|
Đây
là công tŕnh của Ông René Fossion và Ông Trần hữu Sơn,
những người quốc gia đă hy sinh thời giờ và công ăn việc làm
của ḿnh để đóng góp phần nào cho cuộc tranh đấu chung ,
khi dịch cuốn sách " Le Livre noir du communisme " , Xb
Robert Laffont 1997, của các học giả Stéphane Courtois,
Nicolas Werth, Jean Louis Panné, Andrzej Packowski, Karel
Bartosek, Jean-Louis Margolin tố cáo tội ác của Công Sản thế
giới .
Ngoài ra
Ông Trần minh Tâm đă tận t́nh đánh máy trên 1000 trang.
Ông René
Fossion, Ông Trần hữu Sơn, và ông Trần minh Tâm không sống
về nghề làm báo, hay viết văn. Ngày th́ làm công hai bữa,
tối về nhà cặm cụi làm việc dưới ánh đèn cô đơn.
Nay th́ bản dịch đă hoàn
tất nên cho phổ biến trên Internet để mọi người thấy rơ "bộ
mặt thật của CS". Mong rằng quư độc giả rộng lượng bỏ qua
nếu có điều ǵ không đúng lắm v́ " traduire c'est trahir" (
nói nôm na: dịch một bản văn đôi khi c̣n phản nghĩa điều mà
tác giả muốn nói ).
Mong quư độc giả cứ tự tiện
phổ biến cho bất cứ ai cần đến. Đó là ư nguyện của chúng tôi.
Mong lắm thay.
Mục lục
Phần 1.
|
Tàn
sát , khủng bố , đàn áp
|
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16 |
- Nghịch biện và sự
hiểu lầm cuộc cách mạng tháng mười
- Lực lượng vơ trang của chuyên chính vô-sản
- Khủng-bố đỏ
- Cuộc chiến bẩn thỉu
- Các diễn biến từ Tambov đến nạn đói lớn
- Hưu-chiến và khúc quanh lớn
- Giải tán quy chế điền chủ và cưỡng bách canh tác
tập thể
- Nạn đói lớn
- Các phần tử xa lạ với xă-hội và các chu-kỳ đàn-áp
- Cuộc khủng-bố vĩ đại trong những năm 1936-1938
- Đế quốc ngục tù
- Mặt trái của cuộc chiến thắng
- Cao-điểm của các khủng-hoảng trong các hợp tác xă
nông nghiệp
- Cuộc âm mưu cuối cùng
- Giă từ chủ-nghĩa Staline
- Kết-luận phần Nhà nước chống lại nhân dân
|
Phần 2.
|
Cách mạng thế-giới.
Nội chiến và khủng bố
|
Chương 17
Chương 18
Chương 19
|
-
Komintern được phát động và
các hành động của cơ-quan này
- Bóng đen của cơ-quan NKVD trên lănh-thổ Espagne
- Cộng-sản và khủng bố
|
Lời nói đầu
Người ta có thể nói rằng
lịch sử là môn khoa học chuyên về nổi đau khổ của con người.
Thế kỷ bạo động trong đó chúng ta đang sống, đă chứng minh
hùng hồn điều này. Trong các thế kỷ trước, các cường quốc Âu
Châu đă làm giàu trong các cuộc buôn bán người nô lệ da đen.
Nước Pháp với chính sách thuộc địa đă ghi lại biết bao nhiêu
ghê tởm trong lịch sử. Xă hội Hoa Kỳ vẫn c̣n duy tŕ nền văn
hóa bạo động phát sinh từ hai tôị ác trọng đại: Việc khai
thác người nô lệ và việc tiêu diệt các giống thổ dân Da Đỏ.
Nhưng nếu nói về sự bạo động, thế kỷ chúng ta đang sống đă
vượt hẳn các thế kỷ trước. Thế kỷ của chúng ta đă có quá
nhiều thảm họa do con người gây ra : Hai trận thế chiến,
Chế độ Đức quốc xă, các thảm trạng xăy ra ở Armenia, Biafra,
Rwanda và một vài khu vực khác. Đế quốc Ottoman của Thổ Nhĩ
Kỳ chủ mưu tiêu diệt các sắc dân gốc Armenia. Đức quốc xă
tiêu diệt dân Do Thái. Mussolini tàn sát dân Ethiopie..Như
ng những sự tàn sát này vẫn không thể nào so với tội ác của
cộng sản đă gây ra .
Chủ nghĩa Cộng Sản , một hiện tượng lớn của thế kỷ 20 , bắt
đầu từ năm 1914 và kết thúc vào năm 1991 taị Mạc Tư Khoa.
Chủ nghĩa Cộng Sản ra đời trước chủ nghĩa Quốc Gia Xă Hôị,
goị tắc là Quốc Xă. Chủ nghĩa Cộng Sản sống lâu hơn Quốc Xă
và nó lan rộng ra khắp năm Châu.
Chúng ta cần phân bịệt giữa Chủ nghĩa và hành động.
Về phương diện lư thuyết chính trị, chủ nghĩa Cộng Sản đă có
từ nhiều thế kỷ, nhiều ngàn năm trước. Nhà hiền triết Hy Lạp
Platon đă đề cập đến '' Chế độ cộng ḥa'' trong đó người
dân không bị lệ thuộc vào tiền bạc hay quyền lực. Trong xă
hôị đó chỉ có sự khôn ngoan, công lư và lẽ phải ngự trị mà
thôi.
Một nhà tư tưởng lớn của Anh, ông Thomas More cũng đă vạch
ra một quốc gia lư tưởng nhưng đă bị bạo chúa Henri VIII
chặt đầu. Những tư tưởng này là những nguồn sinh khí những
đóng góp quư giá cho các nền dân chủ về sau.
C̣n chủ nghĩa Cộng Sản được đề cập ở đây không có vị thế của
các nguồn tư tưởng trên. Đây là chủ nghĩa Cộng Sản hành động.
Nó đă diễn ra ở một thời điểm nhứt định, tại các quốc gia
được biết rơ qua các cuộc khủng bố , đàn áp, kiểm soát biên
giới, kiểm soát các phương tiện truyền thông , bắt giam và
cho lưu đày các thành phần đối lập.
Những kư ức về khủng bố đă làm cho người ta không quên được
chủ nghĩa Cộng sản . Người ta không quên Mao Chủ Tịch vĩ đại
của Trung Cộng, Kim Nhựt Thành của Bắc Triều Tiên, Hồ Chí
Minh của Việt Nam, Fidel Castro của Cu Ba v.v.. .. và gần
với lịch sử hiện đại của chúng ta là : Maurice Thorez,
Jacques Duclos, Georges Marchais.
Nhưng tội ác của Cộng Sản đă
không được đánh giá trên cả luật pháp cũng như trên b́nh
diện b́nh thường. Qua các trang sách này, lần đầu tiên chúng
tôi đặt vấn đề với cộng sản về tội ác mà chủ nghĩa này đă
gây ra. Sẽ có nhiều người cho rằng phần lớn các tội
ác được coi là hợp pháp v́ các tội ác này do được thực hiện
theo lệnh của các lănh tụ mà nước Pháp đă đón tiếp họ một
cách nồng hậu.
Các tội ác mà chúng tôi tŕnh bày trong quyển sách này không
dựa trên các tài liệu '' pháp lư'' của chế độ Cộng sản.
Chúng tôi sẽ dựa trên các văn bản '' bất thành văn ''. Nói
một cách khác, các tài liệu này không được viết ra như các
đạo luật thiêng liêng về luân lư của nhân loại.
Chúng ta có thể không lưu tâm đến các cuộc xử bắn các con
tin, sự tàn sát nhóm nhân công nổi loạn, các mồ chôn tập thể
của những người nông dân chết đói, do hoàn cảnh gây nên.
Chúng tôi chỉ đề cập đến chiều sâu của tội ác mà Cộng sản đă
coi đó như là cứu cánh của toàn thể hệ thống lănh đạo.
Chúng tôi sẽ nói lên những
ǵ ? Chúng tôi sẽ đưa ra những tội ác nào ?
Có vô số tôị ác :
Trước hết là tôị ác về văn
hóa của các quốc gia Cộng sản thống trị và văn hóa của nhân
loại.
Staline đă ra lịnh phá bỏ hàng trăm giáo đường của các tôn
giáo taị Nga. Nhà độc tài Ceaucescu của Lỗ Ma Ni đă ra lịnh
phá hủy trung tâm lịch sử Châu Âu đó là thành phố Bucaresti.
Pol Pot đă cho tháo gỡ từng viên gạch của thành phố Nam Vang,
thủ đô nước Cao Miên. Trong cuộc cách mạng văn hoá, Hồng Vệ
Binh của Mao đă phá hủy vô số kho tàng văn hóa vô giá của
nhân dân Trung Hoa.
Chúng tôi chỉ ghi lại tội ác của một số người được coi là
linh hồn của các vụ tàn sát. Tuỳ theo mỗi chế độ, các phương
tiện khủng bố được thi hành dưới nhiều h́nh thức khác nhau.
Xử bắn, xử treo cổ, nhận ch́m trong nước, đánh bằng gậy gộc,
dùng chất khí độc, cho chết đói, đưa đi lưu đày, gây ra tai
nạn trong lúc đưa đi lưu đày, bắt đi bộ trên các quăng đường
dài hàng trăm cây số, Lao động khổ sai, kiệt sức,...
Chúng tôi thống kê danh sách con số người đă bị Cộng Sản
giết chết. Đây chỉ là con số tối thiểu. Phải cần thời gian
mới có thể đưa ra con số chính xác. Sau đây là con số người
nạn nhân đă bị Cộng Sản giết chết :
|
Trung Quốc
Liên Xô
Bắc Hàn
Miên
Phi châu
A phú Hăn
Đông Âu
Việt Nam
Trung Mỹ
|
: 65 triệu;
: 20 triệu;
: 2 triệu;
: 2 triệu;
: 1,7 triệu;
: 1,5 triệu;
: 1 triệu;
: 1 triệu;
:150 ngàn; |
Các phong trào Cộng sản quốc
tế, các đảng cộng sản đang nắm chính quyền: vài chục ngàn.
Tổng số người chết lên đến
con số gần 100 triệu.
Nếu tính theo tỉ lệ thời gian th́ Pol Pot đứng hàng đầu gây
tội ác. Trong ṿng 3 năm, Pol Pot đă tiêu diệt một phần tư
dân số dân tộc Miên. Mao đă gây tội ác trầm trọng trong cuộc
cách mạng văn hóa . Bàn tay của Lenine và Staline đẩm máu v́
cái lô-gích tư tưởng của ḿnh.
Nếu chỉ suy tư về tội ác th́ không thể nào đánh giá được
phẩm chất chiều sâu của nó được. Công việc này phải được xét
xử trên tiêu chuẩn khách quan và trên khía cạnh pháp lư.
Taị ṭa án Numberg vào năm
1945, các lănh tụ Đức Quốc Xă đă bị kết án về tội diệt chủng
trong thế chiến thứ hai căn cứ theo điều 6 của ṭa án quốc
tế. Điều luật này ghi 3 trọng tôị: chống lại ḥa b́nh, tội
ác gây ra trong chiến tranh và tội chống lại nhân loại.
Nếu căn cứ vào điều luật thứ
6 này th́ Lenine, Staline cũng như tất cả chính quyền Cộng
sản đă gây ra tội ác đều phải bị kết án.
Theo điều luật thứ 6A, các hành động như chỉ đạo, sửa
soạn và theo đuổi cuộc chiến tranh xâm lăng hay tiếp tay vào
các cuộc chiến tranh vi phạm các thỏa ước quốc tế đều bị
ghép vào tội chống lại ḥa b́nh. Như vậy Staline phải bị kết
án. Staline bí mật kư hai hiệp ước với Đức Quốc Xă vào ngày
23 tháng 8 và ngày 28 tháng 9 năm 1938 để rảnh tay ở hai
mặt trận phía Đông và phía Tây. Hai hiệp ước này đă khởi đàu
Đệ nhị thế chiến. Ngoài ra Staline c̣n vi phạm vào tội giúp
khí giới cho Bắc Triều Tiên đem quân xâm lấn Nam Triều Tiên
vào ngày 25 tháng 6 năm 1950. Staline cũng đă xua quân tiến
chiếm Phần Lan vào ngày 30 tháng 9 năm 1939.
