|
Khi đồng minh tháo chạy - Phần 1
Nguyễn Tiến Hưng
Lời nói đầu
Sao lẹ thế
Ngày 10 tháng ba,
1975 Quân đội Bắc Việt đánh chiếm Ban Mê Thuộc. Đến ngày 30-4 đă tiến
vào Sài gon. Tốc độ như vũ băo, vỏn vẹn chỉ có 52 ngày? Không lẽ một
cuộc chiến kéo dài tới hai mươi năm, đến khi kết thúc lại nhanh như vậy?
Rồi cuộc di tản tiếp theo. Trước hết lạ thời gian di tản, sao nó quá
ngắn ngủi? Tuy hai cuộc chiến năm 1954 và 1975 kết thúc trong những hoàn
cảnh khác hẳn nhau, ta vẫn có thể hỏi tại sao khi Pháp rút khỏi Miền
Bắc, thời gian được quy định là 300 ngày. Bây giờ đến lúc Mỹ rút hết
khỏi Miền Nam th́ không có quy định ǵ hết, cuộc di tản chỉ kéo dài được
vỏn vẹn năm ngày!
Nói tới cung cách ra đi, sao lại quá thê thảm? Năm 1954, dù chỉ là di
tản từ Bắc vào Nam và năm 1975 th́ di tản sang Mỹ nên hai biến cố khác
nhau, nhưng phần nào ta cũng so sánh được việc đoàn người ra đi có trật
tự, rất ít nguy hiểm ở lần đầu, với cuộc di tản nháo nhào, đầy rủi ro,
hăi hùng vào lần thứ hai. Rốt cuộc, tại sao số người được cứu vớt lại
quá ít ỏi? Hồi 1954, Mỹ chưa trực tiếp dính líu vào Việt nam mà đă giúp
chuyên chở, rồi định cư cho một triệu người, tức là 7% dân số Miền Bắc.
Sau hai mươi năm can thiệp với hơn một nửa triệu quân, sống chết với 20
triệu dân quân Miền Nam, giờ đây lại chỉ định cứu có 50.000 người. Tới
phút cuối cùng mới vớt thêm. Tất cả không tới 130.000 người, nghĩa là có
0,6% dân số.
Phóng viên: "Thưa ông, cứ cho là Hoa kỳ đă bội ước, nhưng c̣n lư do ǵ
khác khiến chúng tôi phải đưa người Việt vào Mỹ không?"
Tác giả: "Tượng Nữ thần Tự do đang nhắc nhở cho chúng ta rằng nước Mỹ là
đất của những kẻ bị truy nă, của di dân".
Phóng viên: "Tôi xin nhắc nhở cho ông là Nữ thần Tự do quay mặt về phía
Đại Tây Dương".
Ư nói là bà quay lưng về phía Á châu, phía Việt nam chúng ta.
Đây là một giai thoại trong phiên họp báo của chúng tôi ngày 30-4-1975
(ngày 1 tháng 5 giờ Sài g̣n) tại khách sạn May Flower trên đường
Connecticut, Washington, D.C.
Mục đích của cuộc họp nhằm kêu gọi Hoa kỳ cứu vớt những con thuyền đang
lênh đênh như lá tre ngoài bờ biển Vũng Tàu.
Vô cùng xúc động, chúng tôi không cầm được nước mắt. Câu mỉa mai này đă
ám ảnh chúng tôi từ giây phút đó, và chắc sẽ không bao giờ phai nhoà đi
được trong kư ức.
Sau 30 năm rồi mà ta chưa t́m được câu trả lời thoả đáng cho những thắc
mắc trên. Biến cố lịch sử năm 1975 đă để lại những ấn tượng sâu đậm
trung tâm trí của tất cả chúng ta, những con người Việt nam, dù ở trong
hay ngoài nước. Mỗi người một hoàn cảnh, một cảm xúc, một số phận. Một
số quư vị đang cầm cuốn sách này trong tay là những người thuộc thành
phần may mắn, không nhiều th́ ít, đă thoát được bao nhiêu rủi ro. Thành
phần khác đă chịu số phận nghiệt ngă, giờ đây chỉ c̣n là những oan hồn
vất vưởng trong ḷng Thái B́nh Dương.
Và sau này, những thế hệ mai sau, con cháu chúng ta sẽ tiếp tục thắc
mắc: tại sao cha mẹ, ông bà ḿnh lại bỏ quê cha. đất tổ chạy sang Mỹ?
Sang bao giờ? Trong hoàn cảnh chính trị xă hội, kinh tế ra sao? Sang
bằng cách nào? May mắn? Lúc đầu như thế nào? Làm sao mà sinh sống? Không
bà con, không tiền, không nghề nghiệp thích hợp, không cùng ngôn ngữ,
làm thế nào mà nuôi được con cháu ăn học thành tài như ngày nay?
Gần 20 năm trước, năm 1986, tôi đă cùng Jerold Schecter, nguyên chủ bút
tuần báo TIME xuất bản cuốn "The Palace File" (Hồ sơ
mật Dinh Độc Lập - Hồ sơ mật Dinh Độc Lập). Cuốn sách đề cập
nhiều tới Hiệp định Paris và ảnh hưởng bất lợi của nó.
Đối tượng chủ yếu là độc giả Mỹ, đặc biệt là các nhà làm chính sách Hoa
kỳ. Tổng trưởng ngoại giao thời đó là ông George Schultz (trong chính
quyền Reagan) có viết cho chúng tôi là ông đă đưa cuốn này vào thư viện
nhỏ của Văn pḥng Tổng trưởng ngoại giao ở Foggy Bottom. Các vị kế
nghiệp ông sẽ được đọc. Năm 1988, tờ New York Times đă chọn cuốn
"The Palace File" dể vào số những sách mà các ứng cử viên Tổng
thống cần phải đọc, với tựa đề: "Vừa đọc vừa vận động: Một lớp cấp
tốc cho chức vị Tổng thống" (Read and Run: A Ram Course for the
Presidency).
Khi Đồng minh tháo chạy, được viết căn bản là cho độc giả Việt
nam.
Sách gồm năm phần chính:
Phần I: bàn về thời điểm và cách thức Mỹ tháo khỏi chiến trường Việt
nam;.
Phần II: nói đến thân phận một tiểu quốc muốn cố gắng vượt ra khỏi sự lệ
thuộc;
Phần III: kể lại những ǵ đă xảy ra tại Washington và Sài g̣n sau khi
quân đội Mỹ rút hết cho tới khi Miền Nam sụp đổ
Phần IV: tŕnh bày diễn tiến vào giờ hấp hối, việc một số chính trị gia
Mỹ đă không muốn cứu vớt người Việt nam, đặc biệt là về cơ nguy Mỹ- Việt
suưt bắn nhau; phần này cũng thuật lại một cố gắng cuối cùng của tác giả
đặt trách nhiệm tinh thần cho Hoa kỳ đ̣i hỏi phải giúp cho ít nhất một
triệu người ty nạn;
Phần V: nh́n lại lịch sử để ghi nhận cho con cháu những khó khăn, chống
đối lớn lao cha ông chúng đă gặp lúc ban đầu; phần này thâu tóm một
nguyên nhân chính làm sụp đổ Miền Nam, cũng như những bài học rút ra từ
cuộc chiến cho những thế hệ tương lai của Việt nam và các Đồng minh của
Hoa kỳ hiện đại.
"Thay lời kết", chúng tôi đề cập tới thiện tâm của nhân dân Hoa kỳ, v́
sau cùng, cánh tay của đại đa số đă rộng mở, tiếp nhận đoàn người tỵ nạn
trong một thời gian trên hai thập niên.
Sách này dựa vào một phần cuốn Hồ sơ mật Dinh Độc Lập và vào
những nghiên cứu thêm của tác giả trong mười năm qua. Trong cả hai cuốn,
ngoài phần tài liệu, chúng tôi đă bổ sung bằng những phỏng vấn với các
viên chức hữu trách cả hai phía Việt nam cộng hoà và Hoa kỳ; đặc biệt là
Tổng thống Nguyễn văn Thiệu (tại London và Boston), Tổng thống Gerald
Ford, Ngoại trưởng Henry Kissinger, tướng Alexander Hai, tướng John
Murray, các Tổng trưởng quốc pḥng liên hệ như James Schlesinger, Melvin
Laird, Elliot Richardson và các viên chức cao cấp Cơ quan T́nh báo CIA.
Tổng thống Richard Nixon khi c̣n sống đă từ chối cuộc phỏng vấn v́ lư do
sức khoẻ.
Điều mà cuốn Khi Đồng minh tháo chạy muốn nhấn mạnh, nhất là cho
người Việt nam chúng ta rơ, là cung cách mà một số chính khách
Hoa kỳ, đặc biệt là ông Kissinger, và phần nào, hai ông Nixon, Ford cũng
như một số nghị sĩ, dân biểu với con mắt thiển cận, đă hành xử đối với
nhân dân Miền Nam. Nó phản bội nguyên tắc "minh bạch" (transparency)
của thể chế dân chủ, và đi ngược lại tinh thần công b́nh của đại đa
số nhân dân Hoa kỳ. Trong bóng tối, trước hết hai ông Kissinger - Nixon
đă dùng thủ đoạn ép buộc Miền Nam đi theo đường lối của ḿnh, mục đích
chính chỉ là để cho quân đội Mỹ rút đi, và tù binh được thả về. Khi
Chính phủ Miền Nam phản kháng th́ đe doạ với "cái gậy" (đảo chánh và cắt
viện trợ), và hứa hẹn với "củ cà rốt" (bảo đảm hoà b́nh và viện trợ đầy
đủ).
Hứa hẹn xong th́ lờ đi, giấu cho thật kỹ. Quốc hội không biết ǵ hết nên
đă cắt giảm viện trợ một cách quá nhanh và quá thẳng tay. Hoá ra, củ cà
rốt chỉ là một công cụ che giấu một kế hoạch gọi là "khoảng thời gian
coi cho được". Kế hoạch này chỉ nhằm ban phát cho Miền Nam Việt nam
một thời gian ngắn ngủi, một khoảng cách từ khi Mỹ rút hết cho tới khi
sụp đổ. Trước khi cuốn sách này lên khuôn, một nhân chứng về những hành
động hắc ám của ông Kissinger, ông John Negroponte vừa được Tổng thống
George Bush trao phó chức vụ Điều khiển toàn bộ t́nh báo Hoa kỳ. Ông là
liên lạc viên giữa Kissinger và phái đoàn Bắc Việt tại mật đàm Paris.
Ngày 19 tháng Hai, 2005, tờ Boston Globe có bài viết về ông này
và b́nh luận: "tuy hồi đó Negroponte chỉ là nhân viên cấp dưới, ông đă
có tinh thần rất độc lập và đă phản đối Kissinger về việc chấp nhận để
quân đội Bắc Việt đóng lại Miền Nam, cho rằng như vậy là đưa Miền Nam
tới chỗ sụp đổ và hành động này có nghĩa là đă bỏ rơi Đồng minh của Hoa
kỳ. Ông Richard Holbrooke (Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc thời Tổng thống
Clinton, và là bạn đồng liêu với Negroponte lúc c̣n ở Hội đồng an ninh
quốc gia) có nói rằng chính v́ Negroponte đă chống lại Kissinger mà bị
hạ tầng công tác trong gần suốt thập niên 1970".
Đối với Miền Nam, ngay trước lúc sụp đổ hoàn toàn, ông Kissinger c̣n
thốt lên: "Sao chúng không chết phứt cho rồi?". Sau đó, kế hoạch
tháo chạy dược thiết kế lúc đầu căn bản chỉ là để di tản 6.000 người Mỹ
và một số rất ít người Việt. Cho dù nhiều người có thể biện luận rằng
việc giải kết khỏi Miền Nam là điều có lợi cho nước Mỹ đi nữa, nó cũng
chỉ là ích lợi đoản kỳ, ở vào thời điểm đó thôi. Trong trường kỳ, việc
bỏ rơi, nhất là cung cách tháo chạy đă làm tổn hại rất nhiều tới
"mức độ tin cậy" (credibility) của chính sách ngoại giao cũng như
uy tín Hoa kỳ. Bạn th́ bớt tin tưởng, thù th́ hết kính nể. Sau Việt nam,
vào tháng 10, 1979, Iran đă táo tợn đến độ bắt ngay cả nhân viên Toà đại
sứ Mỹ ở Teheran làm con tin hơn một năm. Rồi từ đó, bao nhiêu vụ tấn
công vào người và tài sản của Mỹ. Liệu những hành động của Saddam
Hussein, Al-qaeda, biến cố gây nổ tàu Cole ở Qatar, hay sự cố 11-9 có
phải là những hậu quả của việc coi thường Hoa kỳ hay không? Bởi vậy, về
lâu về dài, cái giá phải trả chắc chắn đă không phải là thấp.
Tất cả những sự việc ở hậu trường bang giao Việt - Mỹ trong giai đoạn từ
khi Mỹ tháo gỡ cho tới lúc bỏ chạy được rất ít người biết tới. Lư do là
v́: về phía Mỹ, hồ sơ mật về Việt nam trong giai đoạn này đă được giấu
kín trong văn pḥng Cố vấn Kissinger tại Toà Bạch Ốc; và về phía Việt
nam cộng hoà, nó được hoàn toàn bảo mật trong văn pḥng riêng của Tổng
thống Thiệu tại Dinh Độc Lập.
Nhiều tác giả nổi tiếng của Mỹ về vấn đề Việt nam cũng đă phải b́nh luận
về việc này. Trong cuốn Uncertain Greatness, chính ông Roger
Morris, nhân vật quan trọng trong Hội đồng an ninh quốc gia (National
Security Council (NSC) do ông Kissinger điều khiển, đă phàn nàn: "Dù
rằng nó là một vấn đề được viết và bàn luận nhiều nhất trong chính sách
ngoại giao, nhưng hồ sơ của Nixon - Kissinger về Đông Dương trong nhiều
phương diện đă ít được hiểu biết nhất… Sự việc mà dưới thời Johnson là
một mạng rối rắm giữa các động lực hành chính ở Sài g̣n và Washington…
bây giờ hầu như đă trở nên một sự khống chế của chỉ hai bộ óc trong Toà
Bạch Ốc (Kissinger và Nixon).
Một tác giả nổi tiếng khác, ông Leslie Gelb trong cuốn The Irony of
Vietnam: The System Worked, đă viết: "Câu chuyện về chính sách Việt
nam dưới thời Richard Nixon và Gerald Ford là một chủ đề quan trọng…,
nói về việc Hoa kỳ đă rút ra chứ không phải đă nhảy vào Việt nam như thế
nào… (thế nhưng) những nguồn tài liệu cần thiết để phân tích giai
đoạn từ sau 1968 chắc sẽ không có được trong một thời gian nữa".
Hy vọng rằng cuốn Khi Đồng minh tháo chạy sẽ lấp được phần nào
cái lỗ hổng này của lịch sử. Âu cũng do định mệnh mà người viết được
chứng kiến một số sự việc xảy ra tại dinh Độc Lập cũng như tại Bộ Quốc
pḥng và Quốc hội Hoa kỳ trong những ngày tháng đầy tuyệt vọng. Trước
hết với tư cách là một Phụ tá Tổng thống, rồi Tổng trưởng Kế hoạch trong
nội các. Là người điều hợp viện trợ trên b́nh diện kinh tế toàn quốc
người viết làm việc trực tiếp với Tổng thống Thiệu trong những ngày
tháng cuối cùng. Trong cương vị này, hồi 1974-1975 nhiều lúc chúng tôi
đă phải dẹp bỏ tự ái, lui tới Quốc hội Hoa kỳ như một người đi cầu xin.
V́ đă quen với lề lối làm việc ở Mỹ trong nhiều năm trước khi trở về
nước giúp tái thiết nền kinh tế, chúng tôi đă luôn luôn mang theo cuốn
sổ tay nho nhỏ màu vàng mỗi khi đi họp để ghi chú diễn tiến buổi họp.
Kèm theo là những nhận xét hay cảm nghĩ của riêng ḿnh vào ngay lúc đó,
viết trong ngoặc. Ở Sài g̣n, những cuộc họp gồm có các buổi giữa cấp
lănh đạo tối cao, các buổi họp giữa Tổng thống Thiệu và giới chức Hoa
kỳ. Tại Washington là các buổi họp với một số viên chức cao cấp
tại bộ Ngoại giao, bộ Quốc pḥng, và một số Nghị sĩ, Dân biểu tại Quốc
hội Hoa kỳ.
Ngoài ra, tôi có ghi lại những cuộc đàm thoại, những chỉ thị cũng như
tâm tư, cảm xúc của Tổng thống Thiệu trong nhiều bữa ăn một ḿnh với
ông, hay trong những lúc thư giăn nhấm nháp ly rượu vào buổi chiều tối.
Một phần của những ghi chép đó được dùng trong cuốn sách này. Nhằm bổ
sung phần ghi chép, chúng tôi đă cố nghiên cứu thêm trong thời gian qua
để t́m hiểu sâu rộng hơn về những diễn tiến đưa tới sự sụp đổ mau lẹ của
Miền Nam và cuộc di tản tiếp theo.
Trong phần nghiên cứu và trích dẫn thêm, ngoài những tài liệu nội bộ,
chúng tôi c̣n dựa vào hồi kư đă được xuất bản của các nhân vật chính yếu
tham gia vào lịch sử của thời gian này (như các Tổng thống Nixon, Ford,
ngoại trưởng Kissinger, Phụ tá Ehrlichman, Haldeman, Phụ tá báo chí
Nessen), và sách của một số tác giả uy tín (như các ông Butler, Hersh và
hai anh em ông Kalb). Chúng tôi ghi nhận và cám ơn các tác giả và các
nhà xuất bản (xem phần "Sách tham khảo").
Về những tài liệu nội bộ, quư nhất là tập hồ sơ tối mật về bang giao
Việt - Mỹ dưới thời hai Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford. Đầu
tháng Ba, 1975, Tổng thống Thiệu có cho chúng tôi xem một vài lá thư,
rồi một tháng sau, ông đă trao phó toàn bộ văn kiện. Thật là một may mắn
mà hồ sơ đó đă được cứu văn cho lịch sử. Mang nó theo khi bước chân lên
chiếc máy bay Pan Am đi Washington ngày 15-4 trong công tác cuối cùng
cho Việt nam cộng hoà, chúng tôi hết sức lo âu. Lo là v́ về phía Mỹ, Bộ
Ngoại giao đang chối đi là không có cam kết ǵ bí mật hết. Tài liệu này
đă được giấu kín, kín đến độ chính Tổng thống Ford cũng như ở trong bóng
tối. Măi tới sau khi Huế bị bỏ ngỏ và Đà Nẵng đă di tản, ông mới được
đọc vài bức thư trong số những văn kiện tối mật của Tổng thống Nixon gửi
Tổng thống Thiệu. Và việc ông Ford đọc được là do chính chúng tôi khởi
xướng.
Cái trớ trêu là vào những ngày giờ cuối cùng, giữa Dinh Độc lập và Toà
Bạch Ốc đă chẳng c̣n có đường dây nào để liên lạc, trao đổi?
Nguyên thuỷ, tôi chỉ là một giáo sư kinh tế học, rồi làm Tổng trưởng kế
hoạch, có ngờ đâu lịch sử lại đưa đẩy vào cái thế phải chạy loanh quanh
để đi t́m "người đưa thư" (là tướng Fred Weyand) cho Tổng thống Việt nam
cộng hoà. Cái khó vào lúc đó là làm sao chuyển được thư của một Tổng
thống Mỹ này tới tay một Tổng thống Mỹ khác mà không qua Bộ Ngoại giao?
Sau này, nghị sĩ Henry "Scoop" Jackson (Dân chủ, tiểu bang Washington)
đă phải phàn nàn rằng: "Thật là lố bịch và nguy hiểm khi Quốc hội và
nhân dân Hoa kỳ phải nhờ vào quan chức ngoại quốc (ông Hưng) mới
biết được những văn kiện tối quan trọng này" (xem Chương 17).
Rồi tới những bức thư cầu cứu cuối cùng của Quốc hội Việt nam gửi Quốc
hội Hoa kỳ: chắc đă bị "thất lạc" rồi? Cho tới nay, không có một dấu vết
ǵ là chúng đă đến tay Quốc hội. Làm sao có thể hiểu được là guồng máy
ngoại giao của một đại cường quốc như Hoa kỳ lại trở nên lạ lùng như
vậy?
Khi đọc được ba trong số những bức thư của Tổng thống Nixon gửi Tổng
thống Thiệu, Tổng thống Ford đă xúc động, sau đó ông ra phi trường đón
tiếp lớp trẻ mồ côi Việt nam vừa được chở tới San Francisco. Tay bồng
một em bé, ông bước xuống máy bay, có chiều âu yếm. Và từ giây phút này
có lẽ ông đă thay đổi thái độ về vấn đề tỵ nạn. Ông c̣n xin thêm quân
viện cho Việt nam cộng hoà, dù biết rằng đă quá muộn. Trước đấy, sau
cuộc rút lui cam go của Quân đoàn II và cuộc di tản kinh hoàng từ Đà
Nẵng, ông Ford vẫn b́nh chân như vại, đi Palm Springs đánh gôn. Năm 1985
khi chúng tôi phỏng vấn và đưa ông Ford đọc lại mấy bức thư của Tổng
thống Nixon, ông vẫn c̣n tỏ vẻ ngậm ngùi: "Không c̣n một nghi ngờ nào
hết, đây là những lời cam kết hết sức quyết liệt" (Well, there is no
doubt these were very categoncal commitments). Tổng thống Ford nhận
xét như vậy là chính xác.Tuy nhiên, nghe như đăi bôi v́ kể cả sau khi
ông được biết như trên, ông vẫn để cho Ngoại trưởng kiêm Cố vấn của ông
che dấu Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ. Vào ngày cuối cùng, trong một cuộc
họp báo, chúng tôi quyết tâm phơi bầy cho công luận những cam kết vô
cùng quyết liệt ấy với mục đích yêu cầu cho một triệu người Việt được tỵ
nạn. Cấp lănh đạo hành pháp cũng như lập pháp Hoa kỳ đă rất ngạc nhiên
về những tiết lộ này. Sau đó, rơ ràng có sự thay đổi thái độ về vấn đề
chấp nhận đoàn người tỵ nạn. Và chúng tôi đă có dịp được đóng góp thêm
cho việc sắp xếp các trại cũng như việc xuất trại, t́m công ăn việc làm
cho đoàn người tỵ nạn đợt đầu.
Ngoài những tài liệu mật về bang giao Việt - Mỹ, tác giả đă đàm đạo với
Đại sứ Martin, sau khi ông về hưu. Ông là Đại sứ Mỹ cuối cùng ở Miền Nam
và là người đă bị bắt buộc phải thi hành mệnh lệnh tháo chạy. Bản thân
chúng tôi đă gặp ông nhiều lần để t́m hiểu những ǵ đă xảy ra bên trong
Toà đại sứ trước khi chiếc trực thăng Lay Ace 09 mang lệnh Tổng
thống đến bốc ông đi. Ông cho biết một số những diễn tiến quan trọng lúc
con thuyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp ch́m đắm. Ông c̣n cung cấp một số
tài liệu quư giá cho lịch sử. Trong những tài liệu này, phải kể tới bức
thư Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt nam. Ngoài ra,
c̣n một số mật điện trao đổi hết sức quan trọng giữa ông và
Kissinger vào lúc những ngày giờ cuối.
Đại sứ Martin cho hay là ông muốn chờ một thời điểm thuận tiện để sẽ
"nói lên lời cuối cùng" về những mánh lới, những thủ đoạn đâm sau lưng
của một vài chính trị gia tại Washington. Ông rất muốn b́nh luận thêm về
một nguy cơ thực sự có mà chính ông đă giúp tránh né được. Đó là suưt
nữa có đụng độ lớn giữa mấy sư đoàn Thuỷ quân lục chiến Mỹ với quân lực
Việt nam cộng hoà vào giờ chót. Nó có thể đưa tới chỗ đổ vỡ hoàn toàn.
Và trong t́nh huống ấy, sau hai mươi năm kề vai sát cánh, Việt nam cộng
hoà lại trở thành kẻ thù của Hoa kỳ? Nếu như vậy th́ số phận của mỗi
người trong chúng ta đă ra sao?
Về phương diện cá nhân, ông Martin c̣n muốn viết về chuyến ra đi nhục
nhă của chính bản thân ông. Ông cho rằng việc này đă làm tiêu hao biết
bao nhiêu uy tín của nước Mỹ. Bộ Ngoại giao dường như không để ư nhiều
tới những khổ tâm của ông, lại c̣n trừng phạt, cho ông ngồi chơi xơi
nước tại Bộ trước khi về hưu. Và ông đă về hưu sớm hơn là đến kỳ hạn.
Theo chúng tôi được biết, Tổng thống Thiệu cũng đă có ư định viết hồi
kư. Thế nhưng cả hai người đều đă không đủ thời giờ để viết. Cả hai đều
đă đi về nơi chín suối, mang theo bao nhiêu ngậm ngùi, chua xót. Một
người th́ ngậm ngùi, hổ thẹn cho tư cách của một đại quốc, một người th́
ân hận, chua xót cho thân phận của một tiểu quốc.
Nhân ngày đánh dấu mười năm sụp đổ Miền Nam (30 tháng 4, 1985), tờ New
York Times đăng câu phê phán cuối cùng của Đại sứ Martin: "Rút
cuộc, chúng ta chỉ lo tháo chạy.
Ư chí dân tộc của Hoa kỳ đă
sụp đổ" (In the end, we simply cut and ran. The American national
will have collapsed). Tôi xin mượn một phần câu ông nói làm đầu đề
cho cuốn sách này.
Tác giả hoàn toàn không ở địa vị đủ cao cấp để nói lên lời cuối, nhưng
nhờ một cơ duyên của lịch sử đă may mắn được gặp lại cố Tổng thống
Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần ở London và Boston để nghe và ghi lại những
lời cuối cùng của ông về cuộc chiến. Ngoài ra, c̣n được nghe những lời
thổ lộ từ tâm huyết của vị Đại sứ Mỹ cuối cùng tại Miền Nam, Graham
Martin, trước khi ông qua đời. Ông c̣n căn dặn là chúng tôi nên viết lại
những ǵ được nghe và được chứng kiến để đóng góp cho lịch sử..
Cuốn sách này không đề cập tới toàn bộ những lư do đă dẫn tới sự sụp đổ
của Việt nam cộng hoà. Dĩ nhiên là trước thất bại, ta phải tự trách ḿnh
trước: "tiên trách kư hậu trách nhân", hay "mea culpa "(lỗi
tại tôi). Về khía cạnh chính trị nội bộ của Miền Nam chẳng hạn, tác
giả không đề cập tới những nguyên nhân mà các tác giả khác đă phân tích
rất nhiều: như sự chia rẽ nội bộ, tư cách và khả năng cấp lănh đạo, tham
nhũng, độc tài; hay những thái độ chống đối, thờ ơ, tránh né từ phía một
vài thành phần nhân dân. Cũng không b́nh luận là lănh vực quân sự, cả về
chiến lược lẫn chiến thuật. Về những địa hạt này, tuy chúng tôi có được
nghe nhiều điều đáng buồn về các cấp lănh đạo chính yếu, nhưng không đủ
khả năng, hiểu biết, và kinh nghiệm để nhận xét cho thấu đáo. Về phía
Hoa kỳ, tác giả cũng không đề cập nhiều tới những yếu tố khác như phong
trào phản chiến, vai tṛ báo chí Mỹ, hay chiến thuật quân sự, những đề
tài dă được phân tích khá rộng răi.
Hy vọng rằng cuốn Khi Đồng minh tháo chạy sẽ giúp độc giả có thêm
được những dữ kiện mới và chính xác để t́m ra câu trả lời cho nhiều thắc
mắc, nhiều uẩn khúc c̣n đeo đẳng, và qua ḍng thời gian, vẫn chưa được
sáng tỏ. Đây chỉ là một cố gắng thuật lại cho trung thực những ǵ ḿnh
đă mắt thấy tai nghe, và những ǵ đă t́m hiểu dược để chia sẻ với người
đồng hương về một chương lịch sử quan trọng của đất nước, đồng thời đúc
kết lại những bài học cho các thế hệ mai sau. Ngoài ra, nó cũng có thể
cung cấp một số dữ kiện cho các nhà làm chính sách về bang giao với Mỹ
của các Đồng minh khác. Nhờ đó, họ có thể hiểu rơ hơn về thể chế dân chủ
cũng như về cơ cấu và khung cảnh chính trị tại Hoa kỳ, chứ đừng nh́n vào
Hoa kỳ với cặp kính cận riêng của ḿnh.
Chúng tôi đă chờ một thời gian khá dài mới bắt đầu viết cuốn sách này v́
ba lư do: thứ nhất, để hầu hết người Việt nam chúng ta có thể
nh́n lại giai đoạn lịch sử cuối cùng của VNCH một cách khách quan hơn,
không bị quá nhiều tâm t́nh, hoàn cảnh cá nhân chi phối; thứ hai,
để chúng tôi có đầy đủ thời giờ nghiên cứu, phỏng vấn, suy gẫm cho thật
sâu, thật kỹ; và thứ ba, để cho chính tác giả bớt được cường độ
xúc động trước khi viết, giúp cho tác phẩm được trung thực. Về điểm này,
chúng tôi đă dẫn chứng tất cả những sự việc, hành động, lời nói bằng văn
bản hoặc bằng những ghi chú về nguồn gốc sự kiện (footnotes).
Tuy nhiên, dù đă cố gắng hết sức, chúng tôi vẫn không thể tránh khỏi một
số suy nghĩ hay ngôn từ có tính cách chủ quan. Về nhược điểm này, cũng
như những sơ sót, lầm lẫn trong cuốn sách, tác giả tin vào sự thông cảm
của độc giả.
* * *
Chúng tôi xin chân thành cảm tạ tất cả những bạn bè xa gần đă khích lệ
và hỗ trợ tác giả trong việc sưu tầm và soạn thảo cuốn sách này. Đặc
biệt là: Hứa Chấn Minh, Chủ tịch công ty Phụng hoàng, người dă theo đuổi
công việc của chúng tôi trong nhiều năm, và đă xuất bản cuốn sách này.
Anh Chu Xuân Viên, người đă giúp nhuận sắc cuốn HSMDDL, lại
giúp sửa chữa thêm cuốn Khi Đồng minh tháo chạy. Bạn Tạ Văn Tài
đă tận tâm đóng góp cho tôi nhiều ư kiến xây dựng, nhờ đó cuốn sách được
xúc tích hơn. Các anh Trần Khánh Liễm, Thuần Trương, và Vũ Huy Hoàng đă
chịu khó đọc bản thảo, thêm ư kiến và giúp nhuận sắc. Các bạn Nguyễn
Trung Trực, Nguyễn Văn Liêm, Đỗ Ngọc Hiển, Vũ Chính Trực, Lê Ái sẵn sàng
tiếp tay, cho tôi những nhận xét, và gợi ư rất hữu ích. Bạn Nguyễn Xuân
Nghĩa đă dành th́ giờ đọc bản thảo cuối cùng, giúp sửa chữa, tŕnh bày
thêm phần khởi sắc. Bạn Nguyễn Thiện Cơ giúp sắp xếp về kỹ thuật, và
phần danh mục (index). Bác sĩ Phó Ngọc Văn, người luôn thúc đảy tôi kiên
tâm, và dù lúc c̣n nằm trên giường bệnh, cũng vẫn gọi điện thoại dể
khích lệ, đóng góp thiều ư kiến. Các bạn Lê Văn và Virginia Lê, Đăng
Khánh và Hương Hoa cũng như Vũ Văn Hoa, đă không ngơi cổ vơ, làm tôi
thêm hăng say trong việc sưu tầm và biên soạn.
Tôi xin thành thật cám ơn Jenold L. Schecter, nguyên chủ bút ngoại giao
của tạp chí Time, cựu Phụ tá giám đốc báo chí Toà Bạch Ốc, và
Phát ngôn viên Hội đồng an ninh quốc gia, đă cùng tôi viết cuốn The
Palace File (1986), và đă giúp đỡ khích lệ tôi viết cuốn sách này.
Sau cùng tôi không thể không nhắc đến sự giúp biên soạn, sửa chữa, hy
sinh của nhà tôi Therese N. Hưng; và các anh, chị, em, con, và cháu,
thuộc đại gia đ́nh cụ ông cụ bà Cố Chánh Nguyễn Xuân Phi, luôn luôn nâng
đỡ tinh thần tôi trong những giai đoạn thăng trầm của cuộc đời.
Phần I -
Chương 1
LÀM SAO THOÁT KHỎI VŨNG
LẦY
Việt nam bầu Nixon
"Tôi tin chắc rằng sự việc đó (hành động của ông Thiệu) đă khiến ông
Humphrey thất cử"
Lyndon B. Johnson
Hồi kư The Vantage Point (1971)
Chiếc xe limousine đậu sẵn ngoài sân cỏ. Khách bắt tay Tạm biệt chủ,
thong thả bước xuống bậc thềm. Đùng một cái, một trái pháo rơi nổ ngay
phía trước mặt. Khách vội vă bước vào xe, tài xế đóng sập cửa. Chiếc xe
mầu đen có c̣i hú phóng đi vun vút. Đoàn tuỳ tùng theo sau. Chắc là một
điềm gở? Ông Nguyễn Văn Thiệu vừa thắng cử, Tổng thống Lyndon Johnson
phái Phó Tổng thống Hubert Humphrey sang Sài g̣n dự lễ tấn phong. Sau
phần nghi lễ ông Humphrey vào gặp ông Thiệu ở Dinh Độc Lập, có Đại sứ
Bunker và Ted Van Dyk tháp tùng. Trong giây phút huy hoàng của ngày đăng
quang, ông Thiệu vui vẻ tiếp vị quốc khách. Chắc rằng Phó Tổng thống Hoa
kỳ sẽ có những lời chúc tụng, an ủi, làm yên ḷng vị Tổng thống đầu tiên
của nền Đệ nhị Cộng hoà.
Thế nhưng, vừa uống xong ly là, Humphrey đă chậm răi: "Ngài cần biết về
t́nh h́nh chính trị ở Hoa kỳ, hiện nay đă đến lúc cần phải có một giai
đoạn chuyển tiếp để Miền Nam có thể tự lực, tự cường". "Vâng tôi hiểu,"
ông Thiệu đáp, "nhưng chúng tôi c̣n cần phải có sự hiện diện của Hoa kỳ
với mức độ hiện tại". "Thêm vài năm nữa với cùng một mức độ viện trợ
quân sự và kinh tế như hiện nay th́ chắc không thể có !" Humphrey nói
tiếp ông Thiệu lắng nghe, tàn than điếu thuốc lá Gauloise ông đang hút
dở rớt ngay xuống tấm thảm dầy. Nói xong, phái đoàn ông Humphrey tạm
biệt. Ông Thiệu tiễn đưa khách quư ra thềm Dinh Độc Lập. Vừa bước xuống
thềm, chính ông Humphrcy đă mục kích cảnh pháo kích.
Từ mùa hè 1967, lúc dư luận bắt đầu nói về cuộc bầu cử Tổng thống Hoa kỳ,
nhiều người bạn Mỹ đă nói với tôi là phải hết sức thận trọng. Bây giờ
nghe ông Humphrey nói như lúc này, tôi biết ngay là sắp tới lúc chính
sách Hoa kỳ thay đổi như ông Thiệu kể lại. Và từ sau cuộc gặp gỡ ông
Thiệu đă có một ấn tượng rất rơ rệt về ông Humphrey: ông này mà làm Tổng
thống th́ Mỹ sẽ rút hết, để Miền Nam "tự lực, tự cường".
Chiến tranh Việt nam đă chấm dứt 30 năm qua mà dư âm cuộc chiến VN vẫn
c̣n như phảng phất đâu đây. Người ta luôn nhắc đến nó trong các cuộc
tranh luận, gần nhất là chiến tranh Iraq.
Chỉ nói về hai ứng cử viên Dân chủ, Cộng hoà trong cuộc tranh cử năm
2004 (John Kerry và George Bush) là đă có vấn đề tranh căi kéo dài cả
mấy tháng. Rồi đến chuyện bài học về chiến tranh Việt nam: nếu Hoa kỳ có
tham chiến ở đâu th́ phải đánh nhanh, đánh mạnh rồi rút ngay (như ông
Bush "Cha" đă làm). Chớ có đóng quân lại mà bị sa lầy. V́ thế, nghị sĩ
Edward Kennedy, một nhân vật có ảnh hưởng của đảng Dân chủ, đă gọi Iraq
là "Việt nam của ông Bush (con)" bài học cho Hoa kỳ th́ nhiều người đă
rút tỉa. Nhưng về những bài học cho Đồng minh của Mỹ trong thời chiến
th́ ít ai nói tới. Một trong những bài học đó là mỗi khi có bầu cử Tổng
thống, Hoa kỳ sẽ có biện pháp mạnh để chứng tỏ thiện chí xây dựng hoà
b́nh. Sớm là vào trước năm tuyển cử. Muộn là vào cuối hè năm tuyển cử,
lúc hai Đảng họp chọn ứng cử viên Tổng thống. Hiện tượng này cũng đă tái
diễn trong cuộc bầu cử 2004. Mùa thu năm 2003, Chính phủ Bush đă tuyên
bố là sẽ trao trả quyền hành cho Iraq vào cuối tháng 6, 2004, làm cho
những người lănh đạo mới của Iraq (được Mỹ ủng hộ) rất lo ngại, nhưng
cũng phải đồng ư. Ảnh hưởng của bước đi này là làm giảm sự lo sợ của
nhân dân Hoa kỳ về chuyện sa lầy. Rồi lúc chuyển giao quyền hành lại
cũng đă được thực hiện vào thời điểm bất ngờ: hai ngày trước ngày đă ấn
định. Báo chí đăng tin rầm rộ. Gần đến ngày bầu cử, Toà Bạch Ốc lại
tuyên bố sẽ rút một số quân từ các địa điểm ngoại quốc về Mỹ. Washington
c̣n công bố lịch tŕnh bầu cử tại Iraq, ấn định vào cuối tháng Giêng
2005, dù có những phe phái của Iraq c̣n cho rằng điều kiện an ninh và xă
hội của họ chưa cho phép bầu cử. Người được bầu làm Tổng thống chắc cũng
biết được khi bầu cử xong là Mỹ sẽ nói tới việc rút quân. Và rồi tân
Tổng thống của Iraq cũng sẽ nói "chúng tôi c̣n cần sự có sự hiện diện
của quân đội Hoa kỳ trong một thời gian nữa".
Cứ bốn năm, mỗi khi có bầu cử Tổng thống Hoa kỳ là có áp lực vào Đồng
minh. Đó là một trong những kinh nghiệm của Miền Nam Việt nam trong suốt
cuộc chiến. Thời Đệ nhất cộng hoà, trước khi Tổng thống Kennedy ra tranh
cử nhiệm kỳ hai vào năm 1964, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm bị nhiều áp lực
từ mùa Hè 1963, sau đó bị sát hại vào ngày 1-11 thời Đệ nhị Cộng hoà,
trước cuộc bầu cử tháng 11, 1972, Tổng thống Nixon áp lực Việt nam cộng
hoà kư Hiệp định Paris. Và vào năm trước kỳ tuyển cử 1976, Tổng thống
Ford đă làm ngơ, để Miền Nam lui vào dĩ văng cho yên ổn.
Trở lại thời Đệ nhất cộng hoà, sau Tổng thống Kennedy tới phiên Tổng
thống Johnson.
Bắt đầu muốn tháo gỡ.
Tết Mậu Thân (31-1-1968) là cái mốc lịch sử quan trọng. Sau khi mọi
chuyện đă ngă ngũ, về mặt quân sự, Mỹ coi đó như một thành công, nhưng
về mặt tâm lư, nó đă là một thất bại lớn. Lần đầu tiên các cuộc thăm ḍ
dân ư cho biết số người chống đối chiến tranh (50%) đă vượt lên cao hơn
số ủng hộ (42%) (1). Báo chí đặt nhiều vấn đề về độ đáng tin cậy của lập
trường Chính phủ Mỹ. Ngày mồng 10 tháng 3, khi tờ New York Times
tiết lộ rằng tướng William Westmoreland vừa xin thêm 206.000 quân, một
bầu không khí nặng nề hiện ra rất rơ từ loà Bạch Ốc (2). Lúc đó có mặt
tại Washington, chúng tôi c̣n nhớ những buổi chiều khi ba hệ thống
truyền h́nh Mỹ phát sóng báo cáo tin tức từ Việt nam, kèm theo là những
câu hỏi hóc búa, những b́nh luận bi quan, ôi sao nó ê chề đến thế! Bộ
Ngoại giao cũng như toà Bạch Ốc, khi trả lời báo chí rơ ràng là đă đứng
vào thế thủ, chỉ chống đỡ. Vừa mới ba tháng trước, ông Westmoreland lên
truyền h́nh trấn an nhân dân Mỹ là mọi việc đều tốt đẹp và sắp tới lúc
nh́n thấy ánh sáng cuối đường hầm. Bây giờ, đùng một cái, Việt Cộng vào
tới tận Toà đại sứ.
Câu hỏi hóc búa là nếu đang thắng, tại sao lại phải xin tăng thêm tới
40% quân số? (3).
Nhiều nhà b́nh luận cho rằng biến cố Mậu Thân là Điện Biên Phủ đối với
Tổng thống Johnson (4). Ông bị bại trận về tâm lư. Khi Tổng trưởng quốc
pḥng Robert Mcnamara xuống tinh thần, ông Johnson hết chỗ tựa. Năm 1984
ông Mcnamara mới thú nhận là ngay từ khi Mỹ mang quân vào (1965-1966),
ông cũng đă có những hoài nghi về cuộc chiến. Như vậy tại sao ông lại
hăng hái chủ trương mang quân vào Miền Nam? Người ta cho rằng ông chỉ
muốn chiều ư Johnson lúc đó v́ nhắm chức chủ tịch
Ngân hàng thế
giới (5). Tết Mậu Thân là thời
điểm tốt cho ông tính đến việc tháo lui. Bị chống đối dữ dội, lại thấy "diều
hâu" Mcnamara bắt đầu tránh né, Tổng thống Johnson mệt mỏi, chán chường.
Ngày 31 tháng Ba, đúng hai tháng sau Mậu Thân, ông tuyên bố sẽ không ra
tranh cử nhiệm kỳ hai nữa. Đồng thời ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt từ
trên vĩ tuyến 20 để kêu gọi đ́nh chiến. Đ́nh chiến xong là rút quân về.
Bầu cử, bầu cử: Hăy đi Paris?
Tổng thống Johnson lại đề cử ngay Phó Tổng thống Hubert Humphrey thay
ông ra tranh cử vào tháng 11, 1968.
Tuyên bố ư định không ra ứng cử từ cuối tháng Ba, Johnson đă cho Humprey
đủ thời giờ để tổ chức, vận động. Humphrey tranh cử với lập trường chấm
dứt chiến tranh, đem lại hoà b́nh. Nhưng nếu chấm dứt bằng cách đơn
phương bỏ cuộc th́ Hoa kỳ sẽ bị thế giới coi thường. Như vậy là thua rồi!
Phải có một Hiệp định đ́nh chiến do chính Việt nam cộng hoà kư th́ mới
danh chính ngôn thuận. Sau này, ông Thiệu kể lại ngay sau cuộc thăm
viếng của ông Humphrey, nhân một chuyến đi quan sát chiến trường Miền
Nam, Tổng trưởng quốc pḥng Mcnamara cũng đă nhấn mạnh: "Chúng tôi cần
có một cuộc bầu cử (ở Miền Nam) để điều đ́nh với Bắc Việt. Đại sứ Bunker
th́ luôn nói tới "Cần có hoà đàm để chứng tỏ với Quốc hội và nhân dân
Hoa kỳ là chúng ta – Hoa kỳ và Việt nam cộng hoà - đều muốn hoà b́nh"
(6).
Kế hoạch của ứng cử viên Humphrey được thành h́nh vào tháng Năm 1968,
khi ông Cyrus Vance đại diện cho Hoa kỳ và ông Hà Văn Lâu đại diện cho
Bắc Việt đến họp tại Paris để thảo luận về chi tiết những cuộc hoà đàm
chấm dứt chiến tranh. Lúc đó, Chính phủ Việt nam cộng hoà chưa chịu tham
gia v́ Sài g̣n muốn trực tiếp đàm phán với Hà Nội, Mặt trận giải phóng
miền Nam (MTGPMN) chỉ tham gia như một phần của phái bộ Bắc Việt mà thôi.
Nhưng nếu Chính phủ Miền Nam không tham gia th́ làm thế nào để có được
một Hiệp định cho sớm?
Ông Humphrey không thể thắng cử nếu viễn tượng hoà b́nh chưa sáng tỏ vào
ngày bầu cử mồng năm tháng 11, 1968.
Càng gần ngày bầu cử, áp lực từ Washington đến càng mạnh. Đại sứ
Ellsworth Bunker t́m mọi cách thuyết phục ông Thiệu gửi phái đoàn sang
Paris dự hoà đàm, càng sớm càng hay.
Bầu cử, bầu cử: Đừng đi Paris ?
Cùng lúc ấy, ông Thiệu lại nhận được những lời ve văn từ phía đối thủ
của ông Hubert Humphrey, đó là ông Richard Nixon. Thông điệp phía Nixon
lại trái ngược hẳn: "Chớ tham gia hoà đàm Paris, cố tŕ hoăn càng lâu
càng tốt để đợi ông Nixon lên Tổng thống, mọi chuyện sẽ tốt đẹp"(7).
Những người làm trung gian lúc đó là bà Anna Chennault và Đại sứ Bùi
Diễm. Bà Chennault rất được ông Thiệu tin cậy. Bà là người gốc Trung Hoa,
quả phụ của tướng Claire Chennault, chỉ huy đoàn Phi Hổ (Flying Tigers),
một nhóm t́nh nguyện của Mỹ chiến đấu chống Nhật hồi Đệ nhị thế chiến.
Sau khi chồng chết năm 1958, bà thay thế ông làm quản trị viên của hăng
hàng không Phi Hổ. Trong những chuyến bay qua Đông Nam Á, bà thường ghé
Sài g̣n và đến thăm ông Thiệu. Có lần bà c̣n được mời ra nghỉ ở villa
Bảo Đại Vũng Tàu. Bà đóng một vai tṛ chủ yếu trong nhóm "Vận động cho
Trung Hoa" (Chia Lobby) và gây quỹ tranh cử cho đảng Cộng hoà. Bà
Chennault ra vào tự do trong chính giới ở Washington và rất hănh diện về
những quen biết của ḿnh ở đó. Bà gặp Nixon lần đầu tiên vào năm 1954,
khi ông sang thăm Đài Loan với tư cách Phó Tổng thống. Năm 1960, bà cổ
động cho nhóm vận động của Nixon chống Kennedy.
Anna Chennault thăm viếng Sài g̣n thường xuyên vào năm 1968, để thông
tin cho ông Thiệu về sự tranh cử của Nixon và những quan điểm của ông
đối với Việt nam. Bà nói với ông Thiệu rằng Nixon sẽ là một người ủng hộ
Việt nam mạnh mẽ hơn Humphrey nhiều. Sau này, bà kể lại cho chúng tôi: "Ông
Thiệu bị phe Dân chủ làm áp lực nặng. Công việc của tôi hồi ấy là cố giữ
cho ông ta đừng thay đổi ư kiến". Đại sứ Bùi Diễm, qua sự giới thiệu của
bà, c̣n được ông Nixon tiếp kiến và dặn là nếu có tin tức ǵ th́ cứ đưa
cho bà Chennault. Bà sẽ phúc tŕnh thẳng cho John Mitchell, người phụ
trách vận động tranh cử cho Nixon. Trong buổi gặp gỡ, Nixon hứa hẹn là
nếu thắng cử, sẽ coi vấn đề Việt nam là ưu tiên số 1, và "bảo đảm sẽ
dành cho Việt nam một sự đối xử thuận lợi hơn phe Dân chủ". (9).
Mưu lược của ông Thiệu
Ông Thiệu biết quá rơ về lập trường của ông Humphrey. Nếu ông ta thắng
cử th́ có nghĩa là sẽ có một Chính phủ liên hợp (với Cộng sản) trong sáu
tháng; c̣n nếu Nixon thắng th́ ông cũng c̣n có hy vọng, ông kể lại cho
chúng tôi nghe vào một buổi chiều mùa xuân năm 1985 tại London. Ông cho
rằng sau khi có một Chính phủ liên hiệp th́ Mỹ sẽ rút đi hết, mặc Việt
nam cộng hoà cho số phận quyết định. Bởi vậy, ông đánh một ván bài liều.
Kế hoạch của ông Thiệu là cố gắng tŕ hoăn quyết định của Tổng thống
Johnson về việc ngưng oanh tạc Bắc Việt và về việc Việt nam cộng hoà
tham dự Hoà đàm Paris.
Lửng lơ con cá vàng, ông không hề nói "không" với ông Bunker, mà
luôn nói "có, với điều kiện". Cứ cù nhày để mua thời giờ cho ứng
cử viên Cộng hoà Richard Nixon. Có lúc ông c̣n dùng ngay những "thể chế
dân chủ" do chính người Mỹ giúp Miền Nam dựng nên để tránh né: ông viện
cớ là v́ lề lối làm việc dân chủ, ông c̣n phải tham khảo ư kiến Quốc hội
và Hội đồng an ninh quốc gia. Ông Thiệu biết là nếu găng quá th́ Johnson
có thể lấy quyết định đơn phương, cho nên ông không công khai phản đối
đề nghị của Johnson, mà chỉ phản đối những chi tiết, đ̣i thêm điều nọ,
điều kia. Đúng là cung cách xoay xở để tồn tại của một người mưu lược.
Trong tuần lễ chót trước ngày bầu cử, John Mitchell "hầu như mỗi ngày"
liên lạc với bà Chennault để thuyết phục ông Thiệu đừng tham dự hoà đàm
Paris. Cả hai đều biết là Cơ quan điều tra Liên bang (FBI) lén nghe điện
thoại, và bà nói đùa với Mitchell: "Ai đang nghe đầu dây bên kia?"
Mitchell th́ không cho câu rỡn đó là hài hước và nói: "Bà nên dùng điện
thoại công cộng, đừng nói chuyện ở sở?". Lời nhắn nhủ mà Mitchell chuyển
cho bà lúc nào cũng giống như nhau: "Đừng để cho ông Thiệu gửi phái đoàn
sang Paris"(10).
Một vài ngày trước bầu cử, Mitchell điện thoại cho bà Chennault, nhờ
chuyển một thông điệp khác cho ông Thiệu. "Anna, tôi nói đây là theo
lệnh của Nixon. Điều quan trọng là những người bạn Việt của chúng ta cần
phải hiểu rơ quan điểm của Đảng Cộng hoà, và tôi mong bà giải thích cho
họ như thế"(11).
Dù nhận được đầy đủ phúc tŕnh của CIA và FBI về những cuộc điện đàm
giữa bà Chennault và Sài g̣n, ông Johnson quyết định không công bố việc
ấy ra v́ sẽ bị mang tiếng là "nghe lén" và cứ tiến hành sáng kiến hoà
b́nh của ḿnh để giúp cho ông Humphrey(12).
Ông Thiệu "án binh bất động", tiếp tục không nhúc nhích, nhưng cho phía
Mỹ cảm tưởng mập mờ là trước sau rồi ông cũng sẽ nghe theo để dự hoà đàm.
Đại sứ Bunker mắc mưu, phúc tŕnh với Washington là nếu chờ thêm ít hôm
nữa, Chính phủ Sài g̣n có thể sẽ ngồi vào bàn hội nghị. Dùng chiến thuật
đánh lạc hướng, ông Thiệu lại c̣n gửi một "phái đoàn tiền phong" sang
Paris để "thu xếp chỗ ở và chuẩn bị cho sự tham dự của phái đoàn Việt
nam cộng hoà. Và cứ đong đưa như thế; khi th́ đưa ra những phản đối mới,
khi th́ rút lại những chướng ngại chiến thuật, và lần nào cũng mất hai
ba ngày mới giải quyết xong.
Leo thang hoà b́nh
Càng gần ngày bầu cử, Johnson lại càng phải xuống thang chiến tranh cho
nhanh để c̣n leo thang hoà b́nh. Muốn tranh thủ được sự ủng hộ của phía
quân đội, ông triệu vị tư lệnh quân sự lại Việt nam, Đại tướng Creighton
Abrams, về Washington để tham khảo. Abrams đáp xuống căn cứ không quân
Andrews lúc nửa đêm ngày 29 tháng 10, 1968, và đi ngay tới toà Bạch Ốc.
Vào hai giờ 30 sáng, Tổng thống Johnson chủ toạ một phiên họp giữa các
cố vấn cao cấp của ḿnh trong pḥng Họp Nội Các. Sau khi duyệt lại t́nh
h́nh quân sự lừng chi tiết, Johnson ngó thẳng mặt Abrams trong giây lát,
rồi hỏi:
- Đây là giờ phút nghiêm trọng. Theo những ǵ Đại tướng được biết, Đại
tướng có ngần ngại hay dè dặt ǵ không về việc ngưng ném bom Bắc Việt?
- Dạ không, - Abrams đáp.
- Nếu là Tổng thống, Đại tướng có sẽ làm như thế không?
- Tôi không ngần ngại ǵ hết. Tôi biết làm thế sẽ gây nhiều phê phán
trong dư luận. Nhưng tôi nghĩ làm như thế là phải. Làm như thế là đúng.
Giữa lúc đang họp th́ có người cho biết rằng Đại sứ Bunker vẫn chưa gặp
được ông Thiệu để buộc ông thoả thuận dứt khoát như Tổng thống Johnson
mong muốn. Bunker cho hay rằng phía Việt nam cộng hoà đ̣i có thêm thời
giờ: "họ chưa tổ chức được phái đoàn để gửi sang Paris cho kịp ngày mồng
hai tháng 11", như Johnson trông đợi (13).
Buổi họp chấm dứt trước năm giờ sáng. Abrams về nhà ngủ, trong khi Dan
Rusk trở lại Bộ Ngoại giao gọi dây nói cho Bunker ở Sài g̣n. Bởi lẽ hai
thủ đô cách nhau 12 tiếng đồng hồ và Sài g̣n đă về chiều, nên Bunker có
thể cho ông Rusk biết những ǵ đă xảy ra trong ngày. Lúc 6 giờ 15 sáng,
Johnson lại triệu tập một buổi họp khác trong pḥng họp nội các cùng
thảo luận với các cố vấn về những hoạt động hậu trường của bà Chennault.
Hiện diện trong buổi họp có Ngoại trưởng Dan Rusk và Tổng trưởng quốc
pḥng Clark Clifford. Clifford nổi giận. Với cung cách đàng hoàng nhất
của một luật sư ông phàn nàn rằng sự tŕ hoăn vào phút chót của Việt nam
cộng hoà là một hành động "đáng trách cứ và hoàn toàn không có lư do
chính đáng"(14).
Johnson thời chỉ thị cho Rusk nói với Bunker là "Hoa kỳ đă sẵn sàng tiến
hành phiên họp ngày 2-11-1968 với Bắc Việt tại Paris mà không cần có
Thiệu?" Nhưng Bunker cố thúc giục Johnson hoăn việc loan báo ngưng dội
bom lại chừng 24 giờ nữa và hoăn hoà đàm Paris đến mồng 4-11-1968 để Sài
g̣n có thêm thời giờ tổ chức phái đoàn tham dự hội nghị. Johnson nói với
các cố vấn: "Tôi bằng ḷng hoăn lại vụ này một, hay hai hôm, nhưng sau
đó là hết Đồng minh". Rồi Johnson gửi cho ông Thiệu một thông điệp riêng
khẩn khoản giục ông gửi đại diện dự hoà đàm với Hoa kỳ ở Paris.
Vào buổi trưa 30-10-1968, tức là chỉ c̣n năm ngày trước bầu cử, Tổng
thống Johnson nhận được hồi âm của ông Thiệu nói sẽ chấp nhận nếu
các điều kiện của ông được thoả măn(15).
Đâm lao phải theo lao
Như vậy là ông Thiệu chưa dứt khoát. Tới đây th́ Johnson không c̣n chờ
đợi được nữa, nên đă thông báo ngay cho ông Thiệu về việc quyết định
hành động một ḿnh. Johnson ấn định ngày giờ loan báo trên TV việc ngưng
oanh tạc là tám giờ tối 31-10-1968 và quyết định sẽ có hiệu lực 12 giờ
sau đó. Buổi họp ở Paris đầu tiên được ấn định vào mùng 6-11-1968, một
ngày sau bầu cử. Với áp lực như vậy, ông Johnson hy vọng suốt ngày hôm
đó là thế nào ông Thiệu cũng đồng ư đưa ra một thông cáo chung về
việc ngưng oanh tạc và hoà đàm. Đại sứ Bunker họp liên miên với Tổng
thống Thiệu, Phó Tổng thống Kỳ và Ngoại trưởng Trần Chánh Thành "để cố
san bằng những dị biệt".
Thế nhưng, chỉ c̣n một giờ trước khi Johnson lên truyền h́nh ông được
Đại sứ Bunker thông báo rằng ông Thiệu vẫn c̣n đ̣i duyệt xét lại.
Quá muộn rồi, cần phải có ảnh hưởng ngay với cử tri. Ngày 1-11-1968,
Johnson bèn công bố quyết định ngưng oanh tạc Bấc Việt và khai mạc Hoà
đàm Paris nới rộng. Để che đậy t́nh h́nh căng thẳng với ông Thiệu, ông
Johnson nói thêm rằng "Đại diện Chính phủ Việt nam cộng hoà nếu muốn
tham dự th́ cứ tự do".
Đă đâm lao, phải theo lao. Tại Sài g̣n, ông Thiệu phản ứng bàng cách tự
tách khỏi quyết định ngưng oanh tạc. Ông tuyên bố đó là một quyết định "đơn
phương" của Hoa kỳ. Phản ứng này giảm bớt tác dụng chính trị của nước cờ
Johnson đối với cử tri Mỹ và khiến hy vọng hoà b́nh cũng mờ nhạt. Tuy
nhiên dù tuyên bố như vậy, ông Thiệu vẫn nói riêng với Bunker rằng ông
sẽ không làm ǵ để đảo lộn sáng kiến hoà b́nh của ông Johnson và sẽ tham
gia hội nghị nếu Sài g̣n thương thuyết thẳng với Hà Nội chứ không phải
với Mặt trận giải phóng miền Nam. Khi Johnson tuyên bố ngưng oanh tạc
Bắc Việt, Humphrey vô cùng phấn khởi, cho rằng đó là sự hỗ trợ cho lập
trường chấm dứt chiến tranh mà ông cổ vơ trong mấy tháng vận động tranh
cử. Giờ đây, vào những ngày chót, Johnson lại đi được một nước cờ tuyệt
diệu, vừa chấm dứt chiến tranh, vừa bầu lên được người kế vị thuộc đảng
Dân chủ. Hôm sau ngày Johnson tuyên bố, tờ Washington Post (số ra
ngày 1-1 l-1968) tường thuật là "phản ứng sơ khởi của cấp lănh đạo chính
trị thuộc cả hai đảng là lời tuyên bố ngưng oanh tạc của Tổng thống
Johnson đêm qua sẽ có thể làm tăng hy vọng cho đảng Dân chủ để giữ lại
được toà Bạch Ốc và duy tŕ giữ được đa số tại Quốc hội trong cuộc bầu
cử vào thứ Ba tới". Humphrey th́ được báo chí mô tả là "nghiêm nghị và
nhẹ nhơm, hy vọng hành động của Johnson sẽ mang lại "hoà b́nh trong danh
dự".
Cạm bẫy của Nixon
Cứ để Humphrey biểu diễn, Nixon đă giăng sẵn một cái bẫy cho ông ta. Qua
những thông tin bí mật về hoà đàm Paris, Nixon biết được hết đường đi
nước bước của Johnson. Ông này nắm được sáng kiến hoà b́nh để giúp
Humphrey, lại có đầy đủ quyền hành trong tay, muốn ngưng oanh tạc bất cứ
lúc nào cũng được. Sau đó đi tới thoả hiệp với Bắc Việt. Ngày
22-10-1968, Nixon nhận được một tờ tŕnh của Bryce Harlow, một tuỳ viên
chính trị của ḿnh, rằng: "Tổng thống Johnson đang cố t́m mọi cách để có
được một đổi chác với Bắc Việt… ông trở nên háo hức một cách dường như
bệnh hoạn, đi t́m một cái cớ nào đó để có thể vin vào mà ra lệnh ngưng
oanh tạc và sẽ chấp nhận bất cứ một cuộc dàn xếp nào…"(16). Đọc tờ tŕnh
nhiều lần, Nixon hết sức bực bội. Ông đề pḥng cẩn mật. Ngày 26-10-1968,
Nixon quyết định công bố một nhận định về hoà đàm như sau: "Trong ba
mươi sáu giờ qua, tôi nghe nói có rất nhiều cuộc hội họp ở toà Bạch Cung
và ở các nói khác về vấn đề Việt nam. Tôi nghe nói rằng các viên chức
cao cấp trong chính quyền đang rất bận rộn để đạt tới thoả hiệp ngưng
oanh tạc và tiếp theo là đ́nh chiến. Trong những ngày gần đây, những
việc đó được coi như là đúng. Tôi c̣n… nghe rằng hoạt động bận rộn ấy là
một mưu toan đáng khinh bỉ vào phút chót của Tổng thống Johnson để cứu
văn ứng cử viên Humphrey. Điều này th́ tôi không tin là đúng" (17). Rất
khôn, cứ nói toạc ra, lên án, rồi lại phủ nhận. Ngày 31-10-1968 (giờ
Washington), Johnson tuyên bố Hoa kỳ sẽ "ngưng mọi phi vụ oanh tạc, mọi
vụ oanh kích từ ngoài khơi, và pháo kích trên lănh thổ Bắc Việt kể từ
ngày 1 tháng 11". Ông Humphrey hết sức phấn khởi v́ việc ngưng oanh tạc
đă mang lại kết quả mau lẹ. Trước khi Johnson tuyên bố, ứng cử viên
Nixon với lập trường mang lại hoà b́nh đă được dân chúng Mỹ ủng hộ hơn
hẳn ứng cử viên Humphrey, người bị coi là kế vị "con diều hâu Johnson".
Trước đó mười ngày, Tổ chức thăm ḍ dân ư Gallup cho biết kết quả là
Nixon sẽ dẫn đầu Humphrey tám điểm: 44% và 36% (ngày 21 tháng 10). Nhưng
chiều mồng 1-11-1968, tức là chỉ hai ngày sau khi công bố ngưng oanh tạc,
th́ "sóng gió nổi lên, và Nixon chỉ c̣n dẫn đầu Humphrey có hai điểm:
42% và 40%"(18).
Như vậy, chắc là Nixon phải lo lắng lắm. Thế nhưng không, v́ ông biết
được ông Thiệu đang toan tính cái ǵ ở Sài g̣n. Nixon rất mừng khi thấy
phe Dân chủ đang sa vào cái bẫy của ḿnh. Ông biết là ông Thiệu sẽ không
chịu đi Paris, vậy mà phe Dân chủ lại phóng mạnh lên viễn ảnh hoà b́nh
bằng cách gắn liền việc ngưng oanh tạc với Hoà đàm Paris, được ấn định
vào ngày 6-11-1968.
Từ thế thủ chuyển sang thế công, ông Nixon lại đi một nước cờ cao hơn:
đó là cứ đổ dầu thêm vào lửa. Ông thổi phồng ngay cái hy vọng hoà b́nh
cho lớn hơn, v́ biết rằng chính ông Thiệu sẽ làm nó xẹp. Chắc chắn ông
sẽ có lợi khi cử tri Mỹ vỡ mộng, hoài nghi lá bài hoà b́nh của Johnson.
Trong một cuộc mít-tinh lớn tại Madison Square Garden, New York,
đúng vào ngày ngưng oanh tạc, Nixon tuyên bố rằng ông sẽ "không nói bất
cứ điều ǵ có thể phá vỡ cơ hội đưa đến hoà b́nh, và ông tin rằng rằng
việc ông Johnson ngưng dội bom sẽ "mang lại một vài tiến bộ" tại Hoà đàm
Paris nhóm họp vào ngày sáu tháng 11 sắp tới. Thực ra, Nixon thừa biết
là ông Thiệu sẽ không tham gia, nên ông giăng lưới cho Humphrey và
Johnson rơi vào.
Lá bài tẩy.
Ba ngày trước cuộc bầu cử, áp lực của Johnson gia tăng. ông gửi một
thông điệp riêng cho ông Thiệu thúc giục "Chúng ta không nên bỏ nhau
trong giờ phút nghiêm trọng này".
Lá bài chót của ông Thiệu là bài diễn văn ông dự định đọc vào ngày Lễ
Quốc Khánh, mồng một tháng 11, ngày lật đố Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm (31
tháng 10, giờ Washington). ông Thiệu dự định đọc diễn văn trong một
phiên họp Lưỡng Viện Quốc hội Việt nam cộng hoà vào mồng một tháng 11.
Buổi chiều hôm trước, nhân dịp lễ Quốc khánh, ông mở một tiệc tiếp tân
khoản đăi ngoại giao đoàn tại dinh Độc Lập. Nhớ lại buổi đó, ông kể
chúng tôi nghe hồi 1977: "Không thấy ông già Bunker nói chuyện với ai
hết, mà cứ đến chỗ tôi nói về bài diễn văn tôi sắp đọc ngày mai. Bunker
hỏi nhiều lần là "mọi việc êm xuôi cả chứ, thưa Tổng thống?". Tôi trả
lời "Cố nhiên, cố nhiên, mọi việc đều êm xuôi".
Bunker lấy làm hài ḷng và nâng ly chúc tụng tự do cho Việt nam cộng hoà.
Ông báo cáo về Washington là ông Thiệu sẽ tuyên bố trong bài diễn văn
đọc trước Quốc hội (vào hôm sau, mồng 1-11) là Việt nam cộng hoà sẽ tham
gia các cuộc Hoà dàm Paris. Riêng ông Thiệu th́ đă dùng mọi cách để giấu
cho kín nội dung bài diễn văn: ông tự viết lấy bản thảo, rồi cho ba
người thư kư khác nhau đánh máy, mỗi người đánh một số trang chẳng theo
thứ tự nào để không người nào có thể đọc được tất cả bài diễn văn. Họ
lại phải ở luôn trong dinh hôm đó, không được đi đâu (19).
Sáng thứ Bảy, 1-11-1968, một buổi sáng êm ả ở Sài g̣n, khí trời khô ráo
và dễ chịu v́ mùa mưa vừa hết. Ông Thiệu kể lại là trên đường từ Dinh
Độc Lập tới Quốc hội, ông hết sức lo ngại, có thể ông sẽ bị CIA ám sát
nếu Johnson và Humphrey biết trước được là ông sắp sửa phản phé và bác
bỏ kế hoạch hoà b́nh của Hoa kỳ, ngầm phá hoại cơ hội thắng cử của
Humphrey. "Và nếu họ muốn ám sát tôi th́ cũng dễ thôi. Rồi sau đó cứ đổ
cho Việt Cộng hoặc là do "âm mưu đảo chính" là xong", ông Thiệu kể lại.
Nếu t́nh h́nh ở Miền Nam trở nên rối ren th́ lại càng dễ bề biện minh
cho việc ngưng oanh tạc và khởi sự đàm phán với Bắc Việt. Ông Thiệu cũng
biết rằng một khi ông đă tới được toà nhà Quốc hội và đọc diễn văn công
khai loan báo quyết định của ḿnh rồi th́ hết phải lo. Ông sẽ tránh được
những thảm hoạ có thể xảy ra nếu như người Mỹ quyết định lật đổ ông.
Ngồi sừng sững ngay hàng ghế đầu trong Quốc hội, Đại sứ Bunker có vẻ
thoải mái và luôn tủm tỉm cười, sau cả tháng giằng co với phía Việt nam
cộng hoà. Khi ông Thiệu tới, máy quay phim của ba hệ thống truyền h́nh
Mỹ đều hướng vào ông và cử toạ đồng loạt đứng dậy vỗ tay. "Này công
dân ơi, Quốc gia đến ngày giải phóng…". Mọi người nghiêm chỉnh chào
quốc kỳ.
Khi bắt đầu nói, ông Thiệu tỏ vẻ xúc động rơ rệt, nhưng cương quyết. Sau
phần mở đầu ngắn ngủi, ông cất cao tiếng nói. Bằng một giọng đanh và sắc,
ông đ̣i Bắc Việt trực tiếp đàm phán với Việt nam cộng hoà. Việt Cộng sẽ
chỉ tham gia như một phần của phái bộ Bắc Việt mà thôi. Nhấn mạnh từng
chữ, ông nói: "Chính phủ Việt nam cộng hoà rất tiếc là không thể tham dự
những cuộc hoà đàm sơ bộ hiện nay tại Paris".
Cả Quốc hội nghe đến đó đều đồng loạt đứng dậy vỗ tay thật lâu. Đèn
chiếu và máy quay phim bỗng đổ dồn về phía Bunker. Sau này, ông Thiệu kể
lại: "Tôi c̣n nh́n thấy rơ là Bunker lúc ấy cố làm ra vẻ b́nh tĩnh mà
không được. Ông toát cả mồ hôi ra. Nh́n gương mặt ông, tôi không khỏi ái
ngại, nhưng tôi không thể làm ǵ khác hơn được. Tôi không thể chấp nhận
t́nh trạng có thể đưa ḿnh tới chỗ liên hiệp với Cộng sản" (20). Bài
diễn văn của ông Thiệu kéo dài 27 phút và bị những tràng pháo tay làm
gián đoạn mười tám lần. Quyết định này của ông đă là một tin quan trọng
(21). Bài diễn văn ngày Quốc Khánh năm 1968 của ông Thiệu là một nước cờ
then chốt từ một mưu lược do chính Nixon thúc đẩy
Tờ Washington Post đăng tít hàng đầu: "NAM VIỆT NAM TẨY CHAY HOÀ
ĐÀM NGÀY 6 THÁNG 11", và phần tin tức của bài báo ghi rằng: "Hậu quả
hành động của Thiệu là làm người ta nghi ngờ về những nước cờ của Mỹ
nhằm mở cuộc thương thuyết với Cộng sản để chấm dứt chiến tranh". Ngày
bầu cử Tổng thống là thứ Ba, mùng 5-11-1968. Như sử gia nổi tiếng
Theodore White đă nhận định trong cuốn "Việc tạo dựng nên ngôi vị
Tổng thống" (The making of the Presidency, 1968):
"Giả như hoà b́nh đă hiển nhiên như một sự thực trong ba ngày chót của
cuộc bầu cử năm 1968, th́ Hubert Humphrey có thể đă đắc cử; có thể ông
ta đă là một Tổng thống thiểu số, nhưng dù sao cũng là Tổng thống. Thế
nhưng, qua những xáo trộn của ba ngày chót đó, người ta thấy rằng vụ
ngưng ném bom bắt đầu sáng Thứ Sáu, chắc không thể nào làm ngưng được
máu người Mỹ vẫn đổ ở Á Châu; và dư luận quần chúng đang thuận lợi cho
Humphrey, bỗng nhiên lại ngả về phía Nixon (22).
Nixon thắng cử chỉ có 43.4% tổng số phiếu toàn quốc, so với 42.7% cho
Humphrey, hơn nhau chỉ nửa triệu phiếu. Nếu tính cho tṛn theo phương
pháp thống kê th́ mỗi người được bằng nhau là 43%. Dư luận cho rằng "nếu
như ngày bầu cử nhằm vào Thứ Bảy hay Chủ nhật (tức là ngay sau ngày
ngưng oanh tạc), th́ có thể Nixon đă thua. Nhưng giá như ngày bầu cử
được tổ chức một tuần lễ muộn hơn nữa, th́ Nixon có thể c̣n thắng từ một
triệu đến hơn năm triệu lá phiếu" (23). Sau này, chính Tổng thống
Johnson đă xác định trong cuốn hồi kư của ông "The Vantage Point"
rằng: "Ngày 1-11-1968, sau khi cho hay là sẽ đi dự Hoà đàm Paris, nhà
lănh đạo Việt nam cộng hoà lại quyết định không tham dự. Tôi tin chắc
rằng sự việc đó đă làm cho ông Humphrey thất cử" (24).
Vắt chanh bỏ vỏ.
Nếu như tin ông Nixon thắng cử có làm ông Thiệu hài ḷng đôi chút th́ nó
cũng chỉ là trong chốc lát. Đại sứ Bunker và cả Bộ Ngoại giao Hoa kỳ vô
cùng bực tức về ông. Ông Thiệu cũng cảm thấy rằng ḿnh đă hơi quá tay.
Ngày 12-11-1968, Tổng trưởng quốc pḥng Clark Clifford công khai
cảnh cáo ông Thiệu rằng nếu ông không tham dự hoà đàm Paris, Hoa kỳ sẽ
hành động một ḿnh và không cần đến ông. Tờ New York Times thuật
lại việc ông Clifford đă không đè nén được sự nổi giận của ông về việc
ông Thiệu đă chống lại cuộc đàm phán vào giây phút chót.
Ở Sài g̣n, lởi cảnh cáo của Clifford lại được giải thích là Johnson đang
nổi sùng với ông Thiệu và có thể quyết định lật đổ ông. Ông Thiệu kể lại:
"Nếu Johnson lật đổ tôi trước khi Nixon nhậm chức, th́ cái đó hẳn là một
giải pháp êm đẹp nhất cho Nixon: ông ta sẽ khỏi phải đích thân lật đổ
tôi. Tôi đâu có căn cứ chính sách của tôi vào một cá nhân duy nhất, mà
vào chính sách của Hoa kỳ. Tôi biết chính sách của Hoa kỳ là thương
lượng để đạt được một Chính phủ liên hiệp ở miền Nam, chứ không phải
thắng lợi quân sự. Tôi không bao giở có ảo tưởng là chính sách Nixon
nhằm giúp Miền Nam thắng Miền Bắc về mặt quân sự".
Sau này, khi lên truyền h́nh đọc bài diễn văn từ chức vào ngày
22-4-1975, ông Thiệu c̣n nhắc lại rằng: "Vào những ngày vô cùng khó khăn
năm 1968, áp lực của Mỹ đè lên chúng ta không phải là nhỏ?
Việc ông Thiệu lo ngại về đảo chính sau khi Nixon đắc cử cũng không hẳn
là không có lư do. Tác giả Seymour Hersh trong cuốn "The Price of
power", sau khi đúc kết các tài liệu về vụ này cho hay rằng sau cuộc
bầu cử 1968, chính ông Kissinger đă báo động cho phía Nixon về mưu đồ
của Clark Clifford và cảnh cáo: "Nếu ông Thiệu chịu chung một số phận
với ông Diệm th́ tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nghĩ rằng làm kẻ
thù của Mỹ có thể là nguy hiểm, chứ làm bạn với Mỹ chắc chắn là chết"
(25).
Một tuần lễ sau khi bầu cử, ngày 11-11-1968, Nixon tuy đă thắng nhưng
chưa chính thức nhậm chức (ngày 20-1-1969 mới đăng quang) đă tới thăm
Johnson tại Bạch Cung và được hướng dẫn về chính sách đối ngoại. Cuối
phiên họp, khi bàn về Việt nam, Nixon tuyên bố: "Chính phủ Johnson không
những có thể hành động nhân danh chính quyền hiện nay mà c̣n nhân danh
cả toàn quốc, và như thế có nghĩa là nhân danh cả chính quyền (của
Nixon) sắp tới nữa". Khi tin này được công bố, báo chí lập tức giải
thích câu phát biểu của Nixon là chính Tổng thống tân cử cũng đă bắt đầu
"làm áp lực" đối với ông Thiệu (26).
Và đúng như vậy, chỉ vài ngày sau khi Nixon thắng cử, cố vấn của Nixon
là Mitchell đă điện thoại yêu cầu bà Chennault nói với ông Thiệu là "nên
tham dự ngay các cuộc hoà đàm ở Paris". Bà vô cùng tức giận, cho rằng
Nixon đă phản bội. Bà c̣n nhớ trước ngày bầu cử, Mitchell đă gọi các
cuộc hoà đàm ở Paris là "giả mạo", xúi ông Thiệu đừng tham dự,
lúc nào cũng giục "hăy cố thử" (please hold on!) mà bây giờ lại
trở mặt, cho việc gửi đại diện tham dự là quan trọng.
Thế nhưng, Nixon đă lên lưng ngựa rồi, bây giờ đâu c̣n cần ai nữa! "Đường
ta, ta cứ đi", Nixon trực chỉ phóng tới đích (27).
Chú thích:
(1) Leslie
Gelb and Richard Betts, The Irony of Vietnam, trang 160-161.
(2) Leslie H. Gelb and Richard K. Betts, The Irony of Vietnam,
trang 170.
(3) Harry G. Summers, "Turning point of the war" in David Zabecki,
Vietnam, A Reader, trang 240.
(4) Leslie H. Gelb and Richard K.Betts, Irony of Vietnam, trang
171; và Harry Summers, "Turning point of the war", trang 231.
(5) Harry Summers. "Turning point of the war", trang 235.
(6) Phỏng vấn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, 3-5-1985.
(7) Phỏng vấn bà Anna Chennault, 5-5-1985.
(8) Về điểm này, nên đọc thêm: Bùi Diễm, The Jaws of history,
trang 235-246
(9) Phỏng vấn bà Anna Chennault, 23-2-1986.
(10) Phỏng vấn bà Anna Chennault, 5-5-1985.
(11) Anna Chennault, The Education of Anna Chennault, do Seymour
Hersh trích dẫn trong The price of power, trang 21; cũng nên đọc
Stanley Karnow, Vietnam: a history, trang 585-586.
(12) Stanley Karnow, Vietnam: a history, trang 586.
(13) Lyndon B. Johnson, The vantage point, trang 520-521.
(14) Lyndon B. Johnson, The vantage point.
(15) Lyndon B. Jonhson, The vantage point, trang 524.
(16) Richard Nixon, Memoiry trang 326.
(17) Richard Nixon, Memoiry, trang 327.
(18) Theodore H. White, The making of the President 1968, trang
446.
(19) Nói chuyện với Tổng thống Thiệu, 25-11-1976.
(20) Nói chuyện với Tổng thống Thiệu, 25-11-1976.
(21) Tổng thống Johnson đă điện đàm với Đại sứ Bunker: Bunker cam đoan
rằng Sài g̣n sẽ gửi phái đoàn tham dự hoà đàm Paris mặc dù John
Negroponte, một chuyên viên chính trị nói sơi tiếng Việt, đă tiên đoán
ngược lại. Phỏng vấn Richard Holbrooke, 26-4-1985. (Holbrooke thời đó là
một chuyên viên cấp thấp, làm việc cho Averell Harrimam tại Hoà đàm
Paris).
(22) Theodore White, The making of the President 1968, trang 447.
(23) Theodore White, The making of the President 1968.
(24) Lyndon B. Johnson, The vantage point, trang 548-549.
(25) Seymour Hersh, The vantage point, trang 22-23.
(26) Washington Post, 12-11-1968.(27) Phỏng vấn Anna Chennault,
2-3-1986.
P1 - Chương 2
Kissinger, ông là ai?
New York là thành phố "không bao giờ
ngủ". Từng dẫy cao ốc chọc trời. Đường phố rộng thênh thang, xe cộ
chạy như mắc cửi. Mỗi khi phải đi băng qua phố ở những chỗ không đèn báo
hiệu là cả một vấn đề khó khăn. Nếu v́ lư do ǵ lại phải đợi có ai đi
qua để cùng theo th́ lại càng mất thời giờ. Uy thế mà cậu bé Heinz luôn
luôn làm như vậy. Mới lớn lên mà đă rất cẩn thận. Mỗi khi phải qua phố,
cậu luôn chờ xem có đám trẻ nào đi qua th́ mới theo sau.
Cậu bé di cư từ làng Bavaria.
Đầu Thế chiến thứ hai nhiều người gốc Do Thái từ nước Đức sang t́m tự do
tại Hoa kỳ, trong đó có gia đ́nh cậu Henry Kissinger. Tên thật của cậu
là Heinz Alfred Kissinger. Heinz đổi ra Henry từ khi sang Mỹ. Sinh
trưởng ở làng Bavaria, thuộc vùng Furth ngày 27 tháng Năm, 1923. Lên bảy,
làng cậu đă bị đám thanh niên theo Hitler quấy nhiễu. Heinz và các bạn
trẻ Do Thái bị trẻ con trong làng đánh đập thường xuyên (1). Cậu sợ đến
nỗi là dù đă tới đất của Nữ thần Tự do rồi mà vẫn luôn luôn nhút
nhát, lúc nào cũng giữ thế thủ.
Gia đ́nh cậu được di cư sang Mỹ vào tháng Tám, 1933.
Thoát chết, v́ chỉ ba tháng sau đó, trong một đêm gọi là "Đêm pha lê"
(Crystal Night), đoàn "Thanh niên Hitler" cùng quân đội đă ào
ạt tấn công một cách man rợ vào cư dân Do Thái khắp nước Đức. Trong số
3.000 dân Do Thái ở vùng Furth, chỉ c̣n đếm được có 70 người lúc chiến
tranh kết thúc năm 1945.(2)
Tới Mỹ, gia đ́nh cậu Henry cư ngụ tại New York, sinh hoạt b́nh thường
như những gia đ́nh di cư khác. Ngay từ lúc c̣n học trung học, Henry đă
tỏ ra là một học sinh xuất sắc.
Tiến sĩ Kissinger
Trưởng thành, Kissinger đi quân dịch và nhập trại huấn luyện ở tiểu bang
North Carolina vào tháng Hai, năm 1943. Tới tháng Sáu cùng năm ông được
nhập tịch, trở thành công dân Hoa kỳ. Sau khi giải ngũ, Kissinger được
nhận vào đại học Harvard. Và đỗ tiến sĩ với điểm ưu hạng. Vừa học giỏi,
Kissinger lại được một giáo sư nổi tiếng là William Elliott đỡ đầu. Ông
Elliott cho Kissinger đảm nhiệm chương tŕnh "Hội thảo chuyên đề quốc
tế Harvard" (Harvard International Seminar). Chương tŕnh này được
tổ chức vào mỗi mùa hè để các chính khách, học giả từ các nước tới trao
đổi về các vấn đề quan trọng. Đây là cơ hội quư giá cho Kissinger gặp
nhiều yếu nhân từ khắp nơi. Và ông bắt đầu được biết đến từ lúc đó (3).
Năm 1957, ông cho xuất bản cuốn sách "Vũ khí nguyên tử và chính sách
ngoại giao" (Nuclear Weapons and Foreign Policy), một cuốn sách được
liệt vào hàng bán chạy nhất năm đó. Cuốn này phản ảnh tư tưởng của ông
về sự xung đột liên tục trên thế giới giữa phe bảo thủ và phe cách mạng.
Nhưng làm sao tránh được một cuộc chiến tranh nguyên tử toàn diện giữa
Hoa kỳ và Nga Xô? Ông đề nghị một chính sách "chiến tranh nguyên tử giới
hạn" để theo đuổi một mục đích cũng giới hạn. Đọc cuốn sách này, Nixon
và đồ đệ của ông đă rất khâm phục (4).
Cơ hội tiến thân
Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1968, ai là người đă cho phía Nixon
biết hết những bí mật về kế hoạch của Tổng thống Johnson tại Hoà đàm
Paris? Người đó chính là Kissinger (5).
Ông có nhiều mối liên lạc với những chuyên gia về ngoại giao trong Chính
phủ Johnson v́ chính ông đă làm tư vấn bán thời gian cho họ về vấn đề
Việt nam. Biết vậy nên ông Richard Allen, trong ban tham mưu về ngoại
giao của ứng cử viên Nixon, đă liên lạc với Kissinger để ḍ xét xem phía
Dân chủ đang mưu tính những chuyện ǵ về kế hoạch hoà b́nh. Kissinger
liền xác định với Allen là ḿnh có nhiều bạn bè và đồng liêu hiện đang
làm việc ngay tại Hoà đàm Paris (bắt đầu từ tháng Năm, 1968). "Tôi có
cách liên lạc với họ", Kissinger quả quyết. Và ông đă làm như vậy.
Phía Nixon được ông khuyến nghị là phải đề pḥng v́: "Johnson đang chuẩn
bị ngưng dội bom, và sẽ tung con bài bất ngờ ra trước ngày bầu cử".
Trong tập hồi kư, chính Nixon cũng xác nhận việc này và tiết lộ một văn
thư của phụ tá Haldeman thuật lại báo cáo của Kissinger gửi ông Mitchell
(người điều hợp ban tham mưu của Nixon rồi Tổng trưởng Tư Pháp) nói
trước mưu lược của Johnson: "Nguồn tin của chúng tôi cho việc chống đối
ngưng ném bom là không thực tế, nhưng khuyên ta phải để tâm tới sự kiện
là việc đó có thể xảy ra - nghĩa là ta nên tiên liệu trước việc đó - và
nhất định là ta phải chuẩn bị cho cái lúc mà việc đó xảy ra. Nguồn tin
của chúng tôi vô cùng quan ngại về những nước cờ sắp tới của Johnson, và
tiên đoán rằng Johnson sẽ có một hành động nào đó trước ngày bầu cử"
(6).
Bà Anna Chennault kể lại là vào thời điểm đó, bà đă không biết rơ "nguồn
tin của chúng tôi" là ai. Măi về sau này, ông Mitchell mới tiết lộ
cho bà tông tích của "nguồn tin": đó là Henry Kissinger. Khoảng
12 giờ trước khi Johnson ngưng ném bom, Kissinger đă gọi cho Allen để
thông báo một tin sốt dẻo: tại Paris, hai ông Harriman và Vance, lănh
đạo phái đoàn Hoa kỳ tại hoà đàm, đă mở rượu xâm banh ăn mừng rồi! Mọi
vấn đề liên hệ đă điều đ́nh xong, và việc ngưng ném bom sẽ được tuyên bố
sớm (7).
Về hành động này của Kissinger, kư giả Seymour Hersh (người nổi tiếng về
tiết lộ vụ Mỹ Lai) b́nh luận: khi đem những thông tin từ Paris cho phía
Nixon, không những Kissinger đă lạm dụng t́nh đồng liêu nhưng c̣n phản
bội những người mà ông đă từng cộng tác về những cố gắng đàm phán bí mật"
(8).
Sau khi đăng quang, Tổng thống Nixon đă lựa chọn ông vào chức Cố vấn an
ninh Quốc gia. Nixon viết thẳng ra trong hồi kư của ông rằng "Trong
những ngày cuối cùng của cuộc bầu cử, khi Kissinger cung ứng cho chúng
tôi những tin tức về việc ngưng ném bom, tôi đă thấy được rơ hơn nữa, về
sự hiểu biết sâu rộng và ảnh hưởng của ông ta… tôi có một trực giác mạnh
về Henry Kissinger"(9).
Trong cương vị Cố vấn của Tổng thống, Kissinger chẳng mấy lúc đă nắm
được trọn quyền hành về ngoại giao, qua mặt cả Ngoại trưởng William
Rogers. Và sau cùng, ngày 22 tháng Tám 1973, Tổng thống Nixon c̣n chọn
ông làm Ngoại trưởng thay ông Rogers (từ chức ngày 16 tháng Tám). Và
Kissinger đă trở thành người di cư đầu tiên lên tới chức vị này. Quan
trọng hơn nữa, ông cũng là Ngoại trưởng đầu tiên kiêm cả chức Cố vấn
Tổng thống về An ninh. Sau khi Nixon từ chức, ông Ford lên kế vị (ngày
chín tháng Tám 1974), lại cũng tiếp tục bổ nhiệm Kissinger kiêm luôn hai
chức như cũ. Tới tháng 11, 1975 (bảy tháng sau khi Miền Nam sụp đổ) ông
Ford mới rút lại chức Cố vấn. Như Kissinger đă tự thuật sau này là: ông
đă kịch liệt phản đối việc ấy v́ làm cho người ta nghi ngờ về địa vị của
ông. "Và trong mấy tuần, tôi c̣n có ư định từ chức nữa" (10).
Trong tám năm trời và dưới hai thời Tổng thống, ông Kissinger đă nắm
toàn quyền về ngoại giao Hoa kỳ. Chắc chắn lịch sử sẽ phải ghi nhận rằng
trong một thời gian là sáu năm ba tháng (lừ 20 tháng Giêng 1969 tới
30-4-1975), tức là gần một phần ba thời gian tồn tại của Việt nam cộng
hoà, Kissinger đă đóng vai tṛ then chốt trong cả việc Mỹ tháo gỡ và
việc Mỹ bỏ chạy ra khỏi Miền Nam.
Chuyên gia tư vấn: từ Dân chủ sang Cộng hoà
Tư vấn cho Đảng Dân chủ. Đầu thập niên 1960, Kissinger theo đảng
Dân chủ và được làm tư vấn bán thời gian cho bộ Ngoại giao về vấn đề Âu
châu thời Tổng thống Kennedy. Tới thời Tổng thống Johnson, ông c̣n tư
vấn thêm cả về vấn đề Việt nam, đặc biệt là trong một công tác được gán
hiệu là "Pennsylvania". Trong khi tham dự nhiều hội nghị quốc tế
tại Paris, Kissinger có gặp một nhà vi trùng học người Pháp tên Herbert
Marcovich. Marcovich cho biết ông có người bạn, một kỹ sư tên Raymond
Aubrac, là chỗ quen biết với ông Hồ Chí Minh. Rất bén nhạy, Kissinger về
Washington thuyết phục các cấp trên của ông dùng Aubrac làm đường dây
với Hà Nội để điều đ́nh. Chính phủ Johnson đồng ư và ngày 21 tháng Bảy
1967, hai người Pháp cùng với Kissinger bay ra Hà Nội gặp Thủ tướng Phạm
Văn Đồng (11). Và đó là "Pennsylvania", nguồn gốc của hoà đàm.
Tháng Năm 1968, Cyrus Vance, đại diện Hoa kỳ và Hà Văn Lâu, đại diện Hà
Nội đến họp tại Paris để thảo luận về chi tiết những cuộc hoà đàm về
chiến tranh Việt nam.
Tư vấn cho Đảng Cộng hoà. Khoảng năm 1964, Kissinger đổi sang
Đảng Cộng hoà.
Trước hết là tư vấn cho Nelson Rockefeller, đối thủ của Richard
Nixon. Nhà triệu phú Rockefeller, thống đốc tiểu bang New York,
đă tuyển ông làm tư vấn về ngoại giao khi ra cạnh tranh với Nixon trong
chức ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hoà. Thời đó, Kissinger rất
khinh miệt Nixon, cho ông này là người "nông cạn, tham quyền, chống cộng
quá khích và có thể đưa Mỹ tới đụng độ nguyên tử với Nga Xô và Trung
Cộng". Ông c̣n nói với phe chống Nixon trước ngày họp Đảng "Con người
Nixon đó không thích hợp để làm Tổng thống". Để thuyết phục, ông thêm: "Trong
ngần ấy những người ra tranh cử, Richard Nixon là con người nguy hiểm
nhất nếu trở thành Tổng thống". Thế nhưng, tại Đại hội đảng Cộng hoà,
ngày 8-8-1968, ông Nixon được Đảng lựa chọn.
Khi thấy Rockefeller thất bại ngay lần bỏ phiếu đầu với số phiếu 277 so
với 692 cho Nixon, Kissinger vô cùng buồn bă. Người ta kể lại rằng ông
đă khóc. Ông c̣n nói: "Cái ông đó hả, ông ta không có quyền để cai trị"(12).
Nhảy sang tư vấn cho Richard Nixon. Khinh miệt Nixon như vậy, mà
khi ông này vừa được đảng Cộng hoà tuyển chọn, Kissinger xoay chiều ngay.
Dù biết rằng Kissinger coi thường cấp trên của ḿnh, ban tham mưu của
Nixon cũng nhận ra tài năng của ông ta. Chính ông Nixon cũng biết về
thái độ thù nghịch của Kissinger, nhưng ông cho rằng đó chỉ là chuyện
chính trị trước bầu cử (13). Phía Cộng hoà liền đề nghị Kissinger cộng
tác để làm việc cho đảng trong kỳ tuyển cử tới. Kissinger vui vẻ quá sức.
Người ta cho đây là "cơ hội chủ nghĩa" ở đỉnh cao nhất của nó (14). Lúc
đó, Nixon đang cần có một nhà tư tưởng, nhà quân sư như Mcgeorge Bundy,
Arthur Schlesinger của Kennedy hay Walter Rostow của Johnson. Là một
luật sư, tuy có nhiều kinh nghiệm thực tế về chính sách v́ đă làm Phó
Tổng thống thời Eisenhower, nhưng ông Nixon thiếu cách diễn tả lưu loát
về ngoại giao và những quan niệm về cơ cấu quy mô của chính trị toàn cầu.
Về điểm này, chúng tôi cũng có nhận thức được phần nào, khi nghe ông
Nixon tranh luận với ông Kennedy vào lúc bầu cử Tổng thống hồi tháng 11,
năm 1960. Ngồi trong gian pḥng giải trí dành cho sinh viên tại đại học
Virginia, tôi được xem cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai ứng cử viên tại
nước Mỹ trên truyền h́nh, tuy là TV đen trắng và nhỏ xíu. Chắc là ông
Kennedy có những cố vấn ở đại học Harvard luyện cho trước cuộc tranh căi,
nên ăn nói lưu loát và b́nh luận về ngoại giao ở tầm lư thuyết cao. C̣n
ông Nixon th́ mắt cứ chớp chớp, chỉ chống chế cho thành tích ngoại giao
dưới thời Eisenhower. Sau cùng Nixon đă thất cử năm đó.
Tư vấn cho hai Đảng một lúc
Trong kỳ bầu cử 1968, khi Henry Kissinger ngấm ngầm làm việc với phía
Cộng hoà qua Richard Allen, ông lại tiếp tục cộng tác với phía Dân chủ
qua Zbigniew Brzezinski, người điều hợp về ngoại giao cho Humphrey. Tác
giả Seymour Hersh trong cuốn The Price of power có dẫn chứng là
Ted van Dyke, viên phụ tá thân cận của Humphrey có xác nhận chính ông đă
là người tiếp nhận bức thư Kissinger viết cho. Humphrey vừa chỉ
trích Nixon vừa xin t́nh nguyện làm việc với Chính phủ Humphrey. Trong
một cuộc điện đàm với Brzezinski, Kissinger cho biết là ông có thể đưa
cho xem cả hồ sơ riêng của Rockefeller về Nixon. Theo như lời Kissinger,
đó là những "hồ sơ nhơ bẩn" (shitfiles) của Nixon (15).
Và ông cứ đi hàng hai như vậy cho tới giữa tháng Chín khi những cuộc
thăm ḍ dân ư cho biết Nixon đă bỏ xa Humphrey, lúc đó ông mới tỏ rơ
thái độ, nghiêng hẳn về Nixon. Khi Brzezinski gọi điện thoại tới văn
pḥng Kissinger để hỏi xin hồ sơ này, cô thư kư trả lời: "Như ông đă
biết, tiến sĩ Kissinger bây giờ đang làm việc cho ông Nixon rồi". Và từ
đó phía Humprey không nghe thấy ǵ về "shitfiles" của Nixon nữa
(16).
Vào đầu thập niên 1990, khi tôi có dịp quen biết với Richard Allen (trước
đó là Cố vấn an ninh cho Tổng thống Reagan), trong cương vị là thành
viên của Hội đồng quản trị Trung tâm nghiên cứu Á Châu (Asian Studies
Center tại Heritage Foundation) do Allen làm Giám đốc, tôi ṭ
ṃ hỏi xem ông nghĩ sao về việc đă giới thiệu Kissinger cho Nixon, Allen
nhún vai, lắc đầu, như hối tiếc đă giúp cho tham vọng của ông này.
Lên chức Cố vấn Tổng thống.
Ngày 27 tháng 11, 1968, sau khi Nixon thắng cử, ông John Mitchell mời
Kissinger tới căn pḥng của Nixon ở lầu 39 khách sạn Pierre, New York
để gặp Tổng thống tân cử. Nơi đây Nixon mời Kissinger làm Phụ tá an
ninh quốc gia. Vui vẻ quá sức nhưng ông vẫn tỏ vẻ ngần ngại, nói là cần
có thời gian để suy nghĩ.
"Được rồi, một tuần", Nixon trả lời. Kissinger về hỏi ư kiến
Rockefeller. Ông này đồng ư để tiến cử đệ tử ḿnh. Ngày 20 tháng Giêng
1969, Nixon đăng quang, dọn vào Bạch Ốc. Kissinger dọn vào theo (17).
***
Tổng thống Nixon là người muốn thành công ở lănh vực ngoại giao nên muốn
tập trung chính sách ngoại giao của Hoa kỳ vào toà Bạch Ốc, chứ không
giao cho Ngoại trưởng như Tổng thống Eisenhower đă giao cho ông John
Foster Dulles. Và như vậy cũng rất khôn ngoan. Quyền lực và danh vọng
của một Tổng thống Mỹ thực ra chỉ được biểu lộ trong lănh vực đối ngoại.
Truman thả bom nguyên tử ở Hiroshima, Kennedy cho chiến hạm trực chỉ
Cuba ép Krutschev gỡ hoả tiễn về. Và ngày nay, ông Bush Cha thả bom
Baghdad, bắt Iraq rút khỏi Kuwait; ông Bush Con, đánh đuổi Taliban và Al
Qaeda khỏi Kabul. Rồi chiếm Iraq, lại bắt được Saddam Hussein trốn trong
hầm. Ngay chính bản thân Nixon, khi làm Phó cho Tổng thống Eisenhower
cũng đă chỉ nổi tiếng về vụ "Kitchen Debate", đốp chát với
Krutschev ở trong một khu trưng bày đồ gia dụng nhà bếp tại hội chợ quốc
tế ở Moscow.
Bây giờ lên dài, Nixon phải sáng chói. Cũng chỉ trong lănh vực ngoại
giao thôi. V́ trong thời hiện đại, có Tổng thống Mỹ nào nổi tiếng về vấn
đề nội trị đâu? Nền kinh tế Mỹ như cái máy tự động, khổng lồ, chỉ làm
sao đừng bị lạm phát (dưới 4%), giữ thất nghiệp cho thấp (khoảng 5%) là
tốt rồi, đâu có làm phép lạ được. Xă hội th́ đă có nền nếp; luật pháp
th́ đă thành khuôn, chắc như đanh đóng cột. Khó mà làm được ǵ nổi bật
trong địa hạt chính sách đối nội. Ngược lại chỉ thấy nhức đầu: tăng thuế
cũng bị chửi, giảm thuế cũng bị la. Tổng thống Johnson đă hái được nhiều
thành quả trong nước, đặc biệt là đă để ư tới vấn đề xoá đói giảm nghèo,
công b́nh xă hội, nhưng lại thất bại về mặt ngoại giao là chiến tranh
Việt nam, nên rồi cũng chẳng đi đến đâu. Hiện giờ (2005) Tổng thống
George Bush vừa thắng nhiệm kỳ hai, ông đặt ưu tiên cho chính sách đối
nội là sửa đổi lại hệ thống "an ninh xă hội" (so- cial security
system), nhưng rồi cũng sẽ gặp nhiều chống đối, và dù đa số ở Quốc
hội là Cộng hoà, ông cũng sẽ phải đi đến thoả hiệp nếu muốn thành công.
Và sau cùng th́ kết quả về chiến tranh Iraq cũng vẫn là yếu tố quan
trọng xác định địa vị của ông trong lịch sử.
Công cụ của quyền hành
Hiểu rơ nhu cầu của Nixon cần có thành quả ngoại giao, Kissinger lại có
trong tay một cơ hội bằng vàng: đó là quyền điều khiển toàn bộ nhân viên
làm việc cho "Hội đồng an ninh quốc gia" (National Security Council
- NSC). Ông liền đưa ra một đề nghị để Nixon cho phép ông sửa đổi nó
lại theo ư ông (18). NSC được thành lập từ 1947 để giúp Tổng thống điều
hợp các vấn đề liên quan tới an ninh quốc gia. Về thực chất nó rất lỏng
lẻo. Tôi c̣n nhớ từ khi du học ở Mỹ, dù là dưới thời Eisenhower, Kennedy
hay Johnson, mỗi khi truyền h́nh chiếu những biến cố ngoại giao quan
trọng vào phần tin buổi chiều th́ đều thấy Ngoại trưởng hoặc Tổng trưởng
quốc pḥng lên tŕnh bày. Bây giờ được Nixon ủng hộ, Kissinger sắp xếp
lại để nó trở thành một công cụ tập trung quyền hành.
Guồng máy NSC được sửa lại th́ giống như cái máy sàng lọc, mọi hồ sơ
phải qua đây th́ mới tới được bàn giấy Tổng thống. Ba cơ quan Ngoại giao,
Quốc pḥng, CIA có trách nhiệm phải nộp cho NSC các đề nghị về những
giải pháp được cân nhắc kỹ lưỡng. Dựa theo đó, nhân viên làm việc tại
NSC phải tŕnh bày cho Tổng thống những lựa chọn và hậu quả về mỗi giải
pháp và cho từng vấn đề.
Sự sắp xếp lại NSC cho phép Kissinger đóng hai vai tṛ: một là
người điều hợp, tập trung các phân tích, đề nghị của các bộ về lănh vực
an ninh; hai là làm cố vấn cho Tổng thống về ngoại giao. Là người
điều hợp, ông có quyền sàng lọc, thâu tóm các đề nghị. Quyền sàng lọc là
quyền vô cùng quan trọng. Những điểm ǵ ḿnh không thích hay không đồng
ư th́ có thể làm nhẹ đi, giảm tầm quan trọng của nó xuống, hay chỉ nói
phớt qua thôi.
Ảnh hưởng của cố vấn cũng lợi hại. Có nửa ly rượu: nói đầy nửa ly cũng
đúng hay vơi nửa ly cũng đúng, kiểu nào cũng được. Miễn là gần kề Tổng
thống. Bộ Ngoại giao đă hết sức bất măn, cho rằng Kissinger đă độc quyền
hoá lănh vực ngoại giao, nắm trọn vẹn quyền hạn đến nỗi một bộ lớn với
12 ngàn nhân viên, mà chỉ c̣n vai tṛ sắp xếp giấy tờ, hồ sơ. Nghị sĩ
Stuart Symington c̣n bàn thêm rằng "Kissinger đă thực sự là Ngoại trưởng,
trừ cái tên đó thôi" (18).
