Thứ Năm, Ngày 2/4/2009
Hồi kư
Đỗ Xuân Thảo

Trại tù
Vĩnh Quang cách đỉnh Tam Đảo chừng ba
mươi cây số đường chim bay, nhưng lại
nằm ẩn trong phía trũng của một thung
lũng hẹp, mà cứ mỗi mùa băo lụt nước
sông Lô tràn về làm ngập lụt nguyên vùng.
Muốn vô trại khách qua đường phải đi qua
một chuyến phà và băng qua một con đường
độc đạo. Cái tên Phà Trang trở thành địa
điểm thân quen cho cả người nam lẫn kẻ
bắc. Nó là đầu mối chuyên chở hàng quà
tiếp tế cho các sĩ quan viên chức chế độ
cũ từ Sài g̣n bị đưa ra cải tạo tại đây.
Nó cũng là nơi vợ con họ dùng làm nơi
ngủ trọ dừng chân sau khi vất vả trên
các chuyến xe lửa, xe đ̣, xe trâu, xe
thồ, xe ngựa đưa họ vượt cả ngàn cây số
ra thăm nuôi chồng con tại chốn heo hút
này.
Photo dongtien0.tripod
Hôm nay
một sớm đầu thu, vùng đất nơi đây như
chuyển ḿnh theo tiết trời se lạnh, bầu
trời trong xanh của những áng mây thưa,
tương phản với màu úa của những giọt
nắng sớm, càng làm rơ thêm màu tím nhạt
của những bụi sim rừng. Cảnh vật như
tiêu biểu rơ nét cho bức tranh toàn cảnh
của một vùng quê trung du với nương chè
đồi cọ làm người ta liên tưởng đến các
áng văn thơ tiền chiến của Thanh Tịnh,
Hữu Loan từng gây xao xuyến bâng khuâng
cho nhiều thế hệ người đọc. Nhưng dân
t́nh ở đây họ quá quen thuộc lại khó
nhọc v́ miếng cơm manh áo nên chẳng nh́n
như cách của thi văn. Nói chi những
người tù khổ sai bị đem ra chốn này đầu
óc đâu mà cảm nhận được những đổi thay
xoay ṿng của trời đất. Quanh đây mấy cô
sơn nữ dân tộc người Dao đang rảo bước
trên con đường đất đỏ, họ mặc váy đeo
kiềng với những hoa văn rất lạ của người
thiểu số, đáng chú ư là phần ngực được
che bằng một dải yếm trắng không khác ǵ
kiểu yếm của các cô gái Quan Họ vùng
xuôi, nhưng dù ăn mặc trang sức thế nào
đôi bàn chân họ vẫn để trần v́ vốn dĩ họ
là những người đàn bà quen đi chân đất.
Đang chuyện tṛ líu lo pha âm sắc của
thứ ngôn ngữ miền cao, bỗng nhiên mấy
chị em ta im bặt, lặng lẽ tẻ bước nhường
đường cho một cỗ xe trâu.
Vẫn con
trâu già với chú tù h́nh sự đánh xe
thường ngày của trại, nhưng hôm nay h́nh
như có vài nét gây quan tâm cho khách
qua đường. Con trâu đôi mắt tỏ lộ buồn,
mắt như nh́n vào chốn xa xăm, không cần
định hướng v́ nó quá quen thuộc với con
đường đất. Chú h́nh sự chẳng chú ư nhiều
đến món hàng trên xe, nhưng mắt luôn để
ư đến bát cơm kẹp quả trứng và nén hương
thắp dở. Con trâu không phải dùng sức
nhiều v́ món hàng nhẹ hơn mọi khi, nhẹ
đến độ nó tưởng như đang tải chiếc xe
không. Có khác mọi ngày là cỗ xe có dăm
người đi theo, tay cầm dụng cụ lao động
cuốc xẻng. Họ ăn mặc khác chú h́nh sự,
loại đồ rằn ri của các ông lính miền
Nam, đă cũ rách và có nhiều miếng vá.
