại. Niên trưởng Nguyễn
Văn Thiệu ôm lấy chuyện đau
ḷng của đất nước như chuyện
riêng của ông.”
Dĩ nhiên, không ai có thể
xác nhận có thật Tổng Thống
Thiệu ôm lấy chuyện đau ḷng
của đất nước như chuyện
riêng của ông hay không. Bởi
không ai có thể nh́n mối
liên hệ với Mỹ của ông là
chuyện riêng. Ông giao thiệp
với Mỹ không phải với tư
cách là công dân Nguyễn Văn
Thiệu mà là Tổng Thống VNCH
Nguyễn Văn Thiệu. Mối liên
hệ ấy ảnh hưởng rất lớn đến
vận mệnh của vùng đất và
người dân VNCH. Làm một tổng
thống mà ngay cả chuyện tâm
tư cũng là do một cộng sự
viên cũ của ḿnh mà lại
không phải là người thân tín
nhất viết giùm, Tổng Thống
Thiệu quả là bí mật thật.
Khi cầm trong tay cuốn “Tâm
tư Tổng Thống Thiệu” tôi
cũng tất ngạc nhiên, bởi v́
nghĩ rằng lần này chắc ông
Hưng t́m ra được những trang
hồi kư của ông Thiệu cất
giấu ở đâu đó. Nhưng khi đọc
hết 673 trang trong tác phẩm
tổng hợp này, kể cả phần tài
liệu dẫn chứng, mới vỡ lẽ ra
đây là một tác phẩm “xào lại”
những tài liệu đă được nói
tới trong các kho tài liệu
về chiến tranh Việt Nam được
Mỹ giải mật, một số bút phê
và thư riêng của ông Thiệu
gởi cho tác giả, và những
chuyện riêng tư chỉ có hai
người biết với nhau trong
những chuyến tác giả gặp lại
nhà lănh đạo của ḿnh sau
khi chiến tranh Việt Nam chỉ
c̣n trên sách báo.
Nhưng có một điều kẹt cho
tác giả Nguyễn Tiến Hưng là
những tiết lộ của ông Thiệu
về một số nhân vật, tướng
lănh VNCH mà tác giả viết ra
trong “Tâm tư Tổng Thống
Thiệu” chẳng hạn như Big
Minh trong vụ đảo chánh lật
đổ chế độ Ngô Đ́nh Diệm và
việc rút khỏi Cao Nguyên
Trung Phần của tướng Phạm
Văn Phú th́ các nhân chứng
đều đă qua đời vào những
thời gian trước cuốn sách
rất lâu. Một giáo sư tiến sĩ
đă vùi đầu vào những kho sử
liệu để viết ra tác phẩm như
giáo sư Nguyễn Tiến Hưng,
ông nghĩ sao về câu nói:
“Người chết không biện minh
được,” nhất là những người
chết bị cáo buộc. Liệu những
điều mà tác giả Nguyễn Tiến
Hưng viết ra điều này có giá
trị sử liệu không?
Tôi chỉ là một anh phóng
viên phụ trách tường thuật
tin tức hoạt động liên quan
đến Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu cho hệ thống truyền
thanh quốc gia, nhưng những
năm làm công việc này, tôi
hiểu nhân vật nào chung
quanh ông Thiệu có thể nói
rơ tâm tư của ông trong cơn
băo lịch sử ấy. Tôi nhấn
mạnh “tâm tư” chứ không phải
“hành động” của Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu vào những
giờ phút căng thẳng nhất
trong đời ông.
Chuyện này khiến tôi nhớ lại
khoảng thời gian làm việc
với tờ Sóng Thần, họa sĩ
biếm họa Chóe thường hay
tham khảo với tôi về đề tài
cho tranh biếm họa ở trang
nhất. Có một lần tôi thách
Chóe: “Tôi đố cậu vẽ ông
Thiệu sao cho thật giống
ổng.” Chóe hẹn đến hôm sau.
Năm giờ sáng hôm sau khi tôi
c̣n đang ngồi uống cà phê
trong ṭa soạn, Chóe mang
bức biếm họa tới. Lúc đó vụ
gián điệp Vũ Ngọc Nhạ đang
nổ tung, Chóe nói: “Bức này
mà đăng lên có thể bị tịch
thu báo.” Tôi nh́n bức biếm
họa và nói: “Giống quá, lát
đi ăn phở.” Chóe nói:
“Nguyễn Cao Kỳ, Nixon, Lê
Đức Thọ vẽ dễ vài nét là
xong. Nhưng ông Thiệu rất
khó vẽ v́ nét đặc biệt ẩn
giấu, không hiện lên khuôn
mặt. Thùng giấy nhà em đầy
cứng những tờ giấy em vẽ rồi
lại vứt đi. Cả đêm cứ loay
hoay măi về ông.” Tôi cười:
“Tao phải để ông Uyên Thao
và bà Trùng Dương quyết định
có đăng hay không. Nghe cậu
nói báo đăng bức h́nh này
báo bị tịch thu sợ bỏ mẹ.”