Tài nghệ ông Phụ tá
Ngoài tài ba về chính trị, ông Kissinger lại có tài hùng biện, rất khéo
chơi chữ để nói quanh co. Chúng tôi c̣n nhớ có đọc một bài báo (mà không
nhớ xuất xứ từ đâu) nói về điểm này và cho là Kissinger có nghệ thuật
"làm sao không nói sự thực mà lại không là nói dối" ("how not to tell
the truth with- but really lying"). Ông H. R. Haldeman, Đổng lư Văn
pḥng cho Tổng thống Nixon kể lại một câu chuyện khôi hài về tài của
Kissinger. Hồi tháng 12, 1972, chính Kissinger là người đề nghị Nixon
cho ném bom Bắc Việt v́ ông đă tuyên bố "hoà ḿnh đang trong tầm tay"
(peace is at hand) hai tháng trước đấy mà bây giờ theo như ông nói,
Hà Nội đă bội ước. Thế mà làm sao nhà báo James Reston lại viết trên tờ
New York Times trái ngược lại. "Không thấy Kissinger nói ǵ công
khai về vụ thả bom Bắc Việt cả, một hành động mà không hồ nghi ǵ là
chính ông ta đă phản đối". Nixon phẫn nộ, chỉ thị Haldeman t́m hiểu xem
"Henry làm cái tṛ ǵ vậy" (find out what the hell Henry s doing").
Khi Haldeman hỏi, Kissinger đă chối phắt là ông đă chẳng nói với "bất
cứ ai" về vụ thả bom. Ông quả quyết: "Tôi không cho ông Reston cuộc
phỏng vấn nào cả. Sau đó Haldeman cho điều tra kỹ lưỡng và thấy rơ ràng
là Kissinger đă nói chuyện với Reston. Quay lại cật vấn ông ta, Haldeman
hỏi: "Ông nói với chúng tôi là ông đă không cho Reston cuộc phỏng vấn
nào cả thế mà thực sự ông đă nói hết với ông này!"
"Đúng, nhưng đó chỉ là qua điện thoại", - Kissinger trả lời.
Haldeman b́nh luận:
"Vâng, chỉ qua điện thoại thôi (chứ đâu có gặp mà phỏng vấn).
"Bất cứ học giả nào muốn xem nhà ngoại giao Henry giỏi đến thế nào th́
nên phỏng vấn tất cả những người đă làm việc với ông ta tại Toà Bạch Ôc"
(19).
Cứ xem cách ông chơi chữ trong các văn bản, cách đối đáp, biện luận, từ
những cuộc thương thuyết tới hồi kư hay họp báo, ta cũng thấy rơ cái tài
năng này. Sau đây là vài thí dụ. Như sẽ thuật lại trong Chương 11, về
cuộc họp báo của Kissinger sau Hiệp định Paris:
Hỏi: Có nghị định thư nào (protocols) đă được thoả thuận (với Miền Nam)
không?
Đáp: Không có sự thông cảm (understanding) bí mật nào hết.
Đúng, Kissinger chỉ chối đi là không có sự thông cảm, hiểu ngầm nào chứ
đâu có chối là không có nghị định thư?
Câu chuyện khác. Có lần Tổng trưởng quốc pḥng Melvin Laird (người điều
khiển chương tŕnh "Việt nam hoá" thời Nixon) khi được chúng tôi
hỏi về chuyện ông không biết ǵ đến những mật thư của Tổng thống Nixon
gửi Tổng thống Thiệu, ông Laird trả lời: "Có lần tôi hỏi ông Kissinger
tại sao không đưa cho tôi xem mấy lá thư đó, th́ ông ta trả lời "Ồ, đó
chỉ là một vụ qua lại giữa Tướng Haig và Tổng thống Thiệu". Tướng Haig
có lui tới Dinh Độc lập để trao đổi qua lại với ông Thiệu, nhưng thực ra
ông chỉ là người đưa những bức thư do Kissinger thảo cho Nixon mà thôi.
Rồi đây tôi nhớ tới câu chuyện tiếu lâm mà ta đều đă nghe lúc c̣n nhỏ,
về cậu bé láu lỉnh. Có cậu học tṛ đánh rắm trong lớp học. Thày đồ hỏi:
- Chi kêu đó bay?
- Lạy thày cóc kêu.
- Cóc kêu sao thối?
- Lạy thày cóc chết,
- Cóc chết sao kêu?
- Lạy thày hai con".
Một biệt tài khác của Kissinger có tính cách quyến rũ: đó là luôn luôn
nói với đối tác của ḿnh trong các cuộc thương lượng rằng chỉ ḿnh ông
mới là người đứng về phía họ. Tổng thống Thiệu cũng như Ngoại
trưởng Trần văn Lắm thường hay nói chuyện về điểm này. Ở Paris,
theo Đại sứ Phạm Đăng Lâm, Kissinger lúc nào cũng muốn chứng tỏ ông là
người ủng hộ VNCH mạnh nhất trong Chính phủ Nixon. Kư giả Matti Golan
trong cuốn "The Secret Conversations of Henry Kissinger" (Những
đối thoại bí mật của Henry Kissinger) c̣n nhớ như in rất rơ về đặc
tính quyến rũ này của Kissinger trong một lần cuộc thương thuyết với Do
Thái và các nước trong khối Ả
Rập.
Ông luôn nói với lănh đạo Do Thái rằng chỉ có ông mới là Đồng minh, là
bạn của họ ở Washington (20).
Đơn thương độc mă
Khi ra tranh cử, Nixon hứa là sẽ giải quyết chiến tranh Việt nam trong
danh dự. Kissinger biết bản tính của ông Nixon cũng rất là thực tế "realpolitik",
đặt nặng quyền lợi chứ không phải là luân lư, ư thức hệ, hay đạo đức.
Bởi vậy ông bám chặt vào đó để thuyết phục Nixon cho ông làm sao th́ làm,
miễn có kết quả là được. Nixon đồng ư. Và trên thực tế đă trao toàn
quyền giải quyết chiến tranh Việt nam cho ông.
Trong cuốn sách nổi tiếng "A World Restored" (Một thế giới được phục
hồi), một tập nghiên cứu về Metternich lúc c̣n ở Harvard, Kissinger
có viết: "Chính khách phải hành động như thể là trực giác của ḿnh đă là
kinh nghiệm, như thể là khát vọng của ḿnh đă là chân lư rồi" (21).
Metternich là một Hoàng tử người Áo, đă cùng với Lord Castlereagh (Ngoại
trưởng Anh) giúp sắp xếp lại trật tự ở Âu châu (Hội nghị Vienna
(1814-1815) sau khi Napoleon bại trận ở Nga vào mùa đông 1812. Hai người
này, đă không ngần ngại dùng mọi đ̣n phép và làm mọi việc trong ṿng bí
mật để tới được mục đích. Tôi nghĩ lập luận như thế này th́ không ổn.
Trong thời hiện đại, nếu những chính trị gia của các cường quốc, nắm
quyền hành trong tay, mà lại quá tự kiêu, làm mọi việc trong ṿng bí mật,
và nghĩ rằng "những khát vọng của ḿnh đă là chân lư rồi" th́ thật là
nguy hiểm cho thế giới!
Đơn thương độc mă là bản tính của Kissinger và ông rất tự hào về điểm đó.
Trong một cuộc phỏng vấn với nữ kư giả người Ư, bà Oriana Fallaci,
ông giải thích rằng sở dĩ ông có sức mạnh là nhờ ở lối hành động một
ḿnh: "Điểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một ḿnh. Người Mỹ thích
cái đó vô cùng. Người Mỹ thích h́nh ảnh một gă chăn ḅ dẫn đầu một toán
di dân, một ḿnh trên lưng ngựa, đi đầu, thủng thẳng tiến vào một
tỉnh lỵ, một thị xă; chỉ ḿnh với ngựa thôi, không có ǵ khác. Có thể là
không có cả súng nữa, là v́ gă ta không cần bắn. Gă chỉ hành động bằng
cách là ở đúng chỗ, vào đúng lúc, thế thôi. Nói gọn hơn, gă là một cao
bồi (Westem)"(22).
Chắc ông muốn nói tới cuốn phim "High Noon", có chú cao bồi cỡi
ngựa, lững thững đi một ḿnh vào giữa phố mà ai cũng hăi sợ. Giờ đây,
ông muốn một ḿnh một ngựa để đưa Hoa kỳ ra khỏi Việt nam. Chướng ngại
vật đối với ông là bộ Ngoại giao. V́ vậy, không biết ông thuyết phục thế
nào mà Nixon đă gạt phắt Ngoại trưởng William Rogers ra ngoài. Trong
cuốn hồi kư "Những năm biến động" (Years of Upheaval),
Kissinger viết: "Tổng thống Nixon đ̣i hỏi là tất cả những sáng kiến
ngoại giao quan trọng đều phải phát xuất từ Bạch Ốc; ông ta đă loại trừ
bộ Ngoại giao và Ngoại trưởng, ông William P. Rogers ra khỏi những quyết
định chủ chốt một cách liên tục và đôi khi c̣n có lính cách hạ nhục"
(23).
Đẩy được bộ Ngoại giao ra là hết bị vướng víu về bàn căi, bất đồng ư
kiến, thủ tục rườm rà, quan liêu. Từ đó, Kissinger lại có thể sắp xếp
mọi chuyện. Đây là một cung cách thật lạ lùng! Nó rất "un-american",
không Mỹ chút nào. Ở trong một nền dân chủ, tính chất "minh bạch"
(transparency) là điều cẩn thiết. Cái ǵ không trong sáng th́ không
thể kéo dài được lâu. không có tính cách bền vững (sustainabihty).
Ngoài ra, chính sách hay lập trường đều đ̣i hỏi phải có "consensus",
sự đồng thuận của số đông. Muốn vậy, phải ngồi lại bàn bạc. Ba cái
đầu phải to hơn một cái. Từ quản trị một công ty tới một hội, một nhà
thờ, một trường tiểu học, bao giờ cũng có những buổi mít tinh để bàn căi,
bỏ phiếu, lấy quyết định. Làm sao một chuyện đại sự quốc gia, có tới bốn
Tổng thống Mỹ dính vào mà Kissinger lại đ̣i giải quyết một ḿnh? Ấy thế
mà Nixon đă khoán trắng Miền Nam cho ông. Ông Jun Tsunoda, Cố vấn cho bộ
Ngoại giao Nhật cũng đă phải phàn nàn: "Công tác ngoại giao trong một
thế giới phức tạp như ngày nay là một công việc quá lớn lao để giao cho
một người tự ḿnh hành động" (24).
Ba tháng sau khi nhậm chức, Tổng thống Nixon cho Kissinger sang Moscow
tranh thủ sự giúp đỡ của Nga Sô để lập thêm một ngả thương thuyết riêng
biệt, tách rời khỏi Hoà đàm Paris. Kissinger gặp Ngoại trưởng Nga
Gromyko và trao cho ông ta một thông điệp (25):
"Tổng thống (Nixon) sẵn sàng thăm ḍ những con đường khác ngoài khung
cảnh đàm phán hiện tại. Điều đáng mong muốn là những người thương thuyết
phía Hoa kỳ và Bắc Việt có thể gặp nhau tách biệt ra khỏi khuôn khổ hoà
đàm Paris để bàn về những nguyên tắc tổng quát cho một giải pháp.
"Nếu những người thương thuyết đặc biệt của hai bên Hoa kỳ và Việt nam
dân chủ cộng hoà có thể đi tới một Hiệp định trên nguyên tắc, th́ vấn đề
đàm phán cuối cùng về kỹ thuật sẽ được trao lại cho hoà đàm Paris". Kư
tắt RN (Richard Nixon).
Dĩ nhiên là Gromyko vui ḷng giúp, và Kissinger đă thành công trong việc
lập ra một hoà đàm sau hậu trường, do chính ông điều khiển.
Ngày 23 tháng Bảy 1969, nhân dịp phi thuyền Apollo của Mỹ vừa thành công
lên cung trăng và sắp đáp xuống Thái B́nh Dương, Tổng thống Nixon bay
sang Guam để mừng và bắt đầu chuyến công du Á châu gồm Phillippines,
Indonesia, Thái Lan, Nam Việt nam, India, Pakistan, Romania, và Anh Quốc.
Nixon thuật lại: "Chuyến đi đă cho một cơ hội hoàn toàn nguỵ trang cho
Kissinger gặp gỡ với phía Bắc Việt. Kissinger được sắp xếp cho đi Paris
bề ngoài là để tŕnh bày cho quan chức Pháp kết quả chuyến đi của tôi,
nhưng đang khi đó ông ta sẽ gặp ông Xuân Thuỷ" (26). Ông Xuân Thuỷ là
đại diện của Bắc Việt tại Hoà đàm Paris.
Được biết về chuyến đi này, Tổng thống Thiệu có mời Nixon ghé thăm Sài
g̣n để làm một cử chỉ ủng hộ Việt nam cộng hoà. Dường như để đền đáp
công ơn của ông Thiệu trong kỳ bầu cử, Tổng thống Nixon đă quyết định
vào giờ chót là sẽ viếng thăm dinh Độc Lập với Kissinger tháp tùng.
Trong phiên họp làm việc, "Ông Nixon chỉ nói tới những khó khăn trong
nước mà ông đang gặp phải", ông Thiệu kể lại. "Ông yêu cầu tôi tiếp tay
và nói: "Hăy giúp chúng tôi để chúng tôi giúp các ông" và tôi đáp: "Chúng
tôi sẽ giúp ông để ông giúp chúng tôi". Tuy nhiên, Nixon vẫn khẳng định
lại lập trường rút quân trên căn bản song phương: cả quân đội Hoa kỳ lẫn
quân đội Bắc Việt đều rút, và lịch tŕnh rút quân c̣n tuỳ vào khả năng
tự vệ cũng như mức độ viện trợ quân sự và kinh tế cho Miền Nam.
Sau khi nâng ly sâm banh chúc tụng cho Việt nam cộng hoà, các động cơ
trực thăng bắt đầu nổ, cánh quạt quay ầm ầm mỗi lúc một nhanh, như để
khẳng định lại một lần nữa sức mạnh và sự hiện diện của Hoa kỳ tại Miền
Nam. Ông Thiệu tới đưa Tổng thống Nixon và ông Kissinger ra băi phi cơ
đậu trên cỏ trước dinh Độc Lập. Mỉm một nụ cười, ông giơ tay vẫy chào
tạm biệt lúc chiếc trực thăng của Tổng thống Hoa kỳ bốc thẳng bay nhanh
về hướng Bắc, lướt qua những mái nhà đỏ của thành phố. Ngày hôm đó, 30
tháng Bảy 1969, Nixon đă không hề tiết lộ cho ông Thiệu biết rằng ngay
sau khi từ biệt, Kissinger đă trực chỉ qua Paris gặp gỡ phái đoàn Bắc
Việt.
Và từ giờ phút đó cho tới 10 giờ sáng ngày 30-4 tức là trong gần hai
phần ba thời gian của Đệ nhị Cộng hoà, Kissinger đă một ḿnh thao túng
chính sách Hoa kỳ về Việt nam. Trong cương vị đó, ông đă có những hành
động gian dối với Đồng minh, dấu giếm Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ, như
được chứng minh trong cuốn sách này.
Gần đây (năm 2001), một nhà báo, ông Christopher Hitchens, đă viết cuốn
sách tựa đề "Xét xử Henry Kissinger (The Trial of Henry Kissinger)
đem ra đầy đủ bằng chứng dựa trên những tài liệu mới được giải mật,
về những sự lạm dụng quyền hành, và những hành động thiếu lương tâm mà
Kissinger đă hành xử đối với các nước Đồng minh, ngoài các nước Đông
Dương, c̣n có Chile, Bangladesh, Santiago, Nicosia và East Timor (27).
Đối với Miền Nam, có thể là ông đă hối hận phần nào, nên năm năm sau
ngày Miền Nam sụp đổ, vào đầu năm 1980, ông có viết một thư riêng cho
Tổng thống Thiệu (xem cuối chương II và Phụ lục E): "Tôi không trông
đợi sẽ thuyết phục được Ngài. Ít nhất tôi có thể cố gắng xin Ngài
tin tưởng ở ḷng hối hận và kính trọng vẫn c̣n của tôi".
Chú thích
(1) Marvin
Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 42.
(2) Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 42-46.
(3) Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 49.
(4) Richard Nixon, Memoiry, trang 340; về cuốn Nuclear Weapons
and Foreign Policy, nên đọc thêm: Warren G. Nutter, Kissinger
Grand Design, trang 43-48.
(5) Anna Chennault, do Seymour Hersh trích dẫn trong The price of
power, trang 22.
(6) Richard Nixon, Memoiry, trang 324.
(7) Seymour Hersh, trích dẫn trong The price of power, trang 20.
(8) Seymor Hersh, trích dẫn trong The price of power, trang 13.
(9) Richard Nixon, Memoiry, xem Hersh, trích dẫn trong The
price of power, trang 24.
(10) Henry Kissinger, The
White House years,
trang 437.
(11) Marvin Kalb and Bernard Kalb, trang 86.
(12) Marvin Kalb and Bernard Kalb, trang 29. 25-26
(13) Richard Nixon, Memoiry, trang 340.
(14) Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 29.
(15) Seymour Hersh, trích dẫn trong The price of power, trang 21
(16) Seymour Hersh, trích dẫn trong The price of power, trang 14.
(17) Seymour Hersh, trích dẫn trong The price of power, trang 35.
(18). Seymour Hersh, trích dẫn trong The price of power, trang
481.
(19) H.R. Haldeman, The End of power, trang 143.
(20) Matti Golan, The Secret Conversations of Henry Kissinger
(21) Henry Kissinger, A World Restored, trang 329.
(22) Oriana Fallaci, Interview With History, trang 40-41.
(23) Henry Kissinger, A World Restored, trang 414.
(24) TIME (Magazine), "The Dilf́culty of being Henry Kissinger" (The
Nation), 21 tháng 4, 1975.
(25) Richard Nixon, Memoiry, trang 391.
(26) Richard Nixon, Memoiry, trang 394.
(27) Bạn đọc có thể vào Internet/google để t́m đọc về cuốn này.
P1 - Chương 3
Củ cà rốt và cái gậy
Một chiếc máy bay hao hao giống loại Jetstar của Lockheed cất cánh từ
phi trường Rhein-Main gần Frankfurt bên Đức. Chỉ vài phút sau, nó đă
biến mất. Trên thật cao, anh phi công hướng về phía sông Seine, với tốc
độ tối đa. Chẳng mấy lúc đă thấy Paris nằm ngay dưới. Máy bay giảm cao
độ, đáp xuống Villacoublay, một phi trường nằm thoai thoải khoảng chín
dậm phía tây nam. Hạ cánh rồi, phi công không lái thẳng vào ga, lại từ
từ tiến về một địa điểm thật xa, ở măi góc phi trường. Tới chỗ đậu, một
chiếc Citroen DS-21 màu đen áp vào, vội bốc khách, rồi phóng đi thật
nhanh. Trên đường, máy phát sóng từ trong xe gửi mật mă cho
"Quarterback". Điệp viên 007 đi công tác?
Không, Kissinger đi mật đàm. Tới nơi, ông đă báo cáo thẳng về cho Tổng
thống Nixon, mật hiệu "Người tiền vệ". Sáng sớm chủ nhật, lúc mọi
người ở thủ đô Hoa kỳ c̣n an giấc, Kissinger đă tới phi trường quân sự
Andrews cách đó không xa. Ông bước nhanh lên một chiếc C-135 không mang
số, không bảng hiệu, rồi ngả lưng nghỉ ngơi.
Chỉ sáu giờ sau là
đă tới Rhein-main rồi. Đây là một phi trường quân sự, được canh gác cẩn
mật, cũng giống như Villacoublay. Chiếc Citroen chở ông về
Choisy-le-Roi, một khu trung lưu ngoại thành Paris. Lần vào một biệt thự
nhỏ màu trắng, kín cổng, cao tường, hoàn toàn yên lặng. Sau vài giờ, ông
lại đi xe khác tới một biệt thự rộng lớn hơn. Đó là nhà của phái đoàn
Bắc Việt, cùng khu Choisy-le-Roi.
Họp xong, Kissinger bay ngược lại theo đúng tuyến cũ. Và từ lúc ông rời
Washington tới khi trở về, chỉ khoảng 27 giờ. Người tài xế thân tín chở
ông thẳng tới văn pḥng làm việc. Nhân viên toà Bạch Ốc hay toà đại sứ
Mỹ ở Paris chẳng ai hay biết ǵ (1).
Gần hai năm rưỡi sau, mọi người mới chưng hửng: từ tháng Tám 1969,
Kissinger đă họp kín với phía Bắc Việt tại Paris mười hai lần rồi!
Lại một chuyện bất ngờ thứ hai về ngoại giao. Bất ngờ đầu tiên được tiết
lộ (vào tháng Bảy 1971) là Kissinger đă bí mật đi Bắc Kinh nhiều lần,
dàn xếp mọi chuyện, dẫn đến chuyến viếng thăm của Nixon sang Trung Quốc.
Chuyến đi được ấn định vào ngày 21 tới 28, tháng Hai. Báo chí liền gọi
Kissinger là James Bong, và ông rất thích. Để chuẩn bị cho chuyến
viếng thăm, ngày 25 tháng Giêng 1972, Tổng thống Nixon đă lên truyền
h́nh tiết lộ những cuộc họp của Kissinger ở Paris, và đồng thời đọc bài
diễn văn quan trọng, công bố một giải pháp hoà b́nh toàn diện về
Việt nam. Trước hôm đó, Đại sứ Bunker đă đến dinh Độc Lập trao cho Tổng
thống Thiệu một bản sao bài diễn văn của Tổng thống Nixon, yêu cầu ông
tán thành và b́nh luận. Theo ông Hoàng Đức Nhă, bí thư Tổng thống Thiệu,
đây là lần đầu tiên phía Việt nam cộng hoà được biết chi tiết những buổi
họp kín giữa Kissinger với Bắc Việt, và biết được các kế hoạch của Nixon
(2).
Làm thế nào để tháo gỡ?
Để giải quyết chiến tranh Việt nam, Mỹ muốn áp dụng giải pháp song hành"
(two track approach). Một mặt th́ đàm phán với Bắc Việt về giải
pháp quân sự (chủ đề chính là rút quân), và mặt kia, để cho hai bên Sài
g̣n và Hà Nội thương thuyết với nhau một giải pháp chính trị. Về đàm
phán: cứ cho Hoà đàm Paris múa may bên ngoài, bên trong đă có Kissinger
dàn xếp bí mật. Đến khi nào có kết quả mới công bố. Như vậy, nó sẽ huy
hoàng, rực rỡ biết bao.
Từ khi hay tin ông Nixon đi Bắc Kinh, ông Thiệu hết sức e ngại. Ông biết
rằng Mỹ vào Miền Nam Việt nam là để ngăn chặn làn sóng đó từ Trung
Cộng lan tràn tới các nước khác". Đó là theo học thuyết "Domino"
từ thời Eisenhower: "Nếu để Miền Nam sụp đổ th́ những quốc gia
khác tại Đông Nam Á cũng đổ theo như những con bài domino" (3). Bây
giờ Nixon sắp đi Bắc Kinh bắt tay với Mao Trạch Đông th́ liệu Miền Nam
có c̣n là "tiền đồn của Thế giới Tự Do" nữa không? Ông Thiệu
thông báo sự lo ngại của Việt nam cộng hoà cho phía Mỹ. Và Tổng thống
Nixon đă trấn an ngay.
White House
Ngày 31 tháng 12, 1971
Thưa Tổng thống,
"Vào lúc tôi đang chuẩn bị cho chuyến đi Bắc Kinh để gặp và nói
chuyện với lănh đạo nước Cộng hoà Nhân Dân Trung Quốc, tôi muốn chia sẻ
với Ngài những tư tướng của tôi về các cuộc đàm đạo tại đó.
"Ngài có thể chắc chắn tuyệt đối rằng tôi sẽ không đi tới một thoả
thuận nào tại Bắc Kinh nếu nó phương hại tời các quốc gia khác, hoặc về
những vấn đề có liên hệ tới các nước khác…
"Ngài có thể tiếp tục tin cậy vào sự yểm trợ của Hoa kỳ trong những
nỗ lực của Ngài hầu đem lạ hoà b́nh cho Việt nam và xây dựng nền thịnh
vượng mới cho nhân dân Việt nam.
Trân trọng.
(kư) Richard Nixon
Để độc giả, đặc biệt là thế hệ trẻ biết xem trong văn bản gốc bằng tiếng
Anh, Tổng thống Hoa kỳ đă viết như thế nào, tôi trích đăng nguyên văn
một số phần đoạn quan trọng trong những thư chọn lọc sau dây (toàn bộ 35
văn bản được in trong Phụ Lục A).
Muốn cho cho chắc chắn hơn, ông Thiệu lại gửi ông Nixon một bức thư nữa
bày tỏ thiện chí sẵn sàng hợp tác với Hoa kỳ để t́m giải pháp cho hoà
b́nh, kể cả việc ông bằng ḷng từ chức, nhưng kêu gọi Hoa kỳ đừng nhượng
bộ ǵ nữa (ở Bắc Kinh) về vấn đề "rút quân".
The White House
Washington
December 31 1971
Dear Mr. Preddent
As I prepare for my forthcoming trip to Peking to meet and talk with
the leaders of the Peoplele s Repubĺc of China.
I would like to share with you some thoughts concerning the
conversations I expect to have there.
…
You may be absolutely certain that I will make no agreements in
Peking at the expense of other countries or on matters which concern
other countries. You should also know that the treaty commitments which
the United States has eestablished with other counries will noi be
aaffected by my visit to Peking
…
Please accept my best wishes for the continued succeee of your
economic and military programs as you embark on your second term in
office. You can continue to rely on the assistance of the United States
effort to bring peace to Vietnam and to build a new prosperity for the
Vietnamese people
Sincerely,
Richard Nixon
Rút quân: từ song phương đổi sang đơn phương.
Vấn đề rút quân song phương ra khỏi Miền Nam: cả quân đội Hoa kỳ
lẫn Bắc Việt, là vấn đề quan trọng nhất đối với Việt nam cộng hoà và là
vấn đề chính yếu tại Hoà đàm Paris, như đă được phân tích trong cuốn
"Hồ sơ mật Dinh Độc Lập (4). Sau đây là tóm tắt những bước chính của
tiến tŕnh thương thuyết về điểm này (5).
Thời Tổng thống Johnson, điều kiện rút quân mà Mỹ mang ra rất cứng rắn:
cả hai bên (Mỹ và Bắc Việt) đều rút; và quân đội Bắc Việt rút sáu tháng
trước khi Hoa kỳ bắt đầu rút;
Từ lập trường đó, khi Nixon mới lên Tổng thống, Mỹ xuống thang chút đỉnh:
hai bên đều cùng rút đi một lúc; dành quyền tự quyết cho nhân dân Miền
Nam.
Sau cùng, khi mật đàm kết thúc:
- Quân đội Mỹ rút đi hết;
- Và rút đi trong ṿng 60 ngày;
- Quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại Miền Nam.
Đó là kết quả mật đàm của Henry Kissinger trên ba năm trời với cái giá
phải trả là thêm 15.000 mạng người Mỹ, 62 tỷ đô la, và hàng trăm ngàn
mạng sống người Việt nam, cùng với bao nhiêu tàn phá.
Lập trường vững chắc của Hoa kỳ và Việt nam cộng hoà khởi thuỷ được
Nixon tuyên bố lúc Hoà đàm Paris chính thức bắt đầu. Ngày 14 tháng Năm
1969, Nixon lên truyền h́nh giải thích:
"Chúng tôi đă gạt bỏ ra ngoài hoặc là việc rút lui khỏi Việt nam một
cách đơn phương, hoặc việc chấp nhận tại (Hoà đàm) Paris bất cứ một giải
pháp. nào có tính cách như một thất bại nguỵ trang…"
"Và đó là phác hoạ về một giải pháp mà chúng tôi muốn đàm phán ở Paris.
Nguyên tắc căn bản của nó rất là đơn giản: triệt thoái song phương bất
cứ quân đội nào không phải là quân đội Miền Nam ra khỏi
Miền Nam Việt nam và dành quyền tự quyết cho nhân dân Miền Nam"(6).
Rồi ông c̣n đưa ra một thời biểu rút quân. Giai đoạn đầu là 12 tháng,
tới giai đoạn cuối cùng th́ "Quân đội Hoa kỳ và Đồng minh (Đại Hàn, Úc)
sẽ đi tới kết thúc việc rút quân khi số quân đội Bắc Việt c̣n lại được
rút đi và trở về Miền Bắc" (7).
Lập trường là như vậy, và trước khi đi Bắc Kinh, Nixon c̣n hứa hẹn như
trong thư trích dẫn trên đây: "Ngài có thể chắc chắn tuyệt đối rằng tôi
sẽ không đi tới một thoả thuận nào tại Bắc Kinh nếu nó có phương hại tới
các quốc gia khác? Thế nhưng, theo chính Nixon viết lại, trong những
ngày viếng thăm Trung Quốc từ 21 tới 28 tháng 2, 1972, ông đă nói với
Chu Ân Lai: "Giả sử như tôi có thể ngồi đối diện với bất cứ ai là người
lănh đạo Bắc Việt, và giá như hai bên có thể thương thuyết một cuộc
ngưng bắn và trả lại tù binh cho chúng tôi, th́ tất cả quân đội Mỹ sẽ
được triệt thoái khỏi Việt nam trong ṿng sáu tháng kể từ ngày đó (8).
Như vậy, Nixon đă tiết lộ rơ ràng là Hoa kỳ muốn rút quân khỏi Việt nam
để chỉ đổi lấy việc thả tù binh và một cuộc ngưng bắn.
Theo các tài liệu thương thuyết mới được giải mật th́ ngay từ 1971,
trước cả khi Nixon đi Trung Quốc, trong cuộc họp với Chu Ân Lai ngày 9
tháng 7, Kissinger cũng đă tiết lộ với ông Chu rằng Hoa kỳ sẽ đơn phương
rút khỏi Miền Nam (9).
Đi sau lưng th́ như vậy mà vừa từ Bắc Kinh trở về Washington, ông Nixon
lại tiếp tục trấn an ông Thiệu:
White House
Ngày năm tháng Ba, 1972
Thưa Tổng thống,
"Xin Ngài yên tâm rằng tôi sẽ làm mọi việc
trong quyền hạn của tôi để cho những hy sinh to lớn của hai dân tộc
Việt và Mỹ sẽ không thành vô ích… "
"Chúng tôi đă không thương lượng điều ǵ đàng sau lưng những người
bạn của Hoa kỳ; và đă không có sự đổi chác bí mật nào hết"
Trân trọng.
(kư) Richard Nixon
Thế nhưng, tại mật đàm Paris, từng bước một, Hoa kỳ đă đi tới chỗ nhượng
bộ hoàn toàn: chỉ có Mỹ phải rút hết quân, và rút trong 60 ngày. B́nh
luận về điểm này, ông Thiệu nói với kư giả của một tạp chí Đức Der
Spiegel vào cuối năm 1979:
Điều mà Kissinger và Chính phủ Hoa kỳ hồi đó thực sự muốn là rút lui
càng mau càng tốt và mang được tù binh của Mỹ về. Họ chỉ muốn phủi tay
cho xong mọi chuyện rồi ù té chạy. Tuy nhiên, trong lúc phủi tay như thế,
họ lại không muốn bị nhân dân Việt nam và thế giới buộc tội là đă bỏ rơi
chúng tôi. Đó là t́nh trạng khó xử của họ"(10).
Vào thời điểm đó, Bắc Việt đă mang thêm được một số quân lớn vào Miền
Nam (từ cuộc tấn công mùa Xuân năm 1972). Cho nên tới khi kết thúc đàm
phán, sự có mặt của quân đội Bắc Việt tại Miền Nam rất là hùng hậu.
Tướng Charles Timmes, tư lệnh đầu tiên của "Bộ tư lệnh viện trợ quân sự
cho Việt nam" (Military Assistance Command, Vietnam hay MACV), và là
người theo rơi t́nh h́nh cả quân sự lẫn chính trị tại Miền Nam cho tới
giờ phút chót, đă ước tính cán cân lực lượng hai bên vào lúc kư kết Hiệp
định Paris. Ông cho biết: số quân đội chủ lực của Bắc Việt tại Miền Nam
đă lên tới 176.000, chưa kể các đơn vị pḥng không. Số này được đồn trú
như sau(11):
Quân Khu (QK) I: có bốn Sư đoàn: 304, 324-B, 2, 711; và khoảng 6 Trung
đoàn biệt lập;
QK II: ba Sư đoàn: F-10, 320, 3, và ba Trung đoàn biệt lập;
QK III: ba Sư đoàn: 5, 7, 9 và khoảng sáu Trung đoàn biệt lập;~
QK IV: Sư đoàn 1, và chín trung đoàn của MTGPMN.
Đối diện với số này, quân lực Việt nam cộng hoà tuy rất đông, những 1
triệu 200 ngàn, nhưng số quân tác chiến lại thực sự chỉ có khoảng
200.000, tức là một phần sáu của tổng số. C̣n lại chỉ là địa phương quân,
nghĩa quân, và những đơn vị tiếp vận, yểm trợ. Quân đội chiến đấu được
rải ra như sau:
QK I: Sư đoàn Dù, Thuỷ quân lục chiến, các Sư đoàn 1 2, 3, Lữ đoàn Thiết
Giáp 1, và 6 Tiểu đoàn Biệt Động Quân;
QK II: các Sư đoàn 22, 23, Lữ đoàn Thiết Giáp 2, và 18 Tiểu đoàn Biệt
Động Quân;
QK III: các Sư đoàn 5, 18, 25, Lữ đoàn Thiết Giáp 3, và chín Tiểu đoàn
Biệt Động Quân;
QK IV: các Sư đoàn 7, 9, 21, Lữ đoàn Thiết Giáp 4, và 12 Tiểu đoàn Biệt
Động Quân.
Về số quân chủ lực th́ coi như ngang nhau nhưng quân đội Bắc Việt có hai
cái lợi: thứ nhất là đóng rải rác khắp nơi như những đốm da beo, đ̣i hỏi
quân lực Việt nam cộng hoà phải dàn mỏng ra khắp lănh thổ có một biên
giới gần 700 dậm (1100 cây số) để tự vệ ; thứ hai là họ có thể chủ động
trong việc chọn địa điểm và thời điểm để tập trung tấn công.
Và như vậy, khả năng tồn tại của Việt nam cộng hoà là rất mong manh…
Phải có một Hiệp định
Nhiều người đặt câu hỏi: nếu Mỹ quyết định rút quân th́ cứ từ từ mà rút,
lại sao lại nhất định phải có một Hiệp định? Đây là một câu hỏi quan
trọng, v́ nếu Mỹ cứ công khai, đơn phương mà rút th́ Miền Nam c̣n có cơ
may hơn. Đó là v́ hai điểm. Thứ nhất, nếu không kư một Hiệp định
th́ có nghĩa là Mỹ không chính thức công nhận sự tiếp tục đóng quân của
Bắc Việt tại Miền Nam (c̣n với Hiệp định th́ chính Mỹ đă công nhận rồi);
và nếu không công nhận th́ khi xung đột xảy ra, Miền Nam cũng không bị
Quốc hội Mỹ cho là "hiếu chiến" (12); thứ hai, khi quân đội Mỹ
đơn phương rút (mà không có Hiệp định) th́ nhân dân Hoa kỳ ít nhất cũng
sẽ nhận thức rằng Mỹ đă tự ḿnh cuốn gói ra đi. Và v́ vậy, để đền bù lại,
có thể là Quốc hội vẫn c̣n tiếp tục viện trợ, tuy chỉ là trong một thời
gian nhất định (13). Sau bao nhiêu cuộc chiến, khi kết thúc, Mỹ đă tiếp
tục giúp các nước khác xây dựng lại những đổ vỡ như ở Âu châu, Nhật Bản,
Nam Triều Tiên. Với khả năng này, Việt nam cộng hoà có thể có những dữ
kiện chắc chắn cho kế hoạch tái thiết kinh tế cũng như quốc pḥng, và đă
không phải chờ đợi trong cái thế viện trợ bất ổn, nhỏ giọt như đă xảy ra
(xem Chương 9).
Thế nhưng Mỹ muốn phải có một Hiệp định đ́nh chiến, và do cả bốn bên (Bắc
Việt, Nam Việt, Mặt trận giải phóng, và Mỹ) đều cùng kư vào. Có ba cái
lợi: thứ nhất, Hiệp định giúp cho việc Mỹ rút quân khỏi Miền Nam
được danh chính ngôn thuận trước công luận quốc tế: chính Việt nam Cộng
Hoà kư vào Hiệp định, như vậy là đồng ư cho Mỹ rút đi, chứ không phải là
Mỹ tự ư rút và bỏ rơi Đồng minh; thứ hai:Nixon-Kissinger có thể
tuyên bố đă giữ lời hứa là mang lại cho Miền Nam cả hoà b́nh lẫn
danh dự (chiến tranh đă ngưng rồi và Chính phủ VNCH vẫn
c̣n nguyên, không bị truất phế); và thứ ba, Hiệp định giúp Mỹ
mang được tù binh về. Trước đó, có lần Nixon đă cho trực thăng đổ bộ vào
tận trại giam ở Sơn Tây để cứu tù binh mà cũng hoàn toàn thất bại.
Tại sao không có một Hiệp định Geneve thứ hai?
Câu hỏi thứ hai nhiều người đặt ra là v́ sao, thay v́ chấp nhận cho quân
đội Bắc Việt ở lại, Mỹ không kư một Hiệp định chia đôi Miền Nam như Hiệp
định Genève hồi 1954? Ít nhất, Miền Nam c̣n có một biên giới rơ ràng,
vẫn hơn là "giải pháp da beo" (gọi như vậy v́ quân đội Bắc Việt
đóng rải rắc khắp nơi như những đốm khoang trên da beo). Nếu chia đôi
một lần nữa, biên giới Miền Nam sẽ nhỏ hẹp hơn nhiều, một phần lớn đă có
bờ biển bao bọc nên vấn đề biên pḥng tương đối dễ dàng hơn là giữ một
biên giới dài gần 700 dậm (1.100 cây số)
Trả lời câu này cũng dễ. Có lần chúng tôi hỏi một tướng lănh Hoa kỳ (nay
đă về hưu) tại sao như vậy? Không cần suy nghĩ, ông ta trả lời ngay: "Ấy
chết, Mỹ vào th́ có bốn Quân Khu, chiến đấu 10 năm với trên nửa triệu
quân, lúc ra đi lại chỉ c̣n có hai Quân Khu hay sao?" Chẳng lẽ giống như
Pháp hồi 1954, sau khi bại trận ở Điện Biên Phủ? Ông cho rằng Mỹ sẽ mất
mặt nếu phải đi tới giải pháp chia đôi lănh thổ Miền Nam một lần nữa.
Để có một Hiệp định: Điều đ́nh trong gian dối.
Thời gian qua nhanh, chẳng mấy lúc lại đă tới bầu cử Tổng thống tại Hoa
kỳ. Khi ra ứng cử lần đầu (1968), ông Nixon đă hứa là sẽ giải quyết
chiến tranh Việt nam một cách tốt đẹp và với danh dự (giống như lập
trường ông John Kerry về chiến tranh Iraq trong kỳ bầu cử năm 2004). Nếu
đến lúc vận động tái cử mà chiến tranh vẫn chưa chấm dứt th́ làm sao ăn
nói với nhân dân cho được?
V́ không thành công trong việc điều đ́nh với Bắc Việt, Nixon-Kissinger
quay sang điều đ́nh với Miền Nam, nhưng là điều đ́nh trong gian dối.
Ngày 17 tháng Tám, 1972, vào lúc sắp có Đại hội đảng Cộng hoà ở Miami
(22 tháng Tám) để đề cử ứng viên Tổng thống, phái đoàn Kissinger tới Sài
g̣n thảo luận. Màn bi kịch 1968 lại tái diễn. Nhưng lần này thủ lănh
không phải là Johnson mà là Nixon; đạo diễn không phải Bunker mà là
Kissinger. Đặc biệt là áp lực từ phía Nixon lại đảo ngược 180 độ: không
phải khuyên ông Thiệu chống dối đàm phán mà là nên chấp nhận ngay kết
quả của đàm phán. Không phải đừng di Paris mà phải đi Paris
ngay để kư kết. Kissinger bắt đầu thuyết phục ông Thiệu với luận
điệu rằng Hiệp định này rất tốt cho Miền Nam v́ nó sẽ xoa dịu những
chống đối chiến tranh, giúp Chính phủ Mỹ tiếp tục yểm trợ Miền Nam.
Thế nhưng, đă có nhiều dấu hiệu cho thấy sự gian dối của Kissinger, nên
ông Thiệu chống đối mạnh mẽ. Đặc biệt là về việc Hoa kỳ đă thay đổi hẳn
lập trường về vấn đề rút quân.
Lại theo đường cũ, ông không chịu chấp nhận bản dự thảo Hiệp định.
Vài ngày sau khi Đại hội Cộng hoà tái đề cử Nixon ra nhiệm kỳ hai, Nixon
đă ở vào thế mạnh hơn. Ông thuyết phục ông Thiệu một cách lâm ly thống
thiết:
The White House
Ngày 31 tháng Tám, 1972.
Thưa Tổng thống,
"Bước vào giai đoạn tế nhị hiện nay của cuộc thương thuyết, tôi muốn
quả quyết với Ngài một lần nữa, nhân danh bản thân tôi và một cách dứt
khoát về nền tảng sắt đá của lập trường Hoa kỳ: Hoa kỳ đă không kiên tŕ
từ bao lâu nay, với sự hy sinh của bao nhiêu mạng sống người Mỹ, để thay
đổi lập trường vào mấy tháng chót của năm 1972. Lúc này đây chúng tôi sẽ
không làm điều ǵ mà ba năm rưỡi trước đây, chúng tôi đă từ chối không
làm. Nhân dân Mỹ biết rằng Hoa kỳ không thể mua được hoà b́nh hay danh
dự, hoặc chuộc lại được những hy sinh của ḿnh với cái giá phải trả là
bỏ rơi một Đồng minh dũng cảm. Điều này tôi không thể làm và sẽ không
bao giờ làm…
"Nhưng nếu ta muốn thành công trong chặng đường cuối cùng của cuộc
hành tŕnh lâu dài này, ta phải hoàn toàn tin nhiệm lẫn nhau… "
Trân trọng
Richard Nixon
Tất cả những thư từ ông Nixon viết cho ông Thiệu là do Kissinger soạn
thảo.
Trong thư này, lời lẽ có vẻ tâm huyết: bỏ rơi một Đồng minh là điều mà "tôi
không thể làm và sẽ không bao giờ làm". Tuy nhiên, ông Thiệu vẫn tin
rằng Nixon-Kissinger chỉ muốn có chữ kư của Việt nam cộng hoà vào bản
Hiệp định để Mỹ tháo lui cho đẹp. Nhằm làm sáng tỏ vấn đề, ngày 26 tháng
Chín 1972, ông c̣n cho phía Mỹ biết rằng ông "sẽ công khai minh xác
trước công luận để biện hộ quan điểm của Việt nam cộng hoà"(14).
Không được! Ông Nixon đang ra tranh cử nhiệm kỳ hai và ngày bầu cử Tổng
thống đă gần kề. Nếu có ǵ trục trặc về hoà b́nh là nguy to. Hồi 1968,
chính Nixon đă xúi Sài g̣n gây ra trục trặc đó để đánh bại Humphrey. Bây
giờ Nixon đă có kinh nghiệm bản thân, đâu để xảy ra như vậy được. Thuyết
phục măi không thành công, cuối cùng Nixon lại dùng đến áp lực. Nhưng để
cho áp lực có hiệu quả, trước hết là phải áp đảo tinh thần ông Thiệu:
đảo chánh.
White House
Ngày sáu tháng 10, 1972
Thưa Tổng thống,
"Tôi yêu cầu Ngài áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một
t́nh huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng
tôi đă ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đă kịch liệt phản đối
năm 1968… ".
Trân trọng
Richard Nixon
Biến cố năm 1963 là đảo chánh và ám sát Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. C̣n
biến cố 1968? Nixon đă nhắc khéo tới sự việc xảy ra sau cuộc bầu cử năm
1968 (ông Thiệu tháu cáy giúp Nixon thắng cử) làm Chính phủ Johnson phẫn
nộ, định lật đổ ông trước khi Nixon nhậm chức vào tháng Giêng 1969 (xem
Chương I). Hồi đó, Nixon và Kissinger nghe biết, đă cực lực phản đối và
cứu được ông Thiệu. Bây giờ lại đến chính họ theo con đường này (15). Về
việc cứu ông Thiệu năm 1969, sau này Kissinger c̣n tế nhị nhắc tới trong
một bức thư ông gửi cho ông Thiệu vào đầu năm 1980: "Giá như ư định
của Tổng thống Nixon và của tôi là phản bội Ngài, th́ chúng tôi đă có
thể làm như thế hồi đầu năm 1969 rồi" (16).
Trở lại áp lực để kư Hiệp định Paris, ngày 21 tháng 10, 1972, hai chuyên
viên trong Hội đồng an ninh quốc gia là Roger Morris và Tony La ke viết
cho Kissinger một phúc tŕnh, trong đó có nói tới các phương cách lật đổ
ông Thiệu. Sau này Morris xác nhận: "Tôi bảo Tony rằng hai đứa ḿnh
phải cho Henry (Kissinger) hiểu rơ là ta sẵn sàng thanh toán Thiệu" (17).
Đ̣n phép từ Toà Bạch Ốc tới Đinh Độc Lập Chiến lược của Nixon-Kissinger
đối với Việt nam cộng hoà để đ̣i hỏi phải chấp nhận Hiệp định được gọi
là "cái gậy và củ cà rốt". Như người cái trên lưng con lừa, một
tay cầm cái gậy và tay kia, củ cà rốt. Nếu lừa không chịu đi, đă có cái
roi; nếu ngoan ngoăn đi thẳng th́ có củ cà rốt lủng lẳng trực mắt:
White House
Ngày 16 tháng 10, 1972
Thưa Tổng thống,
"Riêng đối với tôi th́ điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định,
ngoài những khía cạnh quân sự của nó, là Chính phủ ngài, quân lực và
những định chế chính trị của VNCH sẽ c̣n nguyên vẹn sau khi cuộc ngưng
bắn được tôn trọng. Trong thời kỳ tiếp theo sau đ́nh chiến, Ngài có thể
hoàn toàn an tâm là chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho Chính phủ của
Ngài sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả viện trợ kinh tế và bất cứ viện trợ
quân sự nào phù hợp với những điều khoản đ́nh chiến của Hiệp định này.
"Ư định của chúng tôi là quyết tâm tôn trọng những điều khoản trong
Hiệp định và những thoả thuận kư kết với Hà Nội, và tôi biết đó cũng là
thái độ của Chính phủ Ngài. Chúng tôi đ̣i phải có đi có lại, và đă cảnh
giác cho cả họ lẫn các Đồng minh chủ chốt của họ biết rơ như thế. Tôi
xin cam kết với Ngài rằng bất cứ một sự bội tín nào về phía họ cũng sẽ
bị chúng tôi lên án khắt khe nhất và nó sẽ có những hậu quả trầm trọng
nhất.
Trân trọng
Richard Nixon
Kư thư xong, Nixon lại c̣n viết tay thêm:
"Tiến sĩ Kissinger, Tướng Haig và tôi đă bàn bạc rất kỹ về đề nghị (hoà
b́nh) này. Tôi tin chắc ràng đó là giải pháp tốt nhất chúng ta có thể
đạt được, và cũng là giải pháp đáp ứng được điều kiện tuyệt đối của tôi,
là Việt nam cộng hoà phải được tồn tại là một quốc gia tự do…" (kư tắt)
RN.
Độc giả lưu ư là ở đoạn này, chính Tổng thống Nixon đă gạch chân dưới
chữ tuyệt đối.
Đó là củ cà rốt trong thông điệp do chính Kissinger mang sang Sài g̣n
đưa cho ông Thiệu. Những cuộc tranh luận giữa hai bên tại dinh Độc Lập
lúc đó đă diễn ra trong bầu không khí hết sức căng thẳng (18). Phía Việt
nam cộng hoà nhất định không chấp nhận bản dự thảo Hiệp định.
Tuy bên trong là vậy, nhưng ngày 26 tháng 10, khi về tới Washington,
Kissinger vẫn họp báo và tuyên bố câu lịch sử "Hoà b́nh đang trong
tầm tay" (peace is at hand). Washington và Sài g̣n chấn động. Đây là
bất ngờ về ngoại giao thứ ba của Kissinger.
V́ khi ánh sáng của hoà b́nh chiếu rọi, hào quang của Nixon-Kissinger
chiếu sáng theo. Không tới hai tuần sau, ngày bảy tháng 11, 1972, Nixon
đă thắng cử nhiệm kỳ hai. Sự thành công của ông được người Mỹ gọi là
"long trời lở đất" llld~lide). Đại đa số nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm
ông: 60.7% so với 37.5% cho Mcgovern. Đây là số phiếu cử tri cao thứ nh́
trong lịch sử nước Mỹ, và là số phiếu cao nhất mà một ứng cử viên Cộng
hoà đă được. Từ Âu sang Á, tiếng tăm ông lừng lẫy.
Té ra viễn tượng hoà b́nh Việt nam lại một lần nữa đóng góp cho sự thành
công của Nixon, và đưa đồ đệ của ông lên đài danh vọng. Nhưng chiêu bài
"hoà b́nh" đă dược vận dụng một cách trái ngược nhau trong hai lần tranh
cử. Lần thứ nhất (1968) th́ hoà b́nh ngoài tầm tay; lần thứ hai
(1972): hoà b́nh đang trong tầm tay.
Dù rằng Tổng thống Nixon chưa bắt đầu nhiệm kỳ hai, nhưng bầu cử xong là
mọi việc cũng xong. Ngay từ lúc dọn vào toà Bạch Ốc, cả Nixon lẫn
Kissinger đều muốn giải quyết vấn đề Việt nam cho dứt điểm. Muộn lắm là
nội trong nhiệm kỳ đầu. Làm thế nào để c̣n hái được nhiều thành quả
ngoại giao khác vào nhiệm kỳ hai. Nixon muốn chú trọng vào việc bang
giao với Trung Cộng và Liên Xô. Kissinger th́ muốn hướng về Âu châu và
Trung Đông nên ông gọi 1973 là "Năm của Âu châu".
Bầu cử ở Mỹ xong rồi, và nhiệm kỳ thứ hai của Nixon sắp bắt đầu mà tại
sao ông Thiệu vẫn chưa chịu chấp nhận kư vào Hiệp định? Lư do chính là
v́ ông c̣n lo ngại về việc quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại. Để ông
Thiệu yên tâm, ông Nixon an ủi rằng đừng có lo nữa, v́ chúng tôi sẽ giải
quyết vấn đề này bằng cách là, thứ nhất, cố lồng vào bản Hiệp
định một câu nói tới việc tôn trọng vùng phi quân sự (DMZ) và thứ hai,
sẽ đề nghị thêm một khoản nói tới việc giải ngũ trên căn bản "bên
này giải ngũ một, bên kia giải ngũ một", rồi cho "những người giải ngũ
trở về với gia đ́nh họ". Nghe đơn sơ là như vậy.
White House
Ngày 14 tháng 11, 1972
Thưa Tổng thống,
"C̣n quan trọng hơn rất nhiều những ǵ chúng tôi nói trong Hiệp định
về vấn đề này là những ǵ chúng tôi sẽ làm trong trường hợp quân địch
tái diễn xâm lăng. Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng: nếu Hà Nội
không tuân theo những điều kiện của Hiệp định này, th́ tôi cương quyết
sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và ác liệt
Trân trọng
(kư) Richard Nixon
Thư đi, thư lại, cũng vẫn chưa xong. Mà năm 1973 lại tới, Nixon doạ nặng
hơn, rằng nếu ông Thiệu cứ tiếp tục chống đối và "tách rời" khỏi lập
trường của Mỹ th́ có thể đi tới thảm hoạ là làm mất đi tất cả những
ǵ chúng ta đă cùng nhau tranh đấu trong cả một thập niên qua". Và
ngược lại:
White House
Ngày 5 tháng 1, 1973
Thưa Tổng thống,
Nếu Ngài quyết định, và tôi tin tưởng Ngài sẽ quyết định, tiếp tay
với chúng tôi, tôi xin bảo đảm vời Ngài rằng tôi sẽ tiếp tục yểm trợ
Ngài trong giai đoạn hậu chiến, và chúng tôi sẽ trả đũa bằng toàn thể
sức mạnh của Hoa kỳ nếu như Bắc Việt vi phạm Hiệp định. Cho nên, một lần
nữa, tôi xin kết thúc thư này bằng lời kêu gọi Ngài hăy sát cánh với
chúng tôi".
Trân trọng
(kư) Richard Nixon
Khi ngày đăng quang nhiệm kỳ đă gần kề, chỉ c̣n một tuần lễ nữa, Nixon
giơ cái gậy thật to (19):
White House
Ngày 14-1-1973
Thưa Tổng thống,
"Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp định vào ngày 23 tháng 1, và
sẽ kư vào ngày 27 tháng 1, 1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc này dù phải
làm một ḿnh, trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo Chính phủ của
Ngài làm cản trờ cho công cuộc văn hồi hoà b́nh tại Việt nam.
"Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế
ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong Chính phủ của Ngài
cũng không thể cứu văn được…"
Hồi tuyển cử 1968, Johnson sau cùng cũng quyết định là sẽ đơn phương đàm
phán với Bắc Việt, nhưng ít nhất là ông c̣n mở cửa ngỏ, không khoá chặt
lại. Johnson tuyên bố là nếu Miền Nam muốn tham gia th́ vẫn dược tham
gia. Bây giờ Nixon đe là sẽ "công khai tố cáo Chính phủ của Ngài làm cản
trở cho công cuộc văn hồi hoà b́nh ở Việt nam" rồi sẽ "cắt viện trợ quân
sự và kinh tế ngay lập tức", và sau đó, "dù có sự thay đổi về nhân sự…cũng
không thể cứu văn được?".
Trong "tự điển chính trị" về mối bang giao Hoa KỲ-VNCH, "thay đổi
nhân sự" là câu nói nhẹ, đồng nghĩa với việc đảo chánh. Năm 1963,
khi việc chuẩn bị lật đổ Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đang tiến hành ráo
riết, Tổng thống Kennedy, trong buổi phỏng vấn với Waller Cronkite trên
đài CBS, đă nhắc tới nhu cầu "thay đổi nhân sự" (20).
Tuy nhiên, khi nào Nixon giơ cái gậy ra, th́ ông cũng có đem theo củ cà
rốt. Trong cùng một văn thư, Nixon quả quyết:
"Chúng tôi sẽ phản ứng mănh liệt trong trường hợp bản Hiệp định bị vi
phạm:
"Cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh tới những cam kết tiếp tục của Chính
phủ Hoa kỳ đối với tự do và tiến bộ của VNCH.
"Tôi quyết định sẽ tiếp tục viện trợ đầy đủ kinh tế và quân sự cho
VNCH…"
Và rơ ràng hơn nữa:
White House
Ngày 17 tháng 1, 1973.
Thưa Tổng thống,
"Tự do độc lập của nước VNCH vẫn luôn luôn là mục tiêu trọng đại
trong chính sách ngoại giao của Hoa kỳ. Tôi đă theo đuổi mục tiêu này
trong suốt cuộc đời chính trị của tôi…
Tôi cả quyết rằng việc từ chối kư bản Hiệp định này sẽ đưa đến việc
cắt đứt mọi viện trợ cho VNCH…
Nếu ngài khước từ kư vào bản Hiệp định, tôi sẽ không c̣n cách nào
giúp đỡ Chính phủ VNCH nữa.
Quốc hội và Dư luận Hoa kỳ sẽ trói chặt tay tôi…
"Tôi đang chuẩn bị gửi Phó Tổng thống Agnew qua Sài g̣n để thảo luận
với Ngài về mối quan hệ của chúng ta trong thời hậu chiến... Phó Tổng
thống Agnew sẽ công khai tái xác nhận những bảo đám tôi đă hứa với Ngài.
Tôi xin nhắc lại những cam kết đó như sau:
Thứ nhất, Hoa kỳ công nhận Chính phủ của Ngài là Chính phủ duy nhất
hợp pháp ở Miền Nam Việt nam;
Thứ hai, HK không công nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên
lănh thổ Miền Nam; và
Thứ ba, HK sẽ phản ứng mănh liệt nếu bản Hiệp định bị vi phạm...
Tôi đang chuẩn bị để họp riêng với Ngài tại San Clemente, Califomia,
và lúc dó chúng ta có thể xác nhận lại một lần nữa sự hợp tác giữa chúng
ta và những bảo đám của Hoa kỳ...
Tôi cho rằng Ngài có hai lựa chọn chính yếu: một là tiếp tục cản trớ
việc kư kết. Đó là hành động có vẻ lẫm liệt nhưng thiển cận; hai là dùng
bản Hiệp định như một phương tiện để xây dựng một căn bản mới cho nền
bang giao HK-VNCH. Tôi không cần phải nói Ngài cũng biết rơ đây là con
đường duy nhất để bảo vệ mục tiêu chung của chúng ta.
Trân trọng,
(kư) Richard M. Nixon
Những lựa chọn được kê ra rơ ràng là như vậy. Dường như ông Thiệu chỉ
c̣n một cách là bám víu: ông gạch dưới và đánh dấu * bên chữ
"guarantees" (bảo đảm) ở đoạn trên lá thư, và gạch dưới - hai lần - chữ
"U.S.guarantees" (bảo đảm của Hoa kỳ) ở đoạn cuối.
Tuy không phải là một chuyên gia về ngoại giao, nhưng tôi nghĩ trong
lịch sử của Hoa kỳ đă chưa có trường hợp nào lại có những áp lực trực
tiếp, rơ ràng, cạn tàu ráo máng từ một vị Tổng thống gửi tới một Đồng
minh như thế này. Cũng chưa bao giờ có những cam kết mạnh mẽ, dứt khoát,
được lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy…
Tới đây th́ VNCH nhượng bộ.
Mật đàm đă giúp Hoa kỳ thành công trong việc giải quyết chiến tranh Việt
nam nội trong nhiệm kỳ đầu của Nixon. Chỉ chậm có hai ngày:
Ngày 20 tháng 1 năm 1973 là ngày Nixon đăng quang nhiệm kỳ hai.
Ngày 21 tháng 1, Tổng thống Thiệu họp với Đại sứ Bunker để trao văn thư
gửi Tổng thống Nixon, thông báo VNCH sẽ kư bản Hiệp định;
Ngày hôm sau Nixon hồi âm:
White House
Ngày 22 tháng Giêng 1973
Thưa Tổng thống,
"Với ḷng can đảm và kiên tŕ, Ngài đă bảo vệ được quyền lợi của dân
tộc Việt nam trong công cuộc theo đuổi mục tiêu duy tŕ tự do và độc lập".
Trân trọng,
Richard M. Nixon.
Trong bầu không khí xám ngắt lạnh lẽo và mưa sụt sùi buổi xế trưa ngày
Thứ Ba, 23 tháng Giêng hồi 12 giờ 45, hai ông Henry Kissinger và Lê Đức
Thọ đă phê chuẩn Hiệp định Paris tại "Trung tâm hội nghị quốc tế", khách
sạn Majestic, Đại lộ Kléber. Hai bên giằng co về số trang và so sánh bản
chữ "HK" (Henry Kissinger) và ông Lê Đức Thọ kư vỏn vẹn một họ".
Kissinger dùng một số bút mực và tặng cho bộ tham mưu của ông mỗi người
một cái. Lê Đức Thọ th́ đưa bút của ḿnh cho Kissinger "để nhắc Hoa kỳ
về việc thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định này" (20). Vừa kư xong,
Kissinger vội bay về Washington.
Ngày 27 tháng Giêng, Ngoại trưởng Mỹ William Rogers, Ngoại trưởng Việt
nam cộng hoà Trần Văn Lắm đồng kư.
Hiệp định Paris bắt đầu có hiệu lực.
Khi mọi việc đă êm đẹp, có phóng viên UPI là bà Helen Thomas muốn ṭ ṃ
hỏi xem Kissinger làm ǵ vào chính lúc ông Rogers đặt bút xuống kư. V́
múi giờ khác nhau, 11 giờ sáng bên Paris là năm giờ sáng tại Washington.
Văn pḥng báo chí của Kissinger trả lời: "Hăy làm t́nh, dừng đánh
nhau" (Make love not war).
Chú thích
(1) Xem "Nixon s Secret Agent", TIME (Magazine), 7 tháng 2, 1972.
(2) Phỏng vấn Hoàng Đức Nhă, 24-5-1985.
(3) Về việc Tổng thống Eisenhower nói tới thuyết Domino: xem Public
Paler of The Presidents: Dwight D. Eisenhower, 1954 (Government
Printing Office, 1960), trang 383.
(4) Xem Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập,
chương 3, 5 và 6, 9.
(5) Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 148, 158; Hưng
và Schecter, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập.
(6) Diễn văn của Nixon ngày 14-5-1969: Department of State Bulletin
(Washington, 2 tháng 6, 1969); xem thêm: George M. Kahin và John W
Lewis, The United States in Vietnam, trang517-524.
(7) Marvin Kalb and Bemard Kalb, Kissinger, trang 158.
(8) Richard Nixon, Memoiry trang 568-569.
(9) Xem bài của Elaine Sciolino "Tài liệu (vừa có) đă đối chọi với
Kissinger về chuyến viếng thăm Trung Quốc của ông năm 1971". New York
Times, ngày 28 tháng 2, 2002. Trong buổi họp, chính Kissinger đă cho
ông Chu biết: "Dù có thương thuyết hay không thương thuyết với Bắc Việt
đi nữa, rồi chúng tôi cũng sẽ rút quân ra - một cách đơn phương".
(10) Der Spiegel, Phỏng vấn Tổng thống Thiệu, 1 tháng 12, 1979.
(11) Charles J. Timmes, "Vietnam Summary: Military Operation… ",
Military Review, tháng 8, 1976, trang 63-66.
(12) Năm 1974, nhiều nghị sĩ, đặc biệt là ông Kennedy, đă cho rằng, càng
có nhiều viện trợ, Miền Nam càng kéo dài chiến tranh. Xem chương 8.
(13) Ư kiến của Đại sứ Graham Martin về khả năng này: xem House of
Representatives, Vietnam Evacuation: Testimony of ambassador Graham
Martin, trang 539.
(14) VNCH, Giác thư gửi Chính phủ Hoa kỳ, ngày tháng 9, 1972
(Xem Nguyễn Tiến Hưng và Jenold Schecter, The Palace File,
Phụ lục B).
(15) Xem Chương 2.
(16) Thư của Henry Kissinger gửi Tổng thống Thiệu, đầu năm 1980.
(17) Seymour Hersh, trích dẫn trong The price of power, trang
128.
(18) Xem thêm: Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, Chương 5.
(19) United States-Vietnam Relations, Tài liệu do Bộ Quốc pḥng
Hoa kỳ soạn thảo, Quyển 3/12, trang 23.
(20) Trích trong bài của Hồng Hà, Đài Phát Thanh Hà Nội, ngày 27
tháng 1, 1974, JPRS 61277, ngày 20-1-1985.
P1 - Chương 4
Lui vào bóng tối
"Ngày
Quân Lực" năm đó được tổ chức hết sức linh đ́nh. Xe tăng, đại pháo,
mọi quân, binh chủng với quân phục mới tinh, oai hùng diễn hành trên đại
lộ Trần Hưng Đạo. Trên bầu trời, máy bay phản lực F-5 tung cánh sắt,
lướt trên ngàn mây gió. Rơ ràng là h́nh ảnh của một Chính phủ, một quân
đội đầy tự tín trên con đường xây dựng hoà b́nh, thịnh vượng.
Trước đấy, Tổng thống Nixon đă gửi đại diện sang Việt nam để gây ấn
tượng cho t́nh đoàn kết giữa hai nước. Chỉ ba ngày sau Hiệp định, đài
truyền h́nh Việt nam có phóng sự đặc biệt: Phó Tổng thống Spiro Agnew
thăm viếng Sài g̣n. Hôm đó là ngày 30 tháng Ba, 1973. Khi tới phi trường
Tân Sơn Nhứt, vị quốc khách được đón tiếp linh đ́nh. Hết sức ca ngợi
Tổng thống Thiệu, ông Agnew nhắc tới lập trường Hoa kỳ là tiếp tục ủng
hộ một Đồng minh trung thành của ḿnh.
Dân chúng miền Nam thấy lên tinh thần. Sao mà nhanh thế? Vừa có đ́nh
chiến xong là đă có Phó Tổng thống Mỹ sang ủng hộ. Buổi chiều, phần tin
tức hấp dẫn trong ngày được chiếu đi chiếu lại.
Bên ngoài th́ rầm rộ lạc quan như thế, nhưng thực ra, bên trong hậu
trường lại khác. Chuyến viếng thăm của ông Agnew đă báo hiệu một điềm
dữ. Có cái ǵ đây chẳng được lành. Không phải là ông Phó Tổng thống đă
tuyên bố hay mật đàm chuyện ǵ có phương hại cho hoà b́nh, nhưng cái
nguy hiểm là những điều ǵ ông không nói.
Tổng thống Nixon đă hứa trong thư ngày 17 tháng Giêng, 1973 là khi tới
Sà g̣n, "Phó Tổng thống Agnew sẽ công khai cam kết những ǵ tôi đă hứa
với Ngài…" Thế mà có thấy ǵ đâu: ngoài phi trường cũng như trong Dinh
Độc Lập, chỉ thấy ông Agnew nói một cách chung chung quyết tâm ủng hộ
Việt nam cộng hoà của Hoa kỳ. Người ta cho rằng ông chỉ lập lại những
điểm ǵ đă được ông Kissinger soạn thảo sẵn từ Washington trước chuyến
đi.
Và rồi chỉ có thế. Nhưng để an ủi Việt nam cộng hoà phần nào. John
Negroponte, cố vấn của Kissinger về vấn đề Việt nam, người tháp tùng ông
Agnew trong chuyến đi, đă kéo ông Hoàng Đức Nhă ra ngoài hiên sau một
buổi họp và nói nhỏ:
- Tôi lấy làm tiếc v́ những điều xảy ra mấy tháng trước đây. Chúng tôi
biết không thể gây áp lực đối với các ông được, và bây giờ phải làm tất
cả những ǵ có thể làm được để giữ lời hứa" (1).
Thật là khôn: bên ngoài và chính thức th́ Phó Tổng thống không nói đến
những cam kết nữa, ông Nhă là người đă đứng cạnh Tổng thống Thiệu trong
những giờ phút căng thẳng trước Hiệp định Paris. Ông Negroponte sau này
được cử làm đại sứ đầu tiên của Mỹ tại Iraq thời hậu Saddam Hussein. Ông
Thiệu kể lại là khi thấy Phó Tổng thống Agnew lờ đi về những cam kết của
Tổng thống Nixon: "Tôi đă bắt đầu nghi ngờ Hoa kỳ từ lúc đó…"
Lại t́m củ cà rốt
Càng nghi ngờ, ông Thiệu lại càng sốt ruột. Trước khi kư kết Hiệp định,
ông Nixon có hứa mời ông sang Mỹ để "chúng ta có dịp công khai nhắc lại
mối hợp tác giữa hai nước và sự cam kết của Hoa kỳ". Sau chuyến viếng
thăm của ông Agnew, cuộc họp mặt với Tổng thống Nixon trở nên cấp thiết
hơn nữa. Rồi lại nghe tin không hay từ Washington về vụ Watergate. Dinh
Độc Lập bối rối, hoang mang. Bây giờ mà không gặp được Nixon ngay là
nguy to. Biết đâu v́ chính trị nội bộ, cuộc họp lại bị hoăn chăng? Ông
Thiệu t́m mọi cách để chuyến đi Mỹ sớm được thực hiện.
Tổng thống Nixon chính thức mời ông Thiệu sang Mỹ họp với ông vào ngày
3-4-1973. Tuy trong thư trước, Nixon đă nói tới San Clemente là nơi họp,
nhưng ông Thiệu lại ngỏ ư muốn thăm viếng Hoa kỳ tại thủ đô Washington.
Là một nguyên thủ quốc gia, ông muốn được tiếp đón với đầy đủ nghi lễ.
Sau cùng, Đại sứ Trần Kim Phượng đă điều đ́nh để ông Thiệu được đón tiếp
như một quốc khách ở San Clemente. Việt nam gửi một phái đoàn tiền phong
sang Washington để cùng phía Mỹ hoạch định chương tŕnh cho cuộc họp.
Hàng không Việt nam thuê một phi cơ 707 của Pan American, sơn cờ Việt
nam, chở Tổng thống để tăng phần trang trọng và chủ quyền quốc gia.
Ngoài hồ sơ về viện trợ quân sự, ông Thiệu mang theo hồ sơ kinh tế. Tuy
nhu cầu vừa tái thiết vừa phát triển đ̣i tới cả tỷ đô một năm, nhưng
phải thực tế mà đề nghị. Ban Kinh tế Tài chánh (với các ông Phạm Kim
Ngọc, Hà Xuân Trừng) đem ra những con số khiêm nhượng. Theo "Chương
tŕnh phát triển 1973-1980", Việt nam cộng hoà chỉ yêu cầu Mỹ tiếp
tục viện trợ kinh tế 650 triệu đô la (1973) và 780 triệu (1974), rồi
giảm dần xuống tới mức không đáng kể vào năm 1980 (95 triệu). Hy vọng là
từ năm 1981 trở đi th́ Việt nam cộng hoà có thể tự túc tự cường, khỏi
phải đi xin xỏ nữa.
Không may là chỉ vài ngày trước khi ông Thiệu lên đường, vụ Watergatc
lại vỡ lở lớn. Toà Bạch Ốc lo âu, bối rối v́ báo chí đă phát giác: có
"nhiều nhân vật cao cấp" trong chính quyền nhúng tay vào việc che chở
cho vụ ăn cắp tài liệu của đáng Dân chủ ở toà nhà Watergate..
Ngày 29-3-1975, Tổng thống Nixon buộc phải băi bỏ đặc quyền hành pháp để
xúc tiến vụ điều tra này. Trong t́nh trạng đó, chuyến công du của Tổng
thống Thiệu có thể được ví như một đoạn phim ngừng lại giây lát trước
khi những biến cố chính xảy ra. Lúc này đầu óc ông Nixon đă rối bời, c̣n
tâm trí nào mà tiếp đón ông Thiệu!
Tuy nhiên, lễ đón tiếp được cử hành khá trang trọng. Một hàng lính danh
dự đứng dàn chào khi ông Thiệu tới San Clemente. Ông Nixon tiếp ông
Thiệu trong khuôn viên biệt lập của Casa Pacifica. An ninh được bảo đảm
chu toàn v́ tư dinh này cách ngăn xa lộ chính, chỉ có một ngả đi vào th́
đă được canh pḥng cẩn mật. Nếu lái xe từ Orange County xuống San Diego,
ta nh́n thấy San Clemente nằm kề băi cát thoai thoải bên bờ Thái B́nh
Dương. Trời xanh, mây trắng, khí hậu mát mẻ của miền ôn đới sánh với cái
nóng hừng hực ở Sài g̣n lúc vào hè. ông Thiệu tuy mệt sau chuyến bay
dài, nhưng cũng thấy thoải mái và có hy vọng.
Ông hy vọng Nixon sẽ "công khai tái xác nhận những bảo đảm của Hoa
kỳ" như đă hứa ngày 17 tháng 1, 1973. Nhưng ngược lại, chỉ hai giờ
đồng hồ sau khi đáp xuống San Clemente, hai phụ tá Tổng thống là Ron
Ziegler và Bob Haldeman đă nói ngay với ông Nhă là "sẽ không có bản
thông cáo chung giữa hai Tổng thống" sau cuộc họp. Ông Thiệu
bàng hoàng, "Họ đối xử với Đồng minh như vậy đấy ư? Nói với họ tôi sẵn
sàng trở về Sài g̣n, và hăy chuẩn bị phi cơ đi!". Ông Kissinger được
thông báo về vụ đổ bể này, vội gặp Nhă và quả quyết: "Đó chỉ là sự hiểu
lầm, sẽ có bản tuyên cáo chung" (2).
Bữa tiệc ở dinh Casa Pacifica được coi là quốc yến. Tuy nhiên chưa thấy
bao giờ quốc yến để khoản đăi vị nguyên thủ một quốc gia Đồng minh mà
lại chỉ vỏn vẹn có mười hai người tham dự, kể cả chủ và khách. Lư do
phía Mỹ đưa ra là "không đủ chỗ ngồi". Trong bữa cơm, ông Thiệu cố nhá
miếng bít tết dày cộm khó tiêu để khỏi phụ ḷng chủ nhân. Về sau ông
nghe chuyện báo chí chỉ trích ông Nixon là đă đăi ông Thiệu bít-tết
trong khi giá thịt ḅ đang leo thang, ông phàn nàn "tôi đâu có muốn ăn
thịt ḅ". Phái đoàn tiền phong của Việt nam đă không được hỏi ư kiến
trước về thực đơn.
Sau bữa ăn tại tư dinh ông Nixon, phái đoàn Việt nam có muốn đáp lễ bằng
một bữa tiệc ở khách sạn Century Plaza ở Los Angeles. Nhưng phía Mỹ từ
chối v́ lư do an ninh. Ông Kissinger sau này viết lại trong hồi kư của
ông là trên thực tế, ông ta sợ "biểu t́nh và không đủ số người dự tiệc"
(3).
Đối với ông Thiệu, điểm đặc biệt của chuyến công du là lối tiếp tân thân
mật của ông Ronald Reagan, thống đốc Calilornia tại khách sạn Beverly
Wilshire. Trước đây, ông Thiệu đă tiếp đón ông Reagan nồng hậu khi ông
viếng thăm Sài g̣n. Hồi đó, ông có tặng ông Reagan một cái ngà voi và
nói đùa với ông ta: "Một ngày nào đó, Ngài sẽ lên voi".
Không ngờ mà lại thành sự thật. Tổng thống Reagan thành công vẻ vang
trong cả hai nhiệm kỳ.
Trong buổi tiếp tân hôm ấy có mặt hai tài tử nổi tiếng là Zsa Zsa Gabor
và John Wayne. John Wayne có cảm t́nh ngay với ông Thiệu và cố làm cho
ông vui, mặc dù có biểu t́nh phản chiến ngay trước khách sạn. John Wayne
vừa nói đùa với ông Thiệu vừa lấy tay làm cử chỉ như người nắm lấy hai
thanh niên biểu ĺnh, giơ cao lên và đập đầu vào nhau: "Ông có biết
tôi sẽ làm ǵ không? Tôi sẽ tóm cổ tụi nó và xách đi như trong
phim xi-nê vậy" (4).
Khi cuộc họp chấm dứt là tới lúc công bố bản thông cáo chung của hai
bên. John Holdridge thuộc Hội đồng Cố vấn an ninh và phụ tá H. R.
Haldeman lại giở giọng: không muốn nói rơ ràng chi tiết về viện trợ kinh
tế. Phía Việt nam muốn ông Nixon hứa hẹn cho rơ. Ông Nhă hồi tưởng lại:
"Chúng tôi phải tranh đấu từng gang tấc cho bản thông cáo này".
Cuối cùng c̣n vài phút trước khi họp báo, phía Hoa kỳ nhượng bộ.
Ông Thiệu kể lại là lúc Tổng thống Nixon tạm biệt để tiễn ông lên trực
thăng ra phi trường, hồn vía ông ta như ở đâu đâu. Trực thăng vừa cất
cánh, ông đă quay gót trở lại, vội vă đi vào nhà. Ông Thiệu nhớ lại
những lần trước gặp Nixon ở Sài g̣n hoặc ở đảo Midway năm 1969, lễ nghi
tiễn biệt đă kéo dài, ông ta vui vẻ giơ tay vẫy thật lâu (5). Tuy linh
cảm là có chuyện khó khăn, ông Thiệu cũng đă có được sự tái xác nhận về
những cam kết yểm trợ Việt nam cộng hoà. Một tháng sau khi trở về, vào
ngày 20 tháng Năm 1973, ông ra Quốc hội công bố những biện pháp "Tái
thiết kinh tế hậu chiến". Mục tiêu đề ra là tới năm 1980 th́ Việt nam
cộng hoà sẽ phát triển tới mức tự túc, tự cường. Ông nói là trong ṿng
bảy năm tới, với viện trợ Hoa kỳ đầy đủ, Miền Nam sẽ dốc toàn lực vào
lănh vực kinh tế và phát triển xă hội. Nghe phấn khởi quá, các nghị sĩ,
dân biểu đứng lên vỗ tay rần rần, nồng nhiệt hưởng ứng.
Viện trợ lại thành con tin
Ngày 29 tháng Ba, 1973, nhóm tù binh Mỹ cuối cùng rời Hà Nội. Tưởng rằng
vậy là xong xuôi, ngờ đâu lại có tin Kissinger sắp đi Paris để "đàm
phán" thêm. Ông Thiệu càng nghi ngờ chắc lại sắp có chuyện ǵ đây. Y
như năm 1968, Nixon vừa lên ngôi lần thứ hai là lại trở mặt. Kissinger
sắp đàm phán với phái đoàn Bắc Việt một "Thông cáo" (Commumqué)
về việc thực thi Hiệp định đ́nh chiến. Một lần nữa, mối giây liên
lạc Mỹ-Việt rơi vào khủng hoảng. Hiệp định Paris kư rồi, bây giờ Mỹ lại
bắt nhượng bộ thêm? Theo như "thông cáo", một sự kiện ít ai để ư
tới, là Bắc Việt lại có quyền di chuyển quân dụng qua vùng Phi quân
sự (DMZ).
Ông Thiệu cho rằng trong suốt thời gian tranh đấu tại hoà đàm, Bắc Việt
chỉ nhượng bộ một điểm là không chuyển quân qua vùng Phi Quân Sự. Giờ
đây, chỉ bốn tháng sau, Kissinger lại qua Paris và nhường thêm điểm
chót. Ông Thiệu chua chát hỏi lại: làm sao quân dụng như xe tăng, tàu ḅ
có thể đi qua vùng DMZ mà không có "tài xế" và "nhân viên" bảo tŕ đi
coi?" Và khi nhượng điểm chót này, vĩ tuyến thứ 17 không c̣n là ranh
giới rơ rệt của miền Nam nữa.
Thế là viện trợ lại trở thành con tin. Lời đi tiếng lại giữa hai ông
Nixon và Thiệu vào giai đoạn này c̣n gay gắt hơn lúc Tuyển cử xong rồi,
Washington đă rảnh tay, hết lo Sài g̣n chống đối. Ngày 21 tháng Năm 1973
(tức ngày 22/5 giờ Sài g̣n), Tổng thống Nixon gửi Phụ tá Ngoại trưởng
William Sullivan sang Sài g̣n mang theo một mật thư.
Sao mà quá bén nhậy: vừa đúng hai ngày sau khi ông Thiệu đưa chương
tŕnh tái thiết ra Quốc hội, Nixon đă đem ngay "kế hoạch kinh tế dài hạn
Ngài vừa công bố" ra mặc cả.
Ông viết:
White House
Ngày 21 tháng Năm 1973
Thưa Tổng thống,
"Khi ở San Clemente, tôi đă nói với Ngài về việc xin Quốc hội Hoa kỳ
viện trợ đầy đủ nó khó khăn như thế nào. Tuy nhiên tôi cũng đă nói với
Ngài là chúng tôi sẽ dồn mọi nỗ lực để không những xin đầy đủ viện trợ
cho nhu cầu hiện tại của Việt nam cộng hoà, mà c̣n yểm trợ cho nhũng kế
hoạch kinh tế dài hạn mà Ngài vừa công bố. Nỗ lực này đang tiến hành tốt
đẹp và được đặt vào ưu tiên hàng đầu….
Nhưng tôi thẳng thắn khuyên cáo Ngài rằng chỉ có mối bất đồng nhỏ
nhoi giữa chúng ta trong t́nh thế này cũng đủ làm tiêu tan nỗ lực trên.
Tôi tin chắc rằng Ngài sẽ cân nhắc kỹ lưỡng điều trên khi đọc lá thư
này.
Trân trọng
(kư) Richard Nixon
Khi ông Thiệu vẫn không đồng ư kư vào bán thông cáo, Nixon đi đến chỗ
quyết liệt:
White House
Ngày 6 tháng 6, 1973
Thưa Tổng thống,
"Quyết định mà Ngài phải làm là chỉ thị cho đại diện của Ngài đi
Paris để cùng với Tiến sĩ Kissiger kư vào Thông cáo như hiện trạng…,
hoặc ngược lại, Ngài không chịu kư, huỷ bỏ Hiệp định, và chịu hậu quả
thảm khốc không thể tránh được….
Đó là sự nhận định t́nh h́nh trung thực của tôi, sự lựa chọn thật rơ
ràng…
Tôi tin tưởng ở sự hiểu biết bao quát của Ngài về những quyền lợi
chung của chúng ta và sẵn sàng trả lời thuận trước 12 giờ trưa ngày 7
tháng 6, giờ Sài g̣n".
Trân trọng,
(kí) Richard M. Nixon
Ông Thiệu viết thư trả lời Nixon, giải thích tại sao phía VNCH không
chấp nhận được. Trong khi đó, ông cho báo chí ở Sài g̣n b́nh luận rộng
răi về bản Thông cáo là rất bất lợi cho VNCH.
Vừa nhận được thư, Nixon hồi âm cùng một ngày :
White House
Ngày 7 tháng 6, 1973
Thưa Tổng thống,
Tôi không thể lường đoán nổi hậu quả quyết định của Ngài trước Quốc
hội và công luận Hoa kỳ. Hậu quả đó chắc chắn sẽ bất lợi cho Ngài và có
thể gây tai hoạ. Tôi rất tiếc và buồn phiền khi thấy công cuộc mà chúng
ta đă cùng nhau chia sẻ rất nhiều nay bị sụp đổ như thế này.
Xin Ngài trả lời cho chúng tôi trước 8 giờ sáng ngày 8 tháng 6, giờ
Paris để tiện tiến hành".
Trân trọng
(kí) Richard M. Nixon
Đọc tới chữ "tai hoạ", ông Thiệu phê ở ngoài lề bức thư: "Chúng ta
phải chuẩn bị cẩn thận cho biến cố này".
Thế rồi trong văn thư đề ngày 8 tháng 6, 1973 trả lời ông Nixon, ông
Thiệu vẫn nói là phía VNCH đồng ư để Hoa kỳ và Bắc Việt kư kết với nhau
trên nguyên tắc, rồi sau đó hai bên sẽ kêu gọi (appeal) cả Chính
phủ VNCH và Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời (CMLT) chấp hành những điều
khoản của bản Thông cáo.
Không được, Tổng thống Nixon đă phản ứng ngay. Ông Thiệu đang ngủ khi
Văn pḥng đánh thức ông dậy: có thông báo khẩn cấp. Lúc 2 giờ đêm, Ngoại
trưởng Trần Văn Lắm chuyển cho ông một phiếu tŕnh, kèm theo một thư mới
của Tổng thống Nixon gửi cùng ngày (8 tháng 6, 1973): Việc ǵ gấp rút
đến nỗi chính Phó Đại sứ đă đến tận nhà để đánh thức ông Ngoại trưởng
dậy! Ông Lắm phải chuyển ngay giữa đêm để c̣n kịp đối phó, v́ trong thư,
ông Nixon tỏ ra hết sức cứng rắn. Cùng một ngày, mồng 8 tháng 6, (9
tháng 6, giờ Sài g̣n) Nixon lại gửi một thông điệp nữa:
White House
Ngày 8 tháng 6, 1973
Thưa Tổng thống,
Nếu cuộc thương thuyết này thất bại th́ sẽ có sự đối chất giữa hai
bên. Tôi sẽ bác bỏ lư do không chịu kư kết của Ngài và tôi sẽ công khai
tố cáo Ngài đă cản trí việc đi t́m một giải pháp cho hoà b́nh….
Rất có thể Quốc hội sẽ ngưng viện trợ quân sự và viện trợ kinh tế cho
đến khi Ngài chịu kư…
Tôi cần sự chấp thuật của Ngài để kịp chỉ thị cho phái đoàn Hoa kỳ ở
Paris trước 7 giờ sáng ngày 9 tháng 6, giờ Paris…"
Trân trọng,
(kt) Richard M. Nixon
Ông Thiệu đọc lá thư cẩn thận. Ông phê nhiều điểm loằng ngoằng, bằng cả
tiếng Việt lẫn tiếng Anh, Pháp vào phiếu chuyển thư của Đại sứ
Whitehouse để Hội đồng an ninh quốc gia làm việc: "Unbalanced and
Unjust" (không quân b́nh và bất công). Ông c̣n viết thêm bằng nét
bút ch́ đậm: … Hoa kỳ để VNCH với "no choice" (không có lựa chọn nào tốt
hơn)… để tỏ ra xây dựng và thiện chí, nhận những tối đa, chứ không nói
"không" một cách thẳng thừng" (ông viết tắt lên văn bản: "chữ O nói NON
Flatly", chữ O hay "phi" có nghĩa là "không".
Và cứ như vậy, thư đi, thư lại trong bốn ngày từ mồng 8 tới 11
tháng 6, lời lẽ mỗi lúc một căng thẳng hơn. Tới ngày 13 tháng 6 th́ thời
hạn chót đă tới. Một tối hậu thư được tống đạt:
White House
Ngày 13 tháng 6, 1973
Thưa Tổng thống,
Lá thư của Ngài đề ngày 12 tháng 6, là một đ̣n giáng mạch vào t́nh
bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta.
"Nếu Ngài lựa chọn đường lối này, th́ chính là Ngài đă vạch ra chính
sách trong tương lai của Hoa kỳ đối với Việt nam rồi. Tôi sẽ bắt buộc
chịu ư Quốc hội và công luận Hoa kỳ chỉ yểm trợ chút ít những nhu cầu có
tính cách nhân đạo cho nhân dân miền Nam và, trên căn bản công b́nh đi
nữa, tôi sẽ bỏ qua những quyết định và nhiệm vụ khó khăn để yểm trợ quân
sự và kinh tế (cho VNCH) như chúng ta đă thảo luận ở San Clemente.
"Đây không c̣n phải là vấn đề của người đi thương thuyết, hay của một
luật gia, hay chuyên gia nữa. Đây là vấn đề trước tiên giữa tôi và Ngài.
Sự lựa chọn là do Ngài.
"Xin Ngài hiểu cho rằng, tôi sẽ nói tất cả những sự dè dặt, những
điều cần sửa đổi thêm, tŕ hoăn, hay những hành động đính lạc hướng ra
ngoài (chỉ) một việc là đồng ư ưng, thuận, (tôi sẽ coi đó) là một quyết
định trực tiếp và cố t́nh của Ngài để chấm dứt mối t́nh giao hiện hữu
giữa hai Chính phủ Hoa kỳ và VNCH "
Trân trọng,
(kt) Richard M. Nixon
Ông Nixon đă khoá chặt lại cái tủ của ông Thiệu. Câu giờ, lánh né, mưu
lược, xoay xở đă tới lúc vô hiệu. Lời lẽ hăm doạ cay đắng lúc cơm chẳng
lành, canh chẳng ngọt. Chẳng bù cho những thông điệp nhẹ nhàng, ve văn
lúc tuần trăng mật do bà mối Anne Chennault chuyển vào mùa thu 1968. Nó
đầy sức quyến rũ, thuyết phục.
Ông Thiệu phê vào bên lề câu cuối cùng:
"Quá đáng! Ông nói chứ tôi hoặc ND VNCH (Nhân dân Việt nam cộng hoà),
hay ND USA (nhân dân Hoa kỳ) nào có quan niệm như vậy"(6).
Đây là bức thư cuối cùng của Tổng thống Nixon. Câu ông Thiệu phê như
trên cũng là cảm nghĩ cuối cùng của ông về hành động của
Nixon-Kissinger.
Bản Thông cáo được kư kết vào lúc 4 giờ chiều ngày 13 tháng 6 tại Paris.
Về phương diện lănh thổ, biên giới của Miền Nam đă trở nên lu mờ. Trên
thực tế, nó không c̣n nữa.
Lùi vào bóng tối
Mọi chuyện sắp xếp cho hoà b́nh Việt nam như vậy là xong. Kissinger vội
vă bay về Washington để c̣n theo đuổi những tham vọng khác.
Ngày 22 tháng 8, 1973 Kissinger lên chức Bộ trưởng ngoại giao thay ông
Rogers;
Gần hai tháng sau đó, Hiệp định Paris lại mang tới cho ông vinh dự của
giải thưởng Nobel về Hoà B́nh (Việt nam); và như vậy, thay v́ nói
"Hoà b́nh đang trong tầm tay" (Peace is at hand) nhẽ ra ông phải nói
"Hoà b́nh đang trong tầm tay của tôi"; và thay v́ tuyên bố đă có
"Hoà b́nh và danh dự", ông nên tuyên bố: "Hoà b́nh và danh dự
cho tôi" th́ mới đúng.
Về phía VNCH, từ giờ phút này đă trở nên cô thân cô thế, chỉ c̣n hy vọng
rằng đă chịu đấm th́ được ăn xôi, rằng những cam kết tại San Clemente sẽ
được tôn trọng.
Thế nhưng, San Clemente chỉ là trạm dừng chân của Tổng thống Thiệu trước
khi ông rời khỏi trọng tâm chú ư của Hoa kỳ.
Kể từ khi kư xong Bản Thông Cáo, hai ông Nixon và Kissinger hầu như đă
chôn vùi Miền Nam vào dĩ văng. Trước đó, khi có nhu cầu th́ chỉ trong
thời gian từ 31 tháng 1, 1971 tới 13 tháng 6, 1973, ông Nixon đă viết
cho ông Thiệu tới 27 bức thư. Từ lúc đó cho tới khi ông từ chức (ngày 8
tháng 8, 1974) th́ tuyệt nhiên không c̣n thư từ, thăm viếng, trao đổi ǵ
nữa. Lời ông Winiam Sullivan, Phụ tá Thứ Trưởng ngoại giao tóm tắt về
quan điểm của Hoa kỳ lúc ấy: "Chúng tôi hy vọng rằng Dông Dương sẽ
lui vào chỗ của nó trong bóng tối, và nó xứng đáng như vậy(7)".
Chú thích:
(1) Phỏng vấn Hoàng Đức Nhă, 13-5-1985.
(2) Phỏng vấn Hoàng Đức Nhă, 23-7-1985.
(3) Henry
Kissinger, Years of Upheaval, trang 310.
(4) Phỏng vấn Hoàng Đức Nhă, 23-7-1985.
(5) Phỏng vấn Tổng thống Thiệu, ngày 4-4-1978.
(6) Phỏng vấn Tổng thống Thiệu, ngày 4-4-1978
(7) N.T. Hưng and Jerrold Schecter, The Palace File, p.170.
P2 - Chương 5
THÂN PHẬN TIỂU QUỐC
Tự túc tự cường
Vào lúc tám giờ sáng ngày 28 tháng Giêng 1973, từng đợt rồi lại từng
đợt, tiếng c̣i tàu Hải Quân Việt nam dọc cảng Sài g̣n rú lên, xé tan màn
sương buổi ban mai. Khi c̣i ngưng, chuông nhà thờ lại tiếp theo, ngân
vang khắp đó đây, làm tăng thêm bầu không khí náo nhiệt của đô thành
ngày hôm ấy.
Dù chẳng biết thực hư ra sao, ta cứ ăn mừng đi đă. Hiệp định Paris kư
rồi, chiến tranh chấm dứt. Từ góc đường Phan Đ́nh Phùng khu Đa Kao, đài
phát thanh phóng ra bài ca oai hùng "Việt nam, Việt nam nghe từ vào
đời". Nhiều nhà mở loa cho lớn, dường như muốn át đi tiếng ca
ai oán vẳng lên từ radiô nhà bên cạnh: "Anh trở về trên đôi nạng gỗ…
anh trở về dang dở đời em…" Hy vọng rằng từ nay, những chiếc băng ca
không c̣n phải chở về trên trực thăng sơn mầu tang trắng.
Dân chúng đô thành tạm gác mọi nỗi lo âu sang một bên. Không khí ở những
quán cà phê trở nên nhộn nhịp. Lệnh giới nghiêm nửa đêm chỉ được thi
hành một cách lỏng lẻo và pḥng trà đă bắt đầu mở cửa lại. Nha Du Lịch
sửa chữa khách sạn Majestic, làm thêm một quán ngoài vỉa hè quay ra bờ
sông, hết sức thơ mộng. Chiều chiều, giới phong lưu cũng như ái nữ của
các nhân viên ngoại giao và du khách ngả ḿnh trên những ghế vơng mây
mới mắc, uống chanh soda và nước dừa c̣n tươi, trông như một cảnh ở
Hawaii. Bên kia đường, sông Sài g̣n lặng lẽ trôi. Tiếng đại bác không
c̣n vọng lại nữa, và hoả châu cũng thôi loé sáng trong đêm tối. Nhà hàng
nổi Mỹ Cảnh sầm uất, tiếng nói ồn ào của thực khách xen lẫn với những
tiếng cười ṛn ră, tiếng chuông rung từ những chiếc xe bán đồ rong trên
bến; mùi khô mực nướng và mùi nước mía vừa mới cứ quyện lẫn vào nhau,
làm cho không khí thêm mời mọc, hấp dẫn.
Lại một lần nữa viễn ảnh hoà b́nh ló rạng. Và cứ thế, Hiệp định Paris
được các cơ quan truyền thông của Chính phủ mô tả như một thắng lợi cho
Việt nam cộng hoà. Khác với Hiệp định Genève Pháp kư năm 1954 sau thất
bại Điện Biên Phủ; đàng này Việt nam cộng hoà đâu có thất bại? Ban Tâm
Lư Chiến trận đài đồng ca: "Cờ bay cờ bay trên thành phố thân yêu".
Tại Mỹ, các báo chí đăng hàng tít lớn "Hoà b́nh với danh dự"
Đài VOA cứ vậy mà phát sóng. Biết đâu, biết đâu đấy một trang sử mới đă
được mở ra rồi.
Thế là đă tới thời hậu chiến?
Bây giờ nhiệm vụ chính yếu là củng cố xă hội và tái thiết kinh tế. Về xă
hội, việc bức xúc là hiệu năng của nền hành chính. Để hỗ trợ công tác
này chương tŕnh "Cải tổ hành chánh" được đề ra. Ông Quách Huỳnh
Hà, người được giao trách nhiệm, đă cùng với sự tham gia tích cực của
Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đôn đốc việc cải tổ. Công chức mọi cấp mọi
ngành thay nhau đi tham dự các lớp học tập được tổ chức tại trung tâm
huấn luyện Vũng Tàu. Trung tâm nằm cạnh bờ biển Long Hải thơ mộng. Các
vấn đề được đem ra thảo luận: tản quyền về địa phương, phát triển nông
thôn, tay súng tay cày, bài trừ tham nhũng. Toàn là những chủ đề thực
tế, hết sức hấp dẫn.
Khối Kinh tế - Tài chính được đốc thúc để đẩy được nền kinh tế đi tới tự
túc tự cường. Càng sớm càng tốt. Lúc này cần nh́n thẳng vào thực trạng,
xem mặt tốt, mặt xấu, tranh thủ thời gian để uốn nắn lại những bất quân
b́nh của kinh tế vĩ mô. Muốn vậy, cần phải duyệt xét toàn bộ quá tŕnh
nền kinh tế để chỉ ra cho đúng những nhu cầu và ưu tiên. Nh́n lại con
đường mà nền kinh tế Việt nam đă trải qua trong hai thập niên, tuy nó
trắc trở, thăng trầm, nhưng cũng đă có thời điểm khá sáng sủa. Và bên
cạnh những tàn phá lại có những xây dựng, phát triển đáng kể, cả về vật
chất lẫn con người. Mục tiêu tiến đến tự túc, tự cường, chậm lắm là vào
năm 1980 đă không phải là một ảo tưởng.
Thăng trầm của nền kinh tế thời chiến
Thập niên 1960: từ xuất sang nhập.
Thập niên này được Liên Hiệp Quốc tuyên dương là "Thập Niên Của Phát
Triển." Nắm lấy cơ hội, các nước Á châu như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan,
Nam Dương, Mă Lai, Singapore và kể cả Nhật Bản, đă nhảy vọt một bước dài
trên đường mở mang kinh tế, xă hội. Họ đă vận dụng nhân lực, lấy đất
cảng làm động lực thúc đẩy mở mang kinh tế, thu hút đầu tư và kỹ thuật
tiên tiến để cải tiến công nghiệp. Việt nam đă mất cơ hội quư báu đó.
Tuy nhiên trong những năm đầu thập niên, t́nh h́nh kinh tế c̣n khá triển
vọng. Miền Nam vẫn c̣n xuất cảng được gạo. Với tổng xuất là 340.000 tấn,
năm 1960 đánh dấu mức cao nhất trong lịch sử kinh tế Việt nam cộng hoà.
Từ năm đó, nông thôn bắt đầu thiếu an ninh, xuất cảng gạo xuống dần, và
tới năm 1962, c̣n 85 ngàn tấn. Sau đó, không đáng kể, nhưng vẫn c̣n là
xuất. Từ 1965 trở đi th́ xuất đă biến sang nhập, có năm lên tới 760 ngàn
tấn. Một trời một vực so với thời tiền chiến. Năm cao điểm là 1939: xuất
cảng gạo của riêng Nam Bộ lên tới gần hai triệu tấn. Tới năm 1954 cũng
vẫn c̣n 520.000 tấn (1).
1969-1971: ba năm vàng son.
Khoáng thời gian 1969-1971, t́nh h́nh an ninh miền đồng bằng Cửu Long
tương đối tốt, cho phép nhiều người nghĩ tới triển vọng kinh tế lâu dài.
Đây là khoảng thời gian cao độ của nền đệ nhị Cộng hoà: chương tŕnh
"Người Cày Có Ruộng" ra mắt ngày 26 tháng Ba, 1970 đă thành công với dự
đoán: gần một triệu mẫu ruộng được phân chia cho nông dân (2).
Đúng là cho v́ nông dân đâu có trả tiền.
Chính phủ bán công khố phiếu lấy tiền mua lại ruộng đất của điền chú rồi
chia cho nông dân. Điền chủ nào có quá 15 mẫu phải bán đất c̣n lại. Bầu
không khí nông thôn náo nhiệt. Mặc dù chiến tranh vẫn c̣n, nhưng quyền
sở hữu ruộng đất có tác động hết sức mạnh mẽ. Đang từ tá điền, bốn triệu
nông dân trở thành gia chủ. Nhưng làm tá điền là ăn chắc, c̣n địa chủ
lại phái lo. Việc sở hữu nó có hai mặt: được hưởng trọn vẹn kết quả ḿnh
làm ra. nhưng ngược lại, cũng phải gánh vác rủi ro của mùa màng, thời
tiết. Người "tân điền chủ" vất vả, lam lũ:
Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy c̣n trông nhiều bề.
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…
Người nông dân chăm chỉ làm ăn như vậy nên kết quả trông thấy. Khi
chương tŕnh Người cày có ruộng kết thúc vào tháng Ba, 1973, bộ
mặt nông thôn đă trở nên sinh động.
Có ông giáo sư Mỹ nói với chúng tôi: "Người nông dân Việt nam toàn là
con cháu Adam Smith". Nhà kinh tế người Anh nổi tiếng Adam Smith (thế kỷ
18), được coi như cha đẻ của kinh tế thị trường. Ông đặt động lực cạnh
tranh của nền mậu dịch tự do dựa trên quyền tư hữu, là yếu tố căn bản
nhất của phát triển kinh tế (3).
Thêm vào đó tà liến bộ kỹ thuật: loại lúa giống IR-3 phát xuất ở
Phillippines được đem vào đồng bằng Cửu Long. Ở một số nước hậu tiến
khác mà chúng tôi có dịp quan sát tại chỗ khi c̣n làm việc cho Quỹ tiền
Tệ Quốc tế, thật là rất khó nhọc cho nông dân chấp nhận những kỹ thuật
mới. Họ không muốn thay đổi cung cách làm việc, bám chặt lấy những
phương pháp sản xuất mà họ quen thuộc. Đằng này, dù đă trồng lúa cổ
truyền cả vài ba ngàn năm, đến lúc thấy có giống mới, nhân dân miền Nam
vội vàng hưởng ứng. Và hưởng ứng rất nhiệt liệt, đặt ngay tên lúa là
"thần công". Cứ cho đủ phân bón, lượng nước cho đúng mức là nó lên
đầy đồng. Cây lúa không cao như lúa cổ truyền, nhưng bụ bẫm, dẻo dai.
Khi có băo tố nó nằm rạp xuống, chờ khi băo qua, lại đứng thẳng lên. Tới
mùa gặt mà người ta về Cần Thơ, An Giang xem th́ thật là sướng mắt:
"Cánh đồng mênh mông, cánh đồng bát ngát, ôi cánh đồng dào dạt lúa thơm
nồng".
Đến năm 1971 th́ lúa thần nông đă phủ được trên 2,6 triệu mẫu ruộng,
bằng 42% diện tích canh tác rồi. Hai động lực này đẩy mạnh sản xuất thóc
lên trên bảy triệu tấn, cao hơn năm 1966 là 63%. Nhập cảng gạo lập lức
xuống chỉ c̣n 160.000 tấn. Với đà này th́ chẳng mấy lúc nữa là đă đủ gạo
ăn và có khi c̣n dư để xuất cảng (4).
Nhiều quan sát viên quốc tế đă cho chương tŕnh "Người cày Có ruộng"
là một trong những chương tŕnh cải cách điền địa thành công nhất ở
các nước hậu tiến (5). Nó là điểm vàng son của nền Đệ nhị Cộng hoà. Bao
nhiêu hy vọng! Biết đâu chẳng mấy lúc nữa, ánh b́nh minh lại chẳng chiếu
rọi khắp thôn quê? Cuối năm đó, một chương tŕnh phát triển kinh tế hậu
chiến do nhóm nghiên cứu Lilienthal - Vũ Quốc Thúc được cơ quan viện trợ
Hoa kỳ USAID tài trợ đă ra mắt. Người ta bắt đầu nghĩ tới phát triển lâu
dài.