Toán người
rằn ri trông mặt ai cũng buồn, có người
tưởng họ buồn v́ đói, kiệt sức sau một
tuần lễ lao động. Con trâu già không
nghĩ như vậy, họ buồn v́ cái ǵ đó. Khác
với chú h́nh sự, những người này họ quan
tâm nhiều đến món hàng. B́nh thường là
loại hàng hậu cần cho nhà bếp nhưng kiện
hàng sáng nay là loại thùng h́nh hộp với
bốn tấm dài hai tấm ngắn, đóng bằng loại
gỗ mới được xẻ vội từ một loại cây dễ
đốn, được đóng đinh sơ sài chủ yếu chỉ
nhằm đủ an toàn giữ cho món hàng bên ở
trong nguyên vị trí. H́nh như trong số
mấy người tù có một người cứ sụt sùi
than tiếc, ông này già nhất trong đám,
số c̣n lại tuổi đời trên dưới năm mươi.
Cách xa mấy bước có ông mặc quần áo vàng
theo sau, không phải màu vàng của các tu
sĩ Phật giáo thường đi sau đám ma, mà là
người cán bộ cai tù. Anh ta đi để giám
quản toán tù và làm công việc chỉ đạo
của một người đại diện cho trại.
Trước đó
ít phút, cỗ xe trâu không xuất phát từ
nhà bếp gần cổng trại như thường lệ. Con
trâu phải đi sâu thêm một đoạn tới gần
khu bệnh xá để nhận hàng. Hàng lên xe,
cỗ xe từ từ tiến ra cổng trại. Con trâu
thấy lạ là toàn cảnh khu trại hôm nay
trùng ngày chủ nhật có vẻ khác những
ngày thường. Trong suốt lộ tŕnh khoảng
hai trăm mét, nhiều toán người tụ tập
gần mỗi ô cửa, họ cố nh́n qua song sắt
để như đưa tiễn một người nào đó trên cỗ
xe trâu. Ai là người th́ có thể dễ dàng
nhận ra, nhưng con trâu với tư duy của
nó th́ chỉ thấy bỗng nhiên nó trở thành
tâm điểm của một sự việc khá quan trọng
khi chính nó đang dẫn đầu cỗ xe cùng
toán người đi theo. H́nh như có nhiều
người ngó nó, một thoáng hănh diện làm
nó nhớ lại hồi trẻ, rồi chuyển bước đi
với dáng đường bệ của một con trâu thời
sung sức. Nhưng sao mấy người nh́n theo
hai bên dẫy lán họ buồn quá, có người
khóc, có người lại đứng nghiêm, tay chào
kính cẩn trong tư thế của người lính,
kính cẩn thật t́nh chứ không như kiểu tù
nhân chào cai tù. Con trâu có thể kéo cỗ
xe đi nhanh hơn, nhưng nó cố t́nh giữ
nhịp độ chậm lại v́ từ đây nó nghiệm ra
rằng món hàng trên xe là một thứ như dễ
vỡ và được người ta tỏ ḷng trân trọng.
Cỗ xe qua
cổng trại, con trâu lấy lại nhịp đi b́nh
thường. Cứ theo sự hướng dẫn của chú
h́nh sự th́ chuyến xe này không theo lộ
tŕnh quen thuộc, mà lại vào tận sâu
trong thung, băng ngang một ngọn đồi
thoải, mùa này đang có hoa sim nở, nhưng
màu tím của đồi càng làm cho ngày buồn
thêm. Có đoạn nó phải ráng sức v́ cỗ xe
qua nhiều chỗ gập ghềnh, nhiều hố trâu
ḅ lở sụt do lũ lụt, phần v́ nó không
muốn món hàng phải di động nhiều, nhất
là đủ thăng bằng để cho bát cơm quả
trứng khỏi lăn đùng trên xe.Cỗ xe ngừng
lại tại một chân đồi, đất đá khô cằn chỉ
hạp cho mấy bụi sim dại, do cảnh vật
hoang vắng không khí cô tịch nên những
người tù quen gọi nơi này là đồi Cô Liêu.