Chuyện cũ xảy ra đă lâu lắm
rồi, đến nay khuôn mặt của
ông Thiệu một lần nữa lại
được tiến sĩ Nguyễn Tiến
Hưng vẽ lại. Tôi sẽ tiếp tục
điểm lại từng tảng mầu trên
bức chân dung này, cứ gọi là
di sản đi cho nó êm ái, qua
cuốn “Tâm tư Tổng Thống
Thiệu” vào những kỳ tới.
Cuốn sách của tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng dĩ nhiên là vẫn
bán được bởi nó có một giá
trị nhất định, bởi những độc
giả ủng hộ ông Thiệu cần
biết thực sự về nỗi ḷng của
vị cựu nguyên thủ VNCH nghĩ
ǵ về biến cố ngày 30 tháng
4, 1975, bởi những người có
ư muốn phục hồi danh dự của
một nhà lănh đạo đào thoát
giữa lúc đất nước trên bờ
vực thẳm hy vọng có thể rút
ra được một chi tiết nào có
thể củng cố được cho những
lời biện minh cho lănh tụ,
bởi những người nào muốn
nh́n xem những dữ kiện lịch
sử có bị sửa chữa hay không
để có thể rút ra được bài
học cho chính ḿnh và cuối
cùng những ai chạy theo
chính sách đổ lỗi cho nhà
lănh đạo này có thể thể yên
trí về những lời cáo buộc.
Nói tóm lại, tác giả Nguyễn
Tiến Hưng với “Tâm tư Tổng
Thống Thiệu” vẫn là một bậc
thầy về cách khai thác
thương mại từ một đống những
kho tài liệu mật đă hết
“mật,” hay những chuyện
riêng tư chỉ có hai người
biết với nhau mà người ta
tưởng là sử liệu. Tôi nói
“tưởng là sử liệu” bởi v́
câu chuyện riêng tư đó chỉ
là chuyện riêng tư và nếu
không chứng minh được đó là
sự thật th́ chắc chắn chúng
không phải là sử liệu. Nó
chỉ là sử liệu khi người ta
nêu được nhân chứng khả tín
hay phù hợp với những liệu
khác.
Chẳng hạn như việc Tổng
Thống Thiệu viết thư nhờ ông
Hưng làm cách nào để đính
chính một lời tuyên bố của
ông về phong trào thuyền
nhân bị báo “Now,” mà theo
lời Tổng Thống Thiệu, đă bóp
béo lời ông thay v́ “for”
th́ họ viết thành “with”
thực ra không phải là tâm tư
của ông Thiệu mà chỉ là
chuyện “đính chính,” “nói
lại cho đúng.” Nhưng một câu
hỏi được đặt ra: Liệu phóng
viên báo “Now” đă không cải
chính theo lời Tổng Thống
Thiệu yêu cầu v́ họ đă có
băng thu thanh hay không?
Theo nghĩa thông thường mà
nhiều người hiểu th́ chữ
“tâm tư” dùng để mô tả những
ư nghĩ phát xuất từ cơi ḷng
của ḿnh về một t́nh trạng,
một sự việc, một biến cố,
hay về những con người trong
quá khứ hoặc hiện tại. Trong
gần suốt tác phẩm, người đọc
chỉ thấy “những điều ông suy
nghĩ, tính toán và thổ lộ sự
chua xót, kèm theo những
điều chúng tôi (tác giả) đă
t́m hiểu thêm được về tâm tư
Tổng Thống Thiệu đối với
đồng minh.” Tướng Nguyễn Văn
Thiệu là Tổng Thống hai
nhiệm kỳ, là Tổng Tư Lệnh
Quân Đội VNCH. Cho nên, khi
bỏ đất nước để ra đi giữa
lúc vận nước đă như chỉ mành
treo chuông, ông có tâm tư
ǵ không sau khi đă định cư
yên ổn tại nước Anh?
Không ai có thể tin là ông
Thiệu không có. Cũng không
ai có thể tin rằng Tổng
Thống Thiệu không nghĩ đến
hàng chục tướng lănh dưới
quyền ông, nhưng ông nghĩ
thế nào về các tướng đă tuẫn
tiết, các tướng đă lưu vong
ở Mỹ, các tướng đă bị bắt
làm tù binh và bị đẩy vào
các trại tù Cộng Sản th́
hoàn toàn kín như bưng. Hơn
nữa, không thấy ông Thiệu
nghĩ ǵ về công hay tội của
chính ông trong nhiều năm
cầm quyền nhưng cuối cùng đă
không làm trọn được tín
niệm: Tổ Quốc, Danh Dự và
Trách Nhiệm.