Mạc Tư Khoa đă chỉ đạo các đảng Cộng sản đàng em, mở các
cuộc chiến tranh phá hoại các một số quốc gia khác. Tại A
Phú Hăn, Mạc Tư Khoa đă vi phạm vào điều luật thứ 6A khi đưa
quân vào giúp đảng Cộng sản nước này để cướp chính quyền vào
ngày 27 tháng 12 năm 1979. Nó mở đầu cho cuộc chiến kéo dài
cho đến ngày nay vẫn chưa kết thúc, mặc dù quân Nga đă rút
ra từ năm 1989.
Điều luật 6B nêu ra các hành động vi phạm trong lúc chiến
tranh. Các điều khoản này đă được ghi rơ trong bản '' giao
ước quốc tế '' ra đời năm 1907 tại thành phố La Hague của
nước Ḥa Lan. Nó bao gồm các điểm: hành động ám sát, hành
hạ, ngược đăi, lưu đày khổ sai, hành quyết các con tin, cướp
bóc hay tước đoạt tài sản, tàn phá các thôn xóm, hạ giá tiền
tệ không có lư do cho chính đáng cho nhu cầu quân sự,..
Staline đă cho thủ tiêu hầu hết các sĩ quan của quân đội Ba
Lan bị bắt làm tù binh vào cuối năm 1939. Tại thành phố
Katyn khi cho khai quật mồ chôn tập thể 4500 tử thi, mỗi tử
thi điều có vết đạn ở sau ót. Ngoài ra c̣n các vụ giết
người trầm trọng khác cho đến giờ này không có mấy người
biết đến đó là các vụ tàn sát hàng trăm ngàn tù binh Đức ở
các trại giam khổ sai từ năm 1943 cho đến năm 1945. Vụ Hồng
Quân Nga hăm hiếp phụ nữ Đức trên các phần đất Đức bị chiếm.
Điều luật 6 C ghi các tội chống lại nhân loại. Nó gồm các
hành động như sau : Tàn sát, tiêu diệt, biến thành nô lệ,
bắt đi lưu đày, ngược đăi v́ lư do chính trị, kỳ thị chủng
tộc hay tôn giáo, ..
Trong bản cáo trạng tại toà án Numberg, Tổng Biện Lư
Francois de Menton nhấn mạnh tính chất ư thức hệ của các tội
ác này như sau :
'' Tôi cho rằng tất cả các tội ác đă gây ra cho một khối
đông đảo quần chúng là tội ác chống lại tư tưởng. Tôi muốn
nói lên một chủ nghĩa đă chối bỏ tất cả giá trị luân lư của
nhân loại. Tội ác chống lại tư tưởng là nguồn gốc của chủ
nghĩa Quốc Xă. Đó là chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Đây không
phải là một tại nạn rủi ro , không phải là một sự việc t́nh
cờ. Trái lại các hành động kỳ thị đă được nghiên cứu kỹ
lưỡng và được tổ chức trong khi thi hành..''
Các bản tuyên cáo của ṭa án Numberg nhấn mạnh đến một điểm
chính của điều khỏan ''chống lại nhân lọai ' : Lạm dụng
quyền lực của nhà nước đề phục vụ cho một chính sách và thi
hành các tội ác.
Căn cứ vào điều luật này, th́ tất cả các hành động xảy ra
dưới thời Lenine, Staline và tại các quốc gia nằm trong tay
Cộng sản đều phải bị kết án.
Cộng sản nhân danh nhà nước, nhân danh một ư thức hệ để tiêu
diệt hàng chục triệu người vô tội, chỉ v́ họ là quư tộc, là
thành phần trung lưu, trí thức, địa chủ ,..
Khái niệm về tôị ác chống lại nhân loại rất phức tạp. Ngoài
tội diệt chủng dân Do Thái do Đức quốc xă gây nên, ngày 9
tháng 12 năm 1948 Liên Hiệp Quốc xác nhận như sau :.giết hại,
vi phạm tinh thần hay thân thể, cưỡng ép từ bỏ điều kiện
sinh sống để dấn dần bị tiêu diệt đối với một nhóm dân, một
sắc dân hay một tôn giáo điều bị ghép vào tôị ' chống lại
nhân loại'.
Bộ h́nh luật mới của Pháp định nghĩa từ '' diệt chủng'' rộng
răi hơn . Đó là thỏa hiệp đưa đến việc tiêu diệt một phần
lớn hay toàn thể một khối người, một sắc tộc, một giai cấp
trong xă hội hay một tôn giáo. Quan điểm này cũng không khác
nào tư tưởng của Andre Frossard. Theo ông ta, nếu một người
bị giết v́ lư do đă được sinh ra trong một giai cấp xă hội,
một sắc dân hay theo một tôn giáo,.. đều bị coi như tội ác
chống nhân loại.
Trong quyển sách '' Cuộc khủng bố đỏ ở Nga''xuất bản năm
1927 tại Bá Linh, sử gia người Nga ông Serguei Melgounov kể
lại một mẫu chuyện của một người chỉ huy đầu tiên của cơ
quan t́nh báo chính trị Xô Viết, có tên là Latziv. Ngày 1
tháng 11 năm 1919 ông ta ra lịnh cho một tên công an dưới
quyền là t́m bắt những người thuộc giới trung lưu mà không
cần cứu xét tội lỗi. Câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là : anh
thuộc thành phần nào, gốc gác từ đâu, tŕnh độ học vấn, nghề
nghiệp,..
Chính Lenine và đám thân cận của ông ta cũng không dung thứ
các đối thủ ch́nh trị. Những đối thủ chính trị này cần phải
tiêu diệt ngay. Hành động diệt chủng của nhóm người
BônsêVích thực sự tiến hành kể từ năm 1920 khi họ cho giải
thể nhóm dân Cosaques. Đàn ông bị xử bắn. Người ǵa, phụ nữ
và trẻ em bị đưa đi lưu đày. Làng mạc , nhà cửa bị phá hủy.
Trong những năm 1930 , 1932 công tác giải thể nhóm dân
Cosaques mạnh mẻ và toàn diện hơn. Staline xử dụng bộ máy
tuyên truyền trong nước cũng như bên ngoài về việc kết án xử
bắn, đưa đi lưu đày những ai chống lại lịnh ' tập thể hóa '.
Tuy rằng những ngưới đưa đi lưu đày không bị giết ngay nhưng
với các điều kiện lao động cực khổ, trong điều kiện thời
tiết giá lạnh của mùa Đông ở vùng Bắc Tây Bá lợi Á, chẳng
c̣n được bao nhiêu người sống sót. Cho đến nay con số tử
vong chưa được chính thức đưa ra, nhưng phải kể đến hàng
trăm ngàn.
Trong vụ nạn đói ở vùng Ukraine vào những năm 1932-1933 và
những vụ chống tập thể hóa đă có đến trên 6 triệu ngưới chết.
Tại vùng này đă diễn ra hai h́nh thức diệt chủng : diệt
chủng giai cấp và diệt chủng sắc dân.
Quốc Xă Đức xử dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để thiết lập
các pḥng hơi ngạt và ḷ thiêu để giết dân Do Thái. Trong
khi Cộng sản xử dụng 'vũ khí đói' để tiêu diệt các sắc dân.
Cộng sản t́m đủ mọi cách để kiểm soát lương thực. Họ chỉ
phân phối lương thực cho các phần tử mà họ cho là xứng đáng.
Họ phân biệt giữa nhóm người này, nhóm người khác. T́nh
trạng này đă dẫn đến các nạn đói làm chết hàng triệu người
tại các nước Cộng sản.
Bản tổng kết đàu tiên toàn bộ
các tội ác được ghi như sau :
Trong những năm 1918-1922 có
hàng chục ngàn con tin bị xử bắn mà không được xét xử. Hàng
trăm ngàn công nhân và nông dân bị tàn sát v́ chống đói
chính sách tập thể hoá của Cộng sản.
Nạn đói năm 1922 đă làm cho 5 triệu người chết.
Hàng trăm người Cosaques sống quanh sông DON bị tiêu diệt.
Hàng chục ngàn chết trong các trại tập trung vào những năm
1918-1930.
Hàng trăm ngàn phú nông, trung lưu, trí thức bị đưa đi lưu
đày.
Trên 6 triệu dân Uraine bị chết đói trong năm 1932-1933.
Hàng trăm ngàn ngườ́ thuộc các sắc dân Ba Lan, Ukraine, dân
Bắc Âu, dân sống trong vùng Moldave bị đi lưu đày trong
những năm 1939-1940 và tái diễn trong những năm 1944-1945.
Năm 1941, nhóm dân Đức nhưng làm việc cho Nga sinh sống dọc
theo sông Volga bị đi lưu đày.
Năm 1975-1979 dân ở các thành phố Cao Miên bị đi lưu đày và
bị thủ tiêu.
Tiêu diệt từ từ dân Tây Tạng do Cộng sản Trung quốc chủ
trương từ năm 1950.
Cho tới nay người ta chưa
tính hết tội ác do Lenine, Staline gây ra. Và các tội ác này
cũng tái diễn dưới bàn tay của Mao Trạch Đông , Kim Nhật
Thành và Pol Pot.
Về phương diện ngôn ngữ của các sử gia, cần phải đưa ra một
vấn đề : Sử gia có quyền xử dụng các từ thuộc lănh vực pháp
lư như '' tội ác chống lại nhân lọai' hay '' tôị diệt chủng
'' trong lúc nghiên cứu về tính chất của chiến tranh hay
không ? Mặc khác , các khái niệm này cũng không nên quá phức
tạp để giữ tính khách quan trong lúc sưu tầm tài liệu lịch
sử.
Về điểm thứ nhất, lịch sử cho chúng ta thấy tôị ác diệt
chủng không phải là tôị ác độc quyền của Đức quốc xă. Hăy
nh́n những ǵ đă xăy ra gần đây ở các nước Bosnie , ở Rwanda
, chúng ta sẽ bằng ḷng điểm này.
Phần thứ hai là chúng ta sẽ không trở lại cái thế kỷ 19. Vào
thời điểm đó, sử gia chỉ t́m hiểu sự việc mà không phán đoán.
Nhưng đứng trước thảm họa của nhân loại , sự phá vỡ phẩm giá
của con người, các sử gia có thể bỏ qua một số nguyên tắc để
cứu xét vấn đề. Sử gia Jean Pierre Azema đă kết án chế độ
Đức quốc xă có '' tôị ác chống lại nhân loại''. Và ông
Pierre-Vielal Naquet cũng tuyên bố tương tự khi kết án tên
Touvier, một người Pháp công tác viên đắc lực cho Đức đuốc
xă.
Cũng như vậy, chúng tôi làm những công việc sưu tầm để đưa
ra ánh sáng những tôị ác do Cộng sản đă gây ra.
Ngoài ra c̣n phải đặc trách nhiệm của các chế độ Cộng sản
đang nắm quyền hành . Họ là những kẽ ṭng phạm. Năm 1987,
bộ h́nh luật của Gia Nă Đại tu chính các điều 3.76 và 3.77
ghi các điểm thuộc tôị ác chống lại nhân loại, gồm có : Mưu
toan, ṭng phạm, khuyến khích, giúp đỡ để thực hiện tôị ác
chống lại nhân loại, âm mưu và ṭng phạm sau khi đă xảy ra
sự việc.
