Nguồn:
Joseph Shapiro và Sandra
Bartlett, NPR
Lê Quốc
Tuấn, X-Cafe chuyển ngữ
02.09.2010

Các con tàu Việt Nam
đang đi vào Subic Bay
theo sự hướng dẫn của
chiến hạm Kirk
Ngày
30 tháng tư 1975, quân
đội Bắc Việt tiến vào
các đường phố vắng vẻ
của Sài G̣n. Những ciếc
xe te tăng đă cán sập
cánh cổng dinh tổng
thống và những người cán
binh treo cờ màu vàng đỏ
của Việt cộng.
Chỉ
vài giờ trước đó, những
người Mỹ cuối cùng đă
được sơ tán, cứu thoát
bằng những máy bay trực
thăng của Thuỷ Quân Lục
chiến đến Hàng Không mẫu
hạm Mỹ đang chờ ngoài
khơi bờ biển.
Chiến
tranh Việt Nam đă chính
thức đi qua. Bây giờ
những chiếc tàu hải quân
đang đi tỏa ra khỏi Việt
Nam.
Nhưng
có một ngoại lệ. Đêm đó,
thuyền trưởng một khu
trục hạm hộ tống nhỏ,
chiếc USS Kirk, đă nhận
được một mệnh lệnh bí
mật phải quay mũi trở
lại Việt Nam.
Hải quân
Nam Việt Nam: "Chúng ta
quên họ rồi"
Thuyền
trưởng Paul Jacobs đă
nhận được chỉ thị từ Đô
đốc Donald Whitmire, chỉ
huy chiến dịch di tản -
Operation Frequent Wind.
Ông đă xuống tàu USS
Blue Ridge, con tàu chỉ
huy của hạm đội 7.
Jacobs
nhớ lại thông điệp ngạc
nhiên của Whitmire: "Ông
ấy nói : 'Chúng tôi sẽ
gửi bạn trở lại để cứu
con tàu hải quân Việt
Nam. Chúng ta đă quên họ
rồi... Và nếu chúng ta
không cứu được một số
nào hay tất cả, chắc họ
sẽ bị giết chết' ".
Chiếc
Kirk đă được gửi đến một
ḥn đảo ngoài khơi đất
liền Việt Nam - một
ḿnh. Và có một điều kỳ
lạ hơn, viên đô đốc nói
với Jacobs: Anh sẽ nhận
đưọc lệnh từ một người
thường dân.
Richard Armitage xuống
con tàu Kirk vào đêm
khuya, mặc một chiếc áo
khoác thể thao đi mượn.
Nhiều năm sau đó,
Armitage đă trở thành vị
chỉ huy đứng thứ hai sau
Colin Powell trong bộ
Ngoại giao chính quyền
Bush. Nhưng chính trong
ngày cuối cùng của tháng
4 năm 1975, ông đang ở
trong một sứ mạng đặc
biệt theo lệnh của bộ
trưởng quốc pḥng. Tuần
đó, ông chỉ mới tṛn 30
tuổi.
Armitage nhớ lại lúc
xuống tàu và lập tức
được hộ tống đến bữa ăn
của các sĩ quan, nơi ông
đă gặp Jacobs và
Commodore Donald Roane,
chỉ huy trưởng đội tàu
nhỏ của khu trục hạm Hải
quân.
"Commodore Roane đă nói
cái ǵ đại loại như
'Người bạn trẻ, tôi
không quen với việc có
những người dân sự xa lạ
lên tàu của tôi giữa ban
đêm mà ra lệnh cho tôi",
Armitage nhớ lại. "Tôi
nói, 'Thưa ngài, tôi
cũng không quen với việc
xuống một con tàu lạ vào
nửa đêm để ra lệnh cho
ngài. Nhưng hăy chạy
nhanh đến Côn Sơn
nào...' Và tất cả đă
hành động như thế ".

Richard Armitage, ân
nhân của gần 30 ngàn
người Việt Nam trong
cuộc cứu mạng cuối tháng
Tư/1975
Kế hoạch
bí mật để không chỉ cứu
những con tàu
Chiếc
Kirk và phi hành đoàn
của khoảng 260 sĩ quan
và nhân sự của nó đă
được lệnh đến đảo Côn
Sơn, khoảng 50 dặm ngoài
khơi bờ biển miền Nam
Việt Nam và chưa bị
chiếm đóng bởi những
người Bắc Việt. Côn Sơn
là nơi của một nhà tù
khét tiếng. Lúc này, bến
cảng của nó là nơi ẩn
náu cho những ǵ c̣n lại
của hải quân Nam Việt
Nam.
Armitage đă đưa ra kế
hoạch để cho họ tập
trung ở đó.