Trong cuốn sách, tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng có minh
định rằng ông không phải là
sử gia nên không viết sử.
Ông chỉ chú trọng đến chính
Tổng Thống Thiệu và nói đến
tâm tư của người lănh đạo
miền Nam đặc biệt là về đồng
minh. À ra thế! Nhưng nếu
ông Nguyễn Văn Thiệu chỉ là
một ông Nguyễn Văn Thiệu
b́nh thường th́ không nói
làm ǵ, th́ không ai buộc
ông phải có những suy nghĩ
về chính ḿnh đối với biến
cố 30 tháng 4, thay v́ chỉ
nghĩ đến chuyện đồng minh
Hoa Kỳ phản bội không những
đối với ông mà c̣n đối với
hàng chục triệu dân dưới
quyền lănh đạo của ông.
Hành động, suy nghĩ, và tâm
tư của ông là dữ kiện lịch
sử. Cho nên những dữ kiện
chỉ có riêng tác giả và Tổng
Thống Thiệu biết không thể
giúp cho độc giả suy nghĩ ǵ
được bởi nó không được chứng
minh rơ ràng, không thể
“clear” được như chữ nghĩa
ông Thiệu dùng trong thư gởi
cho tác giả từ London . Một
điều rất khó hiểu là trong
“Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” mà
lẽ ra tác giả phải thêm vào
hàng chữ “với đồng minh Hoa
Kỳ,” có nhiều nhân chứng rất
quan trọng phải để cho họ
phản bác v́ liên quan đến cá
nhân họ. Nhưng tiếc thay
những nhân chứng ấy đă chết.
Người chết th́ làm sao mà
biện minh, đồng ư hay phủ
nhận?
Thí dụ ở Chương 2, nhan đề
“Ai cố vấn cho Tổng Thống
Thiệu rút quân?,” là một
chương tôi cho rằng rất quan
trọng, bởi vấn đề này gây
tranh luận và kéo dài cho
đến bây giờ trong giới HO
chúng tôi nói riêng và đồng
hương nói chung. Nhưng khi
đọc từ trang 40 cho đến
trang 63, tôi hơi thất vọng
v́ tất cả những dữ kiện liên
hệ rất nhiều đến các tướng
lănh VNCH cũng như Hoa Kỳ,
từ tướng Đồng Văn Khuyên,
Tham Mưu Trưởng Liên Quân,
tướng John Murray, tùy viên
quân sự Mỹ, người kế vị
tướng Creighton Abrams, đại
sứ Graham Martin, tướng Ted
Sarong, ông Ngô Khắc Tỉnh bộ
trưởng và là người thân của
ông Thiệu, tướng
Westmoreland, đại tướng Cao
Văn Viên, tướng Ngô Quang
Trưởng, tướng Phạm Văn Phú.
Nhưng thử hỏi c̣n bao nhiêu
người trong số những nhân
chứng này c̣n sống để có thể
giúp làm sáng tỏ thêm vấn
đề?
Tướng Trưởng là người chịu
trách nhiệm về kế hoạch rút
Quân Đoàn I và tướng Phạm
Văn Phú là người chịu trách
nhiệm về việc rút Quân Đoàn
II sau cuộc họp ở Cam Ranh.
Nhưng đâu phải cứ làm tướng
muốn rút là rút. Phải có
lệnh của thượng cấp. Thượng
cấp ấy là Tổng Thống Thiệu,
Tổng Tư Lệnh Quân Đội. Trong
“Tâm tư Tổng Thống Thiệu,”
tác giả Nguyễn Tiến Hưng cho
thấy vấn đề phải bỏ đất nước
rất phức tạp và ông Thiệu
phải chọn lọc nhiều ư kiến
khác nhau. Nhưng cuối cùng
cuộc rút quân tại Quân Đoàn
I cũng như Quân Đoàn II đă
trở thành một thảm họa. Lỗi
tại ai?
Theo tác giả Nguyễn Tiến
Hưng, về cuộc họp tại Cam
Ranh, một cuộc họp quyết
định số phận của vùng cao
nguyên Trung Phần Việt Nam,
Tổng Thống Thiệu “cứ nhắc đi
nhắc lại” rằng ông ra “2
lệnh chứ không phải một
lệnh: Đó là thứ nhất rút
quân khỏi Pleiku để tái
chiếm Ban Mê Thuột và thứ
hai Bộ Tổng Tham Mưu theo
dơi, giám sát cuộc triệt
thoái này. Như vậy là có sự
sai biệt giữa tường thuật
của đại tướng Cao Văn Viên
và những ǵ Tổng Thống Thiệu
kể lại, theo tác giả Nguyễn
Tiến Hưng. Trong khi tướng
Viên chỉ viết: “Nhiệm vụ của
Quân Đoàn II là phối trí lại
các đơn vị cơ hữu của quân
đoàn để chiếm lại Ban Mê
Thuột theo lệnh của tổng
thống.”
Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nguyễn
Văn Thiệu th́ nói là ra 2
lệnh trong khi Tổng Tham Mưu
Trưởng Cao Văn Viên th́ nói
chỉ có một lệnh, vậy ai
đúng, ai sai? Tổng Thống
Thiệu, đại tướng Viên, thiếu
tướng Phú, nghĩa là 3 trong
số 5 nhân vật chính trong
buổi họp ở Cam Ranh ngày 14
tháng 3, 1975, quyết định
rút bỏ Quân Đoàn II, chỉ c̣n
đại tướng Trần Thiện Khiêm
và trung tướng Đặng Văn
Quang là c̣n sống.
Cuộc chiến đă kết thúc hơn
35 năm qua, tất cả những bí
mật của việc rút lui Vùng I
và Vùng II Chiến Thuật là
điều đă được bàn căi rất
nhiều với đủ thứ tài liệu
phần lớn là nằm trong khối
tài liệu mật đă hết mật của
Mỹ. Trong khi người phải
chịu trách nhiệm cho việc
này là Tổng Thống Thiệu th́
ông lại không chịu chính
thức nói ra mà lại chỉ nói
riêng với tác giả Nguyễn
Tiến Hưng. Nếu tác phẩm này
được in ấn trước khi Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu hay
những tướng lănh liên quan
thành người thiên cổ th́ tốt
biết bao. Nhưng ngược lại,
nó lại được in ra sau khi họ
qua đời rất lâu. Thành thử
vấn đề được nêu ra vẫn c̣n
tồn tại.
Ở trang 58, tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng viết: “Tôi hỏi ông
là bây giờ mọi chuyện đă
rồi, Tổng Thống nghĩ thế nào
về việc rút quân này. TT
Thiệu đă nhắc lại cho tôi
câu ông nói ngày 26 tháng 3
tại Dinh Độc Lập khi tôi hỏi
về Pleiku: ‘Tôi ra lệnh đúng
mà thi hành sai, cũng như
làm sao TT Nixon có thể sang
đây để kiểm soát được tướng
Creighton Abrams.’”
Câu tuyên bố của Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu rất quan
trọng bởi v́ có thể hiểu đây
như một lời cáo buộc tướng
Phạm Văn Phú (Tư Lệnh Quân
Đoàn II) đă không thi hành
đúng lệnh ông. Nhưng tướng
Phú đă tuẫn tiết để bảo toàn
danh dự trong biến cố 30
tháng 4, 1975 khác với vị
Tổng Tư Lệnh của ông dă
không bảo toàn được danh dự
của một tổng tư lệnh quân
đội. Bây giờ làm cách nào để
tướng Phú có thể lên tiếng
để xác nhận rằng ông nhận
được 2 lệnh hay chỉ nhận
được 1 lệnh và làm sao Tổng
Thống Thiệu có thể tái xác
nhận rằng ông có nói với
tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng
đúng như đă được ghi lại?
Ngoài ra, tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng c̣n viết ở trang
59: “Khi tôi hỏi ông Thiệu
là tại sao ông không ghi lại
cho lịch sử về việc này? Ông
nói: ‘Tôi hy vọng một ngày
nào một trong những người có
mặt hôm ấy (buổi họp ở Cam
Ranh ngày 14 tháng 3 năm
1975) sẽ nói ra điểm này.’ Ư
ông muốn nói là nếu tự ḿnh
nói ra th́ bị coi là bào
chữa.”
Đọc tới đoạn này, tôi tự
hỏi: “Một nhà lănh đạo như
Tổng Thống Thiệu th́ thừa
hiểu ông không thể bào chữa
ǵ được. Ông là người đứng
đầu hành pháp trên cả Thủ
Tướng Trần Thiện Khiêm. Ông
lănh đạo th́ ông phải chịu
trách nhiệm trước dân chúng
là những người đă bầu ông
lên, cho dù cấp dưới có làm
sai lệnh của ông về việc rút
khỏi Pleiku. Tổng Thống
Thiệu không để lại bút tích
hay ghi lại sự việc quan
trọng như vậy đă là một điều
sai. Dư luận có thể nghi ngờ
ông muốn xóa dấu vết để dễ
qui trách cho người dưới
quyền v́ thực ra, t́nh h́nh
cuối tháng 3 đă tuyệt vọng
rồi.
Dù có nói ǵ đi nữa, dù
tướng Phú, tướng Trưởng hay
tướng Viên không làm theo
đúng lệnh rút của ông th́
Tổng Thống Thiệu vẫn phải
nhận trách nhiệm không đổ
cho ai được. Khi viên chức
dưới quyền của một bộ làm
sai lệnh gây ra hậu quả lớn,
vị bộ trưởng phải xin lỗi và
có khi phải từ chức để tỏ
thiện chí nhận hết trách
nhiệm, huống chi một tổng tư
lệnh quân đội đối với một tư
lệnh quân đoàn.