Mùa hè đỏ lửa 1972
Dân chúng Việt nam ăn cái tết năm Nhâm Tư khá vui vẻ. Pháo nổ rộn ră.
Bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ, không có ǵ là thiếu. Tháng
Giêng là tháng ăn chơi, măi tới tháng hai mới đi trồng đậu, trồng khoai,
trồng cà. Đậu phộng mọc nhanh nên tháng ba là đậu đă già và "ta đi ta
hái về nhà phơi khô".
Nhưng rồi nào có đi hái đậu. Tháng ba năm đó đại bác lại nổ rền trời
trên vùng vĩ tuyến. Chiến tranh bỗng leo thang, bắt đầu từ cuộc "Tấn
công mùa Xuân" của quân đội Bắc Việt tại Quảng Trị. Lúc này, thay v́
thế công, Việt nam cộng hoà lại chuyển sang thế thủ. Đà tiến triển kinh
tế bỗng khựng lại giữa "mùa hè đỏ lửa". Trên 200 cầu bị hư hại, bao
nhiêu cây số đường xá bị phá huỷ, 40% sản xuất cao su bị mất v́ rừng cao
su đă trở nên băi chiến trường. Thêm mấy trăm ngàn người nữa từ miền vĩ
tuyến chạy vào phía nam, làm cho số người di cư tăng vọt lên 1,2 triệu.
Áp lực nhu cầu tiếp tế càng thêm nặng nề: lương thực, nước uống, thuốc
men, vệ sinh, lều trại.
Năm ấy lại là năm mất mùa v́ hạn hán! Nhập cảng gạo nhảy lên 284.000 tấn
(6).
Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 1972, t́nh h́nh lại trở nên tốt đẹp
hơn, và nền kinh tế bắt đầu có nhiều dấu hiệu phục hồi. Thần khí của đất
nước linh thiêng, sức mạnh của nhân dân dồi dào. Cứ mỗi lần ngă xuống
lại t́m cách hồi sinh. sức chịu đựng, ư chí kiên tŕ được quốc tế thán
phục.
Nền kinh tế giao thời: 1973
Nói chung, nh́n vào kinh tế miền Nam lúc giao thời từ chiến tranh sang
"hậu chiến", từ có Mỹ tới không có Mỹ, ta thấy có sáu đặc tính rơ
ràng(7):
Thứ nhất là cơ cấu chênh lệch: nghiêng hẳn về cung cấp dịch vụ,
tương đương bằng 55% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Đặc biệt là dịch vụ
quốc pḥng, hành chánh, quân đội Đồng minh. Sản xuất hàng hoá, vật dụng
chẳng có là bao;
Thứ hai là mức lệ thuộc vào nhập cảng: ngoài gạo c̣n xăng nhớt,
phân bón, xi măng, hàng tiêu thụ, vật liệu sản xuất. Tất cả tương đương
với hơn một nửa tổng số cung hàng hoá. Trung b́nh là phải nhập 750 triệu
đô la một năm, khoảng 40 đô la đổ đồng trên đầu người (nên nhớ đây là
đồng đô la với măi lực thời ấy). Đang khi đó xuất cảng (cao xu, trà, hải
sản, lông vịt) chỉ vào khoảng 4%-5% nhập cảng;
Thứ ba là mức tiết kiệm sụt xuống số âm: trung b́nh bằng -5% tổng
sản lượng gộp nội địa GDP. Lúc c̣n hoà b́nh, nó là số dương. Có năm đă
lên tới +6% GDP (1960). Khi không c̣n tiết kiệm nội địa th́ đầu tư cho
phát triển phải tuỳ thuộc vào tiền bạc từ bên ngoài;
Thứ tư là gánh nặng kinh tế của nạn nhân chiến cuộc: đoàn người
di tản từ những vùng thiếu an ninh, đặc biệt là miền Trung, đă lên tới
vài triệu. Một số đông di tản về thành thị, làm số người ở đây lên tới
40% tổng dân số (năm 1960 chỉ có 22%). Kết quả là thất nghiệp cao ở
thành thị (14%) cùng với những tệ đoan xă hội đi kèm. Đang khi đó nông
thôn lại thiếu người canh tác;
Thứ năm là gánh nặng quốc pḥng: t́nh trạng an ninh "thời hậu
chiến" c̣n đ̣i hỏi một nhu cầu quốc pḥng quá lớn, cần chi tiêu tới 50%
ngân sách (242 tỷ đồng).
Tài trợ cho phát triển chỉ c̣n 9% (66 tỷ đồng). Rồi vấn đề nhân lực: 1,2
triệu thanh niên c̣n phải vác súng, chưa kể 310.000 công, tư chức. Ngoài
ra c̣n số người di tán kể trên, tất cả cũng vượt 30% nhân lực lao động.
Thêm vào năm điểm này phải kể tới một điểm quan trọng khác:
Thứ sáu, tâm lư dựa vào viện trợ: nh́n lại giữa thập niên
1960, ta thấy cái tâm lư này nó đă mau bén rễ. Nền kinh tế Việt nam bé
nhó, hậu tiến, sản xuất căn bản là nông nghiệp. Khi quân đội Mỹ ào ạt
kéo sang, nhu cầu quốc pḥng, tiêu dùng, xây dựng hạ tầng cơ sở nhảy
vọt. Mà sản xuất nội địa c̣n yếu kém, căn bản chỉ là gạo thóc. Để tránh
t́nh trạng khan hiếm, lạm phát phi mă th́ chỉ c̣n cách nhập hàng hoá từ
ngoài vào. Nhưng lại nhập quá nhiều và quá nhanh. Tài trợ nhập hàng hoá
gồm bốn nguồn: viện trợ nhập cảng (CIP)(Capital Improvement Projects có
nghĩa là những dự án chính) + viện trợ thực phẩm phụng sự hoà
b́nh + viện trợ dự án + số đô la phía Mỹ mua tiền Việt
nam. Tổng số này đang từ 162 triệu năm 1964 tăng lên tới 830 triệu năm
1966, cao hơn năm lần. Tiền bạc dồi dào, cứ thế mà xài. Chi tiêu công
cũng như tư có bề thả lỏng.
Cả Sài g̣n chẳng thấy thiếu thứ ǵ: radio, TV, tủ lạnh, máy điều hoà
không khí. Báo chí ngoại quốc gọi Sài g̣n là Hondaville. Ngoài
nhập cảng, lại c̣n một nguồn khác: thuốc lá, rượu mạnh, đồ gia dụng từ
hệ thống tiếp liệu PX lọt ra thị trường. Cứ đứng trước cổng căn cứ Long
B́nh mà xem th́ rơ.
Chính sách kinh tế thường hay được tính toán dựa theo dự phóng xem số
tiền đô la sẽ bơm vào nền kinh tế là bao nhiêu.
Sự kiện này làm tăng lên cường độ của tâm lư lệ thuộc kinh tế VN tai hại
hơn, nó lại mang tới nhiều cơ hội tham nhũng cho nhiều người, ở mọi tầng
lớp, trở thành ung nhọt xă hội.
Triển vọng tái thiết
Thế nhưng, đằng sau những vấn đề khó khăn, những yếu kém, lại có những
yếu tố thuận lợi cho công cuộc phát triển.
Với một dân số 20 triệu, thị trường miền Nam lớn hơn các nước
Afghanistan, Australia, Hồng Kông, Mă Lai, Nepal, New Zealand,
Singapore, Sri Lanka, và Đài Loan. Lợi tức đổ đồng cho một người của
miền Nam (tương đương khoảng 150 đô la một năm) c̣n cao hơn ở các nước
Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan và Thái Lan hồi đó (8).
Nông nghiệp
Về nông nghiệp, cải tiến kỹ thuật và lúa thần nông đă nâng sản xuất lên
tới bảy triệu tấn thóc vào năm 1973, tương đương bằng 4,6 triệu tấn gạo,
gần tới mức đủ ăn. Dự phóng là chỉ tới 1976 đă có thể xuất cảng. Triển
vọng này là niềm hy vọng không nhỏ trong lúc khó khăn. Chương tŕnh đa
dạng hoá nông nghiệp cũng bắt đầu có kết quả. Các loại cây ăn trái, bắp,
đậu phụng, đậu nành, khoai tây, rau cỏ phát triển hết sức nhanh.
Cây công nghiệp được đẩy mạnh để thay thế nhập cảng: sản xuất thuốc lá
đă tới trên 18.000 tấn so với 9.000 tấn năm 1971 ; mía đường lên trên
900.000 tấn, gần gấp ba mức 1970. Dự phóng cho 1975 là sẽ tăng gấp đôi,
tức 1,8 triệu tấn. Ngô bắp th́ từ 31.000 tấn (1970), tăng lên trên
50.000 tấn (1974).
Lại có khả năng phục hồi sản xuất 70.000 tấn cao xu mức tiền chiến(9).
Ngành ngư nghiệp được canh tân, ngư thuyền với máy đuôi tôm lượn đi lượn
lại khắp sông rạch. Xuất cảng tôm và hải sản từ vỏn vẹn 500.000 lên gần
11 triệu đô la. Dự phóng cho 1975 là 30 triệu. Tổng số xuất cảng năm
1973 lên tới 53 triệu, tuy khiêm nhượng nhưng cũng là tăng gấp ba lần
năm 1972.
Phát triển con người
Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát
triển kinh tế lâu dài. Tỷ như nước Nhật, tài nguyên rất ít, không có một
giọt dầu, thế mà thành quốc gia tiền tiến vào hạng nhất. C̣n như những
nước dầu lửa Kuwait, Saudi, tiền bạc nhiều biết mấy mà đâu có mức phát
triển kinh tế, xă hội cao.
Với 80% dân số là người Kinh, đa số theo Phật Giáo, miền Nam
không có vấn đề thù nghịch sắc tộc hay tôn giáo quá đáng như miền Trung
Đông chẳng hạn. Ngôn ngữ lại đồng nhất, khác nhau chỉ là về cách phát
âm. Việt nam là nước duy nhất ở Á châu dùng mẫu tự La mă a, b, c, rất
tiện cho việc tiếp thu kỹ thuật, văn hoá ngoại quốc.
Gần 20 năm hoạt động, cơ quan Viện Trợ Hoa kỳ USAID đă giúp Chính phủ
Việt nam phương tiện và kỹ thuật để phát triển giáo dục và đào tạo. Năm
1973, tỷ lệ biết đọc, biết viết là 70% rất cao so với các nước Á
châu láng giềng hồi đó.
Trước năm 1954, miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà
nội. Tới 1973, Đại học Sài g̣n đă đứng vào hàng quốc tế. Vài thí dụ: bác
sĩ xuất thân từ Đại học Y khoa đủ sức phục vụ cho đoàn quân 1,2 triệu mà
không cần đến bác sĩ nước ngoài. Sau này họ di tản sang Mỹ, chỉ cần một
hai năm đào tạo lại và học thêm tiếng Anh là hành nghề được ngay. Luật
gia tốt nghiệp từ khuôn viên "cây dài bóng mát, con đường Duy Tân", đă
làm việc cho các hăng Mỹ ngay ở Sài g̣n, và được thán phục. Khi họ đi du
học th́ thấy luật pháp Mỹ quá rơ ràng, học lại c̣n dễ nữa.
Ngoài đại học Sài g̣n c̣n sáu đại học khác: Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức,
Hoà Hảo, Cao Đài, Cần Thơ. Năm 1973, tổng số sinh viên đại học lên tới
98.832 so với chỉ vỏn vẹn có 2.900 vào năm 1955. Số học sinh trung học
trong cùng năm ấy là trên một triệu so với 43.000; và học sinh tiểu học,
trên ba triệu so với 401.000. Ngoài ra c̣n các trường cộng đồng, trường
huấn nghiệp, các chương tŕnh công nghệ mọc lên như nấm.
Chiến tranh lại cũng đào tạo được bao tay nghề đang chờ mong được đóng
góp vào sản xuất cho nền kinh tế thời b́nh. Việc chuyển nhượng kỹ thuật
trong thời chiến đă thể hiện rơ ràng ở Nhật. Quân đội Mỹ đóng ở Nhật sau
đại chiến và chiến tranh Bắc Hàn đă giúp cho nhân công Nhật Bản tiếp thu
được kỹ thuật lắp ráp xe tải, xe tăng. Đội ngũ này sau chuyển sang làm
xe hơi, bây giờ cạnh tranh với xe Mỹ, Đức. Ở Miền Nam, mười năm chiến
tranh đă giúp có biết bao nhiêu tay nghề: xây dựng, máy móc, lắp ráp,
sửa chữa, truyền tin, kiến trúc sư. Đội ngũ thợ xây dựng Đà Nẵng được
các nhà thầu ngoại quốc khen ngợi. Khối Công Binh tiếp nhận được ngành
nghề cao về xây cất đường xá, cầu cống, nhà cửa. Rồi đoàn phi công bay
trực thăng, máy bay vận tải, khu trục cơ, phản lực F5, ra chiến trường
th́ can đảm, đến khi lái máy bay dân sự có chiêu đăi viên lo cà phê, cơm
nước th́ lại càng vi vút hơn.
Hạ tầng cơ sở
Một kết quả tốt của chiến tranh là mang tới cho Miền Nam một hạ tầng cơ
sở khá tốt, giúp phát triển kinh tế lâu dài. Xây dựng hạ tầng là rất tốn
phí và mất thời gian. Tỷ như quá tŕnh xây một cái cầu: từ lúc làm dự án
tiền khả thi, tới lúc đánh giá, rồi làm dự án khả thi, t́m nguồn tài
trợ, thương thuyết, đi vay, tới xây cất, lúc xong trung b́nh cũng phải
mất năm năm. Đó là một lư do tại sao lại hay có "kế hoạch ngũ niên".
Nhu cầu quân sự trong thời chiến đ̣i hỏi xây cất nhiều phi trường. Ngoài
những phi trường lớn như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh, Đà Nẵng, Cần Thơ có thể
tiếp nhận phản lực đủ loại c̣n có những phi trường nhỏ ở Đà Lạt, Huế,
Kontum, Phú Quốc. Pleiku, Rạnh Giá, và Qui Nhơn. Cộng thêm vào là khoảng
100 sân bay tư hon, rải rác khắp nơi, rất tiện cho việc liên lạc giữa
các địa phương (10).
Về vận chuyển đường thuỷ th́ miền Nam có tới 4.780 cây số sông, rạch
(3.000 dậm Anh). Khoảng một nửa là sông ng̣i, nửa kia là kinh, rạch. Đó
là phương tiện giao thông rẻ tiền nhất và thuận lợi cho nông, ngư dân.
Hải cảng lớn gồm Sài G̣n, Cam Ranh, Đà Nẵng, Nha Trang, Rạch Giá.
Những địa điểm rất tiện cho tàu bè cập bến, tiếp vận cho mọi miền dọc
theo gần 1.000 cây số bờ biển và duyên hải. Nguồn lợi trông thấy là
những cảng này lại có thể đáp ứng hết nhu cầu hàng hải của Lào, bị khoá
chặt trong đất liền, miền Đông Kampuchia, và có thể cả miền đông bắc
Thái Lan.
C̣n đường xá, các nước hậu tiến trông thấy đường xá miền Nam mà thèm.
Tất cả có tới 21.000 cây số đường (khoảng 13.000 dậm), trong đó gần
9.500 cây số đường nhựa, đi được quanh năm. Cầu các loại to, nhỏ bắc qua
sông tới gần 4.000 cây rất nhiều cầu đă bị hư hỏng, nhưng sửa chữa lại
th́ cũng nhanh. Tính ra cũng có tới gần 170.000 xe tải và trên 51.000 xe
hành khách lưu thông trên hệ thống đó.
Viễn thông của một nền kinh tế phồn thịnh
V́ tài nguyên và con người như vậy, nên Miền Nam thực sự đă có triển
vọng phát triển một nền kinh tế phồn thịnh, hết bị lệ thuộc.
Về hạ tầng cơ sở, không phải là ông Trời không ưu đăi. Có điều là tiềm
năng nằm đó mà chưa khai thác ra được. Trên con đường tiến tới tự túc tự
cường, có hai của quư Trời phú: túi dầu nằm ở thềm lục địa và Vịnh Cam
Ranh.
Kho tàng dầu lửa: tài nguyên Trời cho
Cho dù không bằng túi dầu của Indonesia, một nước trong khối OPEC, tiềm
năng dầu lửa, dầu khí trong một vùng rộng 500.000 cây số vuông của thềm
lục địa Miền Nam không phải nhỏ. Năm 1973, vừa hô lên đă có bao nhiêu
hăng dầu quốc tế nhảy vào, bất chấp là t́nh h́nh an ninh chưa ổn định.
Hai ṿng đấu thầu năm đó cũng đă mang lại được 17 triệu đô la. Vào lúc
liền đang cạn, giá trị tâm lư của số tiền này c̣n lớn hơn mấy lần. Đấu
thầu năm 1974, số tiền lên tới 30 triệu.
Chính phủ cấp giấy phép cho sáu tổ hợp công ty dầu lửa được khai thác 13
địa điểm trong một khu vực 82.000 cây số vuông.
Đây mới chỉ là 16% của thềm lục địa.
Đến cuối 1974, tất cả các công ty đều hoàn thành nghiên cứu chi tiết về
địa chất. Theo hợp đồng, các công ty khoan thầu phải bắt đầu khoan dầu
thử nghiệm trong ṿng 24 tháng kể từ lúc hợp đồng có hiệu lực. Thế mà
hai công ty trúng thầu đợt một đă bắt đầu khoan một năm trước hạn chót:
Pecten vào tháng Tám, và Mobil, tháng 10.
Chỉ hơn hai tuần, vào ngày 17 tháng Tám 1974, Pecten đào trúng ngay dầu
ở lô 08-TLD, đặt tên là HÔNG-X. Kết quả cho thấy có dầu dưới độ sâu
1.374 mét. Rồi giếng thứ hai, DỪA l-X, trong cùng một diện tích lại t́m
được khả năng dầu thô và dầu khí cao hơn. Thử nghiệm cho thấy tất cả có
hai nguồn: mỗi nguồn có thể khai thác ngay 1.514 thùng dầu thô một ngày
và 5,8 triệu thước khối Anh (cubic feet) dầu khí một ngày. Sau đó, lô
DƯA l-x được chính thức tuyên bố chính xác là "mỏ dầu". Hăng
Pecten rất vui mừng, nên tiến hành khai thác ngay lô 06-LTD, và đă t́m
thấy có dấu hiệu c̣n khả quan hơn.
Tới tháng 10, 1974 hăng Mobil khoan giàn BẠCH HỔ 1, tại lô 04-TLD, t́m
được "lượng dầu quan trọng" dưới độ sâu trên 2,7 cây số (9.000 feet).
Tin mừng cứ thế đến liên tục. Hăng Marathon và Union Texas quyết định
khoan giếng đầu vào cuối 1974. Hai hăng Esso và Sunningdale có kế hoạch
khoan dầu vào tháng 4-1975! Ước tính là vào cuối 1975, sẽ có ít nhất 20
dàn khoan. Sản xuất một lượng dầu khả quan sắp được bắt đầu muộn lắm là
vào cuối năm 1977.
Có lần chúng tôi được một hăng khoan dầu mời ra xem dàn khoan ngoài
khơi. Trên chuyến trực thăng, tôi hỏi anh phi công Pháp: "Anh nghĩ Việt
nam có nhiều dầu không?" Anh vui vẻ trả lời tôi không biết rơ, nhưng
theo kinh nghiệm làm việc cho các hăng dầu lửa nhiều năm, tôi thấy ở nơi
nào có nhiều tôm là có dầu lửa". Nghe thật mát ruột. Anh ta c̣n thêm:
"Tôi nghĩ rằng quư ông có cả dầu lửa ở Đồng Bằng Cửu Long nữa". Thực hư
không biết, nhưng đầu năm 1975, có người giới thiệu một công ty ngoại
quốc (mà hiện tôi không nhớ là hăng nào) tới văn pḥng để bàn về chuyện
này. Họ nói "chúng tôi nghiên cứu sơ khởi và tin rằng có dầu lửa, dầu
khí ở vùng Cửu Long".
"Ở đâu?" tôi vội vàng hỏi. "Chúng tôi không thể trả lời ông được, v́
phải chi phí tốn kém mới có những thông tin này". Họ đề nghị Chính phủ
hai điểm: thứ nhất, cho công ty đào ngay mà không phải qua thủ tục đấu
thầu, hành chánh rườm rà; thứ hai, khi khai thác được dầu sẽ chia đôi,
một nửa cho công ty, một nửa cho Chính phủ. Tôi nói ngay với Tổng thống
Thiệu về việc này. Ông tỏ vẻ vui mừng nói "trong lúc này, ai làm được ǵ
giúp ích là phải cho ngay."
Tin tức về dầu lửa luôn được báo chí đăng lên trang đầu. Truyền h́nh
chiếu những cảnh dàn khoan bận rộn ngoài khơi, những ngọn đuốc đốt bằng
dầu khí chiếu sáng ṿm trời vào đêm khuya. Trong khung cảnh tối tăm cuối
năm 1974, những ngọn đuốc này cũng mang tới một tia sáng loé lên trong
tâm trạng dân quân Miền Nam.
Vịnh Cam Ranh
Vịnh Cam Ranh được coi là vịnh có nước sâu, đẹp và tốt nhất ở Đông Nam
Á. Người ta c̣n so sánh Cam Ranh với Vịnh San Francisco ở Mỹ. Thời Pháp
thuộc, ngân sách các nước thuộc địa eo hẹp, tuy biết triển vọng của vùng
này, nhưng họ vẫn để nằm ụ ở đó, chỉ dùng một cảng nhỏ cho vài
chiếc tàu hải quân Pháp. Cách Sài G̣n 400 cây số, Vịnh nằm vào vĩ tuyến
12, gần ngay trục giao thông hàng hải quốc tế Singapore, Hồng Kông,
Thượng Hải, Yokohama. Cam Ranh chỉ xa trục này chừng một giờ tầu biển,
trong khi Vũng Tàu cách ba giờ, Hải Pḥng cách tám giờ. Vịnh có chiều
sâu trung b́nh từ 18 tới 20 mét. Chỗ sâu nhất là 30 mét. Hải sản nơi đây
phong phú, nổi tiếng là tôm hùm B́nh Ba và ṣ Trà Long. Ngoài ra c̣n
nguồn cát trắng với chất lượng cao rất là phong phú. Dọc theo bờ biển
năm sáu cây số, mỏ cát Thuỷ Triều nằm ở phía Bắc bán đảo Cam Ranh. Nơi
đây có cát trắng với độ sạch tới 99%, là nguyên liệu dùng sản xuất pha
lê loại thượng hạng và thuỷ tinh quang học. Ngoài ra c̣n có khoáng chất
thạch anh (quazt) quư giá, dùng làm đồng hồ chạy thật chính xác.
Tôi c̣n nhớ mỗi khi gặp ông Đại sứ Nhật, thấy ông chỉ hay hỏi han về
tiến tŕnh phát triển "Vùng Vịnh". Sau này tôi mới được biết là vừa có
Hiệp định đ́nh chiến là đă có một công ty Nhật vào làm nghiên cứu khả
thi cho một dự án hoá dầu (petrochemical).
Vịnh Cam Ranh là một b́nh phong chắn gió an toàn cho tàu bè trú ẩn khi
băo tố. Cửa biển vào vịnh rộng ba cây số, sâu 20 mét, không có phù sa
bồi. Vào thời "Nhật Nga Chiến kỷ", năm 1905 hạm đội Nga do Đô đốc Z.P.
Rozhestvensky chỉ huy trên đường đi đánh trận hải chiến Tsushima, đă vào
Cam Ranh trú ẩn. Năm 1941 Nhật chiếm đóng Cam Ranh rồi rút năm 1945.
Nga tiếp tục nḥm ngó. Mùa xuân 1975, vào lúc t́nh h́nh căng thẳng nhất,
ngày 23 tháng Ba, giữa một buổi họp trong văn pḥng Tổng thống Thiệu,
Đại tá Vơ Văn Cầm, Chánh Văn pḥng gơ cửa vào đưa một báo cáo từ miền
Trung cho ông Thiệu: hải quân ta vừa phát hiện có máy bay trực thăng Nga
bay thám thính trên không phận Vịnh Cam Ranh".
Ông Thiệu nổi sùng, "Để nó bay đi rồi c̣n báo cáo ǵ nữa!"
Bán đảo Cam Ranh
Hai mươi năm sau khi Nhật rút khỏi Cam Ranh, quân đội Mỹ vào xây cất lên
một công tŕnh vĩ đại. Với diện tích 260 cây số vuông ( 100 square
miles), bán đảo này giống như h́nh một cái chai, có chiều dài 12 cây số
và chiều ngang bảy cây số ở điểm rộng nhất. Một hệ thống tiếp liệu rất
lớn gồm các kho nhiên liệu, kho đạn, xưởng đại tu xe tăng, nhà máy điện,
khu nhà ở, giải trí được xây cất. Thêm vào là phi cảng quân sự thật lớn.
Sân bay có hai đường băng 3.200 mét, phi cơ loại nào đáp xuống cũng
được. Hệ thống đường bộ chằng chịt, giao thông rất thuận tiện. Là một
bán đảo, hai bên là biển mà lại có hồ chứa nước ngọt lớn, với trữ lượng
thường xuyên hàng trăm ngàn mét khối. Đó là Hồ Ao Hổ rộng 250 mét, dài
1,5 cây số. Vào cuối mùa khô tính ra cũng c̣n gần 300 triệu ga-lông
nước. Nhờ mỏ nước ngọt trong ḷng đất nên cây cối xanh tươi. Ngoài hồ,
c̣n một số giếng nước do quân đội Mỹ đào, tụ lại thành 10 điểm cung cấp
nước ngọt cho 15.000 lính.
Hải cảng Cam Ranh
Cảng này là một trong ba cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới, đứng sau
Sydney (Úc) và hơn Rio de Janeiro (Brazil). Ngoài bốn bến tầu (trong
chín bến lúc đầu) c̣n tốt, c̣n có nhiều cầu tầu có thể bỏ neo bốc rỡ
hàng hoá, và 14 phao nổi được cột xuống chắc chắn.
Khi Mỹ trao lại cho Việt nam cộng hoà vào tháng Sáu th́ bán đảo Cam Ranh
là một của quư. Đă có sẵn một hải cảng lớn, vừa gần biển, vừa cách biển,
lại có một hạ tầng cơ sở nằm sát bên để phát triển kỹ nghệ, du lịch,
thuỷ hải sản, đóng tầu, sửa tàu, vận tải thương thuyền hàng hải. Cam
Ranh c̣n có hệ thống ra đa tối tân, hệ thống thông tin liên lạc qua Thái
Lan. Phillippines bằng giây cáp ngầm xuyên biển, hết sức hấp dẫn với các
nhà đầu tư quốc tế. Bắt ngay lấy cơ hội, phía Việt nam cộng hoà yêu cầu
Cơ quan viện Trợ Hoa kỳ SAID tài trợ một nghiên cứu sơ khởi, một dự án
tiền khả thi, nhằm biến đổi một phần của bán đảo Cam Ranh, thành một khu
công nghiệp.
Theo kết quả nghiên cứu th́ Cam Ranh có thể phát triển theo nhiều giai
đoạn.
Giai đoạn đầu là phát triển một khu công nghiệp khoảng 2.000 mẫu tây gồm
khu nhà máy, khu nhà ở, giải trí, khuôn viên bảo tồn thiên nhiên. Cảng
th́ đă có sẵn. Khu kỹ nghệ có thể cho thuê được ngay gồm 480 mẫu tây mặt
bằng, cộng với 85.40 mét vuông nhà xưởng. V́ không phải mất tiền đền bù
việc di dân, cũng không phải xây cất hạ tầng cơ sở, nên dự án tiết kiệm
được thời giờ và ít tốn kém. Chỉ trong hai năm là xong. Chi phí lại rất
thấp: khoảng 10 triệu đô la, trong đó số tiền tương đương bảy triệu là
tiền Việt nam để trả nhân công, chí phí nội địa. Chỉ cần ba triệu đô la
trả tiền kỹ sư và vật liệu nhập cảng là đủ. Trong giai đoạn đầu có thể
cho phát triển kỹ nghệ nặng. Đặc biệt là công nghiệp hoá-dầu, amonium,
phân Urea, Natri cácbônát khan (soda ash), kỹ nghệ kính để cho các công
tŕnh kiến trúc. Tất cả những nhà máy này tốn khoảng 155 triệu đô la để
xây dựng và chỉ trong ṿng năm năm là có thể bắt đầu hoạt động sản xuất.
Thực ra, không phải đợi tới sau năm năm: đang phát triển giai đoạn đầu
là đă có thể làm những bước cho giai đoạn hai, nhắm vào kỹ nghệ nhẹ, chế
biến. Khách đầu tư sẽ đổ xô vào "vùng Vịnh" Việt nam. Rồi tới những kỹ
nghệ nặng hơn nữa như sắt, thép, kỹ nghệ lọc dầu, kết hợp với các dàn
khoan dầu ngoài khơi.
Cảng Cam Ranh dần dần sẽ được tận dụng. Từng bước một, công tŕnh nghiên
cứu kết luận: "Phát triển cho đúng mức, tiềm năng của cảng Cam Ranh bằng
Singapore, nó sẽ là cảng Hồng Kông thứ hai."
Tóm lại, nếu tổng kết toàn bộ những yếu tố tiêu cực, tích cực th́ h́nh
ảnh của nền kinh tế Miền Nam thời "hậu chiến" không phải là đen tối.
Trái lại có thể nói là có nhiều triển vọng, nhiều nhà kinh tế đă đồng ư
rằng Miền Nam hội đủ điều kiện cần thiết để tiến tới chỗ thoát khỏi t́nh
trạng hậu tiến, cũng giống như Đài Loan, Nam Hàn. Và việc phát triển sẽ
mất ít thời gian hơn là các quốc gia kia, một phần v́ đă có sẵn những
xây cất hạ tầng tương đối đầy đủ. Lại c̣n thêm của Trời cho. Quan
sát tại chỗ, Đại sứ Martin đă phát biểu cho kư giả tuần báo U.S. News
and World Report (11):
"Đôi khi ta thấy trong cùng một quốc gia có sự phối hợp giữa tài nguyên
phong phú, một hệ thống hành chính có quyết tâm với những chính sách
kinh tế hợp lư một dân tộc thông minh, khéo léo, và hết sức dẻo dai, với
một khả năng cố gắng bền vững, một quyết lâm mănh liệt và tha thiết bảo
tồn tự do của ḿnh.
"Khi có một kết hợp như vậy, như hiện đang có ở Miền Nam Việt nam, th́
chỉ cần một nguồn tài chính từ ngoài vào làm vai tṛ tác dộng, để nối
kết tất cả những yếu tố này lại với nhau th́ có thể có những kết quả
thật là xuất sắc"
Thực vậy, vào thời điểm đó, mục tiêu tiến tới độc lập về kinh tế sau một
kế hoạch ngũ niên (1975-1980) là rất có thể tin được Bộ Kế hoạch ước
tính là chỉ cần có nguồn tài chính khiêm nhường khoảng 700 triệu đô la
một năm để giúp tài trợ cho kế hoạch này là "bung ra" được rồi
(take-off). Từ 1980, miền Nam sẽ không c̣n phải dựa vào Hoa kỳ nữa.
Như vậy, tổng số của nguồn tài chính này tính ra là 3,5 tỷ đô la (700
triệu cho năm năm), xấp xỉ bằng số tiền người Việt từ nước ngoài đang
gửi hằng năm về cho thân nhân ở Việt nam ngày nay.
Chú thích:
(1) Về sản xuất gạo của hai miền Nam, Bắc, xem
Nguyễn Tiến Hưng, Economic Development of socialis Vietnam,
1975-1980, trang 3-16 và Haut Commissariat de France Pour L
indochine, Annuaire Statistique de l Indochine, 1939-1940.
(2)
Nguồn: USAID.
(3) Sách nổi tiếng của Dam Smith là The Wealth of nations (1776).
(4) Tài liệu Bộ kế hoạch, VNCH, và USAID.
(5) Nguồn: USAID.
(6) Nguồn: USAID.
(7) Nghiên cứu của tác giả.
(8) Xem Business International Asia/pacific Ltd., Risks and Rewards
in Vietnam s Market trang 13.
(9) Tài liệu Bộ kế hoạch, VNCH, và USAID.
(10) Business International Asia/pacific Ltd., Risks and Rewards in
Vietnam s Market, trang 74.
(11) J. U.S. News and World Report, 29 tháng 4, 1974.
Nguyễn Tiến Hưng
Khi đồng minh
tháo chạy - Phần 2
P2 - Chương 6
Cú sốc mùa Thu
Em không nghe mùa thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác,
Đạp trên lá vàng khô?
("Tiếng thu" - Lưu Trọng Lư)
Mùa thu là mùa êm đềm, lăng
mạn. Nó gây cảm hứng cho biết bao nhiêu thi sĩ, nhạc sĩ, giúp họ sáng
tác nên những vần thơ, ca khúc bất hủ, vượt thời gian.
Cuối hè vào thu năm 1973, t́nh h́nh kinh tế, quân sự tại miền Nam có bề
tiến bộ. T́nh h́nh tương đối lắng dịu. Ảnh hưởng cuộc tấn công mùa hè đỏ
lửa coi như đă khắc phục được, công việc tái định cư đoàn người di tản
từ vĩ tuyến đang tiến hành khả quan, t́nh trạng thoái trào kinh tế của
năm 1972 có chiều hướng kết thúc. Nền kinh tế đang bắt đầu có những bước
đi trên đường tiến tới tự túc tự cường. Chỉ tiêu quan trọng nhất là thóc
gạo: sản xuất đă tới mức gần bảy triệu tấn, cao hơn mức 1966 tới 63%.
Xuất cảng bắt đầu vươn lên, và ngân sách bắt đầu tăng nguồn thu nội địa.
Bước sang thu, Miền Nam thấy có chút ánh sáng cuối đường hầm. Đùng một
cái, chiến tranh Do Thái- Ả Rập đột nhiên bùng nổ. Chẳng khác ǵ một
trận động đất lớn tới 8 độ Richter, sức rung chuyển của nó dữ dội. Nhưng
Do-thái- Ả Rập ở xa Việt nam bao nhiêu ngàn dậm, đâu có vấn đề ǵ?
Ấy thế mà độ rung của nó lại thành ra cú "sốc" dữ dội, làm xiêu nhà đổ
cửa, tan hoang điêu tàn.
Trận chiến Trung Đông
Ngày mồng sáu tháng 10, có tin giao tranh lớn tại Miền Trung Đông. Thoạt
đầu ai cũng cho là chuyện không quan trọng. Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, mấy
anh em cùng một Tổ Phụ Abraham mà có thương yêu ǵ nhau đâu. Ngược lại
c̣n xung khắc hết đời này sang đời khác. Chỉ khổ cho dân vô tội, nạn
nhân của những cuộc tranh chấp. Sáu năm trước đó, vào tháng Sáu, 1967
cũng đă có trận lớn: Do Thái lấn chiếm vùng đất Sinai, Cao nguyên Golan
(Golan Heights) để dạy cho Ai Cập một bài học. Nhưng trong trận này,
ngoài khối Ả Rập, ít xứ khác bị ảnh hưởng v́ cuộc chiến. Kể từ năm đó,
quân đội Do Thái được tân trang, ngày một lớn mạnh, lại có Mỹ đứng sau.
Do Thái bắt đầu ỷ y: khối A Rập đâu có dám gây hấn lớn nữa.
Thế nhưng, sự việc bất ngờ đă xảy ra. Vào ngày Yum Kippur, mồng sáu
tháng 10, năm 1973, khối A Rập bất chợt tấn công. Yum Kippur là ngày lễ
quan trọng nhất trong năm của người Do Thái, ngày Lễ Đền Tội
"Atonement", một ngày để ăn chay, suy ngẫm, cầu nguyện. Ngày đó,
giống như Lễ Tro Lửa đạo Công giáo, là ngày nhắc nhở cho con người rằng
ḿnh chỉ là cát bụi và cũng sẽ trở về với cát bụi. Đúng giờ dân Do Thái
đang cầu kinh, suy gẫm th́ quân đội Ai Cập và Syria đồng loạt khai
chiến. Từ phía Tây, Ai cập qua nhiều ngả, tràn sang kênh Suez, theo dọc
từ Port Sait ven bờ Địa Trung Hải xuống tới vùng Vịnh, đánh vào miền
Sinai (đất Do Thái chiếm năm 1967). Về phía Tây Bắc, quân đội Syria đánh
bọc qua vùng phi quân sự, tiến vào Cao nguyên Golan (cũng là đất chiếm
1967) (1).
Dù đă có t́nh báo từ hè 1973 là khối A Rập chuyển quân về biên giới, Do
Thái và Mỹ cứ tưởng là họ chỉ thao diễn tập dượt. Yếu tố bất ngờ làm Do
Thái lúng túng ngày đầu khi Ai Cập lập được một pḥng tuyến vào sâu trên
năm dậm và Syria vào tới vùng Cao nguyên Golan (2).
Từ ngày thứ hai th́ Do Thái bắt đầu phản công. Nhưng lần này khác với
trận 1967: Ai Cập có hoả tiễn pḥng không SAM do Nga Xô viện trợ. Trận
chiến vừa bắt đầu th́ có ngay cầu không vận tiếp tế cho Ai Cập và Syria.
Chỉ trong một ngày, Do Thái thiệt 35 máy bay oanh tạc cỡ nặng và sau ba
ngày, số tử thương đă lên tới 1.000 người trong khi cả cuộc chiến 1967
chỉ mất 700 mạng. Lực lượng thiết giáp tiêu hao mất gần một phần ba (3).
Do Thái cầu cứu Đồng minh
Tiện đây, để so sánh với trường hợp Việt nam cộng hoà yêu cầu Mỹ lúc lâm
nguy vào mùa Xuân 1975, ta thử nh́n qua lịch sử xem Mỹ đă hành động như
thế nào khi Do Thái bị tấn công.
Trước những thất bại không ngờ, bà Golda Meir, Thủ tướng Do Thái, vội
vàng cầu cứu Hoa kỳ. Và Washington phản ứng ngay tức khắc. Tổng thống
Nixon liền ra lệnh thay thế toàn bộ tổn thất cho Do Thái, và c̣n hơn thế
nữa. Vào lúc đó, Nixon đang mất ăn mất ngủ về vụ Watergate, thế mà sao
Hoa kỳ vẫn có thể hăng hái can thiệp? Đó là v́ tuy bản thân ông Nixon
đang bối rối nhưng đằng sau ông đă có Tổng trưởng ngoại giao kiêm Cố vấn
an ninh rất tỉnh táo và vững mạnh (4). Ông Kissinger này lại vừa được
giải thưởng Nobel Hoà B́nh v́ những thành quả ở Việt nam. Ngay trước
mắt, Hoa kỳ dứt khoát phải chuyển vận thật gấp đạn dược sang cho Do Thái
Thoạt đầu bên Ngũ Giác Đài c̣n ngần ngừ, định chỉ gửi có ba máy bay C-5A
chở đạn sang cho quân đội Do Thái thôi. Tổng trưởng quốc pḥng James
Schlesinger không lấy ǵ làm hăng say, c̣n hững hờ là khác. Ông e ngại
hậu quả không hay cho Mỹ v́ chắc chắn khối A Rập-xô Viết sẽ trả đũa cách
này cách khác để dạy cho Mỹ một bài học. Kissinger liền vào "méc" với
Nixon về thái độ lừng chừng của Schlesinger. Nixon gởi liền cho ông này
và chỉ thị lập cầu không vận ngay lập tức dể tiếp liệu cho Do Thái. "Tôi
sẽ chấp nhận tất cả hậu quả, dù khối A rập có tuyệt giao và cắt cả nguồn
cung cấp dầu lửa cho Mỹ đi nữa", Nixon trấn an Schlesinger (5).
Chỉ thị của Nixon là nếu không thuê đủ máy bay vận tải dân sự th́ cứ
dùng máy bay quân sự: "Làm cách nào th́ làm, nhưng phải cho máy bay cất
cánh, và ngay bây giờ".
Schlesinger lo ngại là nếu dùng máy bay quân sự th́ có thể bị chỉ trích
là nhảy vào ṿng chiến. Dù có chỉ thị Tổng thống, bên Quốc pḥng lại
xoay con đường khác, đó là chỉ bàn căi về việc phải dùng máy bay quân sự
loại nào để chuyển vận.
Được biết chuyện này, Kissinger lại vào rỉ tai ông Nixon.
"Khốn kiếp" (Goddamn it), Nixon chửi thề, "hăy dùng bất cứ loại nào
chúng ta có. Nói với họ là hăy gửi bất cứ cái ǵ có thể bay".
Hoa kỳ tiếp cứu
Thế là hồi ba giờ ngày 13 tháng 10, cầu không vận Mỹ-Do Thái bắt đầu: đủ
loại phi cơ chuyên chở được sử dụng: C5-A, C-130, C-141. Mỗi ngày có tới
20 chuyến bay chở 1.000 tấn viện dược, quân cụ. Trong ṿng mấy
tuần, có tới 550 chuyến bay, một cuộc tiếp liệu c̣n lớn hơn cả cầu không
vận Berlin trong thời gian 1948-69 (6).
Như vậy, Hoa kỳ đă thật hăng hái trong việc tiếp cứu Đồng minh Do Thái,
dù rằng việc đó bị chỉ trích là gián tiếp dính líu tới chiến tranh. Nên
nhớ lại là vào thời điểm đó, vụ Watergate đang bốc hoả như núi phun lửa,
và chính Tổng thống Nixon đang bị điều tra. Quyền lực của Tổng thống đă
xuống rất thấp.
Lúc đó đạo luật giới hạn "Quyền chiến tranh" của Tổng thống (War
Power Act) lại đang được tranh luận sôi nổi và cuối cùng đă được
thông qua vào ngày 7 tháng 11. Thế mà, Đồng minh Hoa kỳ của Do Thái thật
là chung t́nh. Lúc có rối loạn, dù khó khăn cách mấy cũng cứ nhào vào
cứu.
Với phương tiện ồ ạt, mau lẹ, Do Thái lên tinh thần và khởi thế công kịp
thời. Chỉ hơn ba tuần sau khi chiến tranh bắt đầu, khối Ả Rập đă phải kư
Hiệp định Ngưng Chiến.
Nhưng ngưng th́ cứ ngưng, chứ hậu quả của chiến tranh vùng Vịnh lại chỉ
mới bắt đầu.
Cú sốc nặng nhất lại rơi ngay Miền Nam
Khối A Rập lập tức trả đũa mạnh mẽ. Tổ Chức các Quốc gia xuất Cảng Dầu
Lửa OPEC bỏ phiếu giảm hẳn mức sản xuất dầu thô cung cấp cho thế giới.
Thế là giá xăng nhớt trên thị trường quốc tế bỗng nhảy vọt. Một thùng
dầu thô đang từ 12 đô la, tăng gấp bốn. Trâu ḅ húc nhau, ruồi muỗi
chết. Các quốc gia khác, nhất là những nước hậu tiến đều phải gánh chịu
hậu quả lớn lao. Bao nhiêu "Kế hoạch ngũ niên" phải vứt sọt rác.
Vật giá leo thang, lạm phát lan tràn khắp nơi th́ các nền kinh tế ngoài
khối sản xuất dầu lửa đều bị ảnh hưởng lớn. Những thị trường không bị
ảnh hưởng tức thời của giá dầu lửa là ở những nước có quan hệ với Nga
Xô, kể cả Bắc Việt. Họ không bị khan hiếm v́ Nga Xô vẫn chở sang lượng
dầu như được ấn định hằng năm. Và v́ phần lớn là dầu viện trợ nên nền
kinh tế của họ ít bị ảnh hưởng v́ khủng hoảng
C̣n Miền Nam th́ ngược lại, chịu cú "sốc" nặng nề, tương đối là nặng
nhất thế giới. Không có nước nào bị thiệt tḥi như Miền Nam. Thật
khó hiểu. Tại sao lại như vậy?
Tại Bộ Kế hoạch năm đó, chúng tôi đă phân tích t́nh huống này hết sức rơ
ràng. Có ba lư do chính được tóm tắt vắn gọn như sau:
thứ nhất: nền kinh tế Miền Nam lệ thuộc quá nhiều vào việc nhập
cảng một số sản phẩm thuộc vào loại bị ảnh hưởng tăng giá nhiều nhất như
xăng, nhớt, dầu khí, dầu diesel, gạo, phân bón, đường, xi măng, sắt
thép, máy móc, thiết bị. Mấy mặt hàng này trung b́nh tăng giá 80%. Chúng
lại là những hàng chiếm tới gần 40% tổng số nhập cảng của Việt nam;
thứ hai: các nước khác tuy phải mua xăng nhớt đắt trên thị trường
quốc tế, nhưng c̣n có thể gỡ được phần nào khi chính họ xuất cảng v́ giá
hàng của họ cũng tăng lên theo. C̣n ta th́ lại khác. Đặc thù của mậu
dịch Miền Nam lúc đó là nhập cảng gấp hơn nhiều lần xuất cảng. Trong
suốt thời chiến chỉ có nhập là chính. Năm 1963 là năm cuối cùng xuất
cảng được ít gạo (63.000 tấn), từ đó chỉ c̣n xuất lai rai chút ít như
cao xu, trà, tôm cá, lông vịt, gỗ quư (xem Chương 3);
thứ ba: nhập cảng chiếm tới một phần ba tổng sản phẩm quốc gia.
Có nghĩa là khi có cú "sốc" làm tăng giá nguyên liệu nhập cảng vào th́
ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn ra mọi lănh vực sản xuất. Khi giá phân bón,
thuốc trừ sâu nhập vào tăng lên, giá gạo phải lên theo; giá bông g̣n
nhập vào tăng lên, sẽ kéo theo giá vải vóc, rồi giá quần áo. Và cứ như
thế mà theo nhau. Cuối năm 1973, trung b́nh, giá nhập cảng đă tăng lên
gần 50%.
Ảnh hưởng sơ khởi của cú "sốc" là giảm ngay khối lượng nhập cảng c̣n 67%
năm 1973 rồi 54% năm 1974. Mọi hàng từ xăng nhớt, phân bón, sắt thép, xi
măng, vải vóc trở nên khan hiếm. T́nh trạng này c̣n bị nặng nề thêm v́
thị trường trong nước đă mất đi một số hàng hoá tiêu dùng quan trọng
phát xuất từ hệ thống hợp tác xă PX Mỹ. Trong thời chiến, lượng hàng
chui ra thị trường từ hệ thống PX không phải là nhỏ: từ thuốc lá, bia
rượu, tới radiô, quạt máy, quần áo, vải vóc, thuốc men. Từ giữa năm 1973
khi quân đội Mỹ đă rút đi hệ thống PX ngưng hoạt động.
Thế là giá tiêu thụ tăng vọt lên 66%, phản ảnh mức lạm phát chưa từng có
bao giờ. Hiện tượng này ảnh hưởng tới tinh thần nhân dân, đặc biệt là
quân đội, một cách sâu đậm. Một người lính trung b́nh được lính 20.000
đồng Việt nam một tháng, sau khi mua gạo cho gia đ́nh năm người ăn th́
chẳng c̣n hao nhiêu để mua thức ăn, thuốc men, chi tiêu; chưa nói tới
nhà cửa, giáo dục, giải trí.
Chạy gạo sống qua ngày
Từ cuối 1973, về mặt kinh tế, Chính phủ Việt nam cộng hoà chỉ lo giải
quyết các vấn đề bức xúc hằng ngày là cũng mất hết thời giờ. Lấy một thí
dụ: thóc gạo. Thóc gạo là rường cột của kinh tế Miền Nam. Sơ sơ mà nói
th́ có ba vấn đề sản xuất, phân phối, và giá cả.
sản xuất: ngoài sự bất ổn là thời tiết như lũ lụt, hạn hán là yếu
tố chung cho nông nghiệp, c̣n vấn đề giá phân bón, thuốc sát trùng, xăng
nhớt để bơm, rút nước. Giá mấy thứ này cứ vùn vụt mà tăng, gây khó khăn
lớn cho nông dân, ảnh hưởng đến sản xuất. Ấy là chưa nói đến t́nh h́nh
thiếu an ninh. Ở Miền Nam (và nhiều nước nhận viện trợ thực phẩm khác)
lại c̣n vấn đề nhức đầu khác nữa về sản xuất: gạo Mỹ.
Mỹ viện trợ hàng năm một lượng gạo trong chương tŕnh "Thực phẩm phụng
sự hoà b́nh" (Food for Peace) tới mấy trăm ngàn tấn, trị giá cả
trăm triệu đô la. Có gạo ăn là tốt chứ tại sao lại là vấn đề? ấy thế mà
có vấn đề lớn đối với sản xuất. Gạo Mỹ chất lượng tốt v́ kỹ thuật chế
biến cao so với gạo nội địa. Chính phủ muốn đặc biệt nâng đỡ quân, công,
cán, chính, nên khi bán gạo ra, giá gạo Mỹ có lúc lại rẻ hơn giá gạo nội
địa. Như vậy th́ làm sao nông dân cạnh tranh được với gạo Mỹ? Ảnh hưởng
này tác động ngay vào sản xuất. Mà chính sách nhà nước lại đang khuyến
khích tăng gia sản xuất, tự túc tự cường.
điều hoà giá cả: thị trường ở các nước hậu tiến đâu có "thông
thương tự do" như các nước tiền tiến, nhất là ở trong hoàn cảnh chiến
tranh. Khi giá dầu lửa lên vùn vụt th́ lạm phát theo sát. Muốn yểm trợ
người có đồng lương cố định như công chức, quân nhân th́ Chính phủ phải
kềm giá, tức là phải "kiểm soát giá cả". Kiểm soát tức là định ra giá.
Mà làm sao định được giá! Nếu giá chính thức thấp hơn giá thị trường
(giá thực) là nguồn chợ đen hoành hành bốn bề. Vậy phải ṃ theo thị
trường mà định giá. Nhưng thị trường thay đổi hằng ngày.
Giá Chính phủ ngày hôm nay có thể là đúng nhưng mai là trật rồi. Ngoài
ra, giá trên thị trường rối ren, có nhiều giá gạo chênh lệch cùng một
lúc. Thí dụ như cuối 1973 đầu 1974, gạo Mỹ là 14.000 đồng một tạ, gạo
nội địa Đồng Bằng Cửu Long: 18.000 các địa phương khác: 25.000 đồng.
Khấu trừ đi phí vận chuyển cũng vẫn chưa hợp lư, là v́ thị trường có
nhiều tắc nghẽn, đầu cơ, tích trữ, làm giả.
T́nh trạng này đ̣i phải điều chỉnh để cân bằng cung cầu. Nhưng mỗi lần
điều chỉnh là có vấn đề khác: nâng lên th́ gây bất ổn cho đời sống quân
công; hạ xuống th́ thiệt cho nông dân. Chưa xong, nếu điều chỉnh giá gạo
th́ phải điều chỉnh cả giá phân bón. Nguyên vấn đề "phân" cũng đă
được báo chí b́nh luận không ít: nhập phân, chia phân, thiếu phân, giá
phân, đầu cơ phân, và ăn phân của dân (tham nhũng).
Phân phối: có những lúc gạo bị cấm "xuất tỉnh" v́ lư do an ninh.
Nhưng như vậy là lưu thông bị tắc nghẽn, gây ra khan hiếm giả tạo, tăng
thêm cơ hội cho đầu cơ, buôn chui. Ngoài tắc nghẽn lại c̣n có khó khăn
do sự khác biệt giữa hai hệ thông thu mua. Một hệ thống của Chính phủ và
một hệ thống của thương gia ngũ cốc. Tổng Cuộc thực phẩm là một
cơ quan Chính phủ đảm nhận thu mua thóc gạo. Mục đích là tiếp tế cho
quân đội và phần nào giúp điều hoà cung cầu ở thành thị. Đối với quân
đội, phải bảo đảm cho mỗi người 21 kư gạo một tháng. Riêng đô thành Sài
g̣n-Chợ Lớn, nhu cầu là 25.000 tấn một tháng.
Một khi hệ thống Tổng Cuộc thực phẩm và thương gia ngũ cốc hoạt
động cùng nhau nhưng với hai mục đích khác, Tổng Cuộc thực phẩm
với mục đích xă hội c̣n hệ thống thu mua của thương gia với mục đích
sinh lời, cho nên mỗi lần tăng giá gạo là có xáo trộn. Một số thương gia
ngũ cốc làm ăn không lương thiện, mỗi lần nghe rục rịch tăng giá xăng
nhớt là nâng giá gạo lên ngay cho chắc ăn v́ chi phí vận tải sẽ tăng.
Thêm vào đấy, mỗi lần được tin Tổng Cuộc thực phẩm sẽ thu mua gạo
là họ tung tiền ra thu mua trước, tích trữ vào kho, tạo ra t́nh trạng
khan hiếm giả tạo.
Khủng hoảng dầu lửa năm 1973 và tiếp theo vào năm 1974 đă làm yếu hẳn
những tiềm năng c̣n lại của kinh tế Miền Nam sau một cuộc chiến khốc
liệt kéo dài. Ngay tức khắc, nó làm mất 35% măi lực thực sự của đồng
tiền viện trợ. Những con số Tổng thống Thiệu nêu ra khi yêu cầu Tổng
thống Nixon lúc ở San Clemente là tính theo măi lực đồng đô la vào đầu
năm 1972. Cuối năm 1973 th́ nó mất nhiều ư nghĩa rồi.
Phải có 1,2 tỷ đô la mới mua được một lượng hàng hoá bằng 783 triệu như
con số dự tính tại San Clemente. Mà rồi đâu có được viện trợ như hứa
hẹn.
Thế là hầu hết các tính toán cho kinh tế hậu chiến đă thành nước lă ra
sông. Chỉ c̣n lo cho cuộc sống hằng ngày.
Ảnh hưởng tới "Việt nam hoá"
Cú sốc dầu lửa c̣n ảnh hưởng tới mặt quân sự: làm mất đi phần lớn những
kết quả của chương tŕnh "Việt nam hoá".
Trong kế hoạch giải kết vai tṛ chiến đấu của Hoa kỳ (De-Americanization
of the war) tại chiến trường Miền Nam, một chương tŕnh gọi là
"Việt nam hoá" bắt đầu được thực hiện vào giữa năm 1969. Chương
tŕnh này giúp canh tân quân lực Việt nam cộng hoà. Trước 1968, khả năng
tác chiến của quân lực cộng hoà hết sức giới hạn. Người lính Miền Nam
chỉ đủ lực trang bị phần nhiều là súng Garrand M1đă quá cổ v́ dùng từ
thế chiến II. Sau Tết Mậu Thân mới có súng M-16, tương đương với AK-47
quân đội Bắc Việt đă dùng từ trước.
Chiến xa M-48 và đại pháo 155 ly cũng chỉ được trang bị sau khi Bắc Việt
đưa vào Miền Nam chiến xa T-54 và đại pháo 130 ly (8).
Chương tŕnh Việt hoá này hết sức cần thiết để giúp Miền Nam đi đến chỗ
tự bảo vệ lấy ḿnh. Tuy nhiên nó có nhược điểm là việc canh tân quân lực
Việt nam cộng hoà lại được phỏng theo mô h́nh quân đội Mỹ. Đó là
đánh giặc kiểu nhà giàu. Theo mô h́nh này, quân lực Việt nam tiếp tục
dựa vào hai yếu tố chính là hoả lực và di động tính (fire power and
mobility). Và như vậy, về hoả lực, luôn cần bom đạn; và về di động
tính, luôn cần xăng nhớt cho trực thăng. Đó là chưa kể những vật liệu
bảo tŕ đại pháo, thiết giáp, oanh tạc cơ và trực thăng. Từ cuối 1973,
giá bom, đạn, xăng nhớt tăng lên vùn vụt. Thế là cả hoả lực cả di động
tính đều bị giảm (xem Chương 9).
Ở đây, c̣n phải kể tới số quân dụng quan trọng (đáng giá 750 triệu đô
la) mà Hoa kỳ chuyển giao cho quân lực Việt nam cộng hoà trong một
chương tŕnh gọi là Enhance và Enhance Plus vào cuối năm
1972. Số lượng chuyển giao là để bù đắp phần nào những tổn thất do Bắc
Việt tấn công năm đó ("Mùa hè đỏ lửa"). Tuy nhiên, như tướng John
Murray, viên chỉ huy cơ quan DAO ở Sài g̣n, đă b́nh luận: "Ai cũng tưởng
tin về vụ chuyển giao quân dụng cho Việt nam cộng hoà. Thật ra đó chỉ là
những quân dụng hư hỏng hoặc cũ kỹ, lỗi thời. Phần lớn là đồ thặng dư,
đ̣i hỏi phải bảo tŕ quá nhiều."
Với cú sốc dầu lửa, giá đồ phụ tùng cần thiết trở nên quá đắt, Việt nam
cộng hoà không đủ tiền mua vật liệu bảo tŕ, nhiều quân cụ phải nằm ụ.
Quân lực Việt nam cộng hoà phải ôm chúng như của nợ (9). Đầu năm 1975,
trong một buổi họp viện trợ tại dinh Độc Lập, ông Thiệu ví von sự kiện
này như có một xe Cadillac mà không mua được một cái bougie để thay th́
chiếc xe chỉ là đống sắt, lại c̣n phải canh giữ cho khỏi mất trộm.
Mùa thu năm 1973 đă đến với nhân dân Miền Nam như một cơn ác mộng. Bên
ngoài th́ cứ cho là hậu chiến, nhưng bên trong th́ rơ ràng là tiền
chiến: sửa soạn cho một cuộc khủng hoảng đang ẩn hiện cuối chân trời.
Chẳng dính líu ǵ tới Do Thái, A Rập, thế mà khi con cháu ḍng họ nhà
Abraham nó choảng nhau, con cháu Lạc Long lại bị cú đấm xây xẩm mặt mày.
Chú thích:
(1) Henry
Kissinger, Years of Upheaval, trang 476-478.
(2) Henry Kissinger, Years of Upheaval,
(3) Richard Nixon. Memmoiry trang 922.
(4) Henry Kissinger được tiến cử kiêm thêm chức Ngoại trưởng vào ngày 22
tháng 8, 1973, xem Richard Nixon, Memmoiry, trang 907.
(5) Richard Nixon, Memmoiry,trang 926-927.
(6) Henry Kissinger, A World Restored, trang 525-526; Nixon,
Memoiry, trang 527.
P2 - Chương 7
Làm thế nào để
bớt lệ thuộc?
Từ trên cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long
hiền hoà chảy xuống đồng bằng Nam Bộ, và mỗi khi "nước sông dâng
lên", lại có "cá lội vô bờ." Về sản xuất, nó giúp cho Miền
Nam trù phú, tưới nước cho vựa thóc của cả nước. Thế nhưng, về chuyên
chở nó lại gây nên một ách tắc v́ chiều ngang con sông rộng mênh mông,
có chỗ lên tới nửa cây số. Vận chuyển thóc gạo, hành khách, bằng phà qua
sông thật là khó khăn. Từ mấy năm rồi, Chính phủ đă có kế hoạch xây một
cây cầu lớn qua sông để khai thông tắc nghẽn.
Nhưng sao măi không thấy khởi sự?
Một hôm trong buổi họp với bộ Công Chánh, chúng tôi có hỏi lư do ǵ mà
chưa xây được chiếc cầu? Nhiều vấn dề như kỹ thuật, ngân sách, an ninh
được viện dẫn để giải thích. Sau cùng, một nhân viên tại bộ phát biểu:
"Thưa ông, mặc dầu cây cầu mang tên "Mỹ Thuận" nhưng Mỹ có bao
giờ thuận đâu mà xây". Câu nói do một thanh niên trẻ tuổi đă tóm gọn
sự lệ thuộc của nền kinh tế Miền Nam thời đó.
Khi chiến tranh leo thang, kinh tế khó phát triển, nhiều lănh vực lại
c̣n tụt hậu, cung ứng cho nhu cầu của nhân dân từ ăn, ở, mặc, y tế, giáo
dục, tới vận chuyển, xây cất, phần rất quan trọng được đáp ứng từ
"viện trợ Mỹ" (xem Chương 19).
V́ lệ thuộc vào viện trợ quá nhiều như vậy, nền kinh tế Miền Nam tất
phải gắn liền với những ǵ xảy ra cho nền kinh tế Mỹ. Nấu kinh tế
Mỹ khó khăn là sẽ có áp lực giảm viện trợ cho Miền Nam.
Đúng như Tổng trưởng quốc pḥng Mỹ James Schlesinger tiên đoán, khi
chiến tranh Trung Đông bùng nổ và Mỹ bắt đầu lập cầu không vận tiếp cứu
Do Thái, là có vấn đề ngay. Những thành viên A Rập trong Tổ chức các
Nước Xuất Cảng Dầu Hoả OPEC quyết định giảm sản xuất tới mức làm cho giá
dầu thô tăng gấp bốn lần. Và chỉ trong ṿng mấy ngày, các nước Abu
Dhabi, Libya, Saudi Arabia, Algeria và Kuwait lại áp dụng lá bài cấm vận
(embargo), cùng nhau đồng loạt cắt đứt xuất cảng dầu sang Mỹ.
Khủng hoảng dầu lửa và kinh tế Mỹ
Khí giới dàn khoan thật là bén nhạy. Vào mùa đông rồi mà xăng nhớt, dầu
khí bỗng trở nên đắt đỏ, khan hiếm. Chính phủ phải áp dụng những biện
pháp khắt khe. Ngoài những biện pháp kinh tế, tài chính như thuế má, lăi
suất, tín dụng có tính cách động lực để thúc đẩy sản xuất, Chính phủ
Nixon c̣n khích lệ phát triển các nguồn năng lượng khác như mặt trời,
sức gió, than củi. Ngay trước mắt, Tổng thống Nixon đem ra một loạt
chính sách nhằm giảm thiểu mức tiêu thụ (1): độ sưởi trong tất cả các
cao ốc Chính phủ Liên bang xuống từ trên 70 độ xuống 65-68 độ; khuyến
khích đi xe chung (car- pool); ấn định tốc độ lái xe 55 dậm một
giờ; đổi giờ lại thành giờ mùa hè (daylight-saving time); cấm bán
xăng ngày Chúa Nhật; giảm thiểu dùng đèn chiếu sáng ban đêm; và tuyên bố
sẽ cắt giảm 15% số cung dầu.
Chưa bao giờ phải dùng những biện pháp như thế này.
Ḷng người dân bất măn, hoang mang. Nhiều trạm xăng chỉ cho mỗi xe mua
năm đồng. Xe nọ nối xe kia sắp hàng mua xăng. Người nào lẩn thẩn, mua
xong rồi mà cứ đếm mấy đồng xu để trả tiền, hay đă ngồi vào xe rồi mà cứ
tà tà sắp xếp, chưa chịu lái đi ngay là bị mọi người bóp c̣i inh ỏi. Để
làm gương tiết kiệm xăng nhớt, số bóng đèn trang hoàng cây Giáng Sinh
sau toà Bạch Ốc năm đó c̣n bị giảm 80%. Để thuyết phục nhân dân, chính
Tổng thống Nixon và phu nhân đă bay sang California bằng hàng không dân
sự thay v́ dùng Air-force One (2).
Theo lịch sử kinh tế, khi có lạm phát cao th́ thường có nhiều công ăn
việc làm. Nhưng từ trận Yom Kippur th́ lại sinh ra một t́nh huống mới.
Kinh tế học gọi nó là "lạm phát đ́nh trệ" (stagflation): giá cả
tăng lại kéo thất nghiệp lên theo.
Lạm phát đang từ 3.2% (1972), lên 6.2%, (1973) tăng gần gấp đôi rồi lên
trên 9%, gần gấp ba (1974). Đang khi đó thất nghiệp lan tràn. Trong thời
gian từ cuối 1973 tới 1975, thất nghiệp tăng từ 5% tới 8,5%%. Ở mức này,
gần tám triệu người Mỹ thất nghiệp.
Hậu quả của lệ thuộc
Giá cả Mỹ leo thang, giá cả ở Miền Nam cũng theo luôn. Trước hết là giá
gạo. Với cùng một số tiền viện trợ thực phẩm, số gạo Tổng Cục Thực Phẩm
mua được từ Louisiana tất bị giảm cùng mức. Rồi đến cắt viện trợ. Trong
t́nh huống kinh tế khó khăn, Quốc hội Mỹ không những không tăng lại c̣n
cắt thêm: trong lúc nhân dân chúng tôi cũng đang liểng xiểng, c̣n tiền
đâu mà giúp cho mấy ông!
Ngoài ra Quốc hội c̣n bị "ảo tưởng hoà b́nh" (illusion of peace)
(3). Sau khi quân đội Mỹ đă rút hết và tù binh được thả về, các nghị sĩ,
dân biểu cho rằng Miền Nam nay đă có hoà b́nh tức có điều kiện phát huy
tiềm năng của ḿnh, đâu có cần nhiều viện trợ kinh tế như trước nữa. Thế
là vừa bị cú số dầu lửa choáng váng lại có cú số viện trợ tiếp theo.
Quốc hội Mỹ không cần để ư tới sự kiện là tuy có thể tiến tới tự túc, tự
cường nhưng miền Nam c̣n cần yểm trợ trong thời gian chuyển tiếp. Cuộc
chiến kéo dài, mức sản xuất tiêu hao, nền kinh tế đă biến thành kinh tế
lệ thuộc, làm sao có thể chuyển sang độc lập ngay sau khi Mỹ rút?
Viễn tưởng viện trợ kinh tế "hậu chiến" bất chợt trở nên bấp bênh. Ngoài
ra v́ vật giá leo thang, tới năm 1974 th́ măi lực viện trợ đă giảm đi
trên 50%. Tia hy vọng loé sáng lúc "hậu chiến" trở thành ánh điện leo
lét. Vừa phấn khởi đi được một bước, con đường đă bị khứng lại.
Tổng thống Nixon giữ lời hứa, ông yêu cầu Quốc hội chấp thuận ngân khoản
780 triệu. Thế nhưng Quốc hội nào c̣n tha thiết ǵ nữa. Số viện trợ
chuẩn chi cho Đông Dương năm đó, sau khi trừ đi khoản cho Kampuchia và
Lào, chỉ c̣n 313 triệu cho Miền Nam. Tính vào số này, c̣n phải trừ đi
mấy mục nữa, sau cùng chỉ c̣n 226 triệu cho chương tŕnh nhập cảng
(CIP), nghĩa là mức thấp nhất kể từ khi Mỹ tham chiến năm 1965.
|
Tài khoá |
Triệu |
|
1966-67 |
400 |
|
1972-73 |
313 |
|
1973-74 |
216 |
|
1974-75 |
285 |
(Nguồn: USAID)
Mỹ rút, chi tiêu đô la cũng rút luôn Trong những năm chiến tranh, ngoài
số tiền viện trợ lại c̣n có nguồn thu đô la quan trọng thứ hai, đó là số
đô la thu được do nhu cầu đổi sang tiền đồng Việt nam của nguồn ngoại tệ
Mỹ vào gồm quân đội, toà đại sứ, các công ty xây cất, dịch vụ Mỹ. Bây
giờ th́ quân đội Mỹ về hết rồi, các cơ quan hành chính Mỹ thu nhỏ lại,
và các hăng ngoại quốc cũng ra đi. Số đô la mua được từ nguồn này đă
giảm từ mức 300-400 triệu một năm xuống c̣n 96 triệu (1973), và 97 triệu
(1974):
Số tiền đô la đổi sang tiền đồng VN thu được
|
Tài khoá |
Triệu đô la |
|
1965-66 |
333 |
|
1971-72 |
213 |
|
1972-73 |
96 |
|
1973-74 |
97 |
|
1974-75 |
97 |
(Nguồn: USAID)
T́nh
h́nh nhập cảng đen tối
V́ xuất cảng chẳng có bao
nhiêu, tài trợ cho nhập cảng là do bốn nguồn. Ngoài hai nguồn chính trên
đây, c̣n hai nguồn khác: "viện trợ thực phẩm phụng sự hoà b́nh (FFP) và
"viện trợ dự án". Nh́n vào cả bốn nguồn, t́nh h́nh thật là khó
khăn:
Kết toán tài trợ nhập cảng tài khoá 1973/74 (triệu đô-la)
Viện trợ thương mại CIP, 226 triệu + Thực Phẩm (FFP)/(S)8 triệu + Viện
trợ dự án, 22 triệu + Tiền đô la đổi ra tiền đồng, 96 triệu = 532 triệu.
So với tài khoá 1971/72 (849 triệu), nó đă giảm trên 37%. Nên nhắc lại,
số tiền này chỉ là mệnh giá trên danh nghĩa (nominal). Măi lực
thật chỉ bằng một nửa tức chỉ là 266 triệu. Như vậy có nghĩa là thực sự,
chỉ c̣n khả năng nhập một lượng hàng hoá bằng nửa những năm trước.
Thắt lưng buộc bụng
Để đối phó, nhu cầu nhập cảng phải giảm xuống ngay tức khắc. Ngoài những
biện pháp thuế má, tỷ giá, Chính phủ c̣n phải cấm không được dùng tín
dụng ngân hàng để tài trợ cho nhập các loại trong hai danh sách "C" và
"D". Nếu gồm tất cả những mặt hàng trong hai danh sách này lại, đă gần
80% các loại hàng được coi là "không cần thiết". Cho dù cần thiết như
đường cũng phải giới hạn: năm 1973 nhập là 60 triệu; năm 1974 th́ phải
ngừng hẳn. May mà lúc đó c̣n một lượng đường tồn kho để giúp giải quyết
tạm thời. Muốn giảm tiêu thụ, giá đường được nâng ngang giá quốc tế.
Ngành nước ngọt và bia bị ảnh hưởng, dân chúng phải giảm ngay tiêu thụ.
Tuy nhiên, v́ giá đường lên cao, nhân dân đổ xô trồng mía. Các nhà máy
đường cải tiến, sản xuất lên cao. Dự phóng là với tiêu thụ giảm đi, đồng
thời tăng số cung nội địa, dứt khoát là từ 1976 sẽ không cần nhập cảng
đường nữa (4).
Riêng về dầu lửa, năm 1973 nhập một lượng với số tiền là 82 triệu. Năm
1974, nếu muốn nhập cùng một lượng đó th́ phải chi ra 200 triệu. Tiền
cạn rồi, lấy đâu ra 200 triệu? Chính phủ phải đặt ra mục tiêu giảm tiêu
thụ xăng nhớt 25%. Giá dầu xăng đă tăng 47% vào tháng 1 1, 1973, Chính
phủ lại phải tăng giá lên từ 66% tới 140% vào tháng Giêng 1974, làm giá
xăng cao vào hàng nhất thế giới hồi đó. Giá dầu hôi lên 140 đồng VN một
lít, ngoài tầm tay của số đông gia đ́nh. Tuy nhiên, cũng có cái hay là
(giống như trường hợp mía đường), phong trào đun nấu bằng củi, gỗ, than
được phát trên mạnh, giúp cho giải pháp lâu dài.
Dầu cặn diesel tăng từ 95 đồng lên 125 đồng, cao hơn tất cả các nước
láng giềng. Ảnh hưởng là 11 chiếc tầu đánh tôm vừa mới tân trang hầu như
phải ngưng hoạt động. Ngư dân với những thuyền mắc máy đuôi tôm lượn
trên sông rạch nay đă thưa thớt. Khi giá các loại dầu, xăng tăng, th́
trực tiếp hay gián tiếp, phí tổn sản xuất mọi mặt hàng phải tăng, nâng
giá hàng hoá cao hơn nữa. Bị ảnh hưởng nặng nhất là những người có đồng
lương cố định như quân, công, cán, chính.
Nhập cảng xuống là tăng thu ngân sách xuống theo. Ở các nước hậu tiến,
nguồn thu chính cho ngân sách Chính phủ không phải là thuế trực thu đánh
vào tiền lương như ở Mỹ, mà thuế gián thu. Quan trọng nhất là nguồn thu
thuế nhập cảng Quan thuế cung cấp. Bây giờ ngân sách đă đến lúc kẹt v́
giảm viện trợ, nguồn thu từ Quan thuế lại giảm v́ nhập cảng giảm. Làm
sao đáp ứng được nhu cầu chi tiêu cho ngân sách đang tăng v́ lạm phát?
Bộ Tài Chánh t́m cách "tăng thu". Nh́n đi nh́n lại chỉ c̣n Chợ Lớn. Dù
biết thế lực của giới thương gia người Tầu rất mạnh, Tổng trưởng Tài
Chánh Châu Kim Ngân cũng vẫn cho rà soát, xông vào mà kiểm tra kế toán,
thu thêm cho ngân sách.
Trong bối cảnh "lạm phát đ́nh trệ", vừa lạm phát, vừa tŕ trệ rất khó
giải quyết nhiều vấn đề bức thiết. Giá sản xuất làm kinh tế đ́nh trệ,
thất nghiệp tăng. Thêm vào đó c̣n tước đi một số công ăn việc làm quan
trọng. Quân đội Mỹ rút đi đă để lại một lỗ hổng lớn. Trong thời chiến,
sự có mặt của Đồng minh giữ mức thất nghiệp ở thành thị tương đối thấp.
Một cách gián tiếp, chi tiêu của họ sinh ra công ăn việc làm, đặc biệt
trong lănh vực dịch vụ. Một cách trực tiếp, các căn cứ quân đội, cơ quan
và hăng Mỹ cũng đă tuyển dụng một số nhân công không phải nhỏ. Riêng số
người làm việc cho các cơ quan và hăng Mỹ là 160.000 năm 1969. Số này
chỉ c̣n vẻn vẹn trên 17.000 vào cuối năm 1973.
Với một t́nh trạng kinh tế khó khăn như vậy, ở nhiều nước hậu tiến khác
là đă có bất ổn chính trị to rồi. Ở miền Nam, đa số nhân dân cứ kiên
cường, cắn răng mà chịu. Đó là nhận xét của cơ quan viện trợ USAID (5).
Đi t́m những nguồn viện trợ khác
Làm sao bớt lệ thuộc? Ngay trước mắt là cần có những nguồn tài chánh để
thay thế phần nào cái túi viện trợ và chi tiêu của Mỹ đang dần dần bị
thắt lại. Một điều may hiếm có: trong thời chiến, do viện trợ dồi dào,
Việt nam cộng hoà không phải đi vay. Trong khi các nước hậu tiến khác nợ
nần như chúa chổm, th́ mức nợ nước ngoài của Việt nam cộng hoà hầu như
không đáng kể. V́ vậy, từ 1973 có thể đi vay Ngân hàng thế giới (Ngân
hàng thế giới) và các quốc gia khác.
Gơ cửa Ngân hàng thế giới
Đầu tiên, tôi nghĩ ngay đến Ngân hàng thế giới và cho đây sẽ là
nguồn chính. Tài trợ cho tái thiết là mục đích ban đầu của ngân hàng này
mà tên thật là Ngân hàng tái thiết và phát triển thế giới
(International Bank For Reconstruction and Development, hay LBRD;
c̣n gọi là World Bank). Nó được thành lập sau Thế chiến II để giúp tái
thiết các nước, đặc biệt là Âu châu trong khuôn khổ Kế hoạch Marshall.
Vào năm 1974 th́ Ngân hàng thế giới đă cho các quốc gia hậu tiến
vay một lượng tiền lớn.
Miền Nam chưa vay một xu nào dù đă là một thành viên kỳ cựu của Ngân
hàng thế giới từ năm 1956; ngoài ra lại có danh chính ngôn thuận:
vào thời điểm đó, Miền Nam đang bắt đầu công cuộc tái thiết nền kinh tế
bị tàn phá v́ một cuộc chiến kéo dài. Việt nam cộng hoà đă cố không vay
mượn ǵ của Ngân hàng thế giới khi c̣n viện trợ Mỹ, để dành nguồn
này cho lúc tái thiết.
Về phương diện cá nhân, t́nh cảm, lại c̣n một dữ kiện khác: Chủ tịch
Ngân hàng thế giới là người quá quen thuộc với dân quân Miền Nam: đó
là cựu Tổng trưởng quốc pḥng Robert S. Mcnamara. Người ta nhớ nhiều lần
ông hay phát âm trật: "Vit Nam" (Vịt Nằm) thay v́ "Việt nam". Tôi
yêu cầu gập ông để bàn về nhu cầu tái thiết và vai tṛ của Ngân hàng
thế giới. Mcnamara không c̣n dính dáng ǵ đến Việt nam nữa, nhưng hy
vọng ông c̣n chút ít t́nh cảm đối với nhân dân Miền Nam. Ông là người có
trách nhiệm đem nửa triệu quân Mỹ vào Việt nam và điều khiển việc leo
thang chiến tranh. Chính ông là người đă cho trắc nghiệm chương tŕnh
khai quang bằng chất hoá học da cam (agent orange) ở Việt nam, gây không
biết bao tai hại! Cũng dưới thời này, chiến thắng của quân đội Hoa kỳ
được đo lường một cách hết sức máy móc, bằng xác địch quân và những bảng
liệt kê vũ khí chiếm được. Sau bao nhiêu sai lầm, ông ngang nhiên bỏ
cuộc. Xin làm Chủ tịch Ngân hàng thế giới.
V́ cái dĩ văng đó, tôi chắc lương tâm ông này c̣n chút dằn vặt. Gơ cửa
Ngân hàng thế giới qua ông th́ chắc ăn rồi. Bước vào thang máy
trụ sở Ngân hàng thế giới, bấm lầu 12 để lên bàn giấy ông chủ
tịch, tôi tính toán trong óc một số dự án tái thiết và hy vọng vào mức
độ thông cảm của ông cựu Tổng trưởng quốc pḥng Mỹ.
Vừa ngồi xuống nói xong vài câu chào hỏi, Mcnamara bắt đầu ngay: "Thưa
ông Tổng trưởng, tôi có thể làm ǵ để giúp được ông?" V́ nghĩ rằng
Mcnamara có thể c̣n nhạy cảm không muốn nghe tới chiến tranh Việt nam,
nên tôi cũng cố tránh và chỉ coi ông như chủ tịch một cơ quan quốc tế mà
Việt nam cộng hoà là một thành viên kỳ cựu, để đề nghị vay một ngân
khoản như những thành viên khác. Tôi tŕnh bày tóm gọn nhu cầu tái thiết
thời "hậu chiến", và hỏi ư kiến ông về khả năng vay khoảng 50 triệu cho
đợt đầu.
Nghe tôi nói xong, ông không đả động ǵ đến vấn đề kinh tế khó khăn mà
Việt nam cộng hoà đang gặp. Chậm răi ông lại phàn nàn về việc Quốc hội
Hoa kỳ không chịu tăng ngân khoản đóng góp cho Ngân hàng thế giới:
"Tôi muốn giúp "nước ông" lắm chứ, nhưng nếu Quốc hội không chấp thuận
ngân khoản cho Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) th́ tôi cũng đành chịu
bó tay". IDA là một cơ quan của Ngân hàng thế giới giúp các nước
nghèo. Tôi nhắc ông rằng Việt nam cộng hoà là một trong những thành viên
kỳ cựu nhất của Ngân hàng thế giới và chưa hề vay mượn đồng nào
của cơ quan này trong gần 20 năm qua.
Tiếp tục tŕnh bày, tôi c̣n tránh không nói tới việc xây dựng lại hạ
tầng cơ sở bị tàn phá bởi chiến tranh và chỉ nói tới nhu cầu phát triển
canh nông của Miền Nam. "Vâng, vấn đề canh nông bao giờ cũng hấp dẫn đối
với tôi". Mcnamara trả lời, ngân hàng đang có một vài dự án quan trọng
về gạo Thần Nông". Nói xong, ông đứng dậy đi tới bàn giấy của ông, lấy
một hộp pha lê đựng gạo mẫu thần nông rồi đưa cho tôi xem. "Thưa ông,
hiện nay, Việt nam cộng hoà là quốc gia duy nhất trên thế giới cần đến
chương tŕnh tái thiết thời hậu chiến", tôi cứ tiếp tục đầu đề chính của
buổi họp. Mcnamara lại quay về câu chuyện "Thần Nông" và nói tới tiềm
năng phong phú ở miền Nam. "Chúng tôi đang cho trắc nghiệm phát triển
loại lúa này, đây là lúa Thần Nông IR-3". Ông không nh́n tôi nữa mà cứ
nh́n vào hộp gạo, b́nh luận về năng suất cao của gạo thần nông, điều
kiện kỹ thuật trong việc trồng cấy và nông dân miền Đồng Bằng Cửu Long
chắc sẽ thu hoạch được lợi tức cao nếu trồng được nhiều loại lúa này.
Đến đây th́ tôi đă thấy rơ thái độ của ông này rồi. "Cám ơn ông Chủ
tịch, tôi đă nh́n thấy cả loại IR-8 rồi, c̣n tốt hơn IR-3". Thấy tôi
không chú ư tới đề tài của ḿnh nữa, ông ngừng và mời tôi uống ly cà phê
để sẵn trên bàn. "Cám ơn ông chủ tịch, tôi nghĩ trước hết chúng tôi c̣n
phải giải quyết vấn đề "hoá học da cam" (agent orange) trước khi có thể
mở rộng diện tích canh tác lúa thần nông", tôi đứng dậy, chào ông và ra
về. Xuống cầu thang máy, tôi thật chán nản, không hiểu tại sao Mcnamara
lại có thể "thờ ơ, lănh đạm đến thế"? Lúc này, chắc ông muốn quên hẳn
Việt nam đi và chỉ muốn dồn tiền bạc của Ngân hàng thế giới vào
những nước mà Mỹ đang c̣n o bế như Trung Cộng, Ấn Độ, Pakistan. Sau này
tôi mới biết là dưới thời Tổng thống Johnson, ông đă hăng say về chiến
tranh Việt nam để chiều ư Tổng thống, với hy vọng được lên chức chủ tịch
Ngân hàng thế giới (xem Chương I).
Nh́n về Paris
Sau Ngân hàng thế giới, Miền Nam nh́n vào nước "Bảo hộ" cũ, cố
hàn gắn mối giây liên lạc ngoại giao giữa hai nước đă bị sứt mẻ từ năm
1966. Pháp gửi ông Jean Marie Mérillon tới Sài g̣n nhận chức Đại sứ sau
bảy năm cắt quăng. Ngoài ra để bày tỏ thiện chí và đánh dấu mối bang
giao mới giữa hai nước, Pháp đề nghị cho Việt nam cộng hoà vay một số
tiền dài hạn với lăi suất thấp. Để tượng trưng cho một h́nh ảnh mới,
Chính phủ gửi một phái đoàn gồm toàn chuyên gia thượng hạng lại trẻ
trung, sang Pháp, trong đó có Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê Văn Phúc và một số
anh em khác xuất thân từ các đại học lớn ngoại quốc, đày đủ kiến thức để
thương thuyết với các quan chức cao cấp Pháp. Phái đoàn do tác giả hướng
dẫn.
Tại Paris, chỉ sau một ngày làm việc đă nhận ra là thể thức viện trợ
Pháp không có đơn giản. Tuy nói là Chính phủ cho vay dài hạn và với lăi
suất ưu đăi, nhưng luật lệ lại đ̣i là mỗi một đồng quan (franc)
viện trợ của Chính phủ phải kèm theo một đồng quan của ngân hàng tư, do
Hiệp Hội Ngân hàng COFACE điều hành. Mới nghe th́ thấy có vẻ hợp lư v́
có sự tham gia của lănh vực tư. Nhưng có bắt tay vào việc mới thấy đây
là một trở ngại lớn cho quốc gia nhận viện trợ. Trở ngại đó là: tiền của
Chính phủ Pháp th́ cho vay dài hạn và lăi suất thấp, nhưng tiền của các
ngân hàng tư th́ lại ngắn hạn và lăi suất cao. Tính ra th́ "phần tặng
dữ" hay cho không (grant element) rất thấp.
Cho nên xét cho kỹ th́ mô h́nh này không hấp dẫn như ta tưởng. Ngoài ra,
c̣n một điều kiện khác nữa: quốc gia nhận viện trợ phải mua hàng của
Pháp. Bởi vậy, trong thực tế, chính mấy ông chủ ngân hàng tư mới là
người chấp hành viện trợ. Theo nguyên tắc, họ đă có một nửa quyền quyết
định rồi, chỉ cần sắp xếp với Chính phủ của họ và xoay xở chút đỉnh "cà
phê, cà pháo" với phía nhận viện trợ, bằng cách này hay cách khác, thế
là xong rồi. Số tiền Pháp cho Việt nam cộng hoà vay sau cùng là 130
triệu quan Pháp (khoảng 26 triệu đô la). Lúc thi hành, bộ Kế hoạch muốn
dùng khoản tiền này vào chương tŕnh canh nông, chế biến, để giải quyết
thất nghiệp. Đặc biệt là các công tŕnh nạo vét kênh rạch śnh lầy như
khu Thị Nghè, cầu Công Lư, hồ nước Than Thở Đà lạt. Thế nhưng, phía Pháp
lại cứ áp lực mua máy nhiệt điện, hệ thống phát sóng tối tân cho đài
truyền h́nh, điện thoại, xe đạp Peugeot. Miền Nam c̣n biết bao nhiêu ưu
tiên khác, một miếng khi đói bằng gói khi no, đồng tiền quư giá, làm sao
mà lại nhập truyền h́nh, điện thoại được? V́ phía Việt nam không đồng ư,
nên viện trợ bị khứng lại. Thế là Đại sứ Merillon vào đặt ngay vấn đề
với Tổng thống là nếu viện trợ có sẵn c̣n không thi hành được th́ làm
sao nói đến viện trợ năm tới?. "Anh liệu dàn xếp xúc tiến mọi việc cho
ổn thoả; lúc này ḿnh đang cần từng đồng xu", ông Thiệu gọi tôi vào dặn.
Nước giàu có Á Châu
Sau Pháp là Nhật. Tuy thể thức cho vay của Nhật bớt chặt chẽ hơn, và là
cho vay dài hạn, nhẹ lăi, nhưng Nhật cũng đ̣i phải mua hàng hoá của
Nhật. Họ muốn dùng một phần tiền viện trợ để giúp "nhập cảng thương
mại", nói trắng ra là gồm cả các loại hàng không cần thiết. Sài g̣n đă
có cái biệt hiệu báo chí ngoại quốc gọi là Hondaville, bây giờ
chắc phải nhập thêm đồ phụ tùng cho xe Honda. Trong một bữa chiêu đăi
tại Tokyo, quan chức bộ Ngoại giao, Tài Chánh c̣n nói tới thuỷ điện Đa
Nhim, cần được làm lớn lên. Khi tôi tŕnh bày là t́nh h́nh an ninh chưa
cho phép v́ dây dẫn điện bị cắt luôn luôn, họ bác đi ngay. "Nếu bây giờ
xăng nhớt đắt, máy nhiệt điện làm sao đủ nhiên liệu mà phát điện? Vậy
các anh phải đặt ưu tiên cho thuỷ điện. Và nếu cho ưu tiên rồi th́ việc
tăng an ninh cho tuyến tải điện phải được giải quyết".
Các nguồn viện trợ song phương khác
Viện trợ của các nước khác cũng chỉ nhỏ giọt, dăm ba triệu đô la và
hướng về viện trợ nhân đạo như y tế, giáo dục. Trong các nguồn này, chỉ
có triển vọng sẽ vay được của hai quốc gia một số tiền tương đối lớn: đó
là nguồn cho vay từ Iran và Saudi Arabia. Nguồn tài chính từ Saudi
Arabia hết sức đặc biệt và sẽ được đề cập tới ở cuối chương này (và
Chương 12). Nguồn từ Iran khoảng 100 triệu là do Quốc vương Shah đề nghị
giúp đỡ. Iran có thể cho Việt nam cộng hoà vay ngay khoản tiền để yểm
trợ nhập cảng hàng hoá. Chính phủ Iran cho biết là nếu Việt nam cộng hoà
không có khả năng hoàn trả bằng tiền bạc th́ có thể trả bằng sản phẩm,
thí dụ như rau cỏ, hoa quả Đà Lạt. Phía Việt nam cứ đi thu mua, rửa
sạch, đóng vào giỏ tre, giỏ mây, sẽ có máy bay vận tải bay thẳng từ
Teheran, Iran sang Đà Lạt hằng tuần để chở về. Sân bay Liên Chương ở Đà
Lạt sẽ được sửa chữa lại. Kế toán sổ sách theo giá quốc tế, không có vấn
đề ǵ. Đây là một sáng kiến rất tốt, nhưng nó đ̣i thời gian để tổ chức,
phát triển sản xuất, thu mua, nới rộng sân bay, không thể thi hành ngày
một ngày hai được.
Cũng vẫn chỉ có Mỹ
Xoay mấy th́ xoay, đi vay đă là khó khăn. Có vay được lại khó nuốt. Như
vậy, ngay trước mắt, cũng vẫn chỉ c̣n trông nhờ viện trợ Mỹ. Nhưng lúc
trông mong nhất lại là lúc ít hy vọng nhất: Quốc hội Hoa kỳ đă thắt cái
túi tiền nhập cảng lại gần chật rồi: ngân sách viện trợ nhập cảng CIP
cho Miền Nam tài khoá 1975/76 chỉ vỏn vẹn 145 triệu! Và đây cũng chỉ là
con số danh nghĩa. Nếu điều chỉnh theo lạm phát mà tính ra măi lực thật
của nó th́ là dưới 70 triệu. Đồng thời, viện trợ thực phẩm bị cắt từ 165
triệu tài khoá 1971/72, xuống 46 triệu, chỉ c̣n một phần tư.
Đến mức này th́ coi như cạn kiệt. Bầu không khí mỗi khi họp hành để bàn
định về kinh tế sao nó u buồn thế. Nhưng lo th́ để trong ḷng.
Vào thời điểm đó, chớ có đem những tin tức chi tiết về viện trợ kinh tế
ra mà công bố. Những số liệu so sánh như trên đây phải được giữ kín.
Đang lúc mọi người lo ngại về t́nh h́nh quân viện, nếu lại phổ biến t́nh
h́nh đen tối về kinh viện, chắc chắn là quân, dân c̣n hoang mang hơn
nữa.
Tia sáng phụt tắt
Sau cùng, vào cuối năm 1974, một tia sáng loé lên. Có ông vua dầu lửa
người xứ Arabia chiếu cố đến Miền Nam. Vua Sau al Faisal cho biết ông có
rất nhiều thiện cảm với nhân dân Miền Nam và đă bí mật đồng ư trên
nguyên tắc cho Miền Nam vay một số tiền mấy trăm triệu đô la.
Thật là cơ hội quư báu. Đang lúc nguy kịch lại có nhà hảo tâm đến cứu.
Vua Faisal bằng ḷng cho vay dài hạn, lăi suất nhẹ. Khi nào Miền Nam đào
lên được dầu lửa th́ mới phải trả. Điều kiện viện trợ nhẹ nhàng, thủ tục
thi hành đơn giản. Kư xong là có tiền ngay (hay cho vay bằng dầu lửa).
Bao nhiêu hy vọng tràn trề. Họp lên họp xuống, nhất thiết là phải thực
hiện ngay kế hoạch này để tới 1975/76 c̣n giữ được một phần lượng nhập
cảng những hàng thiết yếu. Đặc biệt là dầu, xăng, thực phẩm, thuốc men,
và phân bón. Nếu quá thiếu những sản phẩm này th́ chắc chắn sẽ có khủng
hoảng lớn.
Nhưng đúng là "hoạ vô đơn chí". Những cái rủi ro nó bay theo nhau mà
đến. Đang lúc sửa soạn đàm phán chi tiết với Chính phủ Saudi để sớm có
giải ngân th́ đùng một cái, vua Faisal bị chính cháu ḿnh sát hại.
Chính phủ Miền Nam chưng hửng, Tổng thống Thiệu gửi điện chia buồn cùng
Hoàng gia, nói tới nghĩa cử cao đẹp của Ngài Faisal, cầu xin cho Allah
sớm đưa Ngài về nơi cực lạc. V́ t́nh cảm cao đẹp ấy, Việt nam cộng hoà
yêu cầu Hoàng gia tiếp tục thực hiện công cuộc yểm trợ Miền Nam như Ngài
đă hứa.
Thế nhưng, trong lúc tang gia bối rối, t́nh h́nh quốc nội xáo trộn,
Hoàng gia Saudi đâu c̣n thời giờ hay tinh thần mà để ư đến chuyện nước
khác.
Vua Faisal đă nằm xuống ngày 25 tháng Ba 1975, vào đúng ngày quân lực
Cộng hoà rút lui khỏi cố đô Hoàng Triều Huế.
Chú thích:
(1) Richard
Nixon, Memoiry, trang 984-985.
(2) Richard Nixon, Memoiry, trang 984-985.
(3) Henry Kissinger, Years of Upheaval, trang 328.
(4) Số liệu; VNCH, Bộ kế hoạch, 1974-75.
(5) Tài liệu nội bộ, USAID.
Phần 3 -
Chương 8
KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY
Năm của định
mệnh
Ngày 24 tháng Bảy 1974 là ngày quan trọng
trong lịch sử Hoa kỳ: Tối Cao Pháp Viện phán quyết Tổng thống Nixon phải
chuyển cho chánh án Sirica băng ghi 4 cuộc nói chuyện tại văn pḥng toà
Bạch Ốc. Những băng này có liên quan tới việc xét xử sáu quan chức trong
vụ Watergate. Nó có đầy đủ chứng cớ nói lên một t́nh huống trái ngược
hẳn với những lời giải tŕnh trước đó của Nixon. Chỉ sáu ngày sau cuộc
đột nhập vào trụ sở đảng Dân chủ, ông Nixon đă tuyên bố là ḿnh không
biết ǵ về vụ này. Thực ra là chính Nixon đă biết hết những hành động
che dấu của các nhân viên thừa hành. Và như vậy, ông đă lừa dối nhân dân
Mỹ kể từ lúc đó.
Khi có phán quyết như thế th́ nếu không từ chức, việc truất phế Tổng
thống Nixon cũng chỉ c̣n là vấn đề thủ tục.
Phán quyết của chánh án Sirica đă chấm dứt sự nghiệp chính trị của Tổng
thống Nixon. Một cách trực tiếp, nó đă ảnh hưởng sâu xa đến sự tồn tại
của Việt nam cộng hoà.
Ngày Song Bát
Trước 10 giờ sáng ngày thứ năm, mồng 8 tháng Tám 1974,
Phó Tổng thống Ford chủ toạ lễ trao Huân Chương Danh Dự Quốc hội cho gia
đ́nh của bảy người lính tử trận ở Việt nam tại Blair House, nhà khách
của Tổng thống. Lễ nghi vừa xong, ông liền được tướng Alexander
Haig, (sau này là Tổng Tư Lệnh NATO và Tổng trưởng ngoại giao Hoa
kỳ). Chánh Văn pḥng cho biết Tổng thống Nixon muốn gặp ông ngay.
Ông vội bước qua đường Pennsylvania sang toà Bạch Ốc. Ford bước vào văn
pḥng, Nixon đứng lên bắt tay ông rồi ngồi xuống ngả lưng vào ghế. Hai
tay nắm chặt vào nhau để trên đùi, Nixon trông vẫn c̣n căng thẳng nhưng
ông tự kiềm chế. "Tôi đă quyết định từ chức", ông nói với một giọng
nghiêm nghị. Quyền lợi đất nước đ̣i như vậy. Tôi không muốn nói tới chi
tiết những lư do nên hay không nên làm như vậy, nhưng tôi đă đi tới
quyết định rồi" (1). Ngừng một giây lát, ông thêm: Jerry, tôi biết ông
sẽ chấp chính tốt".
"Thưa Tổng thống, Ngài biết là tôi hết sức buồn về t́nh huống này", ông
Ford trả lời, "Tôi ước ǵ nó đă không xảy ra như vậy nhưng tôi sẵn sàng
và nghĩ rằng tôi đầy đủ khả năng gánh vác".
"Tôi cũng đă biết ông như vậy".
Nói qua loa về các vấn đề ngoại giao, rồi Nixon bắt sang chuyện Đông
Dương. Ông Ford kể rằng ông Nixon đă trối trăn như sau: Tổng thống Nixon
đă khuyên tôi nên tiếp tục một chính sách mạnh mẽ về Việt nam và
Campuchia và nhấn mạnh vai tṛ của Henry Kissinger trong việc này" (2).
Nixon nói thêm: "Henry là một thiên tài, tuy nhiên ông cũng phải chấp
nhận tất cả mọi việc ông ta đề nghị. Ông ta có thể hữu ích, và trung
thành, nhưng ông không thể để cho ông ta hoàn toàn tự do làm theo ư
ḿnh".
Đọc kỹ hồi kư của cả hai cựu Tổng thống Nixon và Ford, tôi đă không thấy
ông Nixon dặn ḍ người kế vị ḿnh điều ǵ liên hệ tới những cam kết của
ông đối với Việt nam cộng hoà.
Sau hôm đó, Tổng thống Nixon lên truyền h́nh tuyên bố phó Tổng thống
Ford lên kế vị. Thế là từ một Dân Biểu ở Hạ Nghị Viện, vừa mới được
Nixon đưa lên làm Phó Tổng thống thay ông Spiro Agnew (phải từ chức v́
bị tố cáo tham nhũng) vài tháng trước, bây giờ nhảy ngay lên ghế Tổng
thống, không có bầu bán ǵ cả.
Tiếp tục khoán trắng cho Kissinger
Kinh nghiệm ông Ford chỉ là kinh nghiệm vận động trong Đảng Cộng hoà và
tại Hạ Viện. Ít hiểu biết, ông đă khoán trắng công việc ngoại giao cho
Kissinger. Khi Nixon c̣n làm Tổng thống, ông đă tạm để cho Kissinger sau
khi lên chức bộ trưởng, vẫn giữ chức cũ là Cố vấn an ninh. V́ Toà Bạch
Ốc đang bốc lửa sau vụ Watergate, Nixon chưa để ư tới vấn đề nhân sự.
Trở về văn pḥng, việc đầu tiên ông Ford làm là gọi điện thoại cho ông
Kissinger: "Henry, tôi cần ông, đất nước cần tôi, tôi muốn ông tiếp tục
ở lại. Tôi sẽ làm tất cả những ǵ có thể để làm việc với ông".
"Thưa Ngài, sẽ không có vấn đề ǵ. Bổn phận của tôi là làm việc cùng với
Ngài chứ không phải là Ngài cùng với tôi", Kissinger trả lời (3).
Vị tân Tổng thống mời Kissinger tiếp tục kiêm nhiệm cả hai chức cùng một
lúc: Ngoại trưởng và Cố vấn an ninh. Và như vậy, tuy đă có lời trối
trăng của ông Nixon, ông Ford đă để ông này "hoàn toàn tự do làm theo
ư ḿnh".
Tái xác nhận những cam kết
Ngay buổi chiều ngày làm việc đầu tiên tại toà Bạch Ốc, tân Tổng thống
đă gặp riêng Đại sứ Việt nam cộng hoà Trần Kim Phượng. Theo Kissinger
th́ trong buổi họp, "Tổng thống Ford đă đảm bảo với ông Phượng là ông
quyết tâm về sự sống c̣n của Chính phủ Sài g̣n và sẽ cố gắng hết sức để
tăng viện trợ (cho Việt nam cộng hoà)" (4).
Tuy đă tiên đoán là Tổng thống Nixon sẽ phải từ chức, nhưng khi nghe tin
này, Chính phủ Sài g̣n hết sức hoang mang. Gặp Tổng thống Thiệu ngay
chiều hôm ông Nixon từ chức, tôi thấy ông không giấu nổi lo lắng. Tuy
nhiên, ngay ngày hôm sau, nhận được công điện do Đại sứ Phượng báo cáo
từ Washington về buổi gặp gỡ Tổng thống Ford, ông Thiệu thấy phần nào
yên tâm. Thế rồi, lại một dấu hiệu tích cực: hôm sau, Phó Đại sứ Hoa kỳ,
ông W.J. Lehman tới dinh Độc Lập trao tận tay ông Thiệu một lá thư mật
của tân Tổng thống. Lúc đó Đại sứ Martin c̣n ở Washinglon vận động viện
trợ. Lá thư như sau:
Ngày 10 tháng Tám, 1974
Thưa Tổng thống,
"Khi tôi lên đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Hoa kỳ, ư tưởng đầu tiên
của tôi là nghĩ tới những cuộc tấn công tàn bạo mà quân đội quí quốc đă
đẩy lui một cách can trường và quả cảm. Có lẽ tôi không cần phải thông
báo cho Ngài rơ rằng chính sách ngoại giao của Hoa kỳ luôn luôn được dựa
trên căn bản liên tục và sự ủng hộ của lưỡng đảng. Lúc này đây những
tính chất đó lại càng rơ ràng hơn nữa và tất cả những cam kết mà nước
tôi đă hứa hẹn với quí quốc trong quá khứ vẫn c̣n hiệu lực và sẽ hoàn
toàn được tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi.
Những cam kết này của tôi lại đặc biệt thích ứng với Việt nam cộng
hoà trong điều kiện hiện tại. Chúng ta đă cùng nhau đi trên con đường
dài và đầy chông gai. Tôi đă nghe những tường tŕnh của Đại sứ Martin về
những tiến bộ đáng ghi nhận của quư quốc dưới sự lănh đạo của Ngài. Kể
từ lúc kư kết Hiệp định Paris, qua bản báo cáo của ông Đại sứ, tôi rất
khích lệ sự quyết tâm của Ngài trong công cuộc cải tổ Chính phủ để sư
dụng viện trợ Hoa kỳ và các quốc gia bạn khác một cách hữu hiệu hơn, ngơ
hầu đem lại nền kinh tế tự túc cho Việt nam cộng hoà trong vài năm tới
đây. Quân lực Việt nam cộng hoà với tinh thần cao và chiến đấu hữu hiệu
sẽ là một bằng cớ hiển nhiên cho các nhà lănh đạo Hà Nội phải nhận ra
rằng đă đến lúc phải tham dự vào việc duy tŕ bản Hiệp định Paris và
nghiêm chỉnh cộng tác với Ngài trong việc thi hành Hiệp định như ư muốn
của Ngài.