Vậy mà trong khoảng thời gian từ năm 1920 đến 1950 những
người Cộng sản trên thế giới đă hô hào cổ vỏ cho hai tên gây
tôị ác Lenine và Staline. Hàng trăm ngàn người tham gia vào
phong trào Cộng sản quốc tế. Trong những năm 1950,1960,1970
hàng triệu người sùng bái Mao Trạch Đông của Trung Quốc
trong cuộc cải cách văn hoá. Và gần đây c̣n có nhiều người
ca tụng Pol Pot. Về sau họ chỉ trả : chúng tôi đâu có biết..
Mà quả thật không dễ ǵ biết những ǵ Cộng sản làm. Bí mật
là phương châm họat động của Cộng sản. Nhưng có nhiều người
ngày nay đă biết sự thật nhưng họ vẫn êm lặng.
Năm 1969 ông Robert Conquest, một trong những sử gia đầu
tiên nghiên cứu về tôị ác của Cộng sản, đă viết :'' Một việc
rất rơ là có nhiều người chấp nhận các cuộc thanh trừng diễn
ra ở thành phố Mạc tư Khoa trong các năm 1936,1937 và 1938
theo lịnh của Staline. Chính sự chấp thuận này là sự đồng
lơa cho các vụ thanh trừng toàn diện tiếp theo sau. Nhiều
người ở bên ngoài đă thừa nhận các vụ hành quyết là đúng.
Những người này dù chỉ có lời b́nh phẩm về các vụ thanh
trừng này cũng phải chịu trách nhiệm và phải được coi là
ṭng phạm trong các vụ án chính trị.
Joseph Berger, một cán bộ
trong tổ chức Quốc Tế Cộng Sản, ngướ đă từng nếm mùi
ở các trại lao động khổ sai , đă kể lại một lá thư của một
nữ tù nhân đảng viên Cộng sản được trả tự do sau khi lưu đày
với nội dung như sau :'' Các người Cộng sản thế hệ chúng tôi
chấp nhận quyền lực của Staline. Họ chấp nhận hành động bạo
ác của Staline. Và cả những người Cộng sản khác trên khắp
thế giới. Đây là một vết nhơ mà chúng tôi đă vi phạm. Để phá
bỏ vết nhơ, chúng tôi phải làm sao cho các tôị ác này không
c̣n tái diễn. Điều ǵ đă diễn ra ? Phải chăng chúng tôi mất
cả lư trí ? Phải chăng chúng tôi là những kẻ phản bội Cộng
sản ? Thật ra chúng tôi, kể ca những nhân viện thân cận của
Staline đều đă vi phạm các tôị ác. Chúng tôi đă tưởng rằng
đó là những đóng góp quan trọng cho việc chiến thắng của Chủ
nghĩa xă hội. Chúng tôi cũng tin tưởng tất cả các việc làm
để củng cố quyền uy cho đảng Cộng sản ở Liên Xô cũng như cho
các đảng Cộng sản trên toàn thế giới. Chúng tôi không bao
giờ nghĩ đến có sự tranh chấp giữa chính sách và luân lư..''
Những người Cộng sản Tây phương, mặc dù họ không bị khống
chế bởi cơ quan NKVD - Bộ nội vụ- của Liên Xô nhưng họ vẫn
mù quáng ca ngợi Liên Xô và nhà độc tài Staline. Phải chăng
họ đă uống phải liều thuốc tiên nào đó nên luôn luôn tôn
sùng quy phục quyền lực tối uy của Liên Xô.
Trong quyển sách nói về cách mạng của Nga, nhà văn Martin
Malia đă vén cho chúng ta thấy tấm màn nghịch lư của một ''
tư tưởng lớn'' và đă dẫn đến một kết luận : Đó là một tội ác
lớn.
Bà Annie Kriegel, một nhà
phân tích lớn về chủ nghĩa Cộng sản đă cho thấy hai mặt của
chủ nghĩa : Mặt tươi sáng và mặt tối.
Ư thức hệ Cộng sản dự phóng một xă hội tốt đẹp. Điều này đă
mê hoặc nhiều người . Nhưng xă hội Cộng sản tước đoạt tất cả
trách nhiệm của chúng ta. Họ quyết định mọi việc. Nhiều
người ở bên ngoài v́ sợ chịu trách nhiệm và tự do đă chấp
nhận chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng những người sống trong chế độ
độc tài Cộng sản th́ quá chán ngán. Họ chỉ mong có sự thay
đổi. Trong luận đề '' Sự sợ hăi của ư thức tự do '' ông
Fromm tuyên bố : t́nh nguyện làm đầy tớ cho chủ nghĩa Cộng
sản.
Những người t́nh nguyện làm đầy tớ cũng là những kẻ ṭng
phạm. Khi chấp nhận làm gạch nối cho công tác tuyên truyền
che dấu sự thật cũng là ṭng phạm.
Phân tích hiện tượng Cộng sản khi đang nắm chính quyền là
một việc làm khó khăn.
Ông Jean Ellenstein cho rằng Staline là một hiện tượng vừa
mang tính chất bạo tàn của thời cổ Hy Lạp , vừa mang tính
độc tài của Đông phương. Nhận định này tương đối chính xác
nhưng chưa khai thác được chiều sâu của tính độc tài. Một
vài so sánh sau đây sẽ giải thích rơ vấn đề.
Chúng ta bằng ḷng dưới thời Nga Hoàng dân chúng bị áp bức.
Người Bônsêvích chiến đău chống lại chế độ Nga Hoàng. Nhưng
một khi quyền hành nằm trong tay những người BônsêVích th́
sự áp bức con kinh hoàng hơn ở thời Nga Hoàng rất nhiều. Nga
Hoàng đưa những tù chính trị ra trước ṭa án xét xử, đúng
luật lệ của một toà án. Có nghĩa là có luật sư biện hộ cho
tôị nhân, có nhân chứng, có dư luận của quần chúng. Đôí vơí
Cộng sản, các sự việc trên không hề xảy ra. Người tù trong
chế độ Nga Hoàng hưởng đủ quy chế tù nhân. Họ có quyền đọc
sách , viết thơ và nếu bị lưu đày, họ đi cùng với gia đ́nh.
Họ có quyền đi săn, đi câu cá và có quyền giúp đỡ tù nhân
khác ,.. Chính Lenine và Staline cũng đă từng ở tù và bị lưu
đày dưới thớ Nga Hoàng. Cả hai đă có những kinh nghiệm này.
Trong tác phẩm '' Kỹ niệm ngôi nhà của người chết'', nhà văn
Dostoievski đă làm cho độc giả của ông ta xao xuyến. Nhưng
nếu so với các thảm cảnh của thời Lenine, Staline th́ chẳng
đáng vào đâu.
Từ năm 1888 đến năm 1917, nước Nga xảy ra rất nh́ều cuộc rối
lọan và bị đàn áp. Đă có 6360 người bị kết án tử h́nh. Trong
số này có 3922 người bị xử bắn. Nhưng so với 4 tháng đàu
tiên lên nắm chính quyền, người Bônsêvích đă xử tử nhiều hơn
so vơí con số này.
Vào những năm 1920 đến năm 1940, Cộng sản lên tiếng phản đối
các cuộc khủng bố của chính quyền quân phiệt ở các nước khác.
Chúng ta thử xét xem những ǵ xảy ra ở Ư. Chế độ Phát xít Ư
có ngược đăi các nhà chính trị đối lập. Trong năm 1935 nhà
độc tài Mussolini đă bắt vài trăm đói thủ chính trị vào tù
và vài trăm người khác bị quản thúc tại các đảo. Trên thực
tế có vài ngàn người lưu vong. Đó là những ǵ mà thế giới đă
kết án nhà độc tài Mussolini và chính quyền của ông.
Trong kỳ thế chiến thứ hai, Đức quốc xă đă ra tay đàn áp
các thành phần chống đối họ như các người Cộng sản, nhóm xă
hội ,nhóm vô chính phủ và một số nghiệp đ̣an. Đức quốc xă
công khai đàn áp và bắt giam những người này . Từ năm 1933
đến 1939 Đức quốc xă đă kết án và xử bắn 20.000 người. Đó là
chưa kể đến con số người bị bắn chết v́ lư do không đủ tiêu
chuẩn sắc tộc thuần tuư tóc vàng, da trắng; những người bịnh
tâm thần, tật nguyền hay già yếu,..
Hitler đă ra lịnh giết chết những ngườigià ,người bịnh tâm
thần bằng hơi ngạt. Từ năm 1933 đến năm 1940 đă có 70.000
người chết v́ hơi ngạt. Khi Giáo hội lên tiến phản đối,
chương tŕnh dùng hơi ngạt mới ngưng họat động. Sau này rút
kinh nghiệm đă dùng hơi ngạt giết chết lớp người thứ ba , đó
là giống dân Do Thái.
Thoạt đầu có vài trăm người Do thái bị giết chết. 35.000
người bị bắt giam vào các trại tập trung và sau đó bị đưa
vào các trại tử thần. Khi tấn công vào Liên sô, quân Đức đă
giết 15 triệu dân ở các vùng chiếm đóng. Có 5,1 triệu dân Do
Thái, 3,3 triệu tù binh Sô Viết và 1,1 triệu dân đă bị bắt
vào các trại tử thần. Ngoài con số nạn nhân này, cũng cần
phải kể đến vài trăm ngàn dân Tziganes, 8 triệu người bị
cưỡng bách lao động khổ sai và 1,6 triệu người c̣n sống sót
lại trong các trại tập trung.
Ṭa án Numberg đă kết án những tội phạm và đă công bố những
tội ác mà họ đă gây ra. Sau cùng khi tiết lộ hành động diệt
chủng giống dân Do Thái đă làm cho lương tâm nhân loại xúc
động .
Ở đây chúng tôi không muốn đưa ra một danh sách so sánh về
con số kinh hoàng hay bản kết toán về sự ghê tởm về những ǵ
Cộng sản đă làm. Nhưng sự kiện tội ác của Cộng sản đă quá rơ
ràng. Chế độ Cộng sản đă giết chết hàng trăm triệu người so
với 25 triệu nạn nhân của Đức quốc xă. Với bản đúc kết này,
ít ra chúng ta cũng thấy được sự khác nhau giữa hai chế độ
trong thế kỷ này. Năm 1945 , Đức quốc xă bị kết án là chế độ
bị vi phạm quá nhiều tội ác trong thế kỷ. Trong khi đó chế
độ Cộng sản lại được duy tŕ cho đến năm 1991 với tất cả
tính cách pháp lư quốc tế của nó. Cho cả đến ngày hôm nay ,
Cộng sản vẫn c̣n ngự trị trên một vài quốc gia với một số
tín đồ. Và mặc dù có một vài nước Cộng sản nh́n nhận tội ác
của Staline, của Lenine nhưng cho đến nay họ vẫn chưa chịu
từ bỏ các nguyên tắc của Lenine và họ cũng chẳng hề bị kết
án có liên hệ ǵ với tội ác này cả.
Các phương pháp của Lenine và sau này được Staline hệ thống
hóa, đă được tay chân bộ hạ của hai ông thi hành làm cho
chúng ta liên tưởng đến những ǵ đă xảy ra trong thời Đức
quốc xă. Có một số tội ác đă xảy ra trước thời Hitler.
Roudolf Hoess là người được uỷ nhiệm thiết lập trại tử thần
Auschwitz . Về sau trại trưởng của trại này tiết lộ cho biết
ông có nhận chỉ thị của Uỷ ban trung ương về an ninh một số
chi tiết về các trại tập trung của Sô Viết.[ Nên nhớ là đầu
năm 1918, Lenine đă ra lịnh cho lưu đày các chính trị đói
thủ và và năm 1933 Đức quốc xă cũng áp dụng như vậy]. Tài
liệu c̣n nhấn mạnh Xô Viết tiêu diệt toàn bộ một số dân bằng
cách bắt họ lao động khổ sai.