Ai lên đồi Cô coi như ở lại với núi rừng
và sự vĩnh viễn vắng mặt được coi là
‘lên đồi’, một từ vựng để chỉ lối thoát
ly thế gian không hề tự nguyện của những
người bị lưu đầy sau một thời trai trẻ
chiến đấu bên tuyến phía Nam. Nhiệm vụ
của con trâu đến đây là xong. Chú h́nh
sự tháo ách khỏi càng xe và cho nó nghỉ
dưới một bóng cây. Giờ này toán người
mới khởi sự làm việc. Họ khiêng chiếc
ḥm gỗ lên chỗ cao hơn, đào xới một hồi,
đặt chiếc ḥm xuống, lấp đất. Trước khi
lấp đất theo thủ tục của trại, một ‘lệnh
tha’ được viên cán bộ chủ quản đọc lớn
để bảo đảm danh tánh người tù xấu số
được bạch hóa (cụm từ dân gian ‘quỉ tha
ma bắt’ không ngờ lại hạp cho giây phút
này). Công việc hạ huyệt hoàn tất nhanh
gọn. Vài cây hương dở được cắm xuống.
Toán đào huyệt được coi như nhân chứng
làm vài dấu riêng trên nấm mộ để có
Xà lim
trại tù cải tạo csVN
dịp nhắn
lại thân nhân người quá cố, tất nhiên
nếu họ c̣n sống sót. Ông già nhất trong
đám không kềm nổi xúc động khóc to thành
tiếng, các người kia biểu lộ cảm xúc kín
đáo hơn. Bát cơm và quả trứng trở thành
phần bồi dưỡng cho chú h́nh sự, nếu cứ
để đây có người đi qua họ cũng lấy. Ăn
vội quả trứng, chú quay lại tra càng xe
vào thân trâu, thoáng ngạc nhiên sao con
trâu hôm nay biết khóc. Không phải ḿnh
chú, toán đào huyệt cũng nhận ra điều
này, mấy con trâu già do bản năng trời
cho rất nhạy cảm, chính vậy mà dân quê
miền Bắc họ quư hai loài vật trung thành
lại có t́nh người là chó và trâu.
Bẵng đi
một dạo, sinh hoạt trại tù đột nhiên có
nhiều biến đổi, có cái xảy ra như dự trù
có việc xảy đến ngoài dự kiến. Con trâu
già do làm việc quá sức bỗng bỏ ăn được
xẻ thịt làm bữa ăn tươi cho toàn trại
nhân ngày 2-9. Chú h́nh sự bạn đồng hành
của nó đă được trại tha. Toán đào huyệt
cùng toàn bộ số tù từ miền nam ra nay
được nhà nước cho chuyển ngược về quê
quán. Họ cũng chẳng hiểu v́ đâu bảy tám
năm về trước cả trăm ngàn người số phận
như họ được đảng chuyển vội ra Bắc, nay
cũng số người này trừ một số đă chết và
được tha (mà chết nhiều hơn tha) lại
được các chuyến tàu xuyên Việt chuyên
chở về Nam.
Viên cán bộ chỉ đạo hôm đào huyệt lên
thêm một sao được cử làm trực trại.Trại
tù thu hẹp quay về chức năng nguyên thủy
của nó vốn là chốn giam cầm các tù h́nh
sự trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Yên.
Phà Trang thưa vắng. Nước sông Lô
chảy xiết hơn do lượng lũ thượng nguồn
đổ về. Mấy ông già chở thuê nay đă đổi
nghề. Mấy con trâu trả về cho hợp tác xă.