Tôi biết rằng Ngài đang lo ngại về những bước đầu của Quốc hội trong
việc chuẩn chi viện trợ quân sự và kinh tế cho Việt nam cộng hoà. Thủ
tục của Quốc hội chúng tôi phức tạp, rườm rà nhưng chưa phải là kết
thúc. Tuy c̣n phải đợi một thời gian nữa, nhưng tôi muốn nói để ngài yên
tâm rằng cuối cùng viện trợ sẽ được đầy đủ cả về quân sự lẫn kinh tế.
Trước thử thách quan trọng này, tôi nhờ đến sự giúp đỡ của Tiến sĩ
Kissinger tham dự Chính phủ mới với tư cách Tổng trưởng ngoại giao như
cũ. Cả Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ Martin đều được tôi tín nhiệm hoàn
toàn.
Trân trọng
Gerald R. Ford
Ông Thiệu lên tinh thần đôi chút. Ít nhất, tân Tổng thống đă xác nhận
lại những cam kết của Hoa kỳ đối với Việt nam cộng hoà. Lúc đó, tôi chưa
biết ǵ đến những cam kết mật của Tổng thống Nixon. Tổng thống Ford vừa
nói với Đại sứ Phượng về quyết tâm của ông, bây giờ chính ông Ford lại
tái xác định tính chất liên tục của chính sách Hoa kỳ.
Mấy ngày sau khi nhận được thư của ông Ford, sau một buổi họp Hội đồng
Tổng trưởng, ông Thiệu bảo tôi ở lại uống ly rượu nói chuyện thêm. Nhấm
nháp ly Chivas Regal pha soda, ông hỏi qua loa về cá nhân ông Ford, v́
ông này quá mới mẻ đối với Việt nam. Ông hy vọng ông Ford, người được
Nixon tiến cử, sẽ tiếp tục chính sách của vị tiền nhiệm. Tôi nói với ông
Thiệu về cái thông lệ của Mỹ là một tân Tổng thống thường được Quốc hội
dành cho một "tuần trăng mật" dài khoảng 100 ngày; đôi khi lâu
hơn. Trong thời gian này, họ dành mọi sự dễ dàng cho vị tân Tổng thống.
Để bắn tin cho Washington biết, trong cùng ngày, ông Thiệu cho bộ Ngoại
giao công bố lập trường chính thức của Việt nam cộng hoà về việc ông
Nixon từ chức, b́nh luận rằng vụ Watergate là "Vấn đề nội bộ của Hoa kỳ…
Chính phủ Việt nam cộng hoà hoàn toàn tin tưởng vào Chính phủ và
nhân dân Hoa kỳ sẽ tiếp tục đường lối ngoại giao đă được năm vị Tống
thống Hoa kỳ theo đuổi và c̣n được cả lưỡng Đảng chấp thuận. Bởi vậy
Việt nam cộng hoà tin tưởng Hoa kỳ sẽ tiếp tục cộng tác với Chính phủ và
nhân dân VN để thực hiện hoà b́nh trên căn bản Hiệp định Paris".
Lời lẽ rất là hợp lư và chặt chẽ, Tổng trưởng ngoại giao Vương Văn Bắc
là một luật sư đă có tiếng.
Và bức thư trên, sau này tôi mới phát hiện ra là khi ông Ford kư để gửi
cho ông Thiệu, thực sự chính ông cũng đă không biết tầm quan trọng của
nó. Khi ông viết "những cam kết mà nước tôi đă hứa hẹn với quí quốc
trong quá khứ nó vẫn c̣n hiệu lực và sẽ hoàn toàn được tôn trọng trong
nhiệm kỳ của tôi", ông đâu biết tới thực chất những cam kết đó.
Kissinger đă giấu đi hết (xem Chương sau). Ông Ford chắc chỉ nghĩ là
ḿnh chỉ nói tới hứa hẹn chung chung như tuyên bố ủng hộ Việt nam cộng
hoà của các Tổng thống tiền nhiệm như Eisenhower, Johnson, Kennedy và
Nixon.
Tại sao như vậy? Nh́n lại lịch sử để nhận xét những diễn biến hậu trường
bang giao Việt-Mỹ từ lúc đó, tôi chỉ có thể kết luận rằng ông Kissinger
đă muốn ông Ford trấn an phía Việt nam cộng hoà để khỏi kêu ca oán trách
khi bị Quốc hội cắt xén viện trợ. Nếu ông Thiệu khiếu nại trên căn bản
những mật ước th́ sẽ gây nhiều tranh luận, đưa chính ông Kissinger vào
chỗ kẹt. Điều hay nhất cho Chính phủ Ford là làm sao giữ cho Sài g̣n cứ
yên lặng, làm sao cho mọi chuyện được êm ả cho tới lúc Mỹ tháo chạy.
Sau khi cuốn Hồ sơ mật Dinh Độc Lập do tôi và J. Schecter viết,
xuất bản năm 1986, ông Kissinger hết sức bất b́nh v́ đă lộ ra hết. V́ có
lẽ v́ bức thư của ông Ford cũng đă được tiết lộ nên trong cuốn sách vừa
viết năm 2003, "Ending the Vietnam war" Kissinger nói qua loa tới
mật thư này, nhưng cũng chỉ nhắc tới đoạn nói về trấn an phía Việt nam
cộng hoà về vấn đề quân viện. Ông viết là cùng một ngày, sau khi gặp Đại
sứ Phượng, Tổng thống Ford đă gửi một thư cho Tổng thống Thiệu, trong đó
có một câu do chính ông Ford viết thêm vào bản thảo như sau:
Thủ tục của Quốc hội chúng
tôi phức tạp, rườm rà nhưng chưa phải là kết thúc. Tuy c̣n phải đợi một
thời gian nữa, nhưng tôi muốn nói để ngài yên tâm rằng cuối cùng viện
trợ sẽ được đầy đủ cả về quân sự lẫn kinh tế.
Kissinger b́nh luận:
"Lúc đó cả ông Ford lẫn tôi
đều không biết rơ được sự sâu đậm và tầm mức của việc chống đối lại Quốc
hội sau vụ Watergate. V́ nếu biết được như vậy th́ chắc chắn bức thư đó
(9/8/74) đă được hạ giọng xuống rồi" (5).
Như vậy, kể cả trong cuốn
sách mới nhất, tuyệt nhiên Kissinger vẫn không đả động ǵ đến đoạn văn
quan trọng nhất của bức thư ngày 10 tháng Tám 1974 về việc chính Tổng
thống Ford đă tái cam kết "những ǵ nước tôi đă hứa hẹn với quư quốc
trong quá khứ".
Báo động
Vào lúc đêm hôm đ́nh chiến
sau Hoà Đàm Paris (27 tháng Giêng 1973), sáu chiếc tàu chở đầy đạn dược
đang thuận buồm xuôi gió trên Thái B́nh Dương tiến vào hải phận Việt nam
bỗng được lệnh quay trở về Hoa kỳ. Số đạn này là từ kho dự trữ cho Việt
nam cộng hoà từ trước, nên kể như không bị ảnh hưởng do Hiệp định quy
định. Vậy mà nó lại đă không tới nơi. Thế là 55.000 tấn đạn cần thiết
cho quân lực Việt nam cộng hoà đă bị mất đi một cách bí mật. Đây là do
áp dụng Hiệp định một cách máy móc hay là do một sắp xếp nào khác?(6).
Bí mật này, do tướng John
Murray (hiện cư ngụ tại Springfield, Virginia) tiết lộ, cho tới nay cũng
ít ai hay. Murray lúc đó là người điều khiển cơ quan Quốc pḥng Mỹ DAO ở
Sài g̣n.
Ngày 19 tháng 12, 1973,
tướng Murray lại nhận được công điện từ Bộ Quốc pḥng cho hay Quốc hội
đă cắt nhiều viện trợ cho Đông Dương, ảnh hưởng đến tiếp liệu sáu tháng
c̣n lại của tài khoá 1973/74. Tài khoá này chấm dứt ngày 30 tháng Sáu
1974. Bộ Quốc pḥng cũng yêu cầu tướng Murray đề nghị những chương tŕnh
nào của Việt nam cộng hoà có thể cắt giảm để phù hợp với ngân khoản mới.
Đồng thời, bộ Lục quân chẳng đợi Quốc hội hành động đă bắt đầu cắt ngân
khoản điều hành và bảo tŕ cho Việt nam cộng hoà ngay trong tài khoá
1974. Chắc là họ muốn dùng ngân khoản ấy vào những mục tiêu khác. Lúc
đó, việc tiếp liệu cho Do Thái đang là ưu tiên. Tài nguyên của Quốc
pḥng cần phải dồn về Trung Đông!
Khi tướng Munay nhận được
tin, ông báo ngay cho Đại sứ Martin và yêu cầu ông chính thức thông báo
cho phía Việt nam cộng hoà. Nhưng Martin không bằng ḷng, bảo Murray
phải giữ kín tin này, v́ nó có thể gây ra nhiều xáo động về mặt chính
trị" (7).
Tuy nhiên, từ đầu tháng
Giêng 1974, tướng Murray tiếp tục báo động cho phía Việt nam phải tiết
kiệm đồ tiếp liệu, nhất là đạn dược. Ông họp với Bộ Tổng tham mưu (TTM)
về vấn đề này. Dù không đi vào chi tiết, Murray cũng muốn cho phía Việt
nam nhận thức được sự cắt giảm đă bắt đầu. Tướng Murray kể lại: "Từ
trước đến nay, tôi vẫn nói với Bộ TTM là các ông sẽ được tiếp tế đầy đủ
như chúng tôi đă hứa, và sẽ nhận được quân dụng theo linh thần
một-đổi-một của Hiệp định Paris. Thật là khó cho ông. Từ trước đến nay,
chẳng ai báo cho tôi hoặc Tổng thống Thiệu, hay Đại tướng Viên biết
chuyện cắt ngân khoản cả. Tôi đă hứa rồi, bây giờ nói lại, thật là một
sự đau ḷng".
Ngày 13 tháng Hai 1974, Đại
tướng Cao Văn Viên ra lệnh hạn chế việc sử dụng vũ khí các loại. V́ từ
lúc gởi đơn đặt hàng cho đến lúc nhận được phải mất khoảng bốn tháng.
Nguồn tiếp liệu th́ đă bắt
đầu cạn trước tháng Tư. Từ đó "hệ thống tiếp vận này không bao giờ hồi
sinh được nữa"(8). Đơn xin tiếp liệu từ các quân khu gởi về Tổng
tham mưu càng ngày càng nhiều, gồm những thứ khan hiếm khẩn cấp như đạn
dược, tiếp liệu quân y và ngân khoản thực phẩm cho binh sĩ. Người lính
bộ binh thường vẫn mang sáu lựu đạn, bây giờ chỉ được phát có hai. Súng
cối và trọng pháo bảo vệ tiền đồn chỉ được phát bốn quả đạn mỗi ngày và
mọi cuộc pháo kích đều phải ngưng để tiết kiệm đạn dược. Nửa số xe thiết
giáp bị nằm ụ, 200 phi cơ không cất cánh được. Trong cuốn The Final
Collapse (Sự sụp đổ cuối cùng), Đại tướng Viên đă kết luận:
"Trong những năm 1974-1975, người lính Việt nam cộng hoà ra trận mà ḷng
lo sợ rằng đạn không tiếp tế kịp và nếu bị thương th́ việc tải thương
cũng sẽ chậm trễ hơn. Thời vàng son tiếp liệu thừa thăi và trực thăng
quân vận mau lẹ đă qua rồi… Việc cắt viện trợ quá nhiều và quá đột ngột
đă triệt tiêu mọi cơ hội thành công và làm cho dân chúng cũng như quân
đội miền Nam hốt hoảng, đồng thời khuyến khích Cộng sản gia tăng nhịp độ
thanh toán miền Nam bằng vơ lực" (9).
Cái nhục của kẻ đi cầu xin
Đến tháng 4-1974, tức là
đúng một năm trước khi sụp đổ, t́nh h́nh tiếp liệu trở nên nguy ngập. Dù
Đại sứ Martin cố trấn an. Ông Thiệu vô cùng lo lắng. Ông có đầy đủ thông
tin từ tướng Murray, Bộ Tổng tham mưu và nhiều nguồn khác chứ đâu chỉ có
nghe lời khích lệ từ phía ông Martin. Bề ngoài th́ ông tỏ ra b́nh tĩnh
và vẫn cứ tranh thủ v́ đâu c̣n sự lựa chọn nào khác. Không nhẽ biết sắp
bị cắt hết viện trợ th́ buông xuôi. Bởi vậy, ông nhờ cậy Đại sứ Martin
đồng thời yêu cầu các phái đoàn Quốc hội Việt nam cộng hoà sang cầu viện
tại Washington. Mặt khác, ông có thái độ cởi mở hơn với báo chí Mỹ và
cho phỏng vấn nhiều hơn. Cuối 1974 và đầu 1975, ông tiếp đón một số nghị
sĩ, dân biểu Mỹ để yêu cầu họ khuyến cáo cho Quốc hội nương tay. Nhưng
ông chỉ luôn luôn biện luận trên căn bản là hai nước đă chiến đấu với
nhau trong hai mươi năm và đă có tới năm Tổng thống Mỹ ủng hộ Việt nam
cộng hoà. Ông hoàn toàn không đả động tới những cam kết của Tổng thống
Nixon để đổi lấy Hiệp định Paris.
Đầu tháng Năm 1974, Tổng
thống Thiệu cử Đại tướng Viên đi Mỹ cầu viện. Ông mang theo một danh
sách nhu cầu cấp bách về quân dụng cho Việt nam cộng hoà: trọng pháo 105
ly và 155 ly, đạn dược, dụng cụ truyền tin, và ngân khoản để duy tŕ khả
năng chiến đấu. Tới Ngũ Giác Đài, Tướng Viên gặp Tướng Abrams, người
thay tướng Westmoreland làm tư lệnh quân đội Mỹ lại Việt nam. Lúc đó ông
đă lên chức Tham mưu trưởng Lục quân. Abrams cho biết vấn đề viện trợ
khó khăn không do Ngũ Giác Đài mà là do Quốc hội. Sau đó ông vào gặp
Tổng trưởng quốc pḥng Schlesinger và tŕnh bày nhu cầu của quân lực
Cộng hoà trước ba mươi sĩ quan cao cấp, kể cả các tướng lănh thuộc Bộ
tham mưu Liên quân. Tất cả đều hứa hẹn hết sức ủng hộ. Schlesinger hứa
sẽ giúp, nhưng giải thích rằng quyết định cuối cùng là do Quốc hội.
Lúc ông Viên c̣n đang ở Mỹ,
Tổng thống Thiệu bảo chúng tôi sang Washington thẩm định t́nh h́nh viện
trợ kinh tế và cũng để ư theo rơi vấn đề viện trợ quân sự. Trước khi đi,
Đại sứ Martin dặn tôi cố xin gặp Nghị sĩ Kennedy, người lănh đạo phong
trào cắt xén viện trợ của Miền Nam. Vừa mới đây, ngày sáu tháng Năm
1974, Thượng Viện đă bỏ phiếu thuận 43-38 để kèm vào Chuẩn chi cho Ngân
sách Bộ Quốc pḥng một điều kiện gọi là "Tu chính Kennedy" (Kennedy
Amendment). Như ta đă hay, khi kư một hợp đồng dài vài chục trang,
nhiều khi chỉ v́ ba chữ "với điều kiện" (subject to) được nhét
vào một câu nào đó ở một trang khúc giữa chẳng hạn, là đă có thể làm vô
hiệu hoá chữ kư. Ví dụ như mấy chữ "với điều kiện vợ tôi đồng ư" là có
thể đổ cho vợ và huỷ hợp đồng dễ dàng. Tu chính án Kennedy chỉ thêm mấy
chữ là cấm sử dụng Ngân sách riêng của Bộ Quốc pḥng để chi tiêu tại,
cho, hay nhân danh các quốc gia Đông Nam Á. Thế là
xong! Đông Nam Á rất rộng: gồm cả Việt nam. Kennedy quan niệm là Nixon
đă "thất bại trong việc thay đổi tính chất và mục đích của viện trợ và
cả chính sách của Hoa kỳ đối với các nước Đông Dương". Ông ta cho rằng
viện trợ đă được dùng để kéo dài cuộc chiến. Theo Kennedy, "nếu không
đặt trọng tâm vào việc thi hành những mục tiêu chính trị của thoả ước
ngưng chiến… th́ mục đích của những món tiền chi tiêu khổng lồ ở
VN không phải là để… cứu nạn nhân chiến tranh, hay kiến thiết xứ sở mà
chỉ là để mua thời gian cho Chính phủ Thiệu kéo dài chiến tranh"(10).
Tuy có quen biết ông thời
cùng là hội viên trong hội Sinh Viên Công giáo Newman lúc c̣n ở
đại học Virginia, tôi miễn cưỡng phái đến năn nỉ ông này. Dù sao, tôi
nghĩ v́ t́nh bạn ông sẽ cho tôi chút thời giờ giải thích về nhu cầu viện
trợ để xây dựng hoà b́nh tại Miền Nam, chứ không phải để "kéo dài
chiến tranh".
Ngày 15 tháng Năm, tôi tới
văn pḥng ông ở Thượng Viện. Phụ tá của ông là Jerry Tinker tiếp đón.
Tuy có hẹn trước, nói rằng ông ta rất bận rộn. Gặp Kennedy được một chốc
lát, tôi tóm tắt t́nh h́nh kinh tế, xă hội và quân sự tại Miền Nam, và
yêu cầu ông đừng cắt viện trợ nữa. Ông bày tỏ thiện cảm, và nhắc lại vài
kỷ niệm ở hội Sinh viên Công giáo lúc c̣n là sinh viên. Nói được mấy câu
th́ ông cứ nh́n đồng hồ và tỏ vẻ vội vàng. "Tôi phải đi họp ngay một
phiên họp khác". Thấy bí, tôi xin đi theo một quăng để tŕnh bày thêm.
Khi rảo bước qua hành lang
Thượng Viện, ông Kennedy lại cố đi nhanh, tôi phải theo cho kịp, vừa đi
vừa tŕnh bày. Tôi cảm thấy thân phận ḿnh như một người đi cầu xin, lẽo
đẽo đi theo một anh nhà giàu!
Tới gần pḥng họp, ông dừng
lại, ngồi dựa trên thềm cửa sổ rộng lớn, nói chuyện với tôi được vài
phút. Nhưng nói ǵ th́ nói, Kennedy vẫn không thay đổi. Ông bắt tay tạm
biệt và bước vào pḥng họp. Tôi uể oải xách cặp ra về.
Ngày 11 tháng Bảy, 1974,
Kennedy đề nghị cắt viện trợ kinh tế cho Việt nam cộng hoà là 50%!
Khấu trừ trội chi
Sau Kennedy, chúng tôi tới
bộ Quốc pḥng gặp Eric Von Marbod, lúc đó là Đệ nhất Phó Phụ tá Tổng
trưởng quốc pḥng về An ninh quốc tế! Ông này có rất nhiều kinh nghiệm
về tiếp vận. V́ Tổng thống Thiệu muốn biết rơ về t́nh h́nh thực sự của
quân viện, tôi yêu cầu ông cho biết những con số thực tế chứ không phải
lư thuyết.
Tôi rất buồn phải nói thật
với anh rằng mức quân viện đang tiêu cho Việt nam cộng hoà thực sự chỉ
có 625 triệu, và có thể chỉ có 500 triệu". Ông giải thích là dù Quốc hội
có chấp nhận mức viện trợ hơn một tỷ th́ phần c̣n lại cho Miền Nam cũng
quá ít ỏi. Tôi bỡ ngỡ, "Đây này", ông xé một tờ giấy trong cuốn sổ tay,
viết vội xuống cho tôi coi. Và tôi ghi:
Quân Viện cho Việt nam, Lào
(và Kampuchia): $1.126 triệu;
Phần Lào (và Kampuchia):
$110 triệu; sau đó c̣n phải khấu trừ đă trội chi cho tài khoá trước:
$266 triệu;
Mua máy bay F-5E: $125
triệu;
C̣n lại $625 triệu.
Ông thêm, "số tiền thực sự
dùng được có thể chỉ c̣n 500 triệu sau khi trừ ngân khoản chi phí cho cơ
quan DAO Sài g̣n". Ông c̣n nói "ngân khoản đă được phân phối, chẳng c̣n
làm ǵ khác được nữa." Vào thời điểm đó, chưa có "chuẩn chi" cho ngân
sách viện trợ dứt khoát cho Miền Nam, bộ Quốc pḥng phải dựa vào một
biện pháp gọi là "nghị quyết tiếp tục" (continuing resolution),
một thủ tục vá víu để chi tiêu.
"V́ sao có vụ khấu trừ
vào năm trước?" Tôi hỏi.
Ông cắt nghĩa là hiện trong
nguồn tiếp liệu cho Việt nam cộng hoà, một số quân nhu đă được mua trong
tài khoá 1974, nhưng bây giờ phải thanh toán. Đây là một sự việc quan
trọng mà ít ai biết v́ nó cắt nghĩa tại sao vấn đề tiếp liệu cho quân
đội Việt nam cộng hoà đă trở nên quá khó khăn kể từ hè 1974. Chính Đại
sứ Martin đă hết sức bực tức khi biết chuyện khấu trừ này v́ cả ông cũng
nghĩ là tiền năm nào th́ tiêu cho năm đó chứ sao có thể tính ṿng lại?
Ông cho trục trặc này phần lớn là do kế toán nội bộ của Bộ Quốc pḥng,
gọi họ là những tay đĩ điếm tài chánh (fiscal whores). Ông nói,
chính v́ chuyện "kế toán" lôi thôi này mà tới gian đoạn chuẩn chi tại
Quốc hội, quân viện cho tài khoá 1975 đă bị cắt giảm.
Thực ra tôi cho rằng lúc đó
nhu cầu tiếp viện bên Trung Đông lên quá cao nên tồn kho quân dụng bị
ảnh hưởng và đă có những xoay xở bớt số tiếp liệu cho Việt nam cộng hoà
để c̣n dồn sang cho Do Thái.
C̣n 125 triệu cho chương
tŕnh F-5E, tôi hỏi Marbod xem có thể du di sang những khoản như đạn
dược, xăng nhớt không? Ông cho biết là không được v́ mọi việc đă kế
hoạch xong rồi. Năm 1973, quân viện là 2,2 tỷ, bây giờ trong thực tế c̣n
có 500 triệu! Ấy là nếu Quốc hội chuẩn chi 1,126 tỷ.
Về tới Sài g̣n, chúng tôi
vội phúc tŕnh lên Tổng thống. Chẳng có tin ǵ tích cực lại phải tŕnh
bày những con số tuyệt vọng do Von Marbod đưa ra! Tôi nói với ông Thiệu:
như vậy th́ trong thực tế, so sánh với mức trung b́nh của những năm
1971-1973 (điều chỉnh theo lạm phát), khả năng tác chiến của Việt nam
cộng hoà bị giảm khoảng 60%! Nhận xét này cũng trùng hợp với ước tính
của Bộ Tổng tham mưu về t́nh h́nh cuối năm 1974.
Sau này, trong tập hồi kư
"Đại Thắng Mùa Xuân", thượng tướng Văn Tiến Dũng của Hà Nội đă viết
về động cơ thúc đẩy Bắc Việt lấy quyết định mở cuộc tổng tấn công Miền
Nam: Mỹ đă giảm viện trợ làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực
lượng quân đội Sài g̣n không thể thực hiện theo như ư muốn". Đó là v́
"hoả lực đă sút giảm gần 60% v́ thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng
giảm đi 50% v́ thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu"(11).
Sau khi nghe tôi phúc tŕnh,
ông Thiệu lặng thinh, suy tư. Ông mím môi, chắp tay sau lưng bước ra
khỏi pḥng, lững thững đi về phía căn lầu riêng của gia đ́nh ông. ánh
mắt ông đăm chiêu, tư lự.
Băi cát sa lầy
Ngày 16 tháng Tám, trong
buổi họp cuối cùng với các tướng lănh Việt nam trước khi về nước, tướng
Murray lưu ư họ nên suy nghĩ cho kỹ về t́nh h́nh tiếp liệu khó khăn
trong những tháng cuối năm 1974 và sang năm 1975. Ông khuyên họ nên thu
gọn tuyến pḥng thủ lại, tập trung quân đội và đạn dược để pḥng thủ
vùng đông dân cư dọc bờ biển.
Về tới Ngũ Giác Đài, ông nộp
tường tŕnh về t́nh h́nh Việt nam từ cuối 1972 (tức là trước Hiệp định
Paris) tới lúc ông rời Sài g̣n. Trong bản "Phúc tŕnh về Việt nam, từ
12 tháng 1- 1972 tới 21 tháng Tám, 1974", dài gần 250 trang, ông
phân tích chi tiết t́nh h́nh quân nhu, quân cụ, đạn dược của tất cả các
quân, binh chủng. Đưa ra đầy đủ số liệu, ông chứng minh t́nh trạng tiếp
vận kiệt quệ thảm thương của Quân lực Việt nam cộng hoà. So sánh nó với
khả năng của Quân lực Bắc Việt đang hoạt động tại Miền Nam, th́ quả là
một trời một vực.
"Tôi chắc chắn rằng điều tốt
nhất mà một Tướng lănh có thể làm được khi về hưu là nộp lại (cho Bộ
Quốc pḥng) cái đầu lưỡi của ḿnh cùng với bộ quân phục, rồi sau đó th́
xếp những ư kiến của ḿnh vào một xó nhà" (12).
Murray trích dẫn lời của vị
tướng nổi danh Omar Bradley ( 1959) để bắt đầu bản Phúc tŕnh. Ông hết
sức chỉ trích Quốc hội đă cắt viện trợ và thẳng thắn phê b́nh những rắc
rối khó khăn do chính Bộ Quốc pḥng Mỹ gây ra. Nó đă gây ra cho Miền Nam
và cho chính ông một sự bất ổn, không xác định được mức viện trợ từ
tháng này qua tháng khác, cơ cấu viện trợ ràng buộc đi kèm theo viện
trợ, đặc biệt là tài khoá 1974 và 1975. T́nh trạng này gây bế tắc khó
khăn về phương diện tiếp liệu, không biết thế nào mà đặt kế hoạch cho
chiến trường, như là người mù chơi tṛ tháu cáy trên một sân ḿn, đó là
t́nh huống của tài khoá 1974. Và c̣n tiếp tục vào tài khoản 1975", tướng
Murray viết trong tập Phúc tŕnh (13). cũng như Đại sứ Martin, Murray
nêu ảnh hưởng nặng nề của việc Bộ Quốc pḥng khấu trừ trong tài khoá
1975 những số tiền đă tiêu vào tài khoá 1974, làm gián đoạn ḍng tiếp
liệu, rồi c̣n bao nhiêu tái thẩm định về giá cả vật liệu, nào tính thêm
tiền, rồi trừ vào viện trợ, nào bàn định cắt giảm viện trợ, hết mức này
tới mức khác.
Đă vậy khoảng thời gian tiếp
vận từ lúc đặt hàng, vận chuyển qua đại dương, tới lúc cập bến phải tối
thiểu là 120 ngày. Ấy là nếu Bộ Quốc pḥng hợp tác mau lẹ. Nếu không,
th́ lại phải cộng thêm vào đó thời gian chậm trễ trong việc đáp ứng yêu
cầu đặt hàng (back order). V́ thiếu sự phản ứng cấp thời của Bộ Quốc
pḥng Hoa kỳ, hậu quả là cuối năm 1974, Việt nam cộng hoà phải gánh chịu
t́nh trạng "tiền". Trong trường hợp khẩn cấp, dù c̣n tiền nhưng cũng chỉ
là tiền chết. Murray đi tới kết luận:
"Một quân đội không thể
đương đầu với đối phương được lâu nếu nó phải đứng trên băi cát sa lầy
(quick sand)" (14).
Một buổi tối sau một ngày
dài làm việc vào đầu hè 1974, ông Thiệu biểu lộ tâm tư:
"Thật khó mà tin được. Thoạt
tiên ở Midway (họp với Nixon năm 1969), họ nói với tôi là Mỹ sẽ rút vài
ngàn quân, nhưng c̣n duy tŕ nửa triệu quân chiến đấu ở Việt nam; sau
đó, họ rút thêm quân, và nói sẽ trang bị cho quân đội Việt nam cộng hoà
để đền bù sự triệt thoái này. Đến năm 1972, khi triệt thoái tiến nhanh
hơn, họ nói với tôi "Đừng có lo, chúng tôi sẽ đóng lại một lực lượng nhỏ
(residual force) là Mỹ sẽ tăng cường yểm trợ bằng không lực. Đến khi họ
rút lui toàn bộ, cả lục quân lẫn không quân, họ hứa sẽ tăng viện trợ và
tiếp tục duy tŕ sự có mặt của Đệ thất hạm đội cùng các căn cứ
không quân ở Thái Lan để yểm trợ khi cần. Bây giờ, anh nói với tôi viện
trợ Mỹ bị cắt 60 phần trăm. Vậy ta c̣n ǵ nữa?"
T́nh h́nh viện trợ th́ như
vậy, nhưng như đă tŕnh bày ở trên đây, đang lúc Việt nam cộng hoà lo
lắng, th́ khi vừa lúc đi lên chức Tổng thống thay ông Nixon, ông Gerald
Ford lại vội vàng trấn an ông Thiệu (ngày mồng 10 tháng Tám)
"… Tôi biết rằng Ngài đang
lo ngại… nhưng tôi muốn nói để Ngài yên tâm rằng, cuối cùng viện trợ sẽ
được đầy đủ cả quân sự lẫn kinh tế".
Phản lực cơ F-5E
Khi nghe ông Thiệu kể về
những cam kết của Hoa kỳ theo những giai đoạn trong tiến tŕnh rút quân
khỏi Miền Nam, chúng tôi thấy ông căng thẳng quá, nhưng cũng không biết
nói ǵ hơn. Tuy nhiên tôi nhớ ra c̣n 75 chiếc phi cơ F-5E nằm trong ngân
khoản cũ như ông Marbod đă cho hay, nhưng chưa biết bao giờ mới giao cho
Việt nam cộng hoà. Ông Thiệu ngạc nhiên về sự không chắc chắn này. Tôi
đề nghị, và ông chấp thuận xúc tiến ngay việc này.
Trở lại Washington cuối
tháng Bảy, 1974 theo dơi t́nh h́nh viện trợ và làm việc với cơ quan
USAID để xin thêm ngân khoản nhập cảng và tái thiết, chúng tôi tới thủ
đô Hoa kỳ giữa lúc chiến dịch buộc tội Nixon đang sôi nổi. Trời
Washington nóng đến bốc hơi không kém ǵ ở Sài g̣n. Ở Ngũ Giác Đài không
khí làm việc khác hẳn với những lần trước tôi tới.
Dấu hiệu phức tạp hiện ra
khá rơ ràng. Vụ Watergate đang chiếm hết thời giờ Quốc hội, c̣n đâu mà
bàn đến viện trợ cho Việt nam cộng hoà. Ngân khoản viện trợ tạm thời
phải dựa vào mức độ ngân sách của tài khoá năm trước, theo một thủ tục
là "giải pháp tiếp nối" (Continuing Resolution) v́ vậy không có
ǵ chắc chắn cả. Trước khi về Sài g̣n, tôi đến gặp Von Marbod về vụ 75
phi cơ F-5E. Ông giải thích là tiền c̣n trong ngân sách, nhưng hăng
Northrop (ngày nay là Northrop Grumman) cần có thời gian sản xuất; sau
đó các bộ phận sẽ được lắp ráp ở Phillippines rồi mới giao cho Sài g̣n.
"Cả Đài Loan và Iran đều xin F-5E. Họ có thể được ưu tiên hơn Việt nam
cộng hoà".
Ông cho biết ngoài ra lại
c̣n khó khăn v́ những giới hạn "một-đổi-một" của Hiệp định Paris. Máy
bay F-5E (c̣n gọi là Tiger 2 được ra mắt tại Hawthorn, California tháng
Tám, 1972. Nó tối tân hơn loại F-5 (c̣n gọi là "Freedom Fighter"
hiện có của Việt nam cộng hoà: có khả năng thao diễn cao hơn, tầm bay
dài hơn, cất cánh nhanh hơn, tốc độ nhanh hơn và sức chở nhiều hơn. Tôi
nhờ Marbod giúp để gặp ông Thomas Jones, Chủ tịch hăng sản xuất máy bay
Northrop. Marbod sắp xếp và đưa tôi tới hăng Northrop ở Century City,
gần Los Angeles. Sau khi nghe giải thích rằng quân đội Việt nam cộng hoà
đă bị tổn thất nặng nề v́ thiếu không lực yểm trợ, ông Jones cho biết
Northrop sản xuất máy bay đúng hạn kỳ nhưng v́ có nhiều khách hàng,
chúng tôi đă phải xét lại nhu cầu của các ông". Theo như lời cố vấn của
Marbod, tôi cố thuyết phục ông giao cho Việt nam cộng hoà ba phi đoàn
(36 chiếc) trước Giáng Sinh 1974.
"Tại sao các ông cần trước
Giáng Sinh?" ông Jones thắc mắc. "Chúng tôi ước đoán năm 1975 sẽ là năm
gay go nên chúng tôi cần phương tiện chiến đấu". Marbod dặn nên nói với
ông ta rằng nếu cần, Tổng thống Thiệu sẽ yêu cầu bộ Quốc pḥng Mỹ thanh
toán sớm cho Northrop. Ông Jones tỏ vẻ thoải mái và hứa: "Tôi sẽ cố gắng
giúp ông và quốc gia của ông". Cuối năm đó, Không Quân Việt nam cộng hoà
nhận được một số F-5E thay thế máy bay F-5 cũ.
Ông Jones gởi về biếu Tổng
thống Thiệu một chiếc F-5E mẫu bằng plastic. Ông Thiệu rất thích chiếc
máy bay mẫu và để nó ngay đằng sau bàn họp trong Pḥng T́nh H́nh, cạnh
chiếc điện thoại khẩn cấp đằng sau ghế ông (xem h́nh họp với phái đoàn
Weyand).
Tin sét đánh
Ở mức quân viện như tài khoá
1972-73 là hai tỷ đô la một năm th́ tới 1974-75, sau cú sốc dầu lửa,
cũng chỉ c̣n măi lực khoảng một tỷ hai, khó đủ phương tiện chống đối nếu
có một cuộc tổng tấn công. Tới lúc Tổng thống Nixon từ chức, ông bắt
buộc phải kư thành luật một mức tối đa ngân sách quân viện cho Việt nam
cộng hoà tài khoá 1974-75 là một tỷ. Tính về măi lực sau lạm phát th́
quả là ít ỏi. Từ mức này, quân viện c̣n phải đi qua giai đoạn "chuẩn
chi" tại Quốc hội nữa. Và từ lúc đó, Việt nam cộng hoà mong đợi từng giờ
cho qua cái t́nh trạng bất ổn của chuẩn chi: hết Uỷ ban này tới Uỷ ban
khác, hết Hạ Viện tới Thượng Viện, tối ngày đe cắt viện trợ. Mỗi lần
mang ra bàn căi là lại có những luận điệu chỉ trích, bêu xấu Chính phủ
Miền Nam.
Cuối cùng th́ mọi việc đă
trở nên rơ ràng. Chỉ vài ngày sau khi Tống thống Ford viết bức thư ngày
10 tháng Tám 1974 cho ông Thiệu (khuyên ông đừng có lo v́ tuy thủ tục
tại Quốc hội rườm rà, nhưng "sau cùng sẽ được đầy đủ cả về quân viện lẫn
kinh viện") Uỷ ban Chuẩn Chi Thượng Viện đă cắt từ "mức chấp thuận" là
một tỷ xuống c̣n 700 triệu. Đó là "mức chuẩn chi". Thực là tin sét đánh
cho Bộ Tổng tham mưu, v́ nó thực sự phản ảnh một chiều hướng không thể
đảo ngược được nữa về quân viện. Quốc hội h́nh như đă ly dị với tân lang
thống trước khi tuần trăng mật bắt đầu. Niềm hy vọng khi nhận được thư
đầu tiên của ông Ford đă tan biến như mây khói.
Ngoài chiến trường th́ ở
Vùng I, từ cuối hè, hai sư đoàn chính quy của Bắc Việt - Sư đoàn 304 và
Sư đoàn 2 - đă hoạt động ở vùng đồi núi hai quận Đức Dục và Thường Đức
phía Tây Nam Đà Nẵng. Tháng Chín, sư đoàn 324 lại tăng viện, chiếm trọn
quận lỵ Thường Đức, và vùng đồi núi cao phía Nam Thừa Thiên, phi trường
Phú Bài khó có thể sử dụng để tiếp liệu cho Huế. Tướng Ngô Quang Trưởng
cho Sư Đoàn 1 với sự tăng cường của Biệt động quân, phản công để lấy lại
đất đai bị chiếm. Tuy nhiên, bao nhiêu kho đạn dự trữ tại Vùng 1 bắt đầu
vơi và số binh sĩ tử thương bỗng nhiên vụt tăng: mùa Hè năm đó đă hiến
thành một mùa Hè đỏ lửa thứ hai, trước một mùa Đông- Xuân đầy sôi động.
Tới cuối năm 1974 th́ đạn
dược và xăng nhớt gần cạn. Theo dự tính của Bộ Tổng tham mưu: dự trữ đạn
dược tồn kho chỉ c̣n cung ứng được từ 30 tới 45 ngày (15). Đại tướng Cao
Văn Viên kết luận rằng nếu t́nh h́nh chiến sự cứ tiếp tục xảy ra theo
cùng một nhịp độ th́: "số đạn tồn kho sẽ hết vào tháng Sáu 1975, nếu
không nhận được thêm viện trợ". Trong thực tế, Miền Nam đă không
nhận được thêm viện trợ. Và nội trong tháng 4-1975, Quốc hội đă biểu
quyết bác đi hết: một đồng cũng không cho thêm (xem chương 9).
Như vậy, ta có thể đặt câu
hỏi quan trọng về phương diện lịch sử, là: nếu như không có biến cố
30-4-1975 th́ tới tháng Sáu, cho già lắm là tháng Tám hay tháng Chín,
quân lực Việt nam cộng hoà sẽ lấy ǵ mà chiến đấu?
Đă đến lúc phải giải ngũ?
Mặt quân viện đă nát, mặt
kinh viện càng thêm nát.
Nhóm "Indochina Resource
Center" (Trung tâm tài nguyên Đông Dương) là một tổ chức phản chiến
dẫn đầu chiến dịch cắt viện trợ cho Miền Nam. Họ hoạt động rất hữu hiệu,
đi gặp từng phụ tá, từng thơ kư của các nghị sĩ, dân biểu, tham dự và
theo dơi cuộc họp của tất cả các Uỷ ban liên hệ, từ Hạ Viện tới Thượng
Viện. Và họ đă thành công.
Thoạt tiên Quốc hội bắt thay
đổi ngân khoản viện trợ trong chương tŕnh "Thực phẩm phụng sự hoà b́nh"
(Food For Peace hay PL 480) từ "cho không" sang "cho
vay". Từ nay, số gạo viện trợ hàng năm sẽ hết là cho không mà phải
hoàn lại như những món nợ. Tuy nhiên, v́ là nợ dài hạn nên ngay lúc đó
trở ngại này có tác động về tinh thần hơn là thực chất.
Tới bước thứ hai mới nguy.
Vào đầu năm 1974, có tin dồn dập là Quốc hội Hoa kỳ sẽ đi tới việc cấm
cả dùng viện trợ để tài trợ ngân sách Quốc pḥng. Vài tháng sau th́ tin
đồn thành sự thực. Trước kia, 75% sự thiếu hụt ngân sách là do tài trợ
bằng tiền của Quỹ đối giá (Counterpart Fund). Quỹ đối giá
là một ngân khoản thu được khi tiền Viện Trợ Nhập Cảng (CIP) được đổi ra
bạc Việt nam. Thí dụ, một thương gia muốn nhập cảng bông g̣n phải đem
tiền Việt nam đến ngân hàng xin mua Mỹ kim mở tín dụng thư. Số tiền này
được đưa vào Quỹ đối giá. Đến nay, không những viện trợ đă bị
giảm, mà Quỹ đối giá lại không c̣n được dùng để chi tiêu cho quốc
pḥng nữa.
Khi cơ quan USAID cho biết
tin này, khối Kinh tế- Tài chính vô cùng bối rối, nhưng mọi người đồng ư
sẽ không phổ biến. Chính phủ phải nhờ đến các viên chức USAID có nhiều
thiện cảm để giúp chuẩn bị áp dụng một cách lỏng lẻo và linh động khi
luật này có hiệu lực, như một số tiệm buôn có thể phải giữ hai hay ba sổ
sách khác nhau (một sổ cho sở thuế, một cho công ty và một cho cá nhân
ḿnh). Sau khi bàn bạc kỹ, chúng tôi t́m cách đi ṿng và kết luận là sẽ
làm ba ngân sách: Ngân sách quốc pḥng, Ngân sách kinh tế, và Ngân sách
nhân đạo:
- Ngân sách quốc pḥng sẽ do
thuế nội địa tài trợ;
- Ngân sách kinh tế do cả
Quỹ đối giá và viện trợ thực phẩm lẫn các nguồn đi vay khác tài trợ;
- Ngân sách nhân đạo, căn
bản là giúp đồng bào tỵ nạn (được ông Kennedy ủng hộ) sẽ do viện trợ
nhân đạo của Mỹ tài trợ.
Chúng tôi biết mánh lới này
cũng không bền v́ trung tâm phản chiến kia sẽ phát giác và t́m cách
chặn. Vả lại họ cũng dễ thành công v́ sẽ nói "tiền trong kho, khó mà
phân biệt được nó đến từ đâu".
Tại Washington hồi 3:30 giờ
chiều ngày 13 tháng Năm, khi tôi gặp ông Nooter (chứ không phải Nutter),
một quan chức cao cấp ở USAID đặc trách về Việt nam, ông lưu ư ngay là:
"Rất nguy hiểm! Nếu theo
đúng luật th́ từ 31 tháng 12, 1974, Việt nam cộng hoà sẽ không c̣n được
dùng Quỹ đối giá viện trợ nhập cảng để tài trợ bộ Quốc pḥng".
Nói trắng ra là không được
dùng tiền từ Quỹ đối giá để trả lương cho quân đội nữa. Quân số
Cộng hoà lúc đó là một triệu hai. Trong t́nh cảnh này, kể từ đầu 1975,
cơ quan USAID đă nhắm mắt làm ngơ để Sài g̣n không thi hành những giới
hạn về kinh viện, tức là cứ tiếp tục lấy tiền ở Quỹ đối giá để
tài trợ Ngân sách Quốc pḥng. Nhưng như thế được bao nhiêu lâu?
Chắc cũng chỉ dăm bảy tháng là bị bại lộ!
Ngoài ra ông Nooter c̣n lưu
ư là có thể phải cần tới một luật sư để biện hộ (cũng chỉ là tạm thời)
cho Việt nam cộng hoà trong trường hợp bị nhóm phản chiến phát giác và
công kích.
Chưa xong, khi chúng tôi về
tới Sài g̣n, tướng Murray lại cho biết thêm: sau quyết định trên, Quốc
hội c̣n đi thêm bước nữa: Từ ngày 31 tháng 12, 1974, VNCH sẽ không c̣n
được dùng Quỹ đối giá của viện trợ nhập cảng dể trả lương cho
cảnh sát nữa. Lực lượng cảnh sát lúc đó là 120.000 người.
Khi về hưu, tướng Murray
b́nh luận về vụ này trong Phúc tŕnh của ông: "Quốc hội th́ cấm Cơ quan
Viện Trợ USAID tài trợ cho lực lượng cảnh sát, ông Tổng Trướng Quốc
pḥng th́ cấm luôn cả chúng tôi (Cơ quan quốc pḥng DAO) tài trợ cho
họ". (16).
Phải báo cáo những tin tức
bi đát này cho Tổng thống Thiệu là một trong những công việc khó khăn
nhất đối với cá nhân chúng tôi trong quá tŕnh làm việc với ông.
Nh́n vào viễn ảnh kinh tế,
tài chính và quân sự Miền Nam cuối năm 1974 như nh́n vào chân trời tím.
Những đám mây đen đặc đang ùn ùn kéo tới báo hiệu cho một cơn băo tố từ
xa xa.
Và như vậy, ta có thể đặt
thêm một câu hỏi khác: từ năm 1976 Việt nam cộng hoà sẽ lấy tiền đâu trả
lương cho quân đội và cảnh sát? Sau 30 năm, tôi cũng chưa t́m ra
được câu trả lời. Khi không c̣n tiền trả lương, chắc chỉ c̣n một giải
pháp là giải ngũ?
Trên thực tế, năm 1974 đă là
năm quyết định số mệnh cho Miền Nam Nam rồi vậy
Chú thích:
(1) Gerald
Ford, Gerald D., A time to heal, trang 27-30.
(2) Gerald Ford, Gerald D., A time to heal, trang 27-30.
(3) Gerald Ford, Gerald D., A time to heal, trang 27-30.
(4) Henry Kissinger,
Ending the Vietnam war,
trang 494; Geald Gerald Ford, Gerald Ford,
Gerald D., A time to heal, trang 137.
(5) Henry Kissinger,
Ending the Vietnam war,
trang 495.
(6) Phỏng vấn tướng Murray, ngày 10-5-1985, và ngày 12-2-1986.
(7) Phỏng vấn tướng Murray, ngày 12-2-1986.
(8) Legro, Vietnam from cease-fire to capitulation, trang 80.
(9) Cao Văn Viên, The Final Collapse, trang 54-55.
(10) Trích trong "Vietnam at the Balance", Báo cáo đặc biệt của
Uỷ ban chỉ đạo đảng Cộng Hoà, Hạ Nghị Viện Hoa kỳ, do James Cowin, trang
1-2.
(11) Văn Tiến Dũng, Our great spring victory, trang 17-18.
(12) John E. Murray, Vietnam Report (Báo cáo cho Bộ Quốc pḥng về
Việt nam), trang 62-63.
(13) John E. Murray, Vietnam Report, trang 91.
(14) John E. Murray, Vietnam Report, trang 55.
(15) Cao Văn Viên, The Final Collapse, trang 92.
(16) John E. Murray, Vietnam Report, trang 92.
P3 - Chương 9
Nhát
gươm đao phủ
Cái cằm đầy mỡ của bà cúi xuống, chạm tới ngực. Mặt bà đờ đẫn. Sau khi
đă di "thanh tra" tại trung ương cũng như các địa phương, bà đă quá mệt
mỏi! Chẳng ai muốn để ư tới người chủ tiệc đứng lên có mấy lời tạm biệt
quan khách.
Không khí buổi tiệc thật
căng thẳng. Bỗng một cơn gió lạnh thổi thốc qua lớp cửa kính lớn mở ngỏ.
Các ngọn nến trên chúc đài cao bằng bạc tiếp theo nhau phụt tắt, khiến
nến rớt vung văi xuống bàn tiệc. Gió tiếp tục thổi, màn cửa mầu hồng
lung bay lất phất, trông như những lá cờ đầu hàng. "Một điềm gở đấy",
tôi ngoảnh sang nói thầm vào tai ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng
ngoại giao. Habib gật đầu như đồng ư.
Đó là quang cảnh bữa tiệc
cuối cùng ở Dinh Độc Lập. Đầu tháng Ba, 1975, một phái đoàn Quốc hội Hoa
kỳ đă tới viếng thăm Sài g̣n để thẩm định t́nh h́nh trước khi quyết định
có cấp thêm viện trợ hay không. Thành viên của phái đoàn lại hầu hết là
những người đă có sẵn lập trường chống đối. Bà dân biểu Abzug là tiêu
biểu. Trước khi phái đoàn rời Sài g̣n, Tổng thống Thiệu mở tiệc khoản
đăi. Nhân viên nghi lễ lại xếp cho bà ngồi ngay đối diện với tôi.
Hơn kém nửa tỷ đô la
T́nh h́nh viện trợ từ 1967
đến 1970, lúc Hoa kỳ c̣n đang dấn thân sâu đậm ở chiến trường Việt nam,
mỗi năm cuộc chiến đă tốn tới 25 tỷ đô la. Trong hai năm 1970 và 1971,
chi phí mỗi năm giảm xuống c̣n 12 tỷ. Giờ đây, sau khi quân đội Mỹ đă
triệt thoái, Việt nam cộng hoà phải một ḿnh đảm nhiệm cuộc chiến, và
với ngân khoản 700 triệu viện trợ, trong khi đó th́ cuộc khủng hoảng dầu
lửa đă làm giá xăng nhớt tăng gấp bốn. Bởi vậy măi lực thật của ngân
khoản ấy chỉ là trên dưới 350 triệu, bằng 3% của mức chi tiêu 1970-71.
T́nh h́nh viện trợ quân sự tài khoá 1975 rất rối ren, nhưng có thể tóm
tắt như sau:
Mức ban đầu do Chính phủ
Nixon đề nghị là 1,4 tỷ, tức bằng tài khoá 1974;
Uỷ ban Quốc pḥng Thượng
Viện do Nghị sĩ John Stennis (Mississipi) làm chủ tịch giảm c̣n một tỷ
126 triệu cho cả Đông Dương, phần cho miền Nam là một tỷ;
Trước khi từ chức, Tổng
thống Nixon kư thành luật một mức tối đa cho Việt nam cộng hoà là một
tỷ;
Sau khi Ford nhậm chức, Uỷ
ban Chuẩn Chi Thượng Viện do Nghị sĩ John Mcclellan (Arkansas) làm chủ
tịch, cắt xuống c̣n 700 triệu!
Để dễ so sánh, ta nên coi
lại những chi tiêu và viện trợ quân sự những năm trước đó: Trong thời
gian 1966-1970: Mỹ tiêu 25 tỷ đô la một năm.
Trong hai năm 1970-1971:
tiêu 12 tỷ một năm (v́ đang rút quân);
Sau khi Mỹ rút, viện trợ
quân sự cho Việt nam cộng hoà:
Tài khoá 1973: hai tỷ mốt
(2,l tỷ)
Tài khoá 1974: một tỷ tư
(l,4 tỷ)
Tài khoá 1975: bảy trăm
triệu (0,7 tỷ)
Trong thời gian 1966-71,
ngoài tiền bạc lại c̣n trên một nửa triệu quân đội Mỹ với trang bị tối
tân, được yểm trợ bằng từng dàn phản lực siêu âm, mấy ngàn chiếc trực
thăng đủ cỡ. Ngoài khơi, lại có Đệ thất hạm đội đi tuần
đều đều. Để t́m hiểu rơ hơn về t́nh h́nh và xem Việt nam cộng hoà phải
xoay xở ra sao, chúng tôi đề nghị Tổng thống Thiệu mời Giáo sư Warren
Nutter sang thăm. Ông là thày tôi lúc trước và là cựu Phụ tá Tổng trưởng
quốc pḥng, đặc trách phần tài chính của chương tŕnh "Việt nam hoá".
Ông rất am hiểu đường đi nước bước của bộ Quốc pḥng Mỹ và vấn đề
quân viện. Nutter dự điểm tâm với ông Thiệu và chúng tôi sáng ngày 23
tháng Tám tại Dinh Độc Lập. Tổng thống Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện
trợ: mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ c̣n 700 triệu, tôi làm ǵ
được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé
máy bay hạng nhất từ Sài g̣n đi Tokyo". Là người ủng hộ ông Thiệu từ
lâu, Nutter cũng rất bối rối. Ông cảm thấy khó khăn khi giải thích hành
động của Quốc hội:
"Quốc hội Hoa kỳ đôi khi
hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái Trung Tâm Tái Nguyên Đông Dương
(Indochina Resource Center, trung tâm phản chiến) đang hết sức t́m cách
tiêu diệt quư quốc".
Nutter hứa khi về đến
Washington sẽ cố gắng tŕnh lên Tổng thống Ford t́nh trạng nguy ngập ở
Việt nam. Ông than phiền: "Không có nhân vật cao cấp nào trong Chính phủ
để ư đến vấn đề Việt nam nữa!" Câu nói của Nutter làm ông Thiệu bỏ dở tô
hủ tiếu.
Về tới Washington, Nutter
viết phiếu tŕnh lên John Marsh, một người bạn của ông hiện đang giữ
chức cố vấn cho ông Ford, để kêu gọi ủng hộ Việt nam cộng hoà. Nutter
nhất quyết rằng miền Nam sẽ tồn tại được nếu có phương tiện chống trả
các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt
Nhưng nếu Hoa kỳ ngưng viện
trợ th́ sẽ gây hậu quả trầm trọng cả về vật chất lẫn tinh thần. Nutter
viết cho ông Mars và đưa cho tôi một bản sao:
"Tôi chưa thấy ông Thiệu và
các tướng lănh Việt nam có khí sắc u sầu như vậy bao giờ. Họ sẽ càng mất
tinh thần nếu Bắc Việt liếp tục gây áp lực… Tôi tin rằng hành động của
Quốc hội và hậu quả tai hại của việc cắt viện trợ là đầu mối của những
xáo trộn chính trị và biểu t́nh trong vài tuần lễ gần đây (tại Sài g̣n).
T́nh h́nh sẽ bất ổn về cả chính trị lẫn quân sự, và mọi sự có thể đổ vỡ
nếu không xoay ngược được chiều hướng này. Nếu phải lựa chọn, ta nên
viện trợ quân sự trước, rồi kinh tế sau, để đương đầu với những đe doạ
quân sự trước mắt…
Bỏ miền Nam Việt nam rơi vào
đổ vỡ và thảm sát chỉ v́ hơn kém nửa tỷ đô la sẽ có hậu quả c̣n sâu xa
hơn, đó là xé nát lương tâm của Hoa kỳ. Nó sẽ là ngọn gió thổi bay ảnh
hưởng của Hoa kỳ tuy c̣n mạnh mà đang yếu dần, trên chính trường quốc
tế. Viện trợ quân sự bị cắt c̣n 700 triệu đô la (và đây chỉ là con số lư
thuyết); viện trợ kinh tế th́ xuống 400 triệu. C̣n ǵ nữa mà nói đến cam
với kết?
Washington trấn an
Thế nhưng Washinglon lại
trấn an. Mặc dù sự thật đă quá phũ phàng, ông Ford vẫn tiếp tục an ủi
ông Thiệu. Lần này, thay v́ viết thư, ông gửi một phái đoàn do Thứ
trưởng quốc pḥng Clements cầm đầu tới Sài g̣n. Clements là một giám đốc
công ty dầu hoả ở Texas, mới tham gia Chính phủ Ford, nổi tiếng là có
tính cương trực và ủng hộ lập trường Việt nam.
Từ lâu Clements mang theo
cái bộ tịch huênh hoang và tự tin của người hùng Texas, tính t́nh dễ
dăi, b́nh dân, dễ được ḷng người Việt. Trong một buổi họp, ông lại hứa
với ông Thiệu là Chính phủ Hoa kỳ đang t́m mọi cách để viện trợ quân sự
cho Việt nam: "Xin Tổng thống đừng lo. Chúng tôi đang t́m mọi cách
thuyết phục Quốc hội. Tôi tin chắc rằng cuối cùng Quốc hội sẽ chấp thuận
ngân khoản".
Hoa kỳ cố gắng làm như không
có chuyện ǵ xảy ra.
Clements được cử sang trấn
an ông Thiệu. Ông ta nói đến kế hoạch mới của Chính phủ để xin Quốc hội
viện trợ thêm cho Việt nam cộng hoà. Tổng thống Thiệu chăm chú nghe và
gật đầu nhưng với vẻ mặt mà sau này một nhân viên trong phái đoàn Mỹ tại
buổi họp đă mô tả là "bi quan sâu đậm" (1). Trong buổi họp chung
trước khi trở về, phái đoàn Clements đă thảo luận "vấn đề thời gian
tính" của quân viện và làm sao du di quỹ phát triển để đáp ứng nhu cầu
hiện tại.
Mọi người bàn đến việc xin
Quốc hội thêm 300 triệu đô la cho quân viện để phục hồi lại mức một tỷ
như Tổng thống Nixon đă kư. Đại sứ Martin, luôn cố gắng trấn an
ông Thiệu: "Cánh cửa viện trợ chưa đóng hẳn" và "ta phải khai
thác hết mọi cách".
Martin chế diễu những "tay
đĩ điếm tiền bạc" (f́scal whores)ở Ngũ Giác Đài, kế toán lôi
thôi, để Quốc hội đ̣i lại số tiền trội chi năm trước, bắt trừ vào tài
khoá 1975 (như đă tŕnh bày ở trên) (2). Ông hoan hô lời ông Clements
hứa sẽ cố phục hồi số quân viện một tỷ, tức là tranh thủ xin tăng 300
triệu. Đại sứ Martin hết sức đồng ư.
300 triệu đô la: con số mầu
nhiệm
Kể từ đấy, số tiền 300 triệu
đô la trở thành con số mầu nhiệm. Nó là một sự thử thách. Nếu được là
c̣n hy vọng tiếp tục quân viện, và ngược lại là hết.
Đàng sau con số 300 triệu ấy
là ǵ? Phần lớn chỉ để đáp ứng nhu cầu tối cần cho ngay thời điểm đó.
Phân
chia số tiền 300 triệu đô la khẩn cấp:
|
Số tiền |
Cho (triệu đô la) |
Tỷ lệ |
|
Lục quân: |
203 |
68% |
|
Đạn dược, xăng nhớt |
132 |
44% |
|
Thuốc men |
6 |
2% |
|
Đồ phụ tùng |
48 |
16% |
|
Vật liệu khác |
17 |
6% |
|
Không quân |
91 |
30% |
|
Các phi vụ |
29 |
10%
|
|
Đạn dược |
13 |
4% |
|
Đồ phụ tùng |
32 |
10% |
|
Vật liệu khác |
17 |
6% |
|
Chi phí khác |
6 |
2% |
V́ giá
cả vật liệu quốc pḥng đă lên quá cao nên nếu có xin được số tiền này
th́ cũng chẳng mua được bao nhiêu.
Sau phái đoàn Clements, ông
Thiệu muốn có dịp gặp thẳng Tổng thống Ford để cầu cứu và xem thái độ
của ông ta ra sao, về khoản 300 triệu cũng như về khả năng tăng viện nếu
bị tấn công. Ông bèn cử Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đi Washington mang
theo một lá thư đề ngày 19 tháng Chín 1974. Ông Bắc vừa thay ông Lắm
trong chức vụ Ngoại trưởng ngày tám tháng 11, 1973 (ông Lắm sang Quốc
hội giữ chức Chủ tịch Thượng Viện). Ông Bắc có nhiều kinh nghiệm ở ngoại
giao. Ông đă ở Washington trong chín tháng hồi 1956 dưới thời Tổng thống
Eisenhower để nghiên cứu guồng máy chính quyền Hoa kỳ (3), từng là Đại
sứ ở London và là Cố vấn của phái đoàn Việt nam cộng hoà tại hoà đàm
Paris hồi 1968 và 1972.
Ông Kissinger đưa ông Bắc và
Đại sứ Phượng vào gặp Tổng thống Ford ở toà Bạch Ốc. Buổi họp kéo dài
chừng 30 phút. Ông Bắc tŕnh lá thư của ông Thiệu và nói rơ từng điểm
một và lá thư. Ông quả quyết với ông Ford rằng Việt nam cộng hoà sẽ nói
chuyện với Bắc Việt nếu họ tôn trọng Hiệp định. Ông nhận định rằng tuy
vụ Watergate là việc nội bộ của Hoa kỳ, nhưng thật ra nó đă ảnh hưởng
đến dư luận quần chúng và tinh thần quân sĩ Việt nam không ít. Chính phủ
Việt nam cộng hoà muốn biết chắc rằng việc thay đổi nhân sự trong Chính
phủ Hoa kỳ không ảnh hưởng đến vấn đề viện trợ".
Tổng thống Ford tỏ vẻ thân
mật và không ngần ngại ca ngợi ông Kissinger trước mặt ông Bắc và ông
Phượng. Ông Ford nói:
"Các ông có thể tin rằng
chúng tôi bao giờ cũng hành động như một người bạn tốt và là cộng sự
viên của Việt nam cộng hoà." (4)
Buổi họp chuyển sang vấn đề
tôn trọng bản Hiệp định và phương cách đôi phó với những vi phạm của Bắc
Việt. Tuy ông Ford chỉ tỏ ư tiếp tục ủng hộ và tránh không nói tới cam
kết về bất cứ một điều riêng biệt nào, Ngoại trưởng Bắc cũng đă hài ḷng
về lời tuyên bố tích cực của tân Tổng thống rằng Hoa kỳ sẽ là "cộng
sự viên" của Việt nam cộng hoà. Ở Quốc hội, ông Bắc gặp nhiều chống
đối và nghi kỵ hơn. Các nghị sĩ kêu gọi Việt nam cộng hoà phải thích
nghi với Việt Cộng. Thượng nghị sĩ Adlai Stevenson đ̣i ông Thiệu phải từ
chức, sau đó, nếu Bắc Việt tiếp tục gây hấn th́ Hoa kỳ sẽ can thiệp".
Ông Bắc trả lời: "Thưa
thượng nghị sĩ, chúng tôi chỉ c̣n có một Chính phủ hợp hiến là một bằng
chứng duy nhất tượng trưng cho sự hợp pháp và ổn định của Việt nam cộng
hoà. Nếu bây giờ chúng tôi bỏ nó đi th́ c̣n ǵ nữa?"(5).
Về phía hành pháp th́ vẫn
c̣n nhiều hứa hẹn sẽ tiếp tục yểm trợ dù không được Quốc hội chấp thuận
th́ cuối cùng họ cũng sẽ t́m cách này hay cách khác để giúp. Khi ông Bắc
tại Bộ Quốc pḥng, Schlesinger nói: "Dù Quốc hội định sao đi chăng nữa
th́ tôi cũng đứng về phía các ông". Bắc nhớ lại cách phát biểu khác
thường của Schlesinger và cho rằng ông này sẽ ủng hộ Việt nam cộng hoà
kêu gọi Quốc hội tăng viện. Bắc nói với Schlesinger: "Tôi tin vào lời
hứa của ông Tổng trưởng, nhưng chúng tôi không hiểu rơ thủ tục phức tạp
của Quốc hội về việc cung cấp ngân khoản ngoại viện. Tôi nghĩ rằng những
lời hứa hẹn của Tổng thống đă được đưa ra trước lúc Quốc hội hạn chế
quân viện cho Việt nam cộng hoà.
Hoa kỳ có nghĩa vụ long
trọng với Việt nam cộng hoà kể từ lúc kư kết Hiệp định Paris". (6).
Tuy đă phiền ḷng v́ không
thể thuyết phục được ông Ford gặp ông Thiệu, ông Bắc đă lại một lần nữa
nhận được những lời trấn an từ phía Hoa kỳ rằng: lập trường của Hoa kỳ
về Việt nam cộng hoà không có ǵ thay đổi; và tân Tổng thống đă cam kết
sẽ t́m mọi cách để thoả măn nhu cầu viện trợ.
Dấu hiệu tránh né
Sau khi ông Bắc về được hơn
một tháng, Tổng thống Ford liền viết thư phúc đáp thư Tổng thống Thiệu:
White House
Ngày 24 tháng 10, 1974
Thưa Tổng thống,
Tôi rất hân hạnh được gặp
Ngoại trướng Bắc và nhận được lá thư của Ngài đề ngày 19 tháng Chín.
Chính sách của Hoa kỳ đối
với Việt nam vẫn không có ǵ thay đổi dưới Chính phủ do tôi lănh đạo.
Chúng tôi tiếp tục ủng hộ những nỗ lực của quư Chính phủ để bảo vệ và
phát triển nền độc lập và hạnh phúc của nhân dân Việt nam. Chúng tôi bao
giờ cũng tin tưởng vào sự can đảm, quyết tâm và tài khéo léo của nhân
dân và quân đội Việt nam cộng hoà.
Tôi hoàn toàn thông hiểu
và chia sẻ mối quan tâm của Ngài về t́nh h́nh hiện tại ở Việt nam, nhất
là việc Bắc Việt tiếp tục gây hấn. Tôi cũng biết được sự thiết yếu của
viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa kỳ cho quư quốc lúc này. Tôi xin cam
đoan rằng Chính phủ của tôi sẽ làm đủ mọi cách để có thể thoả măn nhu
cầu của Việt nam cộng hoà.
Mặc dù tôi muốn có dịp
được gặp Ngài để thảo luận về những biện pháp duy tŕ hoà b́nh cho Việt
nam, nhưng rất tiếc buổi họp không thể thực hiện trong lúc này v́ những
bận rộn và ràng buộc đă có từ trước của tôi. Nhưng tôi hy vọng sẽ được
gặp Ngài trong tương lai.
Tôi đồng ư với Ngài rằng
Chính phủ tôi phải làm sáng tỏ vấn đề là sẽ ủng hộ Chính phủ Ngài và
nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris. Nhưng tôi nghĩ rằng lời tuyên bố
công khai của tôi ngày chín tháng 10, buổi họp của tôi với Ngoại trướng
Bắc, và sự thăm viếng của Thứ trưởng quốc pḥng Clements đều đă nói lên
những cam kết của Hoa kỳ đối với Việt nam cộng hoà. Chúng tôi đă thông
báo đến các quốc gia quan tâm đến Việt nam biết rằng Hoa kỳ tiếp tục ủng
hộ Việt nam cộng hoà và mong muốn thi hành đúng đắn Hiệp định Paris. Tôi
muốn sẽ có nhiều dịp khác để bày tỏ sự ủng hộ của tôi đối với Ngài và
cho nền hoà b́nh mà chúng ta đă cùng nhau xây dựng.
Hai quốc gia chúng ta
cùng nhau trải qua rất nhiều khó khăn cả trong quá khứ lẫn tương lai.
Tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ vượt qua được những khó khăn đó nếu chúng
ta cùng nhau đối phó bằng sức mạnh và quyết tâm.
Kính chúc Ngài và nhân
dân anh dũng miền Nam Việt nam được mọi sự tốt đẹp.
Trân trọng
Gerald R. Ford
Lần này, nhận được thư của
Ford, ông Thiệu thấy thất vọng! Sao thay đổi nhanh thế? Chỉ có hai tháng
rưỡi trước đó, ông tân Tổng thống đă mạnh dạn tái xác nhận những "cam
kết trong quá khứ vẫn c̣n hiệu lực và sẽ được hoàn toàn tôn trọng trong
nhiệm kỳ tới", rồi vừa mới một tháng trước, ông đă trấn an ông Bắc,
thế mà bây giờ lại đổi giọng, chỉ nói lơ mơ là ông "tin tưởng vào sự can
đảm, quyết tâm, khéo léo của nhân dân và quân đội Việt nam cộng hoà".
Khi Tổng thống Mỹ nói với ngôn từ là "chúng tôi tin tưởng vào Chính phủ
ông", dù là nói với Việt nam (hay Iraq, Afghanistan hay Đại Hàn) th́ rơ
là đă có dấu hiệu Mỹ muốn tránh né rồi.
Ông Ford không muốn gặp ông
Thiệu, viện cớ rằng đă có lời tuyên bố của ông ủng hộ Việt nam, đă tiếp
ông Bắc và gửi thứ trưởng Clements sang Sài g̣n, như thế là đủ nói lên
những cam kết rồi.
Đằng sau quyết định rút
Pleiku
Vào khoảng thời gian này, có
lần sau khi họp với ông Thiệu về t́nh h́nh viện trợ, tôi ở lại một ḿnh
trong pḥng họp (c̣n gọi là "Pḥng T́nh H́nh", ngay sát văn pḥng ông)
để ghi lại những điểm quan trọng. Trên bàn họp tôi thấy có một quyển
sách mỏng, đóng b́a cứng, màu đỏ, rất đẹp, do ông mang vào.
Nh́n thoáng thấy trên b́a
lại có h́nh ông, tưởng ông muốn cho tôi đọc quyển sách ai mới viết về
ông, tôi mở ra xem. Vừa lật tờ b́a, tôi thấy ngay nó không phải là một
cuốn sách mà là một tài liệu báo cáo do tướng Murray cùng với Bộ Tổng
tham mưu tŕnh lên. Tài liệu phân tích ảnh hưởng của các mức quân viện
tới khả năng chiến đấu, phân chia theo từng quân, binh chủng. Tôi lướt
qua và chỉ đọc vài trang cuối.
Phần kết luận được tóm tắt
như sau:
- Nếu mức độ quân viện là
1,4 tỷ th́ có thể giữ được tất cả những khu đông dân cư của cả bốn Vùng
Chiến Thuật;
- Nếu là 1,1 tỷ th́ Quân khu
1 phải bỏ;
- Nếu là 900 triệu th́ khó
ḷng giữ được QK I và II, hoặc khó đương đầu với cuộc tổng tấn công của
Bắc Việt;
- Nếu là 750 triệu th́ chỉ
có thể pḥng thủ vài khu vực chọn lọc, và khó điều đ́nh được với Bắc
Việt;
- Nếu quân viện dưới 600
triệu th́ Chính phủ Việt nam cộng hoà chỉ c̣n giữ được Sài g̣n và vùng
châu thổ sông Cửu Long.
Đó là năm tuyến pḥng thủ
tương đương với năm mức độ quân viện (xem biểu đồ).
Tướng Murray kết luận:
"Ta có thể ví sự mất tiền xấp xỉ như bị mất đất vậy, (xem bảng). Sau
đó, chính Tổng thống Thiệu c̣n đưa tài liệu này cho tôi đọc thêm. Và
trong những buổi họp về viện trợ, ông hay nói tới câu: từng chiến
lược cho từng mức viện trợ".
Tuy lúc đó ông không cắt
nghĩa rơ ràng, nhưng thỉnh thoảng ông mô tả chiến lược mới này bằng bốn
tiếng dân dă "Đầu Bé Đít To" (Vùng I và Vùng II là đầu). Trong
các buổi họp ông c̣n dùng ba chữ "Tái phối trí".
Ngoài phân tích trên, theo
nghiên cứu, tôi thấy c̣n có hai việc khác liên hệ tới kế hoạch này:
Thứ nhất,
theo ông Martin tường thuật lại cho
Quốc hội, th́ ngày l tháng Tám, 1974, một nhóm bên phía Chính phủ Việt
nam với sự cố vấn của một "viên sĩ quan về hưu lỗi lạc từ một quốc gia
khác" được chỉ định để nghiên cứu về một kế hoạch thu hẹp lănh thổ (7).
Theo Frank Snepp, viên sĩ quan này là viên chuẩn tướng người Úc tên là
Ted Sarong và ông đă làm việc với trung tướng Đặng văn Quang (8). Nhóm
này đi tới kết luận là Việt nam nên bỏ Quân Khu I và 11 và tập trung lại
để chỉ giữ một tuyến từ Tây Ninh tới Nha Trang.
Đại sứ Martin tŕnh bày: kết
luận này được dựa vào ba lư do:
Với tiềm năng c̣n lại, Việt
nam cộng hoà không thể giữ được tất cả lănh thổ;
Trong trường hợp Bắc Việt
tổng tấn công, Việt nam không thể trông chờ Hoa kỳ đến giúp như hứa hẹn
vào lúc kư Hiệp định đ́nh chiến để mang tù binh về;
và những thay đổi về kinh
tế, xă hội tại Miền Nam trong thập niên qua đă tạo nên một tiềm năng
chính trị mới, và nếu khai thác khéo léo sẽ có thể giảm thiểu những nguy
cơ chính trị của việc cắt đất (9).
Thứ hai,
theo ông Kissinger, vào tháng Hai,
1975, ông Robert Thompson (chuyên gia người Anh nổi tiếng về chiến thuật
du kích từ lúc c̣n ở Malaysia) đă thăm viếng Việt nam, làm việc với các
cấp chỉ huy quân sự và cố vấn cho họ. Khi về, ông báo cáo cho Tổng thống
Ford rằng: "Nếu Hà Nội dứt khoát đến độ đem cả những sư đoàn trừ bị từ
phía bắc vùng phi quân sự (DMZ) vào, th́ quân đội Việt nam cộng hoà sẽ
bị mất ít nhất là Sư đoàn Dù, Thuỷ quân lục chiến, và một tới ba sư đoàn
khác, và sẽ sụp đổ. Chiến tranh sẽ kết thúc…
Tất cả vấn đề c̣n tuỳ thuộc
vào sự thận trọng và sự phê chuẩn hiệ n c̣n đang được đắn đo ở Hà Nội…
Sự quyết định (của họ) c̣n
tuỳ một phần vào Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ… Miền Nam đang sẵn
sàng tiếp tục chiến đấu, và nếu có được sự ủng hộ tối thiểu để khích lệ
nhân dân của họ và để ngăn cản Hà Nội, giúp họ kiên tŕ dai dẳng đủ lâu,
th́ sẽ đi tới chỗ chấm dứt được sự can dự của Hoa kỳ. Thế nhưng, nếu
không được yểm trợ, Miền Nam sẽ sụp đổ trước sự hổ thẹn muôn đời của Hoa
kỳ" (10).
Ngày bảy tháng Giêng, 1975,
quân đội Bắc Việt tấn chiếm Phuớc Long. Trong Hồi kư của ông
(1979), Tổng thống Ford b́nh luận: "Bắc Việt đă chiếm được một tỉnh đầu
liên trong 15 năm chiến tranh…" ông quy trách việc tái phối trí cho việc
Quốc hội Hoa kỳ đă giới hạn quyền hành của Tổng thống cũng như đă cắt
giảm cả kinh viện lẫn quân viện cho Việt nam rồi đi tới một t́nh huống
là đă "báo hiệu càng ngày càng rơ sẽ cắt đứt toàn bộ những yểm trợ" cho
Miền Nam (11).
Đây chỉ là đỗ lỗi cho nhau
chứ vào thời điểm đó, rơ ràng là cả phía Hành pháp cũng đă muốn quay mặt
đi. Sau khi mất Phước Long, Chính phủ Ford không có tuyên bố hay phản
ứng ǵ, trái lại, c̣n giảm mức độ quan trọng của việc ấy (12).
Tới lúc đếm từng viên đạn
Sau khi mất Phước Long, ngày
24 và 25 tháng Giêng, 1975, ông Thiệu lại liên tiếp gửi hai bức thư cho
ông Ford để kêu gọi Hoa kỳ gấp rút tăng thêm viện trợ quân sự, đặc biệt
là ngân khoản 300 triệu. Chính Kissinger thuật lại trong cuốn Ending
the Vietnam war (13):
"Ông Thiệu cho việc đánh
chiếm Phước Long "là một hành động vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris và
nói tới "Cường độ tấn công mănh liệt của quân đội Bắc Việt, yểm trợ bằng
hoả lực và thiết giáp ồ ạt" Và ngược lại, "quân đội VNCH phải đếm từng
viên đạn khi bắn để giữ được lâu hơn" Trong cả hai thư ông Thiệu có nhắc
khéo để ông Ford biết rằng chính là do sự cam kết của Hoa kỳ là sẽ cung
cấp viện trợ đầy đủ cho Việt nam cộng hoà mà ông đă kư Hiệp định Paris.
Theo Kissinger, hai bức thư
này khiến ông Ford bác bỏ đề nghị của các viên chức toà Bạch Ốc trong
việc chống đối sự 300 triệu bổ sung và quyết định cứ tiếp tục xin thêm.
Lúc đó các nhân viên này, đặc biệt là Phụ Tá Báo chí Ron Nesser đang sửa
soạn cho ông Ford ra ứng cử chức Tổng thống vào năm 1976. Ông Ford chưa
bao giờ được bầu lên chức Phó hay chức Tổng thống. Đội ngũ của ông đă
khuyến cáo ông "hăy đưa nước Mỹ ra khỏi Việt nam chứ đừng đưa vào". Bởi
vậy ông đă hành động như sau:
Ngày 28 tháng Giêng, Tổng
thống Ford yêu cầu Quốc hội chuẩn chi 300 triệu, nhưng chối phắt trách
nhiệm của nước Mỹ:
"Chúng tôi đă nói với họ
(VNCH), thực ra là chúng ta sẽ không bảo vệ họ với sức mạnh của chúng
ta, nhưng sẽ cung cấp phương tiện để họ tự bảo vệ theo như Hiệp định
(Đ́nh chiến). Nhân dân Việt nam đă hành động hiệu quả khi chấp nhận
thách đố này"(14).
Ngày 26 tháng Hai, 1975, Đại
sứ Martin chuyển một bức thư nữa của ông Ford phúc đáp hai lá thư của
ông Thiệu. Lời lẽ rất thận trọng mà chỉ nói chung chung và khuyến khích
Miền Nam điều đ́nh:
White House
Ngày 26 tháng Hai, 1975
Thưa Tổng thống,
"Các lá thư ân cần của
Ngài đề ngày 24 và 25 tháng Giêng đến đúng vào lúc Việt nam đang ở trong
tâm trí tôi…
"Tôi xin được chia sẻ mối
quan tâm của Ngài về việc Bắc Việt không làm tṛn nhiệm vụ tôn trọng
những điều khoản cơ bản nhất của Hiệp đinh Paris và về mức gia tăng áp
lực quân sự của Bắc Việt. Tôi xin Ngài an tâm là Chính phủ tôi sẽ tiếp
tục thúc bách đ̣i thực thi Hiệp định ấy.
"Một lần nữa nhân dân và
quân lực Miền Nam đang chứng tỏ một cách hữu hiệu quyết tâm chống lại
các cuộc tấn công của Hà nội, bất chấp những giới hạn hiện nay về dạn
dược và các tiếp liệu khác…
"Chúng tôi tiếp tục tin
tưởng rằng việc thực thi Hiệp định Paris, cùng các cuộc điều đ́nh trực
tiếp giữa các phe phái Việt nam, là con đường nhanh nhất, hữu hiệu nhất
để chấm dứt cuộc đổ máu tại Việt nam…
Đang khi cầu cứu Hoa kỳ trợ
giúp, ông Ford lại nói những lời lẽ đăi bôi: khen ngợi quân, dân Miền
Nam, tin tưởng vào điều đ́nh trực tiếp giữa hai bên. Nói như vậy là dấu
hiệu mở đường cho ông Thiệu từ chức để ông Minh lên chức Tổng thống, v́
như vậy mới có thể điều đ́nh trực tiếp với Bắc Việt.
Con dao hai lưỡi
Thư ông Ford tới Dinh Độc
Lập hầu như cùng một lúc với cuộc "viếng thăm" của một phái đoàn Quốc
hội. Để cứu xét vụ quân viện 300 triệu, Nghị sĩ Humphrey đề nghị và Tổng
thống Ford đồng ư là nên có một phái đoàn gồm đại diện của cả hai Đảng
sang Sài g̣n để quan sát và t́m hiểu tại chỗ t́nh h́nh và nhu cầu của
Việt nam cộng hoà. Chỉ một Nghị sĩ, ông Dewey Barlett (Oklahoma) và bảy
Dân biểu đồng ư đi.
Lại một bất hạnh nữa: đa số
là thành phần chống chiến tranh và rất ghét ông Thiệu. Đặc biệt là bà
Bella Abzug, một trong các lănh tụ phản chiến, là Paul Mccloskey, chống
đối vai tṛ Mỹ ở Đông Dương từ lâu, và Donald Fraser, chủ tịch của nhóm
"Những Người Mỹ tranh đấu cho Dân chủ".
Cuộc viếng thăm là một con
dao hai lưỡi đối với Miền Nam. Khi biết được thành phần phái đoàn là đă
có báo động.
Nếu họ vui vẻ th́ khi trở về
sẽ ủng hộ quân viện. Ngược lại là hết. Toàn thể bộ máy Chính phủ, quân
đội, cảnh sát họp hành liên miên để xem phải ứng xử thế nào. Nếu để họ
tự do muốn đi đâu th́ đi như yêu cầu th́ rất nguy. Sài g̣n đă mất bao
buổi họp để bàn căi lư do nên hay không. Nhưng v́ tới lúc đă quá hí nên
sau cùng phải chấp nhận mọi yêu sách.
Cả một chương tŕnh linh
động được sắp xếp. Và phái đoàn sẽ tự do làm ǵ th́ làm, muốn gặp ai th́
gặp, tuyên bố ǵ th́ cứ việc tuyên bố. Kể cả tự do đi "thanh tra" những
"cấm địa" như cơ sớ quân sự, khám Chí Hoà, "chuồng cọp Côn sơn".
Ông Thiệu c̣n nghĩ tới cả
khía cạnh con người. Sợ nhất là bà Abzug.
"Này anh Bắc, anh trông
"seduisant" (có sức quyến rũ), anh nên săn sóc bà Abzug giùm tôi", Tổng
thống Thiệu nói với ông Bắc trong một buổi họp. Mọi người bật cười, bớt
chút căng thẳng.
Vừa đáp xuống phi trường Tân
Sơn Nhất, phái đoàn đă xé lẻ ra đi gặp đủ thành phần: chống đối,
phe phản chiến, bà Ngô Bá Yhành, Huỳnh Tấn Mẫm, Cha Thanh, và vào khám
Chí Hoà phỏng vấn tù chính trị. Hầu hết các câu hỏi chỉ xoay chung quanh
vài vấn đề: tham nhũng, lạm quyền của Chính phủ Thiệu cũng như bằng
chứng là Miền Nam đă vi phạm Hiệp định đ́nh chiến.
Trong một bữa cơm chiêu đăi
do Thủ tướng Khiêm mời, bà Abzug công khai bày tỏ thái độ. Khi chủ nhân
mời khách nâng ly rượu chúc mừng, bà ngồi yên, không động đậy ǵ.
Ông Bắc thấy vậy, cố gắng
nói, cười, khen các nghiệp đoàn lao động Mỹ, đặc biệt là "Hội phụ nữ
may vá" do bà đại diện. Cũng vô ích, "Ḿnh hết đề tài nói chuyện cho
bà ta vui lên", ông phàn nàn.
Sau khi đi thăm viếng các
địa phương, phái đoàn trở về Sài g̣n họp với ông Thiệu để đúc kết ĺnh
h́nh. Tôi cùng tham dự để ghi chép và giúp ông Thiệu về Anh ngữ. Buổi
họp đă trở thành một cuộc tra vấn hằn học? Dù đă đoán trước là bầu không
khí sẽ không cởi mở, thân mật, nhưng tôi không ngờ nó lại trở nên thù
nghịch đến thế. Không thấy b́nh luận ǵ về nhu cầu viện trợ mà chỉ hỏi
tại sao đă mất bao nhiêu buổi họp vi phạm Hiệp định Paris: "Ông đă đặt
điều kiện là Bắc Việt phải thi hành Hiệp định Paris"; "Ông đă đ̣i Bắc
Việt rút quân như một điều kiện điều đ́nh"; "Ông c̣n muốn quân viện,
kinh viện măi sao? Chừng bao lâu nữa?" v.v…
Tôi ghi lại từng chữ một câu
phát biểu khiêu khích khác:
"Chúng tôi nghĩ rằng viện
trợ Hoa kỳ sẽ tuỳ thuộc vào một số yếu tố, như việc thả tù binh chính
trị, chống tham nhũng, việc thành lập một Lực lượng thứ Ba. Quư vị đă
làm ǵ cho các vấn đề này? Chúng tôi rất quan tâm".
Mặt bà Abzug đằng đằng sát
khí. Bà dân biểu Fenwick th́ tiếp tục ph́ phèo hút ống điếu. Rơ là ông
Thiệu đang cố giữ vẻ mặt b́nh tĩnh. Hôm sau, ông điện thoại cho tôi từ
sáng sớm.
"Mấy người phách lối này
không có ngay đến cả một lịch sử tối thiểu đối với Đồng minh. Anh soạn
cho tôi mấy câu để nói trong bữa tiếp tân chiều nay".
Tôi hết sức lo ngại. Tin từ
Ngũ Giác Đài cho hay cơ nguy là không c̣n hy vọng ǵ để lấy lại số 300
triệu đă mất, và như vậy đă đến mức cạn kiệt rồi. Bây giờ, ông Thiệu
tuyệt vọng tới chỗ sẽ tỏ thái độ bất măn với phái đoàn Quốc hội. Thật là
nguy?
Một tỷ rưỡi đô la quân viện
đi đâu?
Nghe tin tức bi đát về quân
viện, các bạn đồng liêu của tôi thường hay bàn bạc với nhau lúc nghỉ
giải lao trong các buổi họp Hội đồng Nội các vào mỗi sáng thứ tư: lư do
thực tế nào đưa tới t́nh trạng này? Người th́ cho là v́ Quốc hội chán
ghét chiến tranh, người th́ cho là v́ Mỹ bị kinh tế khó khăn (thất
nghiệp và lạm phát cao) nên đă cắt viện trợ. Nhưng lư do được nhiều
người đưa ra nhất là v́ Mỹ cần dồn thêm quân viện cho Do Thái (Israel).
Nh́n lại lịch sử và phân
tích kỹ tiến tŕnh quân viện Mỹ cho các nước th́ ta thấy lư do cuối cùng
là đúng. Dù không thể chứng minh là đă có những sắp xếp để lấy
quân viện dành cho Miền Nam để dồn cho Do Thái, ngày nay ta đă có thể
chứng minh rơ ràng là: trong thực tế, ngân khoản 1,4 tỷ bị cắt
của Việt nam đă nhảy qua Do Thái. Bảng sau đây là bằng chứng:
So
sánh tiến tŕnh quân viện Mỹ cho Việt nam và Do Thái:
(Tỷ đô la)
|
Tài khoá |
1972/73 |
Cho không |
Cho vay |
| |
Việt nam |
2,1 |
0 |
| |
Do Thái |
0,3 |
|
|
1973/74 |
|
|
|
| |
|
|
|
Cho không
Cho vay
2,1
0,0
0,3
1973/74
1,4
0,0
0,3
1
974/75
0,7
1,5
1,0
Nguồn:
Về viện trợ Mỹ cho Do Thái: đúc kết từ "Quân viện cho Do Thái" "Congression
Rescarch Service, Library of Congress, Issue brief for Congress",
Updated October 17, 2002.
Như vậy, quân viện cho VNCH
từ tài khoá 1972/73 là 2,1 tỷ đă bị cắt 1,4 tỷ c̣n 700 triệu cho tài
khoá 1974/75.
Kết luận:
Quân viện "cho" Việt nam bị
cắt đi 1,4 tỷ; và Quân viện "cho" Do Thái tăng 1,5 tỷ trong cùng năm.
Từ năm 1985, tất cả quân
viện cho Do Thái đă thuộc loại "cho không" (như Việt nam trước đây),
trung b́nh mỗi năm là một tỷ tám trăm triệu đô la.
Ông Stephens Jones, giáo sư
tại Đại học San Francisco nhận xét: "Ngày nay tổng số viện trợ cho Do
Thái mỗi năm tăng một phần ba ngân sách viện trợ Hoa kỳ cho toàn thế
giới, dù dân số Do Thái không tới sáu triệu, tức là bằng 0,1% dân số
toàn cầu". Và dù Do Thái là nước giầu có thứ 16 trên thế giới (với lợi
tức đồng niên mỗi đầu người là 14.000 đô la) (15).
Đao phủ
Chiều mồng một tháng Ba,
Dinh Độc lập mở tiệc khoản đăi các vị "quốc khách" v́ hôm sau phái đoàn
Quốc hội Mỹ lên đường ra về. Dù có tin đồn là một số khách sẽ làm reo
không tham dự, nhưng tất cả đă đến đúng giờ. Tại bàn tiệc, nhân viên
nghi lễ sắp xếp cho bà Abzug ngồi đối diện với tôi. Ngồi xuống rồi, mấy
phút sau bà ta mới lấy cái mũ thật bự ra. Đă nghiên cứu trước về bà, tôi
t́m đủ cách làm cho bà có thái độ tao nhă hơn. Nào là nói về đường Mott
Street ở phố Tàu New York (bà thích ăn cơm Tàu), nào về những
chuyến đi thăm Brucklyn (vùng phụ cận New York) nơi sinh trưởng
của bà (người gốc Do Thái). Nhưng chẳng ăn thua ǵ. Bà ta cứ ngồi ăn,
làm như không nghe tôi nói.
Sau vài ly rượu vang dường
như để "lấy hứng", ông Thiệu đứng lên đọc bài diễn từ vào lúc sắp kết
thúc:
"Trong hai mươi năm qua,
nhân dân Miền Nam đă được nghe đi nghe lại lời nói của năm vị Tổng thống
Hoa kỳ thuộc cả lưỡng Đảng. Những lời đó đă được các vị dân biểu nước Mỹ
liên tục ủng hộ, là Hoa kỳ quyết tâm cung ứng cho Việt nam cộng hoà đày
đủ trợ giúp chừng nào họ c̣n sẵn sàng chống lại sự xâm lăng của Cộng sản
để bảo vệ tự do của họ. Lời cam kết đó đă được nhắc lại một lần nữa
trong dịp kư kết Hiệp định Paris. Vân đề giản dị chỉ như thế này: "Liệu
những lời cam kết của Hoa kỳ có c̣n giá trị nào không?" Đó là thông điệp
tôi muốn quư vị chuyển tới Đại hội thứ 94 của Quốc hội Hoa kỳ".
Rồi dường như không kiềm chế
nổi, ông đi ra ngoài bản văn đă soạn và tiếp:
"Tôi xin phép được ngợi khen
những người bạn đích thực của chúng tôi đang hiện diện ở đây về sự khôn
ngoan và tầm nh́n xa của họ. Tôi xin phép được nhắc lại ở đây ư nghĩa
của một câu ngạn ngữ Việt nam: "Quà tặng đă quan trọng, nhưng cách tặng
quà c̣n quan trọng hơn nhiều".
Chắc bà Abzug không nghe
thấy câu này v́ bà dường như đă ngủ say sau mấy ngày ngược xuôi khắp nơi
để đi t́m chứng cớ chống viện trợ.
Bữa tiệc hôm đó là bữa tiệc
chót tại Dinh Độc Lập, bữa cuối cùng của ông Thiệu khoản đăi quan khách
ngoại quốc của ông mười năm tại chức. Ta cũng có thể cho đó là một cử
chỉ trang trọng của Miền Nam để đánh dấu hai mươi năm người Mỹ "bảo trợ"
xứ này.
Từ sau bữa cơm tối hôm đó,
bầu không khí ngột ngạt bao trùm Dinh Độc Lập từ đầu năm đă trở nên ảm
đạm. Và những biến cố quan trọng đă đến liên lục như sau đây:
Phái đoàn Quốc hội Mỹ vừa
rời Sài g̣n, Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuộc hồi hai giờ sáng ngày 10
tháng Ba; Cùng ngày, Chủ tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm trở về Sài g̣n
sau một chuyến đi Washington để vận động, nhân dịp kỷ niệm năm thứ hai
của Hiệp định Paris (27-l-1973). Ông xác nhận lại là "không những chẳng
c̣n hy vọng ǵ nữa đối với khoản 300 triệu bổ sung mà có thể sẽ không
c̣n viện trợ quân sự nữa";
Hôm sau, ngày 11 tháng Ba,
Tổng thống Thiệu dứt khoát. Ông họp với Thủ tướng Khiêm, Đại tướng Viên
và Trung Tướng Quang để thông báo quyết định tái phối trí:
"Với khả năng và lực lượng
ta đang có", ông nói, "chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả
lănh thổ muốn bảo vệ. Như vậy chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo
vệ những vùng đông dân, trù phú, v́ những vùng đất đó mới thực sự quan
trọng". (16);
Ngay sau đó, 13 tháng Ba,
nhát gươm đao phủ đă hạ xuống: ban Lănh đạo Đảng Dân chủ, cả Hạ Viện lẫn
Thượng Viện (họ lại là thành phần quyết định trong Quốc hội) bỏ phiếu
với đại đa số: chống bất cứ viện trợ nào thêm cho Miền Nam.
Hai ngày sau, 15 tháng Ba,
Tư Lệnh Quân đoàn 11, Thiếu tướng Phạm Văn Phú và một số sĩ quan tham
mưu bay về Nha Trang. Cùng hôm đó, vài đoàn quân xa lẻ tẻ rời Pleiku.
Họ đă là đoàn đi tiên phong
của một cuộc hành tŕnh gian khổ đến bên bờ vực thẳm.
Chú thích:
(1) Phỏng vấn
Morton Abramowitz, ngày 11 tháng 3, 1986.
(2) Frank Snepp, Decent Interval, trang 107-124.
(3) Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985. Ông Bắc kể lại rằng
hồi đó, phần nhiều người Mỹ không ai biết Việt nam ở đâu.
(4) Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985.
(5) Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985.
(6) Phỏng vấn Vương Văn Bắc, ngày 22 tháng 8, 1985.
(7) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
539.
(8) Frank Snepp, Decent Interval, trang 109-110.
(9) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
538-539.
(10) Henry Kissinger,
Ending the Vietnam war,
trang 511.
(11) Gerald Ford, A time to heal, trang 250.
(12) Xem Chương 10 về những lời tuyên bố của Tổng trưởng quốc pḥng
James Schlesinger.
(13) Henry Kissinger, A World Restored, trang 508
(14) Gerald Ford, A time to heal, trang 509?
(15) Stephens Jones, "The Strategic Function of U. S. USAID to Israel",
in Washington Report on Middle East affair, trên mạng internet "wrmea.com"
(xem U.S. USAID to Israel)(16) Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH,
trang 129-132.
P3 - Chương 10
Lúc tuyệt vọng
"Hiện
nay t́nh h́nh ở Miền Nam VN có vẻ như là Bắc Việt có thể sẽ không mở một
cuộc tấn công ồ ạt, toàn quốc… mấy tháng sắp tới, chắc là ta sẽ thấy một
số cao điểm về phía Bắc Việt, chứ lúc này th́ tôi không thấy có thể xảy
ra một cuộc tấn công lớn, toàn quốc, với mức độ như hồi năm 1972"(1).
Đó là lời tuyên bố của Tổng
trưởng quốc pḥng James Schlesinger ngày 14 tháng Giêng, 1975 sau khi
Phước Long thất thủ. Như thế th́ rơ ràng là ông đă cố ư giảm nhẹ
tầm mức quan trọng việc mất đi của một tỉnh đầu tiên trong suốt 15 năm
chiến tranh.
Trái với điều nhiều người
lầm tưởng, Sài g̣n và Washington không hề ngạc nhiên khi cuộc tấn công
mùa Xuân 1975 xảy ra. Tin tức t́nh báo cũng như đánh giá về khả năng này
được thông báo đầy đủ cho phía Hoa kỳ từ cuối năm 1974 qua nhiều ngả.
Ngày sáu tháng 12, 1974, một
phiên họp mật tại Dinh Độc lập về t́nh h́nh quân sự đă đi đến kết luận
là năm 1975 sẽ mở một cuộc tổng tấn công với mức độ 1972, đi tới cao
điểm vào tháng 10, 1975 lúc có bầu cử Tổng thống ở Việt nam, rồi kéo dài
tới 1976 là năm bầu cử tại Hoa kỳ. Sau đó, ông Thiệu đă liên tục nói
trước với ông Martin về khả năng này. Bộ Tổng tham mưu th́ thông báo qua
tướng Homer Smith, chỉ huy cơ quan Quốc pḥng Mỹ DAO ở Sài g̣n (thay
tướng John Murray). Tướng Trần Văn Đôn, lúc đó là Phó Thủ tướng cũng đă
qua Mỹ gặp Thứ trưởng quốc pḥng William Clements để nói về nguy cơ sắp
tới.
"Đừng lo, sẽ không có tấn
công đâu; vả lại, chúng tôi c̣n đây cơ mà", ông Clements trấn an (2).
Khi tướng Murray măn nhiệm,
ông cũng đă báo cáo chi tiết về quân số, khí giới, tiếp vận hùng hậu của
quân đội Bắc Việt tại miền Nam. Ông đă cảnh giác Ngũ Giác Đài về cuộc
chiến khốc liệt sẽ xảy ra trong năm 1975.
Thấy phía Hoa kỳ không có
phản ứng ǵ về vụ Phước Long, lại c̣n giảm nhẹ tầm quan trọng, ông Thiệu
viết thêm lại bức thư đề ngày 24 và 25 tháng Giêng, 1975 để nói rơ ràng
về nguy cơ sắp tới và yêu cầu thêm quân viện. Ngày 26 tháng hai, khi
cuộc triệt thoái thê thảm từ Pleiku c̣n chưa kết húc, ông Ford trả lời.
Nhưng lần này ông chỉ nói chung chung, kiểu đăi bôi cho xong chuyện (xem
Chương 9).
Sau lệnh rút Pleiku
Ngày 20 tháng Ba, chúng tôi
nhận được một cú điện thoại vào sáu giờ sáng. "Anh đến gặp tôi lúc
tám giờ được không?Rồi ăn sáng luôn thể", tiếng ông Thiệu từ bên kia
đầu giây nói. Sớm như thế này là chắc có ǵ gấp đây? Tôi nghĩ.
Tới nơi tôi thấy một bàn ăn nhỏ kê sát cửa sổ trên hành lang lầu ba, địa
điểm ông cho rằng không bị CIA nghe lén. Chuyện ǵ bàn ở văn pḥng ông
hay pḥng họp là hay bị nghe lén. Có lần một người bạn Mỹ ở Toà đại sứ
kể vài chuyện tiếu lâm tôi đă nghe chính ông Thiệu nói cho vui trong lúc
uống cà phê giải lao. "Sao ông biết hay vậy?" tôi hỏi ông ta.
"Chúng tôi biết hết", ông không ngần ngại trả lời.
Khi người giúp việc rời xa
bàn, ông Thiệu nghiêm giọng nói: "Tôi nghĩ rằng nội một vài ngày tới,
t́nh h́nh sẽ trầm trọng hết sức mau lẹ". Rồi ông nói qua cho tôi hay
t́nh h́nh mặt trận: năm trong bảy sư đoàn trừ bị Bắc Việt đă vào tới
Miền Nam. Như vậy tổng cộng là 19 sư đoàn trang bị đầy đủ với gần một
ngàn xe tăng và trọng pháo. Hôm qua xe tăng Bắc Việt đă vượt sông Thạch
Hăn đánh chiếm Quảng Trị và bắt đầu pháo kích Huế. Ông không nói ǵ tới
vụ rút Pleiku và những cuộc họp mới đây với Thủ tướng Khiêm, Đại tướng.
Trung tướng Quang, Trung tướng Trưởng, và Thiếu tướng Phú. Lúc tôi bắt
đầu ăn tô phở th́ ông lấy bút ra viết trên l trang giấy. Dường như là để
thuyết phục chính bản thân ḿnh, ông viết xuống:
- Quyền lợi quốc gia;
- Quyền lợi cá nhân;
- Địa vị chính trị.
Tôi hiểu ngay là ông đang
làm một tính toán để đi tới một hành động nào đó.
Sát cạnh bốn chữ "quyền
lợi quốc gia", ông viết xuống số 1;
Cạnh mấy chữ "quyền lợi
cá nhân" ông phê chữ O (chữ O "phi" có nghĩa là "không");
Cạnh mấy chữ "Địa vị chính
trị" cũng chữ O
Viết xong mấy hàng trên, ông
nh́n đi nh́n lại mấy chữ vừa mới viết. Tôi không biết ông đang tính toán
chuyện ǵ. Lúc đó đă bắt đầu có những chống đối mạnh mẽ đối với cá nhân
ông từ nhiều phía kể cả tại Quốc hội. Ông im bặt vài phút, sau đó nh́n
tôi và nói: "Sự sống c̣n của quốc gia đ̣i ḿnh phải xả láng, v́ thế ḿnh
phải đặt với Hoa kỳ câu hỏi "oui ou non" (có hay không) buộc họ phải dứt
khoát c̣n muốn giúp hay không?
Ḿnh không thể chờ lâu hơn
được nữa. Rồi đây sẽ quá muộn. Giả thử không c̣n một lư do nào khác
ngoài sự sống c̣n của quốc gia, lúc này tôi sẽ phải làm ǵ để Hoa kỳ
không thể dùng cái lập luận là "sự đă rồi" để lấy cớ mà bảo tôi rằng "Sorry,
ít is too late to intervene…" (Rất tiếc, đă quá muộn để can thiệp)".
Trước đó tôi có được ông cho
xem một vài thư của Nixon và Ford. Lúc này đă đến lúc tuyệt vọng, chắc
là một trong những điều ông đang tính toán và muốn hỏi ư kiến tôi xem
nên sử dụng nó như thế nào. Tôi liền nắm lấy cơ hội và đề nghị ông nên
công bố ngay mấy bức thư mật, bằng cách này hay cách khác. Tôi tŕnh bày
là nếu có một vài chính trị gia quay quắt th́ người dân Mỹ trung b́nh
lại là người lương thiện, đặt cao giá trị của công bằng, công lư. Và v́
vậy, ông phải tranh thủ thẳng với nhân dân Hoa kỳ, qua đầu ông Ford. Nếu
dùng nó trong một kế hoạch vận động viện trợ cho hợp lư, kèm theo những
vận động (lobby) qua báo chí, các đài truyền h́nh, phỏng vấn, họp
báo v.v… th́ có thể lấy ngay được phần nào phản ứng thuận lợi của nhân
dân Mỹ, và v́ thế Quốc hội sẽ có thái độ thuận lợi hơn về vấn đề viện
trợ. Tôi đề nghị nên mua giờ phát sóng của một hệ thống truyền h́nh Mỹ
để ông trực tiếp nói chuyện với nhân dân Hoa kỳ, tŕnh bày những đổi
chác hậu trường của ông với Tổng thống Nixon. Lúc đó, tôi nghĩ tới đài
truyền h́nh ABC v́ có quen biết ông Frank Mariano của đài này.
Thế nhưng, ông chưa muốn
thôi bảo mật những thư tín của Tổng thống Mỹ. "Tôi không muốn người Mỹ
có pretext (cái cớ) để trỏ ngón tay vào mặt tôi". Tuy nhiên ông bàn tới
việc định gửi một thông điệp SOS (cấp cứu) tới ông Ford, yêu cầu can
thiệp và yểm trợ. "Tôi vẫn cho là ông Ford c̣n có thể làm được một cái
ǵ nếu như ông ta thực sự hiểu rơ t́nh h́nh". Khi tôi tỏ vẻ dè dặt, ông
nói: "Vấn đề là ḿnh có quyền đ̣i nợ. Tôi chỉ có thể đ̣i ông trả nợ
thôi. Trách nhiệm là của ông ta".