Với mức độ và kỹ thuật gây tội ác cho một số quần chúng đông
đảo mà những người Cộng sản đă khai trương áp dụng, và sau
đó Đức quốc xă đă làm theo. Dưới cái nh́n của chúng tôi,
người ta có thể minh chứng một chân lư về sự liên hệ trực
tiếp giữa chế độ Cộng sản và sự ra đời của chế độ Đức quốc
xă.
Vào các năm cuối của thập niên 20, cơ quan GPV, một danh
xưng mới của cơ quan t́nh báo chính trị Xô Viết, cho cho ra
đời chính sách tỉ lệ phân vùng. Mỗi vùng phải t́m cách bắt
đi lưu đày một tỉ lệ '' thành phần thù địch ''nào đó do nhà
nước chỉ định. Sau năm 1920, Hồng quân đánh bại quân Hoàng
gia [ Bạch quân ], đă xảy ra các cuộc lùng bắt khủng khiếp
các sắc dân địa phương Ba Lan và 3 nước vùng Baltique. Việc
chuyên chở các người lưu đày trên các toa xe lửa dùng để chở
súc vật đă được tái diễn tại các trại tập trung của Đức quốc
xă. Năm 1943-1944 trong lúc chiến tranh đang diễn ra ở khắp
nơi, Stalin, thay v́ cung cấp cho chiến trường, ông ta đă
dùng hàng ngàn nhân viên của cơ quan t́nh báo chính trị cùng
với hàng chục ngàn toa xe vào công việc chuyên chở các dân
thuộc sắc tộc sống trong vùng Caucase đi lưu đày trong ṿng
vài ngày.
Đối chiếu những ǵ đă xảy ra dưới chế độ Đức quốc xă và dưới
chế độ Cộng sản , chúng ta sẽ thấy kỳ lạ.
Vassili Grossman là người
đầu tiên đă nêu ra tôị ác xảy ra ở khám đường Treblinka.
Mẹ ông đă bị lính Đức quốc xă giết chết trong khu
biệt giam của vùng Berditchev. Ông cũng là một trong những
người trưng bày tội ác của Đức quốc xă đă tiêu diệt người Do
Thái cư ngụ trân lănh thổ của Sô Viết.
Trong tập truyện ngắn '' Rồi tất cả cũng đi qua - Tout passe
'', ông đă đưa một nhân chứng của vụ chết v́ đói ở vùng
Urakine. Ông viết : '' Các văn sĩ, kể cả Staline cho rằng
phú nông là những người ăn bám , những kư sinh trùng. Họ là
những kẻ đă đốt bỏ bông lúa và giết chết trẻ em.'' . Staline
cũng c̣n công khai khuyến khích quần chúng nổi dậy chống lại
quần chúng, tiêu diệt tất cả những người mà họ gọi là tầng
lớp xấu xa. Staline cho c̣n cho biết muốn giết họ th́ hăy
coi thành phần phú nông không phải là người cũng giống như
Đức quốc xă coi dân Do Thái cũng không phải là người.
Đức quốc Xă dự trù cho một
xă hội tương lai của một sắc dân thuần chủng. Cộng
sản chuẩn bị cho ngày mai một xă hội của những người vô sản.
Hai cách cải tạo xă hội tuy có khác nhau về cách xử dụng
tiêu chuẩn nhưng giống nhau ở mục đích. Nếu cho rằng chủ
nghĩa Cộng sản là một chủ thuyết tổng quan th́ thật là sai
lầm. Nếu nó mang tính chất toàn cầu , th́ quả thực một nửa
nhân loại không c̣n xứng đáng để sinh tồn. Bởi nó mang tính
chất của chủ nghĩa Quốc xă. Nếu có khác chăng là khác ở chổ,
Cộng sản phân chia ra nhiều giai cấp trong khi Quốc xă phân
chia ra giống dân và lănh thổ.
Tội ác của Lenine, Staline và h́nh ảnh dân Cao Miên dưới
thời Pol Pot đă đặt ra một câu hỏi mới cho các luật gia,
các sử gia và cho cả nhân loại : Phải xếp vào tội nào đối
với những người đă tiêu diệt các thành phần bị ghép vào tội
thù địch v́ lư do chính trị, tư tưởng, không phải ở phạm vi
vài ba cá nhân mà cả tập thể đám đông quần chúng xă hội .
Phải chăng cần đặt ra một tội danh mới ? người Anh đă dùng
danh từ Politicide , bao gồm ư nghĩa cuả Chính trị -
politipue - và Giết chết - Cide. Người Tiệp Khắc gọi là Tội
ác Cộng sản.
Người ta biết ǵ về những tội ác Cộng sản gây ra ? Người ta
muốn biết cái ǵ, loại nào ? Và tại làm sao phải chờ măi đến
cuối thế kỷ này nó mới có các cuộc nghiên cứu nghiêm túc?
Việc nghiên cứu tội ác của Quốc xă đă có từ lâu và đă đi khá
xa so với việc nghiên cứu các cuộc khủng bố của Lenine,
Staline. Nói chung, có sự khác biệt khá lớn giữa các cuộc
nghiên cứu cần phải vượt qua mặc dù các nước Đông Âu đă gia
tăng các cuộc nghiên cứu này.
Một số khác biệt đă được phát hiện. Năm 1945 , lực lượng
Đồng minh thắng trận đă chính thức lên án tội ác diệt chũng
những người đầu năo của Đức quốc xă. Nhiều công tŕnh nghiên
cứu có hệ thống và đạt nhiều kết quả trong công tác kết án
này. Hàng ngàn quyển sách xuất bản , hàng trăm cuống phim
tŕnh chiếu. Như '' Đêm và sương mù - Nuit et Brouillard'' ;
'' Sự chọn lựa của Sophine- Le choix de Sophine''; ''Danh
sách của Schindler- La liste de Schindler''. Chỉ riêng ông
Raul Hilberg, ông ta đă sưu tầm các chi tiết về thủ tục và
phương pháp giết người dân Do Thái dưới thời Đệ Tam Đế Quốc
Đức.
Những tên như Himmler, Eischman được thế giới biết đến như
biểu tượng của tàn ác ,và dă man của thời đại. Nhưng người
ta không hề nói đến những hung thần Cộng sản. Các tên ác ôn
như Djerjinski, Iagoda hay Iejev nào có ai biết đến. C̣n các
tên Lenine, Staline, Hồ chí minh, Mao trạch Đông, th́ lại
được sùng kính đáng ngạc nhiên. Lại có một viên chức nhà
nước Pháp , Le Loto đă dùng các h́nh ảnh này vào trong
chương tŕnh quảng cáo. Có ai bao giờ thấy các h́nh ảnh của
Hitler hay Goebbels trong các sinh họat tương tợ hay không ?
Việc nghiên cứu tội ác của Quốc Xă Đức được chính thức xác
nhận. Nguyện vọng của những người sống sót được đáp ứng. Các
nhà nghiên cứu được công nhận và các nhà lănh tụ của quốc
gia liên hệ đă làm sáng tỏ giá trị của nền dân chủ. Nhưng
tại sao chỉ có tiếng vang rất nhỏ về lời khai của những
người sống soát trong chế độ Cộng sản ? Tại sao có sự êm
lặng chính trị một cách ngượng ngùng như vậy ? Và nhất là sự
êm lặng của quư vị trong Hàn Lâm về thảm họa của Cộng sản từ
hơn 80 năm qua đă gây cho hơn 1/ 3 dân số trên 4 lục địa.
Tại sao chúng ta bất lực để đặt yếu tố ' Tội ác'' vào trọng
tâm trong công việc nghiên cứu chế độ Cộng sản? Tội ác đối
với tập thể đông đảo quần chúng; tội ác hành động có âm mưu;
tội ác chống lại nhân loại.
Phải chăng chúng ta không có đủ khả năng hiểu biết ? Hay đó
chỉ là sự từ chối không muốn biết chỉ v́ sợ hăi ?
Lư do của sự che dấu này rất phức tạp. Trước hết đó là hành
động cổ điển của những người chủ mưu gây tôị ác. Họ muốn xóa
bỏ những ǵ họ đă làm. Họ không muốn ai nhắt đến.
Năm 1956 Kroutchev đọc một bản văn bí mật nh́n nhận tội ác
của Cộng sản, tội ác của các nhà lănh đạo Cộng Sản, những
người hiện đang nắm quyền hành cũng đă nhúng tay vào. Theo
lời của một hung thủ, họ mong được che đậy các tội ác và cứ
đổ lỗi cho Staline. Họ chỉ là người thừa hành. V́ muốn che
dấu các đồng chí của ông ta nên Kroutchev chỉ nêu lên những
người Cộng sản là nạn nhân trong các cuộc khủng bố này. Dĩ
nhiên cũng có người Cộng sản là nạn nhân thật. Nhưng so với
con số thường dân chết th́ con số nạn nhân là người Cộng sản
th́ quá nhỏ. Thay v́ kết án, Kroutchev chỉ nói rằng đó là ''
Sự lạm dụng dưới thời Staline'' để mong bào chữa cho sự liên
tục của chế độ .
Kroutchev cũng tŕnh bày cho biết những trở lực và những
người chống đối trong khi viết bản phúc tŕnh mật này. Kể cả
nhân vật thân cận của Staline . Tên Kaganovitch là một đảng
viên thân cận với Staline. Ông ta có thể cắt cổ cha ông ta
nếu như có lịnh, chỉ cần một cái nheo mắt của Staline. Ông
ta cho rằng thi hành lịnh của Staline là để phục vụ cho sự
nghiệp của đảng. Cũng phải được hiểu là cho cả sự nghiệp của
Staline. Sau này Kaganovitch giải thích cho hành động của
ông ta là v́ ông muốn bảo tồn mạng sống của ḿnh. Ông ta chỉ
c̣n muốn có một điều là làm sao xóa bỏ tội ác của ông. Công
việc này chỉ có thể thực hiện được bằng cách phải bảo vệ bí
mật các văn khố dự trữ, không ai được tham khảo; kiểm soát
toàn diện báo chí; kiểm soát các người ra nước ngoài; tuyên
truyền và phóng đại các thành quả của chế độ; các cơ quan
truyền thông thực hiện các công tác đầu tiên là ngăn chận
tất cả các đề nghị đưa ra ánh sáng các sự thật về tôị ác của
Cộng sản.
V́ không bằng ḷng với những ǵ họ đă làm trong quá khứ,
những tội phạm t́m mọi cách chống lại những ai muốn t́m hiểu
sự thật.
Sau đệ nhi thế chiến, tại
Pháp có hai vụ tố cáo tôị ác của Cộng sản. Từ tháng 4 đến
tháng giêng năm 1949, ṭa án Ba Lê đă xét vụ án ông Victor
Kravchenko, cựu công chức cao cấp Xô Viết và là tác gỉa
quyển '' Tôi chọn tự do -Je choisi la liberte' ''.
Từ tháng 11 năm 1950 đến tháng giêng năm 1951 cũng tại ṭa
án BaLê, ông Aragon đă kiện ông David Rousset , một nhà trí
thức có khuynh hướng Trotski.
Rousset đă từng bị lưu đày trong các trại tập trung của Đức
trong đệ nhị thế chiến. Năm 1946 ông đoạt giải văn chương
Renaudot với tác phẩm '' Vũ trụ tập trung - Univers
concentrationaire' '. Ngày 12 tháng 11 năm 1946, ông Rousset
kêu gọi những tù nhân ở Liên Sô hăy thành lập ủy ban điều
tra các trại tập trung khổ sai . Báo chí Cộng sản lúc bấy
giờ mở chiến dịch chống phá Rousset kịch liệt và chính quyền
Xô Viết cho biết là không hề có trại lao động khổ sai ở xứ
này. Hưởng ứng lời kêu gọi của Rousset, tờ báo Figaro
Litteraire số ra ngày 25 tháng 2 năm 1950 cho đăng một bài
báo tựa đề : '' Trại tập trung khổ sai của Sô Viết , Cái ǵ
khốn khổ nhất : Địa ngục hay trại Belzebuth ? '' trong đó bà
Magaret-Neuman với tư cách là nạn nhân , tường thuật lại
những ǵ bà đă trăi qua trong trại tập trung của Sô Viết và
của Quốc Xă Đức.