Dân xă Đạo Trù có vẻ buồn v́ từ nay họ
mất nguồn đổi chác quần áo thuốc men,
lại lo lắng đám tù h́nh sự sẽ gây phiền
nhiễu cho ruộng rẫy của họ. Đám cai tù
từ rày phải trực diện với bọn đầu gấu,
đâm thuê chém mướn từ xă hội đổ vào.
Nhiều người trong số cán bộ dù chức năng
được dạy phải cảnh giác với kẻ thù giai
cấp nay cũng nhận ra rằng những người tù
miền nam chẳng phải là loại ‘ác ôn’ và
vợ con họ ra thăm đều là những người tử
tế, có giáo dục. Ban giám thị trại cũng
chẳng cải tạo được ǵ về mặt ư thức hệ,
nhưng phần nào thành công trong việc bắt
họ tuân thủ qui tŕnh lao động cưỡng
bách khiến nhiều người lớn tuổi trong số
họ không kham nổi đă phải tuyệt đường về
với người thân.
*
Hồi tưởng
lại gần ba mươi năm trước, tôi vẫn nhớ
như in cỗ xe trâu chở Anh lên đồi trong
một ngày chủ nhật buồn tại trại giam
vùng Tam đảo. Tôi với anh là hai người
ngồi cùng toa trên chuyến tàu chở tù ra
bắc. Lúc trên tàu, hai anh em cứ ngỡ khi
rũ bỏ áo lính chấp nhận thương đau trở
về đời sống dân thường, hai phe cùng gà
một mẹ sẽ quên đi quá khứ, xóa bỏ hận
thù cùng nhau vá lại giải cơ đồ đă một
thời rách nát v́ bom đạn chiến tranh.
Nhưng nào ngờ những người thua cuộc lại
bị những kẻ thù dai bắt phải trả giá cho
một thời kỳ khổ nạn - lại có máu và nước
mắt - lại có sự nhân danh cho cái ư thức
hệ bị xóa sổ mà lịch sử khách quan và
bút mực có lương tri c̣n phải viết nhiều
để đánh giá đúng mức những sai lầm của
nó.
Ngồi trên
xe lửa trên tuyến đường từ Vinh về Yên
Bái, vừa bị nóng nực do khí trời oi ả,
lại băng qua các dăy núi đá vôi, vừa
thiếu không khí để thở do các toa đóng
kín, anh Thụ ngồi như bất động chẳng tỏ
ư phàn nàn, trong khi chúng tôi đám sĩ
quan trẻ th́ chửi thề liên tục dù khát
khô cả họng. Tất nhiên đối tượng bị rủa
là ai th́ chỉ Bác biết. Tức nước vỡ bờ,
cùi không sợ lở, lại không có cán binh
quản chế (nếu có chắc họ cũng chửi thầm)
nên không khí trong tàu cứ như mấy cảnh
trong phim buôn bán nô lệ xuyên đại
dương của Mỹ được xem hồi chưa đi lính.
Có điều bọn nô lệ c̣n muốn chống cự
thoát khỏi xiềng xích c̣n bọn tôi chỉ
đánh vơ miệng phát ngôn cho hả nỗi ḷng.
Rồi tàu
cũng đậu lại ga cuối. Trời tối mịt. Mấy
ông cộng sản có cái hay là tính toán thế
nào lên tàu cũng đêm xuống tàu cũng tối,
khó mà tính chuyện đào thoát, xét cho
cùng bóng đêm luôn đồng lơa và là kẻ
đồng hành của mấy ông. Không khí vùng
Tây Bắc vừa tĩnh lặng vừa dịu mát làm
cho đám tù dù chưa biết số phận trôi dạt
về đâu, nhưng ít ra cũng chấm dứt cảnh
bó gối năm sáu ngày đêm từ Nam ra Bắc.