Armitage, tốt nghiệp
trựng Annapolis, từng
là một sĩ quan t́nh báo
Hải quân, được phân công
tác cho các đơn vị Việt
Nam. Ông đă đạt được uy
tín đối với người Việt
Nam khi ông từng làm
việc với họ và trở nên
thông thạo ngôn ngữ của
họ. Sau đó, ông đă từ
nhiệm khỏi sứ mạng và
lực lượng Hải quân để
phản đối chính quyền
Nixon đă kư hiệp định
hoà b́nh Paris. Thỏa
thuận năm 1973 giữa tất
cả các bên tham chiến ở
Việt Nam để chấm dứt sự
tham dự trực tiếp của
quân đội Mỹ trong chiến
tranh. Armitage cảm thấy
Mỹ đă bán đứng người
miền Nam Việt Nam.
Nhưng
khi t́nh h́nh trở nên rơ
ràng rằng chính phủ miền
Nam Việt Nam sắp xụp đổ,
một quan chức tại Ngũ
Giác Đài đă yêu cầu
Armitage bay trở lại
Việt Nam với một nhiệm
vụ nguy hiểm. Công tác
của ông: loại bỏ hoặc
phá hủy các tàu hải quân
và kỹ thuật công nghệ để
không rơi vào tay những
người Cộng sản.
Một
vài tuần trước khi Sài
G̣n thất thủ, Armitage
đă có mặt tại văn pḥng
của một người bạn cũ,
Đại tá Đỗ Kiếm, Phó tư
lệnh Hải quân Nam Việt
Nam. Cùng với nhau, họ
đă đưa ra kế hoạch bí
mật để giải cứu các con
tàu Việt Nam khi - như
đă rơ ràng xảy ra -
chính phủ miền Nam Việt
Nam đầu hàng.
Đỗ nhớ
lại đă cảnh báo Armitage
rằng họ sẽ giải cứu
nhiều hơn là chỉ những
con tàu.
"Tôi
đă nói với anh ta, tôi
nói, 'Vâng, các phi hành
đoàn của chúng tôi sẽ
không rời khỏi Sài G̣n
mà không có gia đ́nh của
họ, do đó sẽ có rất
nhiều người dân" Đỗ nhớ
lại.
Ông
nói rằng Armitage cứ
lặng thinh. "Ông không
trả lời có mà cũng không
trả lời không. Do đó tôi
cứ xem như một sự thừa
nhận", ông nói.
Armitage đă không báo
cho thượng cấp của ḿnh
tại Ngũ Giác Đài biết là
có những người tị nạn
trên tàu. Ông lo sợ
chính quyền Mỹ sẽ không
muốn giải cứu họ.
Mặc dù,
cả Đỗ cũng như Armitage
cũng không thể đoán biết
được có bao nhiêu người
tị nạn sẽ xuất hiện ở
Côn Sơn.
Hỗn loạn
ở đảo Côn Sơn
Chiếc
Kirk gấp rút băng đêm đi
Côn Sơn và đến đảo khi
như mặt trời ló dạng vào
ngày 01 Tháng năm. Có 30
tàu hải quân Nam Việt
Nam, hàng chục tàu
thuyền đánh cá và các
tàu hàng. Tất cả đều
khẳm đầy những người tị
nạn, tuyệt vọng để được
ra khỏi Việt Nam.
Những
con tàu "đă được nhồi
nhét khẳm đầy người",
ông Kent Chipman, vào
năm 1975 đă là một thợ
máy trợ lực 21 tuổi
trong pḥng máy của con
tàu và hiện nay làm việc
tại một nhà máy lọc nước
tại Texas đă cho biết. "Tôi
không thể xem bên dưới
ḷng tàu, nhưng ở trên
boong người người chặt
cứng san sát nhau".
Không
đếm được chính xác có
bao nhiêu người trên
những con tàu. Một số tư
liệu lịch sử cho rằng đă
có đến 20.000 người. Một
số khác cho rằng nhiều
đến 30.000. Jan Herman,
một sử gia của Bộ Y tế
Hải quân Mỹ, người ghi
lại câu chuyện của con
tàu Kirk, đă sử dụng số
lượng cao hơn.
Các kỹ
sư của Kirk được gửi
xuống một số các tàu
thuyền để chúng có thể
khởi động.
"Chúng
tơi tả, xấu xí, bầm dập",
ông Chipman nói. "Thậm
chí một số con tàu không
chạy được, ; họ đă lôi
nhau đi. Một số chiếc đă
thực sự thách đố với
sóng nước. Chúng tôi
chuyển người của ḿnh
sang những chiếc đang
chạy".
Một
con tàu chở quá khẳm
đang bị ch́m. Những
người trên boong đă nhảy
xuống biển.