Những nhà độc tài Sô Viết t́m mọi cách chống lại lương tâm
của con người . Họ mở ra một mặt trận rộng lớn với một số vũ
khí đồ sộ để can thiệp vào mọi nơi trên thế giới. Họ tuyên
bố bài trừ, đe dọa, và làm mất niềm tin đối với những người
như Soljenitsine, Boukovski, Zinoviev, Plioutch,.. Họ đuổi
những người này ra nước ngoài hay cho đi lưu đày biệt xứ. Họ
quản thúc ông Sakharov, nhà bác học đầu tiên chế ra bom
nguyên tử tại thành phố Gorgi. Cho Tướng Piotr Grigorenko an
trí trong nhà thương điên...
Trước sự đe dọa quá lớn cùng vơí sự che đậy bịp bợm, các nạn
nhân không đủ can đảm để phát biểu và cũng không c̣n khả
năng để hội nhập vào cái xă hội c̣n đầy rẫy những tên chỉ
điểm, những hung thủ đang sống nghênh ngang. Trong tác phẩm
'' Rồi moị việc cũng qua '', tác giả Vassili Grossman tỏ vẻ
thất vọng khi so sánh hai thảm kịch. Thảm kịch Do Thái đă
được chính người Do Thái trên toàn thế giới chu lo tưởng
niệm. Trong khi thảm kịch của những nạn nhân của chế độ Cộng
sản không hề có quyền đ̣i hỏi bồi thường, cho dù chỉ làm một
lễ tưởng niệm nhỏ. Tất cả đều bị cấm kỵ.
Một khi Cộng sản không c̣n che dấu được một số sự thật như
các vụ xử bắn, các trại tập trung, gây ra các nạn đói,..,
th́ chúng vội vàng chạy tội vụng về. Sau khi nh́n nhận có
xảy ra các cuộc khủng bố, họ t́m cách biện minh hợp lư. Họ
cho rằng khi người ta đốn gỗ trong rừng th́ có các dâm cây
bay ra ngoài. Hay muốn chiên trứng gà th́ phải đập vỏ trứng.
Nhưng nào có chiên trứng gà nào đâu! Cái bịp bợm nhất là
cách xử dùng ngôn ngữ của Cộng sản. H́nh thức tập trung
chúng gọi la trại cải tạo. Các tên cai tù th́ mệnh danh là
các tên quản giáo. Họ cố biến những tù nhân của chế độ củ
thành những người của chế độ mới. Ở các trại tù Xô Viết, các
tên cai tù dùng bạo lực bắt tù nhân phải thừa nhận chính
quyền. Tại Trung Cộng, các tù nhân là những sinh viên bị
cưỡng bách đi lao động. Họ bị bắt buột phải họ các tư tưởng
do đảng đưa ra và phải sửa sai tư tưởng cá nhân. Phải nói
láo những sự thật. Nó làm cho tư tưởng của con người trở nên
loạn thị về xă hội và chính trị. Tuy vậy sự méo mó về đường
lối tuyên truyền của Cộng sản c̣n có thể sửa đổi được,
nhưng khó có thể đưa những đă vi phạm tư tưởng trở về cái
tri thức thích nghi. Cái ấn tượng đầu tin đă trở thành thiên
kiến. Những người Cộng sản nhờ guồng máy tuyên truyền mạnh
mẻ, khó có ai sánh kịp, cộng thêm vào đó vơí cách xử dụng
ngôn ngữ điếm xăo, đôi khi c̣n dùng vũ lực để chống lại các
lời tố cáo về các hành động khủng bố của chúng, chúng tạo
được một hàng ngũ chặt chẽ, kéo theo cảm t́nh viên, lập lại
chủ nghĩa Cộng sản. Các người Cộng sản biết xử dụng một cách
có hiệu lực nguyên tắc đầu tiên của hệ tư tưởng. Ông
Tertullien đă từng tiên bố :'' Tôi tin, dù cho phi lư''.
Nằm trong khuôn khổ tuyên truyền, nhiều nhà trí thức khoa
bản đă bán đứng lương tri của họ. Vào năm 1928, văn hào nổi
danh của Nga, ông Gorki đă chấp nhận đi viếng các vùng thuộc
quần đảo Solovski. Nơi đây là thí điểm tập trung mà sau này
theo nhận xét của Soljenitsine, trở thành hệ thống trại tù
Goulag. Sau chuyến viếng thăm, nhà đại văn hào Gorki viết
các bài báo ca tụng chế độ Sô Viết và quần đảo Solovski. Một
nhà văn Pháp, ông Henri Barbusse sau khi đoạt giải văn
chương Goneourt vào năm 1916 đă viết bài nịnh hót chế độ
Staline. Năm 1928 ông cho xuất bản quyển '' Xứ Georgie tuyệt
vời''. Đó là quê hương của Staline. Tại nơi này, Staline
cùng với thân cận Ordjonikidze vào năm 1921 đă mở một cuộc
tàn sát rùng rợn.
Gần đây, Mario Maccio đă ca tụng Mao và Alain Peyrefitte
cũng làm như vậy. Bà Danielle Mitterand cũng từng ca tụng
Fidel Castro . Ḷng gian tham, sự nhu nhược tính khoe khoang
và sự hư ảo đă bị bạo lực cách mạng thôi miên. Các chế độ
độc tài , dù với động cơ nào, vẫn luôn luôn có người sùng
bái và ca tụng. Và họ cũng cần những người này. Chế độ độc
tài Cộng sản cũng vậy.
Đứng trước các lời tuyên truyền của Cộng sản, các nước Tây
phương có thái độ mù quáng lạ lùng. Hầu hết các nước Tây Âu
đă tỏ ra quá ngây thơ đối với chế độ Cộng sản xăo quyệt.
Phải chăng họ khiếp sợ trước sức mạnh của Sô Viết hay v́ cái
vô liêm sĩ của các chính khách? Tại hội nghị Yalta vào năm
1945 đă hiện diện sự mù quáng này. Tổng Thống Hoa Kỳ đă buôn
rơi các nước Đông Âu cho Staline và Staline hứa sẽ cho tổ
chức bầu cở tại các quốc gia này. Năm 1944, Tổng thống De
Gaulle tại Mac Tư khoa, đă bỏ rơi Ba Lan cho bạo chúa
Staline để đổi lấy sự chấp thuận của lănh tụ Cộng sản Pháp
Moris Thorez về một bảo đảm an ninh xă hội và chính trị trên
đất Pháp khi khi chiến tranh kết thúc.
Việc làm mù quáng này đă củng cố một cách hợp pháp ḷng tin
của những người Cộng sản Phương Tây và các thành phần khuynh
tả. Họ cho rằng ở phía sau bức màn sắt là thiên đàng chủ
nghĩa xă hội. Nhiều cuộc tranh luận về vấn đề này trong các
nước dân chủ. Họ cho rằng phía bên kia bức màn sắt là một
thực thể. Bà Simone Veil nhấn mạnh rằng công nhân cách mạng
rất sung sướng v́ họ được nhà nước yễm trợ. Một nhà nước ủng
hộ chính thức các hoạt động của công nhân. Chỉ có nhà nước
mới có quyền ban cho. Chủ nghĩa Cộng sản tự xưng là con đẻ
của truyền thống giải phóng, con người và xă hội , một giấc
mơ về sự b́nh đẳng thực sự, một hạnh phúc cho tất cả mọi
người. Trong cái hào quang sáng chói này, Cộng sản đă phơi
bày tất cả tất cả những điều nhơ nhớp mà chủ nghĩa xă hội đă
gây ra.
Dù muốn hay không, sự không biết về chiều sâu của tội ác do
Cộng sản gây ra mỗi lúc một gia tăng. Một phần cũng tại sự
thờ ơ của các người cùng thời với anh, cha chúng ta. Không
phải con người có quả tim chai đá.
Ông Tzvetan Todorov nhấn
mạnh : '' Kư ức tang chế của cá nhân ta đă cản trở ta cái
tri giác cảm xúc các nổi đau khổ của người khác..''.
Thế kỷ 20 là thế kỷ xảy ra quá nhiều tang thương. Con người
đă gánh chịu quá nhiều nổi đau khổ cho nên chẳng mấy ai c̣n
có thể động ḷng trắc ẩn trước sự đau khổ của người khác.
Có ba lư do che dấu tội ác của Cộng sản :
1. Trước hết là vấn đề liên
hệ đến ư thức cách mạng.
Cho tới ngày nay nhiều người vẫn c̣n sùng bái ư niệm cách
mạng của giữa thế kỷ thứ 19. Các biểu tượng như lá cờ đỏ,
bài quốc tế ca, nắm tay dơ lên cao, có dịp xuất hiện khi có
sự tranh chấp xă hội. H́nh ảnh Che' Guerava trở thành cái
mốt thời trang. Nhiều nhóm người làm cách mạng , sinh hoạt
công khai ,lên tiếng phản đối những ai chỉ trích về tội ác
của những người làm cách mạng đi trước. Họ không ngần ngại
đọc các bài diễn văn ca tụng những tội phạm như Lenine,
Staline, Mao,.. Có rất nhiều tác giả viết nhiều sách ca tụng
và tin tưởng vào những lời tuyên truyền của Cộng sản.
2. Lư do thứ hai của hành
động che dấu tội ác của Cộng sản là bởi Sô Viết đă tham gia
vào cuộc chiến tranh chống Hitler và đă chiến thắng.
Đó là cơ hội để cho những người Cộng sản chính thức đeo mặt
nạ của những người ái quốc lương thiện ḥng đạt cho kỳ được
mục tiêu tối hậu là nắm lấy chính quyền.
Từ đầu tháng 6 năm 1941, khi quân Đức xua quân xâm chiến
lănh thổ Sô Viết, tất cả các đảng viên đảng Cộng sản ở các
quốc gia bị Đức chiếm đóng, đồng loạt đứng lên, chiến đău vỏ
trang chống lại Quốc Xă Đức hay Phát xít Ư. Những người Cộng
sản cũng đă chịu cùng số phận của các tổ chức chính trị khác.
Hàng ngàn đảng viên Cộng sản bị hành hung, bắt giam, lưu đày
lao động khổ sai hay bị xử bắn. Cộng sản đă thần tựơng hoá
những đảng viên bi tù đày hay bị xử bắn để nâng cao lư tưởng
của chúng và c̣n dùng để chỉ trích những ai tố cáo tội ác
của chúng. Ngoài ra, c̣n có rất nhiều người không phải là
Cộng sản, cùng sát cánh với Cộng sản trong các cuộc chiến
tranh chống ngoại xâm, không chịu mở mắt ra. Tại nước Pháp,
quân của cánh De Gaulle v́ cùng chung chống Đức quốc xă với
quân của Xô Viết nên họ theo De Gaulle trở thành bộ phận của
Xô Viết đối chọi với Hoa Kỳ.
Việc các người Cộng sản tham
gia chống Phát xít được coi như là mẫu mực của phe tả.
Những người Cộng sản tự coi ḿnh là tiêu biểu của lực lượng
chống Phát Xít. Nhân danh nhản hiệu chống Phát xít này, Cộng
sản đă làm câm họng những ai chỉ trích họ.