Hai ngày sau, ngày 22 tháng
Ba, 1975, Tổng thống Thiệu triệu tập một buổi họp với Chủ tịch Thượng
Viện Trần Văn Lắm và Chủ tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn. Ông Bắc và tôi cũng
tham dự. Ông Thiệu đặt câu hỏi là "Chúng ta đă tới cái lúc cạn tàu ráo
máng giữa ta với Hoa kỳ chưa? Bây giờ có phải là lúc la lối om x̣m lên
chưa?" Đa số đều đồng ư rằng đă đến lúc phải dùng đến phương sách cuối
cùng này: Miền Nam không nên công khai buộc tội Hoa kỳ nhưng trong từng
buổi tiếp xúc riêng phải cố thúc bách viện trợ, phải đ̣i gắt gao để sau
này người Mỹ sẽ không thể nói được là đă quá muộn, viện trợ cũng chẳng
ích ǵ. "C̣n đối với nhân dân Mỹ th́ sao", ông Thiệu tiếp tục, "Có cách
nào nói được với họ không? Chính cá nhân tôi hay là cấp lănh đạo Quốc
hội phải giải thích cho nhân dân Mỹ?"
Ngoại trưởng Bắc đề nghị:
"Nên làm kín đáo, không nên công khai. Ḿnh đâu muốn bị buộc tội là can
thiệp vào nội bộ Hoa kỳ".
Tới đây, Tổng thống Thiệu
nói thêm rằng hồi sáng, Đại sứ Martin có đến thăm và khuyên ông nên "vận
động âm thầm với Tổng thống Ford". Martin thêm rằng bây giờ là lúc Quốc
hội Mỹ sắp nghỉ lễ Phục Sinh, cho nên có yêu cầu viện trợ cũng không
được cứu xét. Bởi vậy: "Từ bây giờ tới lúc đó (sau Phục Sinh), ḿnh sẽ
âm thầm làm việc với nhau".
Trấn an lần cuối
Đang khi ông Thiệu cân nhắc
xem nên làm ǵ th́ Đại sứ Phượng từ Washington lại chuyển đạt một lá thư
của ông Ford gửi cho ông Thiệu. Lá thư tới Sài g̣n ngày 23 tháng Ba. Đó
là liên lạc trực tiếp cuối cùng của Tổng thống Hoa kỳ với Miền Nam. Chắc
là ông Ford muốn nâng tinh thần ông Thiệu. Và làm như vậy chỉ hơn ba
tuần trước khi có lệnh "yêu cầu Đại sứ (Martin) xúc liến cho nhanh việc
di tản những công dân Mỹ ra khỏi Việt nam" (xem Chương 14).
Nh́n lại lịch sử, tôi nghĩ
rằng có thể bức thư cuối cùng này chỉ nhằm trấn an ông Thiệu để ông khỏi
la lối lên. Được gửi bằng mật mă từ Mỹ và giải mă ở Sài g̣n, thư đọc như
sau:
White House
Ngày 22 tháng Ba, 1975
Thưa Tổng thống,
Cuộc tấn công hiện nay
của Bắc Việt chống lại quư quốc thật vô cùng xáo trộn khiến riêng cá
nhân tôi lo âu. Theo quan điểm của tôi, th́ cuộc tấn công của Hà Nội
tượng trưng cho một sự việc không kém ǵ sự huỷ bỏ Hiệp định Paris bằng
vũ lực.
"Biến chuyển này mang
theo không hậu quả nghiêm trọng nhất cho cả hai dân tộc chúng ta. Đối
với Ngài và nhân dân Ngài th́ dây là lúc hy sinh lớn nhất, nó sẽ quyết
đinh chính số phận quí quốc. Tôi tin tưởng rằng dưới quyền lănh đạo của
Ngài, quân lực và nhân dân Việt nam cộng hoà sẽ tiếp tục công cuộc bảo
vệ kiên tŕ chống lại vụ xâm lược mới này. Tôi cũng tin tưởng chắc chắn
rằng nếu có được sự yểm trợ bổ túc từ bên ngoài vào th́ quư quốc sẽ
thắng thế trong cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết của ḿnh.
"Riêng đối với Hoa kỳ th́
vấn đề cũng không kém phần cấp bách.
"Khi hành động như thế
này, Hà Nội đang t́m cách huỷ diệt tất cả những ǵ mà chúng ta đă chiến
đấu để thành đạt, với phí tổn vô cùng to lớn, suốt mười năm qua!
Sự quyết tâm của Hoa kỳ
để yểm trợ một người bạn đang bị các lực lượng (Bắc Việt) với vũ khí
hùng mạnh tấn công, hoàn toàn vi phạm một thoả ước quốc tế (đă được kư
kết) long trọng, là một điều hết sức cần thiết.
"Riêng tôi, tôi quyết tâm
rằng Hoa kỳ sẽ đứng vững sau lưng Việt nam cộng hoà trong giờ phút tối
quan trọng này. Với mục đích tôn trọng những bổn phận của Hoa kỳ trong
t́nh thế này, tôi đang theo dơi những biến chuyển với chủ tâm cao độ
nhất và đang khẩn cấp tham khảo ư kiến các cố vấn của tôi về những hành
động mà t́nh thế có thể đ̣i hỏi và pháp luật cho phép. Về việc cung ứng
viện trợ quân sự đầy đủ cho quân đội Ngài, xin Ngài yên tâm là tôi sẽ cố
tâm nỗ lực để thoả măn những nhu cầu vật chất của Ngài trên chiến
trường.
Trước khi chấm dứt, tôi
xin được nhắc lại một lần nữa ḷng cảm phục liên tục của tôi đối với
quyết tâm của Ngài và đối với sức bền bỉ và sự anh dũng của nhân dân
Việt nam cộng hoà".
Kính thư,
(kí) Gerald R. Ford
Tổng thống Thiệu gạch dưới
nhiều đoạn: "Quyết tâm của Hoa kỳ ủng hộ một người bạn", "Mỹ sẽ đứng
vững sau VNCH trong giờ phút tối quan trọng này", "tôn trọng những bổn
phận của Hoa kỳ trong t́nh thế này", và "tôi sẽ cố t́m mọi nỗ lực để
thoả măn những nhu cầu vật chất của Ngài trên chiến trường". Thế nhưng,
dù là nói tới "quyết tâm ủng hộ" này kia, người thảo bức thư đă khôn
khéo gài vào mấy chữ: "(tôi) đang khẩn cấp tham khảo ư kiến các cố vấn
về những hành động mà t́nh thế có thể đ̣i hỏi và pháp luật cho phép".
Ông Thiệu chỉ thị cho tôi
gấp rút soạn một lá thư gửi Tổng thống Ford. Ông ghi xuống những điểm
chính để tôi viết lại bằng tiếng Anh. Trong bản dự thảo lần đầu, tôi mô
tả chi tiết về t́nh h́nh suy sụp nhanh chóng tại Miền Nam, v́ vào lúc đó
trước công luận, trong các giới chức ở Washington không ai chỉ rằng t́nh
h́nh đă nguy ngập.
Hồ sơ mật lệnh Độc Lập
Trong lúc tôi đang soạn thư
th́ Đại tá Đức, một sĩ quan tuỳ viên của Tổng thống Thiệu tới nhà và
mang theo một phong b́ lớn ngoại khổ, nặng, cồng kềnh và dán kín. Bên
trong phong b́ là một tập giấy rời đựng trong b́a đen: đó là tập Hồ
sơ mật Dinh Độc Lập, gồm tất cả những thư tín trao đổi giữa VNCH và
HK trong thời gian trên ba năm qua. Tôi được chỉ thị của Tổng thống là
dùng tập hồ sơ này để soạn thảo lá thư cho ông.
Trước đó ít lâu, vào đầu
tháng ba, tôi đă có dịp được coi phó bản của một vài lá thư lẻ tẻ, nhưng
chưa bao giờ được đọc toàn bộ tập hồ sơ, gồm các thư của Tổng thống
Nixon, Tổng thống Ford, và hàng chục lá thư của Tổng thống Thiệu, xếp
theo thứ tự thời gian.
Thức khuya để đọc hết tập hồ
sơ đó, điều làm tôi chú ư trước hết là đọc thấy những ngôn từ có thể nói
là "tàn bạo".
Trước đấy, trong cương vị
một giáo sư đại học, tôi cứ tưởng là lănh đạo các cường quốc luôn luôn
có những ngôn từ ngoại giao, nhẹ nhàng. Nếu cần đe doạ, th́ sẽ dùng một
thứ ngôn từ gián tiếp nào đó, chứ đâu có "nói toạc móng heo". Đọc tập hồ
sơ xong tôi mới học được bài học chính trị khá phũ phàng ở hậu trường!
Điều làm tôi ngạc nhiên thứ
hai là thấy rơ sự chặt chẽ và và quan trọng của những bảo đảm mà Tổng
thống Nixon đă đưa ra để đổi chác với VNCH. So sánh nó với những ǵ đă
và đang xảy ra, tôi thấy rơ sự gian trá và bội ước. Điều này thật khác
xa những kinh nghiệm trong bao nhiêu năm của bản thân tôi sinh hoạt
trong xă hội Mỹ (từ 1958). Qua lối sống hằng ngày trong giao tế, mua
bán, người Mỹ nói chung là rất lương thiện, x̣ng phẳng. Từ khi c̣n ở đại
học, tôi thấy sinh viên Mỹ thường không nói dối, hoặc là "cóp" bài hay
gian lận trong lúc thi. Thí dụ như ở Đại Học Virgina, có một truyền
thống gọi là "hệ thống danh dự", (Honor System): thỉnh thoảng
giáo sư cho sinh viên mang bài thi về nhà làm. Quan sát anh bạn Mỹ cùng
pḥng, cũng như nhiều sinh viên khác, tôi thấy ít khi nào họ mở sách ra
xem hay làm bài chung với nhau. Khi đi mua đồ đạc đem về dùng, mấy hôm
sau nếu thấy không tốt hay không vừa ư, vẫn có thể mang trả lại, hoặc
đổi cái mới. Đa số người Mỹ thường không lạm dụng lề thói này.
Một suy nghĩ khác trong tâm
trí tôi lúc đó là về phong cách làm việc không được hữu hiệu về phía
VNCH. Nhẽ ra, sau Hiệp định Paris, tất cả những văn kiện hậu trường bang
giao Việt - Mỹ đă phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, bàn bạc, rồi đưa ra
những phương thức hành động cho thích hợp. Giá như Chính phủ Sài g̣n
khai thác hồ sơ này vào năm 1973 th́ c̣n có hy vọng phần nào. Vào thời
điểm đó, sau khi Tổng thống Nixon đă rút hết quân và mang được tù binh
về, Quốc hội Mỹ vẫn c̣n đôi chút thiện cảm với Miền Nam (3). Đằng này,
chỉ có một cuộc họp vài ngày tại San Clemente giữa hai Tổng thống (tháng
4, 1973) và sau đó chỉ có một "thông cáo" nói tới việc Hoa kỳ sẽ
tiếp tục yểm trợ Miền Nam, chung chung như vậy thôi. Tổng thống Thiệu đă
không bàn định ǵ thêm với Hội đồng Tổng trưởng cũng như chia sẻ với
Quốc hội. Tại Quốc hội, năm 1974, ông Trần Văn Lắm là Chủ tịch Thượng
Viện. Lúc trước ông là Tổng trưởng ngoại giao, và là người kư Hiệp định
Paris, như vậy ông đă biết đầy đủ về những tài liệu này. Với chức vị mới
của ông bên lập pháp, ông đă có thể liên lạc thẳng với Quốc hội Hoa kỳ
để đưa ra vấn đề, dù có thể bị Kissinger chống đối.
Năm 1973 và 1974, đôi khi
Eric Von Marbod có hỏi tôi là có những bằng chứng nào về việc ông Nixon
hay Kissinger hứa hẹn ǵ với Tổng thống Thiệu không? Marbod đă muốn có
dữ kiện để đưa cho cấp trên của ḿnh là Schlesinger. Ông này có thể dùng
nó khi lên Quốc hội điều trần về viện trợ. Sau ngày sụp đổ, có lần tôi
hỏi Tổng thống Thiệu về việc này th́ ông trả lời: "Nếu họ (Chính phủ
Nixon, Ford) muốn giúp ḿnh th́ tự họ phải thông báo cho Quốc hội hội
biết; nếu ḿnh tiết lộ, họ sẽ vin vào đó mà nói ḿnh bội ước". Phía Hoa
kỳ đă luôn luôn dặn ông phải giữ bí mật mọi trao đổi văn bản (ngay lúc
Kissinger đưa bản thảo Hiệp định Paris cho ông Thiệu hồi tháng 10, 1972,
ông ta c̣n dặn là "Phải giữ hết sức bí mật", nhưng ông Thiệu đă
trả lời thẳng là "ít nhất tôi cũng phải đưa cho Hội đồng an ninh xem").
Khiếu nại tới lương tâm Hoa
kỳ
Trong bản dự thảo thư gửi
cho Tổng thống Ford, thoạt đầu tôi mô tả chi tiết về t́nh h́nh suy sụp
nhanh chóng ngoài mặt trận, v́ tại Washington lúc ấy, Tổng trưởng quốc
pḥng đang nói là không có một khủng hoảng quân sự nào ở Việt nam! Trong
khoảng thời gian soạn thảo lá thư, th́ mặt trận đă suy sụp nhanh chóng.
Một bản thảo vừa viết xong, t́nh thế đă lại thay đổi, khiến nó trở thành
lỗi thời. Nhịp biến chuyển của thời gian có thể trông thấy ngay trước
mắt.
Sau khi nhận được thư Tổng
thống Ford viết ngày 22 tháng 3, ông Thiệu quyết định nói mạnh, đ̣i Mỹ
yểm trợ bằng quân sự. Ông chỉ thị cho tôi "đừng báo cáo chi tiết về t́nh
h́nh, mà cũng đừng nói ǵ tới xin quân viện 300 triệu đô la nữa". Buổi
chiều ngày 24 tháng 3, bản thảo chót được tŕnh cho ông, có đoạn mở đầu:
"Thưa Tổng thống, lúc lá thư này tới tay Ngài, thành phố Huế có lẽ đă
bị bỏ ngỏ, và rất có thể chính Sài g̣n cũng đang bị đe doạ".
Sáng hôm sau, Huế bị bỏ ngỏ
thật. Ông Thiệu xoá câu mở đầu gạc đi những câu dài ḍng. Đọc bản thảo,
ông chữa và viết lại yêu cầu can thiệp bằng quân sự và tăng quân viện.
Nguyên văn cuối cùng như
sau:
Ngày 25 tháng 3, 1975
Kính gửi Tổng thống
Gerald Ford
Toà Bạch Cung
Thưa Tổng thống,
Xin cảm ơn Ngài về bức
thư đề ngày 22 tháng 3, 1975 của Ngài.
Trong lúc tôi viết bức
thư này cho Ngài th́ t́nh h́nh quân sự tại Nam Việt nam đang hết sức
khẩn trương, và cứ mỗi giờ qua lại càng trầm trọng hơn.
Sự bất quân b́nh trong
cán cân lực lượng của hai bên đă nghiêng hẳn về phía quân Bắc Việt, cũng
như những lợi điểm chiến lược mà chúng thu thập được trong hai năm qua,
đă đưa tới t́nh trạng khủng hoảng hiện nay, nhất là tại Vùng 1 và Vùng 2
Chiến thuật, như Ngài hẳn đă biết. Những áp lực nặng nề đang đè xuống
tất cả phần c̣n lại của lănh thổ quốc gia. Chúng tôi, và chính Sài g̣n
cũng đang bị đe doạ.
Bởi vậy, nếu không có
những biện pháp cực mạnh và mau chóng về phía Ngài để tái lập sự quân
b́nh lực lượng th́ chúng tôi sẽ khó mà ngăn chặn sự tiến quân của các
lực lượng Cộng sản, để giữ vững pḥng tuyến hầu đẩy lui lực lượng xâm
lăng.
Ư đồ của Hà Nội là dùng
Hiệp định Paris đê thôn tính miền Nam bằng quân sự th́ chúng tôi đă biết
rơ ngay từ lúc c̣n đang thương thảo Hiệp định này.
Chắc Ngài c̣n nhớ chúng
tôi đă kư (Hiệp định ấy) không phải v́ chúng tôi ngây thơ tin ở thiện
chí của kẻ thù, mà chỉ v́ chúng tôi đă tin tưởng vào lời cam kết long
trọng của Hoa kỳ là sẽ bảo vệ hoà b́nh tại Việt nam.. Theo những lời cam
kết vững chắc lúc ấy, chúng tôi đă được hứa hẹn là Hoa kỳ sẽ trả đũa
thực ḷng và mănh liệt khi có bất cứ vi phạm Hiệp định nào của đối
phương.
Chúng tôi coi những lời
cam kết đó là bảo đảm quan trọng nhất cho Hiệp định đ́nh chiến.
Chúng tôi tin vào cam kết
đó là tối quan trọng cho sự sống c̣n của chúng tôi.
Thưa Tổng thống,
"Trong giờ phút hết sức
khẩn trương này, lúc mà sinh mệnh của miền Nam đang lâm nguy và hoà b́nh
đang bị đe doạ nghiêm trọng tôi xin long trọng yêu cầu Ngài thi hành hai
biện pháp cần thiết sau đây:
Ra lệnh cho phi cơ B-52
can thiệp trong một thời gian ngắn nhưng mănh liệt xuống những nơi tập
trung quân và căn cứ hậu cần của địch trong lănh thổ Miền Nam Việt nam,
và cung ứng khẩn cấp cho chúng tôi những phương tiện cần thiết để ngăn
chặn và đẩy lui cuộc tấn công.
"Chỉ có hai hành động này
mới có thể chặn đứng được kẻ thù khỏi xé nát những mảnh giấy c̣n lại của
Hiệp định Paris.
Thưa Tổng thống,
"Một lần nữa, tôi muốn
kêu gọi Ngài, kêu gọi đến uy tín của chính sách ngoại giao Hoa kỳ, và
nhất là khiếu nại tới lương tâm của nhân dân Hoa kỳ.
Tôi đă rất phấn khởi khi
thấy vào lúc mới nhiệm chức Tổng thống, chính Ngài đă mau chóng tái xác
nhận những bảo đảm cũng như tiếp tục chính sách ngoại giao của Hoa kỳ
(đối với Việt nam) và minh định hiệu lực của những cam kết hiện hữu. Tôi
tri ân Ngài về việc Ngài (đă nói, rằng sẽ) quyết tâm tôn trọng hoàn toàn
những cam kết đó trong nhiệm kỳ của Ngài. Như Ngài đă nhận định thật
đúng, những bảo đẩm này đặc biệt thích hợp với (trường hợp) Việt nam
cộng hoà.
Nhiều thế hệ quốc dân
Việt nam sau này được sống trong tự do không bị Bắc Việt thống trị sẽ
mang ơn về những hành động kịp thời của Ngài và ḷng kiên tŕ của dân
tộc Hoa kỳ vĩ đại.
Trân trọng,
Nguyễn Văn Thiệu
Tổng thống Việt nam cộng
hoà
Sau khi ông Thiệu chữa xong,
tôi sang pḥng Đại Tá Cầm, chánh Văn pḥng của Tổng thống, và dặn ông
cho đánh máy ngay rồi mời Đại sứ Mỹ sang trao càng sớm càng hay. Tôi vừa
ra khỏi pḥng Đại tá Cầm mới nhớ là đă quên chưa cám ơn ông Ford về lá
thư ngày 22 tháng 3. Có lẽ là v́ nó chẳng có ǵ đáng nhớ. Nhưng tôi vội
quay lại, ghi vào bản thảo và dặn ông Cầm thêm câu cám ơn cho lịch sự.
(tôi viết: add "Thanh you for your letter of March 22nd"). Lúc dó
Đại sứ Martin đă đi Mỹ vận động vào giờ chót. Phó Đại sứ Wolfgang
Lehmann sang nhận thư. Ông Thiệu nói chuyện sơ với ông Lehmann và trao
cho ông xem bức thư cầu cứu cuối cùng của VNCH.
Lehmann nói vài câu qua loa
giải thích sự vắng mặt của Đại sứ Martin. Bằng một giọng như nghẹn ngào,
ông hứa "Tôi sẽ chuyển ngay thư này". Ông vội về Toà đại sứ và
bằng một đường giây đặc biệt, đă điện về Washington ngay sau đó.
Một chút ân t́nh
Nhận được thư ông Thiệu,
Tổng thống Ford không hồi âm nhưng làm một nghĩa cử tượng trưng cho một
chút ân t́nh. Trong Hồi kư (1979) ông viết lại rằng:
"Chiều ngày 25 tháng 3 (ngày
26 giờ Sài g̣n), tôi họp với các ông Kissinger, Scowcroft, Martin và
tướng Weyand, Tham mưu trưởng Lục quân. Mọi người đều biết là t́nh h́nh
Miền Nam rất trầm trọng nhưng không ai biết nó nguy kịch như thế nào.
Tôi yêu cầu ông Weyand bay sang Sài g̣n sớm nhất có thể, ở đó độ một
tuần rồi mang về một báo cáo đầy đủ".
Biết rằng "Chẳng ai biết nó
nguy kịch như thế nào", Tổng thống Ford hoàn toàn không đả động ǵ đến
những cầu cứu khẩn thiết của Tổng thống và Chủ tịch Quốc hội VNCH (xem
Chương sau). Ông Martin vừa ở Sài g̣n trở về Washington sau khi họp
nhiều lần với ông Thiệu, cũng như đă có đầy đủ tin tức chiến trường do
Polgar cung cấp, và đă báo cáo chi tiết cho Kissinger và Ford.
Ngày 27 tháng 3, Von Marbod
gọi cho tôi từ Ngũ Giác Đài thông báo là ông sẽ cùng đi với tướng
Weyand. Tôi rất mừng, v́ lúc đó đă bắt đầu nghi ngờ về sự hiểu biết của
ông Ford.
Nhận rơ bản tính hay nghi
ngờ của ông Thiệu, tôi dựa vào đó nói lên mối quan tâm của tôi trước khi
phái đoàn Weyand tới Sài g̣n.
Làm sao để đi ṿng?
Tôi muốn ông Thiệu biết việc
tôi dự định làm để đi ṿng sau lưng ông Kissinger. Từ mùa hè 1974, ông
Thiệu có dặn là khi nào tôi chủ động muốn gặp ông th́ cứ đưa cho Đại tá
Cầm một phiếu nhỏ, ghi vấn đề muốn bàn và mức độ gấp hay không gấp. Nếu
ghi số 1 là gặp ngay, càng sớm càng tốt; số 2. nội trong 3-4
ngày; số 3: nội trong tuần. Hôm đó tôi chỉ ghi: "Vấn đề quan trọng" và
về độ khẩn, tôi ghi hai lần số 1. Tôi nói với Đại tá Cầm sắp xếp cho tôi
gặp ông vào buổi sáng v́ biết bản tính ông hay cởi mở, đón nhận những ư
kiến mới vào sớm mai.
Vừa gặp, tôi đă đi thẳng vào
vấn đề và nói tới nghi vấn của tôi (việc chính ông Ford cũng không biết
rơ những chuyện giữa Nixon với ông.
"Sao anh lại nghĩ vậy? Làm
sao mà một Tổng thống lại không biết đến sự việc đó? Ông ta vừa lập lại
"những cam kết của Hoa kỳ với tôi", ông Thiệu ngạc nhiên hỏi tôi.
"Ấy chính điểm đó mà tôi mới
nghi".
Trước khi để ông hỏi "tại
sao anh nghi", tôi nói tiếp "Có lẽ Kissinger đă bưng bít, không tŕnh
ông ta".
Thế là đă trúng. Ông Thiệu
luôn nghi ngờ là Kissinger trước kia đă không tường tŕnh đầy đủ mọi
khía cạnh về Hoà Đàm Paris cho Tổng thống Nixon. Ông tỏ vẻ đăm chiêu,
mắt chớp chớp. Được đà, tôi nói thêm: "Tôi đề nghị Tổng thống cho phép
tôi t́m cách gửi những thư của ông Nixon tới ông Ford".
Ông Thiệu không nói ǵ, lại
càng nh́n tôi chăm chú. "Bây giờ ḿnh đă tuyệt vọng, không c̣n cái phao
nào mà bám nữa", tôi cố gắng thuyết phục. Dường như bị một nỗi chua xót
đang dày ṿ, ông không nói ǵ thêm, ngả lưng vào ghế, nh́n lên trần nhà,
cau mày, suy tư. Tôi đứng dậy, "Thôi tôi về để Tổng thống làm việc".
Rời bàn ăn tôi đi về phía
cầu thang. Vừa đi được mấy bước, bỗng ông Thiệu gọi giật lại: "Anh
Hưng", tôi quay lại. Ông dặn với: "Làm ǵ th́ làm, nhưng phải hết sức
thận trọng đừng để Mỹ có cớ đổ tội cho là ḿnh bội tín". Tôi hiểu ngay
là ông đă đồng ư, nhưng như thường lệ, ông không ra lệnh rơ ràng.
"Tổng thống đừng ngại, có ǵ
cứ đổ cho tôi". Ông hấp tấp đi xuống văn pḥng.
Tới Sài g̣n, ông Von Marbod
gọi cho tôi ngay. Tôi mời ông tới nhà dùng cơm ngay chiều hôm đó. Rất
mong tin tức xem Washington phản ứng thế nào về lời cầu cứu, tôi muốn ḍ
xem trước khi phái đoàn Weyand lên đường, ông Ford có b́nh luận ǵ
không? "Tổng thống Ford gửi Weyand sang để trấn an và xem các anh cần
giúp ǵ", ông nói. Sau vài ly bia "33" mà ông rất ưa thích, tôi hỏi
thẳng xem có phải tướng Weyand sang Sài g̣n là để đáp ứng lá thư cầu cứu
của Tổng thống Thiệu vừa gửi không? "Tổng thống Thiệu hả, hồi nào?"
Marbod hỏi giật. Té ra ông và cả phái đoàn Weyand không hay biết ǵ cả.
Tôi tóm tắt nội dung lá thư, và nhấn mạnh là lời cầu cứu SOS được dựa
trên căn bản những hứa hẹn mật để bảo đảm hoà b́nh và cung cấp đầy đủ
viện trợ. "Ai hứa?" Marbod ṭ ṃ hỏi. Khi tôi nói rơ ra là đă có những
cam kết của chính ông Nixon viết trên giấy trắng mực đen gởi cho ông
Thiệu, Marbod hết sức hồ nghi. "Anh nói ǵ vậy? Tổng thống Nixon thực sự
có hứa hẹn à, hứa ǵ? bao giờ, bao giờ?" Ông hỏi dồn dập.
Trước khi đi xa hơn, tôi hỏi
ông ta xem vai tṛ của Tướng Weyand có quan trọng không. Ông cho biết là
rất quan trọng và khi về Washington th́ Weyand sẽ báo cáo thẳng cho Ford
(sau khi báo cáo theo hệ thống cho Tổng trưởng quốc pḥng). Tôi mở cặp,
đưa cho Marbod coi một vài lá thư của Tổng thống Nixon."Thật là khó tin.
Tại sao các anh lại dấu những tài liệu này đi?"
"Ông có nghĩ là Tổng thống
Ford biết đến những lá thư này không?" tôi hỏi lại.
"Tôi không biết. Tôi không
đoán được", Marbod trả lời. "Tôi phải về ngay để gặp tướng Weyand", ông
nói và yêu cầu tôi cho ông mang theo mấy lá thư. "Liệu ông có thể chuyển
giúp mấy thư này tới tay Tổng thống Ford qua ngả tướng Weyand được
không?" tôi hỏi.
"Lẽ dĩ nhiên tôi có thể lo
việc này được. Nếu biết sớm hơn, chúng tôi đă có thể giúp cho VNCH nhiều
hơn".
Thật khó cho tôi giải thích
là chính ḿnh cũng chỉ vừa mới biết hồ sơ mật này. Để cho cẩn thận, tôi
nhờ Marbod về trao đổi với tướng Weyand liệu xem ông ta có sẵn ḷng làm
việc này không đă. Bởi vậy tôi đề nghị là trước hết, tôi chỉ ghi mấy nét
chính trong vài lá thư cho Weyand đọc xem ra sao?
Vài hôm sau, Marbod trở lại.
"Weyand rất đỗi ngạc nhiên về những bức thư này", ông nói. "Weyand cũng
đồng ư là có lẽ Tổng thống Ford không biết ǵ thật! Trước khi lên đường
ông ta đă họp mật với Tổng thống và hoàn toàn không thấy đả động ǵ đến
cả" Marbod nhấn mạnh: "Anh phải đưa thư cho tôi ngay, tướng Weyand sẽ
t́m cách đưa riêng cho ông Ford"(4).
Ngày 3 tháng 4, trước khi về
Washington, phái đoàn đoàn tới Dinh Độc Lập họp với phía VNCH. Đêm hôm
trước, ông Thiệu bảo tôi soạn một bản tóm tắt những đoạn quan trọng
trong mấy lá thư để ông khôn khéo sử dụng một cách bóng gió với Weyand.
Tôi tŕnh bày là ông khỏi phải nói v́ tôi đă làm việc đó rồi. "Anh gặp
ông ta hồi nào?" Ông Thiệu ngạc nhiên hỏi. "Tôi không gặp chính ông ấy,
nhưng nhờ một người thân tín trao dùm. Weyand rất ngạc nhiên và cũng
nghĩ rằng chính ông Ford cũng không biết đến chuyện này". Bây giờ th́
ông Thiệu đă hoàn toàn tin là Kissinger bưng bít. "Vấn đề này rất tế
nhị, người bạn tôi và tướng Weyand sẽ tuỳ cơ ứng biến", tôi nói, rồi
nhắc lại: "Tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc này. Nếu bị tiết lộ
và Kissinger phản kháng, Tổng thống cứ đổ hết cho tôi".
Tổng thống Ford xúc động
Đang trên đường bay về
Washington để báo cáo, trước hết cho Tổng trưởng quốc pḥng theo hệ
thống, th́ Weyand được lệnh đổi hướng bay thẳng tới Palm Springs
(Nevada) để phúc tŕnh cho hai ông Ford và Kissinger tại đó. Weyand muốn
đưa mấy bức thư cho ông Tổng thống, nhưng làm sao mà đưa riêng được?
Weyand thừa biết rằng nếu Kissinger biết chuyện này th́ chắc chắn ông ta
sẽ chặn lại, hoặc là sẽ sửa soạn tinh thần ông Ford. Kissinger có biệt
tài về hùng biện. Nếu ông muốn chuẩn bị ông Ford trước th́ rất dễ dàng.
Chỉ cần đưa ra một cách giải thích nghe rất hợp lư thí dụ như: "đâu
có ǵ quan trọng; những lời tuyên bố công khai hồi đó cũng đă giống như
vậy rồi" là ông Ford tin ngay, v́ ông Ford đâu có theo dơi ǵ. Câu
nói này cũng chính là luận điệu Kissinger đă đưa ra để biện hộ lúc về
sau này.
Biết như vậy nên Weyand đă
cố sắp xếp để gặp riêng ông Ford ngày 5 tháng 4 được năm phút trước khi
họp với Kissinger "Đọc mấy thư này, ông Ford đă xúc động", Marbod
kể lại. Và có lẽ là v́ thấy quá bất nhẫn, nên ông đă thay ḷng đổi dạ,
có quyết định cứu thêm số người di tản và xin thêm quân viện cho Miền
Nam dù đă quá muộn (xem Chương sau).
Weyand, von Marbod gặp Ford
và Kissinger trong pḥng ngủ ngôi biệt thự nghỉ hè của ông Ford. Weyand
trao cho Ford bản phúc tŕnh về t́nh h́nh tại Miền Nam và đề nghị những
biện pháp yểm trợ, đặc biệt là tăng 722 triệu quân viện cấp thời. Trong
bản tóm lược về báo cáo chi tiết, Weyand viết:
"T́nh h́nh quân sự hiện nay
đang nguy ngập… Chính phủ Việt nam đang gần kề sự thật bại quân sự hoàn
toàn. Tuy nhiên, Miền Nam đang làm kế hoạch tiếp tục chống giữ với những
tài nguyên c̣n lại của họ và, nếu được một thời gian để lấy lại sức, họ
sẽ xây dựng lại được những khả năng của họ tới mức mà sự yểm trợ vật
chất của Hoa kỳ sẽ cho phép. Tôi tin rằng chúng ta thiếu họ món nợ yểm
trợ đó…
"Chúng ta đă giơ tay ra cho
nhân dân Miền Nam Việt nam và họ đă nắm lấy. Giờ đây, họ đang cần đến
bàn tay giúp đỡ ấy nhiều hơn bao giờ hết…
"Uy tín của Hoa kỳ, trong
cương vị một nước Đồng minh, hiện đang bị thử thách tại Việt nam. Để giữ
vững được uy tín đó, ta phải làm một nỗ lực tối đa để yểm trợ nhân dân
miền Nam Việt nam trong lúc này.
"Bản phân tích chi tiết hơn
được tŕnh bày trong phúc tŕnh đính kèm.
Kính tŕnh
(kư) Fred C. Weyand
Trong phần chính của bản
phúc tŕnh, Weyand đă biện hộ cho một ngân khoản quân viện khẩn cấp là
722 triệu cho Miền Nam. Vào thời điểm đó, ông Ford đang bắt đầu sửa soạn
ra tranh cử chức Tổng thống năm sau. Phần nào, ông ta bị mặc cảm là chưa
hề bao giờ được dân chúng Mỹ bầu lên địa vị tối cao của Hành pháp. Từ
một dân biểu ở Hạ Viện, ông dược Nixon cất nhắc lên làm Phó Tổng thống,
vào hè 1974 (khi ông Phó Tổng thống Agnew từ chức). Sau đó, ông nhảy vọt
lên chức Tổng thống khi Nixon ra đi.
Và bộ hạ của ông Ford ở Bạch
Ốc đang cố vấn ông: “hăy đưa nước Mỹ ra khỏi Việt nam chứ chớ có đưa vào
nữa!” (5)
Chú thích:
(1) Trích dẫn cuộc họp báo
của Tổng trưởng quốc pḥng Schlesinger, 14-l-1975, Bộ Quốc pḥng Hoa kỳ.
(2) Phỏng vấn Trần Văn Đôn,
10-4-1985.
(3) Về điểm này, ông Graham
Martin đă xác nhận với tác giả rằng theo ông, Quốc hội c̣n khá nhiều
thiện cảm với Miền Nam sau khi mang được tù binh và rút được quân về.
(4) Gerald Ford, A time to heal, trang 250-251.
(5) Henry Kissinger.
Ending the Vietnam war,
trang 536.
P3 - Chương 11
Che dấu Quốc hội, nhân dân
Hoa kỳ
Sau bao nhiêu thủ
đoạn của Kissinger, vào lúc sắp hạ màn, lại thêm một chuyện khó hiểu:
nhân dân Hoa kỳ không được nghe những lời cầu cứu của nhân dân Miền Nam,
v́ đă không có dấu vết ǵ là hai lá thư của Quốc hội VNCH cầu cứu Quốc
hội Hoa kỳ đă tới nơi!
Và như
vậy, chẳng những Quốc hội Hoa kỳ đă bị hoả mù hoàn toàn, không hay biết
ǵ đến những cam kết của Tổng thống Nixon, Ford, họ lại không có cơ hội
dù chỉ là để nghe lời cuối cùng do đại diện hai mươi triệu nhân dân Miền
Nam cầu cứu.
Trong cuộc họp ngày 22 tháng
3 tại Dinh Độc Lập với Chủ tịch Thượng Viện, ông Trần Văn Lắm, và Chủ
tịch Hạ Viện, ông Nguyễn Bá Cẩn, Ngoại trưởng Bắc và tôi, sau khi nghe
Tổng thống Thiệu giải thích vấn gọn về t́nh h́nh và những việc phải làm,
ông Lắm đề nghị là Quốc hội Việt nam phải lên tiếng cầu cứu nhân dân Hoa
kỳ qua Quốc hội Mỹ. ông Thiệu rất đồng ư: "Nhân dân Hoa kỳ phải có cơ
hội nghe ḿnh nói sự thật. Vấn đề là dưới h́nh thức nào?"
Sau khi bàn bạc mọi khía cạnh, ông Lắm đi tới kết luận là Quốc hội VNCH
nên viết ba tối hậu thư cầu cứu Mỹ: một cho Tổng thống Ford, một cho ông
Nelson Rockefeller, Chủ tịch Thượng Viện (v́ ông ta là Phó Tổng thống,
nên theo hiến pháp, cũng là Chủ tịch Thượng Viện), và một cho ông Carl
Albert, Chủ tịch Hạ Viện.
Là người b́nh thường rất điềm đạm, vui vẻ, ân cần, ít để lộ xúc cảm
riêng tư, ông Lắm hôm ấy cũng hết sức xúc động. Ông vừa đi Washington
cầu viện tại Quốc hội Mỹ về được vài tuần và đă báo cáo dứt khoát là
không những sẽ không có khoản 300 triệu mà cả quân viện cũng có thể bị
cắt.
Ông kể lại những ǵ ông đă được nghe vào lúc Hoà Đàm Paris sắp kết thúc.
V́ ông là người sẽ phải kư vào Hiệp định cùng với Henry Kissinger,
Kissinger đă cố thuyết phục ông. Trong lúc chỉ có hai người ngồi họp,
một cách trịnh trọng ông
Kissinger đă lặp đi lặp lại với ông Lắm "những cam kết hết sức chặt
chẽ". Ông phàn nàn: "Không thể tưởng tượng được! Làm sao một đại cường
quốc như Hoa kỳ mà lại có thể xử sự như vậy?". Rồi bằng giọng xúc động,
và nghiêm nghị, ông kể ra năm điều cam kết Kissinger đă nói riêng với
ông, trước khi ông đại diện VNCH kư vào bản Hiệp định:
thứ nhất, Kissinger đă nói với tôi rằng mười lăm ngày sau khi kư
kết thoả ước, Bắc Việt sẽ ngưng xâm nhập miền Nam từ ngả Lào, như vậy là
chấm dứt được việc tăng cường lực lượng của chúng tại miền Nam. Vậy mà
khoản này đă bị vi phạm trắng trợn, một cách có hệ thống;
thứ hai, ông ta đă bảo đảm rằng Nga Xô và Trung Cộng sẽ dùng ảnh
hưởng của họ để bắt Bắc Việt phải tôn trọng Hiệp định;
thứ ba, ông ta thề sống, thề chết là nếu Hiệp định bị vi phạm,
Hoa kỳ sẽ đáp ứng quyết liệt, với toàn lực chống Bắc Việt;
thứ tư, khi thảo luận riêng tư, Kissinger đă hứa Hoa kỳ sẽ thi
hành việc thay thế quân cụ theo tiêu chuẩn một-đổi-một như Hiệp định cho
phép. Cũng theo hứa hẹn đó, Kissinger nói Hoa kỳ sẽ cung ứng quân viện
đầy đủ để VNCH tự vệ, sử dụng quyền tự quyết và;
thứ năm, Kissinger nhắc lại Tổng thống Nixon đă cam kết sẽ viện
trợ kinh tế đầy đủ để tái thiết". Hiệp định Paris, như Kissinger đă
thường nói với tôi và phái đoàn VNCH tại Paris, trong nhiều dịp, "Chỉ là
một mảnh giấy; điều đáng kể là quyền lực của vị Tổng thống Hoa kỳ làm
hậu thuẫn cho nó".
Thấy ông Lắm tiết lộ như vậy tôi thầm nghĩ lại sao ngay tại buổi họp
giữa Ngoại trưởng Lắm và Cố vấn Kissinger, lại không có những bước tiếp
theo? Thường là sau các buổi họp quan trọng, có tính cách thương thuyết
th́ bắt buộc phải có Bản Ghi Nhớ. Bản này ghi lại những điểm
chính, hai bên cùng kư tắt vào để làm bằng chứng, lưu vào hồ sơ. Giá như
Ngoại trưởng Lắm có được một Bản Ghi Nhớ (tháng 1, 1973) giữa ông
và Kissinger như vậy th́ trong những chuyến đi cầu viện tại Washington
năm 1974 và 1975 (với tư cách là Chủ tịch Thượng Viện VNCH) ông đă có
được những lư do chính đáng để tiến bộ.
Quốc hội VNCH cầu cứu Tổng thống Hoa kỳ
Giờ đây th́ đă muộn, nhưng năm điểm cam kết Ngoại trưởng Lắm đưa ra đă
được dùng làm nội dung chủ yếu của bức thư duy nhất trong lịch sử do
Quốc hội VNCH gửi cho Tổng thống Hoa kỳ. Lời lẽ thống thiết, bức thư c̣n
dựa trên căn bản t́nh nghĩa của một Đồng minh đă cùng chiến đấu với Hoa
kỳ trong hai thập niên. Thêm vào đó, nó c̣n viện dẫn tính cách quốc tế
của Hiệp định Paris: là đă được một Hội nghị quốc tế (tiếp theo
Hiệp định) xác nhận giá trị của nó.
Về điểm này, suy nghĩ lại, tôi thấy hai ông Nixon-Kissinger rất khôn.
Thay v́ yêu cầu Quốc hội Mỹ phê chuẩn Hiệp định Paris, và như vậy có
tính cách ràng buộc đối với Mỹ, họ lại tổ chức một Hội nghị Quốc tế
(có Tổng thư kư Liên Hiệp Quốc tới dự) để xác nhận "tính cách
quốc tế" của nó. Như vậy là Hiệp định đă có giá trị với quốc tế,
VNCH cứ an tâm.
Lá thư gửi Tổng thống Ford như sau:
Việt nam cộng hoà
Thượng Viện
Sài g̣n, Ngày 24 tháng 3, 1975
Kính gửi
Tổng thống Gerald Ford
Toà Bạch Cung
Thưa Tổng thống:
Đại diện cho Lưỡng Viện Quốc hội nước Việt nam cộng hoà, chúng tôi
mạnh bạo viết cho Ngài thay mặt hai mươi triệu nhân dân Miền Nam, kể cả
trên một nửa triệu người di cư mới đây v́ những tấn công của Bắc Việt.
Chúng tôi cũng đang viết cho Ngài với tư cách là một Đồng minh v́
cuộc chiến này đă được khởi sự, kéo dài và nuôi dưỡng - không phải do
Hoa kỳ hay Miền Nam VN- đă ràng buộc vận mệnh của hai nước chúng ta
trong hai thập niên vừa qua.
"Chúng ta đă cùng nhau chấp nhận thử thách của cuộc chiến, nên giờ
đây cũng chỉ là chuyện dĩ nhiên mà chúng ta cố gắng giải quyết vấn đề
cùng với nhau. Cùng nhau chúng ta đă tới hoà đàm Paris, và cùng nhau
chúng ta đă kư kết bản Hiệp định đ́nh chiến văn hồi hoà b́nh tại Việt
nam…
"Hiệp định này đă được một Hội nghị quốc tế minh định rơ ràng những
bảo đảm của tất cả các cường quốc về giá trị pháp lư của nó, bằng một
Đạo luật quốc tế.
V́ tin tưởng vào đó mà
chúng tôi, ngành Lập pháp của VNCH đă thúc đẩy Tổng thống chúng tôi kư
kết Hiệp định Paris, giúp mang lại kết thúc danh dự cho việc can thiệp
trực tiếp của quân đội Hoa kỳ vào Việt nam…
Vào thời điểm đó, chúng
tôi đă được Hoa kỳ cam kết rằng… (đoạn này trong lá thư đă liệt kê năm
điểm như ông Lắm đă tŕnh bày ở trên)
"Bởi vậy, giờ đây với
tính cách khẩn cấp… chúng tôi trân trọng yêu cầu Ngài thi hành bất cứ
biện pháp nào cần thiết để:
1. Văn hồi t́nh trạng ban
đầu của Hiệp định Paris, đó là đẩy lui lực lượng Cộng sản trở lại những
địa điểm của họ như vào ngày 27 tháng 1, 1973;
2. Cung cấp cho chúng tôi những phương tiện khẩn cấp để đẩy lui cuộc
tấn công hiện nay.
"Để kết thúc, chúng tôi xin cảm ơn Ngài về những yểm trợ mạnh mẽ Ngài
đă dành cho cuộc đấu tranh chung của chúng ta.
"Kính chúc Ngài luôn luôn thành công trong khi thi hành những trách
nhiệm lớn lao của Ngài.
Trân trọng,
Nguyễn Bá Cẩn, Chủ tịch Hạ Viện VNCH
Trần Văn Lắm, Chủ tịch Thượng Viện VNCH
Cầu cứu Quốc hội Hoa kỳ
Ngày hôm sau, cả hai Chủ tịch Thượng và Hạ Viện VNCH gửi thư cho lưỡng
Viện Quốc hội Hoa kỳ. Lá thư được gửi qua ngả ngoại giao: từ Toà đại sứ
Mỹ ở Sài g̣n về Bộ Ngoại giao. Nội dung như sau:
Việt nam cộng hoà
Thượng Viện
Sài g̣n, ngày 25 tháng 3, 1975
Kính gửi
Ngài Nelson Rockefeller
Chủ tịch Thượng Viện Hoa kỳ
Washington D.C.
Hai tháng trước đây, chúng tôi đă có dịp được đề cập tới Ngài về hậu
quả trầm trọng của việc cắt quá nhiều quân viện trong cuộc chiến đâu với
kẻ thù chung của cả hai quốc gia…
"Trong hai thập niên qua,
Hoa kỳ đă thuyết phục nhân dân Miền Nam, bằng lời nói và bằng việc làm,
để họ đứng lên đương đầu với Cộng sản. V́ tin tưởng vào Hoa kỳ, họ đă
đặt cả mạng sống của họ và của gia đ́nh họ vào sự chân thành về những
hứa hẹn của Hoa kỳ. Chẳng c̣n nghi ngờ ǵ nữa rằng Cộng sản sẽ không tha
thứ cho nhân dân chúng tôi v́ đă chọn lựa đứng về phe Thế giới tự do…
"V́ vậy trong giờ phút nguy nan này, chúng tôi thấy cần phải lên
tiếng một lần nữa để khiếu nại tới Quốc hội và Chính phủ Hoa kỳ để xin
tôn trọng những cam kết với một Đồng minh.
"Chúng tôi xin long trọng
nhắc lại nơi đây những ǵ Hoa kỳ đă hứa hẹn với chúng tôi vào lúc kư
Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1, 1973 để mang được trên năm trăm tù binh
về Mỹ.
(liệt kê năm điểm như ông
Lắm tŕnh bày ở trên đây)
Trước sự tấn công trực
tiếp vào nền tảng của Hiệp định Paris cũng như vào căn bản của những hứa
hẹn (liên hệ), và vào những cam kết của bốn Tổng thống Hoa kỳ, chúng tôi
long trọng cầu cứu mong Ngài và Chánh phủ Hoa kỳ có những hành động tức
khắc và mạnh mẽ để phục hồi Hiệp định Paris như đă kư kết ngày 27 tháng
1, 1973, đó là:
1. Đẩy lui quân đội Bắc
Việt trở lại vị trí của họ như lúc kư Hiệp định; và
2. Kịp thời tiếp liệu cho chúng tôi tất cả những phương tiện cần
thiết để tái lập cán cân lực lượng, cũng như để chúng tôi tự bảo vệ…
Thưa Ngài Chủ tịch, chúng tôi sẽ rất biết ơn để yêu cầu Ngài thông
báo nội dung của bức thư này cho các quư vị nghị sĩ tại Thượng Viện Hoa
kỳ.
Trân trọng,
Nguyễn Bá Cẩn, Chủ tịch
Hạ Viện VNCH
Trần Văn Lắm, Chủ tịch
Thượng Viện VNCH
Và thư thứ hai, cùng một nội
dung, được gửi cho Chủ tịch Hạ Viện, ông Carl Albert.
Trước văn bản cuối cùng như
trên, một bản thảo đă được chuyển sang để ông Thiệu thêm ư kiến. Ông phê
vào bản thảo (bằng bút ch́) mấy điểm phản ảnh những ǵ ông suy nghĩ. Ông
phê bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh những ư như sau:
- hậu quả của thiếu quân viện và tăng cường của CS: cán cân lực lượng
cho thấy về khả năng lưu động và hoả lực, chỉ c̣n 40%;
- phải tái phối trí trước viễn ảnh Quốc hội không viện trợ nữa;
- phải phối trí không phải là bại trận, v́ không thiếu ư chí chiến đấu,
+ Quảng Đức (dấu + có nghĩa là "tích cực")".
Ta có thể giải thích mấy điểm này như sau:
Điểm thứ nhất và thứ ba: ông biện hộ cho thất bại trên chiến trường;
Điểm thứ nhất và thứ hai cho ta thấy động lực làm ông đi tới quyết định
"tái phối trí" (rút Pleiku);
Điểm thứ tư: Ông muốn nói tới chiến thắng ở Quảng Đức. Chứng tỏ Miền Nam
không thiếu ư chí chiến đấu.
Chờ đợi Washington phản ứng
Chính phủ và Quốc hội VNCH chờ đợi từng giây phút tin tức về những lời
cầu cứu cuối cùng của cả Hành pháp lẫn Lập pháp.
Ngày mồng 2 tháng 4, sau khi Đà Nẵng đă thất thủ, Tổng trưởng quốc pḥng
James Schlesinger (lúc đó chưa được xem những thư mật tôi nhờ Von Marbod
chuyển cho ông) trong một cuộc họp báo, vẫn c̣n nói "tương đối ít có
đánh nhau lớn" tại Việt nam. Schlesinger đă muốn giảm thiểu tầm quan
trọng của cuộc khủng hoảng. Thực ra ông đă tin rằng sau khi mất Đà Nẵng
th́ chuyện đă xong rồi, và mối quan tâm lớn của Hoa kỳ chỉ c̣n là làm
sao di tản an toàn số 6000 người. Trước khi Weyand đi Sài g̣n,
Schlesinger đă dặn ḍ: Fred, nên thận trọng. Đừng hứa hẹn quá nhiều.
Đừng để ḿnh bị vướng vào cái quan niệm rằng ḿnh sẽ đảo ngược ngọn
triều. Triều nước đang xuống gần hết rồi" (1).
Nói cách khác, Schlesinger và Morton Abramovitz, Phó Tổng trưởng quốc
pḥng đặc trách An ninh quốc tế đều tin rằng chiều hướng của cuộc chiến
đă hoàn toàn bất lợi cho VNCH, và chẳng c̣n cách nào đảo ngược nó được
nữa.
Ngày 5 tháng 4 th́ đến lượt Kissinger. Mười ngày sau khi Tổng thống và
Quốc hội VNCH cầu cứu, Kissinger họp báo về chuyện công tác của tướng
Weyand. Ông hoàn toàn không nói ǵ tới bốn bức thư khẩn mà chỉ biện hộ
cho việc cứu xét số tiền viện trợ quân sự 722 triệu do Weyand đề nghị.
Thực ra, chỉ là một hành động chiến lược: Kissinger thừa biết Quốc hội
sẽ khước từ khoản này, nhưng cứ đưa ra để c̣n đặt trách nhiệm cho Quốc
hội về việc mất miền Nam.
Ngoài ra c̣n mục đích khác, mục đích phối lộ", đó là để trấn an Miền
Nam, giúp cho việc rút ra cho an toàn (xem Chương 13) (2).
Ngày 6 tháng 4, trên chương tŕnh truyền h́nh hàng tuần "Đối diện với
Quốc dân" ("Face the Nation"), Schlesinger lại tuyên bố: "Thật rơ
ràng là chữ đại tấn công là chữ có lẽ nên được để trong ngoặc kép. Những
ǵ đă xảy ra chỉ là một sự suy sụp một phần nào của lực lượng Nam VN; v́
thế đă rất ít có đánh nhau lớn kể từ trận đánh Ban Mê Thuộc, và chính
trận này cũng đă là một ngoại lệ".
Khi nghe vậy, tướng Homer Smith, Trưởng Pḥng Tuỳ viên quốc pḥng tại
Sài g̣n, bực ḿnh đến độ ông đă đánh điện về Washington phủ nhận quan
điểm của Schlesinger.
Smith nói: "Trái lại, hiện thời đang có đánh nhau lớn dọc theo vùng
duyên hải và tại những khu vực chân đồi từ phía Nam Phú Bài cho tới
Khánh Dương tại tỉnh Khánh Hoà". Ông liệt kê những mặt trận đang diễn ra
lúc đó rồi kết luận: "Trân trọng đề nghị Tham mưu trưởng Liên quân cho
ông Tổng trưởng học thuộc những sự kiện này để (ông ta) có thể tŕnh bày
cho dân chúng Mỹ biết một cách chính xác những ǵ đă xảy ra. Hiện nay
quả đang có diễn tiến một cuộc "đại tấn công" (3).
Tổng trưởng quốc pḥng giác ngộ
Ngày hôm sau, Von Marbod từ Palm Spring về Washington với tướng Weyand,
đă tới ngay văn pḥng Schlesinger để đưa cho Schlesinger xem mấy bức thư
của Tổng thống Nixon.
Đọc xong, ông đă hết sức ngạc nhiên! Nhất là sau khi mới đây, không biết
v́ áp lực hay sao mà ông lại như cố t́nh giảm bớt cường độ khủng hoảng
tại Miền Nam. Bất chợt, ông mới biết là chính ông Ford cũng đă bị hoả
mù. Là Tổng trưởng quốc pḥng của một Đại cường quốc, ông cảm thấy phần
nào cũng có mặc cảm v́ chính ông cũng đă bị bưng bít. Sau này ông đă
b́nh luận: "Tôi tin rằng Tổng thống Ford đă bị lừa bịp về những lá
thư này…" (4).
Dù là đă quá muộn, ông muốn
Quốc hội Hoa kỳ phải biết việc này. Là viên chức cao cấp bên hành pháp,
ông không thế trực tiếp thông báo cho Quốc hội. V́ vậy, ông đi qua ngả
liên lạc cá nhân. Schlesinger khá thân cận với Thượng nghị sĩ Jackson và
thường liên lạc với phụ tá của ông ta là Richard Perle.
Quốc hội và nhân dân Mỹ không hay biết?
Ngày 8 tháng Tư, tại Washington, Thượng nghị sĩ Henry Jackson (Dân chủ,
Washington) công khai tố cáo đă có "những thoả ước mật" giữa Hoa
kỳ và Việt nam. Jackson nói ông đă được nguồn tin đáng tin cậy cho biết
rằng "những thoả ước ấy bây giờ được tiết lộ là chính ngay cả Tổng thống
cũng chỉ mới được nghe nói về chúng mấy hôm gần đây thôi".
Đáp ứng lời tố cáo của Jackson, chính quyển Ford công khai phủ nhận là
đă không hề có một mật ước nào hết. Toà Bạch Ốc bối rối, họp bàn cách
đối phó. Phụ tá Báo chí Ron Nessen viết lại trong Hồi kư (1978):
Sau những cuộc bàn bạc rất lâu giữa các ông Ford, Kissinger, Scowcroft,
Rumsfeld và tôi, tôi được phép xác nhận là Tổng thống Nixon và Tổng
thống Thiệu có trao đổi thư tín riêng, nhưng phải nói là: những lời
tuyên bố công khai hồi đó đă phản ảnh nội dung những liên lạc riêng tư
ấy rồi". (5).
Henry Kissinger không chịu b́nh luận trực tiếp, nhưng cho phép một phát
ngôn viên của Bộ Ngoại giao nhắc cho báo chí biết về một lời tuyên bố
trước kia của ông ta nói rằng Hoa kỳ "không có cam kết theo luật
pháp" nào hết và những nghĩa vụ của Hoa kỳ chỉ là "cam kết tinh
thần". Giới báo chí xôn xao về lời tố cáo của Jackson, nhưng không
một ai đưa ra được việc trao đổi thư tín riêng với ông Thiệu.
Tuần báo TIME số ngày 21 tháng 4 c̣n làm ngay một nghiên cứu về
"Ghi chép về những hứa hẹn đối với Sài g̣n" (Records on Promises to
Saigon") và cũng chẳng t́m được ǵ đúng như những lời tố cáo của
Jackson. Bài này trích một cuộc họp báo của Kissinger sau Hiệp định
Paris.
Hỏi: Có nghị định thư nào (protocols) đă được thoả thuận (với
Miền Nam) không?
Kissinger: Không có sự thông cảm (understanding) bí mật nào hết.
Đúng là mánh khoé, quanh co:
chỉ có "thư tín" thôi chứ đâu có sự "hiểu ngầm, thông cảm nào" (xem
chương 2 về trường hợp Kissinger trả lời quanh co cho Bob Haldeman, Phụ
tá Nixon).
Uỷ ban Ngoại giao Thượng
Viện cũng yêu cầu Toà Bạch Ốc cho xem những thư tín Nixon - Thiệu, nhưng
ông Ford phản đối. Ông viết cho Uỷ ban:
"Tôi đă duyệt lại hồ sơ liên lạc ngoại giao riêng tư. V́ lẽ chính sách
và ư định chứa đựng trong các sự trao đổi này đă được công bố rồi, cho
nên không có một điều bí mật nào phải dấu diếm Quốc hội hay dân chúng Mỹ
cả" (6).
Trong hồ sơ của Hội đồng an ninh Quốc gia, theo Nessen, t́m thấy có bẩy
lá thư Nixon viết cho ông Thiệu. Vậy th́ những lá thư kia (riêng của ông
Nixon, chưa kể thư ông Ford) đă chạy đi đâu? Sau này Nessen mới thú
nhận: "Thực ra, những lời đảm bảo riêng tư của Nixon hứa với Thiệu đă đi
xa hơn những lời tuyên bố yểm trợ (Việt nam) hồi ấy" (7).
Là người đă từng chống chiến tranh từ ngày c̣n là phóng viên hăng NBC
tại Việt nam (ông lấy vợ Việt nam), bây giờ ở địa vị quyền hành, Nessen
không muốn ông thầy ḿnh vướng mắc thêm vào Việt nam nữa. Ngoài
Kissinger, có lẽ ông là người được ông Ford tin dùng nhiều nhất. Để trả
lời những câu hỏi về vấn đề Tổng thống Ford có cam kết ǵ với VNCH hay
không, Nessen công nhận là ông Ford có viết thư riêng cho ông Thiệu,
nhưng lại không chịu nhắc ǵ tới lá thư đề ngày 9 tháng 2, 1974, một
ngày sau khi nhậm chức, trong đó, Tổng thống Ford đă tái xác nhận những
lời cam kết giữa Hoa kỳ và VNCH (của Nixon trước kia), và hứa rằng nó sẽ
được "hoàn toàn tôn trọng trong nhiệm kỳ của tôi".
Trong cuộc phỏng vấn với chúng tôi mười năm sau, ông Ford kể lại rằng
hồi đó "tôi có biết qua loa về sự trao đổi thư từ giữa Nixon và Thiệu,
nhưng tôi đă không được đọc hết" (8).
Sau đó, ông viết tặng tôi một cuốn "Hồi kư" của ông: "To Greg Hung, with
warmest best wishes" (Tặng ông Hưng với những cầu chúc nồng nàn và tốt
đẹp nhất; tên Công giáo của tôi là Gregory).
Một nghĩa cử trông cho đẹp
Lúc trở về Washington, Ford mới quyết định xem phải đối phó như thế nào
với bản phúc tŕnh của Weyand. Ông sắp ra trước Quốc hội để phúc tŕnh
về "t́nh trạng thế giới". Đó là dịp ông dự định sẽ xin
thêm 722 triệu đô la quân viện bổ túc cho VNCH như tướng Weyand đề nghị.
Cả Kissinger lẫn Nessen đều khuyên ông Ford hăy tránh né đi, đừng xin
thêm quân viện nữa. Nhưng có lẽ v́ đă được đọc mấy lá thư của Tổng thống
Nixon viết cho ông Thiệu, nên Tổng thống Ford không nghe lời cố vấn của
hai ông này. Ông Ford ghi lại trong hồi kư:
"Henry Kissinger đă hối thúc tôi phải nói với dân chúng Mỹ rằng Quốc hội
Mỹ phải gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm về t́nh h́nh tan ră tại Đông Nam
Á. Quả thế, Henry đă thảo một bài diễn văn thuộc loại "cháy nhà b́nh
chân như vại" (go down with the flag flying) để cho tôi đọc. Trực
giác bảo cho tôi đó không phải là đường lối đúng cho lúc này" (9).
V́ Ford đă tiết lộ ra như vậy, Kissinger bào chữa mới đây trong cuốn
Chấm dứt chiến tranh VN (2003) rằng ông đă nói với ông Ford:
"Tim tôi đang rỏ máu khi phải nói điều này – nhưng có thể Ngài phải bỏ
vấn đề Việt nam ra đàng sau lưng để đất nước không bị xâu xé thêm nữa…"
Nhưng ông Ford không muốn nghe v́ như ông nói: "Nó đi ngược bản chất của
tôi"
Sau tất cả những hành động
gian dối và tàn nhẫn đối với Việt nam chúng ta có thể tin được là tim
ông Kissinger "đang rỏ máu" hay không?
Ngày 9 tháng 4, ngày trước
khi ông Ford ra Quốc hội, Kissinger c̣n đem lời Ron Nessen (người mà
Ford rất tin tưởng) ra để khuyên ông Ford: "Tổng thống phải lănh đạo đưa
nước Mỹ ra khỏi Việt nam chứ chớ có đưa vào nữa".
Buổi tối cùng ngày, một bức
điện do Đại sứ Phượng đánh từ Washington nhận định rất bi quan về t́nh
h́nh của khoản tiền mà Ford sắp đưa ra. Mọi người lo lắng đợi xem Ford
nói thế nào với Quốc hội. Liệu ông có nói ra hết sự thật cho Quốc hội
không? Liệu ông có công bố bức thư ông Thiệu, của Quốc hội VNCH nhân
danh hai mươi triệu dân? Hoàn toàn không.
Mới đầu, Ford giải thích chính xác những hành động của Hoa Kỳ:
V́ luật pháp, ta tự ngăn cấm ta sử dụng khả năng bắt buộc phải tôn trọng
Hiệp định (đ́nh chiến), như vậy cho Bắc Việt cái đảm bảo là họ có thể vi
phạm Hiệp định ấy mà không bị trừng phạt;
Kế đó, ta đă giảm viện trợ kinh tế và vũ khí cho miền Nam Việt nam;
"Sau hết, ta đă ra dấu hiệu cho biết càng ngày ta càng miễn cưỡng không
muốn hỗ trợ dân tộc ấy nữa, trong lúc họ đang tranh đấu để tồn tại".
B́nh luận như vậy rồi, ông đưa ra hai giải pháp lựa chọn:
"Hoặc là Hoa kỳ có thể không làm ǵ hết, hoặc: tôi có thể yêu cầu Quốc
hội thẩm quyền để bắt phải tôn trọng Hiệp định Paris bằng cách sử dụng
quân đội, xe tăng, máy bay, và trọng pháo của ta, để đẩy chiến tranh về
phía bên địch".
Nói xong, ông đặt ra hai giải pháp khác "hạn hẹp hơn": hoặc giữ chặt lấy
yêu cầu hồi tháng Giêng xin 300 triệu đô la bổ túc, hoặc tăng số yêu cầu
viện trợ quân sự và nhân đạo khẩn cấp. Ông lập luận rằng: tăng viện sẽ
có thể làm cho Miền Nam chặn đứng và đẩy lui được cuộc xâm lăng đang
tràn tới, ổn định t́nh h́nh quân sự, đem lại cơ hội hoà giải chính trị
qua đường lối thương thuyết giữa Bắc và Nam Việt, và, nếu như t́nh trạng
tồi tệ nhất xảy ra, ít nhất cũng di tản được trong ṿng trật tự kiều
dân và một số những người Miền Nam bị nguy hiểm tới chỗ an toàn"(10).
Sau cùng ông yêu cầu Quốc hội chấp thuận ngân khoản 722 triệu.
Nhưng dù có xin thêm quân viện, đây có thể cũng chỉ là một hành động
chiếu lệ, v́ sau khi yêu cầu, ông Ford lại ấn định một hạn chót
để cho Quốc hội phải quyết định. Hạn chót đó là ngày 10 tháng 4,
1975, tức là chỉ c̣n có 10 ngày. Người ta có cảm tưởng là ông Ford
vừa đưa ra thỉnh cầu về quân viện, vừa mở đường cho Quốc hội từ chối.
Ngoài ra ông c̣n nói tới di tản.
Thực vậy, công khai th́ xin thêm viện trợ trước Quốc hội, nhưng trong
hậu trường th́ lại khác. Sau những bài diễn văn của Tổng thống, thường
thường Toà Bạch Ốc có những thuyết tŕnh" (briefing), giải thích riêng
cho báo chí về lập trường của Tổng thống. Dịp này, không biết báo chí đă
được hướng dẫn như thế nào mà tờ tuần báo TIME (số ngày 21/4) đă
b́nh luận: "Những biện hộ công khai và những thuyết tŕnh tuy
riêng tư nhưng là chính thức, đă đặt ra những câu hỏi (làm cho chúng
tôi) hoang mang: có phải thực sự ông Ford đă yêu cầu viện trợ nhưng
chẳng mong ǵ Quốc hội sẽ chấp thuận, hoặc là ông cho rằng quân viện sẽ
c̣n giúp được ǵ để ổn định t́nh h́nh quân sự tồi tệ ở Miền Nam? Nếu ông
nghĩ như vậy (c̣n giúp được) th́ có phải là những thuyết tŕnh sau hậu
trường của nhân viên ông đă đánh bại mục tiêu của ông rồi phải không?
(11)
Tổng thống Ford đă đặt hoàn toàn trách nhiệm trên vai Quốc hội. Tờ
TIME đặt câu hỏi: "Hay là ông Ford đă dựng Quốc hội lên như một bung
xung để rồi đổ lỗi cho Quốc hội v́ không cấp quân viện nên Miền Nam sụp
đổ? (12).
Ben Scowcroft, Phụ tá Tổng thống Ford, đă có câu trả lời rơ ràng trong
cuộc phỏng vấn với chúng tôi mười năm sau:
“Thực ra, không một ai trong chúng tôi tin rằng sẽ xin Quốc hội được
khoản tiền ấy (722 triệu đô la). Việc xin như vậy chỉ là cách làm cho
chúng tôi trông có vẻ như vẫn c̣n thật ḷng về tất cả những cố gắng này.
Chúng tôi chỉ quan tâm đến cách rút đi và giải kết mà thôi" (13).
Và Phillip Habib, Phụ tá Ngoại trưởng, đặc trách về Đông Nam Á -Thái
B́nh Dương cũng nói là hồi đó ông họp với các nghị sỹ Quốc hội để thúc
giục họ chấp thuận chi viện "để rồi "nếu miền Nam có thất bại th́ sẽ
không phải v́ lư do là ta đă không cung cấp cho họ quân viện" (14). Sau
này, Tổng trưởng Schlesinger b́nh luận:
"Hồi đó, tôi vô cùng sửng sốt khi được xem những lá thư đó. Tôi đă thật
sự bối rối, nhất là v́ chính quyền hồi đó đang muốn tung ra chiến dịch
t́m cách đổ lỗi cho Quốc hội về sự bại trận tại miền Nam Việt nam" (15).
Trong giờ phút nguy kịch như vậy, mà Tổng thống Ford chỉ bàn tới vấn đề
Miền Nam trong khuôn khổ một bài diễn văn về "T́nh trạng an ninh thế
giới" rất dài bao gồm đủ mọi đề tài kể cả chuyện viếng thăm sắp tới của
Hoàng đế Nhật Bản, đạo luật ngoại thương 1974, chính sách hoà hoăn với
Nga Sô, đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược, vấn đề năng lượng, và những
tài nguyên vùng đại dương. Trong điện văn do Đại sứ Phượng đánh về ngày
11 tháng 4 có viện dẫn lời Dân biểu Holt "tóm gọn là ông Ford đă không
thành công trong việc thuyết phục cho Miền Nam"
Tệ hại hơn nữa: ông Ford tuy có đọc cho Quốc hội nghe một lá thư cầu cứu
của quyền Tổng thống Kampuchia, nhưng tuyệt đối không đả động ǵ đến
toàn bộ bốn văn thư cầu cứu của VNCH.
Dinh Độc Lập bối rối, rất lo ngại về việc im lặng này. Tới lúc đó th́
mọi người đă tự t́m ra câu trả lời. Để cho bầu không khí bớt căng thẳng,
tôi nói đùa chua chát với Chủ tịch Lắm: "Lần sau, cụ nên đích thân
mang thư tới Quốc hội Mỹ th́ có lẽ chắc ăn hơn". Ông Lắm không thay
đổi nét mặt.
Như vậy là toàn bộ những văn kiện, cam kết trao đổi miệng, liên hệ tới
sự sống c̣n của VNCH đă bị dấu nhẹm đi hết. Trước hết là 27 mật thư của
Tổng thống Nixon gửi Tống thống Thiệu từ 1972 tới 1973; sau đó là: Những
cam kết bằng miệng, do ông Kissinger thoả thuận với Ngoại trưởng Lắm lúc
kư Hiệp định Paris hồi tháng 1, 1973;
Rồi 4 bức thư của ông Ford trấn an ông Thiệu, từ hè 1974 tới cuối tháng
3, 1975;
Tới bức thư cầu cứu của ông Thiệu gửi ông Ford ngày 25 tháng 3, 1975;
Thư Quốc hội VNCH gửi Tổng thống Hoa kỳ ngày 24 tháng 3, 1975; và
Hai thư Quốc hội VNCH gửi Thượng Viện và Hạ Viện Hoa kỳ ngày 25 tháng 3,
1975.
Dây là những văn kiện lịch sử quan trọng giữa VNCH và Hoa kỳ chứ đâu
phải giữa những cá nhân Nguyễn Văn Thiệu với Richard Nixon; hay giữa
Trần Văn Lắm với Nelson Rockefeller, và giữa Nguyễn Bá Cẩn với Carl
Albert?
Trước khi sụp đổ, những lời cầu cứu sau cùng của đại diện dân cử Miền
Nam cũng không được nhân dân Hoa kỳ nghe tới, ta có thể khẳng định chắc
chắn được như vậy, v́ nếu hai lá thư của ông Lắm và ông Cẩn đă được
thông báo cho các Nghị sĩ, dân biểu, như phía VNCH yêu cầu, th́ chắc
chắn là các cơ quan truyền thông đă biết và đăng rầm rộ, b́nh luận sôi
nổi. Ít nhất là lương tâm của Hoa kỳ cũng được đánh động phần nào.
Trong tất cả Hồi kư của các ông Ford và Kissinger, kể cả của ông
Kissinger mới xuất bản năm 2003, cũng chỉ thấy in bức thư của ông Sirik
Matak, cựu Thủ tướng Kampuchia gửi Đại sứ Dan (ngày 12 tháng 4, 1975).
Ông Matak là người nghe lời khuyến dụ, đă đảo chính Cựu Hoàng Sihanouk
năm 1970. Vào giờ Kampuchia bại trận, ông là người đă chấp nhận ở lại và
từ chối đề nghị của Mỹ giúp di tản. Sau đây là lá thư ông Matak viết tay
và bằng tiếng Pháp cho Đại sứ Dan: (16)
Thưa Ngài Đại sứ và bạn thân mến,
Riêng với cá nhân Ngài và đặc biệt với xứ sở yêu dấu của Ngài, không bao
giờ, dù chỉ một giây lát, tôi đă dám tin rằng, các Ngài nỡ ḷng nào cam
tâm bỏ rơi một dân tộc đă chọn đứng về phía tự do. Các Ngài đă nhẫn tâm
từ bỏ, không bảo vệ chúng tôi, trong khi chúng tôi đang trong t́nh thế
thúc thủ chịu trận.
Các Ngài đang ra đi, tôi xin cầu chúc Ngài và đất nước Ngài sẽ t́m thấy
hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng, hăy ghi nhờ kỹ điều này, rằng nếu
tôi có chết ở dây, trên mảnh đất này và tại quê hương yêu dấu của tôi,
th́ đó là chuyện b́nh thường, v́ tất cả chúng ta đều được sinh ra th́
rồi cũng phải chết.
"Tôi chỉ ân hận là đă phạm một sai lầm lớn khi đặt ḷng ti tuyệt đối vào
quư Ngài"
Sirik Matak
Chính sách bất công của
Kissinger-Nixon đối với Kampuchia lại là chuyện khác và đă được tác giả
William Shawcross bàn đến trong cuốn Sideshow - Kissinger,
Nixon and the Destruction of Cambodia" (Simon and Schuster,
1979). Những hành động vô nhân, thiếu đạo đức mà ông đă hành xử đối với
một số quốc gia khác th́ mới đây đă được phanh phui trong cuốn "Xét
xử Henry Kissinger" (The Trial of Henry Kissinger) do tác giả
Christopher Hitchens xuất bản năm 2001.
Kissinger hoàn toàn phủ nhận
Tại một buổi điều trần trước
Uỷ ban chuẩn chi Hạ Viện, được hỏi rằng khi kư kết Hiệp định Paris,
những ǵ đă được cam kết với VNCH, Kissinger đă chối phắt đi: những cam
kết với VNCH đều có trong văn bản công khai rằng nếu miền Nam cho phép
chúng ta triệt thoái quân đội và do đó, có thể đưa cả tù binh Mỹ về, nếu
họ chấp nhận những điều khoản của Hiệp định Paris, th́ dưới những điều
kiện đó (…) chính quyền Hoa kỳ sẽ yểm trợ, và chúng tôi tin rằng Quốc
hội cũng sẽ đồng ư một mức độ viện trợ kinh tế đầy đủ" (17).
Kissinger nói rằng Hoa kỳ
chỉ hứa một mức viện trợ kinh tế đầy đủ mà thôi. Và về sự kiện
ông lập luận rằng "những cam kết với VNCH đều có trong văn bản
công khai", bạn đọc có thể tự ḿnh so sánh nó với một số văn kiện đă
được trích dẫn trong cuốn sách này.
Chuyện lạ là vào giờ chót
của VNCH, những văn kiện đó phải đi qua tay người này tới người kia rồi
mới tới tay lănh đạo tối cao của Hành pháp. Sau đó mới được rỉ tai sang
cho ngành Lập pháp hay biết. Tổng trưởng Schlesinger rất bất măn khi
biết rằng tôi đă phải nhờ cậy một người bạn là Von Marbod để chuyển mấy
bức thư của Tổng thống Nixon qua tướng Weyand, rồi mới tới tay ông; và
Weyand cũng đă phải dùng mưu mô để đưa được thư cho Tổng thống Ford đọc.
Schlesinger b́nh luận liếp:
"... dĩ nhiên là, như có
Chúa làm chứng, Quốc hội cũng đă có trách nhiệm về việc này. Nhưng có
điều chắc chắn là những luận điệu đâm sau lưng như vậy th́ không có ích
lợi ǵ cho quốc gia, nhất là khi mấy lá thư đó đang được chuyền tay…
Chứng thư này ít nhất đă chứng tỏ rằng Quốc hội đă không được thông báo
đầy đủ về bản chất những lời cam kết của Hoa Kỳ sau khi quân đội (Mỹ) đă
rút khỏi Miền Nam Việt nam.
Quốc hội không hề hay biết
chút ǵ về mấy lá thư khi họ bắt đầu chạy làng khỏi Việt nam vào mùa hè
1973" (18).
("I found them quite
shocking at the time. I was really disturbed by them, because the
admimstration wals in a period of launching an attempt to blame the
defeat in South Vietnam on the Congress, which Lord knows. had its
responsibilities. But it s sure as hell wasn t going to help the country
if we had a great stab-in-the-back argument, particularly given the fact
that the letters were floating around, which showed that, to say the
least, the Congress had noi been fully informed with regard to the
nature of our com mitments after the departure of our forces from South
Vietnam. Congress knew nothing of these letters, when it started bugging
out of Vietnam in the summer of 1973")
Ngày tôi ra sách, cuốn
"Palace File" (Hồ sơ mật Dinh Độc Lập), ông Schlesinger đă có
mặt. Đứng bên một người bạn tôi là anh Chu Xuân Viên, cựu tuỳ viên Lục
quân VNCH, Washington. Ông c̣n phàn nàn: "Giá như tôi có những tài liệu
này năm 1973 th́ chắc t́nh h́nh viện trợ đă khác rồi".
Về t́nh h́nh viện trợ và cán
cân lực lượng sau 1973, chính tướng Murray, Chỉ Huy Trưởng Pḥng Tuỳ
Viên Quân Sự Mỹ (DAO) đă nhận xét: sau khi rút hết lục quân, rút hết yểm
trợ của không lực và hải pháo đi, Mỹ lại chỉ bắt đầu yểm trợ Miền Nam
tương đương bằng 2% tổng số tiền đă dùng cho quân đội Mỹ. Đang khi đó,
189 tiểu đoàn của VNCH phải đương đầu với 330 tiểu đoàn (110 trung đoàn)
của Bắc Việt. Ông kết luận: "Ta nên nhớ Napoleon đă từng nói: "Thượng Đế
đứng về phe nào có các tiểu đoàn lớn nhất, mạnh nhất". Và đúng như vậy,
vào thời điểm đó, Thượng Đế đă đứng về phe cộng sản; quân họ đông hơn,
mạnh hơn. Và đó là lư do tại sao thua trận" (19).
C̣n về phần Kissinger, sau
khi mọi việc đă kết thúc, vào đầu năm 1980, ông viết cho Tổng thống
Thiệu một thư riêng có đoạn sau (xem Phụ Lục D). Thư này được gửi khi
tạp chí Der Spiegel (ở bên Đức) đăng tải một cuộc phỏng vấn với
ông Thiệu, đặc biệt là về những nhận xét của Kissinger về Việt nam trong
cuốn hồi kư "White House Years" (Những năm ở Bạch Cung):
Thưa Tổng thống,
"Tôi vừa mới được đọc bài
phỏng vấn Ngài dành cho tờ Der Spiegel. Tôi có thể hiểu được sự cay đắng
của Ngài, và quả thực c̣n thông cảm được với sự cay đắng ấy…
"Cuốn sách của tôi đă
không ngớt ca ngợi sự can đảm, tư cách đứng đắn, và công nhận rằng,
trong thực chất, Ngài đă đúng…
"Tôi vẫn c̣n tin rằng cán
cân lực lượng được phản ảnh trong Hiệp định Paris vẫn có thể duy tŕ
được, nếu như vụ Watergate đă không tiêu diệt đi cái khả năng của chúng
tôi nhằm giành được (sự chấp thuận) của Quốc hội viện trợ đầy đủ cho
Miền Nam Việt nam trong năm 1973 và 1974.
Giá như năm 1972 chúng
tôi đă biết được những ǵ sẽ xảy ra cho Hoa kỳ th́ chúng tôi đă không
tiến hành như chúng tôi đă làm…
"Tôi đồng ư với Ngài rằng
những điều khoản của (Hiệp định) ngưng chiến đă là khắc nghiệt…
Nếu thư Tổng thống Nixon
và tôi có ư định phản bội Ngài th́ chúng tôi đă có thể làm điều đó vào
năm 1969…
Tôi không trông đợi sẽ
thuyết phục được Ngài. Ít nhất tôi có thể cố gắng xin Ngài tin tưởng ở
ḷng hối hận và kinh trọng vẫn c̣n của tôi".
"Với những lời chúc tốt
đẹp nhất.
(kư) Henry Kissinger
Độc giả đọc chương 13 (đoạn
cuối) xem Kissinger đă "ca ngợi" ông Thiệu và đặc tính của con người
Việt nam như thế nào trong cuốn sách ông viết.
Chú thích:
(1) Phỏng vấn Morlon Abromavitz, 26-1-1986.
(2) Xem ghi chú 12, 13 và 14 của chương này.
(3) William E. Legro, Vietnam from cease-fire to capitulation, trang
172.
(4) Phỏng vấn Tổng trưởng Schlesinger, ngày 27-1 1-1985.
(5) Ron Nessen, It
sure looks different from the inside,
106.
(6) Ron Nessen, It
sure looks different from the inside,
106
(7) Ron Nessen, It
sure looks different from the inside,
106
(8) Phỏng vấn Gerald Ford, 10-2-1986.
(9) Gerald Ford, A time to heal, trang 253-254.
(10) New York Times, 11-4-1975, trang 10.
(11) Tạp chí TIME, ngày 21 tháng 4, 1975, trang 6-8.
(12) Tạp chí TIME, ngày 21 tháng 4, 1975, trang 6-8.
(13) Phỏng vấn Brent Scowcroft 5-3-1986. Xem N.T. Hưng and J. Schecter.
The Palace File, p. 309.
(14) Phỏng vấn Philip C. Habib, 30-12-1985.
(15) Phỏng vấn Tổng trưởng Schlesinger, 27-11-1985.
(16) Henry Kissinger,
Ending the Vietnam war,
trang
529-530.
(17) N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 337-338.
(18) N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 307-308.
(19) N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 358.
Khi đồng minh
tháo chạy - Phần cuối
P3 - Chương
12
Hăy giúp chúng tôi
Một ân huệ cuối
cùng
Trước bài diễn văn của Tổng thống Ford ngày 10 tháng 4,
1975 tại Quốc hội, ông Thiệu đă có ư định là ngay chiều cùng ngày sẽ lên
đài truyền h́nh nói chuyện với nhân dân và b́nh luận về những lời Ford
phát biểu ủng hộ VNCH.
Thế nhưng ông không t́m được một điểm nào tích cực trong bài diễn văn
của ông Ford. Tệ hơn nữa, Tổng thống Ford đă đ̣i Quốc hội phải làm một
hành động nào đó về đề nghị viện trợ "không muộn hơn ngày 19 tháng
4". Trong buổi họp để phân tích bài này, ông Thiệu hỏi tại sao ông
Ford lại tự trói ḿnh vào một thời hạn chót như vậy? Quốc hội mà bác đi,
là hết.
Ông bảo tôi theo dơi. Tôi hỏi ông Martin về lư do này, nhưng ông ta cũng
chỉ nói lơ mơ rằng "ngày 19-4 chỉ là ngày đưa ra cho Quốc hội hành động,
không có ǵ là quan trọng".
Buổi chiều ngày 11 tháng 4, 1975, một bức điện khác do Đại sứ Phượng ở
Washington đánh về thông báo "phản ứng mau lẹ và tiêu cực" của cấp lănh
đạo Quốc hội đối với ngay cả thỉnh cầu viện trợ khẩn cấp 722 triệu. Hôm
sau, tờ New York Times đăng tải lời tuyên bố của Thượng nghị sĩ
Jackson: "Yêu cầu ấy chết rồi. Không một ai trong phe mà tôi biết sẽ ủng
hộ nó"(1).
Ông Thiệu đang lưỡng lự chưa biết phải nói ǵ với đồng bào bây giờ, th́
Đại sứ Martin vẫn cố gắng nâng đỡ tinh thần, t́nh nguyện gợi ư những
điều để ông đưa vào bài diễn văn trên đài truyền h́nh. Những điểm này có
thể kể như sau:
Nhân dân Việt nam nồng nhiệt hoan nghênh những lời nói đầy cảm thông của
Tổng thống Ford;
Kêu gọi quân lực Việt nam hăy tiếp tục chiến đấu bảo vệ xứ sở một cách
anh dũng và can trường;
VNCH sẵn sàng thảo luận, và thi hành tức th́ giải pháp chính trị mà Hiệp
định Paris đ̣i hỏi;
Yêu cầu phía bên kia cùng ngồi xuống đàm phán để thực thi những điều
khoản chính trị của Hiệp định Paris, v.v…".
Hết viện trợ, xoay xở đi vay
Đọc xong, ông Thiệu không để ư tới những gợi ư, mớm lời của ông Martin,
và quyết định không đọc diễn văn trên đài truyền h́nh nữa. Ông lại càng
băn khoăn về hạn chót mà Ford đưa ra. Thấy chẳng c̣n làm ǵ được nữa,
ông quyết định khai thác một "kế hoạch đi vay".
Kế hoạch đi vay đă được nghiên cứu từ hè 1974. Vào lúc liên hệ giữa Sài
g̣n và Washinglon mỗi lúc một bi đát hơn, ông Thiệu có bàn với Đại sứ
Martin về việc yêu cầu Quốc hội cấp một ngân khoản cuối cùng cho
Miền Nam. Ông Martin hết sức đồng ư và bắt đầu vận động. Ngoài ra, ông
Thiệu c̣n cho nghiên cứu thêm một giải pháp pḥng hờ, một "Kế hoạch
vay viện trợ" (USAID loan plan). Ông coi kế hoạch này như một ân
huệ cuối cùng của Hoa kỳ đối với VNCH. Có lúc ông nói: "Bây giờ Việt
nam đă thành một t́nh nhân già, sắp bị bỏ rơi rồi".
Mọi hy vọng xin thêm viện trợ đă tan biến, Tổng thống Thiệu muốn đưa ra
một đề nghị yêu cầu vay để Quốc hội có thể cứu xét, và trong khi
đó, sẽ hoăn biểu quyết cắt viện trợ vào ngày 19 tháng 4. Vào thời điểm
này, Ngoại trưởng Bắc lại đang thương thuyết về khoản tiền của Vương
Quốc Saudi Arabia đă hứa cho vay.
Theo kế hoạch này, VNCH sẽ đề nghị với Quốc hội Hoa kỳ cho vay một khoản
liền, được bảo đảm bằng lợi tức dầu lửa sắp khai thác ở ngoài khơi. Nếu
được áp dụng, kế hoạch sẽ có thể chống đỡ được phần nào luận điệu
"Viện trợ th́ như thùng không đáy". Về phía VNCH, ông Thiệu tin rằng
vụ vay tiền lần chót sẽ bó buộc quân đội, Chính phủ lẫn nhân dân phải
đối diện với thực trạng của một vận hội cuối cùng. Nó cũng sẽ giúp ích
cho việc thiết kế quân sự, v́ Bộ Tổng tham mưu có thể dựa vào những mức
độ cũng như cơ cấu chắc chắn của viện trợ. Kế hoạch này sẽ giảm thiểu
tối đa thời gian chờ đợi đáng sợ và những bất ổn ghê gớm, có khi hàng
mấy tháng, hay cả năm trời của tiến tŕnh từ đề nghị tới chấp
thuận, rồi tới chuẩn chi, tới tháo khoán. Những cuộc
thảo luận về viện trợ trong ngành Lập pháp Hoa kỳ qua bao nhiêu tiểu
ban, thường quá lâu quá phức tạp, lại c̣n gây bất ổn về tinh thần.
Trong mấy tháng đầu 1975, ông Thiệu trắc nghiệm ư niệm vay mượn này với
một số nhà Lập pháp Hoa kỳ qua thăm Sài g̣n, th́ thấy phản ứng có chiều
thuận lợi. Nếu lập luận trên căn bản chỉ cần một khoản tiền khiêm nhượng
để tiến tới tự túc, tự cường trong mấy năm th́ có hy vọng hơn là tiếp
tục xin viện trợ.
Một cơ hội chót
Nhiều lần ông Thiệu đă nói tới việc chuyển từ chiến tranh kiểu Mỹ sang "chiến
tranh kiểu nhà nghèo". Phía Mỹ có vẻ thích cái ư kiến này.
Cuối tháng 2, 1975 Thượng nghị sĩ Sam Nunn (Dân chủ, Georgia), một nhân
vật có nhiều uy tín và là thành viên của Uỷ ban Quân Vụ Thượng Viện, khi
gặp ông Thiệu (tôi cùng tham dự) đă có phản ứng tích cực. Ông Nunn c̣n
đưa ư kiến này ra trong một bài xă luận của tờ Washington Post,
lập luận rằng Hoa kỳ cần phải giúp Miền Nam để có được một thời gian
chuyển tiếp v́:
Thời gian chuyển tiếp hết sức cần thiết bởi lẽ ta đă khuyến khích miền
Nam Việt nam tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu Mỹ với trang bị tinh vi
và tiếp liệu ồ ạt. Họ cần có thời gian để biến cải quân lực pḥng thủ xứ
sở theo kiểu của họ…"(2)
Trở về Washington để vận động viện trợ cho VNCH, Đại sứ Martin đă cố
gắng đưa ra lập luận "cơ hội chót" để thu phục sự hỗ trợ của các
giới cho kế hoạch của VNCH. Ông đă đề nghị ư kiến này với Tổng thống
Ford, Kissinger và báo chí Mỹ. Trong một bữa ăn trưa với các chủ bút của
tờ Washington Post, Martin đề cập đến việc "chiêu hàng" ư kiến
này. Ư kiến được ủng hộ và bài xă luận phản ảnh lập trường của tờ báo
quan trọng này kêu gọi "một quyết định vững chắc và cuối cùng giúp Sài
g̣n thêm ba năm nữa rồi hăy chấp nhận những kết quả, bất luận thế nào".
Hồi 1972 giữa lúc quân đội Hoa kỳ đang triệt thoái, hay 1973 sau Hiệp
định Paris nếu như VNCH đă vận dụng giải pháp xin vay như trên th́ khả
năng thành công đă cao hơn. Đây lại là một sơ hở khác nữa.
Ngày mồng 5 tháng 3, 1975, ư niệm đi vay được bàn luận trong một phiên
họp giữa ông Thiệu với dân biểu Steven Symms (Cộng hoà, Idaho) và Đại sứ
Martin. Tôi cùng tham dự. Ông Symms là một trong số rất ít dân biểu c̣n
để ư tới Miền Nam. Ông đă đáp ứng tích cực: "Nếu đào thấy dầu hoả, liệu
Ngài có sẵn sàng trả lại, thí dụ như mười phần trăm số tiền chuẩn chi đó
không?" Ông Symms hỏi. "Tiềm năng dầu hoả ngoài khơi Việt nam rất tốt;
Hoa kỳ có thể lấy đó làm thế chân", ông Thiệu đáp.
Để chứng thực sự cam kết của ḿnh, ông Thiệu hứa sẽ yêu cầu Quốc hội
VNCH biểu quyết cam kết lấy dầu hoả khai thác được trong tương lai làm
khoản thế chân cho tín dụng.
Hồi đó, giới chuyên viên của VNCH ước tính lợi tức tương lai từ dầu hoả
ngoài khơi mang lại sẽ vào khoảng một tư đô la mỗi năm, căn cứ
vào những kết luận kỹ thuật, tài chính và kinh tế của dự án "tiền khả
thi" của các công ty khoan dầu (hiện nay Việt nam đang xuất cảng
trên 3 tỷ đô la một năm).
Ông Vua hảo tâm
Sau bài diễn văn của Tổng thống Ford, ông Thiệu ra chỉ thị cho tân thủ
tướng Nguyễn Bá Cẩn thành lập một "nội cácchiến tranh" với tính
chất đoàn kết dân tộc bao gồm các lănh tụ đối lập, tôn giáo và lao động.
Lúc đó, ông muốn trao nhiều quyền cho nội các này với những nhân vật
mới. Ông Cẩn được bổ nhiệm thay thế Thủ tướng Khiêm ngày 5 tháng 4.
Ông Cẩn trước đó là chủ tịch Hạ Viện, là người miền Nam, trung thành với
ông Thiệu, nổi danh là người thanh liêm, hiền lành. Ông Cẩn mời tôi ở
lại làm việc trong Chính phủ mới.
Ngày 14 tháng 4, tân Thủ tướng tŕnh diện nội các lên Tổng thống. Trong
suốt buổi lễ, ông Thiệu tỏ ra căng thẳng, vẻ mặt xanh xao, dường như
những biến cố vừa qua đă tiêu hao hết nghị lực của ông. Cộng sản đă tiến
gần đến Phan Rang, nơi sinh trưởng của ông.
Thông thường, lễ tŕnh diện nội các như vậy phải chấm dứt bằng một bữa
tiệc do Tổng thống khoản đăi. Nhưng lần này, không khí nặng nề và ông
Thiệu quay về văn pḥng ngay sau buổi lễ. Ông có dặn tôi là vô gặp ông
sau đó.
Vừa vào pḥng, ông Thiệu đưa tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 do
Ngoại trưởng Bắc gởi từ London về. Ông Bắc vừa ở Saudi Arabia đi London.
Chuyến đi của ông có mục đích xin quốc vương Haled Crown, vừa kế vị vua
Faisal, đồng ư cho VNCH vay tiền như phụ vương của ông đă hứa trước khi
bị hạ sát (xem Chương 7):
London, Ngày 14 tháng 4, 1975
Công tác tôi đi Saudi Arabia đă được kết thúc thành công. Tôi được tiệp
kiến Vua Haled Crown, Hoàng tử Rahed và Hoàng tử Abdullah (cũng là Thủ
tướng đệ nhứt và đệ nhị Phó Thủ tướng. Tất cả, đặc biệt là vua Haled đă
cho tôi những bảo đảm vững chắc việc tiếp tục yểm trợ và viện trợ kinh
tế cho VNCH. Tôi đă thảo luận kỹ càng với Hoàng tử Rudal Faisal (Bộ
trưởng ngoại giao), Hoàng tử Massoud (Thứ trướng Ngoại giao), và ông
Amant (Tổng Trướng Dầu lửa, và Tài Chánh).
Về viện trợ sắp tới, tôi đă cung cấp cho Chính phủ Saudi một bản giác
thư tŕnh bày chi tiết về nhu cầu viện trợ và t́nh h́nh tại Miền Nam.
Tôi hy vọng là quyết định về khoản tiền và phương thức của viện trợ sẽ
được Chính phủ Saudi cứu xét sớm… "
Thật là một niềm yên ủi trong lúc gian truân. Tuy chưa thể thi hành được
ngày một ngày hai, nhưng ít nhất cũng c̣n có người từ tâm "Samantan"
muốn ra tay cứu vớt.
Đem cả vàng ra thế chấp
Ông Thiệu biết rằng việc thương thuyết mượn tiền của Saudi phải cần có
thời gian ít ra cũng ba, bốn tháng. Bởi vậy, cần phải xúc tiến ngay kế
hoạch "vay viện trợ" và dùng ngân khoản của Saudi làm tiền thế
chân.
Trong công điện, ông Bắc đề nghị là cho ông sang Washington vài hôm để
thẩm định t́nh h́nh. Nhân cơ hội này, ông Thiệu chỉ thị cho tôi: "Vậy
anh nên đi ngay Washington để làm việc với ông Bắc". Ông phê vào
công điện:
"Vậy là ông Bắc, ông Hưng và ông Phượng có thể sẽ là 1 trio (bộ ba) để
lo vấn đề viện trợ tại Mỹ trong tuần lễ crucial (quyết định) này. Nếu
vậy th́ Thủ tướng cho ông Hưng đi, là cho cả ông Bắc qua Washington".
Ông bảo tôi thảo gấp một lá thư gởi cho Tổng thống Ford đề nghị vay 3 tỷ
trong 3 năm, chia ra mỗi năm 1 tỷ. Ông hy vọng rằng, ngay trước mắt, đề
nghị này có thể tŕ hoăn được việc Quốc hội bỏ phiếu "chống viện trợ"
vào ngày 19 tháng 4 theo kế hoạch, nếu tại Washington tôi ḍ xét
thấy có triển vọng về khoản vay th́ sẽ đánh điện về ngay để ông Thiệu kư
lá thư và trao cho Đại sứ Martin.
Về khoản thế chấp, nếu Quốc hội đồng ư cứu xét và bắt đầu bàn căi, VNCH
sẽ đưa ra làm bảo đảm, "thế chân" bằng những tài nguyên sau:
- Tiềm năng dầu lửa;
- Tiềm năng xuất cảng gạo;
- Khoản tiền của vua Haled hứa cho vay; và Số vàng dự trữ của Ngân hàng
Quốc Gia.
Số vàng dự trữ lúc đó c̣n 16 tấn, trị giá khoảng 120 triệu (theo giá
vàng lúc đó) (3). Đại sứ Martin đă sắp xếp giúp để chuyển ra ngoại quốc,
vừa cho an toàn, vừa để làm thế chấp cho một khoản vay mua đạn được. Sau
này, ông Martin tŕnh bày về dự trữ vàng với Quốc hội Hoa kỳ (ngày 27
tháng 1, 1976) như sau: "Những sắp xếp tạm thời để được thực hiện để
chuyển số dự trữ vàng (của VNCH) sang Ngân hàng Bank of International
Settlement (BIS) ở Basel Thuỵ sĩ đă có thể làm thế chấp cho một khoản
vay mua đạn dược bên Âu châu. Khi tin này lộ ra th́ đă không c̣n cách
nào chở vàng đi bằng hàng không thương mại được nữa. Bởi vậy có những
sắp xếp (tiếp theo) để chuyển nó sang tài khoản (của VNCH) tại Ngân hàng
Dự trữ Liên bang New York (Federal Reserve Bank of New York). Chẳng may,
đang khi có sự chậm trễ về phía Hoa kỳ trong việc t́m nguồn bảo hiểm cho
việc chuyên chở số vàng trên, th́ ông Thiệu đă ra đi. Ông Phó Thủ tướng
và Tổng trưởng tài chính đă không xin được phép của tân Tổng thống kịp
đưa số vàng này đi"(4).
Về tới văn pḥng, tôi cùng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng soạn lá thư theo như
những điểm ông Thiệu dặn. Điều quan trọng là tránh không nói tới t́nh
h́nh quá tuyệt vọng, và xác định VNCH vẫn c̣n ư chí chiến đấu. Ngân
khoản cho vay sẽ có bảo đảm, và được coi như ân huệ cuối cùng của Hoa kỳ
đối với Miền Nam:
Thưa Tổng thống,
"Những biến cố gần đây đă làm t́nh h́nh miền Nam Việt nam nghiêm trọng
bội phần. Mặc dù chúng tôi đă rút về một pḥng tuyên khả dĩ có thể pḥng
thủ cả về quân sự lẫn kinh tế, chúng tôi vẫn phải đương đầu với đối
phương đang gia tăng quân số và vơ khí tối tân. Trong khi Cộng sản đang
tập trung ở ngay trước ngưỡng cửa của vùng châu thổ miền Nam, quân dân
VNCH đă sẵn sàng và chuẩn bị mang toàn lực chiến đấu để bảo vệ lănh thổ
và tự do.
"Muốn làm được như vậy, chúng tôi rất cần phương tiện để chiến đấu,
nhất là vũ khí và đạn dược.
V́ vậy chúng tôi nhiệt liệt cám tạ nỗ lực của Ngài đang kêu gọi Quốc
hội Hoa kỳ cấp thêm viện trợ quân sự cho VNCH. Tuy nhiên, viện trợ quân
sự đă trở thành một vấn đề khó khăn của Chính phủ Hoa kỳ như công luận
và có thể bị Quốc hội bác bỏ. Sự kiện này sẽ có ảnh hướng khốc hại đến
tinh thần quân sĩ của chúng tôi trước trận chiến lịch sử. Chúng tôi
không muốn việc này xảy ra.
Chúng tôi ghi ơn tất cả những hy sinh xương máu và vật chất của nhân
dân Hoa kỳ trong quá khứ để bảo vệ miền Nam Việt nam tự do. Chúng tôi
hoàn toàn thông cảm với các nhà lập pháp khi họ phải đương đầu vấn đề
những vấn đề chính trị và những mối quan hệ của họ trong khi cứu xét
viện trợ quân sự cho VNCH. Trong trường hợp bất khả kháng, chúng tôi xin
tŕnh Ngài một giải pháp khác như sau đây.
"Tôi trân trọng thỉnh cầu Ngài kêu gọi Quốc hội cho VNCH vay dài hạn
3 tỷ đô la, chia làm ba năm, lăi suất do Quốc hội ấn định, và xin triển
hạn 10 năm trước khi trả vốn và lời. Tài nguyên dầu hoả và canh nông của
VNCH sẽ dùng làm tiền thế chân cho món nợ này. Món nợ giúp chúng tôi
chống xâm lăng và cho chúng tôi cơ hội để tồn tại như một quốc gia tự
do.
"Chúng tôi kêu gọi lương tri và ḷng trắc ẩn của nhân dân Hoa kỳ hăy
nghĩ đến một quốc gia Đồng minh trung thành trong hai mươi năm sóng gió
vừa qua, một dân tộc đă chịu rất nhiều hy sinh thống khổ để dành một cơi
sống tự do. Một dân tộc như vậy rất đáng được thiện cảm và giúp đỡ.
Trong giờ phút khẩn cấp này, tôi xin Ngài kêu gọi Quốc hội Hoa kỳ hăy
cứu xét ngay lời yêu cầu của VNCH. Đây là một hành động cuối cùng của
chúng tôi kêu gọi sự giúp đỡ của Hoa kỳ với tư cách là một Đồng minh.
Trân trọng
(kt) Nguyễn Văn Thiệu
Sau khi tôi lên đường đi Washington, ông Thiệu mời Đại sứ Martin vào
Dinh Độc Lập để nhờ ông yểm trợ cho công tác chuyến đi. Ông Martin thông
cảm và đánh điện ngay cho Kissinger: "Tôi báo cáo để Ngoại trưởng biết
rằng ông Thiệu đề nghị nếu việc xin thêm 722 triệu quân viện có thể bị
Quốc hội bác bỏ, ta nên t́m cách hoăn ngày bỏ phiếu lại. Mặc dầu ông
Thiệu không muốn nói ra nhưng rơ ràng rằng cả ông ta lẫn tất cả mọi
người khác đều không biết rồi sự việc sẽ ra sao, (nếu Quốc hội bỏ phiếu
chống)?"
Tôi được một số bạn đồng liêu ra phi trường tiễn biệt. Lúc đó là 1 giờ
30 trưa ngày thứ tư 15 tháng 4. Các bạn bè từ biệt tới dưới chân chiếc
Boeing 747 của hăng Paris American. Tôi cảm thấy vô cùng bối rối, ḷng
buồn man mác. Tuy rằng "c̣n nước th́ c̣n tát", nhưng nghĩ tới cái cảnh
đất nước phải lệ thuộc, cái cảnh ăn nhờ ở đậu, tôi thấy nó chua xót làm
sao?