V́ thế, qua những trang sách
mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng
gởi độc giả về vụ rút lui
khỏi Pleiku, dù ông không
nói ra nhưng rơ ràng việc
sắp xếp những sự kiện cho
thấy tác giả muốn giúp Tổng
Thống Thiệu biện minh mà
không cần viết hồi kư.
Nhưng cá nhân, tôi cho rằng
ư định của tiến sĩ Hưng thất
bại. Ở đây có nhiều người
muốn biện minh cho việc ra
đi của Tổng Thống Thiệu vào
ngày 25 tháng 4, 1975 với
chứng cớ nào là Mỹ ép ông
phải ra đi, nào là nếu không
bị Mỹ th́ vẫn có thể bị
những kẻ thù ám sát vân...
vân và vân... vân.
Thế nhưng một nhà lănh đạo
yêu nước, yêu quân đội, yêu
dân th́ sẽ không kể số ǵ
đối với những đe dọa hay áp
lực kể cả cái chết, bởi v́
chính ngay trong bài diễn
văn từ chức ngày 21 tháng 4,
1975, Tổng Thống Thiệu đă
hứa ở lại và chiến đấu với
quân đội đến giây phút cuối
cùng và sau đó ông đă phản
lại lời hứa.
Nh́n vào tên của tác phẩm
thứ ba của tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng, tôi vẫn nghĩ khi
đọc, nó sẽ làm cho tôi dễ
chịu hơn, sẽ có những dữ
kiện trong sáng hơn về ông
Thiệu thay v́ chỉ là một
đống dữ kiện nói lên cái bẽ
bàng về cuộc sống chung của
VNCH với một đồng minh không
chung thủy. Cũng như nhiều
người khác, tôi cũng hy vọng
là ít ra th́ ông Thiệu cũng
có những tâm tư có thể thay
cho một phần cuốn hồi kư của
ông để làm dịu đi sự bực dọc
của nhiều người khi sang
định cư ở Mỹ mà không thấy
nhà lănh đạo nào của VNCH tỏ
ra ân hận chứ chưa nói là
nhận lỗi về những diễn biến
đầy máu, nước mắt, những cái
chết, những sự hy sinh vô
ích và cả một miền đất rộng
lớn như miền Nam Việt Nam
phải sống dưới sự cai trị
khắc nghiệt và tàn bạo của
người Cộng Sản.
Nhưng rất tiếc, cho tới nay,
vẫn chỉ thấy chuyện đổ lỗi
cho nhau về biến cố 30 tháng
4, 1975 chứ chưa hề có nhà
lănh đạo nào nhận lỗi.
Tất cả đổ cho “Big Minh” là
gọn ghẽ nhất!
Những chương kế tiếp trong
“Tâm tư Tổng Thống Thiệu”
của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng
cũng không có ǵ lạ. Vẫn chỉ
là phần tổng hợp những chi
tiết từ những kho tài liệu
giải mật. Trong phần Tổng
Thống Thiệu chọn giờ để từ
chức th́ có một chi tiết sai
nho nhỏ của tác giả, đó là
ông Thiệu đọc diễn văn từ
chức vào buổi trưa ngày 21
tháng 4, 1975 tại Dinh Độc
Lập chứ không phải tối Chủ
Nhật.
Buổi trưa hôm đó, bài diễn
văn từ chức của Tổng Thống
Thiệu được Hệ Thống Truyền
Thanh Quốc Gia trực tiếp
truyền thanh và tôi là người
bị chỉ định điều khiển buổi
trực tiếp. Người phóng viên
nói trước máy vào buổi trưa
hôm đó là ông Nguyễn Mạnh
Tiến và đây là buổi trực
tiếp hay nhất trong đời làm
phóng viên của anh ở Việt
Nam , trong lúc ngoài trời
có một cơn mưa nhỏ.
Tôi bỏ qua những chi tiết
nói về những diễn biến tại
Dinh Độc Lập sau diễn văn từ
chức v́ đây không phải là
mục tiêu của bài này. Tôi
muốn đề cập tới chương 11
nhan đề “Chớ có trao quyền
cho tướng Minh” trong cuốn
“Tâm tư Tổng Thống Thiệu.”
Chương này cũng rất quan
trọng v́ liên hệ đến việc
chuyển giao quyền hành cho
tướng Dương Văn Minh.
Từ lâu, những người không ưa
tướng Dương Văn Minh có
khuynh hướng không công nhận
ông là một tổng thống hợp
pháp cũng như không coi ông
là một tổng thống cuối cùng
của chế độ.