Francois Furet đă nhấn mạnh
rất nhiều về cái điểm cốt cán này. Đức Quốc xă thua trận,
các nước gọi là điều ác. Những người Cộng sản chiến thắng
Đức , đó là điều thiện. Trong ṭa án Numberg, Cộng
sản ngồi vào ghế biện lư. Chính nhờ vậy , họ đă che lấp các
hoạt động xấu xa đối với giá trị dân chủ của các nước Tây
phương. Cộng sản đă từng kư ḥa ước với Đức quốc xă vào năm
1939, cùng với quân Đức tàn sát các sĩ quan Ba lan tại Katyn
vào mùa xuân 1940. Nhân dân các quốc gia bị Đức chiếm đóng
và được các nước Đồng Minh Anh , Hoa Kỳ giải phóng th́ tỏ ra
vô cùng biết ơn Hồng quân Nga và cùng chia sẻ với nhân dân
Xô Viết về những sự mất mát v́ chiến tranh. Ngành tuyên
truyền của Cộng sản khai thát triệt để các sự kiện này.Đồng
thời, bộ máy tuyên truyền của Cộng sản cũng t́m cách che dấu
những tội ác của chúng gây nên tại các quốc gia chúng chiếm
đóng. Các nước Tây Âu cũng như dân chúng trên toàn thế giới
đâu biết những ǵ đă xảy ra. Sử gia đă chia các cuộc chiến
giải phóng ra làm hai loại : Một là dân chủ hoá các quốc gia
nằm trong khối Đồng Minh Tây Âu. Hai là thiết lập chế độ độc
tài ở các quốc gia thuộc quyền kiểm soát của Hồng quân Nga.
Ông Witold Gombrowicz diễn tả thảm cảnh của các quốc gia bị
Hồng quân chiếm đóng như sau : '' Chiến tranh đă kết thúc
nhưng không giải phóng cho người dân Ba lan. Tại khu vực đau
khổ Trung Âu này, đó chỉ là sự thay đổi bóng tối này bằng
một bóng tối khác. Các hung thủ của Staline đến thay các
hung thủ của Hitler mà thôi. Trong khi đó, tại thủ đô Ba Lê
của nước Pháp người ta ca hát chào mừng nhân dân Ba lan đă
được giải phóng khỏi gông cùm phong kiến..''
3. Lư do thứ ba của sự che
dấu tội ác rất tế nhị.
Sau năm 1945, sự kiện diệt chủng dân Do Thái đă trở thành
một hiện tượng dă man hiện đại. Hiện tượng này xâm chiếm tất
cả tâm tư của con người . Trước thế chiến, Cộng sản cho rằng
họ không hề có hành động ngược đăi dân Do Thái. Và họ biết
rất rơ là họ sẽ đạt được nhiều thắng lợi trên mặt tuyên
truyền một khi họ khuyến khích phong trào chống Phát Xít.
Gần đây, tại các nước Cộng sản lại xảy ra vụ xét lại tội
diệt chủng dân Do Thái , với mục đích làm mờ đi tội ác tương
tự của chúng.
Khúc quanh lớn đă diễn ra vào ngày 24 tháng 2 năm 1956. Đó
là ngày chính thức nh́n nhận tội ác của Cộng sản. Buổi chiều
ngày hôm ấy, Bí thư thứ nhất của đảng Cộng sản Liên Xô, ông
Nikita Kroutchev khai mạc Đại Hội lần thứ 20 của đảng Cộng
sản. Đại hội họp trong pḥng kín. Các đại biểu êm lặng và
căng thẳng ngồi nghe Kroutchev vạch tội Staline, ṛng ră 30
năm là người hùng của chủ nghĩa Cộng sản thế giới. Bản phúc
tŕnh mật từ ngày đó đă là nguyên nhân của sự chuyển hướng
căn bản của chủ nghĩa Cộng sản ngày nay. Và đây là lần thứ
nhất một người lăng đạo cao cấp Cộng sản chính thức thừa
nhận những người lănh đạo từ năm 1917 đă gây ra tội ác.
Có nhiều lư do đă thúc đẩy Kroutchev phá vỡ một trong những
điều cấm kỵ của Cộng sản. Mục đính chính của Kroutchev là
t́m cách quy tội cho một cá nhân để chạy tội cho chính sách
dă man của chủ nghĩa Cộng sản. Trong kế hoạch này , ông tấn
công và khai trừ các đảng viện tay chân của Staline, những
người theo Staline và chống lại ông. Kết quả cho chúng ta
thấy rơ vào mùa hè năm 1957, tất cả các đảng viên thân
Staline ở mọi ngành, mọi nơi đều bị cách chức. Thí dụ điển
h́nh này chỉ là một chi tiết tầm thường . Trên thực tế c̣n
nhiều điều kinh ḥang hơn. Khi ông ta c̣n ở chức vụ Bí Thư
vùng Ukraine , được coi như là lănh chúa của vùng, trong
nhiều năm phát động nhiều vụ tàn sát khủng khiếp. Trong tập
hồi kư, ông chỉ ghi lại những thành quả tốt đẹp cuả ông mà
thôi. Đại hội kết thúc với những quyết nghị và chương tŕnh
thi hành các nghị quyết. Nhưng rồi họ làm được những ǵ.
Ông ta viết :'' Vậy chúng ta phải làm ǵ cho những người bị
xử bắn vô tội; phải làm ǵ cho những người bị bắt và bị thủ
tiêu? Chúng ta có bằng cớ rơ ràng rằng họ là những người
công dân lương thiện, họ là những đảng viên trung thành với
đảng. Họ đă hy sinh cho chủ nghĩa Cộng sản. Sớm hay muộn ǵ,
những người hiện c̣n bị giam trong các khám sẽ được trả tự
do. Họ sẽ kễ lại cho thân nhân nghe những ǵ đă xảy ra. V́
vậy tôi phải thú nhận trước các đại biểu hiện diện ngày hôm
nay về đường lối lănh đạo sai lầm của đảng trong những năm
đó. Làm sao chúng ta có thể nói là chúng ta không hề biết ǵ
chuyện đó. Chúng ta phải biết rằng đó là một thời kỳ đàn áp
và độc đoán ở trong đảng. Chúng ta có nhiệm vụ phải tŕnh
bày trước đại hội những ǵ chúng ta biết. Trong cuộc sống,
những người phạm tội sẽ nhận khoan hồng nếu như họ thú tôi
. ''
Cũng có một số trường hợp hối hận xảy ra . Nhiều người trước
kia tham dự trực tiếp vào các vụ tàn sát thời Staline, tiêu
diệt các đảng viên khác để chiếm giữ các chức vụ quan trọng,
nay cũng tư phê b́nh, tự kiểm điểm. Đó chỉ v́ sự cưỡng bách
mà phải làm. Ai đó có thể trực tiếp đứng ra ngăn chận sự tàn
sát này ? Đó là Kroutchev. Nhưng rồi cũng chính Kroutchev
vào năm 1956 đă ra lịnh cho Hồng quân kéo xe tăng vào đè bẹp
dân chúng Hung gia Lợi.
Trong các phiên họp đại hội thứ 22 của đảng Cộng sản,
Kroutchev lại một lần nữa cho rằng đảng viên Cộng sản là nạn
nhân của Staline. Ông cho xây đài tưởng niệm những người
Cộng sản này. Ông đi trở lại con đường độc tài. Con đường
độc tài tuyệt đối dành riêng cho Cộng sản.
Vào năm 1962 khi c̣n tại quyền Tổng bí thư đảng, ông
Kroutchev cho xuất bản quyển '' Một ngày của Ivan
Denissovitch '' của Alexandre Soljenitsine. Ngày 24 tháng
10 năm 1960 Kroutchev bị truất phế, nhưng không bị thủ tiêu.
Ông mất âm thầm vào năm 1974. Chẳng ai hay biết , ngoại trừ
thân nhân.
Nhiều người nh́n nhận rằng bản '' phúc tŕnh mật của
Kroutchev'' phá vỡ căn bản chính sách của Cộng sản trong
thế kỷ thứ 20 .
Theo ông Francois Furet một đảng viên Cộng sản Pháp ly khai
năm 1954 cho rằng bản phúc tŕnh mật chỉ là một sự thú nhận
quanh co. Bản phúc tŕnh chỉ đề cập đến những người Cộng sản
là nạn nhân của Staline. Nhưng theo ông, dù sao bản phúc
tŕnh mật cũng xác nhận là có xảy ra các vụ tàn sát kinh
hoàng và ở mức rộng lớn trên đất nước Nga. Điều mà có nhiều
người từ lâu nay vẫn nghi ngờ. Nhiều lănh tụ đảng Cộng Sản ở
các quốc gia khác không chiụ thừa nhận tội ác như Kroutchev
đă làm. Măi đến năm 1979, đảng Cộng sản Trung Quốc mới chịu
phân tích con đường chính trị của Mao. Họ cho rằng Mao đă có
công rất lớn cho đến năm 1957. Sau đó họ Mao đă làm sai.
Cộng sản Việt Nam chỉ đề cập đến điểm này xuyên qua việc tố
cáo '' hành động diệt chủng của Pol Pot ''. C̣n Castro th́
cho rằng không hề có bạo lực xảy ra dưới thời của ông.
Cho đến lúc này, chỉ có những người chống đối Cộng sản ,
những thành phần ly khai lên tiếng kết án tội ác của Cộng
sản. Kết quả của các vụ tố cáo chẳng đi đến đâu. Chỉ có
những người sống sót được trong các trại tù của Đức quốc xă,
của Cộng sản mới đủ ư chí quyết liệt tố cáo tội ác. Nhưng ở
Pháp không mấy ai chịu nghe họ. Pháp có trên 10.000 công
dân sinh sống trong hai vùng Alsace và Lorraine, bị Quốc Xă
sát nhập vào Đức. Trong chiến tranh, Những người Pháp này bị
Đức gởi đi ra mặt trận trên đất Nga. Họ bị Hồng quân bắt làm
tù binh và bị ngược đăi. Cho đến ngày hôm nay, 50 năm sau,
gia đ́nh của họ không hề biết được tin tức ǵ cả. Chính phủ
Pháp chưa giải quyết thỏa đáng.
Tháng hai năm 1956, bản phúc tŕnh mật do Kroutchev đọc
trước Đại hội Đảng lần thứ 20 đă làm đảo lộn hàng ngũ Cộng
sản. Lời tố cáo không phải xuất phát từ Phương Tây Tự Do mà
từ Thánh địa Mạc Tư Khoa . Ư niệm Cộng sản bị lung lay,
không phải chỉ ở Nga mà c̣n dao động ở các nước Cộng sản chư
hầu. Bởi v́ lời tố cáo không phải phát xuất từ một đảng viên
b́nh thường do bất măn , trái lại, nó do chính Chủ tịch nhà
nước đương kiêm Đệ nhất Bí Thư Kroutchev đích thân tuyên đọc.
Sự kiện này khiến cho người ta tự hỏi, liệu chủ nghĩa Cộng
sản c̣n đáng được tin tưởng hay không ? Cả hội trường, không
một đảng viên đại biểu nào phát biểu chống lại, chứng tỏ bản
phúc tŕnh mật có một giá trị sức mạnh ghê gớm.
Từ đầu năm 1917, đă xảy ra nhiều sự kiện lịch sử nghịch lư.
Một nhóm tỏ vẻ hồ hởi đón nhận cái gọi là '' tia sáng lớn
lóe ra từ phương Đông '' . Nhóm khác cực lực chỉ trích các
hoạt động của người Bônsêvich. Các cuộc tranh cải giữa hai
khuynh hướng nhằm vào các cuộc khủng bố bạo lực của Lenine.
Trong những thập niên 20 và 50, cũng có nhiều ngưới lên án
bộ mặt thật của những người Bônsêvich. Nhưng phải đợi đến
khi người Cộng sản tự thú th́ tốc độ tố cáo mới có phần gia
tăng . Nhiều uỷ ban thành h́nh co nhiệm vụ thu nhập những kư
ức của nạn nhân. Như Uỷ Ban Quốc Tế về chế độ Trại tập trung
của David Rousset hay Uy ban về sự thật tôị ác của Staline,..