Máy bay đáp xuống phi trường San Francisco sáng sớm ngày 16 tháng 4 (tôi
16 tháng 4, giờ Sài g̣n). Trong khi đợi máy bay đi Washington, tôi mua
một chiếc radio nhỏ để nghe tin tức. Sau 20 phút oang oang nhạc Elvis
Presley và Linda Ronstadt, đến ngay bản tường tŕnh về buổi họp của Tổng
thống Ford với Hội các Nhà Báo Hoa kỳ. Hết sức hồi hộp, tôi lắng
nghe: "Tôi nghĩ rằng Nga Xô đă giữ những cam kết của họ. Rất tiếc là ta
đă không làm như vậy. Tôi không nghĩ ta có thể trách Nga Xô hay Trung
Cộng về vụ này. Nếu chúng ta giữ những hứa hẹn của chúng ta đối với Đồng
minh th́ tôi nghĩ thảm hoạ này đă không xảy ra".
Thế là ông Ford vẫn phàn nàn đăi bôi cho xong chuyện.
Mấy hôm trước, Von Marbod có cho tôi hay là khi Tướng Weyand trao cho
ông xem mấy bức mật thư, ông đă "rất cảm động" Nhưng bây giờ th́
dù có cảm động, Ford cũng chỉ đánh vơ miệng. Khi bị nhà báo vặn hỏi về
tính chất của những cam kết của Hoa kỳ, ông Ford không ngần ngại trả lời
thẳng thừng rằng đó chỉ là những "cam kết về tinh thần chứ không phải
pháp lư". Thực là ông ta đă lập lại hệt những lời của Kissinger.
Sắp ra tranh cử chức Tổng thống, ông chỉ muốn cho mọi chuyện yên ổn,
không có ǵ sóng gió.
Những thế hệ người Việt nam và Mỹ mai sau chắc sẽ c̣n phái thẩm định lại
lập luận này của ông Kissinger. Đây là những cam kết tinh thần hay pháp
lư? Và nếu không phải là pháp lư th́ nó có giá trị nào khác ngoài ư
nghĩa tinh thần hay không? Tuy Quốc hội có quyền "khuyến nghị là ưng
thuận", vẫn chỉ có Tổng thống được quyền đại diện nước Mỹ về địa hạt
ngoại giao. Nếu lời cam kết của Tổng thống không có giá trị ǵ th́ làm
sao các nhà lănh đạo của các quốc gia trên thế giới có thể tin tưởng
được vào nền ngoại giao Hoa kỳ?
Trở lại bản tin tôi nghe tại phi trường San Francisco. Sau khi loan tin
về cuộc họp báo của ông Ford, có tin về cuộc di tản. Bản tin cho hay Hoa
kỳ chỉ có thể cứu được 50.000 người tỵ nạn Việt nam, trong khi chờ đợi
Quốc hội cho nhập cảnh khoan hồng hơn. Mệt mỏi sau một chuyến bay dài,
tôi bồi hồi lên máy bay về Washington. Nơi đây tôi đă sinh sống bao
nhiêu năm khi c̣n giảng dạy tại Đại Học Trinity, Howard, và sau đó làm
việc tại Quỹ Tiền Tệ Quốc tế. So sánh với Paris và New York, tôi thấy nó
là một thành phố tương đối buồn, không có ǵ nhộn nhịp cho lắm. Vậy mà
lúc này h́nh ảnh Washington đă trở nên huyền bí, và hăi hùng đối với
tôi.
Và Quốc hội Hoa kỳ, lại là một nơi quen thuộc. Riêng đối với cá nhân
tôi, Quốc hội đă có một hành động ưu ái trong quá khứ. Hai mươi năm
trước đó, trong "Khoá họp Quốc hội thứ 89", Thượng Viện đă có cả
một Dự Luật (A Bill) để tôi được quyền thường trú tại nước Mỹ:
Dự luật số S. 1110, ngày 10 tháng 2, 1965. Thế nhưng bây giờ sao tôi
lại e ngại về Quốc hội đến thế? Trên đường tới nơi, vừa trông thấy cái
mái ṿng cung khổng lồ trên đồi Capitol là tôi đă thấy chán chường! Các
ông nghị ở đó đang phủi tay hoàn toàn đối với Miền Nam Việt nam.
Vừa tới Washington, tôi đă liên lạc ngay với một người mà tôi có nhiều
sự quen biết trên Quốc hội lại vừa có ḷng từ tâm. Đó là Mục sư Edward
Elson, vị Tuyên uư tại Thượng Viện Hoa kỳ. Mỗi khi có vấn đề tinh thần
nan giải, các nghị sĩ thường t́m lới ông để xin lời cố vấn. Tôi nhờ ông
giúp đỡ bản tin với Quốc hội về việc VNCH muốn vay, thay v́
xin cấp viện trợ, và đó là một yêu cầu cuối cùng của một Đồng minh.
Điều cần ngay lúc đó là Quốc hội đừng biểu quyết “không“ vào
ngày 19 tháng 4. Ông Elson hứa sẽ làm hết sức t́m mọi cách để giúp đỡ,
nhưng ông cũng cho hay có thể là quá muộn
Trong khi chờ đợi câu trả lời để đánh điện về cho Tổng thống Thiệu, tôi
gặp anh bạn Lê Văn để sắp xếp một cuộc phỏng vấn trên đài Tiếng Nói Hoa
kỳ (VOA) về việc Chính phủ VNCH vẫn "c̣n nước c̣n tát" và đang có
kế hoạch vay viện trợ.
Sáng ngày 18 tháng 4, vừa lúc sửa soạn phát thanh th́ Lê Văn đưa cho tôi
bản tin các hăng thông tấn đánh đi cho hay:
"Uỷ ban Quốc pḥng Thượng Viện vừa bỏ phiếu chống việc tăng quân viện
cho VNCH? Uỷ ban bang giao quốc tế cũng vừa chấp thuận dự luật cho quyền
Tổng thống Ford sử dụng quân đội Hoa kỳ để di tản người Mỹ ra khỏi Việt
nam".
Thế là xong.
Thật là dễ dàng cho phía hành pháp Hoa kỳ để họ có thể lập luận được
rằng: chúng tôi chỉ chấp nhận bản án do Quốc hội đă đưa ra. Ngoại trưởng
Kissinger tuyên bố:
"Cuộc bàn căi về Việt nam nay đă chấm dứt. Ngành hành pháp Hoa kỳ đă
chấp nhận bản án của Quốc hội, không hiềm thù, không biện minh và cũng
không kháng cáo".
Ngắn gọn là như vậy.
Chú thích:
(1) The New York Times, 11-4-1975.
(2) The Washington Post, 9-3-1975.
(3) David Butler, The Fall of Saigon, trang 350.
(4) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
541.
P3 - Chương 13
"Sao chúng không chết phứt cho rồi!"
Trong ṿng hai tuần lễ kể từ ngày mất Ban Mê Thuộc hôm 11 tháng Ba,
truyền h́nh Mỹ hằng ngày chiếu cảnh rút lui từ Tây nguyên về Phú Yên
trên quốc lộ 7B, cảnh tắc nghẽn thê thảm ở đèo Cheo Reo, tới t́nh trạng
hỗn loạn ở Đà Nẵng. Liên tiếp, hết cứ địa này tới cứ địa khác.
Washington không có dấu hiệu ǵ tỏ ra lo ngại. Tổng thống Ford vẫn chỉ
thị sắp xếp cho ông đi nghỉ lễ Phục Sinh ở Palm Spring (tiểu bang
Nevada). Năm nay, v́ chiến sự đang sôi bỏng nhiều nhân viên toà Bạch Ốc
đă can ông đừng đi, nhưng ông không nghe. Trước khi đi, ông quyết định
gửi tướng Frederick C. Weyand sang Sài g̣n ngày 28 tháng Ba để thẩm định
t́nh h́nh. Weyand là Tham mưu trưởng lục quân và từng là Tư lệnh Quân
đội Hoa kỳ ở Việt nam trước đây.
Vào thời điểm đó, chỉ một người dân b́nh thường xem tin tức trên đài
cũng đủ biết là t́nh h́nh Việt nam đang đi vào giai đoạn quyết liệt. Thế
mà Tổng thống Hoa kỳ lại viết trong Hồi kư của ông (năm 1979) rằng:
"Ai cũng biết là vấn đề Việt nam nghiêm trọng, nhưng xem ra chẳng ai
hiểu rơ nó nguy ngập đến chừng nào".
Trên máy bay Air Force One đi Palm Springs, ông Ford từ trên
ca-bin xuống gặp đoàn tuỳ tùng, trong đó có ông Rumsfeld, Đổng lư Văn
pḥng Tổng thống (bây giờ là Tổng trưởng quốc pḥng), ông Lan Greenspan,
Thống đốc Ngân hàng Liên bang, và ông Ron Nessen, Phụ tá Báo chí. Đang
khi họ tṛ chuyện, có nhân viên phi hành đoàn tới đưa cho Nesse một
phong b́ màu vàng do chuyên viên truyền tin trên máy bay chuyển. Trong
phong b́ là một điện tín: "Đà Nẵng đă thất thủ". Nessen đưa cho
ông Ford và mấy người kia đọc. Ford lắc đầu! Mọi người không ai nói ǵ,
hoàn toàn im lặng(1).
Tuần cuối tháng Ba, thành phố Đà Nẵng trở nên hỗn loạn. Từng làn sóng
người tràn về từ Quảng Trị, Huế, Quảng Ngăi làm cho dân số từ 600 ngàn
vọt lên một triệu rưởi, gần gập ba lần. Đường phố ứ đọng, tắc nghẽn,
cướp giật, súng ống bắn bừa băi.
Lời nguyền rủa
Đà Nẵng thất thủ vào đúng chủ nhật Lễ Phục Sinh, ngày 30 tháng Ba. Ở nhà
thờ tin lành Lutheran quận Arlington (tiểu bang Virginia), Tổng trưởng
quốc pḥng James Schlesinger đă "rơi lệ". Hôm đó, phó Giám đốc CIA,
tướng Vernon Walters có nói với ông rằng Đại sứ Việt nam ở Washington
(ông Trần Kim Phượng) vừa tuyên bố: "Màn đêm dài đă phủ xuống đầu chúng
tôi, và b́nh minh sẽ không c̣n hé rạng nữa?"
Schlesinger ngậm ngùi. Ông thuật lại với chúng tôi khi phỏng vấn ông vào
hè năm 1985: "Tôi nghĩ đến lời của cố Thủ tướng Anh, Winston Churchill,
khi ông mô tả nước Pháp bại trận trong Đại chiến II. Cả hai đều cùng một
thảm cảnh dẫu không lớn lao như nhau. Tôi không trách người Việt nam đă
đặt hy vọng vào Hoa kỳ. Tôi chia xẻ nỗi đau thương với họ".
Sau khi thị sát chiến trường và họp với phía Việt nam, tướng Weyand trở
về báo cáo cho Tổng trưởng quốc pḥng.
Ngày 5-4-1975, đang khi bay về Washington, th́ ông được lệnh đổi hướng
bay thẳng về Palm Springs phúc tŕnh cho Tổng thống Ford và Ngoại trưởng
Kissinger. Nghe thuyết tŕnh của Weyand xong, Kissinger đi họp báo, có
Ron Nessen, Phụ tá báo chí Tổng thống cùng đi theo. Trên đường tới Trung
tâm báo chí, Nessen kể lại lời Kissinger nguyền rủa:
"Sao chúng không chết phứt cho rồi?" Ông ta rên lên trong xe, "Điều tệ
hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài ". (Why don t
these people die fast?" He moaned in the car. "The worst thing that
could happen would be for them to linger on") (2).
Câu nói buột miệng ra, bất chợt, trong những lúc vô ư lại thường phản
ảnh sự thật hơn là những lời tuyên bố khôn ngoan về chính sách, những
bài diễn văn hùng hồn, những câu trả lời đắn đo đối với báo chí hay lời
văn chải chuốt trong hồi kư.
Năm 1979, có lần tôi đang nói chuyện với một anh bạn Mỹ về chiến tranh
Do Thái, Iran. Lúc bàn tới Việt nam, tự nhiên anh nói: "V́ sao ông
Kissinger ông ấy tàn nhẫn quá nhỉ?" "Sao anh nói vậy?" tôi hỏi. "Ủa, anh
chưa đọc sách của Ron Nessen à?" Tôi vội đi t́m cuốn hồi kư tựa đề
"Đàng sau hậu trường th́ thật là khác" (It sure looks different from the
inside).
Suy cho kỹ, ta thấy câu nói mà Nessen đă nghe được nó giải thích nhiều
sự việc xảy ra cho miền Nam. Đặc biệt là nó giúp trả lời phần nào câu
hỏi: Tại sao Miền Nam đă mất lẹ như vậy?
Có ba điểm chiến lược trong tâm trí của Henry Kissinger:
- Chắc chắn là Hoa kỳ phải dứt khoát rút hết, bỏ rơi Miền Nam;
- Chỉ cần một khoảng thời gian coi cho được, từ lúc Mỹ rút đi tới lúc
sụp đổ;
- Khi sụp đổ th́ nên tiến hành cho lẹ; v́ nếu cứ sống vật vờ măi là kẹt
cho Mỹ.
- Lập trường Kissinger từ 1967
Sau khi mọi việc kết thúc, Kissinger quy trách việc mất miền Nam cho vụ
Watergate.
Lịch sử sẽ phán xét phân minh những chính sách và lịch tŕnh sắp xếp của
Kissinger. Tuy nhiên, ngay bây giờ ta cũng đă có thể khẳng định được
rằng trước Watergate, trước cả khi ông Nixon lên làm Tổng thống,
Kissinger cũng đă chẳng tin tưởng ǵ là miền Nam có thể cứu văn được.
Vậy chỉ cần rút làm sao mà không bị mất mặt với quốc tế là xong. Mang
nửa triệu quân vào mà lại thua th́ không ổn. Là người ưa viện dẫn lịch
sử, có lần ông nói đến kinh nghiệm của Pháp khi bị sa lầy ở thuộc địa
Algeria, sau chiến tranh Đông Dương:
"Ông de Gaulle đă làm được cái ǵ cho nước Pháp ở Algeria? Ông ta đă
muốn bỏ nước này một cách nào đó để cuộc triệt thoái được coi như là do
một chính sách (chứ không phải là bắt buộc phải bỏ), giúp cho Pháp c̣n
giữ được phần nào phẩm giá của ḿnh… Đó là thành quả lớn lao của
ông, chứ không phải kết quả thật sự của cuộc chiến như thế nào…"(3).
1967
Giải pháp "Mỹ đơn phương rút ra khỏi miền Nam" là tư tưởng
Kissinger đă nuôi dưỡng từ lâu. Ngay từ 1967 khi mới bắt đầu tiếp cận
vấn đề Việt nam với tư cách là một tư vấn không chính thức của Chính phủ
Johnson, ông đă bí mật liên hệ với Hà Nội qua trung gian của hai người
Pháp là ông Herbert Marcovich và Raymond Aubrac. Hai người là chỗ quen
biết với Hồ Chí Minh từ 1946 lúc ông Hồ đi họp Hội nghị Fontainebleau
(4). Lập trường của Kissinger là chiến tranh Việt nam chỉ có thể giải
quyết bằng giải pháp "một thời gian coi cho được" (a decent
interval).
Tác giả David Landau, người nghiên cứu chiến lược của Kissinger đă viết
lại trong cuốn "Kissinger: Sử dụng quyền lực (Kissinger: The
Use of power), như sau:
"Kissinger cho rằng giải pháp duy nhất của Hoa kỳ năm 1967 là dùng chính
sách "một khoảng thời gian coi cho được". Nói cho đơn giản hơn,
chính sách đó nghĩa là sự sụp đổ của Chính phủ miền Nam – điều ông cho
là rất có thể xảy ra nếu không phải là bắ buộc sẽ xảy ra - phải được tŕ
hoăn trong một thời gian kể từ lúc Hoa kỳ triệt thoái để Washington khỏi
bị chỉ trích là đă không bảo vệ Đồng minh của ḿnh.
Như vậy, điều quan trọng chính yếu của cuộc chiến vấn đề phe nào sẽ cai
trị miền Nam - thực ra chỉ là một điểm không đáng để ư. Điều quan trọng
không phải là có nên hay không nên triệt thoái mà là triệt thoái như thế
nào và bao giờ" (5).
1968
Năm 1968, khi chiến tranh đang leo thang mạnh, Tổng thống Johnson chán
nản, quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ hai. Lúc đó, Kissinger đang
làm tư vấn cho ông Rockefeller, Thống đốc tiểu bang New York, để
ông này ra tranh cử với ông Nixon trong chức ứng cử viên Tổng thống của
đảng Cộng hoà. Kissinger cho rằng nếu có một giải pháp mới cho chiến
tranh Việt nam th́ chắc Rockefeller sẽ được đảng lựa chọn. Vài tuần
trước khi tháp tùng ông thầy đi họp đảng tại Miami vào tháng 8, ông đă
soạn ra một đề nghị về Việt nam đăng tải trên cả một trang quảng cáo của
tờ New York Times. Giải pháp đó gồm bốn điểm:
Mỹ đơn phương rút 75.000 quân;
Thiết lập một Lực lượng quốc tế giám sát hoà b́nh;
Sau đó, Mỹ rút hết; rồi để cho hai phía Việt nam hoà hợp hoà giải với
nhau.
75.000 quân chỉ là bước đầu để tạo ra một hướng đi.
1969-1970
Ngày 20 tháng Giêng, 1969, ông Nixon nhậm chức Tổng thống và dọn vào Toà
Bạch Ốc. Kissinger chính thức trở nên Cố vấn an ninh.
Ngày bốn tháng Tám, 1969 ông bắt đầu đàm phán sau hậu trường với Bắc
Việt. Phiên họp đầu tiên giữa Kissinger, Xuân Thuỷ và Mai Văn Bộ được tổ
chức ở căn nhà Jean Sainteny tại phố sang trọng Rue de Rivoli. Mật đàm
kéo dài được trên ba năm.
Đang khi thương thuyết với Bắc Việt về việc rút quân, Mỹ tiếp tục rút,
ngày càng mau. Từ mức cao nhất là 537.000 người lính vào đúng lúc bắt
đầu mật đàm, Mỹ đă rút 312.000 chỉ c̣n 225.000 vào tháng Bảy, 1971.
Như vậy là đă rút được trên nửa số quân rồi, nhưng cũng mất hai năm. Làm
sao rút hết số c̣n lại cho nhanh hơn?
Kissinger liền cầu cứu sự giúp đỡ của Trung Cộng.
Hai mươi bảy năm sau ngày Miền Nam sụp đổ, tờ báo New York Times
ngày 28 tháng Hai, 2002 vừa tiết lộ chuyện động trời: ngay từ cuối hè
1971, Kissinger đă nói cho Trung Cộng biết lập trường thực sự của Hoa kỳ
về vấn đề rút quân.
Trong một bài tựa đề "Tài liệu (vừa có) đă đối chọi với Kissinger về
chuyến viếng thăm trung quốc của ông năm 1971", Kư giả Elaine Sciolino
cho biết nội dung tài liệu mới được giải mật do National Security
Archive đưa ra gồm có biên bản cuộc họp ngày chín tháng Bảy, 1971 giữa
Kissinger và Chu Ân Lai.
Trong buổi họp, chính Kissinger đă cho Chu biết chi tiết về sự thay đổi
cơ bản của chính sách Hoa kỳ đối với Đài Loan, để đổi lấy sự ủng hộ của
Trung Quốc hầu giúp chấm dứt chiến tranh Việt nam. Ông ta nói với ông
Chu: "Dù có thương thuyết hay không thương thuyết với Bắc Việt đi nữa,
rồi chúng tôi cũng sẽ rút quân - một cách đơn phương". (6)
"Rút càng nhanh bị lật đổ càng lẹ"
Khi Stanley Karnow, nhà sử học về Việt nam, được hỏi về tin này, ông
nói: "Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa là từ lúc tuyển chọn ứng cử viên ṿng sơ
bộ (của đảng Cộng hoà) hồi tháng Ba, 1968, lập trường (của Nixon) vẫn
luôn luôn là "hoà b́nh và danh dự". Vậy mà khi đến Trung Quốc, Kissinger
lại nói "Kế hoạch của chúng tôi là sẽ rút đơn phương".
"Đơn phương" là điểm chính, và đây là điều mới lạ đối với tôi" - ông
Karnow kết luận (7).
Rơ hơn nữa, cũng theo tài liệu mới này, Kissinger c̣n nói với Chu Ân
Lai:
"Lập trường của chúng tôi là sẽ không duy tŕ bất cứ Chính phủ nào ở
miền Nam cả, và nếu như Chính phủ miền Nam không được nhiều người ưa
chuộng như Ngài nghĩ, th́ khi quân đội chúng tôi rút đi càng nhanh, nó
sẽ bị lật đổ càng lẹ. Và nếu nó bị lật đổ sau khi chúng tôi rút, chúng
tôi cũng sẽ không can thiệp nữa" (8).
1972
Một năm sau đó, đến tháng Bảy, 1972, Mỹ đă rút hầu như toàn bộ quân đội
ra khỏi Miền Nam. Số quân c̣n lại chỉ c̣n 45.000. Sắp xong rồi, chỉ cần
làm sao cho bước cuối cùng được trôi chảy. Đó là làm thế nào để có một
Hiệp định đ́nh chiến là tốt đẹp nhất.
Tại những cuộc mật đàm, Kissinger đă nhượng bộ hoàn toàn về vấn đề này:
Mỹ sẽ rút đi hết và quân dội Bắc Việt ở lại Miền Nam (9).
Ngày 10 tháng 10, ông sang Sài g̣n làm áp lực bắt phải chấp nhận giải
pháp đ́nh chiến "da beo": ai ở đâu cứ ở đó.
Ngày 26 tháng 10, Kissinger gây chấn động khi tuyên bố "Hoà b́nh đang
trong tầm tay" (Peace is at hand).
1973
Kissinger đă thành công trong việc giải quyết vấn đề Việt nam nội trong
nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Nixon như ông muốn. Chỉ chậm có hai ngày:
ngày 20 tháng Giêng năm 1973, Nixon chấp chánh nhiệm kỳ hai, và ngày 23
tháng Giêng, Kissinger đă cùng Lê Đức Thọ kư tắt vào bản Hiệp định. Hiệp
định Paris kư xong, ông Nixon lên truyền h́nh tuyên bố: với tất cả đồng
bào đang nghe tôi… ḷng kiên tŕ của đồng bào ủng hộ lập trường đ̣i cho
bằng được một hoà b́nh với danh dự đă giúp thực hiện được hoà b́nh với
danh dự"(10). Báo cáo về thành tựu ngoại giao cho Quốc hội năm ấy, Nixon
viết: "Thật là cần thiết để ta đi tới giải pháp mang lại một khuôn khổ
cho miền Nam VN được thực thi quyền tự quyết của ḿnh"(11).
C̣n Kissinger: "Chúng tôi đă quyết tâm làm hết sức có thể để giúp cho
Sài g̣n được phát triển trong an ninh và thịnh vượng, và để họ có thể
trường tồn trong bất cứ cuộc đấu tranh chính trị nào"(12).
"Một khoảng thời gian coi cho được"
Như trường hợp Charles de Gaulle giải quyết vấn đề Algeria, th́
Kissinger cho rằng ông đă giữ được thể diện cho Mỹ: "có đủ cả rồi, cả
Hoà b́nh, cả Danh dự". Thế là xong, không cần để ư tới kết quả ra
sao. Sau ngày miền Nam sụp đổ, nhiều người đă đặt câu hỏi về vấn đề
"Một khoảng thời gian coi cho coi được" trong lịch tŕnh của
Kissinger. Trong tập hồi kư dài viết lại 1979 với tựa đề "Những năm tại
Toà Bạch Ốc" (The White House years), ông đă dành tới hơn một
phần ba (492 trang) để giải thích những khó khăn và thành quả của ông về
Việt nam. Ông viết rằng Việt nam đă cho ông một cơ hội để đền ơn cho
quốc gia đă cứu gia đ́nh ông (khỏi bàn tay của Hitler): "Tôi nh́n thấy
vai tṛ của tôi là giúp cho quốc gia đă nhận tôi làm con nuôi". Về giải
pháp hoà b́nh cho Việt nam do ông mang lại, ông quả quyết: "Chúng tôi đă
đi t́m không phải chỉ một khoảng thời gian trước khi sụp đổ, nhưng một
nền hoà b́nh lâu dài và danh dự"(13).
Đó là luận điệu cho công luận và cho lịch sử. Bên trong hậu trường th́
lại khác.
Ta hăy nghe ông John Ehrlichman, Đổng lư Văn pḥng của Tổng thống Nixon
thuật lại trong cuốn hồi kư "Nhân chứng của quyền lực: Những năm thời
Nixon" (Witness to Power, The Nixon Years)
Ngày 24 tháng Giêng, 1973, chỉ một ngày sau khi Kissinger kư vào bản
Hiệp định và về tới Washington, Ehrlichman gặp ông ở trước pḥng Lincoln
trong Bạch Cung, có hỏi: "Theo ông, miền Nam VN có thể c̣n tồn tại
được bao lâu nữa?"
"Tôi nghĩ rằng nếu họ may mắn th́ được một năm rưỡi," Kissinger đáp lại
(14).
Ehrlichman viết thêm: "Sau này, khi xem đoạn phim trực thăng đến bốc
những người Mỹ hoảng hốt trên nóc toà đại sứ Mỹ ở Sài g̣n lúc quân đội
Bắc Việt đang tiến gần, tôi nhớ lại ước tính có tính cách cay độc
(cynical) nhưng chính xác của ông Kissinger". Ehrlichman b́nh luận:
"Trong hồi kư của ḿnh, Kissinger đă viết là sau khi kư tắt vào bản Hiệp
định Paris "Tôi thấy b́nh an trong ḷng, chẳng vui cũng chẳng buồn";
nhưng tôi (Ehrlichman) tự hỏi làm sao ông ta có thể nghĩ như vậy
được?"
Bàn về chiến lược của Kissinger, hai anh em phóng viên nổi tiếng Marvin
Kalb và Bernard Kalb là những người đă theo sát ông bao nhiêu năm, đă
tiết lộ:
"Ông ta tin rằng điều tối đa có thể cứu văn được cho việc dính líu của
Mỹ vào Việt nam là "một khoảng thời gian coi cho được", từ lúc Mỹ rút
quân đi và khả năng Cộng sản thôn tính miền Nam. Dù trong khả năng tốt
nhất cho Việt nam, không ǵ có thể bảo đảm được quá ba tới bốn năm"
(15).
Người tiên tri
"Một khoảng thời gian coi cho được" đă bắt đầu từ khi Mỹ rút hết
quân ra khỏi Miền Nam.
Quân đội Mỹ gọi ngày 29 tháng Ba, 1973 là ngày "X cộng 60" (X plus
60), nghĩa là ngày thứ 60 kể từ khi đ́nh chiến. Đó là hạn chót để
Nixon rút hết quân ra khỏi Việt nam. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, một
toán lính Mỹ khoảng 50 người đứng nghiêm chỉnh làm lễ chào cờ. Từ ống
loa, một sĩ quan đọc nhật lệnh: "Bộ Tư lệnh Yểm Trợ Quân Sự Việt nam
(MACV) từ giờ phút này đă hết hoạt động, và sứ mệnh cũng như chức
năng đă được chỉ định lại". Một vệ binh tiến lên, mang lá cờ MACV
với huy hiệu một thanh gươm quay ngược lên. Nh́n Đại sứ Bunker và tướng
Weyand, tư lệnh cuối cùng của Hoa kỳ, anh ta cẩn thận cuốn lá cờ lại, để
gọn vào một cái bao trông như bao đựng đồ đánh gôn, đưa lên máy bay. Phi
cơ cất cánh hay vút ra Biển Đông. Toán lính đó là những người cuối cùng
của đoàn quân trên một nửa triệu tham chiến ở Việt nam. Số c̣n lại, 159
người chỉ là để gác toà đại sứ và 50 nhân viên văn pḥng Tuỳ viên quốc
pḥng DAO (16). Cùng lúc đó, 67 tù binh Mỹ, nhóm cuối cùng của tổng số
595 tud binh được chở từ sân bay Nội Bài, Hà Nội tới phi trường quân sự
Mỹ Clark Field ở Phillippines.
"Một khoảng thời gian coi được" đă bắt đầu từ hôm đó, ngày 19
tháng Ba, 1973.
Và đúng hai năm sau, cũng ngày 29 tháng Ba, 1975, quân đội Bắc Việt tiến
vào Đà Nẵng. Trên thực tế một khoảng thời gian coi được đă kết
thúc. Như vậy ngoài tài ba lỗi lạc, Kissinger c̣n là một nhà tiên tri!
Đổ hết cho Watergate
"Nếu không có sự sụp đổ của quyền hành pháp v́ vụ Watergate, tôi tin
rằng chúng ta có thể thành công". Kissinger bào chữa (17).
Trong cuốn "Kết thúc chiến tranh Việt nam"
(Ending the Vietnam war). Kissinger tiếp tục cho rằng Watergate đă
làm ông Nixon suy yếu, không c̣n sức mạnh để ép buộc việc thực thi Hiệp
định Paris nữa. Hơn nữa v́ quyền lực hành pháp không c̣n mạnh nên Quốc
hội đă cắt giảm viện trợ cho Miền Nam (18).
Hai lư do Watergate và Quốc hội cắt viện trợ chắc chắn đă là hai yếu tố
quyết định. Tuy nhiên, rơ ràng là lập trường bỏ rơi Miền Nam th́ ông đă
có trước cả Watergate. Rồi sau Watergate, lại sao khi thấy Quốc hội bắt
đầu cắt viện trợ, cả ông lẫn Nixon đă không biện hộ cho Miền Nam trên
căn bản những cam kết? Tới lúc gần sụp đổ, Kissinger lại c̣n chối đi là
chẳng có cam kết bí mật nào cả.
Ngoài ra Kissinger c̣n đem một lư do khác để giải thích việc Quốc hội Mỹ
cắt quân viện. Đó là v́ họ đă bị "ảo tưởng về hoà b́nh" (illusion of
peace). Có hoà b́nh và danh dự rồi đâu có cần thêm quân viện. Nhưng
ai là người mang lại ảo tưởng của "hoà b́nh và danh dự?"
Chắc chắn rằng dù Kissinger có giải thích kiểu nào đi nữa, các sử gia sẽ
c̣n nghiên cứu về lâu về dài tiến tŕnh của giải pháp Việt nam. Cho đến
nay, có những vấn đề về đệ nhất, đệ nhị thế chiến cũng c̣n đang được mổ
xẻ. Chiến tranh Việt nam là một mảng đen tối trong lịch sử nước Mỹ.
Lúc quyền lực mạnh nhất
Hiệp định Paris được kư kết vào lúc ông Nixon mạnh nhất, lúc nhiều quyền
lực nhất. Nhân dân Hoa kỳ hoan nghênh thành quả lớn lao của ông trong
việc phát triển quan hệ tốt đẹp với Trung Cộng và Nga Xô. Chúng tôi c̣n
nhớ buổi sáng ngày 18 tháng Hai, 1972 đă hồi hộp đón chờ lúc Nixon tới
đất Trung Cộng. Cảnh phi cơ Air Force One đáp xuống phi trường
Bắc Kinh vào một ngày mùa đông giá lạnh sao thấy bí ẩn đến thế". Hầu như
huyền thoại.
Rồi tới những cuộc họp thượng đỉnh ở Moscow làm hoà dịu quan hệ
(détente) giữa Mỹ và Nga, đi tới Hiệp ước tái giảm vũ khí chiến lược
SALT. Cuối cùng là giải quyết chiến tranh Việt nam. Tranh cử cho nhiệm
kỳ hai, Nixon đại thắng (xem (Chương l). Từ Âu sang Á, tiếng tăm ông
lừng lẫy. Khi đăng quang nhiệm kỳ hai vào ngày 20 tháng Giêng, 1973,
Tổng thống Nixon đă lên tới tuyệt đỉnh danh vọng.
Hiệp định Paris được kư vào chính lúc này (hai ngày sau khi Nixon đăng
quang), lức là vào lúc quyền hành của vị Tổng thống ở đỉnh cao nhất.
Trong thực tế, Hoa kỳ là một trong hai tác giả chính của Hiệp định Hoa
kỳ kư kết, sau đó lại tổ chức một hội nghị quốc tế để xác định giá trị
của nó. Trong điều kiện như vậy mà một Hiệp định cũng đă không duy tŕ
được th́ khi Hoa kỳ kư kết những Hiệp định khác, sự bền vững của chúng
sẽ ra sao? Thật lạ lùng: trong các văn thư (như trích dẫn ở trongChương
3 và 4) trước khi kư kết, cũng như những tuyên bố sau đó,
Nixon-Kissinger đă giải thích nhiều lần rằng Hiệp định Paris sẽ giúp
Miền Nam tồn tại như thế nào, thế mà ở hậu trường, như đă trích dẫn trên
đây, khi vừa kư xong, Kissinger đă nói với Haldeman là "nếu may mắn th́
Miền Nam sẽ tồn tại được một năm rưỡi". Như vậy, làm sao ông có thể đổ
hết cho Watergate đă làm cho Nixon suy yếu nên không giúp cho Miền Nam
được nữa? Nixon chỉ bất đầu có dấu hiệu dính dấp tới vụ Watergate vào
tháng 4-1973. Sáu tháng sau đó, vào tháng 10-1973, ông c̣n đủ mạnh để
lập một cầu không vận tiếp cứu cho Do Thái, quy mô hơn cả cầu không vận
tiếp cứu Berlin.
Thời gian sau, tuy Nixon có lo lắng bối rối thật, nhưng vẫn c̣n nhiều
quyền lực. Ông chỉ yếu đi từ 1974 và tới Hè năm đó th́ mới thực sự tê
liệt.
Rồi tới Tổng thống Ford, đâu có dính líu ǵ đến Watergate mà cũng để cho
Quốc hội cắt gần hết viện trợ cho Việt nam cộng hoà?
Sụp đổ v́ yếu kém
Ngoài Watergate, Kissinger c̣n sử dụng một lư luận rất tinh vi khác. Tuy
rằng không bao giờ đặt vấn đề một cách rơ ràng, có hệ thống, nhưng bằng
cách đánh giá thấp con người Việt nam, ông gián tiếp biện minh cho những
hành động của ḿnh.
Hơn một tháng sau ngày miền Nam sụp đổ, trong một buổi nói chuyện tại
Hiệp Hội Nhật Bản ở New York (16-8-1975), Kissinger b́nh luận về
cuộc chiến Việt nam: thất bại là v́ miền Nam thiếu ư chí chiến đấu:
"Những cố gắng từ bên ngoài vào cũng chỉ có thể là bổ túc chứ không thể
tạo ra được những cố gắng và ư chí chiến đấu cho người trong nước"
(19).
Thật đúng là chỉ có thể bổ túc thôi. Nhưng có chiến tranh nào mà Mỹ đă
nhúng tay vào với tầm mức như ở Việt nam rồi đến khi kết thúc lại đơn
phương rút đi? Và rút nhanh như vậy?
Rồi cắt hết viện trợ? Ở Âu châu, sau khi thắng trận trong Thế Chiến Hai,
Mỹ đóng quân lại, và c̣n kéo dài tới ngày nay. Chương tŕnh Marshall
được thiết lập để tái thiết Âu châu.
Lại c̣n chiến tranh Triều Tiên. Nó đă kết thúc từ 1952 mà cho tới bây
giờ, vẫn c̣n 50 ngàn lính đóng ở vĩ tuyến 38.
Coi thường người Việt nam là tâm trạng thường xuyên của Kissinger. Trong
một bữa ăn trưa với các phóng viên các báo TIME Và FORTUNE
ngày 29 tháng Chín, 1972, ông nhận xét:
"Vấn đề của chúng ta với người Việt nam là bên nào cũng cho là ḿnh đang
thắng; và khoan hồng chẳng hề là đức tính của họ…"
"Người Việt nam là một giống người khó tính, bướng bỉnh, và đa nghi"
(20).
Nói về sự bướng bỉnh, có lần ông Thiệu kể lại một chuyện buồn cười. Sau
khi làm đủ tṛ để giúp Nixon thắng cử tháng 11 năm 1968, Kissinger đi
họp với tân Tổng thống lần đầu tiên ở đảo Midway vào tháng Sáu, 1969.
Lúc đầu, ông Thiệu được thông báo rằng v́ là chủ nhà nên Nixon sẽ tới
trước để tiễn ông tại phi trường. Nhưng khi ông tới nơi, máy bay Nixon
c̣n cách xa Midway tới 15 phút. Lúc ông bước vào pḥng họp th́ thấy bốn
cái ghế đă được xếp sẵn cho hai Tổng thống và hai phụ tá (Henry
Kissinger và Nguyễn Phú Đức). Cái ghế thứ tư cao hơn và chỗ dựa lưng lớn
hơn, dành cho Nixon. Ông Thiệu vừa buồn cười vừa tức. Không nói ǵ, ông
lẳng lặng đi sang pḥng ăn bên cạnh, xách một cái ghế cùng chiều cao, bê
xuống rồi ngồi đối diện với Nixon. Sự sắp xếp này giống như một cảnh
trong phim của Chaplin, "Nhà đại độc tài" (The Great Dictator):
Hitler ngồi trên một ghế cao nh́n xuống Mussolini ngồi ghế thấp hơn. Ông
Thiệu nói: "Sau này tôi được một người bạn Mỹ kể lại là Kissinger đă
chẳng bao giờ "tin rằng Thiệu là con người như vậy".
Đọc kỹ tập hồi kư Kissinger viết năm 1979, ta thấy ư nghĩ của Kissinger
về đặc tính người Việt không lấy ǵ làm khách quan. Ông đă bộc lộ ra ở
nhiều chỗ. Nơi đây chúng tôi chỉ ghi lại một số trang để độc giả nghiên
cứu thêm.
Viết về những tranh căi giữa ḿnh với ông Thiệu lúc hoà đàm Paris,
Kissinger đă phê phán (để tiện tra cứu, tôi ghi ngay số trang của cuốn
hồi kư "The White House years" sau mỗi câu Kissinger viết):
"Phương pháp của ông ta thật là đúng Việt nam một cách đáng ghét."(trang
1034);
"Sự đa nghi không lành mạnh của ông ta là một đặc tính quá tinh tuư của
người Việt nam". (trang 1034);
"Và ông Thiệu đă làm cho chúng tôi bối rối hơn nữa bằng cách áp dụng thủ
đoạn lảng tránh mà người Việt nam thường dành cho người ngoài". (1322);
"Láo xược là áo giáp của kẻ yếu; nó là một phương cách đem lại can đảm
khi phải đối diện với sự hoảng sợ của chính ḿnh. Nhưng bây giờ tôi mới
thấy rơ điều này hơn trước kia. Hồi tháng Chín 1972, phía Việt nam -
Đồng minh của chúng ta - đă làm tôi uất ức bằng lối người Việt nam
thường dùng để hành hạ đối thủ to con hơn họ". (1327);
"Ông Thiệu chẳng bao giờ bàn căi về quan niệm. Thay vào đó, ông ta đấu
tranh theo đúng cung cách Việt nam: gián tiếp, quanh co, bằng phương
pháp làm cho đối phương mệt nhoài hơn là làm sáng tỏ công việc, luôn
luôn châm chích mà không đi thẳng vào vấn đề - cái phương pháp mà qua
bao nhiêu thế kỷ, người Việt nam đă dùng để bẻ gẫy tinh thần ngoại bang
trước khi đánh bại đối phương ở một trong những trận tấn công anh hùng
của họ". (1368);
"Thế nhưng, chẳng người Việt nam nào, cả Bắc lẫn Nam, tin rằng tự tín,
tin tưởng, hay t́nh bạn là điều quyết định. Họ đă sống thoát được ngoại
bang qua bao nhiêu thế kỷ không phải là do tin tường mà là do vận dụng
mánh khoé". (1368).
Sau khi cuốn hồi kư của Kissinger được xuất bản (1979), một tạp chí Đức,
tờ Der Spiegel có phỏng vấn ông Thiệu (ngày 1-12-1979).
Der Spiegel: "Ông Kissinger sau cùng đă cảm thấy rằng sự giận dữ một
cách bất lực (impotent rage) là cái mà người Việt nam luôn luôn dùng để
hành hạ đối phương mạnh hơn ḿnh", ông trả lời thế nào về những nhận xét
trong Hồi kư Kissinger?"
Ông Thiệu: "Tôi không muốn trả lời ông ta. Tôi cũng không muốn b́nh luận
về ông. Ông ta có thể b́nh luận về tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được.
Tôi chỉ muốn bàn đến cái ǵ thực sự đă xảy ra giữa Hoa kỳ và Miền Nam
Việt nam".
Der Spiegel: "Ông có cho ông ta lư do ǵ để b́nh luận với một giọng xúc
phạm như vậy không?"
Ông Thiệu: "Có thể là ông ta đă ngạc nhiên phải đối địch với những người
thông minh và có khả năng. Có thể là từ mặc cảm tự tôn".
Chỉ trích cá nhân ông Thiệu (và con người Việt nam) như vậy mà năm năm
sau sụp đổ, Kissinger c̣n có thể viết cho rằng: "Cuốn sách của tôi đă
không ngớt ca ngợi sự can đảm, tư tưởng đúng đắn, và công nhận rằng,
trong thực chất, Ngài đă đúng" (xem cuối chương 13 và Phụ lục D).
Kết thúc phải cho mau lẹ
Chỉ có chiến lược "kết thúc cho mau lẹ" mới giải thích được câu
hỏi then chốt: tại sao tất cả những cam kết mật giữa Tổng thống Nixon và
Tổng thống Thiệu đă được giấu thật kỹ. Kể cả những viên chức có trách
nhiệm trực tiếp về Việt nam như các Tổng trưởng ngoại giao, quốc pḥng
thời Nixon và thời Ford cũng không ai biết ǵ. Đến chính Tổng thống Ford
cũng bị bưng bít. Phải kín như vậy th́ tới lúc kết thúc mới làm thật
nhanh được, hết bàn căi.
V́ nếu không kết thúc cho mau lẹ là rất kẹt! Đơn giản mà nói: ví như ta
đi xem kịch, nếu lới lúc hạ màn mà giây kéo màn lại bị rối th́ t́nh
trạng sẽ như thế nào? Tất nhiên người kéo màn sẽ cứ phải loay hoay, kịch
sĩ diễn xong rồi mà chưa lui vào được, sân khấu lộn xộn, màn mới làm sao
mà tŕnh diễn? Chủ rạp sẽ mất uy tín.
Năm 1975 là năm Kissinger có lịch tŕnh mới, ưu tiên mới. Lại là năm
Tổng thống Ford sửa soạn ra ứng cử Tổng thống năm 1976. Lịch mới của ông
gồm nhiều công tác khẩn trương:
- Với Nga Xô: thực hiện cho được chính sách détente (hoà dịu);
- Với Trung Quốc: mở rộng quan hệ ngoại giao để có thế mạnh với Nga Xô;
- Với Âu châu: quay lại với quan niệm của Jean Monnet tạo dựng lên một
"tam giác vàng" gồm Tây Âu, Mỹ và Canada;
- Với Nhật: tái lập quan hệ tốt đẹp đă mất từ khi Mỹ bắt tay Trung Cộng
năm 1971 và việc phá giá đồng đô la năm 1972; và
- Rất khẩn trương là việc dàn xếp với hai phe Do Thái- A Rập để văn hồi
hoà b́nh.
Với vậy như ông đă nguyền rủa, "điều tệ hại nhất có thể xảy ra là bọn
chúng cứ sống dai dẳng hoài". Và có kéo dài thêm lại càng kẹt, mà cũng
chẳng được ǵ. Kissinger đă phán xét trong hồi kư: "Biết ơn những
điều người khác làm cho ḿnh thật không phải là đặc tính của người Việt
nam". (trang 1338).
Ngày 17-4-1975, ông gửi mật điện hối thúc Đại sứ Martin: "Hăy ra đi
cho mau, và ngay lập tức"
Chú thích:
(1) Ron Nessen, It sure looks different from the inside, trang 96.
(2) Ron
Nessen, It
sure looks different from the inside,trang
98.
(3) Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 400
(4) Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 87.
(5) Landau, David, Kissinger: The Uses of power, trang 436.
(6) The New York Times, 28-2-2002.
(7) The New York Times, 28-2-2002.
(8) The New York Times, 28-2-2002.
(9) Xem thêm Chương 3, mục "Rút quân từ song phương tơi đơn phương".
(10) Diễn văn của Tổng thống Nixon sau Hiệp định Paris; xem thêm:
Marvin Kalb and Bernard Kalb, Kissinger, trang 476.
(11) Richard Nixon, U.S. Foreign Policy of the 1970 s, A Report to the
Congres.s, May 3, 1973, trang 60.
(12) Henry Kissinger, White House Years, trang 1470.
(13) Henry Kissinger, White House Years, trang 1470.
(14) John Erlichman, Witness to Power, trang 288.
(15) Marvin Kalb and Bemard Kalb, Kissinger, trang 478.
(16) Arnold R. Isaac, Without Honor, trang 123-124.
(17) Henry Kissinger, A World Restored, trang 1470.
(18) Henry Kissinger,
Ending the Vietnam war,
trang 457.
(19) Guenter Lewy, America in Vietnam, trang 441.
(20) Theo sổ tay của Jerrold Schecter, 4-10-1972, Tham dự bữa ăn trưa
c̣n có cả kư giả Hedley Donovan, Henry Grunwald. Hugh Sidey, Louis Bank
và Richard Campbell của tạp chí Fortune.
Phần 4 - Chương 14
RƯỚC CỦA NỢ HAY
ĐƯỢC CỦA CÓ?
Ai
không muốn di tản người Việt?
Đám đông cứ ùn ùn leo tường vào toà đại sứ Mỹ, cảnh rối loạn đă bắt đầu
trông thấy. Lại có tin đồn toà đại sứ sắp bị pháo kích đêm nay. Bao vấn
đề đang diễn ra ngay trước mắt.
Lúc đó là một giờ sáu phút ngày 29-4- 1975. Trí óc Đại sứ Martin rối
bời. Giải pháp chính trị cho Miền Nam mà ông đă theo đuổi cả tháng nay
vừa tan biến như mây khói khi phi trường Tán Sơn Nhất bị pháo kích. Cho
tới lúc này, ông vẫn c̣n ôm một hy vọng thầm kín, đó là nếu tướng Dương
Văn Minh thành công th́ Toà đại sứ Mỹ vẫn có thể c̣n được duy tŕ ở Sài
g̣n, tuy chỉ là một toà đại sứ nho nhỏ. Đang khi h́nh ảnh phi trường Tân
Sơn Nhất lởn vởn trong đầu ông, một người tuỳ viên vội bước tới: "Thưa
ông Đại sứ, có điện từ văn pḥng Tổng thống Ford". Ông Martin vội vàng
mở ra đọc. Sau bao nhiêu yêu cầu, gần như năn nỉ, ông đang chờ đợi Tổng
thống cho thêm trực thăng để di tản số người Việt đă vào đầy toà đại sứ
(1).
Ai ngờ lại là chuyện trời ơi đất hỡi: Đổng lư Văn pḥng Donald Rumsfeld
(đương kim Tổng trưởng quốc pḥng của Tổng thống George W. Bush)
không nói ǵ tới việc gửi thêm trực thăng lại c̣n yêu cầu ông Đại sứ cho
người tới cao ốc hăng IBM để bốc đi trên một trăm nhân viên và gia đ́nh
họ, rồi dùng trực thăng sẵn có để cho di tản (2).
Martin bực tức chửi thề và lờ đi, không trả lời. Sắp tới giờ thứ hai
mươi tư rồi. Theo kế hoạch của Washington th́ đáng lẽ chính ông Đại sứ
cũng đă phải ra đi từ mấy hôm trước. Nhưng ông Martin đă cố t́nh níu
lại, ông câu giờ để giúp di tản thêm người Việt nam càng nhiều càng hay,
và phần nào ông vẫn c̣n hy vọng vào một giải pháp chính trị để Mỹ ra đi
đỡ mất mặt.
Những kế hoạch chung quanh việc di tản người Mỹ và Việt nam đợt đầu đă
được giữ hết sức bí mật, rồi lời nửa kín nửa hở, tới lúc hở ra là giây
phút tranh giành, trèo tường toà đại sứ, lộn xộn, gần như hỗn loạn.
Để t́m hiểu thêm về cuộc di tản, chúng tôi đă tới tận nhà Đại sứ Martin
để thăm viếng và yêu cầu ông kể lại cho rành mạch những ǵ đă xảy ra bên
trong Toà đại sứ vào những ngày giờ cuối.
Ông Đại sứ cuối cùng
Chúng tôi đến thăm ông vào một buổi chiều mùa hè năm 1985, mười năm sau
lúc gặp ông lần cuối ở Sài g̣n. Về hưu, ông cư ngụ và chăm sóc mấy cháu
gái tại Winston-Salem, một thành phố nhỏ thuộc North Carolina. Ông sinh
ngày 22 tháng Chín năm 1912 trong một gia đ́nh sùng đạo ở Mars Hill một
làng nhỏ cũng ở tiểu bang này. Cha ông là một mục sư đạo Baptist. Đạo
này rất thịnh ở miền Nam và là một đạo giáo rất nghiêm ngặt, đặc biệt là
về rượu chè. Có nhiều quận gọi là "dry counties" (những quận khô)
v́ Chủ nhật không được bán bia, rượu. Cha ông cấm ông uống rượu nhưng
ông lại rất thích uống "Martini". Tuy nhiên khi nào uống th́ ông cũng
thú thật v́ cha ông đă dặn: "Nếu ta luôn nói sự thật th́ không bao
giờ cần nhớ xem ḿnh đă nói ǵ" (3). Ông c̣n giữ nhiều mật điện quan
trọng về liên lạc Việt-Mỹ vào giai đoạn kết thúc. "Tôi muốn nói ra
đợt cuối cùng về những ǵ đă xảy ra" ông tâm sự.
North Carolina là tiểu bang quen thuộc v́ có đại học North Carolina
Wesleyan College là nơi chúng tôi bắt đầu giảng dạy môn kinh tế học từ
tháng Tám năm 1963. Carolina cũng là gạch nối giữa tôi với ông Martin
khi ông làm đại sứ tại Việt nam. Mỗi khi gặp ông, tôi thường bắt đầu
bằng những câu chuyện vui về dân t́nh, phong tục và đời sống North
Carolina, về những trận đấu bóng giữa Đại học Virginia, trường tôi học,
về Wake Forrest College, trường của ông. Bây giờ ông đă về hưu, không
c̣n trách nhiệm nữa, không c̣n lo nghĩ nữa nên thấy ông thoải mái và
tươi tắn hơn lúc c̣n ở Sài g̣n, dù đă già đi nhiều.
Vào làm việc cho Chính phủ từ năm 1933, ông thăng tiến nhanh và giữ
nhiều chức vụ quan trọng. Trước khi nhậm chức tại Việt nam, ông làm Đại
sứ ở Thái Lan từ năm 1963. Lúc đó ông đă chống việc Mỹ mang quân vào
Việt nam. Tới năm 1966 đang khi nhiều thanh niên Mỹ biểu t́nh chống đối,
người con nuôi mà gia đ́nh ông vô cùng yêu quư, cậu Glenn sang Việt nam
và tử trận khi lái trực thăng trên vùng cao nguyên. Có lẽ v́ vậy mà ông
đă đổi hẳn thái độ.
Mười năm trước khi trở lại viếng thăm ông, sáng ngày 15-4-1975 tôi gọi
điện tạm biệt ông để lên máy bay đi công tác tại Washington. Trước khi
chấm dứt cuộc điện đàm, tôi hỏi:
"Ông Đại sứ nghĩ thế nào về t́nh h́nh khẩn trương lúc này?"
"Tôi nghĩ chắc sẽ có một thời gian nữa hầu có thể đi tới giải pháp chính
trị".
"Ông nghĩ tôi nên làm việc tại Washington độ bao lâu?"
"Khoảng một tuần…"
"Tạm biệt ông Đại sứ".
"Chúc ông đi b́nh an, khi trở về nhớ gọi tôi ngay, tôi rất muốn gặp lại
ông sớm".
Ông tiếp tôi và anh bạn Jerold Schecter (đồng tác giả cuốn "Hồ sơ mật
Dinh Độc Lập") một cách cởi mở, khác hẳn phong thái ngày trước. Lúc
ở Việt nam, trông ông lúc nào cũng dè dặt, kín đáo, thầm lặng. Người ta
cho là ông c̣n lạnh lùng hơn Đại sứ Ellsworth Bunker, người được gọi là
ông "Đại sứ tủ lạnh". Tống thống Thiệu th́ gọi ông bằng một bí
danh: "Ông Cà phê". Ngày trước ở Sài g̣n có cà phê Pháp "Martin"
nổi tiếng.
"Đại sứ c̣n nhớ dặn tôi gọi lại khi về tới Sài g̣n không?"
Ông nh́n tôi với đôi mắt đăm chiêu, xa vắng. Nhắc lại câu này dường như
đă khơi lại cho ông những ngày giờ kinh hoàng của 10 năm về trước. Với
những cảm xúc ấy chắc cũng chưa bớt đi mức độ nóng bỏng đối với ông.
"Tôi đâu có ngờ tới một kết thúc thảm thương như vậy".
Chúng tôi bắt đầu câu chuyện "phỏng vấn" thân mật. Ông tâm sự nhiều về
những khía cạnh chính trị, ngoại giao, và về cuộc chiến Việt nam. Khi
nói tới cuộc di tản, ông thở dài rồi bỗng nhiên im lặng: "Thôi th́ ít
nhất tôi cũng đă làm được một chút ǵ cho nhân dân anh". Ông muốn nói
tới những cố gắng vượt mức vào ngày giờ chót để giúp một số người Việt
di tản, nhiều hơn gần gấp ba số người Washington định cứu.
Ông nói là trong cuộc đời, ông cũng từng có nhiều kinh nghiệm về di tản:
"Ngay từ 1939 tôi đă nghiên cứu xem những lư do nào đưa tới t́nh trạng
hỗn loạn của cuộc di tản những đoàn người từ Paris xuống Bordeaux. Rồi
đầu thập niên 1950, v́ có trách nhiệm bao trùm cả khu vực Âu châu nên
tôi phải tham dự EUCOM và SHAPE trong kế hoạch pḥng hờ để di tản người
Mỹ khỏi Âu châu. V́ vậy tôi đă hiểu là ở trong hoàn cảnh c̣n yên ổn th́
một chiến dịch di tản cũng đă phức tạp đến chừng nào, mà sự yên ổn đó
đâu có c̣n kéo dài được bao lâu nữa ở Sài g̣n lúc ấy, trừ khi có những
biện pháp đề pḥng lối đa nhằm tránh sự hỗn loạn".
Tranh đấu cho Miền Nam
Một trong những biện pháp đề pḥng là lấy cảm t́nh của người Việt nam.
Về việc này ông đă bắt đầu ngay từ khi mới đến Sài g̣n.
Ông được bổ nhiệm làm Đại sứ vào tháng Bảy, 1973, sau Hiệp định Paris.
Lúc đầu ông Thiệu rất dè dặt. Với bản tính đa nghi, nghe thấy nói ông
Martin là người đă chống việc đem quân vào Việt nam, ông Thiệu phân vân
không biết rồi ông này có phải là một Henry Cabot Lodge thứ hai hay
không.
Đại sứ Lodge là người đă đứng đằng sau cuộc đảo chính ông Diệm năm 1963.
Khi Martin nhậm chức vào hè 1973, t́nh h́nh bang giao Việt-Mỹ lại rất
căng thẳng. Ông Kissinger lại vừa mới kiêm chức Ngoại trưởng. Tuy nhiên,
sự nghi ngờ của ông Thiệu đối với vị tân đại sứ đă sớm tiêu tan. Chỉ sau
ba bốn lần tiếp xúc, ông Thiệu nhận ra rằng Martin là một người ủng hộ
Việt nam. Lư do chính là ông muốn bảo vệ uy tín của Hoa kỳ: không nhẽ
mang trên nửa triệu quân vào chiến đấu mà lại để Miền Nam sụp đổ quá
nhanh. Mặt khác ông cũng không muốn trở thành người phải "đổ vỏ" ốc.
Những viên chức khác làm hỏng đại sự, đến lượt ông lại phải thực hiện
công tác dẹp tiệm sao?
Hút thuốc lá liên tục và làm việc rất khuya tại căn pḥng nhỏ ở tư thất,
ông là người sống nhiều về nội tâm, lúc nào cũng chững chạc, dè dặt. Ông
rất ít giao thiệp với các Đại sứ khác, trừ Đại sứ Pháp Merillon. Hai toà
đại sứ lại ở sát bên nhau. Lúc nào ông Martin cũng trầm lặng, lủi thủi
một ḿnh. Nhân viên toà đại sứ khó tới gần ông và đă chỉ trích ông rất
nhiều.
Vừa nhậm chức th́ Đại sứ Martin đă có tin Quốc hội bàn căi việc cắt viện
trợ cho Miền Nam. Thế là một mặt ông t́m mọi cách trấn an ông Thiệu, một
mặt ông không ngửng biện hộ cho Việt nam cộng hoà tại Washington. Vào
thời điểm đó, ông là một trong vài viên chức Hoa kỳ duy nhất c̣n nghĩ
tới Miền Nam. Là bạn của Tổng thống Nixon, ông đă được Nixon phục chức
cho ông trong ngành ngoại giao. Năm 1967 lúc c̣n làm Đại sứ ở Thái Lan,
ông bị Ngoại trưởng Dan Rusk cho về ngồi chơi xơi nước v́ quá bướng
bỉnh, chống việc Mỹ mang không quân vào Thái Lan. Một năm sau thắng cử,
Nixon đề bạt ông làm Đại sứ tại Ư. Ông tin là quan hệ cá nhân của ông
với Tống thống giúp ông yểm trợ Việt nam trong thời hậu chiến.
Đầu hè 1974, khi thấy viễn tượng Nixon phải từ chức đă rơ, ông hết sức
lo âu. Từ tháng Sáu 1974, thỉnh thoảng ông mời tôi dùng cơm trưa tại tư
thất để bàn về những vấn đề xoay quanh viện trợ Mỹ. "Hay là để tôi đề
nghị Tổng thống Thiệu gửi ông sang làm Đại sứ ở Washington để cùng làm
việc với tôi", có lần ông gợi ư. "Chắc không đâu, v́ tôi đă ở Mỹ quá lâu
rồi", tôi chối ngay. Biết là chúng tôi đă có gặp gỡ thượng nghị sĩ
Kennedy lúc c̣n ở đại học, lại là cựu sinh viên của Schlesinger, Tổng
trưởng quốc pḥng và có quen biết gia đ́nh Mục sư Elson, Tuyên uư Thượng
Viện Mỹ, nên ông Martin đề nghị là dù không trở về Washington tôi cũng
nên bắt tay với ông tranh đấu cho viện trợ.
Tháng Bảy, 1974 ông về Washington cố thuyết phục Quốc hội Hoa kỳ. Trong
một buổi điều trần, ông đă tŕnh bày một h́nh ảnh lạc quan về Việt nam,
và bị nhiều người chỉ trích (4).
Sau khi Miền Nam sụp đổ, năm 1976 ông lại ra điều trần tại Quốc hội, vẫn
không thay đổi lập trường. Lúc chúng tôi gặp lại ông mười năm sau, ông
c̣n nhắc lại: "Nếu không bị cắt hết viện trợ th́ Miền Nam vẫn c̣n khả
năng tồn tại, dù là một Miền Nam thu hẹp" (4).
Vào lúc Miền Nam sụp đổ, trước hết ông đă ra chỉ thị cho George
Jacobson, Phụ tá đặc biệt về điều hành ở Toà đại sứ là phải dùng toàn bộ
phương tiện tài chính, máy bay, tàu, sà lan của toà đại sứ ở khắp mọi
địa điểm để giúp cả quân lẫn dân di tản từ Đà Nẵng và Nha Trang (5). Sau
đó đă tránh sự hỗn loạn có thể xảy ra ở Sài g̣n (xem Chương sau). Đồng
thời đă giúp tị nạn một số người Việt đợt đầu tiên, gần gấp ba lần
Washington dự tính.
Tại những ngày cuối cùng, khi được lệnh phải di tản người Mỹ, ông chần
chừ kéo dài thời gian di tản người Mỹ v́ biết rơ là một khi người Mỹ
cuối cùng đă ra khỏi miền Nam th́ chẳng c̣n người Việt nào được bốc đi
nữa.
"Đại sứ giữ tài liệu mật bị điều tra",
đó là đầu đề của tờ Washington Post ngày 13 tháng Chín, 1978, gần
ba năm rưỡi sau khi Miền Nam sụp đổ. Bài này nói về việc Đại sứ Martin
giữ lại toàn bộ tài liệu mật đă được lưu ở toà đại sứ tại Sài g̣n. Căn
nhà ông ở tương đối cũng nhỏ, ít chỗ lớn để xếp đồ đạc, nên khi về hưu,
ông đă để một số hộp hồ sơ trong thùng xe hơi đậu trước nhà. Đến khi xe
bị mất trộm, ông báo cho cảnh sát North Carolina. Lúc cảnh sát t́m được
và mở thùng xe ra th́ lại thay toàn là tài liệu đóng dấu "Tối mật"
(Top Secret). FBI phóng xe đến điều tra ông.
Khi đăng tin này, toà báo có phỏng vấn ông Frank Snepp tác giả cuốn
"Decent Interval" về ông cựu Đại sứ. Ông Snepp trả lời: "Ông ta nói với
tôi là ông muốn giữ lại những tài liệu này để có thể nói lời cuối cùng
về Kissinger".
Thế nhưng, chưa kịp nói th́ ông Martin đă từ trần.
Thật là một may mắn mà tôi được gặp lại và nghe những lời thổ lộ từ tâm
huyết của vị Đại sứ Mỹ cuối cùng ở Miền Nam và được ông cung cấp một số
tài liệu lịch sử.
Ai là người được chọn?
Khi Pháp rút lui hồi 1954, dù Mỹ không dính dáng trực tiếp vào chiến
tranh Đông Dương th́ cũng đă giúp di tản được một triệu người từ Bắc vào
Nam một cách trật tự. Thời gian di tản c̣n kéo dài được 300 ngày. Lúc Mỹ
rút năm 1975 sau 10 năm trực tiếp tham chiến với hơn nửa triệu binh sĩ,
chẳng nhẽ lại cuốn gói ra đi một ḿnh?
Sau đây là chi tiết về diễn tiến cuộc di tản mà Đại sứ Martin kể lại,
cũng giống như ông đă điều trần tại Quốc hội vào tháng 1,1976 (xem Phụ
Lục F) (6):
Thoạt đầu, căn bản là Hoa kỳ chỉ muốn di tản người Mỹ ra khỏi Miền Nam
cho nhanh, hầu như chẳng ai ở Washington muốn dính tới người Việt, ngoại
trừ thân nhân của công dân Mỹ, một số chọn lọc những người đă cộng tác
với Mỹ, và một số rất nhỏ viên chức cao cấp Việt nam;
Đầu năm 1975 (đặc biệt là từ tháng Ba), Washington đă có lệnh cho di tản
nhân viên làm việc tại văn pḥng Tuỳ viên quốc pḥng DAO (Defense
Artache Office). Văn pḥng này được thành lập sau Hiệp định Paris để
thế MACV (Military Assistance Command, Vietnam), nhưng chỉ đặc
trách về tiếp vận;
Tuần đầu tháng Tư, Đại sứ Martin nhận được lệnh "giảm bớt" cho nhanh số
người Mỹ c̣n ở lại;
Trước ngày 14-4, tức là chỉ c̣n hai tuần trước khi sụp đổ, toà đại sứ
chỉ có quyền cấp giấy phép "tạm dung" (parole authority) cho
2.000 trẻ mồ côi được di chuyển bằng máy bay vào Mỹ;
Ngày 14-4, toà đại sứ chỉ nhận được quyền cho tạm dung thân nhân người
Mỹ nhưng phải theo những điều kiện ràng buộc hết sức chặt chẽ: đó là chỉ
những thân nhân đang có mặt tại Việt nam của những người Mỹ
cũng đang có mặt tại Việt nam;
Ngày 19-4, toà đại sứ nhận được quyền cho tạm dung, quyền này được nới
rộng chút đỉnh, nhưng cũng chỉ bao gồm những thân nhân của công dân Mỹ
và những người Việt nam thường trú (có thẻ xanh) dù không có mặt tại
Việt nam nhưng với điều kiện là họ đă được thân nhân xin visa cho và
đă được sở Di trú chấp thuận;
Sau cùng, măi tới ngày 25-4, tức là năm ngày trước khi Sài gon thất thủ,
toà đại sứ mới nhận được quyền cho tạm dung thêm các bà con, thân nhân
của công dân Mỹ (khoảng 80.000 người) và 50.000 người Việt nam có
"mức rủi ro cao độ", tổng cộng là 130.000 người (7).
Chỉ có 50.000 người thôi
Như vậy hết sức rơ ràng là chỉ c̣n bốn ngày trước lúc triệt thoái cuối
cùng, ngoài người Mỹ, thường trú Mỹ và thân nhân của họ, Hoa kỳ chỉ cho
phép di tản 50.000 người Việt nam, mà số người này phải thuộc về diện
những người có rủi ro cao độ.
Nhưng ai là người có mức rủi ro cao độ? Bộ Ngoại giao Hoa kỳ đă vạch rơ:
"Những nhân viên làm việc cho Mỹ và gia đ́nh của họ;
"Thân nhân của công dân Mỹ;
"Viên chức cao cấp trong chính quyền Việt nam cộng hoà;
và một số những người khác (được coi là) có "nguy hiểm cao độ" v́ sẽ là
đối tượng trả thù của Cộng sản" (8).
Và như vậy, hầu hết các bạn đang đọc quyền sách này đă không phải là
người lọt vào con số được chọn.
Đó là về thủ tục nhập cảnh, thủ tục tạm dung, vốn đă quá khó khăn. Nhưng
c̣n một khía cạnh khác: thái độ của các nghị sĩ, dân biểu, quan chức lại
Washington đối với việc di tản. Nếu Quốc hội chống th́ làm sao có ngân
sách di tản?
Ngày 14-4, Uỷ ban Ngoại giao Thượng Viện đến họp tại toà Bạch Ốc. Diễn
tiến buổi họp cho ta thấy thái độ của Quốc hội Mỹ đối với việc di tản
người Việt tỵ nạn. Khi Kissinger tŕnh bày là trong số trên một triệu
người đă có những liên hệ với Mỹ, có 174.000 người là đặc biệt bị nguy
hiểm với Cộng sản nên Mỹ phải cứu nếu có thể được. Các nghị sĩ đều thoái
thác. Phụ tá Nessen kể lại buổi họp về di tản đó như sau (9):
Nghị sĩ Frank Church: "Cho di tản 174.000 người Việt nam sẽ có thể phải
cần đến một số (quân đội) Mỹ rất lớn trong một cuộc chiến rất dài";
Nghị sĩ Clifford Case nhấn mạnh rằng ư kiến chung của Uỷ ban là số người
Mỹ ở Sài g̣n phải được tập trung lại để đến lúc kết thúc có thể di tản
chỉ bằng một chuyến bay thôi;
Nghị sĩ Charles Percy: "Chúng tôi không muốn người Mỹ phải làm con tin"
(để di tản người Việt);
Kissinger b́nh luận: "Cá nhân tôi cũng không tin rằng ta sẽ có thể di
tản một số nhất định nào đâu, như là 174.000 chẳng hạn. Nhưng ta có bổn
phận là nếu mang được ai ra th́ càng nhiều càng tốt";
Tại đây, Tổng thống Ford cảnh cáo các nghị sĩ: "Nếu quư vị tuyên bố
"không di tản người Việt nam", quư vị sẽ có khó khăn lớn trong việc di
tản 6.000 người Mỹ" (v́ sẽ gặp sự chống cự của miền Nam)";
Nghị sĩ Jacob Javits tuyên bố: "Tôi không muốn bỏ phiếu cấp thêm tiền
cho một Chính phủ do Thiệu lănh đạo, nhưng tôi sẽ trả bất cứ món tiền
chuộc nào để mang người chúng ta ra";
Nghị sĩ Joseph Biden c̣n nói toạc móng heo: "Tôi không muốn trả bất cứ
món nào để đưa người Việt nam đi, chỉ trừ khi ta không thể mang được
người Mỹ nào ra mà không phải mua 174.000 người Việt nam. Trong
trường hợp đó, tôi sẵn sàng mua 174.000 người Việt nam".
Sau cuộc họp, Tổng thống Ford c̣n dặn các nghị sĩ chớ để cho báo chí
biết là tất cả phiên họp chỉ để bàn bạc về chuyện di tản.
Quư vị hăy nói: "Chúng tôi chỉ bàn chuyện làm thế nào để ổn định t́nh
h́nh".
Ai không muốn di tản người Việt?
Ngày 17-4, Đại sứ Martin nhận được một mật điện, trong đó có đoạn như
sau (10):
Người nhận: Martin
Độ mật: Tối mật
"Chúng tôi vừa họp xong một cuộc họp liên bộ để duyệt xét t́nh h́nh miền
Nam Việt nam. Ông Đại sứ phải biết rằng trong phiên họp của Uỷ ban Đặc
nhiệm Washington hôm nay, hầu như không có ai ủng hộ việc di tản người
Việt và việc dùng quân lực Mỹ yểm trợ bất cứ việc di tản (người Việt)
nào.
Quan điểm chung của các giới quân sự, Bộ Quốc pḥng, và CIA là phải rút
ra cho lẹ và ngay lập tức.
(We have just completed an interagency review on the State of play in
South Vietnam. You should know that the WSAG (Washington Section Action
Group) meeting today, there was almost no support for the evacuation of
Vietnamese, and for the use of American force to help protect any
evacuation. The sentimen of our military, DOD (Department of defense)
and CIA colleagues was to get out fast and now"
Với lệnh khẩn cấp đó, Kissinger hối thúc Martin phải gấp rút chạy cho
nhanh. Ông Martin đă báo động Kissinger là nếu chỉ cho di tản người Mỹ
thôi th́ rất nguy hiểm. Kissinger không thèm để ư, và trả lời:
"Mặc dù những lo ngại như Đại sứ đă thông báo cho tôi và tôi cũng đồng ư
như vậy, nhưng điều hết sức cần thiết là yêu cầu Đại sứ xúc tiến cho
nhanh việc di tản những công dân Mỹ ra khỏi Việt nam.
Chúng ta phải làm sao để vào thứ Ba, 22-4, tất cả số công dân Mỹ dù
chính thức hay không cũng chỉ c̣n 2.000 trở lại mà thôi".
Như vậy có nghĩa là trong năm ngày, ông Martin phải di tản khoảng 4.000
người Mỹ.
Ông ta đang cuống lên th́ ngay hôm sau, Kissinger lại tống thêm một lệnh
mới. Chính Kissinger đă viết lại trong cuốn "Ending the Vietnam war"
là ngày 18-4, theo sự chấp thuận của Tổng thống, ông Martin nhận chỉ
thị là phải giảm số người Mỹ xuống c̣n chỉ c̣n 1.250, cũng vào ngày
22-4. Đây là số người được tính toán là trực thăng sẽ có thể bốc đi
trong chỉ một ngày. "Số người Mỹ này, và tuỳ khả năng có thể,
những nhân viên người Việt làm cho Mỹ, sẽ đượcdi tản từ băi đậu ở Toà
đại sứ khi Tân Sơn Nhất bị đe doạ. Và khoảng thời gian c̣n lại (cho tới
22-4), sẽ cố gắng tối đa để di tản số người Việt bị nguy hiểm v́
đă làm cho nước Mỹ (Those who had exposed themselves on America s
behalf) (11).
Washington chỉ hối thúc cho di tản căn bản là người Mỹ và một số nhỏ
người Việt làm cho Mỹ. Vậy làm thế nào để cứu được thêm một số người
Việt?
Câu thêm giờ
Có hàng triệu người cộng tác với Mỹ trong 20 năm qua, bây giờ lại chỉ
cho di tản 50.000 người th́ làm sao coi được. Ông Martin nhất
định không chịu.
Trước hết là ông đă "câu giờ": cố di tản người Mỹ thật nhanh để có th́
giờ di tản thêm số người Việt. Tới Washington, khi ông Ford ra Quốc hội
ngày 10-4 xin thêm tiếp viện bổ túc cho Miền Nam th́ cuộc bàn căi về
Việt nam xoay chiều: thay v́ viện trợ, chủ đề lại là chỉ là di tản. Như
vậy, một mặt Washington muốn đưa người Mỹ ra cho lẹ, một mặt ông Martin
lại muốn kéo họ ở lại. Theo chính Kissinger kể, cũng trong cuốn
"Ending the Vietnam war", th́ Đại sứ Martin đă chần chừ không chịu
di tản cho nhanh v́: "Nhiệt t́nh gắn bó với những người mà ông sắp bị
bắt buộc phải bỏ lại, ông Martin đă coi như bổn phận ḿnh là phải dàn ra
từng chặng, cuộc rút lui của Mỹ trong một thời gian dài nhất để giữ lại
sự có mặt của Mỹ (tại Việt nam) ở mức đủ để bào chữa cho việc cứu vớt
người Việt nam".
"Tin rằng, ngay trước mắt, sự hoảng hốt ở Ság̣n c̣n đáng lo ngại hơn
những kế hoạch tấn công của Hà nội, ông phấn đấu để cho cuộc di tản chậm
nhiều hơn là chính Tổng thống Ford, Brent Scowcroft, hay là tôi – bọn
diều hâu trong chính phú - đă cho là thích ứng" (12)
Nới rộng thẩm quyền
Ngoài việc chần chừ, Martin c̣n dùng mánh khoé riêng của ḿnh để đi
ṿng. Ngày 25-4, khi nhận được phép cho di tản có 50.000 người, ông
nới rộng quyền của ḿnh bằng cách chú thích con số "50.000"
một cách phóng khoáng hơn. Điều trần trước Quốc hội (1976), ông nói:
Ngày 25-4, chỉ c̣n bốn ngày trước lúc di tản cuối cùng bắt đầu ngày
29-4. Lúc đó chúng tôi mới nhận được phép cho mang đi tất cả tổng số là
50.000 người Việt nam - một con số quá ư là ít ỏi. Bởi vậy tôi đă giải
thích con số này là muốn nói tới chủ gia đ́nh chứ không phải là tổng số
người. Bởi vậy, dùng "phương pháp giải thích rộng răi theo lối John
Marshall", chúng tôi đă nới thẩm quyền để giải quyết vấn đề".
(On April 25, only four day before our evacuation began on April 29.
Then we received authority to sen out a grand total of 50,000 Vietnamese
– a number which was clearly insufficient. So I interpreted the number
to include only heads of families and no the families too. So, song the
John Marshal broad construction approach, we stretched the authority to
cover the problem") (12).
"Hành quân gió nhanh"
Vào lúc bốn giờ năm phút sáng Thứ Ba, ngày 29-4 (4:05 chiều 28/4 giờ
Washington), những hoả tiễn đầu tiên của Bắc Việt rơi trúng phi trường
Tân Sơn Nhất.
Đại sứ Martin lên chiếc xe an ninh của ông và cho lái ra sân bay để quan
sát tại chỗ lúc chín giờ sáng. Một phi cơ C-130 bị phá huỷ, hai lính
Thuỷ quân lục chiến Mỹ gác cổng bị chết. Các chuyến bay di tản phải
ngừng. Tuy nhiên, thấy phi cơ dù bị hư hại mà c̣n dùng được, ông Martin
lại điện về xin Tổng thống cho tiếp tục các chuyến bay loại lớn. Ông
Martin kể lại là lúc bảy giờ 30 chiều, ông họp với Hội đồng an ninh Quốc
Gia (NSC) và quyết định chờ một giờ xem pháo binh có ngừng không, nếu
ngừng th́ ông sẽ cho máy bay vào tiếp tục. "Pháo kích có ngừng thật",
ông viết, "nhưng chúng tôi lại có một vấn đề mới phải giải quyết. Dân
chúng ào ra tận phi đạo và máy bay không đáp được. T́nh h́nh rơ ràng
không thể kiểm soát được nữa". Trong lúc đó, các bồn xăng bị trúng hoả
tiễn bắt lửa nổ và phát cháy hừng hực từ góc trụ sở Hăng hàng không dân
sự Air America. Tướng Smith (chỉ huy cơ quan DAO ở Sài g̣n) điện thoại
tới Honolulu cầu cứu đô đốc Gayler, Tổng Tư lệnh quân đội Hoa kỳ ở Thái
B́nh Dương. Ông Gayler gọi Đại sứ Martin thông báo không thể tiếp tục di
tản bằng C-130 được nữa. Miễn cưỡng, ông Martin đồng ư "Lựa chọn IV",
trong kế hoạch di tản, với mật danh "Hành quân gió nhanh"
(Operation frequent wind), Lựa chọn này là chỉ dùng trực thăng bốc
đi từ toà đại sứ Mỹ. Martin gọi Kissinger yêu cầu ông đề nghị Tổng thống
chấp thuận.
Lúc 10 giờ 51 sáng cùng ngày (10 giờ 51 đêm 28/4, giờ Washington), Ford
hạ lệnh bắt đầu cuộc "Hành quân gió nhanh", mật hiệu của "Lựa
chọn IV" (13). Đài phát thanh quân đội Mỹ ở đường Hồng Thập Tự cho phát
sóng mật hiệu cho người Mỹ và một số người Việt liên hệ biết là giờ phút
di tản cuối cùng đă tới.
Chiếc trực thăng thứ nhất tới toà đại sứ đúng hai giờ chiều ngày 29-4.
Có hai chỗ đáp: loại trực thăng lớn - CH-53 đáp xuống băi trong khu sân
đậu xe; loại nhỏ, CH-46 đáp trên nóc toà đại sứ.
Trong 16 giờ cuối cùng, Đại sứ Martin đă hét sức khẩn khoản nài xin thêm
30 chiếc trực thăng loại lớn CH-53 (chở được 50 người, nhưng ngồi chen
chúc cũng được 70). Nhưng ông chỉ thấy lẻ tẻ vài chiếc loại nhỏ CH-46
(chở được 20 người) bay vào! Thấy số máy bay vào quá chậm và ít ỏi, ông
Martin c̣n dùng lư do có số trẻ con lai c̣n bị kẹt lại để biện hộ. Ông
cầu cứu Brent Scowcroft, Chánh Văn pḥng Tổng thống: "Có lẽ ông nên cố
vấn cho tôi làm sao tôi thuyết phục được một số người Mỹ để họ bỏ rơi
lại những đứa con lai của họ, hoặc Tổng thống sẽ được đánh giá như thế
nào nếu ông ta chỉ thị như vậy… "Tôi cần đến chết được (I damn well
need) hối thúc 30 chiếc CH-53 hay một khả năng tương đương…"
Thúc rồi ông c̣n viện cớ rằng trong đám người kẹt lại, có cả một linh
mục Mỹ, bởi vậy nếu không gửi thêm trực thăng vào mà đưa ông ta đi th́
Tổng thống phải chịu trách nhiệm với lănh đạo Công Giáo Hoa kỳ: "Giữa
đám người Mỹ hiện c̣n lại, có cả linh mục Mcveigh, giám đốc cứu trợ Công
Giáo; ngài không chịu đi nếu nhân viên của ngài không được đi.
Làm sao Tổng thống có thể giải thích cho Giám Mục Swanstrom… hay
là Hồng Y Cooke được, nếu tôi bỏ ông ta ở lại, và cứ như vậy, Đại
sứ Martin gửi hết điện này tới điện khác cách nhau vài chục phút. Nhưng
ông Kissinger cũng như tư lệnh Thái B́nh Dương đă đi tới kết luận là ông
Martin đang đánh phé, giữ người Mỹ lại để di tản một giếng không đáy
người Việt"(14).
Tại Washington, theo chính Kissinger thuật lại, ông và Schlesinger đă
ước tính là c̣n 760 người đang ở trong khuôn viên toà đại sứ, và quyết
định gửi thêm 19 trực thăng, chỉ ngần ấy thôi (15). Ông Martin sẽ phải
đi chuyến thứ 19 được kết thúc khoảng 3 giờ 30 sáng.
Lúc 3 giờ 15 sáng (30 tháng 4), một anh phi công chiếc CH-46 đáp xuống
nóc toà đại sứ chuyển một trang giấy viết tay cho ông Martin do Đô đốc
Gayler gửi, ông nói là được lệnh chỉ gửi lại thêm 19 trực thăng, và
không gửi thêm nữa, Đại sứ Martin sẽ phải đi ra chuyến cuối cùng. Sau
này ông Gayler tiết lộ: Ông đă có thẩm quyền để áp giải, nếu ông Đại sứ
cưỡng lại lệnh Tổng thống. Khi Phó Đại sứ Lehman phát hiện ra những
chiếc trực thăng sẽ vào lại là loại nhỏ, một nhân viên toà đại sứ, đại
tá Madison, vô cùng sửng sốt v́ ông đă hứa đi hứa lại với khoảng 420
người Việt c̣n kẹt lại ở Toà đại sứ là họ sẽ được mang đi hết. Bây giờ
không có CH-53 đáp dưới băi đậu ở sân nữa, chỉ có loại nhỏ đáp trên nóc
toà nhà (và chỉ có người Mỹ được di tản thôi!). Vậy ông Madison biết ăn
nói làm sao với những người đă tin cậy vào những lời hứa của ông?
Madison vô cùng bất măn! (16).
Vài giờ sau, toán lính Thuỷ quân lục chiến gác toà đại sứ lần vào cao
ốc, khoá chặt cửa sau lại, để số người muốn tị nạn không vào được nữa.
Chiếc trực thăng cuối cùng, yểm trợ bằng sáu chiếc Cobra gắn đại liên,
chở toán này cất cánh
Trước tám giờ sáng ngày 30-4. Họ ném những hộp hơi cay xuống chung quanh
cao ốc trên đầu số 420 người Việt đứng bàng hoàng ngơ ngác (17). Đám
người này vẫn đứng chờ những chuyến trực thăng không bao giờ tới.
Hy vọng rằng những thế hệ con cháu của đoàn người di tản là những người
Mỹ mai đây sẽ nắm địa vị quyền hành, sẽ không bao giờ đối xử như vậy đối
với những đoàn người di tản từ các quốc gia Đồng minh khác trong một
t́nh huống nào đó, như từ Iraq, Atghanistan, Đài Loan, Đại Hàn, khi Đồng
minh của họ cuốn gói ra đi.
Chú thích:
(1) David Butler, The Fall of Saigon, trang 440.
(2) Frank Snepp, Decent Interval, trang 67.
(3) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
543.
(4) Tuần báo TIME, 4-21-1975, trang 19.
(5) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
560, 576.
(6) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
543-544; 562-563; 590-591;573, 617.
(7) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
543-544; 562-563; 590-591;573, 617.
(8) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony trang
617.
(9) Ron Nessen, It
sure looks different from the inside,
trang 105-106.
(10) Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold Schecter, The Place File, trang 328-
330.
(11) Henry Kissinger,
Ending the Vietnam war,
trang
541.
(12) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
544.
(13) Gerald Ford, A time to heal, lrang 256.
(14) David Butler. The Fall of Saigon, trang 438-439. 444.
(15) Henry Kissinger, A World Restored, trang 551-552.
(16) David Butler, The Fall of Saigon, trang 444-445.
(17) David Butler, The Fall of Saigon, trang 452; về việc này,
Kissinger đă chối đi, nói là ông không biết có số người c̣n kẹt lại
trong toà đại sứ. Xem Henry Kissinger. sđd., trang 552…
P4 - Chương
15
Vào để giúp… Ra lại bắn
nhau?
Các em nữ sinh Việt nam mặc
đồng phục màu trắng, đứng dàn chào trên băi biển, chờ đón để cài hoa lan
lên áo người chiến sĩ Đồng minh. Hôm đó là ngày 8 tháng 3, 1965. Hai sư
đoàn TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng. Họ là nhóm đầu tiên mở đường cho một
đoàn quân trên nửa triệu vào tham chiến tại Việt nam Họ đến để giúp nhân
dân miền Nam chiến đấu với quân đội cộng sản Bắc Việt.
Mười năm sau, cũng vào tháng 3, Mỹ lại có kế hoạch đưa TQLQLC vào. Nhưng
lần này không phải vào Đà Nẵng mà là vào Sài g̣n. Không phải vào để tham
chiến mà là vào để đưa Mỹ rút đi. Kế hoạch rút lui của Mỹ đ̣i hỏi phải
có tới ba chứ không phải hai sư đoàn, cùng với oanh tạc cơ bao phủ ṿm
trời để yểm trợ Tại sao lại như vậy? V́ vào thời điểm này, ngoài quân
đội Bắc Việt, Mỹ c̣n lo ngại hơn nữa là phải chạm súng với chính quân
đội VNCH! Ôi chao, sao lại có thể ê chề đến như vậy? Ăn ngủ với nhau đă
vài chục năm, lúc ra đi lại bắn nhau hay sao?
Ấy thế mà khả năng này lại có thật! Với thời gian, dần dần ta mới thấy
rơ hơn những biến chuyển đàng sau hậu trường khi giờ hấp hối của VNCH đă
gần kề. Đại sứ Martin kể lại với tôi:
"Lúc đó đă có biết bao nhiêu những kế hoạch điên rồ (crazy plans)
được mang ra. Tôi phải cố ngăn chặn lại. Suưt nữa th́ hoàn toàn đổ vỡ,
chẳng ai đi được mà c̣n có thể gây ra thảm hoạ lớn?"
Sau khi nói chuyện với ông và nghiên cứu thêm tôi thấy các t́nh huống
xoay quanh kế hoạch của Mỹ rút khỏi Việt nam nó ăn khớp với nhau. Nói
chung, để giúp cho việc ra đi được yên ổn và không lổn hại nhiều tới uy
tín của ḿnh, Hoa kỳ đă có bốn dự định chính:
- Thứ nhất, một kế hoạch quân sự: mang thuỷ quân lục chiến vào Sài g̣n
để phụ trách di tản 6,000 người Mỹ và một số rất ít người Việt nam liên
hệ;
- Thứ hai, tác động với phía Việt nam để tránh t́nh trạng hỗn loạn vào
giờ phút chót.
- Thứ ba, nhờ cậy Liên Xô dàn xếp với Hà Nội để không cản trở việc di
tản; và
- Thứ tư, sắp xếp một giải pháp chính trị để có một thời gian chuyển
tiếp.
Dù là cả bốn hành động đi chung với nhau, về tầm quan trọng và ưu tiên,
có sự khác biệt giữa những quan chức Mỹ ở Washington và ở Sài g̣n.
Washington th́ đặt nặng giải pháp quân sự và việc cầu cầu Liên Xô. Tại
Sài g̣n, Đại sứ Martin lại cực lực chống đối kế hoạch quân sự, chỉ tập
trung vào việc tránh xáo trộn và sắp xếp giải pháp chính trị.
Về mục tiêu của các giải pháp cũng có sự khác biệt: Washington theo đuổi
một mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu t́nh thế, đó là rút ra cho mau lẹ, trong
khi Đại sứ Martin lại muốn có một thời gian lâu hơn để việc rút lui
không quá lộ liễu, đồng thời giúp di tản một số người Việt nam.
Suưt có đụng độ lớn?
T́nh trạng hỗn loạn, tắc nghẽn ở Sài g̣n làm kẹt việc di tản 6.000 người
Mỹ là một t́nh huống đă làm cho Đại sứ Graham Martin lo nghĩ nhiều nhất.
Ông kể lại là ḿnh đă mất ngủ từ khi trông thấy cảnh rút lui thê thảm
khỏi Cao Nguyên, rồi tới t́nh trạng rối loạn, kiêu binh ở Đà Nẵng, Nha
Trang: dân chúng tràn ngập đường phố để t́m lối thoát, rồi tới t́nh
trạng rối ren ở phi trường. Máy bay không đáp xuống được nữa khi các phi
đạo bị tắc nghẽn. Ông giải thích về bài học quan trọng để rút ra: yếu tố
đáng sợ nhất chính là sự hoảng hốt. Sự hoảng hốt có thể là kẻ giết
người, là kẻ phá đổ, và là yếu tố làm tê liệt mọi việc mà ta cần phải
tránh với bất cứ giá nào vào lúc đó" (1)
Bỏ rơi là phản bội. Phản bội và hậu quả của nó là điều mà Đại sứ Martin
đă vô cùng lo ngại trong những ngày cuối cùng.
Nếu cảnh hoảng hốt lại tái diễn ra ở Sài g̣n th́ hơn 6,000 người Mỹ và
số người Việt được chọn sẽ bị kẹt. Trong trường hợp dó, quân lực Mỹ sẽ
phải vào can thiệp, dẫn tới khả năng đụng độ giữa hai quân đội MỸ-VNCH.
Đó là một t́nh huống xấi nhất, mà lại vào giờ chót.
Kế hoạch để di tản số người Mỹ và bà con hoặc đă có dính líu tới Mỹ, có
mật hiệu là "Talon Vise". Lựa chọn thứ nhất của kế hoạch này là di tản
bằng những máy bay lớn từ phi trường Tân Sơn Nhất, yểm trợ bằng quân lực
Mỹ.
"Tôi cho rằng mang quân đội Mỹ vào là một sai lầm lớn, v́, thưa quư vị,
nếu quư vị đứng vào hoàn cảnh của người Việt nam th́ quư vị sẽ phản ứng
như thế nào?" ông Martin tŕnh bày với Quốc hội về sau này (2).
Khi bị chất vấn là tại sao ông không yêu cầu Tổng thống cho di tản trước
ngày 29 tháng 4 (ngày Tân sơn Nhất bị pháo kích), ông Martin trả lời:
"Không, v́ theo đánh giá kỹ nhất của tôi, nếu làm sớm hơn sẽ có nguy cơ
là xảy ra một t́nh trạng hỗn loạn với kết quả là một số rất đông người
Mỹ sẽ chết. Nó sẽ đưa tới một sự khủng khiếp nặng nề nhất, đó là nhu cầu
phải đưa quá nhiều quân lực Mỹ vào, và chúng ta sẽ phải chiến đấu với
quân đội Miền Nam để mở đường tháo lui" (3).
Ngày nay ta mới hiểu hết được tâm tư của Đại sứ Martin. Rơ ràng là thoạt
đầu Washington chỉ muốn di tản nhân viên toà đại sứ Mỹ, cơ quan Tuỳ viên
quốc pḥng DAO, công dân Mỹ và một số rất ít người Việt làm việc cho Mỹ
mà thôi. Và phương thức di tản th́ lại quá ư là nguy hiểm. Ta thử tưởng
tượng: nếu Mỹ đem từ 3 tới 6 sư đoàn vào để chỉ di tản người Mỹ và bà
con, trước hết là TQLC chiếm đóng phi trường Tân Sơn Nhất, rồi Toà đại
sứ Mỹ; sau đó, trực thăng và từng đoàn xe Mỹ chở người tới phi trường.
Và cũng như vậy, di tản từ các địa điểm khác như Biên Hoà, Cần Thơ. Khi
thấy sự phản bội quá lộ liễu như thế, liệu các đơn vị quân đội, cảnh
sát, nghĩa quân, địa phương quân, dân chúng VNCH có để yên hay không?
Vào đầu tháng 4, sau những buổi họp tại Dinh Độc lập và Phủ Thủ tướng,
tôi cũng đă bắt đầu nghe thấy hai chữ "Đ.m". Sau này, nhiều người cũng
kể lại sự phẫn nộ lúc đó tại các đơn vị quân đội VNCH khắp nơi.
Vào thời điểm đó, "kế hoạch điên rồ" mà ông Martin lo ngại đang được bàn
định tại Ngũ Giác Đài. Kế hoạch này được tuần báo TIME tiết lộ
như sau:
"Sự nguy hiểm là Cộng sản sẽ pháo kích các phi trường. Cũng có một khả
năng ác liệt khác là quân đội miền Nam Việt nam sẽ quay súng bắn vào phi
trường Tân sơn Nhất, vào phía Tân cảng (cảng Newport), hay bắn vào chính
cả cái băi đáp trực thăng trên nóc toà đại sứ Mỹ nữa, nếu những người Mỹ
rục rịch di tản…"(4).
Hoa kỳ đă tập hợp lại một đoàn hạm đội ở vùng biển Nam Hải cho công tác
này. Đoàn này gồm 4 hàng không mẫu hạm: Hancock, Coral Sea, Midway, và
Enterprise. Một đơn vị 2.200 lính Thuỷ quân lục chiến (TQLC) đă được huy
động tới trên bốn mẫu hạm này và những tàu hộ tống khác. "Nếu cần, quân
đội Mỹ có thể được không vận vào Sài g̣n, bắn phá mở đường tiến một địa
điểm an toàn, rồi chở đoàn người di tản ra bằng trực thăng tới các tầu
ngoài khơi"(5).
Địa điểm an toàn đó là phi trường Tán Sơn Nhất. TQTC Mỹ sẽ chiếm và bao
vây phi trường (xem h́nh). Để thi hành kế hoạch này, cũng theo tờ
TIME: Theo ước lượng của các chuyên viên Ngũ Giác Đài, sẽ cần tới 3
sư đoàn - mỗi sư đoàn 18,000 người- và hơn nữa, nếu t́nh h́nh trở nên
bết bát hơn là dự đoán. Ngoài những máy bay phản lực bảo vệ trên ṿm
trời, lại c̣n cần đến yểm trợ hoả lực từ ngoài khơi, và hàng tá, nếu
không phải là hàng trăm chiếc trực thăng nữa"(6).
Tờ NEWSWEEK c̣n tiết lộ là Ngũ Giác Đài rất lo ngại về t́nh huống
có thể xảy ra như một ác mộng, đó là nhu cầu phải có một lực lượng làm
hậu thuẫn cho kế hoạch Talon Vise, nhất là khi họ đă trông thấy cái cảnh
kiêu binh của nhiều binh chủng ở Đà Nẵng (7):
"Dù rằng đă có 20,000 quân ở Miền Tây Thái B́nh Dương và vài tá chiến
hạm - gồm 4 hàng không mẫu hạm cớ lớn và một mẫu hạm chở trực thăng ở
ngay bên trong, hay sát gần hải phận Việt nam, lực lượng này gần như
chẳng đủ để thi hành công tác đó. Sau kinh nghiệm Đà Nẵng và Nha Trang
hai tuần trước đây… Ngũ Giác Đài đă trở nên thận trọng".
Tờ báo này trích dẫn một viên chức cao cấp ở Ngũ Giác Đài đă tiết lộ:
"Tôi đă được nghe một số tướng lănh nói có thể cần tới 6 sư đoàn mới lập
được một hành lang di tản". Viên chức cao cấp khác thêm: "Phải chiếm phi
trường Tân Sơn Nhất để máy bay và trực thăng đáp, chỉ việc này không
thôi cũng đă cần 3 sư đoàn. Rồi cần giữ an ninh ngoài cảng cho tầu cập
bến nên lại cần thêm ba sư đoàn nữa".
Ngày 28 tháng 4, tờ NEWSWEEK c̣n tiết lộ thêm là có thể cần tới
200,000 quân đội Mỹ, nhưng các nhà quân sự đă phải thừa nhận rằng khó có
thể nào điều động được một số quân lớn như vậy trong một thời gian ngắn.
Tờ này nói thêm: "Một viên chức Mỹ ở Sài g̣n đă giải thích "Chúng tôi
thật ḷng cố gắng để di tản tất cả những người đă làm việc cho chúng tôi
hay những người bị nguy hiểm. Thế nhưng, hăy nh́n vào thực tế: chúng tôi
phải lo cho người chúng tôi trước, và trong lúc này th́ chỉ việc đó cũng
là một cơn ác mộng rồi".
Đại sứ Mỹ cực lực phản đối
Từ khi biết được kế hoạch này vào khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư,
Đại sứ Martin đă chống lại. Rồi ngày 8-4, ông lại thấy trong bài diễn
văn đọc trước Quốc hội, Tổng thống Ford lại c̣n nói rơ ra rằng ông yêu
cầu Quốc hội cho phép dùng quân lực Mỹ để thực hiện một mục tiêu
giới hạn là bảo vệ mạng sống người Mỹ bằng cách đảm bảo cuộc di tản của
họ, nếu trở nên cần thiết". Ông Ford c̣n xin Quốc hội sửa đổi luật lệ
hiện hành (về quyền hạn chiến tranh của Tổng thống) để ông c̣n có thể
dùng quân lực giúp di tản một số người Việt mà Mỹ có trách nhiệm đặc
biệt đối với họ (những người làm cho Mỹ).
Nghe Tổng thống nói tới "dùng quân lực" là ông Martin hết hồn. Ông cực
lực phản đối. Không, ông không thể nào để xảy ra một t́nh huống có thể
dẫn đến cái cảnh Mỹ-Việt chĩa súng bắn nhau, mà lại bắn nhau vào giờ
phút chót! Cái cảnh nồi da xáo thịt ấy c̣n làm cho Mỹ bẽ mặt thêm biết
bao nhiêu nữa. Trong mật điện rất dài gửi Kissinger đêm ngày 17 tháng 4,
ông Martin đă thẳng thắn đề cập tới vấn đề và cố thuyết phục(8):
"Lệnh di tán người Mỹ đột ngột có thể gây bạo động ở Sài g̣n. Nếu không
giữ b́nh tĩnh mà lại đưa thuỷ quân lục chiến vào đây th́ có thể gây sự
nổi giận không thể lường được… "
Rồi ông nhấn mạnh thêm:
"Tôi nhắc lại một lần nữa là sẽ có náo động lớn, nếu gửi quân đội Mỹ vào
Sài g̣n, ngoại trừ một số ít và không quí lộ liễu".
"Tất cả pḥng tin tức lặt vặt nhận được về phản ứng (của phía Miền Nam)
đều xác định đây là điều ta không nên làm… "
Chắc chắn ông Martin đă nhận được nhiều tin tức t́nh báo về khả năng
này.
NEWSWEEK
(28 tháng 4) c̣n viết thẳng ra: "Thực vậy, kế hoạch pḥng hờ để bảo vệ
người Mỹ được soạn thảo ra dường như là để đối phó với những người lính
Miền Nam đang liều mạng t́m lối thoát hoặc uất hận v́ bị bỏ lại, c̣n
nhiều hơn là đối phó với đoàn quân cộng sản đang tiến tới".
Tờ này c̣n thuật lại câu chuyện là một buổi sáng nọ, khi quan sát nhóm
người Mỹ và thân nhân Việt của họ kéo đến trước toà đại sứ, một viên
chức cảnh sát Sài g̣n bỗng nhiên chặn lại và quát lên: "Các anh không
thể bỏ xứ này ra đi, tôi sẽ nhốt hết các anh lại". Lính gác vội vàng đưa
đoàn người này lọt vào qua cổng toà đại sứ.
Trường hợp khác, tại Cần Thơ, những chuyến trực thăng của hăng Air
America đă phải bay ban đêm tới một khu chung cư của người Mỹ để bốc họ
đi, v́ viên sĩ quan chỉ huy phi trường có nói với ông Lănh sự Hoa kỳ ở
Cần Thơ rằng ông ta không thể bảo đảm được kỷ luật của quân lính dưới
quyền ḿnh nếu người Mỹ cố di tản bất cứ ai ra khỏi phi cảng"(9).
Về điểm này, chính bản thân nhiều độc giả chắc cũng đă chứng kiến những
bất măn tương tự tại các đơn vị quân đội hay tại địa phương.
Tại Nha Trang, NEWSWEEK thuật lại: "Khi Toà Lănh sự Mỹ di tản,
chỉ có đủ máy bay để chở người Mỹ, những lính gác Mỹ đă phải chĩa súng
tự động vào số nhân viên để họ khỏi tràn ngập máy bay. Và một nhân viên
CIA c̣n kể đến một chuyến phản bội nhẫn tâm hơn khi di tản Toà Lănh sự
Mỹ ở Đà Nẵng: tới lúc ra đi, người Mỹ nhận thức rằng họ không thể nào
cho di tản số nhân viên Việt nam được, nên họ đă cho đậu ba chiếc xe vận
tải trước cổng Toà Lănh sự. Người Việt vội vàng trèo lên, thế là xe
phóng đi liền. Khi đám đông đi rồi, người Mỹ mới chạy thoát ra. Rồi
những chiếc xe vận tải thả ngay lại số người này xuống một băi ở cách
Toà Lănh sự mấy dậm" (10).
Theo những thông tin nhận được, ông Martin ra sức ngăn chặn việc mang
quân vào. Trong cùng một mật điện (ngày 17 tháng 4), ông báo động về
Washington.
"Người Việt nam sẽ cho rằng Hoa kỳ mang TQLC vào để di tản người Mỹ
và mặc kệ số phận người Việt ở đây. Đó là một hành động phản bội trắng
trợn của Hoa kỳ".
"Họ sẽ tin rằng Mỹ chẳng c̣n cần để ư tới những ǵ sẽ xảy ra cho họ nữa.
Và từ cái cảm nhận sâu đậm đó, nếu chỉ có một việc ǵ bất ngờ xảy ra, dù
là nhỏ nhoi tới đâu, cũng có thể gây ra t́nh trạng vô cùng hỗn độn. Cứ
để như t́nh trạng hiện tại, chúng tôi sẽ gây được cảm t́nh với người
Việt nam v́ họ cho rằng người Mỹ c̣n ở lại đây cũng chịu chung số phận
với họ…"
"Hôm nay tôi đă cho di tản, một cách bất hợp pháp, bà vợ của một viên
chức t́nh báo cao cấp. Ông ta sẽ không bao giờ ra đi, nhưng như vậy ta
luôn luôn có thông tin đầy đủ, và chính ông ta cũng đă dùng ảnh hưởng
lớn của ḿnh can thiệp với tư lệnh một vài đơn vị quân đội trong số
những đơn vị mạnh nhứt để giúp cho "những người bạn trung thực nhất" của
Việt nam ra đi cho an toàn".
Rồi như không c̣n chế ngự được ḿnh nữa Đại sứ Martin đă đi tới chỗ gần
như chửi thề ông Ngoại trưởng và Tổng thống:
"Thế nhưng tất cả những điều này đều có thể thay đổi đột ngột nếu như
có một tên điên rồ khốn kiếp nào đó (some god-damned fool) lại thuyết
phục được một trong các quư ông ở địa vị lănh đạo cao cấp, mang TQLC vào
trước khi tôi yêu cầu".
"Và tôi sẽ không ngần ngại chút nào để yêu cầu khi trật tự công cộng bắt
đầu tan ră".