Stephen Burwinkel, người
lính cứu thương của tàu
Kirk - trong ngành Hải
quân thường được biết
đến như một tử thi bệnh
viện - đă lên con tàu ấy
để kiểm tra những người
đau yếu và bị thương.
Ông thấy một trung úy
quân đội Việt Nam đang
giúp hành khách rời tàu
ch́m, chuyển họ qua
những con tàu khác trên
một tấm ván gỗ hẹp. Khi
mọi người cố chen đẩy để
thoát khỏi con tàu ch́m,
một người đàn ông đánh
ngă một người phụ nữ
phía trước anh ta. Cô bị
rơi khỏi tấm ván vào
ḷng đại dương.
Người
phụ nữ đă lập tức được
cứu thoát. Nhưng
Burwinkel lo lắng rằng
những người khác trên
tàu sẽ hoảng sợ. Ông cho
biết viên trung úy đă
hành động nhanh chóng.
Burwinkel nhớ lại, "Người
trung úy Việt Nam này
không hề lưỡng tự, ông
đến ngay sau anh chàng
đó, rút súng ra bắn ngay
vào đầu, giết chết anh
ta, đá qua một bên. Chấm
dứt tất cả các sự cố
ngay lúc đó và sau đó ".
Cú bắn người thật kinh
hoàng, ông nói, nhưng
rất có khả năng ngăn
chặn được một cuộc bạo
loạn.

Chiến hạm Kirk đến Côn
Sơn ngày 1 tháng Năm
1975
Dẫn đường
đi đến Philippines
Sau
khi sửa chữa những ǵ có
thể sửa được trên những
con tàu đủ điều kiện và
di chuyển những người từ
các con tàu bị bỏ lại,
chiến Kirk dẫn đầu đội
tàu hải quân, thuyền
đánh cá và tàu hàng đi
về phía Philippines.
Chiếc
USS Cook, một khu trục
hộ tống hạm khác như
chiếc Kirk, đă giúp
những các con tàu rời
khỏi Côn Sơn. Các thủy
thủ đoàn của tàu Cook đă
cung cấp gạo, và người
tử thi bệnh viện của con
tàu này cũng đă giúp
Burwinkel và các phụ tá
của ông từ tàu Kirk đến
chăm sóc những người đau
yếu và bị thương.
Theo
Herman. khi đội tàu quay
đầu ra biển, trên đường
đến Philippines, nhiều
tàu Hải quân khác đă
cùng đến và đi để hộ
tống. Trong số những con
tàu này có nhũng chiếc
USS Mobile, USS
Tuscaloosa, USS Barbour
County, USS Deliver và
USS Abnaki.
Nhưng
rơ ràng từ nhật kư hải
hành của tàu Kirk và các
tàu khác là các thủ thủ
đoàn tày Kirk đă dẫn đầu
chỉ đạo.
"Đối
với tôi, chiếc Kirk thật
lư tưởng", ông Armitage,
người đă chuyển từ tàu
Kirk sang một chiếc tàu
chỉ huy của hải quân
Việt Nam. "Nó có thể lên
lạc với các tàu c̣n lại
của hạm đội Mỹ. Nó sẽ đi
với chúng tôi nang qua
tới Philippines và có
thể cứu bất cứ ai có thể
bị hiểm nguy. Một số
người đă bị thương. Một
số mang thai. Tất cả đă
đều đau yếu khá lâu. Và
chúng ta cần một phương
cách để có thể chăm sóc
những người này".
Các
thủy thủ của Kirk bận
rộn cung cấp nước uống,
thức ăn và thuốc men cho
những người trên các con
tàu của miền nam Việt
Nam.
Burwinkel đă bỏ th́ giờ
di chuyển từ tàu này
sang tàu khác để điều
trị những người bị
thưong và đau yếu. Với
cả hàng ngàn người - đa
số là trẻ sơ sinh và trẻ
em - ông đă làm việc gần
như không nghỉ.
"Khi
họ đă trao tôi tấm huy
chương thành tích v́ tất
cả các công việc này,
tôi khá thẳng thắn gọi
nó là tấm huy chương
không ngủ" của ḿnh,
"ông Burwinkel, người đă
tạo nên một sự nghiệp
trong ngành Hải quân,
hiện đang nghỉ hưu và
sinh sống tại Pensacola,
Fla. "Tôi đă đến đấy và
thực hiện những công
việc của ḿnh trong đêm
đen, trở về tàu Kirk cố
gắng t́m được một chút
ǵ để ăn và trở lại làm
việc thêm vài chuyến nữa
- thu thập hiểu biết,
tiếp tế cho bản thân
ḿnh và lại sẵn sàng cho
ngày hôm sau ".