Nhưng tiếng nói của các Ủy Ban bị lấn át bởi tiếng trống
tuyên truyền của Cộng Sản và được nối tiếp bởi sự yên lặng
hèn hạ gần như thờ ơ. Ngay cả khi Soljenitsine cho xuất
bản quyển '' Quần đảo Goulag'' và tác phẩm '' Ảo ảnh chết
người'' của Pin Yathay dư luận ở Tây phương vẫn tiếp tục êm
lặng. Xă hội Tăy Phương vẫn từ chối nh́ nhận sự thật đă xảy
ra trước mắt họ : Chủ nghĩa Cộng Sản từ căn bản, ở mỗi cấp
độ, tất cả đều đă nhúng tay vào tội ác.
Từ năm 1920 đến năm 1950 v́ Cộng Sản bưng bít, nên các nhà
nghiên cứu các tài liệu về các tội ác, chỉ có thể căn cứ vào
những lời khai cuả các nhân chứng trốn thoát khỏi địa ngục
Liên Sô.
Năm 1959 một viên chức cao cấp của cơ quan t́nh báo Sô Viết
KBG rời bỏ hàng ngũ chạy qua Tây Phương t́m tự do. Ông ta
tŕnh bày tất cả các chi tiết về các trại Goulag và được
viết lại trong tác phẩm '''Chế độ trại tập trung của Sô Viết
từ 1930-1957'' , tác giả là Paul Barton. Sách do nhà xuất
bản Plon phát hành năm 1959. Ông Paul Barton là ai. Ông ta
là người Tiệp Khắc lưu vong. Tên thật của ông là Jiri
Veltrusky. Ông là một trong những người tham dự của nổi dậy
ở thủ đô Prague của Tiệp Khắc vào năm 1945 chống lại Đức
quốc xă. Năm 1948 ông trốn qua Pháp.
Vào những thập niên 70- 80,
Soljenitsine cho ra đờI tác phẩm '' Quần đảo ngụ tù Goulag''.
Dư luận có chú ư, nhưng Soljenitsine cũng đă gặp nhiều khó
khăn khi t́m cách phá vỡ cái lớp lừa bịp. Vào năm 1975, một
kư giả của tờ báo lớn ở Pháp , tờ Humanite' đă ví
Soljenitsine, người đạt giải thưởng Nobel văn chương, như
các ông Pierree Laval, Doriot và Deat. [ các ông này bị ṭa
án Pháp kết tôị tử h́nh v́ đă nghinh đón quân Đức như đón
những đoàn quân giải phóng ].
Những ǵ ông Soljenitsine viết , cũng như những ǵ ông
Chalamov kể về Kolyma hay ông Pin Yathay nói về Cao miên đều
là những nhận thức quyết định đầu tiên về ư thức.
Gần đây, ông Vladimir
Boukovski, một trong những người ly khai trong phong trao ly
khai dưới thời Brejnev, đă phản kháng trong tác phẩm '' Xử
án tại Mạc Tư Khoa - Jugement a Moscou''. Ông ta kêu
gọi thành lập một ṭa án quốc tế như ṭa án Numberg để xử
tội ác của chế độ Cộng Sản. Tác phẩm của ông ta được thế
giới Tây phương tiếp nhận nồng hậu. Nhưng đồng thời chúng ta
cũng thấy các tài liệu kêu gọi phục hồi danh dự và sự nghiệp
của Staline.
Ngày hôm nay các trung tâm văn khố trưng bày các sự thật ,
đă thúc đẩy công việc sưu tầm các tội ác. Trung tâm văn khố
của Liên bang Xô Viết cũ, của các nước Đông Âu, của Cao Miên
đă đưa ra ánh sáng những sự kiện kinh hoàng. Đă đến lúc phải
mở một cuộc điều tra theo phương pháp khoa học về tội ác của
Chủ nghĩa Cộng sản mà không sợ bị chi phối v́ lư do chính
trị. Câu hỏi được đặt ra là phải quy trách tội ác của Cộng
Sản ở cấp độ nào cho đúng ?
Để trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này, cần phải có những đóng
góp đặc thù trong công tác nghiên cứu.
Điểm thứ nhất, chúng tôi làm
bổn phận của chúng tôi đối với lịch sử.
Đối với sử gia, không thể có áp lực nào cho dù chính trị, tư
tưởng hay cá nhân riêng tư cấm đoán họ nghiên cứu bất kỳ một
đề tài nào. Ngày nay không ai có thể ngăn chận sự t́m hiểu,
khai quật và phán quyết những ǵ đă xảy ra và nhất là những
sự kiện từ bấy lâu nay bị dấu kín trong các văn khố cũng như
trong lương tâm của con người.
Vấn đề nghiên cứu chủ nghĩa
Cộng Sản không thể chỉ giới hạn trong tầm vóc một quốc gia,
một xă hội hay chỉ trong lănh vực văn hóa. Bởi với chính
sách cực quyền, Cộng sản không những chỉ hoạt động trên phần
đất Âu Châu và c̣n bao trùm khắp cả thế giới.
Nói một cách khác, vấn đề tộị ác Cộng Sản không những chỉ
xảy ra trên phần đất Nga mà c̣n cả trên lănh thổ Trung quốc
của Mao trạch Đông, trên bắc Triểu tiên ở Việt Nam, trên đất
Chùa Tháp Cao Miên của Pol Pot nữa. Tại các quốc gia này,
Cộng sản thực hiện mẫu mực những ǵ đă xảy ra trên đất Nga,
trở thành pḥng trào Cộng sản thế giới. Sự kiện lịch sử mà
chúng ta đang trực diện có liên quan đến toàn thể nhân loại
trên trái đất.
Lịch sử và kư ức được quy định trong nhiều h́nh thức khác
nhau. Ở một nơi, nó liên hệ đến các quốc gia mà nơi đó Cộng
sản không có một chút ảnh hưởng nào trong lănh vực kinh tế
hay xă hội. Như ở các quốc gia Anh, Úc, Bỉ,..
Ở một nơi khác, chủ nghĩa Cộng sản tỏ ra đáng ghê sợ. Như ở
Hoa Kỳ sau năm 1946. Cộng sản có thể cướp lấy chính quyền ở
Pháp, ở Ư , ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hay ở Hy lạp. Tại một
số quốc gia Đông Âu, Cộng Sản ngự trị hàng chục năm, cho tới
những năm gần đây mới bị dân chúng hạ bệ.. Và ngọn lửa Cộng
sản vẫn c̣n chập chờn gây đe dọa tại Trung quốc, Bắc Triều
Tiên, Cu Ba , Lao và Việt Nam.
Tuỳ theo hoàn cảnh và thái độ của những người đương thời,
vấn đề lịch sử cũng như những kư ức không giống nhau. Trường
hợp tại các quốc gia nói trên , thái độ của họ chỉ là những
cuộc vận động đơn giản về suy tư . Nhưng ở trường hợp khác,
họ c̣n phải đương đầu với một số vấn đề cần thiết cho sự hoà
giải quốc gia trong những quyết định trừng phạt hay tha thứ
cho những phạm tội đă gây ra tội ác. Nước Đức là một trường
hợp đặc biệt. Việc thống nhất nước Đức quả là một phép mầu
nhiệm. Nó không giống như Tiệp Khắc chia làm hai quốc gia
riêng biệt . C̣n Nam Tư th́ tan ră ra từng mảnh nhỏ. Các
nước Ba Lan, Miên th́ vẫn c̣n c̣n ray rứt với cái quá khứ
tội ác. Ở một mức độ nào đó, hiện tượng quên đi những ǵ
trong quá khứ có thể chấp nhận để hàn gắn vết thương luân lư
và tâm lư của từng cá nhân hay của tập thể.
Tại các nước Cộng sản, th́
việc chối bỏ tội ác được thực hiện một cách có hệ thống.
Trung Cộng, Cu Ba Bắc triều Tiên, Việt Nam vẫn c̣n cai trị
bằng bạo lực.
Về phương diện luân lư,
không ai có quyền phủ nhận bổn phận cuả họ đối với lịch sử
và kư ức.
Không một ai có quyền bảo rằng '' Ai cho anh cái
quyền nói đến Thiện và Ác.'' Giáo Hội Thiên Chúa Giáo , qua
thông Điệp Mit Brennender Sorge đề ngày 14 tháng 7 năm 1937
của Đức Giáo Hoàng Pio XI , đă chính thức lên án Chủ nghĩa
Quốc Xă. Thông Điệp thứ hai Divini Redemtoris đề ngày 19
tháng 3 năm 1937 Đức Giáo Hoàng tố cáo Cộng Sản. Thông Điệp
thứ hai nhấn mạnh những đặc quyền của Thiên Chúa ban cho
loài người. Quyền sinh sống; Quyền được toàn vẹn thân thể;
Quyền được hưởng những nhu cầu cấn thiết hằng ngày; Quyền
được sống đến ngày cuối cùng theo con đường Chúa đă vạch
định; Quyền được hội họp; Quyền tư hữu; Quyền xử dụng các tư
hữu này. Cho dù ai có mĩa mai cái đạo đức gỉa nào đó của
Giáo Hội khi cho phép những người làm giàu quá mức bằng cách
chiếm đoạt tài sản của người khác, nhưng vấn đề nhắc nhở con
người phải tôn trọng nhân phẩm vẫn là điều cần thiết.
Năm 1931, trong một Thông Điệp, Đức Giáo Hoàng XI nhận định
rằng, Cộng Sản hoạt động công khai và t́m đủ mọi cách kể cả
bạo lực để đạt cho kỳ được hai mục tiêu. Đó là: luôn luôn
đău tranh giai cấp và hũy bỏ hoàn toàn quyền tư hữu.
Cộng sản xử dụng mọi phương tiện để đạt cho được hai mục
tiêu này. Cộng sản chẳng tôn trọng cái ǵ cả. Nơi nào Cộng
sản nắm chính quyền th́ nơi đó Cộng sản cho thi hành khủng
bố tàn bạo. Các cuộc tàn sát ở Đông Âu và ở Á Châu đă chứng
tỏ điều này. Lời cảnh cáo của Đức Giáo Hoàng mang nhiều ư
nghĩa v́ nó phát xuất từ một cơ chế tồn tại qua nhiều thế
kỷ..
Nếu cho rằng Giáo Hội giữ vai tṛ kiểm duyệt về luân lư,
th́ những người viết sử phải viết làm sao về các mẫu chuyện
mang tính chất anh hùng của những người Cộng sản và những
mẫu chuyện thống thiết của các nạn nhân của Cộng sản ? Trong
tác phẩm '' Hồi kư của nấm mồ - Memoiries d'outre-tombe ,
nhà văn Francois Rene' de Chateaubriand viết : '' Trong sự
êm lặng của đê hèn, người ta không c̣n nhớ đến những tiếng
kêu của dây xích của người nô lệ hay không nghe tiếng nói
của người tố cáo''. Trong khi mọi người khiếp sợ trước bạo
chúa, các sử gia đứng ra làm công việc báo thù cho dân
tộc.''Nhưng ở vào những ngày cuối cùng trong đời,
Chateubriand không c̣n tin tưởng vào '' việc báo thù cho dân
tộc ''. Và với tư cách là sử gia, với khả năng khiêm tốn,
người viết sử cho dù không muốn ḿnh là phát ngôn viên của
nạn nhân, cũng phải sẵn sàng nói lên sự thật những ǵ mà họ
đă trăi qua. Người viết sử thực hiện công việc của ư thức.
Công việc của sử gia là thiết lập các sự kiện thực đă xảy
ra. Ngoài ra c̣n có sự liên hệ của sử gia với chế độ Cộng
Sản. Họ đă bị bắt buộc phải viết lên lịch sự của sự lừa dối.
Mặc dù các cánh cửa cuả các văn khố đă mở toanh, các tài
liệu tŕnh bày ra trước mặt, nhưng sử gia cũng phải đề pḥng
để khỏi trở thành quá '' thơ ngây'' trong một số vấn đề phức
tạp, có nhiều hậu ư, cần phải tranh luận.