Được cho uống cho ăn, kèm ít lời động
viên ráng học tập tốt lao động tốt như
mấy bài học trong nam đă nhồi sọ, đoàn
tù được biên chế lại. Đây là thủ thuật
đặc biệt của giới áp tải đoàn tù, xào đi
xáo lại cốt để đám tù không thể kết bè
kết đảng chống đối hoặc đào thoát. Nhiều
anh lúc ra đi yên chí cùng hội cùng
thuyền cùng ngành cùng diện, nay lạc đàn
lạc đội gọi nhau ơi ới v́ trót gởi nhau
mấy đồ lỉnh kỉnh từ lúc xuất quân.
Quân ta quen
miệng to tiếng chửi thề, khiến bọn cán
binh phải la lên, 'các anh lày nại chửi
tục lói lăng thiếu văn hóa!' Tôi là kẻ
Bắc kỳ di cư vốn không quen nói ngọng
hay văng tục nên trộm nghĩ chửi thề theo
kiểu Nam bộ là một nét 'văn hóa', nghe
không tục mà lại có thể ngăn ngừa cơn
giận đi xa hơn. Nghe nói người
công nhân họ Tôn gốc Long xuyên làm tới
Chủ tịch nước mà ông vẫn c̣n tật chửi
thề, nhiều người mến ông già ở điểm này.
Hai anh em
tôi vốn có duyên có nợ nên không lạc
nhau. Cả hai được biên chế về một trại
mới được cất vội có số mà chưa có tên:
trại 8. Đây là một quần thể gồm chín
trại nằm sâu trong thung lũng của dăy
Hoàng Liên Sơn, thuộc đất Yên Bái nơi
một thời Nguyễn Thái Học đă lên máy
chém, cũng là nơi Tây nó giam các nhà
cách mạng gộc hồi thập niên 30, trong đó
có cả mấy ông Xô-Viết Nghệ Tĩnh. Những
ngày ra bắc, lao động nhọc nhằn thế nào
khỏi cần phải tả, chỉ biết sau khi chặt
tre đốn nứa trên rừng gần ba tháng th́
anh Thụ và tôi cùng được điều về đội nhà
bếp.
Ấm thân v́
thoát cảnh nắng mưa muỗi vắt trên rừng,
lại đôi khi có chút cơm cháy bồi dưỡng
nên anh em tôi có phần may mắn hơn các
bạn đồng tù. Anh th́ không biết sao, có
thể trong lứa tuổi 50, chứ tôi th́ biết
chắc có tay cán bộ cùng quê xếp ngầm tôi
vào đội này, chẳng phải để làm ăng ten
chỉ điểm, nhưng chỉ v́ chút t́nh đồng
hương gốc đất Nam Hà. Lúc này c̣n do bộ
đội quản lư, chưa phải là loại cai tù
chính tông, nên tôi nghĩ quan hệ t́nh
người cá biệt cũng c̣n người nọ kẻ kia
nhất là tôi với anh ta có một thời sinh
ra và lớn lên vùng đồng chua nước mặn.
Về đội nhà
bếp, biết anh Thụ là người có thời tu
xuất nên anh em có phần kính trọng
(thường gọi Thầy Thụ nếu không có cán bộ
gần bên) nên họ giao cho anh phụ trách
chia cơm. Nói cơm cho nó oai chứ đúng ra
là khoai, sắn, bo bo, bắp ngô đủ loại,
cơm chỉ chừng nứa chén độn thêm mà thôi.
Chẳng cần đong đếm anh chia rất đều tay
kể cả lúc trời mưa củi ướt anh vẫn phân
phát đúng giờ. Có điều tôi để ư anh ăn
uống rất điều độ, có bữa ăn dưới tiêu
chuẩn dù tiêu chuẩn người khác ăn chẳng
đủ no. Anh khuyên tôi phải tập ăn ít cho
quen dạ, con đường cải tạo c̣n dài kẻo
lúc ra lao động ngoài khó mà chịu nổi.