Tôi không quan tâm lắm về
chuyện này, bởi tôi nghĩ
rằng lúc nào đó sự thật cũng
vẫn là sự thật. Dư luận
chính trị ở đây không thể
bóp méo được sự thật. Tôi và
nhiều người khác trong ngành
truyền thanh đă chứng kiến
những giây phút căng thẳng
khi Quốc Hội VNCH cố gắng
làm sao cho sự chuyển quyền
phải hợp hiến. Cuối cùng th́
nó đă hợp hiến và được loan
báo trên hệ thống truyền
thanh quốc gia VNCH. Hàng
triệu người đă có dịp theo
dơi tiến tŕnh này qua báo
chí và hệ thống truyền thông
của nhà nước.
Thế rồi, những năm tháng
trong các trại tù Cộng Sản
sau khi VNCH “sập tiệm,”
chúng tôi suy nghĩ rất nhiều
về điều này. Nhưng cũng kể
từ đó, chúng tôi chẳng buồn
nói tới việc hợp hiến hay
không hợp hiến trong việc
chuyển quyền cho đại tướng
Dương Văn Minh, người hùng
của chiến dịch Rừng Sát thời
Tổng Thống Diệm. Điều quan
trọng là ông Minh tuy phải
mang cái nhục của một tổng
thống đầu hàng, nhưng rơ
ràng đă tránh được cho Sài
G̣n thành biển máu, tránh
cho những người lính phải hy
sinh thêm nữa một cách vô
ích khi t́nh h́nh chẳng c̣n
cách ǵ cứu văn được.
Ngồi ở những buồng giam
trong rừng xanh núi đỏ, đám
tù nhân chúng tôi đôi lúc
nhớ lại và nói với nhau
những chuyện cũ. Có đứa vẫn
lư tưởng bàn chuyện hợp hiến
hay không hợp hiến khi ông
Minh lên nắm quyền. Nhưng
nhiều bạn tù với tôi có khi
bực dọc: “Hợp hiến với lại
chẳng hợp pháp, chúng mày cứ
bới bèo ra bọ, mẹ kiếp lúc
đó được người ta tiếp nhận
đống xà bần cho là may rồi,
bỏ chạy hết mà c̣n cứ nói mẽ
măi.”
Tôi cũng chẳng c̣n lạ ǵ khi
nghe nói tới giải pháp này
nọ trước khi ông Minh lên
cầm quyền 1 ngày rưỡi. Nhưng
điều làm tôi ngạc nhiên là
trong cuốn “Tâm tư Tổng
Thống Thiệu,” tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng lại dùng một tác
phẩm “ma” là cuốn “Saigon et
Moi.” Càng ngạc nhiên hơn
khi ông Hưng viết về đại sứ
Pháp tại Việt Nam Jean-Marie
Merillon, xin trích:
“Dù sao chúng tôi cứ tưởng
là một công chức chuyên
nghiệp, làm việc theo thủ
tục hành chánh, đầy đủ bổn
phận là được rồi. Có ngờ đâu
cái tên của ông đă dính chặt
vào những diễn biến tại
Saigon vào giờ thứ hai mươi
tư. Chính ông đă kể lại rất
rơ ràng những cố gắng của
ông trong cuốn hồi kư
'Saigon et Moi' nhưng v́ một
lư do nào đó, cuốn sách này
đă bị thu hồi ngay sau khi
xuất bản (1983) nên ít ai
được đọc” (trang 218-Tâm tư
Tổng Thống Thiệu).
Thế rồi những đoạn sau đó,
độc giả không hiểu tác giả
dùng tài liệu nào khác hay
là vẫn dùng tài liệu “Saigon
et Moi,” một cuốn hồi kư chỉ
nghe nói và không hề có bằng
chứng nào là của ông
Mérillon, tại sao lại bị thu
hồi và khi đọc tiểu sử của
vị đại sứ cuối cùng của nước
Pháp tại VNCH, cũng không
thấy ghi tác phẩm “Saigon et
Moi” được nói là của ông và
cũng chẳng có tài liệu nào
ghi lư do thu hồi cuốn sách
và ai có quyền thu hồi. Cá
nhân ông tự ư thu hồi, Bộ
Ngoại Giao Pháp hay Tổng
Thống Pháp? Hơn nữa không
một tiệm sách nào ở thủ đô
Paris có ghi đầu sách mang
tên “ Saigon et Moi.”
Ai cũng biết, tác giả Nguyễn
Tiến Hưng là người có học vị
cao và quảng giao. Ông c̣n
có thể “quậy” được đống tài
liệu mật được giải mật của
Hoa Kỳ, c̣n liên lạc được
nhiều chính khách Hoa Kỳ và
thế giới, bạn bè Mỹ Việt của
ông trong giới trí thức c̣n
rất đông. Sao ông không chịu
khó đưa ra bằng chứng cho
thấy quyển sách ấy có thật,
lư do nó bị thu hồi, chính
ông Mérillon hay là ai ra
lệnh thu hồi và nếu bị thu
hồi th́ tất nhiên gia đ́nh
Jean Marie-Mérillon vẫn c̣n
bản thảo và bản in chính để
lưu trữ?