Nhưng các sự hiểu biết về lịch sử không thể không kể đến sự
phán xét, nếu muốn tôn trọng giá trị của nền dân chủ , và
nhất là việc tôn trọng nhân phẩm . Trong cái ư niệm này, sử
gia phán xét những chủ chốt của lịch sử. Ngoài những lư do
khách quan đă thúc đẩy các sử gia sưu tầm các tội ác lịch
sử, c̣n có lư do của cá nhân họ. Có nhiều vị cộng tác trong
tập tài liệu này đă từng là những người bị lư thuyết Cộng
Sản mê hoặc. Các vị này cũng từng ủng hộ chủ nghĩa Cộng Sản
chính thống Lenine - Staline hay chủ nghĩa Cộng sản ly khai
Trosky - Mao Trạch Đông.
Việc nghiên cứu để so sánh các việc xảy ra ở Trung Quốc,
Liên Xô, Cu Ba và cả ở Việt Nam cần phải có một cuộc sưu tầm
rộng răi. Đến nay chúng tôi chỉ có một số ít tài liệu. Ở vài
nơi, các trung tâm văn khố mở cửa. Có nơi chỉ hé mở. Và nơi
khác th́ vẫn c̣n đóng kín. Với t́nh trạng này , chúng tôi
chưa đủ để có thể bắt tay vào công việc nghiên cứu. Chúng
tôi biết rằng chúng tôi có một số tài liệu tuy không toàn
bộ, nhưng phát xuất từ những tổ chức đáng tin cậy, được coi
như là bước khởi đầu. Chúng tôi mong rằng đây là phát súng
khai trương cho các cuộc nghiên cứu rộng lớn sau này.Chúng
tôi khởi đầu bằng một cuộc điều tra các sự việc đă xảy ra.
Các sự việc này rất là quan trọng và không thể nào chối căi
được.
Quyển sách của chúng có quá nhiều chữ và có rất ít h́nh ảnh.
Ngày hôm nay, con người tiếp nhận thường xuyên các tin tức,
h́nh ảnh qua các hệ thống truyền thanh , truyền h́nh và trên
báo chí. Ảnh hưởng của các cơ quan truyền thông có tác dụng
rất lơn trong quần chúng để đánh giá phải trái các sự việc
đă xảy ra. Chúng tôi chỉ có một số ít h́nh ảnh. Các trại tập
trung Goulag chúng tôi không có h́nh. Chúng tôi có vài tấm
ảnh của các trại cải tạo ở Trung Quốc. H́nh ảnh các nạn đói
của'' Bước tiến nhảy vọt'' của Trung Quốc th́ không dễ ǵ có
được. Ai cũng biết, đối với Cộng Sản các h́nh ảnh như vậy là
tuyệt đối phải giữ bí mật.
Những người thắng trận ở ṭa án Numberg có đủ điều kiện tự
do để quay phim chụp h́nh, kể cả quay cảnh hàng ngàn người
chết ở Bergen - Belsen. Họ cũng c̣n t́m thấy các bức ảnh do
các hung thủ Đức Quốc Xă chụp các lính Đức bắn chết một
người đàn bà trên tay đang bồng đứa con. Đối với chế độ Cộng
Sản th́ không thể chụp h́nh như vậy được v́ các vụ khủng
khiếp này luôn luôn xảy ra trong ṿng bí mật.
Xin quư độc giả rộng lượng chấp nhận một số ít h́nh ảnh sưu
tầm trong quyển sách.
Xin quư độc giả hăy đọc thật kỹ từng trang một và suy tư về
nổi thống khổ mà hàng chục triệu người đă chịu đựng.
Xin quư
vị hăy tưởng tượng tấm bị kịch vĩ đại đă diễn ra . Nó đă ám
ảnh nhân loại trên toàn thế giới từ mấy thập niên qua và sẽ
c̣n kéo dài mấy thập niên về sau.
Câu hỏi
chính yếu được đặt ra là : Tại sao những người như Lenine,
Staline, Trotsky hay các đồng chí của họ phải tiêu diệt
những người mà họ cho là kẻ thù ?
Tại sao
những người này có quyền giết người ? Như vậy họ đă vi phạm
vào điều luật, mặc dù không thành văn, nhưng đă chi phối
nhân loại : Người không được giết người.
Đoạn cuối của quyển sách sẽ là phần trả lời cho các câu hỏi
này.
Xin
bấm vào số chương dưới đây để xem tiếp

| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| | |
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| |
|
| | |
Gia tộc anh hùng: hoan hĩ hy sinh cho sự
thực hiện tội ác đối với dân tộc Việt Nam
 |
|
Bà
mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Thể.
|
Câu chuyện về một gia tộc anh hùng ở miền đất
cát trắng Phú Đa (Phú Vang, Thừa Thiên-Huế), đă đưa chúng
tôi t́m đến ngôi nhà nhỏ của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phạm
Thị Thể ở số 1/210 đường Trần Phú, Thành phố Huế. Mẹ chính
là người con dâu của gia tộc anh hùng, đă hiến dâng cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc 24 liệt sĩ, và có 6 người phụ nữ
được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Mẹ Phạm Thị Thể sinh năm 1925 trong một gia
đ́nh nghèo ở xă Phú Đa, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Nhà có hai anh em, anh trai hoạt động cách mạng, tham gia
giành chính quyền ở địa phương trong Cách mạng Tháng Tám.
Chính người anh trai đă giác ngộ và d́u dắt mẹ đi theo cách
mạng, nhưng đến khi chứng kiến cảnh người anh bị quân ác ôn
bắn chết ngay tại nhà th́ ngọn lửa căm thù quân xâm lược
thật sự cháy bùng trong ḷng mẹ.
20 tuổi mẹ về làm dâu nhà họ Vương. Chuyện
hôn nhân của mẹ do hai gia đ́nh sắp đặt từ khi mẹ c̣n bé.
Gia đ́nh chồng có truyền thống yêu nước. Trong những năm
tiền khởi nghĩa, ngôi nhà nhỏ của bố mẹ chồng là vợ chồng cụ
Vương Hưng Phán trở thành khu hầm bí mật: hầm dưới bàn thờ
tổ tiên, hầm trong đống rơm, dưới gốc dừa, rặng tre... Đây
là nơi họp bàn của tổ chức Việt Minh ở Phú Vang. Khi phát
hiện được những căn hầm bí mật này, địch đă bắn chết bố
chồng mẹ ngay tại vườn nhà. Noi gương cha mẹ, lại được hun
đúc tinh thần yêu nước từ nhỏ, 6 anh em lớn lên lần lượt lên
đường đánh giặc. Chồng của mẹ là ông Vương Hưng Mâu. Cưới
nhau chưa đầy 3 tháng th́ ông gia nhập Trung đoàn Trần Cao
Vân rồi tham gia Nam tiến mà không hề biết vợ có mang. Bặt
tin chồng từ đấy, mẹ ở nhà tham gia hoạt động trong Ban chấp
hành phụ nữ huyện, làm công tác dân vận, làm liên lạc cho
các đồng chí trong Tỉnh ủy. Tháng 5-1946, mẹ sinh con gái
đầu ḷng, đặt tên Vương Thị Sen rồi gửi lại ông bà chăm sóc
để đi công tác, chỉ thỉnh thoảng ghé về nhà thăm con.
Những năm đầu Toàn quốc kháng chiến, quê mẹ
là hậu cứ, là trung tâm chỉ đạo kháng chiến của huyện Phú
Vang và mặt trận phía nam Huế. Địch tăng cường hệ thống đồn
bốt ở khắp nơi. Thực hiện chính sách tam quang: đốt sạch,
giết sạch, phá sạch, bọn chúng đi đến đâu là máu đồng bào ta
đổ, nhà cửa bị đốt, của cải mùa màng bị cướp phá đến đấy. Đă
3 lần mẹ bị giặc bắt, lần lâu nhất bị giam 6 năm ở nhà lao
Thừa Phủ nhưng bọn chúng cũng chỉ t́m được một tấm chứng
minh thư giả của mẹ. Trước những thủ đoạn xảo quyệt và đ̣n
tra tấn dă man của kẻ thù, trước sau mẹ vẫn một mực không
khai.
Cô con gái Vương Thị Sen của mẹ được thừa
hưởng ḍng máu yêu nước của ông cha, nên mới 15 tuổi đă tham
gia đội du kích xă, làm công tác cứu thương. Mẹ bảo chị Sen
xinh lắm, da trắng, tóc dài nhưng tính t́nh bướng bỉnh,
cương trực. Chị mong ngày mong đêm được ra chiến trường để
gặp cha. Thế nhưng nguyện ước ấy măi măi không trở thành
hiện thực. Đúng ngày 30 Tết năm 1967, chị hy sinh trong một
trận càn của giặc khi đang cứu chữa cho bộ đội. Khi ấy chị
mới 21 tuổi. Người yêu của chị, một chiến sĩ công an cũng
vừa mới hy sinh trước đó chừng 3 tháng.
Tin con gái hy sinh, mẹ không hề hay biết v́
đang hoạt động ở huyện Phong Điền, sau này về mới nghe bà
con kể lại. Mẹ bảo lúc ấy mẹ suy sụp hoàn toàn. Mất đi người
con duy nhất, chồng th́ bặt tin không biết c̣n sống hay đă
chết, nhưng rồi nhờ vào người thân, nhất là mẹ chồng-một chỗ
dựa vững chăi của gia đ́nh, mẹ đă vượt qua những tháng ngày
đau thương ấy. Nhắc tới mẹ chồng, giọng mẹ bùi ngùi: “Tui
không ngờ sức chịu đựng của mẹ tui lại kỳ cùng đến rứa. Con
trai đầu vừa bị địch bắn chết th́ con gái lại bị đày ra Côn
Đảo. Bà đă nuôi các cháu lớn khôn rồi lại tiễn chúng lên
đường đánh giặc. Chị tui có 7 người con trai ra đi mà không
có đứa mô trở về”.
Năm 1968 là thời kỳ đau thương nhất của gia
đ́nh mẹ. Chỉ trong năm ấy, 10 người thân của mẹ lần lượt hy
sinh.
Cuối năm 1969, sau gần 15 năm xa cách, mẹ Thể
được gặp lại chồng trong sự ngỡ ngàng mà xót xa. Lúc này
chồng mẹ mới biết ḿnh có một người con gái nhưng cũng thật
đau đớn khi biết tin con đă hy sinh.
Suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ, gia tộc họ Vương đă hiến dâng cho Tổ quốc 24
liệt sĩ. 6 người phụ nữ trong gia tộc được phong tặng danh
hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng là mẹ Trần Thị Đỉnh, mẹ Vương
Thị Phi, mẹ Vương Thị Lành, mẹ Phan Thị Vũ, mẹ Trần Thị Lùn
và mẹ Phạm Thị Thể.
Bao năm nay, trong căn nhà nhỏ đầy ắp những
di vật của người thân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng Phạm Thị Thể
và chồng là Trung tá công an Vương Hưng Mâu (người con trai
duy nhất c̣n sống trở về của gia đ́nh họ Vương) vẫn ngày
ngày hương khói cho 5 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và 24 liệt sĩ.
Căn nhà tưởng chừng nhỏ bé đơn sơ như biết bao căn nhà khác
nhưng dù chỉ một lần đến thăm sẽ khiến ta cảm thấy cuộc sống
thanh b́nh, no ấm hôm nay thật quư giá vô cùng.
Vân Hương
Nhưng bọn
hưởng lạc thú giàu sang hiện nay không hề có ai là liệt sĩ
trong gia đ́nh chúng. Những liệt sĩ Việt Cộng chết như chó
chết.
Đó mới là một sự thật cay
nghiệt: 24 liệt sĩ trong gia đ́nh nầy đă làm một việc
mà nhân dân gọi là "gánh nước cho chó uống". |