Một chiếc tàu đưa những
người tị nạn VN đến
chiến hạm Kirk
"Lănh thổ
chủ quyền cuối cùng của
Việt Nam Cộng ḥa"
Trong
30.000 người tị nạn trên
những con tàu được hộ
tống bởi chiếc Kirk suốt
sáu ngày, chỉ có ba
người tử nạn.
Nhưng
khi đội tàu nhỏ của Việt
Nam tiếp cận
Philippines, viên thuyền
trưởng tàu Kirk đă nhận
một số tin xấu. Sự hiện
diện của những con tàu
miền Nam Việt Nam tại
một cảng Philippine sẽ
mang đến cho chính phủ ở
Manila một t́nh thế khó
khăn về ngoại giao.
"Chính
phủ Philippines đă không
cho phép chúng tôi vào
cảng, dứt khoát như thế,
bởi v́ những con tàu giờ
đây thuộc về người Bắc
Việt và họ không muốn
xúc phạm đến đất nước
mới", Jacobs, viên
thuyền trưởng, đă nhớ
lại.
Chính
phủ Philippines, tổng
thống Ferdinand Marcos
là một trong những người
đầu tiên nhận ra được
rằng những nhà cai trị
cộng sản hiện nay đang
kiểm soát một nước Việt
Nam duy nhất, và Jacobs
được lệnh là các con tàu
nên trở về.
Armitage và Đại tá Đỗ,
người bạn miền Nam Việt
Nam của ḿnh đă đưa ra
một giải pháp mà Marcos
đă phải chấp nhận.
Đỗ nhớ
lại kế hoạch: "Chúng tôi
sẽ nâng quốc kỳ Mỹ lên
cao và hạ cờ Việt Nam
xuống như một dấu hiệu
[chuyển nhượng] con tàu
trở về với Hoa Kỳ, bởi
v́ trong chiến tranh
những con tàu này được
trao cho chính phủ Việt
Nam như một một khoản
vay mượn từ Hoa Kỳ , nếu
họ muốn để chống lại
những người Cộng sản.
Bây giờ chiến tranh kết
thúc, chúng ta mang
chúng trở về với Hoa Kỳ
".
Đă có
một cuộc t́m kiếm điên
cuồng để t́m cho ra 30
lá cờ Mỹ. Hai sĩ quan từ
tàu Kirk đă được gửi đến
trên boong mỗi tàu biển
Việt Nam để chỉ huy sau
một buổi lễ hạ cờ chính
thức.
Rick
Sautter là một trong
những sĩ quan của tàu
Kirk đă chỉ huy một tàu
Việt Nam.
"Đó là
di tích cuối cùng của
miền Nam Việt Nam. Khi
những lá cờ hạ xuống và
những lá cờ Mỹ dương lên,
thế là hết. Bởi v́ một
con tàu của Hải quân
chính là chủ quyền lănh
thổ, do đó đấy chính là
các chủ quyền lănh thổ
cuối cùng của Việt Nam
Cộng Ḥa", ông nói.
"Hàng
ngàn và hàng ngàn người
trên thuyền bắt đầu hát
quốc ca (miền nam Việt
Nam). Khi lá cờ hạ xuống,
họ đă khóc, khóc và khóc,"
Đỗ nhớ lại.
"Đỉnh Cao
Sự nghiệp của tôi"
Ngày
07 tháng Năm, các tàu
mang cờ Mỹ được phép vào
Subic Bay.
Đối
với những người tị nạn,
đó chỉ là khởi đầu cuộc
hành tŕnh dài của họ,
một cuộc hành tŕnh đă
đưa họ đến Guam, sau đó
tái định cư tại Hoa Kỳ.
Đối
với các thủy thủ tàu
Kirk, kết thúc chiến
tranh Việt Nam bằng cách
giải cứu 20.000 đến
30.000 người là rất thỏa
măn.
"Đây
là đỉnh cao của sự
nghiệp của tôi và tôi
rất tự hào về những ǵ
chúng tôi đă làm, những
ǵ chúng tôi đă hoàn
thành và làm thế nào mà
chúng tôi thực hiện được
những điều đó", Jacobs
nói. "Tôi cảm thấy như
chúng tôi đă xử lư thật
chuyên nghiệp và đó là
một giờ khắc như thể
thật tối tăm".
Armitage nói rằng ông "ghen
tỵ" với các sĩ quan và
nhân sự của con tàu USS
Kirk. Con tàu đă không
gặp chiến trận trong
chuyến đi Việt Nam của
nó. Nhưng đă kết thúc
với việc cứu mạng hàng
chục ngàn người tị nạn,
một trong những nhiệm vụ
nhân đạo lớn nhất trong
lịch sử của quân đội Mỹ.
Armitage nói: "Họ đă
không phải chịu gánh
nặng với các thảm kịch
bất ngờ trước đây của
Việt Nam."