Anh coi vậy mà hiểu cộng sản hơn cánh di
cư, anh c̣n quả quyết đừng tin vào chính
sách, cứ nhớ lời ông Thiệu. Lúc đó bán
tín bán nghi tôi vẫn chưa tin dù có
trọng nể kiến thức của anh.
Rồi ngày
tháng trôi qua, anh em nằm gần nhau nên
hay tỉ tê to nhỏ. Anh vốn ít nói, dáng
người trí thức nhưng trông khắc khổ,
giọng nói nhỏ nhẹ tuy vẫn c̣n âm sắc
miền Quảng quê anh. Anh thích tôi v́
biết tôi trong quân đội làm nghề ‘bay
bướm’, c̣n anh nguyên là giám đốc của
một chương tŕnh tuyển mộ trên truyền
h́nh miền nam, v́ không thích phô trương
nên ít ai biết mặt biết tên. Vào trại
vốn có khiếu về nhạc lư, anh tự nguyện
làm người cầm càng cho cái ca đoàn của
tù vào dịp quốc khánh đỏ hoặc tết ta,
anh bảo kệ nó có chút văn nghệ văn gừng
cho đời đỡ tẻ nhạt. Tôi học ở anh trong
cái nghịch cảnh vẫn t́m cái lạc quan dù
đôi khi để tự lừa dối ḿnh.
Nói cho
ngay anh nào biết chút văn nghệ thể thao
khi vào trại cũng có ngày được sử dụng.
Cứ tập dượt diễn tṛ đá banh ca hát th́
cũng nghỉ lao động được cả tuần.Trại họ
cũng muốn cho tù xả sú-páp kẻo căng quá
khó quản lư. Chương tŕnh văn nghệ anh
hay chọn mấy bài hát đại loại kiểu Tiếng
Hát Sông Lô, Mùa Thu Hà Nội, Bóng Cây
kơnia... nghe không đến nỗi đỏ quá. Với
lối ḥa âm đặc biệt của anh, tuy đệm
bằng các nhạc cụ tự chế như tre, bương,
nhôm, da trâu, thùng, loong gô... vẫn
mang lại cho các khán giả bất đắc dĩ ít
phút thoải mái tạm quên đi nỗi nhọc nhằn
nơi rừng sâu núi thẳm. Đám bộ đội th́ cổ
vũ hết ḿnh, v́ ngoài mấy tiết mục tự
biên tự diễn của đám tù nhằm ngày lễ lạt
th́ quanh năm bọn họ chỉ quanh quẩn với
cái loa cổ lỗ sĩ phát đi phát lại mấy
giọng hát the thé như ma đuổi.
Phần tôi
dù không biết hát cũng trốn lao động
bằng cách tham gia tiết mục ngâm thơ,
chọn mấy bài của Nguyễn Đ́nh Thi, Giang
Nam ca ngợi quê hương xem ra quân ta có
chiều ưng ư. Sau lần diễn anh bảo tôi
chú có chất giọng ấm, truyền cảm, tập
hát đi. Tôi thú thực không rành nhạc lư,
anh nói anh dạy cho. Đi tù cộng sản mà
học nhạc nghe như nghịch lư, nhưng v́
làm ở nhà bếp, ít nhọc nhằn lại đủ no,
nên giờ rảnh buổi tối anh chỉ cho tôi ở
một góc tối. Đám bạn tù cười nhạo, nhưng
rồi mạnh ai nấy sống chẳng muốn xía vô
chuyện của nhau. Chẳng vậy mà có anh
cũng học tiếng Tàu, anh chép món ăn bà
Quốc việt, anh học nhẩm Kinh thánh, anh
đánh cờ thế bằng trí nhớ, anh kể chuyện
chưởng... Trong lúc thày tṛ chúng tôi
dùng nhạc lư chỉ nhau cho qua ngày đoạn
tháng ở cái nơi mà chim hót cả ngày cũng
chẳng phát ra một nốt nhạc v́ chỉ có độc
một loài chim 'bắt cô trói cột' mang âm
hưởng một oan hồn trên núi, th́ cũng là
lúc anh trải ḷng ḿnh hé lộ cho tôi ít
nhiều tâm sự sâu kín của đời anh.