Ai là người trong gia đ́nh
ông cựu đại sứ này c̣n lưu
trữ những tài liệu. Tác giả
lại là người có mối thân
t́nh–theo như mô tả của
chính ông trong “Tâm Tư Tổng
Thống Thiệu” (trang 218)–cho
nên tôi nghĩ tiến sĩ Nguyễn
Tiến Hưng có thừa điều kiện
để chứng minh cuốn “ Saigon
et Moi” có thật.
Điều này khá quan trọng v́ ở
Little Saigon này đă có một
cựu sĩ quan cao cấp VNCH
không biết lôi ở đâu ra một
bản tóm tắt được nói là của
cuốn “Saigon et Moi” do một
tác giả khác tóm lược chứ
không phải của Jean Marie
Mérillon, dịch ra đăng báo,
đọc trên đài loạn cả lên.
Cái “láu” của người được gọi
là tóm tắt cuốn “Saigon et
Moi” cho tới giờ này vẫn là
cuốn sách “ma” là dùng một
vài sự kiện có thật mà ai
cũng biết để thêm vào những
chi tiết không thể phối kiểm
được. Nội dung chỉ là đổ vấy
tướng Dương Văn Minh tội
“trên trời” chỉ có Thượng Đế
mới biết.
Không những thế, cuốn sách
lại c̣n dựng chuyện tướng
Nguyễn Khoa Nam đ̣i tử thủ
nhưng Tổng Thống Dương Văn
Minh không chịu. Cũng giống
như tướng Phạm Văn Phú,
tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư
Lệnh Quân Đoàn IV và Vùng IV
Chiến Thuật, đă tuẫn tiết.
Tổng Thống Dương Văn Minh
cũng đă mang những u uẩn
xuống tuyền đài, báo chí
ngoại quốc lúc đó c̣n đầy ra
ở các văn pḥng đường Tự Do
cũng không nói ǵ nhiều đến
vai tṛ của Jean Marie
Mérillon như được mô tả
trong bản tóm lược của
“Saigon et Moi.”
Vậy th́ những nhân chứng đă
chết có thể nào biện minh
được không? Khi các nhân
chứng đă chết, không c̣n
biện minh được trong khi
những chuyện họ nói ra là
chuyện “tầy trời” th́ phải
chăng những tác giả đă “ép
cung” họ ở dưới âm phủ để
viết lại những chuyện này
không?
V́ thế, những đoạn sau trong
Chương 11 như “Giải pháp Bảo
Đại,” “Tướng Minh không phải
De Gaulle,” “Ông Thiệu cố
vấn: chớ có trao quyền cho
tướng Minh,” “Pháp muốn
tướng Minh lên ngôi ngoài
khuôn khổ Hiến Pháp...”
trong đó có một số chi tiết
như chuyện tại sao ông Thiệu
không ưa tướng Dương Văn
Minh và tướng Dương Văn Minh
định tổ chức ám sát ông Diệm
khi ông Diệm từ Dinh Độc Lập
ra phi trường Tân Sơn Nhất,
việc dẹp Ấp Chiến Lược vân...
vân... mức độ tin cậy đối
với những chứng cớ tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng đưa ra rất
thấp.
Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng có
cái may mắn ra nước ngoài
cùng vợ con trước cả Tổng
Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm
cùng nhiều tướng lănh VNCH
khác, nhưng lại không có cái
may mắn chứng kiến cái gia
tài mà các quí vị để lại cho
những người dân, người lính,
và hàng triệu công chức cán
bộ VNCH chỉ c̣n là “tương
bần,” th́ lúc đó có đến 10
ông đại sứ như Jean Marie
Mérillon, có đến trăm ông
đại sứ như ông Graham
Martin, có đến ngàn ông
tướng như tướng Vanuxem cũng
không cứu nổi miền Nam Việt
Nam.
Chỉ tội cho những người ở
lại. Họ đă tiêu tuổi thanh
xuân trong chiến trận, rồi
trong những năm dài tù đầy,
ra khỏi trại tù th́ lại phải
sống trong cái nhà tù lớn
Việt Nam và khi được ḷng
nhân đạo của người Mỹ ngó
ngàng tới đưa sang được đất
nước tự do này th́ tóc đă
bạc trắng, da đă đồi mồi.
Cái may mắn c̣n lại của họ
là giờ đây họ c̣n cơ hội đọc
lại, suy gẫm lại những ǵ
được phơi ra trước ánh sáng
ban ngày: Xấu, tốt, ngay
thẳng, khuất lấp, chính, tà
rất phân minh. Nhất là, sau
cả một giai đoạn dài sống và
chiến đấu trong chiến tranh,
thăng trầm, qua nhiều biến
cố chính trị, quân sự, người
miền Nam Việt Nam ở hải
ngoại cũng như ở trong nước
không dễ ǵ để cho bị, hay
tự đeo vào mắt ḿnh những
cặp ba trá (miếng da che hai
bên mắt để chỉ nh́n thấy một
đường) đối với tất cả các
vấn đề thiết thân với họ.