Để cho tăng phần quan trọng, ông thêm: "Đây là công điện tôi tự đánh máy
lấy, không có bản sao, ngoại trừ hồ sơ tại Washington".
Chữa xong, trước khi chấm dứt bức công điện, ông đă bỏ hết mọi ràng buộc
về ngoại giao và c̣n dứt khoát với cấp trên:
"Có một điều tôi đoan chắc tuyệt đối (deadly certain) là nếu đưa quân
đội Hoa kỳ ào ạt vào đây trong điều kiện hiện nay th́ họ sẽ phải chiến
đấu với quân đội miền Nam để t́m đường tháo chạy".
"Nếu ta hành động một cách b́nh tĩnh th́ ta có thể rút khỏi một cách êm
đẹp - tôi xin nhắc lại – và ta sẽ không làm một lỗi lầm ghê gớm nữa
trong trăm ngàn lỗi lầm người Mỹ đă làm ở Việt nam và về vấn đề Việt
nam".
Trân trọng,
Martin
Tác động phía miền Nam
Một mặt th́ ngăn chặn Washington gửi TQLC vào Sài g̣n, một mặt ông lại
cố tác động phía Miền Nam để giữ cho t́nh h́nh khói xáo trộn. Ông làm ba
hành động: một là sinh hoạt hết sức b́nh tĩnh để không đổ thêm
dầu vào lửa, không làm xôn xao thêm dư luận là Mỹ đang bỏ chạy; hai
là cố kéo dài cuộc di tản người Mỹ để giúp một số người Việt ra đi;
và ba là cho di tản sớm một số phi công và gia đ́nh quan chức,
tướng lănh ṇng cốt. Ông giải thích cho Quốc hội Hoa kỳ đầu năm 1976:
Điều lo ngại nhất của chúng tôi lúc đó là tránh khỏi cảnh hoảng hốt, hỗn
loạn. Sự lo nghĩ này nó ảnh hưởng đến tất cả những hành động khác. Liên
quan tới điều này là mối lo âu thứ hai của tôi, có là: nếu chúng ta
không cư xử cho đúng mức th́ Đồng minh của chúng ta (phía VNCH) sẽ cảm
thấy ḿnh đang bị bỏ rơi, và trở mặt với Mỹ trong những ngày cuối cùng".
"Bởi vậy phải hết sức b́nh tĩnh nếu muốn di tản được người Mỹ, những
người Việt có liên hệ gia đ́nh với Mỹ, và càng nhiều nếu có thể được, số
người Việt mà Mỹ có trách nhiệm đối với họ" (11).
Dù bị Kissinger hối thúc liên tục, tại tư thất cũng như văn pḥng làm
việc, ông Martin nhất định không chịu đóng gói. Đồ đạc, sách vở, hồ sơ,
h́nh ảnh trên tường vẫn được để nguyên vẹn, không xê dịch. Ngày 18 tháng
4, ông c̣n cho Giám đốc Thông tin Hoa kỳ, ông Lan Carter lên TV Sài g̣n
để tham dự một cuộc phỏng vấn. Những câu hỏi và trả lời được soạn kỹ
lưỡng trước, nhằm làm giảm nhẹ những lo âu là Mỹ đang bỏ Việt nam. Việc
đầu liên Carter phải làm là đánh tan cái tin đồn là "nếu Quốc hội Mỹ
không chấp thuận quân viện cho VN vào hạn chót như Tổng thống Ford đă
đặt ra (đó là 19-4), th́ toàn bộ người Mỹ sẽ được di tản".
Tôi c̣n nhớ là ngày 11 tháng 4, sau khi ông Ford ấn định ngày 19 tháng 4
là ngày Quốc hội phải quyết định có hay không cấp quân viện phụ trội cho
VNCH, toàn bộ Nội các hết sức xôn xao. Ông Thiệu cũng hỏi tôi tại sao
lại là ngày 19-4? Tôi trả lời là thực sự tôi cũng không hiểu. Sau đó tôi
tới Đại sứ Martin hỏi, ông nói lơ mơ là không có ǵ đặc biệt. Rồi ông
soạn một trang gợi ư cho ông Thiệu mấy điểm để giải thích lập trường của
ông Ford (xem chương sau).
Trong cuộc phỏng vấn trên TV, ông Carter đă nhan mạnh "Ngày 19 tháng 4
chỉ là một ngày đề ra cho Quốc hội hành lang, chẳng có ǵ quan trọng cả.
Ngoài ra, ông nói: "Ta cũng nên nhớ rằng Tổng thống Ford đă tuyên bố ông
sẽ c̣n yêu cầu những $1.29 tỉ quân viện cho VNCH vào tài khoá tới
(1975/76)".
Để chứng tỏ là t́nh h́nh vẫn b́nh thường, Carter nói thêm: "Nếu quư vị
ghé thăm tư thất Đại sứ và bà Martin, quư vị sẽ thấy hoàn toàn không có
đóng gói ǵ hết. Và ở nhà riêng tôi cũng vậy".
Được hỏi về lời đồn thổi là Văn pḥng lănh sự Mỹ đă cấp chiếu khán cho
một số người Việt di tản, Carter chối phắt đi:
"Đây cũng chỉ là một lời đồn đại khác nữa, không có một chút sự thật nào
cả" (12).
Người ta kể lại là ông Martin đă rất khó chịu với ông Polgar (trùm CIA)
khi nghe tin ông này đă đóng gửi đồ đạc gia dụng đi từ đầu tháng 4 (13).
Theo ông Von Marbod, Đệ nhất Phó phụ tá Bộ trưởng quốc pḥng kể lại, dù
đă tới ngày 28 tháng 4, ông Martin cũng vẫn c̣n chưa muốn cho Marbod di
chuyển số máy bay c̣n lại và quân cụ nặng ra khỏi VN v́ e ngại ảnh hưởng
tới tinh thần quân đội VNCH. Dĩ nhiên là Marbod cứ tiếp tục v́ ông đă có
lệnh từ Washington. V́ sao phi công VN được di tản trước?
Ngoài bà vợ viên chức t́nh báo cao cấp, Đại sứ Martin đă sắp xếp để đưa
một số khá nhiều phi công VNCH và gia đ́nh được ưu tiên ra đi. Tất cả
khoảng 2,000 người di tản trước hết là tới phi cảng Utapao ở Thái lan.
Mục đích của việc này là để giảm thiểu khả năng trả thù và đụng độ với
lực lượng Mỹ. Tŕnh bày cho Quốc hội về việc này, ông Martin cho rằng
nếu cảm thấy bị bỏ rơi quá tàn nhẫn, phía Việt nam sẽ trút sự giận dữ
trên đầu những người Mỹ c̣n lại:
"T́nh báo của chúng tôi đă có rất nhiều những báo cáo chính xác là nếu
chúng ta mang số đông TQLC vào để di tản người Mỹ, chúng ta sẽ phải
chiến đấu để mở đường tháo chạy; Không quân Việt nam sẽ bắn rơi các máy
bay vận tải của ḿnh, khi chúng ta bỏ rơi chiến hữu, phó mặc họ cho Bắc
Việt"(14).
Ông Martin cho rằng phi công là những phần tử trong quân đội VNCH bị uất
hận nhiều nhất nên có thể phản ứng:
"Tôi có một sự lo nghĩ trong ḷng nhưng nó đă được giải quyết trước ngày
cuối cùng của cuộc di tản, đó là một phần đông không quân Miền Nam đă
được bay sang căn cứ Utapao ở Thái Lan. Như vậy là đă di chuyển được khả
năng (chiến đấu) của một số phi công chống đối trên bầu trời, họ có lẽ
là phần tử uất hận nhất trong các quân chủng. Và để trả thù, họ sẽ ngăn
chặn cuộc di tản cuối cùng của chúng ta"(15).
Nếu phi công VNCH bắn rơi ba bốn chiếc máy bay vận tải Mỹ chắc chắn là
sẽ có nhiều trong số 6,000 người Mỹ phải chết. Thêm vào đấy là số thương
vong không thể lường của quân đội hai bên. Dĩ nhiên là không lực từ
Đệ thất hạm đội sẽ vào uy hiếp, dẹp tan hết mọi cuộc tấn công. Nhưng
Sài g̣n sẽ đổ nát như Baghdad, và bao nhiêu người dân sẽ là nạn nhân. Về
điểm này, Đại sứ Martin đă tŕnh bày với Quốc hội hết sức dứt khoát. Ông
nói rằng nhân dân Mỹ đều "biết đếm", họ đếm được những kết quả việc ông
đă làm, đó là (16):
- Giúp cho bất cứ người Mỹ nào muốn di tản đều đă đi được;
- Tránh khỏi sự hoảng hốt lúc Mỹ ra đi;
- Sự chuyển tiếp qua ba Chính phủ trong mười ngày ở Miền Nam đă không bị
lộn xộn, và v́ vậy, đă vớt vát được chút đỉnh tính cách hợp hiến, hợp
pháp ở Miền Nam;
- Sài g̣n đă không bị tàn phá, chúng ta đă không bị Đồng minh trước đây
của chúng ta (VNCH) tấn công khi rút đi"; và
- Cuộc triệt thoái đă được diễn ra tương đối với đôi chút phẩm cách.
Trong t́nh huống có xô xát lớn giữa quân đội của hai Đồng minh vào những
ngày cuối cùng, th́ ngay tức khắc VNCH sẽ trở thành thù địch của Hoa kỳ.
Trong trường hợp này th́ đă không một người nào trong chúng ta được di
tàn.
Và nếu đă là thù địch, nếu đă không có di tản đợt đầu th́ làm sao có đợt
hai, đợt ba, làm ǵ có chương tŕnh "Ra đi có trật tự" (ODP), và chương
tŕnh "Chiến dịch nhân đạo" (HO).
Chắc chắn là đă không có "Little Saigon" ở Nam Cali hay Eden
Center" ở vùng Washington D.C. Lịch sử Hoa kỳ sẽ ghi lại: "Chính
Miền Nam là kẻ phản bội, sát hại một Đồng minh đă tiêu phí 150 tỷ đô la,
hy sinh trên 53,000 mạng người để yểm trợ họ ṛng ră hai mươi năm trời".
Ngày nay, người Mỹ sẽ nh́n người Miền Nam với con mắt như thế nào? Nghĩ
lại mà rùng ḿnh! Như ông Martin đă đánh giá t́nh h́nh lúc đó: "Nếu
chỉ có một việc ǵ bất ngờ xảy ra dù là nhỏ nhoi tới đâu, th́ rất có thể
gây ra t́nh trạng vô cùng hỗn loạn!" Thử tưởng tượng: đang khi TQLC
Mỹ ào ào túa vào, dân chúng chắn trước cổng Toà đại sứ, đường phố Sài
g̣n bế tắc, phi trường Tân Sơn Nhất lộn xộn, chỉ một quả lựu đạn nổ, làm
chết vài người lính Mỹ là tan vỡ rồi, chứ đừng nói tới không quân bắn
vào máy bay vận tải Mỹ.
Huỷ bỏ "kế hoạch điên rồ "
Trước sự phản đối liên tục và mạnh mẽ của Đại sứ Martin, ông Ford sau
cùng đă được thuyết phục. Ông lập luận theo ông Marlin và cảnh cáo các
thượng nghị sĩ của Uỷ ban Ngoại giao trong một cuộc họp kín tại Bạch
Cung (17):
"Nếu quư vị tuyên bố là sẽ không di tản người Việt nam, quư vị sẽ có khó
khăn lớn để đưa 6,000 người Mỹ ra".
Về cuộc họp này, Ron Nessen kể lại như sau (18):
"Kissinger, với vẻ mặt mệt mỏi và phiền muộn, đă báo cáo rằng một quan
chức Sài g̣n có nói với ông: "Nếu các Ngài rút người Mỹ ra và bỏ rơi
chúng tôi trong hoạn nạn, các Ngài có thể sẽ phải đánh nhau với một sư
đoàn quân đội Miền Nam để có lối ra".
Trong hồi kư của ông xuất bản năm 1979, Tổng thống Ford cũng đă kết luận
về cuộc di tản đúng như nhận xét của ông Martin hồi đó (19).
"Chúng tôi cảm thấy rằng một cuộc di tản vội vă sẽ có những hậu quả trầm
trọng. Một t́nh trạng hoảng hốt lớn tại thủ đô miền Nam sẽ có thể phát
sinh, và trong sự chua cay là bị "phản bội", quân đội miền Nam có thể
quay súng vào người Mỹ".
Cảnh cáo các Nghị sĩ xong, cũng theo Nessen, ông Ford vẫn tiếp tục yêu
cầu cấp $722 triệu quân viện mà tướng Weyand đă đề nghị. Ford và
Kissinger nghĩ rằng đối với Chính phủ VNCH, yêu cầu Quốc hội khoản tiền
này sẽ có tác động hối lộ". Tổng thống Ford cảnh cáo quư vị nghị sĩ:
"Tôi không thể đảm bảo được rằng nếu chúng ta nói "không cấp tiền nữa",
mà ông Thiệu … lại không có thể làm một chuyện ǵ đó là hoàn hoàn
phi lư"
Nói rơ hơn, ông Ford c̣n thêm: nếu rút hầu hết người Mỹ cùng một lúc sẽ
làm cho người Việt nam nghĩ rằng Mỹ đang tháo chạy, sẽ có thể gây ra
hoảng hốt, rồi những cuộc tấn công vào những người Mỹ c̣n lại".
Sau cuộc họp, Ford c̣n dặn các nghị sĩ là chớ có để cho báo chí biết là
tất cả phiên họp chỉ toàn bàn tới chuyện di tản.
Quư vị hăy nói: "Chúng tôi chỉ bàn chuyện làm thế nào để ổn định t́nh
h́nh lại Miền Nam".
Cầu cứu Nga Xô
Đó là tác động về phía Miền Nam. C̣n đối với Bắc Việt th́ sao? Trong
cuốn sách vừa xuất bản năm 2003 về "Kết thúc chiến tranh Việt nam" ("Ending
the Vietnam war"),
Kissinger có tiết lộ rằng, tác động duy nhất mà Mỹ có thể làm được về
chính trị vào lúc đó là tiếp xúc với Liên Xô. Ông cho rằng mặc dù
có những đ́nh trệ trong cuộc thương thuyết về nhiều vấn đề, Nga Xô vẫn
tiếp tục thấy quyền lợi của ḿnh trong mối bang giao giữa hai nước. Bởi
vậy, Kissinger viết (20): "Ngày 19 tháng 4, tôi gửi một "lời nhắn miệng"
của Tổng thống Ford cho Tổng Bí Thư Brezhnev qua Đại sứ Dobrynin rằng
chúng tôi cần có một cuộc đ́nh chiến để "di tản công dân Mỹ và những
người Miền Nam có liên hệ trực tiếp và đặc biệt với Mỹ". "Chúng tôi đă
liên lạc với Moscow v́, dựa trên quyền lợi hỗ tương và lâu dài giữa hai
nước, t́nh h́nh phải được kết thúc mà không gây phương hại tôi quan hệ
Mỹ-Nga, hoặc có ảnh hưởng tới thái độ của dân chúng Mỹ đôi với các vấn
đề quốc tế khác".
Ông c̣n tin rằng để làm cho giải pháp cầu cứu phía Nga Xô có hiệu quả,
"Chúng tôi đă nhấn mạnh thiện chí chúng tôi muốn thảo luận về những t́nh
huống đặc biệt cần thiết cho cuộc đ́nh chiến - nói cách khác, tới một sự
thay đổi về t́nh thế chính trị ở Sài g̣n".
"Về thay đổi t́nh thế chính trị", ư Kissinger muốn nói về nhượng hộ
chính trị, đó là thay đổi Chính phủ Thiệu. Ông b́nh luận thêm trong cuốn
sách: "Chúng tôi giả bộ nêu ra những hậu quá nguy hiểm nếu phi trường
hay phi cơ dân sự bị tấn công - tuy nhiên, một người quá chuyên môn về
những cuộc tranh luận tại Quốc hội Hoa kỳ như ông Dobrynin th́ cũng
chẳng thấy một chút trọng lượng nào trong lời hăm doạ ấy"(21).
Hà Nội không can thiệp di tản
Sau này, khi được hỏi về vai tṛ của Nga Xô trong những cuộc thương
thuyết từ trung tuần tháng 4, 1975, Đại sứ Martin có xác định lại là:
"Phía Nga Xô có cho phía Hoa kỳ hay rằng Hà Nội sẽ không làm trở ngại
cuộc di tản của chúng ta"
Về thái độ của Liên Xô, Kissinger kể lại: "Ngày 24 tháng 4, ông Dobrynin
gọi điện thoại cho tôi lúc 4 giờ chiều và đọc cho tôi nghe lời
phúc đáp về đề nghị ngày 19 tháng 4 của Mỹ. Lời phúc đáp này có vẻ đă
bật đèn xanh cho cuộc di tản người Mỹ, và cũng nói rằng Hà Nội muốn t́m
một giải pháp chính trị theo hướng Hiệp định Paris. Hà Nội c̣n nhắn với
Moscow là "họ không có ư định làm tổn thương tới uy tín của Mỹ…" Và như
vậy, Brezhnev đă cố ngăn cản Mỹ can thiệp bằng quân sự: ông ta đă mạnh
dạn hơn để ḱm hăm cái bản chất phiêu lưu mà thực sự đă không có của Hoa
kỳ lúc đó, bằng cách bày tỏ hy vọng là Mỹ sẽ không có những hành động có
thể làm cho t́nh h́nh tại Đông Dương thêm trầm trọng hơn" (22).
Trong khi chờ đợi Liên Xô tham khảo với Hà Nội để trả lời, ngày 24 tháng
8, lúc 8:25 phút, Mỹ đáp lại lời nhắn của ḿnh: "Theo như phúc đáp xây
dựng của phía Nga Xô, phía Hoa kỳ đang tiến hành cuộc di tản với tin
tưởng là điều kiện sẽ tiếp tục thuận lợi".
Kissinger c̣n thêm:
"Tổng thống Ford trấn an Brezhnev là… bao lâu cuộc di tản không bị cản
trở th́ Hoa kỳ sẽ không có hành động ǵ có thể làm cho t́nh h́nh trở nên
trầm trọng hơn". (tức không can thiệp trở lại).
Tại Sài g̣n, Đại sứ Martin lại không mấy lo về phía Hà nội.
Kissinger cũng xác nhận điều này: "Tin rằng, ngay trước mắt, sự hoảng
hốt ở Sài g̣n c̣n đáng lo ngại hơn những kế hoạch tấn công của Hà nội,
ông phấn đấu để cho cuộc di tản chậm nhiều hơn là chính Tổng thống Ford,
Scowcroft, hay là tôi - con diều hâu trong Chính phủ- đă cho là thích
ứng" (xem Chương 14).
Ông Martin tŕnh bày lại cho Quốc hội: "V́ phải được bảo mật, tôi là
người duy nhất ở Sài g̣n nhận được thông tin do Bắc Việt chuyển qua phía
Liên xô cho hay rằng họ sẽ không can thiệp bằng quân sự vào cuộc di tản
của chúng ta" (23). Ông c̣n tin rằng sở dĩ Bắc Việt vẫn muốn điều đ́nh
một giải pháp chính trị, v́ họ cũng không muốn bước vào Sài g̣n trên một
đống gạch vụn". Lư do khác, theo ông: "Hà nội c̣n muốn nhận được viện
trợ quốc tế nữa" (24).
Nhưng nếu Hà Nội không can thiệp vào di tản th́ tại sao lại có vụ pháo
kích vào phi trường Tân Sơn Nhất ngày 29 tháng 4?" Ông Martin trả lời:
"Theo sự suy nghĩ của tôi, lư do có pháo kích vào phi trường sáng ngày
29 tháng 4, là v́ ngày hôm trước đó, chúng tôi bắt đầu cho một số Không
quân Việt nam đưa máy bay ra ngoại quốc; tôi nghĩ rằng vụ pháo kích nhằm
mục đích chỉ là để ngăn chặn việc di chuyển này mà thôi (chứ không v́
muốn chặn cuộc di tản) (25).
Giải pháp chính trị
Mười ngày cuối cùng của cuộc chiến là những ngày cực kỳ khó khăn. nguy
hiểm. Trong những ngày đó, phía Hoa kỳ, đặc biệt là ông Marttin đă cố
gắng sắp xếp một giải pháp chính trị cho Miền Nam. Kết quả là trong mười
ngày, có tới ba Chính phủ. Nhưng rồi kết cuộc cũng là hoàn toàn thất
bại.
Về hành động sắp xếp đằng sau hậu trường th́ trong khi tại Washington,
các ông Ford và Kissinger đi qua ngả Dobrynin để nhờ Nga Xô áp lực Hà
Nội, th́ ở Sài g̣n, hai ông Martin và Polgar liên lạc qua ngả đại diện
Hungary trong phái đoàn Kiểm soát đ́nh chiến và Đại sứ Pháp Merillon.
Về mục tiêu của giải pháp chính trị cũng có t́nh trạng trống đánh xuôi
kèn thổi ngược. Trong khi Ford-Kissinger chỉ mong có một giải pháp t́nh
thế, một t́nh huống trong tầm kiểm soát, để Mỹ có thể rút ra cho yên ổn,
th́ Martin lại muốn theo đuổi một mục tiêu lâu dài hơn: đó là có được
một giai đoạn chuyển tiếp để:
- thứ nhất, giúp Mỹ ra đi tư từ, chứ không vội vă và mất mặt;
- thứ hai, di tản một số người Việt nhiều hơn là Washington đă dự tính;
và
- thứ ba, như đă đề cập ở trên, để tránh xung đột Mỹ-Việt
Tại Washington: trong cả hai thông điệp cho Nga Xô, Tổng thống Mỹ đều
nói tới một giải pháp chính trị. Về thông điệp ngày 19 tháng 4,
Kissinger viết (26):
Chúng tôi nhấn mạnh thiện chí của chúng tôi muốn thảo luận về t́nh huống
cần thiết đặc biệt cho việc đ́nh chiến – nói cách khác, một sự thay đổi
về t́nh h́nh chinh trị ở Sài g̣n".
Đây là sự mập mờ bắn tiếng về việc áp lực ông Thiệu phải từ chức. Một
tuần trước khi sụp đổ, trong thông điệp ngày 24-4 gửi Brezhnev,
Kissinger lại nhắc tới giải pháp chính trị:
Lời đáp của Hoa kỳ cũng khích lệ quan điểm của Hà Nội "cách thức thi
hành Hiệp định Paris để đi tới một giải pháp chính trị".
Dù từ Washington hay Sài g̣n, đ̣i hỏi đầu tiên của giải pháp chính trị
là việc ông Thiệu phải từ chức. Ở đây, tôi c̣n nhớ khi tạm biệt Đại sứ
Martin để lên đường đi công tác Washington ngày 15 tháng 4, tự nhiên ông
hỏi tôi:
"Nhân tiện tôi muốn hỏi ông bao giờ th́ Tổng thống của ông từ chức?"
Hết sức ngạc nhiên: "Tôi không hiểu ông Đại sứ muốn nói ǵ cả!", tôi
đáp. Tôi để ư đây là lần đầu tiên thấy ông Martin dùng từ ngữ "Tổng
thống của ông" thay v́ "Ông Tổng thống" hay là "Tổng thống Thiệu". Tôi
thông báo cho ông Thiệu ngay về câu hỏi trở trêu này trước khi lên máy
bay.
Hai ngày sau, 17 tháng 4, ông Martin đă đề nghị với Kissinger trong một
công điện tối mật để đồng ư cho ông thuyết phục ông Thiệu từ chức (27):
"Nếu Quốc hội bỏ phiếu chống (viện trợ cho VNCH) th́ địa vị ông Thiệu là
hết rồi… Bởi vậy trừ khi có chỉ thị không đồng ư, tôi sẽ cố gắng thuyết
phục ông Thiệu và cho ông ta biết rơ rằng đây chỉ là ư kiến cá nhân của
tôi với tư cách là người bạn chân thật. Sau khi suy nghĩ mọi đàng, tôi
đă đi đến kết luận là chỗ đứng của ông ta trong lịch sử sẽ được bảo đảm
hơn nếu xét tất cả những ǵ ông đă làm cho đất nước này. Nếu ông ta
không chịu mà cứ tham quyền cố vị, th́ cơ hội cuối cùng để cứu văn miền
Nam Việt nam như một quốc gia c̣n chút tự do sẽ không c̣n nữa".
"Tôi sẽ cho ông Thiệu rơ tôi đă đi đến một kết luận vô tư là nếu ông ta
không chịu xuống th́ các tướng lănh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm
điều này"; "Có một cách rút lui êm đẹp và trang trọng nhất là tự ư ông
từ chức, và nói cho đồng bào biết rằng ông phải làm như vậy để bảo vệ
hiến pháp và để Chính phủ kế vị có thể dễ dàng điều đ́nh cứu văn nước
Việt nam tự do…"
Kissinger đồng ư. Ông thuật lại là vào ngày 20 tháng 4 (21 tháng 4, Sài
g̣n), chỉ một ngày sau thông điệp của Ford gửi Brezhnev, và trong khi
chờ đợi Nga Xô trả lời: "Đại sứ Martin đă bắn tiếng cho ông Thiệu,
khuyến cáo vị Tổng thống VNCH nên từ chức. Ông Martin đă cố nói như đây
chỉ là theo ư riêng cá nhân của ông, nhưng thực ra th́ sự vận động này
đă được Tổng thống Ford và tôi chấp thuận trước rồi" (28).
Theo Đại tá Cầm, Chánh Văn pḥng Tổng thống, ông Martin đă đưa cho ông
Thiệu xem những bản đồ về t́nh h́nh quân sự rất bi quan do CIA soạn để
khuyến dụ ông Thiệu. Ông Thiệu hỏi Martin: "Nếu tôi từ chức th́ liệu
viện trợ Mỹ có đến không?"
Martin trả lời:" Tôi không dám hứa nhưng cũng có thể".
Trước khi ông Đại sứ ra về, ông Thiệu hứa: "Tôi sẽ làm điều ǵ có lợi
nhất cho nước tôi".
Mọi việc dàn xếp vừa xong th́ ông Đại sứ lại nhận được một mật điện rất
lạ do Kissinger gửi. Bây giờ Kissinger lại muốn hoăn việc ông Thiệu từ
chức lại, có lẽ là để dùng việc này thương thuyết với phía Nga Xô (Hà
nội) và để lấy điểm là chính ông ta là người ép ông Thiệu từ chức. Nhưng
ông Martin không chịu chơi cái tṛ bỉ ổi ấy nữa. Đọc xong công điện, ông
bực tức và gấp ngay nó lại: "Công điện đó được xếp ngay vào hồ sơ và tôi
lờ đi, không thi hành" (29).
Ông Thiệu kể lại cho tôi (năm 1984) là ngày hôm sau khi gặp ông Martin,
ông đă mời các tướng lănh đến Dinh Độc Lập Trong buổi họp, ông cho họ
biết về những chuyện Đại sứ Martin đề cập tới. Ông Thiệu nói nếu các
tướng lănh cho ông là một chướng ngại vật cho hoà b́nh của đất nước th́
ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu ǵ cả. Thế là đă rơ họ không muốn ông
ngồi lại ghế Tổng thống nữa. Giữa lúc đó ông tuyên bố từ chức và để Phó
Tổng thống Trần Văn Hương lên thay.
Họp xong, ông lên đài truyền h́nh thông báo quyết định từ chức. Ḷng đầy
cay đắng với Đồng minh, ông đọc một bài diễn văn rất dài, tuy rời rạc,
thiếu mạch lạc, nhưng căng thẳng và xúc động:
"Các ông để chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch.
Đó là một hành động vô nhân đạo của một Đồng minh vô nhân đạo. Đó cũng
là một lư do tại sao, khi phái đoàn Quốc hội Hoa kỳ đến Việt nam, tôi đă
nói với họ rằng đây không c̣n phải là vấn đề 300 triệu nữa mà là vấn đề
Hoa kỳ có c̣n giữ lời hứa giúp đỡ nhân dân Việt nam trong công cuộc bảo
vệ nền độc lập và tự do của họ hay không?"
"Hoa kỳ hănh diện là một quốc gia bảo vệ đến cùng chính nghĩa và lư
tưởng tự do trên thế giới, và sẽ ăn mừng lễ độc lập năm thứ 200 vào năm
tới. Tôi hỏi họ rằng: "Lời nói của Hoa kỳ có c̣n giá trị ǵ nữa không?
Những cam kết của Hoa kỳ có c̣n hiệu lực không?"
Ba trăm triệu không phải là món tiền lớn đối với các ông…Từ chối món
tiền này, các ông c̣n muốn chúng tôi thắng Cộng sản hay ngăn chặn làn
sóng xâm lăng của Cộng sản - là công việc rnà các ông đă không làm nổi
trong suốt sáu năm trường với quân đội và chi phí khổng lồ của Hoa kỳ.
Thật là phi lư...“
Bắc Việt đổi ư đêm 27 tháng 4
Tại Sài g̣n, theo Đại sứ Martin, tuy là hồi tháng ba, ông đă có tin t́nh
háo là Hà Nội đă quyết định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự,
nhưng cả ông và Polgar không đặt nặng sự chính xác của bản tin này. Theo
ông, lư do là v́ cũng cùng một lúc đó, lại có thông tin từ phía đại diện
của Mặt trận giải phóng bên Âu châu, một từ Stockholm (Thuỵ Điển), và
một từ Paris, cả hai đều cho biết rằng họ cũng muốn có một giải pháp
chính trị (30). Ngoài ra, Martin c̣n suy luận, như đă tŕnh bày ở trên,
là chính Hà Nội cũng muốn một giải pháp chính trị để kết thúc một cách
êm đẹp v́ họ c̣n muốn nhận được viện trợ của quốc tế sau này.
Thế nhưng, theo ông, "Không hiểu v́ một lư do nào đó, đêm ngày 27 tháng
4, Bắc Việt đă bất chợt thay đổi tín hiệu, quyết định chọn giải pháp
hoàn toàn quân sự, và như vậy, giải pháp chính trị đă không c̣n nữa"
(31). Về điểm này, chính Kissinger cũng đă xác nhận trong cuộc họp báo
ngày 5 tháng 5- 1975 rằng cho tới ngày 27 tháng 4, Hoa kỳ vẫn có nhiều
hy vọng Hà Nội không định đi tới một chiến thắng hoàn toàn quân sự, và
c̣n muốn điều đ́nh với ông Dương Văn Minh (32)
Một Chính phủ Thiệu không có Thiệu
Sau khi được trao quyền Tổng thống, ông Hương e ngại rằng v́ ông đă là
Phó Tổng thống, nên người ta cho rằng bây giờ ông chỉ điều hành một
Chính phủ theo ư ông Thiệu. Ông liền yêu cầu Đại sứ Martin nên cố vấn
ông Thiệu ra ngoại quốc và dàn xếp giùm chuyến đi này (33). Sau đó ông
Hương tới chỗ ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Việt nam, v́ nếu không,
Cộng sản sẽ nói "tôi đang điều khiển một Chính phủ Thiệu không có
Thiệu"(34).
Lúc đó có một cơ hội thuận tiện. Để cho việc ra đi được hợp Pháp, ông
Hương kư nghị định đề cử ông Thiệu làm đặc sứ VNCH đi Đài Bắc phúng điếu
Tổng thống Tưởng Giới Thạch vừa qua đời ngày 5 tháng 4. Theo Frank Snepp
cả ông Minh cũng đă yêu cầu tướng Timmes t́m cách đưa ông Thiệu khỏi
Việt nam (35).
Chiếc máy bay DC-6 dưới quyền sử dụng của Đại sứ Hoa kỳ từ Thái
Lan bay qua Sài g̣n trong đêm 25 tháng 4. Ông Polgar, trùm CIA ở Sài g̣n
và tướng Timmes gặp ông Thiệu và đoàn tuỳ tùng ở nhà Thủ tướng Khiêm
trong Bộ Tổng tham mưu. Polgar chuẩn bị ba chiếc công xa màu đen chở mọi
người ra phi trường. Đoàn xe lướt qua đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong
của Đồng minh gần phi trường,với ba hàng chữ nỗi bật trên bảng: "Những
hy sinh cao quư của các chiến sĩ Đồng minh sẽ không bao giờ bị quên
lăng". Ông Thiệu ngồi giữa ông Polgar và tướng Timmes. Nh́n thấy bảng,
ông thở dài và quay mặt đi (36).
Đoàn xe chạy vút về phía sân bay của hăng Air America. Đại sứ Martin đă
đợi sẵn ở đó để tiễn đưa. Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu
vẫn đi thủng thẳng, cố giữ phong độ ông quay lại cám ơn ông Martin đă
dàn xếp chuyến đi.
Với một giọng xúc động, ông Martin đáp lễ:
"Thưa Tổng thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và
chúc Ngài may mắn"(37).
Danh chính ngôn thuận
Ở phi trường về, Đại sứ Martin, cùng với Đại sứ Pháp Jean Marie
Merillon, lại tiếp lục công việc sắp xếp giải pháp chính trị. Ông gửi
cho ông Kissinger một điện văn cho biết vẫn c̣n có thể điều đ́nh giữa
Chính phủ Sài g̣n và Việt Cộng. Ngày 26 tháng 4, Kissinger gửi mật điện
gạt đi liền:
"Ông Đại sứ đă hiểu lầm ư kiến của tôi về các cuộc điều đ́nh với Việt
Cộng. Tôi đă không nói đến dàn xếp giữa Chính phủ Sài g̣n và Việt Cộng
mà đến thương lượng giữa Hoa kỳ và Việt cộng. Tôi muốn bất cứ cuộc thảo
luận nào giữa Hoa kỳ và Việt Cộng cũng phải được diễn ra tại Paris".
Vào giờ chót. Kissinger vẫn không muốn hai miền Bắc và Nam trực tiếp
điều đ́nh với nhau mà không có sự kiểm soát của ông (38)
Tổng thống Hương mời tướng Dương Văn Minh lên làm Thủ tướng trong Chính
phủ mới. Tướng Minh không chịu, nhất định đ̣i giữ chức Tổng thống. Ông
Thiệu kể lại cho tôi rằng: "Tôi đă đề nghị với cụ Hương nên mời tướng
Trần Văn Đôn để "neutraliser" (vô hiệu hoá) ông Minh nhưng cụ Hương chịu
quá nhiều áp lực!"
Ông Minh chính thức lên giữ chức Tổng thống chiều ngày 28 tháng 4 (sáng
ngày 27 tháng 4, Washington). Việc đầu tiên ông làm là viết một công hàm
cho Đại sứ Martin. Văn bản được chuyển giao sáng ngày 29 tháng 4. Ông
Kissinger b́nh luận về ông Minh (39):
"Ông Minh giữ chức Tổng thống được không tới 72 giờ, chỉ đủ để làm được
hai việc quan trọng: một là yêu cầu Hà nội ngưng chiến và thương thuyết
chính trị - điều mà Hà nội đă từ chối thẳng thừng - và hai là, ngày 29
tháng 4 (28 tháng 4, giờ Washington, ông yêu cầu tất cả người Mỹ ra khỏi
Việt nam trong ṿng 24 giờ".
Mười năm sau ngày sụp đổ, Đại sứ Martin cho tôi xem bản công hàm của
Tổng thống Minh. Tài liệu này có tính cách lịch sử v́ nó là văn kiện
cuối cùng của Chính phủ VNCH gửi Chính phủ Hoa kỳ:
"Thưa ông Đại sứ,
"Tôi trân trọng yêu cầu ông Đại sứ vui ḷng ra chỉ thị cho các nhân viên
của Cơ quan Tuỳ viên quốc pḥng DAO ṛi khỏi Việt-nam trong 24 giờ đồng
hồ kể từ ngày 29-4-1975 để vấn đề Hoà b́nh Việt nam sớm được giải
quyết".
Trân trọng kính chào ông Đại sứ.
Sài g̣n, Ngày 28 tháng 4 năm 1975
Đại tướng Dương Văn Minh
B́nh luận về thư này, Kissinger nói thẳng ra: "V́ lịch tŕnh này trùng
hợp với lịch tŕnh rút lui của chúng tôi, nó đă thực sự giúp cho chúng
tôi tháo ra mà không bị chỉ trích là Mỹ đă bỏ rơi Đồng minh của ḿnh"
(40).
Nhận được thư, Đại sứ Martin vội vă gọi cô Eva Kim vào đánh thư trả lại
Tổng thống Minh (41). Nhân dịp này, ông cũng yêu cầu phía quân đội VNCH
giúp cho cuộc di tản ngươi Mỹ được thực hiện an toàn. Và như vậy, nguy
cơ "ra đi lại bắn nhau" đă không c̣n nữa:
"Kính thưa Tổng thống,
"Tôi vừa nhận được thư của Ngài đề ngày 28 tháng 4 về yêu cầu tôi ra chỉ
thị ngay cho các nhân viên của Cơ quan Tuỳ viên quốc pḥng DAO rời khỏi
Việt nam trong 24 giờ đồng hồ.
"Tôi xin thông báo để Ngài hay là tôi đă ra chỉ thị như Ngài yêu cầu.
Tôi tin rằng Ngài sẽ ra lệnh cho quân dội của Chính phủ Ngài cộng tác
bằng mọi cách để làm dễ dàng cho việc di chuyển các nhân viên DAO.
Tôi cũng hy vọng Ngài sẽ can thiệp với phía bên kia (phía Bắc Việt) để
Tuỳ viên quốc pḥng và nhân viên của chúng tôi được ra đi an toàn và
trật tự".
Trân trọng
Graham Martin
Đại sứ Hoa kỳ
Câu cuối cùng chắc là để gợi ư khéo với ông Minh là từ lúc này ông đă có
thể nói với phía Hà nội là chính ông đă yêu cầu Mỹ rời khỏi Việt nam cho
dễ bề thương thuyết.
Nhưng yêu cầu như vậy là đă cho Mỹ cái "danh chính ngôn thuận" để ra đi.
Như Kissinger b́nh luận, thư ông Minh: "Đă thực sự giúp cho chúng tôi
tháo ra mà không bị chỉ trích là Mỹ đă bỏ rơi Đồng minh của ḿnh".
Nếu bây giờ, ông Minh giúp cho Mỹ ra, th́ mười hai năm về trước, ông
cũng đă giúp cho Mỹ vào, khi ông lật đổ Tổng thống Diệm.
Lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, Tổng thống Minh ra lệnh cho Quân đội
VNCH buông súng đầu hàng.
Miền Nam Việt nam có hai nền Cộng hoà, vô t́nh hay hữu ư, ông Minh đă
trở nên người chấm dứt cả hai.
Bức thư của ông đă cho Mỹ cái "danh chính ngôn thuận" một cách giả tạo:
Mỹ bị yêu cầu ra đi chứ đâu có tháo chạy, đâu có phản bội! Giả
tạo v́ Mỹ đă và đang tháo chạy gần hết rồi. Vào giờ phút chót chỉ c̣n có
một số vài chục người, gồm ông đại sứ và mấy nhân viên của cơ quan DAO:
họ cũng sắp được bốc đi v́ đă có lệnh phải rút ra ngay.
Đúng 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, tức là gần 24 giờ kể từ khi một sĩ quan
trẻ tuổi phóng xe từ Dinh Độc Lập đến Toà đại sứ Mỹ trao thông điệp của
Tổng thống Minh cho Đại sứ Martin, một chiếc trực thăng Chinook-46 đáp
trên nóc toà đại sứ Mỹ để bốc đi số 11 vệ binh c̣n lại canh gác. Họ được
hộ tống bằng sáu chiếc Cobra có vơ trang để bay ra khỏi không phận Việt
nam.
Chú thích:
(1) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
589.
(2) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
576.
(3) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
569.
(4) Tuần báo TIME, số ngày 21-4-1975, trang 16.
(5) Tuần báo TIME, số ngày 21-4-1975, trang 16.
(6) Tuần báo TIME, số ngày 21-4-1975, trang 16.
(7) NEWSWEEK, 21 tháng 4, 1975, trang 19.
(8) N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 328-330.
(9) David Butler, The Fall of Saigon, trang 372; NEWSWEEK,
21 tháng 4, 1975, trang 18.
(10) NEWSWEEK, 21 tháng 4, 1945, trang 18.
(11) Graham Martin, Testimony, trang 543.
(12) David Butler, The Fall of Saigon, trang 264.
(13) David Butler, The Fall of Saigon, trang 437.
(14) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
548.
(15) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
586.
(16) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
544.
(17) Ron Nessen, It Sure Looks Dịffèrent from the Inside, trang 105.
(18) Ron Nessen, It
sure looks different from the inside,
trang 105-106.
(19) Gerald Ford, A time to heal, trang 253.
(20) Henry Kissinger, Ending the Viertnam War, trang 542.
(21) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
608.
(22) Henry Kissinger, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
545-546.
(23) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
585.
(24) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
584.
(25) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
586.
(26) Henry Kissinger, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
542.
(27) Xem N.T. Hưng and J. Schecter, Palace File, trang 329;
Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
545-546.
(28) Henry Kissinger, A World Restored, trang 543.
(29) Phỏng vấn ông Graham Martin, 27-3-1985
(30) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
584.
(31) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
609.
(32) Graham Martin nói về cuộc họp báo ngày 5/5/1975 của Kissinger,
Vietnam Evacuation: Testimony, trang 608.
(33) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
547.
(34) Phỏng vấn Thomas Polgar, 6 tháng 3, 1986.
(35) Frank Snepp, Decent Interval, trang 434.
(36) Frank Snepp, Decent Interval, trang 436.
(37) Phỏng vấn ông Graham Martin, 26 tháng 3, 1985.
(38) Kissinger viết lại là Bộ Ngoại giao Pháp đă giúp liên lạc giữa Mỹ
và MTGPMN. Kissinger, A World Restored, trang 549.
(39) Kissinger viết lại là Bộ Ngoại giao Pháp đă giúp liên lạc giữa Mỹ
và MTGPMN. Kissinger, A World Restored, trang 548-549.
(40) Kissinger viết lại là Bộ Ngoại giao Pháp đă giúp liên lạc giữa Mỹ
và MTGPMN. Kissinger, A World Restored.
(41) David Butler, The fall of Saigon, trang 385-386.
P4 - Chương 16
Vĩnh biệt ông Đại sứ
Lệnh "Hành quân gió nhanh" vừa ban hành. Từ xa xa,
dăm ba chiếc trực thăng đang lừ lừ bay lại, lúc nghiêng sang bên phải,
lúc sang bên trái, tiếng động cơ vang rền. Những cánh quạt xoáy ṿng
ngang, ṿng dọc, làm lung lay cả ánh mặt trời lúc giữa trưa. Đài phát
thanh quân đội Mỹ ở đường Hồng Thập Tự đưa tin tức về khí hậu: "Nhiệt
độ ở Sài g̣n là 105 độ và c̣n đang tăng". Nóng như vậy mà tiếng hát
của Bing Crosby từ những máy thu thanh lại cứ văng vẳng “I am
dreaming of a white Christmas" (Tôi đang mơ ước một Giáng Sinh
tuyết trắng).
Trong lúc t́nh h́nh rối ren, dân chúng đô thành nghe bài ca êm đềm cũng
thấy có vài phút thư giăn. Thế nhưng, người Mỹ và một số nhỏ người Việt
liên hệ với Mỹ lại hết sức căng thẳng, v́ biết rằng giờ thứ 24 sắp tới.
Tín hiệu của cuộc di tản cuối cùng, "Hành quân gió nhanh" đă được
phát sóng. Họ hoang mang, bối rối, t́m mọi cách để tới những địa điểm đă
hẹn trước, mong được bốc đi.
Trước Toà đại sứ Mỹ, t́nh trạng lộn xộn, xô xát để trèo tường đă diễn ra.
Bên trong, các nhân viên cuống cuồng, vừa lo giữ trật tự an ninh, vừa
đốt cháy tài liệu mật. Phải sắp xếp cho lẹ v́ trực thăng sắp đáp xuống
rồi. Đại sứ Martin cũng thắt cà vạt, mặc quần áo chỉnh tề, đứng chờ sẵn
trong văn pḥng ông ở lầu ba. Ông sắp lên trực thăng để ra đi. Không,
"Tôi muốn trở về qua tư thất", bất chợt ông quay lại nói với mấy
người lính cận vệ. Sững sờ, nhóm cận vệ không hiểu tại sao ông lại muốn
trở về nhà. Mà làm thế nào để lái xe cho ông ra được khỏi Toà đại sứ?
Mặc dù họ tỏ ư không đồng ư, ông Martin nhất định cứ đi. Ông đă có cách:
lách tường bên hông để qua toà đại sứ Pháp và đi bộ về nhà. Cận vệ bắt
buộc phải đi theo. Đồ đạc, tranh ảnh trong căn nhà ông ở đường Phùng
Khắc Khoan vẫn c̣n y nguyên. Chắc ông muốn về để lấy một vài món đồ quan
trọng nào đó? Nhưng không, ông về để ẵm con Nit Noy đi với ông. Nit Noy
là tên tiếng Thái ("món vật nhỏ") của con chó xù màu đen mà ông yêu quư.
Chỉ có thế thôi. Ông lững thững trở lại Toà đại sứ, cũng qua ngả nhà Đại
sứ Merillon. Trở về văn pḥng, ông buộc Nit Noy vào chân một cái ghế
(1). Thế rồi tiếp tục làm việc.
Sau này báo chí chi trích ông về vụ chó xù, ông căi: "Báo chí cũng chỉ
trích Tổng thống Rossevelt về con "Fala" của ông như vậy! Tôi rất bất
b́nh về việc họ công kích một con chó. Trước hết, không phải là chó của
tôi mà là của con gái tôi (cô Janet). Vá thực ra tôi đă không định mang
nó đi, v́ đă sắp xếp để nó xin được ông Đại sứ Pháp cho tỵ nạn rồi"
("… had arl angedfor Nit Noy to seek asylum with the Ambassador office")
(2).
Vào giây phút cuối, phóng viên tờ Los Angeles Times, ông George
Mcarthur trông thấy Nit Noy bị buộc vào chân ghế đă mủi ḷng, và quyết
định để lại cái máy chữ của ḿnh rồi ẵm nó đi theo. "Tôi sẽ măi măi
ghi ơn ông Mcarthur v́ vợ tôi rất yêu quư con Nit Noy. Và trong gia đ́nh
tôi th́ vợ tôi là người đă chịu đựng nhiều nhất v́ cuộc di tản". Bà
Martin chỉ có 11 phút để đóng gói, và phải để lại hết tất cả những kỷ
niệm quư báu thu thập được trong bao nhiêu năm qua. Sở dĩ như vậy, v́
như ông nói "Nêu chúng tôi đóng gói sớm hơn th́ tín hiệu (về Mỹ bỏ
chạy) sẽ truyền đi khắp Sài g̣n" (3).
Đằng sau Toà đại sứ, có cây me cổ thụ rất lớn, cây dài bóng mát. Sáng
sớm ngày 29 tháng 4, nhân viên yêu cầu ông cho chặt xuống để trực thăng
dễ đáp. Không chịu, ông tỏ rơ thái độ : "Nêú như cây này ngả xuống
th́ uy tín của Mỹ cũng ngả theo" (4).
Ngày trước hôm đó, ông đă gửi điện cho Ngoại trưởng Kissinger nói rằng
theo ông, sự có mặt của Hoa kỳ ở Sài g̣n c̣n có thể kéo dài được chừng
một năm nữa (5). Rồi chiều ngày 29, ông lại xin phép được ở lại Miền Nam
cùng với vài chục nhân viên. Lư do là để "tối thiểu cũng làm cho việc
Mỹ ra đi có nhân cách đôi chút" (6).
"Được rồi, Jim (Schlesinger)," Kissinger gọi cho Tổng trưởng quốc pḥng,
"Anh phải nói thắng với ông ta, v́ nếu anh không nói "đây là lệnh Tổng
thống" th́ ông ta không chịu ra đi đâu".
"Xong rồi, tôi sẽ làm chuyện đó", Schlesinger trả lời.
"Như anh biết, ông ta đă mất một người con ở Việt nam". Kissinger tiếp.
"Đúng vậy, ta phải thán phục ông ta" (7).
Ngoài người con là cậu Glenn lái trực thăng chết ở vùng cao nguyên chín
năm về trước, ông Martin c̣n nặng ḷng với uy tín của nước Mỹ. "Tôi
luôn nghĩ tới sự kiện là đă có năm Tổng thống Mỹ dinh líu tới Việt nam
và trong những hai thập niên"
Trong cuốn sách
Ending the Vietnam war
(2003),
chính Kissinger đă b́nh luận về việc ông Martin chần chừ không chịu đi:
"Nhiệt t́nh gắn bó với những người mà ông sắp bị bắt buộc phải bỏ lại,
ông Martin đă coi như bổn phận của ḿnh là phải kéo dài cuộc rút lui của
Mỹ trong một thời gian dài nhất để giữ lại sự có mặt của Mỹ (tại Việt
nam) làm sao cho c̣n đủ để biện hộ "cho việc cứu người Việt nam".
"Tin rằng, ngay trước mắt, sự hoảng hốt ở Sài g̣n c̣n đáng lo ngại hơn
những kế hoạch tấn công của Hà nội, ông đă phấn đấu để cho cuộc di tản
quá chậm hơn là chính Tổng thống Ford,
Scowcroft, và tôi - con diều hâu trong Chính phủ- đă cho là thích ứng"
(8)
Vào dịp Lễ Phục Sinh (tháng 3) 1975, cô thư kư Eva cho hay là ông lâm
bệnh, tôi có ghé thăm, thấy ông xanh xao, mệt mỏi. Ông nói là bị cúm,
nhưng tôi nghi là viêm phổi. Hút thuốc lá liên tục, càng hút, ông càng
ho thêm.
Trong điều kiện sức khoẻ như vậy mà ông đă hầu như một ḿnh đứng ra chịu
trận để vớt vát cho Miền Nam và cho nước Mỹ vào giờ phút cuối cùng.
Trung sĩ Colin Broussard, người cận vệ luôn theo sát ông có viết: "Tôi
nghĩ rằng Đại sứ Martin đă cứu được cả ngàn người Việt, những người Mỹ
dân sự và cả Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ nữa, chính v́ ông không chịu nói tới
"di tản" quá sớm và gây nên một t́nh trạng hoảng hốt".(9)
Về việc ông xin ở lại bất chấp những ǵ có thể xảy ra, Kissinger b́nh
thêm: Việc đó đă xác nhận sự nghi ngờ của tôi là ông Martin muốn giống
như tướng George Gordon, viên chỉ huy nổi tiếng nước Anh, là người đă bị
hạ sát tại Khartoum (nước Sudan) do quân Mahdi vào năm 1885 khi ông ta
không chịu ra đi". (10)
Đúng 4 giờ 45 phút sáng ngày 30 tháng 4, có anh phi công vạm vỡ bay
chiếc trực thăng mang bảng hiệu Lady Ace 09 lượn đi lượn lại rồi
đáp xuống băi đậu trên nóc toà đại sứ. Anh gỡ miếng giấy buộc vào đùi,
rồi đưa cho ông Martin: đó là lệnh của Tổng thống buộc ông phải ra đi
trên chuyến bay cuối cùng này. Nếu không, theo như tiết lộ về sau của Đô
đốc Gayler (Tư lệnh Thái B́nh Dương) "Tôi đă có thẩm quyền để áp giải
trong trường hợp ông Đại sứ không tuân lệnh của Tổng thống." (l l)
Thế là hết đường tháo lui. Đại sứ Martin bơ phờ ôm lá cờ Mỹ bước lên
chiếc Lay Ace 09 vào lúc 4 giờ 58 phút. Anh phi công phát sóng "Tiger,
Tiger, Tiger" (Con hổ, Con hổ, Con hổ), mật hiệu là đă đưa được ông
Đại sứ lên trực thăng rồi.
Sự có mặt của Hoa kỳ tại Miền Nam tới đây đă hoàn toàn chấm dứt.
Sau ngày Miền Nam sụp đổ, ông Martin tiếp tục bị chỉ trích. Ngoài việc
chần chừ không lo di tản người Mỹ theo lệnh cấp trên, ngoài con chó Nit
Noy, ông c̣n bị công kích về việc đă chủ quan và luôn luôn bào chữa cho
Miền Nam.
Hè 1974, giữa lúc Washington hầu như đă lăng quên và Quốc hội bắt đầu
cắt xén viện trợ cho Miền Nam, ông Martin hết sức chống đỡ. Ông điều
trần về viễn tượng của Miền Nam một cách lạc quan:
"Về chính trị. Chính phủ Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Về quân sự, quân
đội Miền Nam đă chứng tỏ khả năng bảo vệ đất nước mà không cần có sự yểm
trợ của lục quân Hoa kỳ"(12).
C̣n về kinh tế, liệu Miền Nam có phải dựa măi vào Mỹ hay không?
Không,
ông Martin biện luận:
"Đôi khi ta thấy trong cùng một quốc gia có sự phối hợp giữa tài nguyên
phong phú, một hệ thống hành chính có quyết tâm với những chính sách
kinh tế hợp lư, một dân tộc thông minh, khéo léo, và hết sức dẻo dai,
với một khả năng cố gắng bền vững, một quyết tâm mănh liệt và tha thiết
bảo tồn tự do của ḿnh".
Khi có một kết hợp như vậy, như hiện đang có ở Miền Nam Việt nam, th́
chỉ cần một nguồn tài chính từ ngoài vào làm vai tṛ tác dộng, để nối
kết tất cả những yếu tố này lại với nhau th́ có thể có những kết quả
thật là xuất sắc"(13).
Nhiều người đă chỉ trích ông về việc ông tô điểm h́nh ảnh quá lạc quan
cũng giống như việc tướng Westmoreland đă làm thời Tổng thống Johnson.
Ngay gần Tết Mậu Thân, Westmoreland c̣n lên đài truyền h́nh nói tới t́nh
h́nh quân sự khả quan.
Dù chỉ trích, ông Martin vẫn tiếp tục. Cứ vài tháng ông lại về
Washington để vận động. Thông điệp chính ông mang ra nói với mọi người
là nếu để Miền Nam sụp đổ th́ uy tín của Mỹ sẽ xuống mạnh, và đem theo
hậu quả về lâu về dài. Những nước thù địch sẽ không coi Mỹ ra ǵ, và hoà
b́nh sẽ bị đe doạ. Và là vào thời gian đó, như ông đă tường tŕnh lại
cho Quốc hội Mỹ năm 1976: "Tôi chưa biết rơ đă có những trao đổi "riêng
tư giữa Tổng thống Hoa kỳ và Tổng thống Việt nam cộng hoà". (14). Nếu
như ông biết được những cam kết đó th́ không rơ ông c̣n cố gắng đến như
thế nào để ngăn chặn sự xuống dốc của nền ngoại giao Hoa kỳ lúc đó. Suy
lại thông điệp ấy, ta có thể đặt câu hỏi: liệu Saddam Hussein, Bin La
den đă có coi thường Mỹ không, trước khi có những hành động mà hậu quả
là đă đưa thế giới tới t́nh trạng rối rắm như ngày nay?
Khi tôi hỏi ông nghĩ sao đối với chỉ trích về những lời tuyên bố và công
việc ông làm, ông Martin trả lời: "Tôi chỉ nói sự thật, và nếu tôi có
tranh đấu cho Miền Nam, th́ cũng chỉ là v́ quyền lợi của nước Mỹ về lâu
về dài, đó là uy tín của chính sách ngoại giao Hoa kỳ".
Nhân dịp kỷ niệm mười năm Miền Nam sụp đổ (ngày 30 tháng 4, 1985), tờ
New York Times có đăng câu phê phán của vị Đại sứ cuối cùng, được
nhiều ngươi nhắc tới:
"Rút cuộc, chúng ta chỉ lo tháo chạy. Ư chí dân tộc của Hoa kỳ đă sụp đổ".
(In the end, we simply cut and ran. The American national will had
collapsed).
Để vinh danh ông, tôi xin mượn một phần câu ông nói làm đầu đề cho cuốn
sách này.
Ngày ông qua đời (1990), tôi gửi lời chia buồn cùng gia quyến: "Thay mặt
cho những người Việt nam bạn ông, đặc biệt là những người đă được ông
cứu giúp, chúng tôi bùi ngùi thương tiếc và xin chân thành chia buồn
cùng toàn thể gia đ́nh. Nguyện xin Thiên Chúa sớm đưa linh hồn ông về an
nghỉ nơi vĩnh phúc".
Chú thích:
(1) David Butler, The fall of Saigon, trang 436.
(2) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
549.
(3) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
550.
(4) U.S. Marines, "A Moment in Time With Dan Roberts", trong tài liệu
"The Fall of Saigon By The U.S. Marine" vào internet "Letter to CMC@FALL
of Saigon by U.S. Marines", trang 7.
(5) George J. Church, "A Look At The Storm…" trong "The Fall of Saigon
By The U.S. Marines",vào inlernet :"Letter to CMC@FALL of Saigon by U.S.
Marines", trang 9.
(6) David Butler, The Fall of Saigon, trang 386.
(7) Henry Kisinger,
Ending the Vietnam war,
trang
552.
(8) Henry Kisinger,
Ending the Vietnam war,
trang 540.
(9) Colin Broussard, Ambassador Graham Martin, trong tài liệu The Fall
of Saigon By The U.S. Marines, xem Letter to CMC@FALL of Saigon by U.S.
Marine", trang 3.
(10) Henry Kissinger, A World Restored, trang 547-548
(11) Phỏng vấn John Munay, 20 tháng 4, 1985.
(12) TIME (Magazine), 21 tháng 4, 1975.
(13) U.S. News and World Report, 29 tháng 4, 1974
(14) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 587.
P4 - Chương 17
Một cố gắng cuối
cùng
"Hăy gửi đến cho ta những kẻ mệt nhọc, những người nghèo khó; những đám
nhân quần co cụm, đang khao khát thở bầu không khí tự do…
Hăy gửi họ đến cho ta: những người vô gia cư, những người bị băo tố dập
vùi tơi tả; Ta đang nâng cao ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng".
(Trích đoạn thơ The New Colossus của Emma Lazarus)
Tay Bà giơ bó đuốc cao ngất như ánh đèn hải đăng. Từ năm 1885, Bà đứng
phía ngoài hải cảng New York để đón nhận biết bao nhiêu đoàn
người di dân. Nghèo khó, nhem nhuốc, họ đă tới với Bà sau những cuộc
hành tŕnh vượt đại dương khó khăn, nguy hiểm. Nhà điêu khắc Auguste
Bartholai lấy cảm hứng từ tượng Hy Lạp "Người khổng lồ đảo Rhodes"
(Colossus of Rhodes) đă cùng với kỹ sư Gustave Eiffel (người thiết
kế tháp Eiffel) mất gần chín năm trời để hoàn thành kỷ vật nước Pháp
tặng cho Hoa kỳ vào dịp lễ độc lập năm 1884. Pháp đặt tên cho kỳ công
này là "Tự do chiếu sáng thế giới". Con tàu Isère đă phải chở 350
bộ phận cồng kềnh tới để lắp ráp thành tượng đặt trên đảo Liberly ngoài
bờ Manhattan. Người Mỹ gọi kỳ công này là "Tượng Tự do". Việt nam
ta gọi là "Nữ thần Tự do", có lẽ là v́ trông bà đẹp như thần Hy
Lạp, nhưng lại từ bi, bao dung (1).
Nữ thi sĩ Em ma Lazarus (1849-1887) đă làm một bài thơ ca ngợi "Pho
tượng vĩ đại mới" (The New Colossus). Mới, v́ tượng ở Hy Lạp cũ,
dựng lên để kính thần Apollo (304 trước Công Nguyên) là một người khổng
lồ, vạm vỡ, cầm bó đuốc đứng gác cửa vào cảng Mandraki, mỗi chân đứng
trên một ḥn đảo. Tàu bè ra vào đều phải chui qua dưới hai chân pho
tượng. Nhưng Nữ thần Tự do th́ khác hẳn. Ngoài cửa biển lúc hoàng
hôn, Bà cầm bó đuốc đứng chiếu sáng. Là "Mẹ của những người bị đày ải"
(Mother of Exiles), con mắt Bà hiền từ như đang mời gọi.
Theo tiếng gọi của Bà, bao nhiêu di dân từ các quốc gia khác đă sang Tân
Thế Giới, thay đổi hẳn thành phần dân số Mỹ. Năm 1790, khi có cuộc kiểm
tra đầu liên, đa số (75%) dân Mỹ là người gốc Anh Quốc. Từ đầu thế kỷ
19, các sắc tộc khác tới ngày một đông. Từ 1820 khi Chính phủ bắt đầu
ghi chép sổ sách di trú cho đến 1975 đă có lới 50 triệu người nhập tịch.
Trong thập niên 1840 và 1850, từng trăm ngàn người Đức đă tới để chạy
trốn cảnh nghèo đói và bị truy nă. Gần một triệu người Irish di tản sau
"nạn đói khoai tây". Cuộc di cư lớn nhất là giữa năm 1901 và
1910: tám triệu người đă tới từ Hungary, Ư, và Nga.
Rồi bà cứ tiếp lục mời gọi, chào đón. Sau khi kết thúc bao cuộc chiến,
bà c̣n tiếp nhận cả những đoàn người di tản, như từ Hungary (1956), Cuba
(1959-1960), hay mới đây, từ một số nước Đông Âu. Cuộc chiến Việt nam
kết thúc ngày 23 tháng 4, 1975. Ngày 22 tháng 4, tôi nghe tin Tổng thống
Thiệu từ chức. Ngay hôm sau, ngày 23 tháng 4 (24/4 giờ Sài g̣n), Tổng
thống Ford lên chiếc máy bay Air Force One để đi New Orleans diễn thuyết
tại đại học Tulane. Mọi người chờ đợi xem ông sẽ nói ǵ. Chiều hôm đó,
như để lấy thêm can đảm, ông Ford đă uống một ly rượu cocktail, trong
một tiệc chiêu đăi. Thế rồi dơng dạc, ông bước vào nơi tụ hợp. Đây là
một sân chơi banh trong nhà rất rộng răi, đă chật ních với hàng ngàn
sinh viên. Cử toạ vỗ tay chào đón, cũng b́nh thường như đă diễn ra ở các
đại học khác mỗi khi có Tổng thống tới thăm.
Thế nhưng, bầu không khí bỗng nhiên đổi hẳn khi Tổng thống Ford chậm răi
nghiêm nghị, dằn từng tiếng:
"Đối với Hoa kỳ, chiến tranh Việt nam đă kết thúc rồi".
Giảng đường như muốn vỡ ra v́ tiếng vỗ tay, huưt sáo, la ḥ vui mừng.
Câu tuyên bố lịch sử này đă được đánh máy thêm vào bài diễn văn lúc
chiếc Air Force One c̣n đang bay trên ṿm trời cao (2):
"Nước Mỹ có thể lấy lại được niềm hănh diện đă có trước (chiến tranh)
Việt nam. Nhưng niềm hănh diện ấy sẽ chẳng có thể đạt được bằng cách
tham dự trở lại một cuộc chiến mà riêng đối với Mỹ nó đă chấm dứt rồi".
Phụ tá Ron Nessen nhận xét là chỉ mới hai tuần trước đó, ông c̣n ra Quốc
hội đọc diễn văn xin thêm quân viện cho VNCH, mà tại Tulane, "chẳng thấy
ông nói một lời nào nữa về viện trợ thêm cho Miền Nam". Tổng thống Ford
chỉ nói tới tương lai:
"Theo tôi, bây giờ đă tới lúc chúng ta phải nh́n tới một nghị tŕnh cho
tương lai. Tôi yêu cầu là ta hăy ngừng hẳn chiến trận, cũng như những
lời buộc tội, tố cáo lẫn nhau của quá khứ. Tôi yêu cầu chúng ta hăy chấp
nhận trách nhiệm của lănh đạo, chúng ta sẽ là hàng xóm tốt đối với mọi
người và những là thù địch của bất cứ ai".
Và như vậy, ông Ford đă làm một việc mà trong 30 năm, chưa Tổng thống Mỹ
nào làm nổi". Mọi người trong đoàn tuỳ tùng của Tổng thống tại Đại học
Tulane đều hết sức vui vẻ, kích động về lời tuyên bố này (3).
Thế là xong. Ông Hương vừa mới lên chức Tổng thống được vài ngày, Tổng
thống Mỹ đă nói "toạc móng heo" ra là đối với Hoa kỳ, chiến tranh Việt
nam đă kết thúc rồi". Ở Sài g̣n. khi được các thuộc cấp cho hay về bài
diễn văn, ông Von Marbod xúc động: "Ông Ford đă giơ cao tấm vải giường
trắng. Tôi đă vô cùng bàng hoàng và hổ thẹn".
Miền Nam đă đi vào dĩ văng. Nhưng c̣n tàn dư của cuộc chiến, và đối với
những người bại trận th́ sao đây? Chẳng thấy ông Ford b́nh luận ǵ, hay
là muốn lờ đi chăng? Chỉ thấy báo chí nói tới Chính phủ đang cho di tản
gấp rút số người Mỹ và một số người làm cho Mỹ. Nghe tin tức từ hành
lang Quốc hội là tất cả cũng chỉ 50,000 người Việt thôi, tôi nhất định
hoạt động tối đa để cứu vớt đám người đang tuôn ra Biển Đông (4).
Về việc Mỹ chỉ định cứu một số người quá giới hạn như vậy, sau này đă
được Đại sứ Martin xác nhận trong một buổi điều trần tại Quốc hội như đă
trích dẫn trong chương 14. V́ tính cách lịch sử của tài liệu này (nó
chứng minh rơ ràng về số người và ngày giờ mà Washington định cứu), tôi
đă trích nốt phần của văn bản ông Martin điều trần trước Quốc hội ngày
27 tháng 1, 1976 (ngày kỷ niệm năm thứ ba của Hiệp định Paris) và in vào
Phụ Lục. Để nhấn mạnh về thời điểm của ngày 25 tháng 4, 1975, ông c̣n
nói tiếp:
"Vào ngày 25 tháng 4 (1975), sau cùng, Toà đại sứ mới nhận được quyền
cho phép tạm dung thêm số người thân nhân (người Mỹ) và một giới hạn là
50.000 người Việt vào thành phần chịu rủi ro cao độ. Đó là chỉ c̣n có 4
ngày trước lúc cuối cùng rời khỏi Việt nam" (5).
Nh́n vào Nữ thần Tự do
Làm ǵ được bây giờ đây? Tôi tự hỏi. Hồi năm 1954, sau hiệp định Genève,
cũng có cuộc di tản. Gần một triệu người được tàu Mỹ chở vào Nam. Sau đó
Mỹ c̣n giúp tiền bạc cho ngân sách định cư. Thời gian di tản lại được
kéo dài tới 300 ngày. Và lúc đó chấm dứt chiến tranh căn bản là giữa
quân dội Việt Minh và Pháp. Bây giờ, sau mười năm trời trực tiếp can
thiệp với trên nửa triệu quân, chiến đấu bên cạnh một triệu quân đội
VNCH, thiệt hại bao nhiêu nhân mạng, bao nhiêu tiền của, chẳng lẽ lại
chỉ di tản có 50,000 người thôi? Đă 30 năm rồi mà mỗi khi tới ngày 30
tháng 4 (1 tháng 5 giờ Việt nam), h́nh ảnh pho tượng Nữ thần Tự do
lại hiện ra rơ ràng trong trí óc tôi. Hè 1958, khi lên New York
lần đầu tiên, tôi được ra đảo Liberty để du ngoạn. Rất là thích thú.
"Pho tượng đẹp và hùng vĩ quá sức", tôi nói với anh bạn hướng dẫn. Thế
thôi, không có ấn tượng ǵ sâu xa cho lắm sau chuyến đi. Nhưng ngày 30
tháng 4, 1975 (tại Washington) th́ khác. Buổi sáng hôm ấy, tôi hết sức
mệt mỏi, ră rời, v́ những biến cố, trăn trở từ mấy tuần trước. Và phải
sửa soạn để sắp sẵn một công việc mà đối với tôi nó là lịch sử trong
cuộc đời. Tâm trí tôi lúc đó rối bời. Không biết phải làm ǵ để cứu vớt
thêm đoàn người đang bồng bế nhau túa ra Biển Đông.
Nhưng rồi, như một tia sáng chiếu rọi, tôi nghĩ đến Nữ thần Tự do,
và tới đoàn người Cuba di tản hồi năm 1960, sau khi Fidel Castro lên nắm
chính quyền. Bạn bè và thân nhân của họ là người Mỹ gốc Cuba lúc đó đă
tranh đấu thành công. Tôi c̣n nhớ là hồi đó họ đă đăng tải rất nhiều lời
kêu gọi ḷng từ tâm của nhân dân Hoa kỳ trên các báo chí với h́nh pho
tượng Nữ thần Tự do. Tôi lại nảy ra ư nghĩ là ḿnh cũng có thể
làm như vậy.
Hiện trong tay, tôi đă mang đi được toàn bộ hồ sơ mật về những trao đổi
giữa hai Tổng thống Nixon, Ford và Tổng thống Thiệu. Như những lá thư
t́nh, nếu chỉ là một vài thư lẻ tẻ th́ người ta có thể cho là nó đă được
viết trong lúc t́nh nhân bốc đồng. Nhưng gộp chung lại, và đặt nó trên
căn bản thương thuyết là bốn năm trời, th́ tất phải có ư nghĩa sâu xa.
Tôi suy luận: người Mỹ đặt cao những giá trị xây trên căn bản công b́nh
ṣng phẳng. Do vậy, họ luôn đặt nặng cái quyền hạn chính ḿnh. Chẳng vậy
mà cứ 1.000 người th́ đă có tới 3.1 luật sư, quá nhiều so với các nước
khác như Pháp (0.4), Đức (0.8), Nhật (0.1). Như thế, tôi nghĩ nếu ḿnh
dựa trên căn bản công b́nh (Chính phủ Mỹ đă bội ước với nhân dân Miền
Nam) và kêu gọi tới tinh thần bao dung, mà biểu tượng là Nữ thần Tự
do, th́ may ra có hy vọng phần nào sẽ cứu được một số người đông hơn.
Tôi muốn in ngay cả một trang cầu cứu "SOS" trên tờ washington Post
và một trên tờ New York Times. Nhưng lấy tiền đâu mà in bây
giở? Trường hợp cầu cứu di dân Cuba là công việc của cả một tập đoàn, và
với đầy đủ phương tiện tài chánh. Bây giờ đơn thương độc mă, trong túi
tôi chỉ vỏn vẹn có 300 đô la lúc rời Sài g̣n. Mà mỗi trang báo cũng phải
trả 6.000 đô la.
Ngày 14 tháng 4, khi Tổng thống Thiệu bảo tôi đi Washington công tác,
tôi cũng đă nghĩ đến việc đăng hai tờ báo này nhưng mục đích lúc đó là
để cầu cứu Quốc hội chấp thuận cho VNCH vay tiền, thay v́ bỏ phiếu chống
viện trợ. Một lần duy nhất nói tới tiền bạc, tôi đề nghị Tổng thống
Thiệu cấp cho tôi một ngân khoản là 20.000. Số này sẽ dùng đăng hai
thông báo (12.000). Số c̣n lại 8.000 để tôi chi tiêu cho chuyến di và
ngoại giao hành lang như hội họp, chiêu đăi. Ông Thiệu chấp thuận ngay,
nhưng ông lại không đưa tiền và nói tôi sang Thủ tướng yêu cầu cho trích
từ Quỹ VINOPO. VINOPO (Vietnam Procurement Office) là một Cơ quan Tiếp
vận đặt tại Đại sứ VNCH, Washington, D.C. Cơ quan này đấu thầu và mua
gạo về Sài g̣n qua chương tŕnh viện trợ Mỹ. Mỗi một tấn gạo phải đóng
vào quỹ VINOPO là 1 đô la. Đó là cơ quan đă được lập ra năm 1973 vừa để
giúp tiếp vận vừa để có ngân quỹ lo việc hoạt động ngoại giao. Hè năm
1973, có lần tôi hỏi Tổng thống Thiệu xem công việc ngoại giao hành lang,
"public relation" của VNCH ra sao? Ông cho biết căn bản không có
ǵ hết, chỉ có cơ quan chính thức là Toà đại sứ mà thôi! Làm sao lại có
thể như vậy được? Những quốc gia đồng minh có quan hệ quan trọng với Mỹ
như Đài Loan, Do Thái, Đại Hàn, đều có vận động hành lang rất rộng răi.
Sau đó VINOPO được thành lập, nhưng VNCH cũng chưa tổ chức được những
vận thông hành lang.
Vừa tới Washington, tôi gọi cho Giám đốc VINOPO, cũng là một anh bạn tôi,
nhưng anh ấy lại không có mặt ở sở v́ đang trên đường đi công tác mua
gạo. Nh́n vào ngân khoản tiết kiệm của gia đ́nh, thấy c̣n gần ba ngàn đô,
tôi bèn tạm mượn mang ra tiêu vào công tác vận động. Muốn gặp được bà
thơ kư hay anh phụ tá cho một nghị sĩ hay dân biểu, dù là chỗ quen biết,
chỉ có cách là mời dùng cơm trưa hay cơm chiều để khỏi mất thời giờ của
họ th́ may ra mới mời được. Sáng ngày 15 tháng 4, anh bạn Giám đốc
VINOPO trở về Washington. Anh ấy điện thoại ngay cho tôi và cho biết là
ngân quỹ trong sở đă bị nhân viên biển thủ hết rồi! Và anh đă khai báo
đầy đủ cho cơ quan FBI. Thế là kế hoạch đăng báo lại phải bỏ đi. Sau này,
v́ không hoàn lại được số tiền vay của gia đ́nh, tôi cũng đă gặp phải
vấn đề khó khăn.
Hăy cứu vớt đoàn người lênh đênh trên biển cả
Bây giờ, tôi muốn đăng hai tờ báo để xin cứu vớt người tỵ nạn. Không có
tiền và chẳng biết làm ǵ khác, tôi t́m đến ông Warren Nutter, ông thày
cũ, trước làm Phụ Tá Bộ trưởng quốc pḥng phụ trách về khía cạnh kinh tế
của chương tŕnh "Việt nam hoá" thời Nixon. Ông đă tận t́nh ủng hộ VNCH
trong thời gian qua và đă sang Sài g̣n gặp riêng ông Thiệu để cố vấn.
Mời ông về nhà dùng cơm trưa, tôi muốn ông cố vấn để cứu giúp người di
tản. Giữa lúc đó th́ máy điện thoại reo, và ở đầu giây bên kia là Von
Marbod, gọi từ Tân Sơn Nhất: "Tôi đang trông thấy Rick bế mẹ già anh lên
chiếc C-141, và gia đ́nh anh đang bước lên tiếp theo". Rick Armitage (Thứ
trưởng ngoại giao dưới thời Tổng thống George Bush, nhiệm kỳ đầu) đă lái
xe tới nhà chị tôi ở đường Phan Đ́nh Phùng và chở bà cụ cùng gia đ́nh ra
phi trường để bay sang phi cảng Clark ở Phillippines. Hoá ra thay v́ đợi
tôi về, vừa vừa có quyền cho tạm dung vào Mỹ, Đại sứ Martin đă cấp giấy
phép để Von Marbod cùng Rếch Armitage di tản gia đ́nh tôi. Hôm ấy là
ngày 25 tháng 4.
Yên tâm cho mẹ già rồi, nhưng c̣n bạn bè, đồng bào th́ sao đây? Tôi hỏi
ông Nutter xem có nên gặp ông Kissinger hoặc Schlesinger để kêu nài họ
giúp tăng số di tản hay không? "Ít nhất Mỹ cũng phải cho tỵ nạn một
triệu người, bằng số di tản từ Bắc vào Nam năm 1954", tôi muốn đề nghị.
"Họ đă phủi sạch tay về Việt nam rồi", - ông Nutter nói. "Để tôi nghĩ
xem có cách nào khác không". Hôm sau, ông gọi lại và cố vấn cho tôi: "Có
lẽ tranh đấu bằng một cuộc họp báo là có hiệu quả nhất". V́ các hăng
thông tấn sẽ phổ biến rộng răi, toàn cầu. Ông nói rồi ông sẽ xem lúc nào
là thời điểm tốt nhất để làm việc này. Tôi vội vàng ngồi xuống làm việc
liên tục nhờ mấy ly cà phê thật đậm để phác thảo một bài diễn văn sẽ dọc
khai mạc cuộc họp báo. Nhưng bây giờ xong cuộc rồi, tôi có tư cách ǵ mà
lại đ̣i họp báo như các quan chức lớn? "Nếu anh nhất định tiết lộ mấy
cái thư mật th́ tôi chắc các hăng thông tấn sẽ tới", ông Nutter góp ư.
Không c̣n đắn đo ǵ nữa, tôi trả lời: "Vâng tôi đă quyết định rồi".
Quẩn trí, tôi tiếp tục liên lạc với mọi người quen biết trên Quốc hội,
cả trong lẫn ngoài chính quyền. Không nhẽ đối với nhân dân Cuba, dù Mỹ
chưa có đổ máu chiến đấu, mà c̣n tiếp cứu tới 650.000 người khi Fidel
Castro lên nắm quyền, mà lúc này lại chỉ nghĩ đến con số có 50.000 người
Việt thôi, tôi tự hỏi.
Việc thấy phải làm ngay là đối với anh em trong Bộ Kế hoạch và Phát
Triển của tôi. Tôi liền đến nhà bà Anna Chennault (ở ngay trong toà nhà
Watergate), chủ tịch hăng máy bay Flying Tigers để yêu cầu bà cố giúp
cho một máy bay vào Sài g̣n di tản ban lănh đạo và nhân viên tại Bộ. Là
người có nhiều cảm t́nh với Việt nam và cũng đă thu được nhiều lợi lộc
vận chuyển hàng hoá vào Sài g̣n trong các năm trước, bà đă đồng ư. Thế
nhưng, khi máy bay đáp xuống Phillippines th́ phải ngưng lại v́ Tân Sơn
Nhất đă bị ném bom, pháo kích!
Về những liên lạc riêng tư, chúng tôi cũng đă liên lạc với nhiều nghị sĩ
và dân biểu để yêu cầu họ viện trợ, và nếu không được th́ cứu giúp đoàn
người di tản. Chúng tôi có nhận được tất cả là 31 thư trả lời (xem danh
sách). Hầu hết là họ đă duỗi ra. Có ông nghị tên là Bennett Johnston,
tiểu bang Mouisiana c̣n viết mỉa mai về việc xin cứu trợ cho công cuộc
di tản:
"Đạo luật (về giúp di cư) đang được Quốc hội xem xét đă có điều khoản rơ
ràng cấm chỉ không được giúp một nước cộng sản hoặc trực tiếp hay gián
tiếp qua một cơ quan như Liên Hiệp Quốc. Theo tôi, Miền Nam Việt nam giờ
đây đă nằm dưới quyền kiểm soát của cộng sản rồi, bởi vậy viện trợ hay
cứu trợ phải được cung cấp từ các nước đă viện trợ quân sự cho Bắc Việt
- Nga Xô và Trung Cộng".
Tôi lại ĺm đến vị Tuyên Uư Thượng Viện, Mục sư Edward Elson. Nói tới
h́nh ảnh người xứ Samaritan đầy ḷng nhân ái trong Kinh Thánh, tôi nhờ
ông tác động những phần tử tương đối c̣n chút hảo tâm: "Hăy cứu vớt đoàn
người chúng tôi đang trốn chạy ra biển cả," tôi cầu cứu. Mục sư Elson đă
hợp tác chặt chẽ. Ông liền gọi cho một số nghị sĩ để đánh động lương tâm
của họ đừng chống đối việc tỵ nạn của người Việt nam nữa.
Sáng ngày 29 tháng 4, radio vẫn nói tới con số di tản giới hạn. Nhưng
vào khoảng trưa, tôi nghe loáng thoáng là người ta đă bắt đầu nói tới
con số kế hoạch 120.000 người Việt bây giờ được liệt vào thành phần có "nguy
hiểm cao độ". Lại thêm chút hy vọng. Biết đâu, biết đâu đấy, Chính phủ
Hoa kỳ đă thay ḷng đổi dạ được đôi phần. Dù chỉ là một tia hy vọng nhỏ
nhoi, nó cũng đă giúp nâng đỡ tinh thần sa sút của tôi lúc đó tiếp tục
hoạt động và theo rơi tin tức từng giờ từng phút, tôi gọi ông Nutter vào
buổi chiều, khi ông c̣n đang ở văn pḥng tại Viện Kinh Doanh Mỹ
(American Enterprise Institute) tren phố 117th, Washington D.C. để
hỏi ư ông xem đă tới lúc họp báo chưa? Viện này được gọi là Bộ óc
(Think Tank) của Đảng Cộng Hoà. Tuy nhiên, ở đó cũng có nhiều người
không đồng ư với Chính phủ Ford lúc đó. "Giờ chót sắp tới rồi; bất cứ
lúc nào. Người ta đang ùa ra biển để chờ được cứu vớt", ông bảo tôi đến
gặp ông ngay. Tôi đưa ông xem bài diễn văn tôi vừa soạn xong. Ông góp
thêm ư cho tôi là phải nói việc cứu vớt việc người di tản không những là
một bổn phận mà về lâu về dài, c̣n có lợi cho Mỹ. Ông có ư kiến là tôi
sẽ chỉ tiết lộ ra độ hai, ba bức thư thôi, c̣n giữ lại làm đ̣n bẩy
(lever). Ư ông muốn nói là cứ thử để xem kết quả ra sao. Nếu họ cứ
nhất định chỉ cho di tản có 50.000 th́ ḿnh sẽ tính bước tới".
Chúng tôi ra đường đi bộ tới khách sạn May Flower nằm gần ngay
bên cạnh, trên đường Connecticut Avenue, để thuê một pḥng làm
địa điểm họp báo. Giá pḥng họp là 250 đô la. Trương mục tiết kiệm của
gia đ́nh th́ tôi đă tiêu hết. Tôi lại không muốn hỏi ông Đại sứ VNCH tại
Washingon v́ e ngại là ông sẽ cản cuộc họp báo lại. Chỉ c̣n đúng 200?
Ông Nutter mủi ḷng bèn xuất tiền riêng giúp thêm 50 đô la, đủ để thuê
pḥng lớn họp báo.
Buổi trưa ngày 30 tháng 4, (mồng 1 tháng 5 giờ Sài g̣n), ông Nutter dùng
phương tiện của Viện gửi một bản thông cáo cho các phóng viên và kư giả
qua hăng thông tấn Associated
"Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch và Cựu phụ tá đặc
biệt của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sẽ tổ chức một buổi họp báo
lúc 4 giờ chiều hôm nay tại Khách sạn May Flower, Pḥng Pan America, để
nói về bản chất những thoả thuận bí mật giữa cựu Tổng thống Nixon và
Tổng thống Thiệu. Sẽ tiết lộ hai lá thư của ông Nixon gửi ông Thiệu".
Đúng giờ, các kư giả báo chí và truyền h́nh ào ào kéo đến. Mọi người ai
cũng nhao nhao, nóng ruột. Không muốn mất th́ giờ, họ chỉ muốn đến để
lấy mấy bức thư chứ không muốn nghe tŕnh bày dài ḍng văn tự. Thái độ
quá khích của báo chí khiến tôi thêm phần bực tức. V́ đă nghe họ b́nh
luận quá nhiều về miền Nam trong bao nhiêu năm qua, tôi lên giọng, nói
oang oang vào micro:
"Thưa quư vị, đây là chỗ của tôi. Quư vị phải cho tôi cơ hội giải thích
cái bối cảnh của các lá thư đó trước khi tôi trao cho quư vị. Nếu vị nào
không muốn nghe tôi giải thích th́ xin mời ra".
Có tiếng lao xao càu nhàu, la ó. Nhưng tôi cứ tiếp tục:
"Thưa Quư vị,
"Cảm ơn quư vị đă tới đây khi mới chỉ vừa được thông báo;
"Mục đích cuộc họp mặt hôm nay là để tôi mang ra ánh sáng cho công luận
biết đến một số sự việc liên hệ tới trách nhiệm của Hoa kỳ đối với nhân
dân miền Nam Việt nam. Cụ thể hơn, tôi muốn nói tới những cam kết mật
của Hoa kỳ đối với Việt nam vào thời điểm thương thuyết hiệp định
Paris…"
Đề cập qua tới việc ông Thiệu và Chính phủ ông đă từ chức, tôi nói tiếp:
"Giờ đây, tôi đang nói chuyện với quư vị với tư cách cá nhân. Tôi làm
công việc này nhất mực theo lương tâm của tôi, và Tổng thống Thiệu hoàn
toàn không biết trước".
"Tôi chắc chắn rằng việc tôi nói với quư vị hôm nay không những nó có
liên quan tới quyền lợi của người Việt nam, nhưng về lâu dài, nó c̣n
liên quan trực tiếp tới quyền lợi của nhân dân Hoa kỳ".
Bằng một cách nhắc khéo tới lời tuyên bố cạn tầu ráo máng của Tổng thống
Ford mấy hôm trước đó là "hăy quên đi quá khứ và nh́n tới một nghị
tŕnh tương lai", tôi tiếp:
"Không thể có tương lai, nếu không có dĩ văng và hiện tại. Làm sao mà có
được một nghị tŕnh tốt cho tương lai nếu không hiểu biết thấu đáo và
làm kết toán đày đủ về hiệu quả của những ǵ ḿnh đă làm trong quá khứ?
Chữ tín của nước Mỹ, một yếu tố nhiều khi là quyết định giữa hoà b́nh
hay chiến tranh, cần phải được các quốc gia coi trọng nếu chính sách
ngoại giao Hoa kỳ muốn được thành công".
Sau đó tôi tóm tắt diễn tiến của cuộc hoà đàm Paris, nhấn mạnh việc Mỹ
đă bội ước. Tổng thống Nixon và Cố vấn Kissinger đă ép ông Thiệu phải kư
kết, trên căn bản là củ cà rốt và cái gậy. Củ cà rốt là Hoa kỳ đă cam
kết rất rơ ràng là sẽ tiếp tục viện trợ đầy đủ cho VNCH và bảo đảm thực
thi hiệp định đ́nh chiến. Tôi chỉ trưng vài đoạn quan trọng trong hai
bức thư của Tổng thống Nixon (thư ngày 14 tháng 11, 1972, và ngày 5
tháng 1, 1973). Để kích thích sự ṭ ṃ, tôi nói thêm là tôi chỉ cho họ
xem hai lá thư này, nhưng c̣n giữ nhiều thư khác. Rồi trưng một vài đoạn
từ một bức thư đề ngày 17-1-1973 trong đó, Nixon c̣n nói rơ hơn về những
mật ước đối với Miền Nam.
Nhấn mạnh là với những cam kết vững vàng đó, VNCH đă chấp nhận kư vào
bản Hiệp định ngày 27 tháng 3, 1973 giúp Hoa kỳ thu lượm được bốn kết
quả rơ ràng:
- thứ nhất, rút được hết quân đội Mỹ về;
- thứ hai, toàn bộ 519 tù binh Mỹ được thả,
- thứ ba, được tuyên bố là đă mang lại "Hoà b́nh và danh dự" và giữ được
uy tín cho nước Mỹ; và
- thứ tư, tiết kiệm được 20 tỷ một năm.
C̣n Miền Nam đă được ǵ? Kéo dài được hai năm. Bây giờ th́ phải gánh
chịu bao nhiêu hậu quả, và gánh chịu một ḿnh!"
Trong hài diễn văn, v́ nghe theo lời cố vấn của Warren Nutter, tôi đă
hoàn toàn tránh né, không đả động ǵ tới những mật thư của chính Tổng
thống Ford gửi. Như vậy để xem ông Ford đối xử ra sao với việc di tản.
Tôi chỉ dùng vài lá thư của Tổng thống Nixon để lập luận xin cứu vớt
đoàn người đang đổ xô ra Biển Đông:
Kính thưa quư vị,
Tôi xin kết thúc buổi tŕnh bày ngày hôm nay với chỉ một lời cầu khẩn
tới nhân dân Hoa kỳ. Chắc chắn rằng nhân dân tôi đang muốn cùng tôi
khiếu nại là CÔNG B̀NH và S̉NG PHẲNG phải được đưa ra để đối xử với họ,
dù là điều kiện chính trị nội bộ Hoa kỳ ra sao đi nữa;
"Tôi tin tưởng rằng với quyền lực lớn mạnh về kinh tế và ngoại giao,
trong giờ phút này đây, nước Mỹ vẫn c̣n có thể làm được một công việc
hoàn toàn nhân đạo, đó là cứu với mạng sống đoàn người đang di tản".
"Nếu những cam kết này đă không được tôn trọng, th́ Hoa kỳ có thể đền bù
vào đó bằng cách dàn xếp và cứu vớt ít nhất là một triệu người dân Việt
nam;"
"Năm 1954, Hoa kỳ đă giúp di chuyển gần một triệu người từ miền Bấc vào
Nam. Giờ đây, sau khi trực tiếp tham gia vào một cuộc chiến kéo dài,
giúp tị nạn một số người ít nhất cũng hằng như vậy th́ không phải là một
việc quá đáng. Tối thiểu, vào giờ phút này, Hoa kỳ cũng vẫn c̣n có thể
sắp xếp để có được một khoảng thời gian ra đi tự do, hầu giúp cho một số
đông hơn được di tản.
Nhân danh lương tri của nhân dân Hoa kỳ, quí vị hăy nghĩ tới những người
đă trông cậy và tin tưởng vào bao nhiêu hứa hẹn của đồng minh trong hai
mươi năm trời".
Trong thâm tâm, tôi nghĩ rằng nếu như năm 1954, thời gian ra đi tự do
được quy định là 10 tháng, th́ ít nhất bây giờ cũng phải được một tháng!
Bà quay mặt về đâu?
Khi nói xong, tôi có phát bản sao hai lá thư trên. Một số kư giả và
người quay phim vây chung quanh, đi theo tôi ra hành lang khách sạn.
Murray Marder, kư giả tờ Washington Post ngó lời an ủi là nghe
xong, ông có nhiều thiện cảm với dân tộc Việt nam hơn. Ông nói "tôi sẽ
cố giúp". Nhiều nhà báo tiếp tục đặt thêm những câu hỏi này nọ, như về
tham nhũng, độc tài, quân đội bỏ chạy, tại sao di tản, v.v. Tôi lờ đi.
Một nhà báo có bộ râu hàm đen rậm cứ nằng nặc xin bản sao lá thư thứ ba
mà tôi có trích dẫn nhưng đă không phổ biến. Sau khi tham khảo ư kiến
với ông Nutter, tôi đă từ chối. Anh ta tỏ ra rất bực tức
Đến khi khi có phóng viên hỏi thêm:
"Thưa ông, cứ cho là Hoa kỳ đă bội ước, nhưng c̣n lư do ǵ khác khiến
chúng tôi phải đưa người Việt vào Mỹ không?"
Tôi nói ngay tới cái lư do mạnh mẽ nhất:
"Tượng Nữ thần Tự do đang nhắc nhở cho chúng ta rằng nước Mỹ là đất của
những kẻ bị truy nă, của di dân".
Đến khi nghe thấy nói tới "Nữ thần Tự do" để yêu cầu cứu vớt tỵ
nạn, anh chàng ta vội xen vào một câu xỏ xiên: "Tôi xin nhắc nhở cho
ông là Nữ thần Tự do quay mặt về phía Đại Tây Dương".
Ư nói là Bà quay lưng về phía Thái B́nh Dương, phía Việt nam chúng ta?
Vô cùng đau đớn, tôi đă không cầm được nước mắt. Ông Nutter sửng sốt và
phẫn nộ. Kéo tôi sang một bên, ông an ủi: "Anh đă làm một việc ích lợi
cho xứ sở anh. Rồi đây nó sẽ tạo được nhiều thiện cảm, và tôi hy vọng
rằng số người Việt được cứu sẽ tăng lên nhiều".
Niềm yên ủi vô biên
Sau đây là những sự việc liên hệ tới cuộc họp báo và việc tiết lộ một số
những bức thư mật:
Cùng ngày đó, ông Von Marbod mời tôi ăn tối tại một quán nhỏ ở Mclean.
Tuy là một bữa ăn đạm bạc theo tiêu chuẩn Mỹ, nhưng đôi với tôi nó là
bữa ăn nhớ đời. Cho đến bây giờ nó vẫn ghi dấu ấn đậm vào trí óc tôi bởi
câu nói của ông Marbod: "Tốt, tốt. Nhưng tôi nghĩ bấy nhiêu là đủ rồi,
anh khỏi cần tiết lộ thêm nữa. Tôi được biết là trong ṿng mấy ngày tới,
tàu Mỹ sẽ vớt hết tất cả những ai ra được ngoài biển".
Ăn cơm tối xong, tôi bắt đầu lo về chuyện ḿnh đă tiết lộ là c̣n giữ
nhiều mật thư khác (dĩ nhiên là trong đó có cả thư của Tổng thống Ford),
tôi vội tới nhà một người bạn ở vùng Maryland để ẩn trốn gần một tuần lễ.
Ngày mồng 2 tháng 5, nhiều báo chí Mỹ và quốc tế, đặc biệt là hai tờ uy
tín nhất, Washington Post và New York Times đă đăng tải
cuộc họp báo và đặt rất nhiều câu hỏi chung quanh vấn đề mật thư. Tờ
Washington Post đăng một h́nh hí hoạ của đại tài Herblock với
đầy ư nghĩa thích hợp. H́nh vẽ Quốc hội Mỹ đang cho hai ông Ford,
Kissinger xem và hỏi về những thư cam kết trong các lá thư của Nixon (xem
h́nh).
Báo chí c̣n t́m xem có phải thư thật hay thư giả, và có phải chữ kư của
Nixon hay không? Rất nhanh, Toà Bạch Ốc đă phải chứng nhận về tính cách
xác thực của nó. Đối với Tổng thống Ford, lúc đó th́ ông đă biết thực sự
là có những mật thư này v́ ngày 5 tháng 4 (như đă thuật lại trong Chương
10) tôi đă nhờ được tướng Weyand (qua Von Marbod) đưa tận lay cho ông
vài bức thư. Và theo lời Von Marbod, ông đă xúc động. Sau đó ông ra phi
trường đón tiếp lớp trẻ mồ côi Việt nam vừa được chở tới San Francisco.
Tay bồng một em bé, ông bước xuống máy bay, có chiều âu yếm. Và từ giây
phút này, có thể là ông đă thay đổi thái độ đối với vấn đề tị nạn. Trước
đó, dù sau cuộc rút lui đầy trắc trở của Quân Đoàn 11 và cuộc di tản
kinh hoàng từ Đà Nẵng, ông Ford vẫn b́nh chân như vại, đi Palm Springs
đánh gôn. Và Ngoại trưởng Kissinger c̣n mời ông bà Tổng thống tới nhà
dùng cơm với Frank Sinatra. "Chúng ta không thể để Tổng thống đi như vậy
được", Robert Hartmann, một nhân viên của ông Ford phải than lên. "Nếu
lại đi ăn với Sinatra vào cuối của tuần lễ mà Tổng thống đă bị chỉ trích
hằng ngày là chỉ vui chơi trong khuôn viên những nhà triệu phú đang khi
Việt nam bốc cháy, th́ h́nh ảnh của ông Ford sẽ c̣n bị ê chề hơn nữa",
Phụ tá Ron Nessen kể lại (6). Năm 1985 khi chúng tôi phỏng vấn Tổng
thống Ford và đưa cho ông đọc lại mấy bức thư của Tổng thống Nixon, ông
vẫn c̣n tỏ vẻ ngậm ngùi: "Không c̣n một nghi ngờ nào hết, đây là những
lời cam kết vô cùng quyết liệt" ("Well, there is no doubt these were
very categorical commitments").
Như đă thuật lại, Tổng trưởng quốc pḥng Schlesinger, người đă rất thờ ở
lúc con thuyền Miền Nam sắp ch́m đắm, cũng đă phàn nàn rằng:
"Tôi tin rằng Tổng thống Ford đă bị lừa bịp về những lá thư này";
"Quốc hội không hề hay biết chút ǵ về mấy lá thư đó khi họ bắt đầu chạy
làng khỏi Việt nam vào mùa hè 1973";
"Tôi c̣n nhớ tôi đă vô cùng sửng sốt khi đọc một số lá thư ấy, v́ chúng
có nghĩa là Hoa kỳ đă chạy làng những nghĩa vụ mà chính Tổng thống đă
cam kết. Tuy nhiên, nếu ta không biết được là có những nghĩa vụ được cam
kết th́ ta đâu biết được là Hoa kỳ đă chạy làng".
(I believe Ford as being bamboozled on the letters;
Congress know nothing of these letters, when it started bugging out
of Vietnam in the summer of 1973,
"I remember how surprised I was when the letters surfaced, because I
felt that the meant a welching by the United States on commitments that
had been entered into by the President. However, if you don t know the
commitments have been entered into, you don t know the country has
welched")
Đúng ba ngày sau cuộc họp báo, mồng 3 tháng 5, Kissinger thay đổi thái
độ. Như Uỷ ban liên bộ định cư Đông Dương (Indochina Interagency Task
Force) đă báo cáo: "Ngoại trưởng Kissinger đă yêu cầu Tổng thống
Ford cho phép cấp quyền "tạm dung" cho 150.000 người Việt và Kampuchia
tỵ nạn, với điều kiện là Chính phủ phải cố gắng tái định cư 20.000 người
tại các quốc gia khác. Tổng thống Ford đă chấp thuận và thông báo cho
Tổng trưởng Tư Pháp" (6).
C̣n về phía lập pháp của Mỹ?
Sau đây là những lời tuyên bố của một số những bàn tay đao phủ đă đưa
dao lên cắt đứt viện trợ cho Miền Nam:
Phản ứng tức thời tại Quốc hội là có nhiều nghị sĩ, dân biểu đă rất ngạc
nhiên về những tiết lộ trong cuộc họp báo. Tờ New York Times (2
tháng 5, 1975) đăng tin nghị sĩ Henry Jackson tuyên bố:
"Thật là lố bịch và nguy hiểm khi Quốc hội và nhân dân Hoa kỳ phải nhờ
vào quan chức ngoại quốc (ông Hưng) để mới biết được những văn kiện tối
quan trọng"; ông c̣n thêm rằng: "Khi không chịu tiết lộ rơ ràng bản chất
và văn bản của những thoả thuận sơ bộ với Miền Nam, phía Hành pháp đă
lừa dối một Chính phủ ngoại quốc cũng như Quốc hội Mỹ về bản chất và quy
mô những điều do Hoa kỳ cam kết với quốc gia đó"(7)
Nghị sĩ Mike Mansfield tiếp theo: "Thật là chuyện bất ngờ ("It looks
like the jacks are coming out of the box… "), tôi nghĩ rằng sự việc
này càng được sớm làm sáng tỏ ra th́ càng tốt cho tất cả mọi người chúng
ta". (8)
Cùng một ngày, Uỷ ban Ngoại giao Thượng Viện, một Uỷ ban lănh đạo việc
cắt viện trợ, đă yêu cầu Tổng thống Ford cho xem bản sao những trao đổi
mật giữa hai Tổng thống Nixon - Thiệu. Nhưng ông Ford đă từ chối phắt đi.
Trong một bức thư gửi nghị sĩ John Sparkman, chủ tịch của Uỷ ban, ông đă
nại tới "quyền hành đặc biệt của Hành pháp" để làm căn bản cho việc từ
chối, và khuyên rằng "chúng ta nên xếp lại vào quá khứ những cuộc tranh
luận có tính cách chia rẽ về vấn đề Việt nam". (9)
Nghị sĩ Henry Jackson, Uỷ ban Quốc pḥng Thượng Viện:
"Những tiết lộ mới đây đă cho hay rằng ngành hành pháp đă lừa dôi một
Chính phủ nước ngoài và Quốc hội về những cam kết của Hoa kỳ đối với
Miền Nam Việt nam từ 1972 tới 1973"; Chính phủ Ford đă tố cáo Quốc hội
là đă vi phạm những cam kết và những ràng buộc đối với Miền Nam, những
điều mà Quốc hội chưa bao giờ được nghe tới, chứ đừng nói đến là đă chấp
thuận";
"Thật là một trạng thái kỳ cục và nguy hiểm khi Quốc hội và nhân dân Hoa
kỳ phải dựa vào quan chức ngoại quốc mới biết được những trao đổi quan
trọng, nó được tung ra bất cứ lúc nào, do một Chính phủ ngoại quốc,
giống như mấy con thỏ nhẩy ra khỏi cái mũ của nhà ảo thuật"; (10)
Nghị sĩ Frank Church, người chống đối cả viện trợ, cả việc giúp di tản.
"Hồi đó chẳng ai nói ǵ với chúng tôi về những cam đoan mà Hoa kỳ sẽ
phải gánh vác. Tôi không nhớ là đă có người nào thông báo cho Uỷ ban tôi
biết là đă có một cam đoan nào, dù được viết xuống, hay minh thị, hoặc
bằng cách nào khác. Cảm tưởng rơ rệt lúc này của chúng tôi là không có
điều ǵ dấu diếm chúng tôi cả;"(11)
Nghị sĩ Jacob Javits, Chủ tịch Uỷ ban Quốc pḥng Thượng Viện, người khởi
xướng cắt quân viện hè 1974 (đă tuyên bố sau khi phía hành pháp căi là
những bức thư này chỉ là cam kết về tinh thần, không có giá trị pháp lư):
"Muốn gọi mấy tài liệu đó là ǵ đi chăng nữa đáng lư chúng đă phải được
đưa ra cho Uỷ ban Ngoại giao Thượng Viện cùng với những tài liệu khác
liên quan đến Hiệp định Paris".
Ngày 4 tháng 5, tôi gọi điện thoại cho vị Tuyên Uư Thượng Viện, Mục sư
Elson. Ông vui mừng cho hay là phản ứng tại Quốc hội có chiều hướng tốt.
Sau khi hay biết những chuyện này, nhiều nghị sĩ nhận thấy là Hoa kỳ đă
bất công với nhân dân Miền Nam, và bắt đầu có thiện cảm hơn đối với vấn
đề lỵ nạn. Mục sư Elson nói : "Chắc chắn Quốc hội sẽ thay đổi thái độ".
V́ Quốc hội đă thay đổi thái độ: chỉ trên ba tuần sau khi bỏ phiếu bác
đi số tiền 327 triệu để tài trợ cho di tản, ngày 23 tháng 5, 1975 Quốc
hội đă biểu quyết "Đạo luật về di trú và tỵ nạn Đông Dương"
"Indochina Migration and Refugee Act" - IRAP; 89 stat. 87), trợ cấp
455 triệu cho tỵ nạn từ Việt nam và Kampuchia).
Tôi cảm thấy một niềm an ủi vô biên, v́ nghĩ rằng ít ra Hoa kỳ cũng đồng
ư chấp nhận một số nhiều người Việt chứ không phải chỉ vỏn vẹn có 50.000
người như Toà Bạch Ốc đă cho phép Đại sứ Martin di tản vào ngày 25 tháng
4, tức là năm ngày trước giờ hấp hối của VNCH. Câu nói của Von Marbod đă
đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử tỵ nạn, v́ nó khởi đầu cho một
cuộc di cư vĩ đại kéo dài tới 25 năm. Ngày nay, sau 30 năm từ lúc bắt
đầu, số người Việt di tản được tiếp nhận và đang sinh sống tại Hoa kỳ
cũng đă lên trên một triệu người, xấp xỉ bằng con số tôi mang ra để cầu
cứu trong cuộc họp báo ngày 30 tháng 4, 1975.
Chú thích:
(1) Về lịch sử tượng "Người khổng lồ đảo Rhodes" và "Nữ thần
Tự do," độc giả có thể vào internet/google t́m đọc về Colossus of
Rhodes và Statue of liberty.
(2) Nessen, It
sure looks different from the inside,
trang 108
(3) Nessen, It
sure looks different from the inside,
trang 108
(4) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 544.
(5) Như trên
(6) U.S. Government, interagency task force, The President s Advisory
Committee On Refugees, Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 15.
(7) New York Times, 2 tháng 5, 1975
(8) New York Times, 2 tháng 5, 1975
(9) New York Times, 2 tháng 5, 1975
(10) New York Times, 2 tháng 5, 1975; TIME (Magazine), 21
tháng 4 1975; N.T. Hưng và J. Schecter, The Palace File, trang
355-356.
(11) 196th congress, Review of U.S. Rẹfùgee Resettlement
Program and Policies, A Report, Congressional Research Service,
Library of Congress, 1980, p. 29.
Phần 5 -Chương
18
NH̀N LẠI LỊCH SỬ
Bao nhiêu trắc
trở lúc ban đầu
Từ
Vũng Tầu và các địa điểm khác, bao nhiêu ngàn người đang cố trèo lên
những con thuyền đánh cá mỏng manh, liều mạng để t́m lối thoát mà cũng
chẳng biết ḿnh sẽ đi đâu. Một số may mắn được tầu Mỹ vớt, một số khác
hẩm hiu đă bị ch́m đắm, trôi dạt trên đại dương. Được vớt rồi, như Đại
sứ Martin đă điều trần trước Quốc hội, "vẫn không có chỗ nào cho phép họ
tới một cách hợp pháp", v́ ông chỉ được quyền tạm dung (parole
Authority) cho nhập vào Mỹ là 50.000 người. Và dù quyền này, ông
cũng chỉ nhận được bốn ngày trước chuyến ra đi cuối cùng (1). Đă không
có chỗ nào cho họ đi v́ ngoài việc Mỹ chấp nhận một số nhỏ này, các quốc
gia láng giềng đă tránh né!
Mang họ đi đâu bây giờ?
Điều đáng buồn là trong số
các nước đă thu được nhiều lợi nhuận v́ cuộc chiến Việt nam, tới giờ
phút chót lại tỏ ra thờ ở với tỵ nạn (trừ Singapore). Trên 150 tỷ đô la
Mỹ tài trợ chiến tranh phần lớn đă được tiêu ngay ở Mỹ cho các hăng sản
xuất quốc pḥng; số c̣n lại được tiêu cho phần dịch vụ cung ứng tại các
quốc gia Á Châu. Indonesia bán dầu lửa, nhiên liệu; Singapore bán súng
M-16; Đài Loan bán quần áo quân đội, đồ hộp. Phillippines lắp ráp thiết
bị, máy bay. Ngoài ra lại c̣n những chi tiêu cá nhân của quân đội Mỹ khi
nghỉ phép tại các nước này.
Ông Martin đă kể lại rằng từ
đầu tháng 4, khi có những chuyến máy bay quân sự từ sân bay Clark ở
Phillippines bay vào Tân Sơn Nhất, Toà đại sứ đă tranh thủ những chuyến
bay trở ngược về Clark để cho di tản một số người Việt. Thế nhưng,
Phillippines đă chống đối việc này:
"Thoạt đầu, chúng tôi được
bảo là phải mang họ trở về Việt nam ngay, v́ Chính phủ Phillippines đang
la lối om x̣m…
Đầu tháng 4, Bộ Ngoại giao
c̣n chỉ thị cho tôi là phải chấm dứt việc sử dụng những chuyến bay trở
về (căn cứ Clark) như thế" (2).
Tới lúc di tản, khi cuộc
"Hành quân gió nhanh" khởi sự, lúc đầu là gần 10.000 người đă được
chở vội tới "Thành phố Lều, (Tent City) ở căn cứ Clark. Tổng thống
Marcos lại lên tiếng phản đối. Mỹ phải dùng các máy bay vận tải quân sự
C-141 và một số phi cơ 747 thuê của hăng American Airlines để chở họ gấp
tới đảo Guam.
Sát cạnh Việt nam là Thái
Lan cũng chống đối, và khi toán phi công Miền Nam cùng với gia đ́nh và
một số người khác tổng cộng là 2.000 tới căn cứ Utapao cùng với 130
chiếc máy bay đủ loại, Chính phủ Thái tuyên bố là đoàn người này phải
rời lănh thổ Thái nội rạng 30 ngày (3).
Chống đối: từ Pendleton đến
trại Eglin
Nền kinh tế Hoa kỳ năm đó
rất khó khăn. Thất nghiệp lên tới 9%, tức 8 triệu người, lạm phát cũng
9%. Vật giá đắt đỏ, khan hiếm. Người ta xếp hàng trước những trạm xăng
và có lúc mỗi xe chỉ mua được 5 đô la xăng. Hăng Gallup cho làm một cuộc
thăm ḍ dân ư, kết quả là 54% chống việc nhận người di tản Việt nam vào
Mỹ, và 36% đồng ư (4).
"Hăy gửi đến cho ta những kẻ
mệt nhọc, co cụm, những tướng lănh của các người, những kẻ giàu có và
được ưu đăi, những ké lưu manh, ma cô, và những cô gái bán bar, đang
khao khát được thở không khí tự do…".
("Send me your tired and huddled masses, your generals, your wealthy
and privileged classes, your crooks and pimps and bar girls, yearning to
breathe free…) (5).
Một lần nữa, "Nữ thần Tự do" lại bị mang ra để phỉ báng đoàn
người tị nạn một cách rộng răi hơn. Trên đây là một câu nhại châm biếm (bắt
chước câu thơ của bà Em ma Lauzarus) ghi dưới một h́nh hí hoạ do Pat
Oliphant, nhà hí hoạ nổi tiếng, vẽ một đoàn di tản Việt nam đang xếp
hàng đi qua pho tượng đứng bao dung ngoài cảng Manhattan. H́nh này được
in vào một số báo lưu hành trên toàn quốc.
Kể cả ngay sau khi chiếc máy bay khổng lồ C-5A chở đoàn cô nhi 300 người
bị rớt và 206 bé em bị tử thương, vấn đề vận chuyển 2.000 trẻ em,
"operation Babylift" cũng vẫn c̣n là một đầu đề tranh luận tại Mỹ.
Tuy là một vấn đề nhân đạo và nhiều em là bé lai, vẫn có sự chống đối.
Sau đây là mấy thí dụ do báo chí Mỹ ghi lại: (6)
Nghị sĩ Mcgovern, người đă ra tranh cử với Tổng thống Nixon năm 1972, đă
đổ dầu vào lửa: "Tôi cho rằng người Việt nam sẽ được sung sướng hơn nếu
ở lại Việt nam, kể cả lũ trẻ mồ côi kia".
Khi thấy đoàn người nghèo khó được ùn ùn chở từ Guam tới Camp Pendleton,
các nhà lănh đạo California- gồm cả Thống Đốc và hai Thượng Nghị sĩ -
đều lên tiếng báo động! Bộ trưởng Y Tế và Xă Hội, ông Mario Obledo gửi
ngay công điện cho ông Kissinger cảnh cáo rằng tiểu bang của ông khó có
khả năng chấp nhận "những người tị nạn không nhà". Lư do là v́: "Cali đă
có tới "952.000 người thất nghiệp, 2,4 triệu lănh trợ cấp an sinh xă hội;
4 triệu sống gần mức nghèo khó, và 20 triệu người đă phải đóng thuế ở
mức cao nhất mà một nền kinh tế tự do có thể chấp nhận".
Rồi tới bức thứ hai: "Cali c̣n có kế hoạch để cô lập hoá số 64.000 người
ở hai trại cũ kỹ tại sa mạc Mojave tức Camp Pendleton) và thung lũng San
Joaquin (Fort Travis)". Thấy Cali lo lắng, thị trưởng Chicago bàn thêm:
"Đức bác ái phải được bắt đầu tại gia".
Một anh chàng quản lư một tiệm sách của tổ chức quá khích John Birch
Society gần trại Eglin (Florida) c̣n lo ngại là bệnh tật nhiệt đới sẽ
trôi nổi lên mặt biển". Phụ tá Báo chí Ron Nessen cũng kể lại mấy thí dụ
về việc chống đối người tỵ nạn: (7)
Bên ngoài Fort Chattee (Arkansas), những người biểu t́nh c̣n mang bảng
với khẩu hiệu "Hăy về đi!" (Go home!); "Thành phố da vàng" (Gooksville).
Câu chuyện khác: một người biểu t́nh ngoài Fort Chattee c̣n nói với anh
nhà báo: "Người ta nói là ở đây lạnh lẽo hơn ở Việt nam nhiều. Với chút
ít may mắn, có thể họ sẽ bị sưng phổi và chết đi".
Một ông thị trưởng ở thành phố gần căn cứ không quân Eglin, Florida đă
nói với người quay phim hăng ABC: "Chúng tôi lo ngại chẳng những đối với
những ǵ đang xảy ra chung chung, nhưng c̣n cả với những ǵ sẽ xảy ra
cho cái băi biển sạch sẽ của chúng tôi nữa".
Một may mắn: di sản của Mẹ
Cái khó khăn thực tế nhất vào những ngày đầu của là chuyện tiền bạc.
Ngày 1 tháng 5, Hạ Viện đă bác đi số tiền 327 triệu đô la do Tổng thống
Ford yêu cầu chuẩn chi cho dân tị nạn. Toà Bạch Ốc tuyên bố về việc này:
"Tổng thống đă rất buồn và bất măn về hành động của Hạ Viện ngày hôm
nay… Nó không xứng đáng với một dân tộc đă sống theo triết lư
được tượng trưng bởi Nữ thần Tự do". (8)
Trung Tâm Định Cư ước tính là chỉ riêng nhu cầu ăn uống, tiện nghi, sức
khoẻ cho một người trong trại cũng đă cần tới 15 đô la cho một người một
ngày. Ngoài ra c̣n tiền chuyên chở (530) và tiền chi phí cho Cơ quan
Thiện Nguyện (500). Thế nhưng Quốc hội đă không chấp thuận th́ làm sao
mà chi được?
Thật là may mắn: số tiền viện trợ của Mỹ cho VNCH c̣n lại chút ít. Bộ
Ngoại giao, Quốc pḥng có thể dùng để tài trợ vận chuyển, và lo an sinh
cho đoàn người tị nạn lúc ban đầu. Để bạn đọc nắm được những dữ kiện tài
chánh chung quanh việc di tản, và cũng là để tổng kết cho lịch sử về
viện trợ của Hoa kỳ cho VNCH, tôi ghi lại kết toán trong bảng sau đây:
Số tiền viện trợ kinh tế c̣n lại ( triệu USD)
Trong sổ sách Hoa Kỳ vào ngày 30-4-1975
182
1. Chuyển cho Bộ Ngoại giao tài trợ di tản
58
2. Chuyển cho Bộ Tư Lệnh Hải vận quân sự (Military Sealift Command) và
các cơ quan "Thiện nguyện di tản biển"
13
C̣n lại vào ngày 31-5-1975
111
Quyết toán nguồn của số 111 triệu:
Ngân khoản tài khoá 1974 c̣n lại
(ngh́n đô la)
1. Chương tŕnh nhập cảng
21.150
2.Viện trợ nhân đạo
3.922
3.Viện trợ dự án
7.811
Cộng
32.883
Ngân khoản tài khoá 1975 c̣n lại (ngh́n đô la)
1. Chương tŕnh nhập cảng
40.260
2. Viện trợ nhân đạo
28.855
3. Viện trợ dự án
8.130
4. Chưa phân bổ
985
Cộng
78.230
Tổng cộng 111 triệu
Tất cả số tiền viện trợ kinh tế cho tài khoá 1975 c̣n lại vào ngày 30
tháng 4, 1975 là 182 triệu. Nếu lấy tổng số này mà chia cho 130.000
người th́: mỗi người đă nhận được 1.400 đô la, và đó là di sản của Mẹ.
Khoản này đă giúp các cơ quan trung ương sử dụng được ngay để đáp
ứng nhu cầu cấp thời. Tuy nó khiêm nhượng, nhưng đă giúp giải quyết
những khó khăn lúc ban đầu. V́ nếu không có số này th́ chắc chắn là cuộc
di tản c̣n kẹt lớn, chưa chắc đă thực hiện được. Nó cũng đă mua được
thời gian quư giá cho người tỵ nạn lúc bước vào miền đất mới.
Để khoá sổ, ta cũng nên biết tới số liệu của vấn đề gay go nhất lúc hạ
màn, đó là viện trợ quân sự cho VNCH. Số tiền 700 triệu quân viện cho
tài khoá 1975 c̣n lại vào ngày 30 nháng 4, 1975 là 12 triệu. Tất cả ṣng
phẳng là như vậy.
Nh́n vào số này ta mới hiểu rơ hơn về hoàn cảnh chính trị, quân sự, và
nhất là tâm lư của VNCH khi thấy Ban Lănh Đạo đảng Dân Chủ cả Thượng và
Hạ Viện (lúc đó hợp vào trở thành đa số tại Quốc hội), trong buổi họp
kín ngày 12 tháng 3 1975 đă phán quyết: không cấp thêm viện trợ quân sự
cho VNCH nữa.
Số tiền 12 triệu c̣n lại cũng như 130 chiếc máy bay do phi công Việt nam
bay sang Thái lan và các thiết bị, súng ống, đạn dược chưa chuyển tới
Sài g̣n hay đă mang ra khỏi hải phận, như một số chiến hạm, đều được thu
về chủ quyền của Bộ Quốc pḥng Mỹ:
"Hăy trả lại cho Caesar những ǵ thuộc về Caesar", đó là lời Chúa.
Chú thích:
(1) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
544, 562.
(2) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
563.
(3) TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 24.
(4) TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 24.
(5) Nessen, It
sure looks different from the inside,
trang 115-116.
(6) TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 26; 5 tháng 5, 1975,
trang 26.
(7) Nessen, It sure looks
different from the inside, trang 115.
(8) Nessen, It sure looks
different from the inside.
P5 - Chương
19
Tại sao sụp đổ
Năm
1954, khi Điện Biên Phủ lâm nguy, ngày 25 tháng 3, Chính phủ Pháp cử
Tổng Tham Mưu Quân Đội, tướng Paul Ely đi Washington cầu cứu Hoa kỳ can
thiệp và gấp rút tiếp viện cho đoàn quân viễn chinh Pháp, Tổng thống
Eisenhower đă từ chối. Điện Biên Phủ thất thủ, dẫn tới sự chia đôi đất
nước Việt nam.
Thật là một sự trùng hợp: đúng 21 năm sau, cũng cùng một ngày (25 tháng
3, 1975), trong khi quân, dân Miền Nam rút từ Huế về Đà Nẵng, Chính phủ
VNCH cầu cứu Hoa kỳ, Tổng thống Ford làm ngơ, Đà Nẵng thất thủ và trên
thực tế, coi như miền Nam đă sụp đổ.
Trong hai cuộc chiến đă có nhiều điểm tương đồng. Nhưng điểm trùng hợp
quan trọng nhất đă là vai tṛ chủ yếu của Hoa kỳ tại chiến trường Đông
Dương…
Có nhiều lư do đă đưa Miền Nam tới chỗ sụp đổ như đă được đề cập bởi
nhiều nhà b́nh luận Việt, Mỹ trong 30 năm qua. Những lư do đó gồm các
yếu tố khách quan cũng như chủ quan, ở trong cũng như ở ngoài nước. Về
đối nội, thí dụ như sự bất quân b́nh của cán cân lực lượng Miền Nam và
Miền Bắc, sự thuần nhất của một xă hội trong chế độ cộng sản và tính đa
dạng cùng khuynh hướng phân tán trong một xă hội tự do. Tôi cũng đồng ư
với câu phương châm "tiên trách kỷ, hậu trách nhân" của người xưa. Trước
những thất bại, ta phải tự trách ḿnh trước "mea culpa" (lỗi
tại tôi). Về chính trị, các b́nh luận gia thường nêu lên những yếu
kém, khuyết điểm của lănh đạo và nhân dân Miền Nam. Lănh đạo th́ độc tài,
thiếu khả năng, quá tin vào Mỹ, tham nhũng, có khi c̣n xa hoa quá mức.
Nhân dân th́ chia rẽ, một phần th́ thờ ơ, chống đối, chán chường một
cuộc chiến dài lê thê.
Tất cả những nhận xét trên, không ít th́ nhiều đều có phần xác đáng. Tuy
nhiên, sau khi theo rơi cuộc chiến nhiều năm, trước hết là từ ngay trên
đất Mỹ (vào những năm 1958-1972), cũng như đă được chứng kiến những sự
việc ở hậu trường trong ba năm cuối cùng của Miền Nam (1973-1975), rồi
nghiên cứu thêm từ đó, tôi vẫn khẳng định rằng sự lệ thuộc vào Hoa kỳ
gần như hoàn toàn, cả về vật chất lẫn tâm lư đă là yếu tố quyết định.
Hăy nh́n lại cuộc chiến 1945-1954, chính nước Pháp cũng đă phải lệ thuộc
vào Mỹ như vậy. Mức độ chiến tranh càng lên cao, Pháp càng phải dựa vào
tiền bạc của Mỹ. Tới khoảng thời gian 1950-1954, trên 75% ngân sách
chiến tranh Đông Dương là do Mỹ đài thọ. Đến thời VNCH, cũng trên 75%
ngân sách Quốc pḥng (trả lương cho quân đội) là do viện trợ Mỹ. Rồi
toàn bộ quân trang, quân dụng, từ khẩu súng, viên đạn, lít xăng, tới xe
tăng, đại bác, máy bay, cái ǵ cũng có nhăn hiệu MDAP (Military Detense
Assitance Program) của Mỹ.
Về mặt kinh tế, khi chiến tranh leo thang, sản xuất trong nước không
phát triển được, lại c̣n tụt hậu, cung ứng cho nhu cầu của nhân dân phải
dựa vào đô la của Mỹ để nhập cảng. Những sản phẩm cho nhu cầu từ ăn, ở,
mặc, tới vận chuyển, một tỷ lệ rất quan trọng được đáp ứng từ "viện
trợ Mỹ".
Về ăn chẳng hạn, nông dân cần đô la để nhập phân bón và thuốc sát
trùng mới sản xuất được thực phẩm. Vẫn không đủ, c̣n phải nhập thêm hàng
mấy trăm ngàn tấn gạo mỗi năm.
Chỗ ở? Ta cần nhập vật liệu như xi măng, sắt thép, tôn, th́ mới
xây cất được.
Nhu cầu mặc? Miền Nam vẫn phải nhập cảng máy móc, bông g̣n để sản
xuất ra vải; cũng không đủ, c̣n phải nhập thêm vải.
Về vận chuyển, giao thông: ta cần nhập xe buưt, xe vận tải, xe
Honda, xăng nhớt; nhập rồi mỗi năm lại c̣n đ̣i hỏi phụ tùng thay thế.
Đó là chưa nói tới những nhu cầu khác như y tê, giáo dục, giải trí.
Cũng chưa kể là từng khối lượng lớn hàng hoá (như đồ hộp, radiô, TV,
tủ lạnh, rượu mạnh, thuốc lá, quần áo) đă được chuyển ra bằng cách này
hay cách khác, từ hệ thống tiếp liệu "PX" của Mỹ, đặc biệt là từ căn cứ
Long B́nh. Như vậy, về vật chất, sự lệ thuộc đă hầu như là toàn
diện. T́nh trạng này lại c̣n dẫn tới sự lệ thuộc về tinh thần và
tâm lư. Nếu Mỹ c̣n giúp, th́ các nhà lănh đạo và dân, quân Miền
Nam c̣n chịu đựng, chiến đấu. Nếu có dấu hiệu là họ bắt đầu bỏ, th́ tinh
thần bắt đầu sa sút. Tới lúc bỏ thật là sụp đổ.
Ngoài những lư do về kinh tế, lịch sử, và bản chất của cuộc chiến, sự lệ
thuộc về cả vật chất lẫn tinh thần, một phần cũng là hiệu quả của phương
pháp làm việc, nếu không nói là chính sách của Mỹ ở Miền Nam. Nó đă
không cho những cơ hội để Miền Nam tự lập, tự quyết, tự cường.
Về mặt chính trị chẳng hạn, khi Tổng thống Diệm muốn thương thuyết với
Hà Nội để hiệp thương, tiến tới thống nhất trong hoà b́nh, ông đă bị lật
đổ. Ta hăy khách quan mà suy nghĩ nếu như Nam-Bắc đă dàn hoà được với
nhau từ 1963, không có 12 năm chiến tranh khốc liệt, th́ ngày nay nước
Việt nam sẽ như thế nào? Ngay từ thời tiền chiến, Sài g̣n đă là "Viên
ngọc của Á Đông", lúc Đài Loan c̣n là đảo Formosa và Singapore chưa
thành một nước.
Đến đầu năm 1971, khi ông thầy tôi là Warren Nutter, Phụ tá Bộ trưởng
quốc pḥng nghi ngờ có khả năng Kissinger đang bỏ rơi Miền Nam, dù lúc
đó chưa biết là đang có mật đàm tại Paris, ông cũng khuyên tôi là nên
t́m cách nào thúc đẩy phía VNCH phải chủ động hơn. V́ là một viên chức
cao cấp trong Chính phủ Mỹ, ông không thể có ư kiến riêng cho VNCH.
Một sáng kiến hoà b́nh
Khi gặp Tổng thống Thiệu hồi tháng 9, 1971, tôi đă cố thuyết phục ông
phải tự ḿnh có sáng kiến hoà b́nh chứ đừng để phía Mỹ lôi cuốn. Tôi đề
nghị phía VNCH mang tới Hoà Đàm Paris một đề nghị về hiệp thương
với miền Bắc. Đây là giải pháp mà tôi đă nghiên cứu từ đầu năm 1969, sau
khi v́ t́nh cờ trong một chuyến viếng thăm nước Đức, đă t́m hiểu được mô
h́nh thương mại giữa Đông Đức và Tây Đức rất hợp lư. Nước Đức cũng chia
đôi ra làm hai miền với hai chính thể đối nghịch, thế mà vẫn cứ buôn bán
với nhau liên tục, nên sự xung đột đă có thể bớt căng thẳng. Sau này khi
họ thống nhất vào năm 1990 không cần tới một viên đạn, tôi đă hết sức
cảm kích!
Dù rằng vào thời điểm 1971, Tổng thống Thiệu rất cứng rắn về chính sách
"bốn không", nhưng ông cũng đồng ư chấp nhận đề nghị mà tôi gọi
là "hai miền trong một đơn vị kinh tế". Tuy nhiên, ông lại dặn
tôi là thử thăm ḍ ư kiến Mỹ xem sao? Tôi nghĩ thầm rằng ḿnh
muốn phía VNCH đưa ra sáng kiến, ông lại bảo ḿnh hỏi Mỹ.
Tôi gặp quan chức Bộ Ngoại giao Hoa kỳ và ḍ hỏi, họ b́nh luận: "mang
ra th́ cứ mang, nhưng chắc đă muộn rồi". Sau cùng ông Thiệu đă đem
đề nghị này vào một bài diễn văn khi ông ra ứng cử nhiệm kỳ thứ hai vào
năm 1971.
Để yểm trợ cho đề nghị xây dựng hoà b́nh, vào năm 1969, khi có dấu hiệu
là Mỹ bắt đầu bỏ rơi Miền Nam, tôi có viết một bài dài về vấn đề hiệp
thương giữa hai Miền Nam-Bắc cho tờ báo uy tín Washington Post,
nhưng tờ này nhất định không đăng. Đến khi Tổng thống Thiệu đưa đề nghị
này vào bài diễn văn của ông th́ tờ này mới in bài với tựa đề "Hai
miền Việt nam là bạn hàng thương mại" (The Vietnams As Partners
in trade) vào mục "Quan điểm" (Outlook) dành riêng cho số báo mỗi
ngày chủ nhật. Ngày 24 tháng 9, 1972, tờ Washington Post đă dành
cả một trang cho bài này.
Tuy đă gây được một tiếng vang ở trong chính giới tại Washington, nhưng
không lấy ǵ làm mạnh mẽ lắm. Mấy nghị sĩ có tham khảo ư kiến tôi, nhưng
rồi không thấy có phản ứng ǵ. Về sau này tôi mới biết là vào thời điểm
đó th́, trong màn bí mật, ông Kissinger đă sắp xếp gần xong mọi chuyện
cho miền Nam rồi.
V́ sắp xếp như vậy không bao giờ ông ta hỏi ư kiến của Chính phủ Miền
Nam một cách thực ḷng về những điểm quan trọng. Kissinger nhất định làm
một ḿnh, và làm ở Paris. Cho đến thời điểm cuối cùng trước khi Miền Nam
sụp đổ, ngày 26 tháng 4, 1975 Kissinger c̣n đánh điện cho Đại sứ Martin
nói là "Bất cứ điều đ́nh nào cũng phải là giữa Hoa kỳ và phía Bắc
Việt chứ không phải giữa Sài g̣n và Hà Nội". Ông c̣n thêm rằng "bất
cứ cuộc thảo luận nào cũng phải được diễn ra tại Paris" (1).
Hậu quả của lệ thuộc
Về chính trị, phía Mỹ luôn chủ động như vậy, c̣n về quân sự? Ngay từ lúc
Mỹ mới nhúng tay vào Miền Nam cũng đă có sự bất đồng ư về chiến thuật
giữa cố vấn Mỹ và tướng lănh Miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh
Mỹ ở Miền Nam, tướng O Daniel đă nói toạc ra là "ai chi tiền th́
người đó chỉ huy" (who pays, commands). Rồi tới khi
chiến tranh leo thang, sứ mệnh của quân đội Hoa kỳ được xác định là
chiến đấu, sứ mệnh quân đội Miền Nam là ǵn giữ an ninh. V́
thế quân đội Mỹ đă theo một chiến thuật gọi là "t́m và diệt địch"
(search and destroy). Báo chí Mỹ đă riễu cợt quân đội Miền Nam là họ
chỉ theo chiến thuật "t́m và né địch" (search and avoid).
Có nhiều lư thuyết cắt nghĩa việc quân đội Mỹ muốn tự tung tự tác ngoài
chiến trường. Một trong đó là lư thuyết chiến công trong trận mạc.
Chỉ có trong những trận đánh th́ mới có nhiều thành tích, mới chóng
lên lon. Từ sau cuộc chiến ta thấy rằng: cấp chỉ huy quân đội Mỹ trong
các cuộc xung đột về quân sự, hầu hết đều ra ḷ từ chiến tranh Việt nam.
Các chính trị gia từ hành pháp tới lập pháp, cũng thường hay đem chiến
công ở Miền Nam ra phô diễn, tuy có khi lại bị đả kích, như trường hợp
ông John Kerry trong kỳ tuyển cử 2004.
V́ quân đội Mỹ đă chủ động nên quân đội Miền Nam không được huấn luyện
tối đa cho tới 1969. Đến khi Mỹ bắt đầu rút đi th́ mới có chương tŕnh
Việt nam Hoá, giúp tân trang và huấn luyện quân đội VNCH. Ta nên
nhớ chỉ sau Tết Mậu Thân quân đội VNCH mới được trang bị súng M-16 tối
tân, c̣n trước đó chỉ là những khẩu súng Garrant M-l và Carbin của thời
đệ nhị thế chiến. Như ông Van Marbod, Đệ nhất Phó Phụ Tá Bộ trưởng quốc
pḥng đă nhận định, chương tŕnh Việt nam Hoá đă thi hành vội vàng,
giống như làm cho "chín người đàn bà có thai để đẻ một đứa con trong một
tháng". Và cái tên "Việt nam Hoá" c̣n hàm ư là trước đó th́ cuộc chiến
tranh đă Mỹ hoá, chiến tranh là của Mỹ.
Trở lại vấn đề lệ thuộc về vật chất, như chính Tổng thống Ford đă viết
trong Hồi kư của ông: chỉ tới đầu 1975, khi Quốc hội Mỹ cắt hầu hết quân
viện, Miền Nam mới mất một tỉnh đầu tiên trong suốt cuộc chiến, đó là
Phước Long. Rồi từ Phước Long tới Ban Mê Thuộc, tới Pleiku, Đà Nẵng và
sau hết là Sài g̣n. Có điều là trong năm 1974, tuy quân đội VNCH đă tiếp
tục chiến đấu, nhưng kho đạn dự trữ đă được sử dụng gần hết. Vào thời
điểm cuối cùng, số đạn tồn kho chỉ c̣n đủ cung ứng từ 30 tới 45 ngày.
Thay v́ được tiếp liệu đầy đú như đă được cam kết, Hoa kỳ từng
bước một, đi đến quyết định cắt đứt luôn.
Ấy là chưa kể số tiền viện trợ cần thiết để yểm trợ cho nền kinh tế. Nó
đă vừa bị cắt xén, vừa bị mất giá (v́ khủng hoảng dầu lửa), nên đă giảm
xuống tới mức bi đát. V́ vậy, từ mùa hè 1974, không những khả năng chiến
đấu đă kiệt quệ mà cả tinh thần của giới lănh đạo, chỉ huy các cấp đă
bắt đầu lung lay rồi. Càng ngày càng suy yếu đi nhanh, khi các đài phát
thanh VOA, BBC liên tục đưa tin cắt viện trợ.
Nguyên nhân chính Mỹ bỏ rơi Miền Nam
Tại sao Mỹ lại dứt khoát bỏ rơi Miền Nam? Câu trả lời ngắn gọn là v́
quyền lợi của Mỹ ở Việt nam đă không c̣n nữa. Sau Thế chiến thứ 2, Hoa
kỳ giúp thành lập hai quốc gia: Do Thái và Việt nam cộng hoà. Ngày 14
tháng 5, 1947, Do Thái trở thành một nước độc lập. Ngay sau đó, quân đội
của năm nước A Rập (Ai cập, Syria, Jordan, Lebanon và Iraq) tấn công Do
Thái. Hoa kỳ vội vàng yểm trợ, chính thức công nhận Quốc Gia Do Thái.
Ngày 26 tháng 10, 1955, nước Việt nam cộng hoà được thành lập. Hà nội
nhất quyết đ̣i hỏi phải tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc (vào tháng 7,
1956) để đi tới thống nhất, theo như quy định của Hiệp định Genève. Tổng
thống Diệm, với sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa kỳ, tiếp tục bác bỏ. Tổng
thống Eisenhower tuyên bố ông có thể "trỏ tay vào quốc gia Việt nam
Tự do với niềm hănh diện "; Nghị sĩ John F. Kennedy (sau này kế vị
Eisenhower) c̣n b́nh thêm: "Tự do chính trị ở Miền Nam là một nguồn
cảm hứng" cho ông.
Ngày nay, VNCH đă mai một 30 năm rồi, nhưng Do Thái vẫn c̣n trường tồn,
lại c̣n mạnh mẽ hơn. Lư do chính là v́ Mỹ vẫn c̣n cần đến Do Thái làm
tiền đồn để trấn giữ túi dầu ở Trung Đông. V́ nhu cầu đó, ngày nay
dù đang phải gánh chịu biết bao nhiêu hậu quả của chính sách đối với Do
Thái, Mỹ vẫn kiên cường. Đă rơ ràng là những khủng hoảng hiện tại như
chiến tranh Iraq, biến cố 9/11, Ai Qaeda, căng thẳng với Iran, nó đă
không ít th́ nhiều, có dính líu tới chính sách này. Thực ra, nếu Do Thái
không có Mỹ yểm trợ th́ với chỉ vỏn vẹn chưa tới 6 triệu dân, quân đội
Do Thái dù có tài giỏi, lănh đạo dù có sáng suốt, trong sạch, dân chủ,
gấp mấy lần Miền Nam đi nữa th́ chắc cũng đă bị toàn khối A Rập áp đảo
rồi. Chả cứ chờ đến khi nào thế giới không c̣n cần nhiều đến dầu lửa nữa
v́ có được những nguồn năng lượng quan trọng khác như ánh sáng mặt trời
hay kỹ nghệ nguyên tử lực, th́ lúc đó mới biết Do phái có c̣n trường tồn
được hay không?
Nếu tiền đồn dầu lửa ở Trung Đông c̣n cần thiết th́ tiền đồn
của "thế giới tự do" bên Á châu lại không c̣n cần thiết nữa. Kể từ
ngày Tổng thống Nixon bắt tay được với Trung Quốc th́ giá trị của Miền
Nam để "ngăn chặn làn sóng đỏ" đă không c̣n là bao nhiêu trong
những tính toán của Mỹ về hơn-thiệt (cost-benefít). Dần dần, Miền
Nam đă hết vai tṛ một tiền đồn của "thế giới tự do". Và như vậy,
vấn đề c̣n lại đối với Mỹ th́ chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít
bị tổn hại về uy tín là được rồi.
Sụp đổ mau lẹ
Đối nội, về những lư do đă đưa tới sụp đổ mau lẹ, Đại Tướng Cao Văn Viên
nhận định rằng quyết định "tái phối trí" của Tổng thống Thiệu đă
thay đổi toàn diện chiến lược từ "bảo vệ lănh thổ bằng mọi giá" sang "bảo
vệ lănh thổ theo khả năng?" Tuy dù nó có hợp lư trong t́nh thế đang xảy
ra, nhưng nó "đă quá trễ sau khi mất Ban Mê Thuộc". Tuy nhiên, ông cũng
nhận định rằng "Đó là cái nh́n về phương diện quân sự trong giai đoạn
ngắn hạn". C̣n về khả năng tồn tại, ông cho là "vẫn c̣n tùy thuộc vào số
quân viện Hoa kỳ cung cấp cho VNCVH". Đại tướng Viên đă kết luận: "Một
sự thật không thể chối căi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào
tháng 6-1975 nếu không nhận được quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ
không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến
đấu" (xem chương 8).
Đó là về đạn được, nguyên liệu cần thiết để chiến đấu. C̣n về thực phẩm,
quần áo, thuốc men, băng cứu thương cho quân đội, cũng như nhu cầu sinh
sống của gia đ́nh họ th́ sao? Một điều mà cho tới nay cũng ít ai hay
biết, đó là việc Quốc hội Hoa kỳ c̣n đi tới chỗ cạn tàu ráo máng. Ngoài
việc cắt viện trợ quân sự, cắt xén viện trợ kinh tế, lại c̣n xiết chặt
cách sử dụng viện trợ kinh tế.
Năm 1974, VNCH sắp đi tới chỗ phải ngừng, không được dùng tiền do Quỹ
đối giá (phát xuất từ viện trợ kinh tế đổi sang tiền Việt) để tài
trợ cho ngân sách quốc pḥng, tức là để trả lương cho 1 triệu 200 ngàn
quân nhân. Thế rồi Quốc hội c̣n đi thêm bước nữa, cấm luôn cả trả lương
cho cảnh sát. Lực lượng cảnh sát lúc đó là 120.000 người. Lúc đó, nếu
biết được đến nông nỗi này, th́ liệu quân, dân Miền Nam đă nghĩ sao? V́
vậy, tin này không được phổ biến. Ngày nay ta có thể đặt lại câu hỏi:
thế th́, bắt đầu từ năm 1976 chính phú VNCH lấy tiền đâu mà trả lương
cho quân đội, cảnh sát?
Điều mà cuốn sách này muốn nhấn mạnh là cái cung cách mà một số
chính khách Hoa kỳ, đặc biệt là Cố vấn Tổng thống kiêm Ngoại trưởng
Henry Kissinger đă sử dụng để bỏ rơi Miền Nam. Trước hết là dùng thủ
đoạn dối trá trong bóng tối. Sau đó, là áp lực, đe doạ, và cam kết, bảo
đảm. Nhưng hứa hẹn xong rồi th́ quay mặt đi, lại dấu giếm cả Chính phủ,
Quốc hội lẫn nhân dân Hoa kỳ. Hành động như vậy là trái với nền tảng "công
b́nh", một giá trị mà nhân dân Mỹ đề cao, phản lại sự "minh bạch"
(transparency), một nguyên tắc quan trọng vào bực nhất của thể chế
dân chủ, và hạ xuống thật thấp uy tín của nền ngoại giao Hoa kỳ.
Hoá ra, những cam kết chỉ là một công cụ để che dấu một kế hoạch gọi là
"khoảng thời gian coi được". Kế hoạch này chỉ nhằm ban phát cho
Miền Nam một thời gian ngắn ngủi, một khoảng cách coi cho được,
từ lúc Mỹ rút cho tới khi sụp đơ
Tới ngày nay, những người lănh đạo Mỹ có trách nhiệm đối với Miền Nam
đều nhất thiết đổ cho Watergate. Vụ này đă làm suy yếu quyền hạn của
Tổng thống, nên Mỹ không làm ǵ được để giúp Miền Nam. Một phần nào luận
điệu đó đă bị bác đi trong cuốn sách này.
Ngắn gọn, ta có thể khẳng định rằng, ngay trước cả Watergate, vào thời
điểm mà quyền hạn của Tổng thống Mỹ c̣n rất mạnh mẽ, đó là sau khi ông
Nixon đă đại thắng nhiệm kỳ hai, Kissinger đă có ư định bỏ rơi
Miền Nam rồi. Như đă thuật lại trong Chương 13, Tổng thống Nixon vừa tái
đăng quang th́ vài ngày sau, Kissinger kư tắt vào bản Hiệp định Paris.
Kư xong, Phụ Tá Tổng thống Nixon là John Ehrlichman có hỏi: "Ông nghĩ
rằng Hiệp định này sẽ cho Miền Nam tồn tại được bao lâu nữa?" Tưởng
Kissinger sẽ nói vài câu có tính cách đảm bảo. Nhưng không, ông ta trả
lời thẳng thừng: "Nêu họ may mắn th́ có thể cầm cự được một năm rưỡi"
(2).
Chắc chắn rằng việc dân chúng Hoa kỳ chán ghét chiến tranh cũng đă là
yếu tố quan trọng thúc đẩy việc sụp đổ mau lẹ, nhưng ta nên nhớ rằng, từ
khi Mỹ đă rút đi hết, không c̣n bị thương vong nữa, và 519 tù nhân được
thả về, th́ sự chống đối đă giảm hẳn, và thành phố Washington không c̣n
có những cuộc biểu t́nh vĩ đại như lúc trước nữa.
Điều tệ hại nhất là vào lúc Quốc hội giơ thanh gươm đao phủ để chặt đứt
cái ống dưỡng khí đang nuôi sống Miền Nam, họ đă hoàn toàn không được
thông báo ǵ về những cam kết của phía Hành pháp đối với Miền Nam. Tới
khi Tổng thống và Quốc hội VNCH viết thư cầu cứu vào giờ hấp hối, nhân
dân Hoa kỳ cũng không được hay biết.
Như đă tŕnh bày trong chương 10, nh́n lại lịch sử, tôi cũng không khỏi
suy tư, và đặt một câu hỏi khác: tại sao phía VNCH lại cứ âm thầm từ hè
1973 khi Quốc hội Mỹ bắt đầu cắt xén viện trợ? Tại sao lănh đạo hành
pháp và lập pháp không họp lại để bàn luận về hồ sơ mật xem phải nên đối
xử làm sao với Hoa kỳ trong hoàn cảnh chính trị của Watergate, và dưới
triều một Tổng thống Mỹ mới? Việc này chỉ được làm sau khi rút khỏi
Pleiku. Lúc đó th́ đă quá muộn. Ta có thể cho rằng: v́ những chống đối
chiến tranh từ phía nhân dân, dù Quốc hội Mỹ được biết mọi chuyện, có
thể là họ cũng vẫn cứ cắt hết viện trợ. Tuy nhiên, trên căn bản công
b́nh, Quốc hội khó mà cắt đi một cách quá đột ngột và dứt khoát như
đă xảy ra. Quốc hội sẽ phải nhận thức rằng, với những đảm bảo vững chắc
của Tổng thống Mỹ, mà Tổng thống là người đại diện nước Mỹ, nếu vẫn cắt
hết viện trợ cho Miền Nam th́ uy tín nền ngoại giao Hoa kỳ sẽ bị tổn
thương lớn. Những cam kết bằng văn bản hay nói miệng của Tổng thống
Nixon, ông Kissiger, Tổng thống Ford với Tổng thống Thiệu, Ngoại trưởng
Lắm đều là những trao đổi giữa hai quốc gia Hoa kỳ và VNCH chứ không
phải giữa cá nhân các ông này.
Đă không bao giờ phía Hoa kỳ thông báo cho Chính phủ Miền Nam là họ muốn
rút hết lại những cam kết đó, hay là chúng c̣n cần được sự đồng ư của
Quốc hội. Ngược lại, chính Tổng thống Ford khi lên kế vị Tổng thống
Nixon vào tháng 8, 1974 lại c̣n vội vàng gửi thư cho Tổng thống Thiệu để
tái xác nhận những cam kết của vị tiền nhiệm. Chỉ trong hai bức thư cuối
cùng trước khi sụp đổ, ông Ford mới nói tới việc quân viện c̣n cần được
Quốc hội chấp thuận.
Ông Kissinger, người kiêm nhiệm cả hai chức Cố Vấn An Ninh và Ngoại
trưởng, lại là người điều khiển chính sách ngoại giao của cả hai Chính
phủ Nixon và Ford, đă che dấu cả chính đồng liêu ḿnh là Tổng trưởng
quốc pḥng. Khi ông Schlesinger được đọc vài bức thư (do chính tác giả
cung cấp) ông đă t́m cách thông báo cho nghị sĩ Henry Jackson biết, và
ông này bắt đầu đặt vấn đề. Nhân viên Toà Bạch Ốc vội vàng lục soát hồ
sơ, nhưng cũng chỉ t́m được có 7 bức thư của Tổng thống Nixon mà thôi.
Vậy c̣n 20 lá thư kia do ai dấu đi?
Sau những tiết lộ của chúng tôi để chứng minh về sự thất hứa và yêu cầu
Chính phủ Mỹ cứu vớt đoàn người tỵ nạn (trong cuộc họp báo tại
Washington ngày 30-4-1975), Kissinger chống chế, cho như là việc đă
rồi, và đâu có ǵ là quan trọng về mặt pháp lư! Ông c̣n căi
lại là nếu chắp nối tất cả những lời tuyên bố chỗ này chỗ nọ của chính
ông và của các quan chức trong chính quyền Hoa kỳ trong quá khứ, th́
trước sau, nó cũng đă nói lên những điều giống như cam kết trong các thư
tín rồi. Có ǵ đâu mà phải thắc mắc? Hành động lắt léo và dối trá trong
bí mật như vậy, chắc chắn đă không xứng đáng với tư cách của kẻ cả, của
lănh đạo một cường quốc.
Về sự phản bội, trong một buổi làm việc giữa các tướng lănh VNCH tại Mỹ
sau ngày sụp đổ để biên soạn 13 cuốn sách chuyên đề nhận định về cuộc
chiến tranh VN theo quan điểm của VNCH (trong đó có Đại Tướng Cao Văn
Viên, Trung tướng Ngô Quang Trưởng), trong khuôn khổ một chương tŕnh do
"Trung Tâm Quân Sử Lục quân Hoa kỳ" khởi xướng (Indochinese Refugee
Authored Monograph Program) tướng William Westmoreland, cựu Tư lệnh quân
lực Mỹ tại Việt nam có tới thăm. Sau khi truyện tṛ, ông Westmoreland đă
tóm gọn: "Chúng tôi đă phản bội các anh!"(We betrayed you")
Tại sao chỉ cứu vớt số tối thiểu
Câu hỏi sau cùng là: tới lúc sụp đổ, sao Mỹ lại chỉ muốn cứu vớt quá ít
người Việt nam? Lúc đầu chỉ định giúp di tản 50.000 người, phút chót mới
tăng lên, tổng số là dưới 130.000 người.
Có thể là v́ ba lư do:
- thứ nhất, là lư do kinh tế. Nền kinh tế của Mỹ vào năm 1975
đang trong t́nh trạng khó khăn sau khủng hoảng dầu lửa bắt đầu từ mùa
Thu 1973. Khi thất nghiệp lên tới 9%, khó mà nhân dân Mỹ chấp nhận cho
mang thêm nhân công vào nước Mỹ;
- thứ hai, về phương diện tố chức, nếu cứu nhiều người th́ sẽ lộn
xộn, mất nhiều thời gian tổ chức, chuyên chở, và sẽ có thể đem tới nguỵ
hiểm cho 6,000 người Mỹ c̣n kẹt lại; và
- thứ ba, đâu có nhiều chính trị gia Mỹ muốn cho số đông người
Việt kéo nhau vào nước Mỹ? Nếu họ vào quá đông th́ h́nh ảnh của chiến
tranh Việt nam sẽ cứ lởn vởn măi. Cũng như sự kiện là có ít người muốn
luôn nh́n thấy nhân chứng về sự thất bại của ḿnh. bao giờ Miền Nam hấp
hối, Kissinger c̣n nguyền rủa "Sao chúng không chết phứt cho rồi?
Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài".
Chú thích:
(1) Xem mật điện của Đại sứ Martin ngày 26 tháng 4, 1975 nói về điểm này:
N.T. Hưng and J. Schecter, The Palace File, trang 341.
(2) John Ehrlichman, sđd., trang 288.
P5 - Chương
20
Những bài học từ cuộc
chiến Việt nam
Bài học cho Mỹ
Về những bài học của cuộc chiến, có nhiều tác giả đă đưa ra những bài
học cho Mỹ, cả về quân sự, chính trị, lẫn ngoại giao. Vắn tắt, một số
bài học quan trọng được tóm gọn như sau:
Về quân sự:
- không thể chỉ dùng sức mạnh của vũ khí để theo đuổi một mục tiêu chính
trị;
- quân đội Mỹ không được tổ chức thích hợp cho chiến tranh du kích;
- khi có quyết định bước vào cuộc chiến, lănh đạo không nên trói tay
quân đội và phải ủng hộ hết ḿnh; vừa đánh vừa rụt rè là chỉ có thất bại;
- những bài học về chiến thuật và khí giới th́ đă quá nhiều và ngày nay
đang được áp dụng. Thí dụ như từ sau chiến tranh Việt nam, chưa có máy
bay B-52 nào bị bắn rơi. Và những bài học về du kích chiến th́ đang được
sử dụng vào chiến tranh chống quân khủng bố (terrorister).
Về chính trị:
- Dân chúng Mỹ không chịu đựng được một cuộc chiến kéo dài; khi thương
vong lên tới trên 1,000 một tháng là tâm lư nhân dân lên cơn sốt;
- đừng can thiệp quá nhiều vào nội bộ chính trị của đồng minh;
- đừng Mỹ hoá chiến tranh;
- đừng đặt quá cao mục đích của Mỹ khi bước vào cuộc chiến;
- đừng thổi phồng lên những thắng lợi ở chiến trường, nó có tác động
nâng cao triển vọng của nhân dân, để rồi họ vỡ mộng khi được phanh phui
là không đúng; v́ báo chí, truyền thông Mỹ thường hay đưa tin tức, b́nh
luận chứng minh ngược lại với những tuyên bố hay lập trường của Chính
phủ; và
Về ngoại giao:
- Phải quốc tế hoá chiến tranh qua Liên Hiệp Quốc, hoặc kéo theo nhiều
đồng minh;
- Phải giữ tính nhất quán của Hoa kỳ trong việc biện hộ cho mục tiêu của
cuộc chiến, đừng có thay đổi mục tiêu liên tục;
- Trong một xă hội dân chủ, mở rộng như Mỹ, nếu Tổng thống chỉ dựa vào
một hai viên chức để làm chính sách về ngoại giao là rất nguy hiểm; và
- Đừng bội tín; phải giữ được niềm tin của các nhà lănh đạo những quốc
gia khác; đừng dối trá, nay thế này mai thế khác.
Điểm cuối cùng hết sức quan trọng. Nhiều khi nó c̣n là yếu tố quyết định
giữa chiến tranh và hoà b́nh. Về điểm này, các cấp lănh đạo tối cao của
Hoa kỳ như Tổng thống Nixon, Tổng thống Ford, đă phải công nhận rằng sự
thất bại ở Việt nam làm tổn hại rất nhiều tới uy tín của Hoa kỳ. V́ vậy,
cho dù việc giải kết, tháo chạy khỏi Miền Nam là điều có lợi cho nước Mỹ
đi nữa, nó cũng chỉ là ích lợi ngắn hạn, vào thời điểm đó. Về lâu về dài,
nó đă làm tổn hại tới độ tin cậy (credibility)
của chính sách ngoại giao cũng như
uy tín Hoa kỳ không ít. Chính Henry Kissinger cũng phải nhận định rằng
chỉ sáu tháng sau chiến tranh Việt nam, phía Cộng sản đă dùng chiến
tranh du kích bung ra tại Phi Châu, Afghanistan; và ba năm sau, Chính
phủ của quốc vương Iran là đồng minh của Mỹ đă sụp đổ, làm mất hẳn thế
quân b́nh ở Trung Đông. Ảnh hưởng của biến cố này c̣n kéo dài cho tới
ngày nay. Khi quốc vương Shah c̣n ngồi đó th́ đâu có chuyện Saddam
Hussein xưng hùng xưng bá, và đâu có thù địch nước ngoài nào dám tấn
công thẳng vào ngay Ngũ Giác Đài và Trung Tâm Thương Mại Quốc tế ở New
York? Suưt nữa c̣n phá hoại cả vào Quốc hội hay Toà Bạch Cung. Cũng
chính Kissinger đă đặt câu hỏi có phải sự sụp đổ của quốc vương Iran là
do chính ông ta mất tin tưởng vào Mỹ hay không?
Và phe chống đối ông Shah đă bắt đầu coi thường Mỹ đến độ c̣n bắt ngay
cả 52 nhân viên Toà đại sứ Mỹ ở Teheran làm con tin vào tháng 10, 1979.
Tổng thống Carter cho trực thăng bí mật vào cứu, nhưng đă hoàn toàn vô
ích; và ông đă thất bại trong kỳ tuyển cử nhiệm kỳ hai vào năm 1980.
Khủng hoảng này kéo dài tới hơn một năm. Sau khi ông Reagan lên Tổng
thống (tháng 1, 1981), những con tin mới được thả.
Về việc các chính khách khối A rập nghi ngờ về mức độ tín nhiệm của Hoa
kỳ, tôi chỉ nhắc lại một câu chuyện xảy ra vài tháng trước khi Miền Nam
sụp đổ. Khi viện trợ Mỹ bị cắt gần hết, Chính phủ VNCH gấp rút xúc tiến
việc vay tiền xứ Saudi Arabia như Quốc vương Faisal đă hứa (trước khi
ông bị người cháu hạ sát). Ngoại trưởng Bắc đi thương thuyết để sớm giải
ngân. Ông Bắc nói với Tổng trưởng dầu lửa Sheik Yamani rằng: "Mỹ đă
không viện trợ cho chúng tôi như đă cam kết trong văn bản". Ngỡ
ngàng, ông Yamani lắc đầu, hỏi: "Làm sao khi chủ tịch của một công ty
đă kư kết một tài liệu, rồi người kế vị ông ta lại nói: Tôi không biệt
ǵ về chuyện đó hết".
Bởi vậy, thực ra, cái giá Mỹ phải trả cho việc tháo chạy khói Miền Nam
là quá lớn.
Nơi đây, ta có thể rút tỉa một bài học về độ tin cậy quan trọng
Hoa kỳ: đó là khả năng duy tŕ, hay khả năng bền (sustainabitity)
của những cam kết do Tổng thống đối với đồng minh. Các nhà chính trị học
cần nghiên cứu cho kỹ điểm này: khi Tổng thống Hoa kỳ hứa hẹn bằng lời
nói miệng hay trên văn bản, liệu những cam kết đó có khả năng bền
vững có kéo dài được lâu hay không? Liệu nó có c̣n hiệu lực khi hoàn
cảnh chính trị thay đổi, thí dụ như có một Tổng thống mới hay một Đảng
cầm quyền khác? Hay hoàn cảnh kinh tế thay đổi, thí dụ như lạm phát cao,
thất nghiệp nhiều, khủng hoảng kinh tế? Nếu không, th́ giá trị của những
cam kết đó như thể nào? Khi hứa hẹn như vậy, Tổng thống Mỹ có nên hay
không nên thêm một câu: "Những cam kết này chỉ có giá trị bao lâu tôi
c̣n ngồi trong Toà Bạch Ốc", hoặc những cam kết này sẽ không c̣n
giá trị khi hoàn cảnh kinh tế xă hội, chính trị của Hoa kỳ thay đổi?"
Bài học cho các đồng minh
Nếu những bài học cho Mỹ đă được nhiều tác giả b́nh luận th́ những bài
học cho các đồng minh của Mỹ lại chỉ được các nhà lănh đạo quốc tế rỉ
tai nhau và truyền miệng về những nhận xét của họ.
Bài học thứ nhất cho một đồng minh của Hoa kỳ là nên nhận định rơ
ràng vấn đề quyền lợi. Lư do quan trọng nhất mà Hoa kỳ nhảy vào
một cuộc chiến là quyền lợi của Hoa kỳ. Những mục tiêu khác như bảo vệ
nhân dân, tranh thủ nền độc lập, hay xây dựng dân chủ (cho VNCH hay
Iraq, hay Afghanitan) th́ chỉ là thứ yếu. Năm 1965, trước khi cho TQLC
đổ bộ vào Đà Nẵng (ngày 6 tháng 3), trong một cuộc họp mật và cao cấp
tại Washington, D.C. vào tháng 1, 1965, Bộ trưởng quốc pḥng Robert
Mcnamara và thứ trưởng Mcnaughton đă nói toạc ra là mục liêu của Mỹ "không
phải là để giúp một nước bạn thắng là để ngăn chặn Trung Cộng".(1)
Về việc đưa quân vào Việt nam, trong buổi họp ngày 24 tháng 3, 1965,
Mcnaughton c̣n tính toán rơ ràng về mục đích của Mỹ theo phần trăm như
sau:
- 70% là để tránh một sự thất bại làm bẽ mặt cho Mỹ;
- 20% để giữ Miền Nam khỏi rơi vào tay Trung Cộng; và
- 10% để cho nhân dân Miền Nam được tự do, hạnh phúc (2).
Thứ hai, quyền lợi về kinh tế là bền vững, lâu dài; quyền lợi về
chính trị hay ngoại giao chỉ là giai đoạn. Nó chỉ tồn tại vào thời gian
nào đó mà thôi. Hoa kỳ can thiệp vào chiến trường Việt nam trong thời
điểm lúc cường độ chiến tranh lạnh c̣n đang lên cao. Tới lúc bắt đầu
"détente", giảm căng thẳng được với Liên Xô th́ quyền lợi đó cũng
bắt đầu giảm. Tới khi Tổng thống Nixon bắt tay với Mao Trạch Đông (tháng
2, 1972) th́ quyền lợi đó coi như đă chấm dứt.
Ngày nay, trong chiến tranh vùng Vịnh chẳng hạn, mục đích là dẹp được
Saddam Hussein v́ nhiều lư do, đầu tiên là v́ Saddam sản xuất vũ khí huỷ
diệt hàng loạt (WMD), không t́m được khí giới này th́ viện lư do là v́
Saddam dính líu với bọn phá hoại Al Qaeda. Khi bằng chứng dính líu cũng
không rơ, th́ tới nhu cầu xây dựng dân chủ bên Trung Đông. Nhưng c̣n mục
đích khác, rất quan trọng và liên hệ trực tiếp tới quyền lợi của Mỹ là
phải làm giảm đi mối đe doạ của Iraq đối với Do Thái. Do Thái là tiền
đồn dầu lửa ở Trung Đông. Dẹp xong Saddam rồi, và khi đe doạ về dầu
lửa đă giảm bớt, sớm muộn th́ quân đội Mỹ cũng sẽ phải rút về. Và muốn
rút, trước hết phải có tổng tuyển cử để xây dựng dân chủ. V́ có dân chủ
th́ nhân dân Iraq mới "thi hành quyền tự quyết của ḿnh" được.
Bầu cử xong, Chính phủ Iraq phải sớm "phát triển những sức mạnh sẵn
có của ḿnh". Bởi vậy, quân đội và cảnh sát Iraq phải trưởng thành
sớm để tự đối diện với quân phản loạn.
Khi chúng tôi đọc đoạn này lấn cuối cùng trước khi in sách (tháng 2,
2005) đă nghe Tổng thống Bush tuyên bố là "Iraq phải tự hảo vệ lấy chính
ḿnh" ("Iraq must defend itself"); và có tin là Mỹ cũng sắp sửa
rút 15.000 quân về).
Thứ ba, về lâu về dài, thực quyền là ở Quốc hội Hoa kỳ. Theo quy
định của Hiến Pháp, Quốc hội có quyền "khuyến nghị và ưng thuận"
(advise and consent). Như vậy, khi nào Tổng thống Mỹ có đảm bảo
điều ǵ th́ lănh đạo đồng minh phái yêu cầu ông thông báo cho Quốc hội
để yêu cầu họ đồng ư, chớ có hứa hẹn trong bí mật. Về điểm này, Đài Loan
đă học được kinh nghiệm từ Việt nam, nên dù phía hành pháp có hứa hẹn là
sẽ không để cho Trung Cộng thôn tính bằng vơ lực, Đài Loan đă cố
gắng vận động để Quốc hội Mỹ ra một đạo luật vào năm 1979 là sẽ trợ giúp
Đài Loan để tự vệ; Tuy nhiên, dù Quốc hội có ưng thuận, và Quốc hội
thường hay chấp thuận những yêu cầu của Tổng thống nào lúc ban đầu cuộc
chiến, nhưng rồi dần dần sẽ giăn ra khi bắt đầu có nhiều thương vong
và tốn kém lên cao. Họ sẽ đặt vấn đề "được ǵ, mất ǵ?" Quốc hội
nắm cái túi tiền, đó là quyền biểu quyết về ngân sách, đặc biệt là ngân
sách quốc pḥng. Dĩ nhiên, khi có một Tổng thống mạnh và cương quyết,
ông sẽ có khả năng thuyết phục Quốc hội tiếp tục chi tiền như trường hợp
Tổng thống George W. Bush hiện nay (2004-2005) trong kế hoạch tài trợ
cho chiến tranh Iraq. Nhưng nếu ông không sớm giải quyết vấn đề th́ sự
ủng hộ sẽ kéo dài được bao lâu?
Phản ứng của Quốc hội Mỹ về chiến tranh Việt nam là một thí dụ điển h́nh.
Tôi c̣n nhớ rất rơ ràng: ngày 2 tháng 8, 1964, khi xem TV th́ thấy phát
ngôn viên Bạch Ốc thông báo cho dân chúng Mỹ: tầu tuần tiễu (PT
boats) của Bắc Việt phóng ngư lôi vào tầu USS Maddox của Mỹ ở
Vịnh Bắc Bộ"; hai ngày sau, 4 tháng 8, lại thấy nói: có cuộc tấn công
lần thứ hai, lần này vào cả hai tầu USS Maddox và USS Tumerjoy.
Dù rằng sự việc này không hoàn toàn chắc chắn, và về sau đă có nhiều
chứng cớ cho thấy việc phóng ngư lôi lần thứ hai là không đúng, Tổng
thống Johnson cũng đă được Quốc hội lập tức thông qua một quyết định cho
phép Tổng thống làm tất cả mọi biện pháp để đẩy lui bất cứ tấn công
nào vào quân lực Hoa kỳ và đảy lui mọi gây hấn". Nhà báo nổi tiếng
James Reslon của tờ New York Times đă b́nh luận ngay rằng "quyền
hạn trao cho Tổng thống như vậy là quá rộng, v́ nó có nghĩa là Quốc hội
đă chấp thuận bất cứ biện pháp quân sự nào, ở bất cứ chỗ nào tại Đông
Nam Á, gồm cả những biện pháp quân sự để yểm trợ bất cứ quốc gia nào
trong Liên minh Đông Nam Á (SEATO)". Và việc chấp thuận lại đồng nhất:
số phiếu ở Hạ Viện là 466-0; và Thượng Viện: 88-2 (chỉ có hai nghị sĩ:
Gruening và Morse bỏ phiếu chống).
Từ lập trường ủng hộ mạnh mẽ như vậy, Quốc hội đă dần dần đi tới quyết
định chống đối hoàn toàn. Liên hệ tới điểm này:
Thứ tư những tuyên bố về quyết tâm của Tổng thống Mỹ th́ cũng chỉ có
tính cách giai đoạn. Thí dụ như những tuyên bố rằng "Chúng tôi sẽ theo
đuổi tới cùng" (We will stay the course) hay "Chúng tôi sẽ ở lại bao lâu
c̣n phải ở lại" (We will stay as long as we have to"). Dù Tổng thống Mỹ
có tuyên bố như vậy về chiến tranh Việt nam hay chiến tranh Iraq, th́
cũng phải hiểu đây là rất tương đối. Dù thực sự có muốn làm như vậy,
Tổng thống Mỹ cũng khó mà thi hành được. Nhân dân Hoa kỳ thường không
nhẫn nại đủ để tiếp tục ủng hộ Chính phủ trong những cuộc xung đột kéo
dài. Ngoài ra c̣n t́nh h́nh kinh tế, xă hội trong nước. Sau cuộc khủng
hoảng dầu lửa do chiến tranh Do-thái A Rập vào mùa Thu 1973, kinh tế Mỹ
chịu cảnh thất nghiệp, lạm phát cao, nhân dân lại càng chống đối việc
viện trợ cho nước ngoài;
Thứ năm, phía đồng minh nên nhớ rằng trong một hệ thống dân chủ
cao như Hoa kỳ, quyền hành tất nhiên là phân tán. Ngay trong nhiệm kỳ
của một Tổng thống, vẫn có nhiều phe phái. Nói chung là được phân ra làm
hai: phe bồ câu và phe diều hâu. Do đó, thường có những
bất đồng ư kiến giữa các lănh đạo dân sự ở Bộ Quốc pḥng và Ngoại giao.
Rồi c̣n phía tướng lănh quân đội, phía CIA. Nhiều lúc đồng minh phải
nhận những tín hiệu đối nghịch từ các phe phái khác nhau. Nhớ lại lúc
Miền Nam đi vào giai đoạn hạ màn chẳng hạn, giới Quốc pḥng th́ thông
báo không thể gửi thêm quân viện, trong khi toà Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao
th́ trấn an là đừng quá lo c̣n chúng tôi ở đây cơ mà. Bởi vậy, về
chính sách, khi ta nói "Mỹ thế này, Mỹ thế khác" là thiếu phần chính xác.
Phải đặt câu hỏi "Mỹ thuộc phía nào? "Mỹ" là những ai? và như vậy, đồng
minh không nên ỷ y, tưởng là nếu đă nhận được những hứa hẹn của Tổng
thống, hay của Tổng trưởng quốc pḥng hay Ngoại giao là tốt rồi. Khi
lănh đạo của đồng minh được mời tới thăm viếng Quốc hội Mỹ chẳng hạn, và
đọc diễn văn này nọ (như Tổng thống Diệm -1956, hay Tổng thống
Afghanistan Kazai - năm 2002, hay Thủ tướng lâm thời Iraq Allawi - tháng
9, 2004) th́ chỉ nên nghĩ rằng đây là tượng trưng một sự ủng hộ tương
đối. Nhiều khi nó chỉ là một hành động ngoại giao, không có nhiều trọng
lượng về thực chất. Tôi cũng c̣n nhớ hồi 1956, sau khi Tổng thống Diệm
được mời sang Mỹ, và đọc diễn văn trước Quốc hội (bác Trịnh Văn Chẩn,
đài VOA đi theo, có kể lại là ông Diệm đọc bài diễn văn bằng tiếng Anh
nhưng với giọng Huế, Quốc hội hiểu rất ít, nhưng cứ đứng lên vỗ tay vui
vẻ). Khi trở về Sài g̣n, uy tín ông Diệm lên rất cao; mỗi khi tôi đi xem
xi nê là thấy phần tin tức (trước phim chính) cứ chiếu đi chiếu lại cảnh
ông Diệm được đón rước long trọng tại New York, và đặc biệt là
ông diễn thuyết được Quốc hội Mỹ hoan hô. Không những ông Diệm mà
đa số nhân dân, trong đó có tác giả, đều nghĩ rằng: Mỹ ủng hộ như thế
này th́ chắc ăn quá rồi.
Bởi vậy, điều cần thiết là phải tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Mỹ,
giới truyền thông, và thành phần trí thức (tại các đại học và những viện
nghiên cứu). Họ là những người vận dụng quần chúng bén nhậy. "Vận
động hành lang" (lobby) tại Quốc hội Mỹ là nỗ lực không thể thiếu
được (nên ghi nhận thành công của Do Thái, Đại Hàn, Đài Loan trong công
tác này);
Thứ sáu, phía đồng minh nên đề cao cảnh giác về cá nhân, tư tưởng
và quá tŕnh của một vài viên chức nào có quyền hành tại Washington, vào
từng thời điểm. Nếu có một quan chức được Tổng thống tin cậy, th́ người
này sẽ khuynh loát để đánh bạt đi những lập trường khác và áp đặt giải
pháp của ḿnh. Thời Đệ Nhất Cộng Hoà, Ngoại trưởng Foster Dulles được
Tổng thống Eisenhower tín cẩn, đă gạt đi những chống đối, hết sức ủng hộ
Tổng thống Diệm. Tới Tổng thống Kennedy, rồi Tổng thống Johnson, Ngoại
trưởng Dan Rusk và Bộ trưởng quốc pḥng Mcnamara rất mạnh, mang quân ồ
ạt vào Việt nam dù có nhiều quan chức bất đồng ư. Thời Đệ nhị
cộng hoà, một ḿnh Cố Vấn An Ninh (sau này kiêm luôn cả chức Ngoại
trưởng) Henry Kissinger được Tổng thống Nixon và Ford hoàn toàn tin cậy,
đă thao túng chính sách ngoại giao của cả một cường quốc; và nắm quyết
định then chốt về Việt nam như đă được tổng kết trong cuốn sách này.
Thứ bẩy, là sự xoay chiều của chính sách ngoại giao Hoa kỳ mỗi
khi có bầu cử Tổng thống. Vào thời điểm đó, Hoa kỳ sẽ có tác động mạnh
vào phía đồng minh đang dính líu với ḿnh, để đi theo chiều hướng những
thay đổi về chính sách. Sớm là vào năm trước năm tuyển cử. Muộn là vào
cuối hè chính năm tuyển cử, lúc hai Đảng họp chọn ứng cử viên Tổng thống.
Vào thời điểm đó, áp lực từ nhân dân, báo chí chống đối sẽ lên rất mạnh,
ứng cử viên nào muốn được bầu th́ phải đưa lập trường hoà b́nh, thịnh
vượng ra cho rơ. Vị Tổng thống đương nhiệm th́ phải hứa chắc chắn sẽ
giải quyết những khó khăn mà vẫn giữ được danh dự, quyền lợi cho Mỹ. ứng
cử viên đối lập th́ đả kích, nói là Tổng thống đương nhiệm đă lầm lỡ và
ḿnh sẽ giải quyết tốt hơn. Phải chăng bài học Việt nam là Mỹ nên có
nhiều đồng minh ủng hộ, cũng đang được áp dụng vào chiến tranh Vùng Vịnh
hiện nay? Trong kỳ tranh cử 2004, cả hai ông Bush và Kerry đều có lập
trường quốc tế hoá chiến tranh Iraq.
Gần đến ngày bầu cử, vị Tổng thống đương nhiệm c̣n phải làm cho viễn
tượng hoà b́nh được sáng tỏ lên. Cũng trong kỳ tranh cử năm 2004, vào
mùa thu năm 2003, Chính phủ Bush đă tuyên bố là sẽ trao trả quyền hành
cho Iraq vào cuối tháng 6, 2004, làm cho những người lănh đạo mới của
Iraq (được Mỹ ủng hộ) rất lo ngại, nhưng cũng phải đồng ư. Ảnh hưởng của
bước đi này là làm giảm sự lo sợ của nhân dân Hoa kỳ về chuyện sa lầy.
Rồi việc chuyển giao quyền hành lại cũng đă được thực hiện vào lúc bất
ngờ: hai ngày trước ngày đă ấn định. Báo chí đăng tin rầm rộ. Gần đến
ngày bầu cử, Toà Bạch Ốc lại tuyên bố sẽ rút mấy chục ngàn quân từ các
địa điểm ngoại quốc về Mỹ. Washington c̣n công bố lịch tŕnh bầu cử tại
Iraq (cuối tháng 1, 2005). Phải có bầu cử th́ mới có dân chủ. Như ở lên
đă nhận xét, có dân chủ rồi th́ việc trao trả lại trách nhiệm cho người
bản xứ là việc dĩ nhiên. Bầu cử xong th́ chẳng mấy lúc nữa, báo chí,
chính khách Mỹ sẽ biện luận rằng: nước là của họ, Chính phủ là của họ,
nhân dân là của họ, và an ninh là việc họ phải tự lo: phải "Iraq hoá"
(như "Việt nam hoá");
Thứ tám, khi Hoa kỳ rút đi, nếu lực lượng đối nghịch chiến thắng
th́ rất có ít hy vọng là một số đông nhân dân của nước đồng minh sẽ được
giúp di tản, và đó là bài học vào lúc sụp đổ của Miền Nam Việt nam. Tại
sao như vậy?
Thứ nhất, khi rút đi tức là đă có quyết định dứt điểm, và như vậy
ít ai muốn sự có mặt của người tỵ nạn v́ nó sẽ nhắc nhở măi về quá khứ;
thứ hai, ít nhà lănh đạo nào muốn đưa thêm nhân lực vào Mỹ để
cạnh tranh thêm về công ăn việc làm; và thứ ba, là ảnh hưởng về
ngân sách. Phải chăng sự tốn kém v́ chiến tranh Việt nam đă làm cho
chương tŕnh "Một xă hội vĩ đại" (The Great Society) của Tổng
thống Johnson bị thất bại? Phải chăng những chi tiêu tại Iraq (vào thời
điểm này tức là đầu 2005, cũng sắp sửa bằng tổng số chi ở Việt nam là
150 tỷ) đă làm cho ngân sách thêm khiếm hụt, và ảnh hưởng tới tất cả
những chính sách đối nội như y tế, an sinh xă hội (health care, social
security), giáo dục và giảm nghèo?
Mệnh nước nổi trôi
Sau cùng, là một suy gẫm hơn là một bài học, v́ nó có tính cách
siêu h́nh. Đó là, cũng như một con người, mỗi một quốc gia đều có một
vận mệnh. Và mệnh nước thường hay nổi trôi!
Suy như vậy v́ tôi luôn có những câu hỏi không thể nào trả lời được, chỉ
c̣n có cách nghĩ đến chữ "mệnh". Tại sao ở một cường quốc vĩ đại như Hoa
kỳ, biết bao nhiêu người vừa tài, vừa đức, vừa có tâm,
vừa có tầm mà lại không lên được tới địa vị quyền hành như
ông Henry Kissinger? Tại sao Miền Nam lại gặp ngay một người quay quắt,
thiếu lương tâm như ông này làm đạo diễn chính sách của Hoa kỳ về Việt
nam trong gần sáu năm rưỡi, tức là gần một phần ba thời gian tồn tại của
VNCH, và trên hai phần ba thời gian của Đệ Nhị Cộng hoà? Tại sao tới lúc
Miền Nam lâm nguy, lại có một ông Tổng thống Mỹ quá yếu, ít kinh nghiệm
ngoại giao như ông Gerald Ford? Và ông không bao giờ được nhân dân bầu
lên. Ông vừa xin thêm quân viện, vừa tuyên bố là chiến tranh Việt nam
đối với Hoa kỳ coi như đă xong rồi (ngày 23 tháng 4), ôn lại những bất
hạnh, tôi thấy câu "Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí" là đúng,
nhưng tại sao tai hoạ nó lại đến với Miền Nam một cách quá dồn dập vào
lúc hoàng hôn:
Vừa bị ép kư một hiệp định bất lợi th́ bị cắt xén viện trợ;
C̣n được chút ít viện trợ kinh tế và quân sự, lại bị cú "sốc" siêu lạm
phát (do chiến tranh vùng Vịnh) năm 1973 làm tiêu hao măi lực của viện
trợ;
Tới khi viện trợ bị cắt hết, Miền Nam xoay đi vay tiền Quốc Vương xứ
Saudi để mua tiếp liệu. Ông vua vừa đồng ư th́ lại bị ngay người cháu
ḿnh hạ sát; ông nằm xuống vào đúng ngày cố đô Huế bị bỏ ngỏ. Thế rồi,
vài ngày sau, một lănh tụ ủng hộ VNCH tích cực, ông Tưởng Giới Thạch,
Tổng thống Đài Loan cũng ra đi về thế giới bên kia;
Trên chiến trường, lúc bị tấn công, Ban Mê Thuộc gọi không quân đến yểm
trợ. Phi vụ vừa tới thả bom th́ một trái rơi trúng ngay Bộ Tư Lệnh Sư
Đoàn 23; Mất Ban Mê Thuộc, có lệnh rút Pleiku. Ngày 18 tháng 3,
quân dân hoảng hốt rút trên con đường 7B đẫm máu. Vừa về tới Phú Bổn,
lại bị kẹt ngay v́ công binh chưa làm xong cây cầu nổi như đă dự tính:
đoàn người di tản chịu thêm một trận pháo kích bên bờ sông Ea Pha (3).
Sau này Tổng thống Thiệu kể lại cho tôi rằng ông vẫn c̣n thắc mắc về
chuyện tại sao công binh không làm xong cái cầu nổi; Đại tướng Viên cũng
cho rằng "Sư đoàn 320 của cộng sản sẽ không bao giờ truy kích kịp đoàn
quân nếu chúng ta có được cầu qua sông thiết lập đúng lúc, và giữ được
trật tự trong đoàn dân quân di tản" (4); v́ cầu không xong, nên hai ngày
sau mới rời được Hậu Bổn. Đoàn dân quân vừa tiến được chừng 20 cây số là
khứng ngay, v́ "trước mặt đoàn di tản là Phú Túc đă bị dịch chiếm". Khi
không quân tới cứu,"một trái bom rơi vào đoàn quân đi đầu, gây thương
vong cho gần một tiểu đoàn Biệt Động Quân" (5).
Tôi đang dự một buổi họp đầy căng thẳng tại Dinh Độc Lập sau cuộc rút
lui thảm hại này th́ Đại tá Cầm (Chánh Văn pḥng Tổng thống) bước vào
đưa một tin bất hạnh. Ông Paul Léandri, trưởng pḥng thông tấn xă
Agence Francce Presse ở Sài g̣n bị cảnh sát bắn chết! Léandri loan
tin "có số lính người Thượng (Monltagnards) đă nổi loạn ở Hậu Bổn,
chống lại quân đội VNCH". Nha cảnh sát mời ông đến để thẩm vấn. Sau vài
tiếng đồng hồ bị giữ lại, Leandri bỗng nhiên bước ra khỏi pḥng, nhảy
lên xe và lái vút đi. Khi cảnh sát huưt c̣i ngừng, ông cứ tiếp tục phóng.
Cảnh sát rút súng bắn vài phát vào bánh xe để giữ lại. Chẳng may một
viên đạn lạc trúng ngay người. Leandri gục chết tại chỗ! Phóng viên
ngoại quốc vô cùng phẫn uất, phản kháng kịch liệt. Trong một t́nh h́nh
vô cùng bất lợi cho Miền Nam về tất cả mọi phương diện quân sự, chính
trị, kinh tế, và bộ mặt Miền Nam đă bị bôi nhọ bởi những h́nh ảnh dă
man, độc tài, tham nhũng, bây giờ h́nh ảnh Leandri bị bắn gục chết lại
được phóng đi khắp thế giới! Tổng thống Thiệu nghe tin này đă tái mặt.
Ông liền chấm dứt buổi họp.
Mấy ngày hôm sau, trong một phiên họp khác ở Văn Pḥng Thủ tướng, lại có
tin chiếc máy bay vận chuyển C-5A chở đám trẻ em mồ côi vừa cất cánh ở
Tân Sơn Nhất đă bị nổ tan? Chết trên 200 trăm em bé? Vào chính lúc đó
lại đang có những chống đối ngay tại Washington về việc di tản người
Việt nam.
Ôi sao tin tức nó dồn dập, bi đát đến thế vào lúc con huyền Miền Nam
nghiêng ngửa sắp ch́m đắm. Suy gẫm như vậy, nhiều người trong chúng ta,
trong đó có ác giả, vẫn c̣n tiếp tục đặt câu hỏi "Âu có phái là mệnh
nước đến lúc suy tàn rồi chăg?".
Chú thích:
(1) New York Times, The Pentagon Papers, trang 309.
(2) New York Times, The Pentagon Papers, trang 432.
(3) William E. Legro, Vietnam from cease-fire to capitulation, trang
150.
(4) Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH, trang 152.
(5) Cao Văn Viên, Những ngày cuối của VNCH, trang 149.
Thay lời cuối
Thiện tâm của nhân dân
Hoa kỳ
Guam
là nơi mà buổi sáng của nước Mỹ bắt đầu sớm nhất, rồi mới đến những địa
điểm khác như đảo Wake, Honolulu, và San Francisco. Đó cũng là mảnh đất
mà đối với đa số đoàn di tản đợt đầu, ánh b́nh minh đă hé rạng sau cơn
băo tố. Vừa tới đảo đă có nhiều hội từ thiện và cá nhân t́nh nguyện giúp
đo. Họ mang cơm tới trại, thông dịch, nấu ăn, săn sóc trẻ em, thay tă
cho con nít. Tuần báo TIME (5 tháng 5, 1975) kể lại là hăng
Mcdonald c̣n muốn tặng mỗi người một bánh hamburger và một chai coke khi
họ vừa đặt chân lên đất Mỹ để "giới thiệu lối sống Mỹ". Nhưng ban quản
lư trại đă từ chối v́ cho là Mcdonald chỉ có dụng ư quảng cáo
Hai địa điểm trên đảo Guam
là nơi được chọn: "Thành phố Thiếc" (Tin City) ở phi cảng quân sự
Anderson, và trại Hải quân San, một khu nhà cũ kỹ đă bỏ trống từ
lâu. Hải quân đă chớp nhoáng mắc điện, làm nhà vệ sinh, pḥng tắm, nhà
bếp. Ngày đầu, họ đă làm việc liên tục 24 giờ, rồi chuyển xuống 12 giờ
một ngày. Một trại mới đă được dựng thêm, gọi là "Trại Bất ngờ" (Camp
Fortuitous). Thái độ những chú lính thuỷ đùa vui với trẻ con, diễu
cợt với các cô gái, làm cho mọi người cảm thấy bớt căng thẳng đôi chút.
Từ Guam, một số đông được
chở tới Camp Pendleton ở Nam Cali. Nơi đây, các lều vải rộng răi đă được
chớp nhoáng dựng lên. Từng đợt rồi lại từng đợt, khi xe buưt chở đoàn
người tới, các quân nhân TQLC mau mắn phát chăn, quần áo ngủ, gói đồ vệ
sinh, dép, và mỗi người một thỏi kẹo. Trước cảnh đó, nhiều người đă quá
cảm động, không cầm nổi nước mắt. Khi thấy thực sự cơn băo tố đă đi qua,
họ đă ôm chầm lấy nhau, bao nhiêu t́nh cảm, bao nhiêu niềm vui.
Nhưng Camp Pendleton chẳng mấy lúc đă đầy nghẹt. Phải chọn thêm trại.
Tại Bộ Quốc pḥng, chúng tôi được ông Von Marbod yêu cầu tham gia ư kiến
về địa điểm trại và về nhu cầu của người tỵ nạn. Đoàn chúng tôi dùng một
máy bay nhỏ do Bộ thuê của hăng tư để đi xem xét một số trại. Trại Fort
Chattèe (Arkansas) và Eglin Air Force Base (Florida) được chọn ngay v́
khá rộng và có phương tiện tương đối lốt so với hai trại khác là Camp
Roberts ở California và Camp Pickett ở Virginia.
Khi tới trại Indiantown Gap ở Pennsylvania th́ chúng tôi thích
quá v́ trông nó hoang vu, thơ mộng lại có cái "lỗ hổng" (khoảng trũng)
nằm giữa hai bên núi đồi, v́ thế gọi là "gap". V́ nghĩ rằng cái "lỗ hổng"
đó nó phản ảnh được phần nào cuộc đời của chúng ta lúc đó, nên tôi một
mực đề nghị nên chọn trại này.
Tổng kết đợt người đầu
Theo thống kê chính thức: tổng cộng đoàn người được di tản lớp đầu là
130.000; trong số này, chỉ có khoảng 30.000, tức là 23% là thuộc thành
phần "có nguy hiểm cao độ" mà Mỹ thực sự định cứu; trong đó,
22.294 người là nhân viên và gia đ́nh nhưng người làm việc cho các cơ
quan Mỹ; số c̣n lại, 100 000 người th́ chỉ là v́ may mắn (1).
Về phương tiện chuyên chở, số người được Toà đại sứ di tản bằng máy bay
lớn, trực thăng, và xuồng là 65.000 người; số người đi ghe thuyền ra
biển và may mắn được làu Mỹ cứu cũng là 65.000 người, đúng một nửa.
Hoa kỳ cũng cố gắng "quốc tế hoá" việc di tản và kêu gọi nhiều
quốc gia. Ngày mồng 5 tháng 9, Đại sứ Dan Brown người được uỷ thác trách
nhiệm điều khiển Chương tŕnh định cư gửi một công điện cho các Đại sứ
Mỹ tại khắp các nước, khẩn khoản yêu cầu họ tranh thủ với các quốc gia
thân hữu dung nạp một số di dân (2).
Đầu tiên có nước Úc rồi tới một số quốc gia khác bày tỏ thiện chí như,
Argentina, Brazil, Chile. Tới ngày 10 tháng 5, kết quả là 25.000 người
được nhập cảnh ở các quốc gia khác (3).
Cánh tay rộng mở
Sau khi vượt qua được hàng rào của mấy chính trị gia, và sau giai đoạn
khó khăn ban đầu, đoàn người di tản đă sớm tiếp xúc được với nhân dân
Hoa kỳ.
Việc quan trọng nhất là vấn đề định cư. Vào lúc đó, gần 9% lao động Mỹ,
tức 8 triệu người đang thất nghiệp. Đối với lao động các sắc tộc thiểu
số, mức thất nghiệp c̣n cao hơn gấp hai, gấp ba lần. Người Mỹ rất lo
ngại về việc người tị nạn sẽ vào cạnh tranh công ăn việc làm với họ. Tuy
nhiên, sau khi Đại sứ Dan Brown tuyên bố là toàn bộ người Đông Dương sẽ
được phân bố ra khắp nước Mỹ, và "Không có địa phương nào sẽ bị tràn
ngập với số người tị nạn", nỗi lo âu lúc ban đầu của nhiều nơi cũng
bắt đầu giảm (4). Và sự công b́nh, thiện tâm, những giá trị căn bản được
đề cao của nhân dân Hoa kỳ đă thắng thế.
Báo chí đăng tải câu chuyện nhà thờ Los Gatos Christian ở California đón
tiếp 154 người tị nạn hoàn toàn không có giấy tờ hợp lệ. Sau khi ca đoàn
nhà thờ hát những bài cầu chúc thánh nhạc, các bà người Mỹ, người Việt
xúm nhau nấu cơm cho cả nhà thờ ăn: "Có bao nhiêu nước mắm th́ chúng
tôi đă mang ra hết", mục sư Marvin Rickard nói với báo chí (4).
Thống đốc Guam, ông Ricardo Bordallo kư nghị định chấp nhận 25.000 người.
Rồi từ đó, thái độ của chính quyền cũng như nhân dân các tiểu bang như
California, Arkansas, Miami cũng thay đổi. Nhiều người như Chủ tịch
Nghiệp Đoàn lao động AFL-CIO, ông George Meany cũng như các Thống Đốc
Reubin Askew (Florida), James Longley (Maine), Dan Evans (tiểu bang
Washington) đều ủng hộ đề nghị của Tổng thống Ford tài trợ cho đoàn di
cư(5). Và sau phản ứng chống đối ban đầu, Quốc hội đă chuẩn chi 405
triệu cho mục tiêu này. Các hội thiện nguyện. Hồng Thập Tự, các đoàn thể,
tổ chức, cũng như cá nhân bắt đầu xung phong cộng tác.
Làm sao cho công cuộc định cư được thành công và hữu hiệu? Phương thức
di tản và định cư Hungary được coi là thành công và đă được chọn làm mô
h́nh để định cư đoàn người Việt tỵ nạn. Năm 1956, sau cuộc nổi dậy của
nhân dân Hung bị đè bẹp, ngày 12 tháng 12, Tổng thống Eisenhower cho
thành lập Uỷ ban Định Cư để điều hợp các hoạt động công cũng như tư nhằm
cứu trợ đoàn người Hung(6). Các Cơ Quan Thiện Nguyện (VOLAG) được kêu
gọi tham gia. Trong hai năm 1956-1957, có 30.701 người Hung được định cư
tốt đẹp. So sánh với mô h́nh định cư 675.000 người Cuba di tản năm
1959-60, mô h́nh Hungary có ưu thế hơn nhiều v́ đă rải được người di cư
ra nhiều tiểu bang. Khuyết điểm của mô h́nh Cuba là tập trung quá nhiều
vào tiểu bang Florida.
Tất cả có chín Cơ quan Thiện Nguyện tham gia định cư người Việt. Những
tổ chức này đă cố gắng hoạt động và phải chi tiêu trung b́nh là từ 2.500
tới 3.000 đô la để định cư mỗi gia đ́nh. Trong khoản này, phần của Chính
phủ tài trợ chỉ là 500 đô la.
Sau khi chọn được mô h́nh, tới việc kiểm tra an ninh. Thủ tục kiểm tra
an ninh lúc đầu hết sức phức tạp, đ̣i hỏi phải thông qua tới năm cơ quan,
gồm cả FBI và CIA? Quá tŕnh định cư bị khứng lại. Có ngày ở trại Eglin
(Florida), chỉ có ba, bốn người xuất trại. Trong khi đó, số người tới
đảo Guam lên tới 50.000, gây ra khó khăn về tiếp tế, nước uống, vệ sinh.
Tôi "hy vọng là đáo này không bị ch́m" một nhân viên coi trại đă
phải phàn nàn. Tại Fort Chattèe có lúc cũng đă lên tới 25.000 người.
Xuất trại
Ban quản lư các trại đánh điện về trung ương kêu ca về t́nh trạng xuất
trại chậm trễ. Để giải quyết vấn đề, sở Di trú bắt đầu miễn thủ tục kiểm
tra cho tất cả các trẻ em dưới 17 tuổi, những người làm cho các cơ quan
Hoa kỳ lúc trước, cùng với gia đ́nh và họ hàng của họ. Sau đó, từng bước
một, đă nới lỏng thủ tục cho tất cả những người khác.
Để giúp việc xuất trại cho sớm, tôi có đề nghị một kế hoạch cho xuất
trại mau lẹ, qua ông Von Marbod, lên Uỷ ban Đặc Trách Liên Bộ Đông Dương
do bà Julia Vadala Taft làm chủ tịch. Vào ngày 23 tháng 6, c̣n tất cả là
88.392 người trong các trại của Bộ Quốc pḥng. Dự phóng đặt ra hai khả
năng: nếu giúp xuất trại được 700 người một ngày th́ khoảng cuối tháng
10 là ra hết. Nếu làm chậm hơn, là 400 người một ngày th́ phải tới tháng
1 năm 1976. Sau cùng, mức xuất trại trung b́nh là khoảng 600 người một
ngày (xem đồ thị về Dự Phóng Xuất Trại).
Sở Di trú quy định là mỗi người đều cần có bảo lănh, nếu không có th́
không được xuất trại. Nhưng t́m việc làm là vấn đề khó khăn nhất v́ t́nh
trạng thất nghiệp đang lan tràn. Quốc hội yêu cầu Bà Julia Taft, Giám
đốc Uỷ ban định cư Đông Dương (Indochina Task Force) lên điều
trần ngày 24 tháng 7 về vấn đề này. Quốc hội sợ rằng v́ không có việc
làm, đoàn người tỵ nạn sẽ gây nên gánh nặng cho Chính phủ phải trợ cấp.
Bà Taft đă hùng hồn biện hộ rằng: "Những lo ngại ban đầu của chúng ta
về vấn đề công ăn việc làm cho số người di cư đă là không có cơ sở…".
Muốn giúp cho bà Taft có thêm dữ kiện tranh đấu cho vấn đề này, tôi đă
cùng một số anh em bạn làm một khảo sát nhắm vào nhóm người tị nạn vùng
thủ đô Washington và lân cận. Khi hoàn thành, nghiên cứu được chuyển cho
bà: (xem Phụ Lục E):
Ngày 2 tháng 9, 1975
"Thưa Bà Taft,
"Khởi đầu, tôi vui mừng thông báo là kết quả cuộc điều tra của chúng
tôi có chiều hướng chứng minh những điểm bà đă tŕnh bày trước Uỷ ban Di
trú Thượng Viện ngày 24 tháng 7 là xác đáng. Thí dụ như về điểm bà nói
tới "mối lo ngại ban đầu về vấn đề công ăn việc làm (như là thất học hay
khó khăn về hoà nhập) đă là không có cơ sở". Điều tra của chúng tôi cũng
chứng minh là đoàn người di tản đang thiệt tha để có thể "được hưởng tất
cả những phúc lợi cũng như đóng góp vào sự thịnh vượng của xă hội Hoa kỳ".
Trong thời gian phỏng vấn (người ty nạn), chúng tôi đă đi tới những
nhận xét và những biện pháp sau đây, trân trọng chuyển đến để bà xem xét:
1 Yêu cầu các Cơ quan Thiện Nguyện cung cấp nhiều thông tin hơn cho
người tỵ nạn, cả trước và sau khi xuất trại;
2. V́ mức thất nghiệp đang cao cũng như v́ chi phí tốn kém cho việc
đỡ đầu, ta nên khích lệ các cộng đồng đỡ đầu cho người tỵ nạn hơn là các
tư nhân;
3. Nghiên cứu và thiết lập một chương tŕnh huấn nghệ tổng hợp càng
sớm càng tốt;
4. Cung cấp một ngân khoản tối thiểu cho các trường gia đ́nh đang khi
họ tham gia vào những chương tŕnh huấn nghệ này (thí dụ như là cho họ
vay tiền để chi phí), và
5. Cho vay nhẹ lăi giúp chính các doanh nhân (trong số người tỵ nạn)
tạo ra công ăn việc làm cho người tỵ nạn…
Kính chúc bà luôn thành ông trong việc hỗ trợ đoàn người tỵ nạn Đông
Dương.
Trân trọng,
Nguyễn Tiến Hưng, Ph. D.
Nhận được tài liệu này, bà Taft phúc đáp:
Uỷ ban Liên Bộ (Định Cư) Đông Dương
Bộ Ngoại giao
Ngày 6 tháng 10, 1975
"Thưa Giáo sư Hưng,
Với sự quan tâm, tôi đă đọc tài liệu nghiên cứu của Giáo sư và đă yêu
cầu các thành viên Uỷ ban của tôi xem xét nó cho kỹ trong công tác đánh
giá về chất lượng và hiệu quả những cố gắng của chúng tôi trong công
cuộc định cư.
Ngoài ra, tôi cũng đă chuyển một bản sao nghiên cứu của Giáo sư sang bên
bộ Giáo dục và An Sinh (HEW) là nơi một Uỷ ban đặc nhiệm về di tản cũng
đă được thành lập…".
Trân trọng
(kí) Julia Vadala Taft
Giám đốc
Để cho bớt phần nào sự lo ngại của nhiều địa phương Mỹ về vấn đề công ăn
việc làm, nhiều người cũng đă nghĩ đến thành lập một số khu hay làng
Việt nam độc lập. Tại trại Indiantown Gap, có hai đề nghị tiên khởi. Chỉ
huy phó, Đại tá Robert Travis đề nghị:
Ngày 14 tháng 7, 1975
"Thưa Tiến sĩ Hưng,
Kèm theo đây là bản sao về một quan niệm đối với vấn đề bảo lănh
người di tản trong một cộng đồng. Như chúng ta đă bàn trong chuyên viếng
thăm mới đây của tiến sĩ, tôi thấy có hai điều khả thi: một là theo tài
liệu đính kèm, và hai là một đề nghị của Đại Học Bucknell. Tuy cả hai
đều giống nhau về bản chất, đề nghị Bucknell thiên về nông nghiệp và đề
nghị đảo Walllops hướng về kỹ nghệ;
"Tôi yêu cầu giáo sư giúp theo đuổi những ư kiến này…".
Trân trọng
(kĩ) Robert L. Travis
Chỉ huy Phó
Đề nghị của Đại học Bucknell là giúp định cư 2.000 người Việt nam trên
10.000 mẫu đất trang trại ở tiểu bang Pennsylvania. Cộng đồng này sẽ sản
xuất các sản phẩm nông nghiệp, và sẽ có thể tự thiết lập cơ cấu xă hội,
hành chánh riêng, theo như luật pháp Hoa kỳ. Đề nghị thứ hai là định cư
từ 500 tới 1 000 người tại một khu đă có sẵn nhà ở (các căn hộ từ 1 tới
3 pḥng ngủ), thuộc Bộ Y tế, Giáo dục và An sinh (HEW), ở sát cạnh đảo
Wallops, tiểu bang Virginia. Kỹ nghệ hải sản ở đây phát triển mạnh và
rất cần nhân lực. Tôi có chuyển những đề nghị này về các cơ quan thẩm
quyền để cứu xét.
Đoàn người vươn lên
Với ḷng hăng say và ư chí quả cảm, chính đoàn người tị nạn đă giúp cho
các trại di tản được đóng cửa gần như theo kế hoạch. Vào cuối năm 1975,
hầu hết số 130.000 người thuộc đợt đầu đă xuất trại, để hoặc định cư,
hoặc sống tạm thời với các gia đ́nh bảo lănh tại Mỹ và một số quốc gia.
Hầu hết họ đă thấy chân trời hé rạng và bắt đầu xây lại cuộc đời mới. Về
sự thành công của lớp người đầu, không những đại đa số đă không phải nhờ
đến trợ cấp của Chính phủ sau một thời gian ngắn, họ lại đă phát triển
và tiến bộ rất mạnh.
Theo Điều tra dân số chính thức của Chính phủ Hoa kỳ năm 2000
(U.S. Census 2000) th́ vào năm đó, lợi tức mức giữa (median
income) của một gia đ́nh Việt nam (4 người) đă lên tới 47.000 đô la,
tương đương bằng 75% lợi lức của một gia đ́nh Mỹ nói chung (lợi tức
mức giữa là mức mà 50% số gia đ́nh có lợi tức cao hơn, và 50%, thấp
hơn, chứ không phải lợi tức "trung b́nh"). So sánh với năm 1990, nó đă
tăng lên được 36%. Số người c̣n nhận trợ cấp xă hội cũng chỉ c̣n 10% (so
với 25%, năm 1990). Gần 60% của tổng số người Mỹ gốc Việt (1.13 triệu
người) đă mua được nhà, so sánh với 43% năm 1990.
Sự thành công tốt đẹp này đă là một yếu tố quan trọng giúp cho Chính phủ
Hoa kỳ quyết định tiếp tục các chương tŕnh tỵ nạn nối tiếp. Họ đă không
phải quá lo ngại về vấn đề trợ cấp và đặt thêm gánh nặng cho ngân sách.
Ngược lại, họ lại nhận thấy rơ ràng sự đóng góp tích cực về nhiều phương
diện, đặc biệt là việc đóng thuế cho cả ngân sách từ địa phương đến
trung ương.
Cũng chính đoàn người lớp đầu, dù vất vả với công ăn việc làm nhưng đă
tiếp tục hoạt động trên mọi lănh vực: luật pháp, nhân đạo, và có những
cố gắng vận động "hành lang", để kéo dài chương tŕnh tị nạn được trên
hai thập niên. Ngoại trừ một số những hành động bất chính của phần tử
nhỏ, phần đông đă nêu gương sáng, cố gắng, lương thiện làm ăn, sinh sống,
học hành. Họ đă đóng góp cho xă hội và nền kinh tế của những quốc gia
chấp nhận họ.
Mặt khác, sự thành công đó cũng đă giúp vào việc khích lệ Liên Hiệp Quốc
thúc đảy nhiều quốc gia giúp các cuộc di tản tiếp theo. Hai nỗ lực lớn
được khởi sự:
Hội nghị Quốc tế thứ nhất: được tổ chức tại Genève vào hai ngày 20 và 21
tháng 7, 1979. Tại Hội nghị này, "Chương tŕnh ra đi có trật
tự" ODP (Orderly Departre Program) đă ra đời. Tất cả được 20 quốc
gia cam kết sẽ tiếp nhận hoặc nhận thêm số người di tản được nhận vào
quốc gia họ, giúp giảm bớt gánh nặng cho các nước Á châu; và
Hội nghị thứ hai: "Hội nghị Quốc tế về Những Người Tị Nạn Đông Dương" tổ
chức từ ngày 13 đến 4 tháng 6, 1989, được 70 nước tham dự. Kết quả là
một "Kế hoạch hoạt động tổng quát" CPA được thiết kế giúp
giải quyết vấn đề thuyền nhân, đặc biệt là giúp định cư số 100 000
thuyền nhân c̣n kẹt lại ở các trại tại Đông Nam A và Hồng Kông.
Sau đó, trong khoảng thời gian từ 1990 tới 1999: 507.500 người Đông
Dương đă đến được Miền đất mới.
Cuộc di cư vĩ đại đă kéo dài được 25 năm, một trong những cuộc di tản
lâu nhất trong lịch sử cận đại (7).
Hiện nay, số người Việt tại Mỹ, dù đă nhập quốc tịch hay chưa, đều đă
chứng tỏ khả năng và tư cách của ḿnh trong mọi địa hạt. Từ xă hội, kinh
tế, thương mại, chính trị, quân sự, luật pháp, y học, khoa học, môi
trường nào cũng có những thành quả tốt đẹp, đóng góp cho nước sở tại.
Vào những ngày tháng đầu lúc cuộc di tản mới bắt đầu (tháng 5, 1975),
khi dư luận chung tại Mỹ c̣n coi thường dân tị nạn, chính Tổng Giám đốc
di trú, ông Leonard Chapman đă có quan niệm khác. Ông cho rằng đoàn
người Việt nam tỵ nạn có nhiều đặc tính tốt, và v́ vậy chắc chắn sẽ đóng
góp. Nh́n vào đám người tay xách nách mang, bồng bế nhau nhập Cam
Pendleton, ông Chapman tuyên bố :
"Người Việt nam làm việc rất chăm chỉ, ngay thẳng, rất sùng đạo, có óc
nghệ thuật, và nặng t́nh gia đ́nh" (8).
Giáo sư Tom Pettigrew, một nhà xă hội học trường Đại Học Harvard b́nh
luận thêm:
Trong một cuộc chiến tàn khốc như vậy, mà hầu hết những người khác đă
không thể cứng rắn và kiên tŕ được như thế, tôi nghĩ rằng những đặc
tính này sẽ được t́m thấy trong đoàn người di tản ấy". (9).
Giáo sư Pettigrew đă tiên đoán rất là chính xác. Tinh thần cương quyết
và ḷng kiên tŕ đă giúp cho lớp người Mỹ gốc Việt vượt qua bao nhiêu
rủi ro, bất trắc, bao nhiêu khó khăn trong cuộc hành tŕnh vào Miền Đất
Mới. Họ đă không "chết phứt đi" như đă bị nguyền rủa, nhưng trái
lại, c̣n vươn lên và lớn mạnh, đóng góp đáng kể cho những quốc gia đă
rộng mở tiếp nhận họ. Nước Mỹ đă không phải rước của nợ mà đă
nhận được của có.
Ngày nay, chắc chắn Nữ thần Tự do đă hài ḷng về đoàn di dân mới
nhất. Và họ đă đến từ Thái B́nh Dương, phía sau lưng Bà.
Chú thích:
(1) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang 588, 590; U.S.
Government, interagency task force, The Prerident s Advisory Committee
On Refugee Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 6-7.
(2) Graham Martin, Vietnam Evacuation: Testimony, trang
588, 590;
(3) U.S. Government, interagency task force, The President s Advisory
Committee On Refugee Back Ground Papers, May 19, 1975, trang 35-37.
(5) TIME (Magazine), 5 tháng 5, 1975, trang 26; xem thêm: U.S.
Government, interagency task force. Background Matenal, May
12, 1975, B. Attachment A-E. 19 tháng 5, 1975, trang 22-29.
(6) Gerald Ford, A time to heal, trang 257.
(7) U.S. Government, interagency task force, Background Paper,
May 19, 1975, trang 51-60. Về lịch sử tỵ nạn 1975 tới đầu thập niên
1990, xem Lê Xuân Khoa, Việt nam, 1945-1995, Tập II (sẽ xuất bản
trong tương lai).
(8) TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 25.
(9) TIME (Magazine), 12 tháng 5, 1975, trang 25.
Hết
Nguyễn Tiến Hưng
|