V́ thế, đừng có ai hy vọng
ǵ khi đổ tội một cách bất
công cho người phu đổ rác mà
nên đổ tội cho những ai xả
rác trong căn nhà Việt Nam .
Tướng Dương Văn Minh chỉ là
một người phu đổ rác và theo
tôi ông là một tổng thống
đầu hàng, nhưng không phải
là người dâng miền Nam cho
Cộng Sản. Dù là ông Minh hay
bất cứ một ông nào khác tiếp
nhận cái gia tài “tương bần”
do ông Thiệu để lại, cũng sẽ
phải hành động như ông Minh
mà thôi, nghĩa là với mục
đích tránh đổ thêm máu một
cách vô ích. Tổng Thống
Dương Văn Minh, nhà lănh đạo
cuối cùng của VNCH, đă bị
Cộng Sản quản thúc một thời
gian sau khi đầu hàng. Sau
đó ông bị tống xuất sang
Pháp rồi từ Pháp ông xin
sang tái định cư tại
Pasadena . Ông giữ im lặng
cho đến khi nhắm mắt và được
chôn cất tại đây.
Như vậy, điều quan trọng
nhất trong biến cố 30 tháng
4, 1975 là không ai dâng
miền Nam cho Cộng Sản mà là
VNCH đă thua trận. Đầu hàng
là một biện pháp mà tổng
thống cuối cùng của VNCH
dùng để giải quyết cuộc
chiến v́ không thể nào khác
hơn được và do muốn tránh đổ
máu vào giờ thứ 25 khi những
người lẽ ra phải gánh trách
nhiệm đă bỏ đi. Điều quan
trọng là cho tới phút cuối
cùng, VNCH vẫn duy tŕ trật
tự và không hỗn loạn.
Cho nên, với tư cách là một
nhà báo đă đọc cuốn “Tâm tư
Tổng Thống Thiệu,” tôi có
thể nói rằng tác phẩm không
phải là tâm tư của một nhà
lănh đạo mà chỉ là một lời
biện minh giùm Tổng Thống
Thiệu sau khi ông đă mất
được khá lâu. Điều rơ ràng
là ông Thiệu không hề muốn
để lại một bút tích nào nói
đến tư tưởng và hành động
của ông khi cầm quyền. Vả
lại, ông Thiệu cũng thừa
hiểu rằng ông không thể nào
biện minh cho hành động bỏ
ra đi từ ngày 25 tháng 4,
1975 dù là bỏ đi với bất cứ
lư do nào. Điều quan trọng
là trên đất nước tự do này,
bất cứ ai cũng có thể biện
minh cho người ḿnh thích,
nhưng nó đ̣i hỏi lời biện
minh phải có chứng cớ khả
tín và không nên đổ tội cho
người khác để biện minh cho
ḿnh.
Điều thắc mắc cuối cùng của
tôi là cái kho tài liệu mật
không c̣n mật nữa về chiến
tranh Việt Nam c̣n nhiều, và
càng đọc người ta lại càng
thấy một số chính quyền và
chính khách Hoa Kỳ rất tàn
độc đối với đồng minh và
thật tử tế với kẻ thù. Nhưng
tôi nghĩ có lẽ công bằng hơn
th́ chúng ta cũng tự trách
ḿnh trước đă. Chúng ta thấy
chính quyền VNCH từ Ngô Đ́nh
Diệm cho tới Nguyễn Văn
Thiệu, có chính quyền nào mà
không do Mỹ dựng lên. Đó là
điểm yếu mà chúng tôi, khi
c̣n hoạt động trong ngành
tuyên truyền của VNCH, rất
khó đối phó khi kẻ địch nêu
lên vấn đề này.
Lẽ ra cuốn “Tâm thư Tổng
Thống Thiệu” của tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng nên có thêm
phần phân tích này và đ̣i
những nhà lănh đạo nào từng
cầm quyền bính tại VNCH nên
có một lời xin lỗi dân chúng
miền Nam Việt Nam về việc đă
không bảo vệ được họ mà
ngược lại đă không chịu nhận
những lỗi lầm dẫn đến sự sụp
đổ của VNCH. Và một điều nữa
cũng cần lưu ư càng bênh vực
các ông Ngô Đ́nh Diệm hay
ông Nguyễn Văn Thiệu mà
không dẫn chứng được bằng dữ
kiện th́ càng làm cho các
cuộc tranh luận thêm gay gắt
và người chết cũng chẳng
được yên ổn. (V.A.)
|