Anh sinh
ra trong một gia đ́nh khá giả ở Đà Nẵng,
gốc đạo ḍng, được ăn học chu đáo. Từ
nhỏ anh đă có ư hướng đi tu để trở thành
linh mục. Vào chủng viện tu lên tới chức
bốn, chỉ c̣n hai năm nữa là thụ phong
th́ anh được Bề Trên khuyên trở về đời.
Lư do sau này anh dọ hỏi h́nh như trong
gia tộc phía bên nội có người ly dị, một
điều cấm kỵ đối với giáo lư công giáo.
Thế mới biết dù đạo hay đời, cái lư lịch
con người quan trọng thật, nhất là đi
vào con đường làm cha làm thầy, làm lănh
đạo chỉ huy người khác, chẳng bù cho bọn
tôi cũng lư lịch trích dọc trích ngang
nhưng khai đi khai lại chỉ thêm tội thêm
tù.
Rời chủng
viện cũng là lúc lứa tuổi động viên, anh
đi Thủ Đức ra sĩ quan. Anh làm nhiều nơi
nhiều ngành cho đến khi được một ông
tướng cũng tu xuất kéo về làm ngành
tuyển mộ lính cho quân đội. Vừa ngoan
đạo, lại là người thích hoạt động hội
đoàn, anh được bầu làm một chức viên chủ
chốt trong khu hội những người quân nhân
công giáo. Anh hoạt động tích cực đến độ
Ṭa Tổng Giám Mục Sài G̣n dành cho anh
một chỗ trong phái đoàn gồm hàng giáo
phẩm và giáo dân Việt Nam đi Rôma yết
kiến Giáo Hoàng Phao-Lồ Đệ Lục (Paul VI)
vào giữa năm 74.
Kể cho tôi
nghe về chuyến đi, anh vẫn không kềm nổi
xúc động khi được gặp tận mắt vị lănh
đạo tinh thần của cả tỷ giáo dân trên
thế giới, điều mà anh có trở thành linh
mục cũng chẳng được hưởng ơn phước này.
Anh cho biết vị giáo hoàng rất quan tâm
đến Việt Nam do cuộc chiến kéo dài quá
lâu. Ngài muốn dùng ảnh hưởng của ḿnh
để góp phần dàn xếp ḥa b́nh cho người
dân Việt, trong đó có cả con chiên của
Chúa. Trong lúc tiếp kiến, một tin mừng
được chính Ngài tỏ lộ trước khi ban
phước lành cho từng thành viên. Ngài nói
đại để, “Chúc mừng Việt Nam! Các con sẽ
có ḥa b́nh nay mai.” Ngài nói bằng
tiếng Pháp v́ biết ngôn ngữ này gần gũi
với người Việt. Tiếng Pháp th́ anh hiểu,
nhưng ư nghĩa th́ chưa thống nhất là hai
chữ ‘nay mai’. Sau này khi t́nh h́nh
miền Nam chuyển biến quá nhanh anh mới
hiểu quả chiến tranh có chấm dứt một năm
sau và v́ sao các cha cố không có kế
hoạch di cư di tản như hồi 54 mà ai ở
đâu ở đó v́ Vatican đă nắm được t́nh
h́nh do sự dàn xếp của các phe.
Anh không
bàn tiếp về mặt chính trị nhưng điều anh
muốn chia sẻ với tôi một kẻ ngoại đạo về
ư nghĩa ‘phước lành của giáo hoàng’ đă
ban cho anh. Theo đức tin không lay
chuyển của một tín đồ ngoan đạo th́ đây
là biểu tượng của sự tha tội, dù cho
hoàn cảnh nếu anh có phải chết trong bất
kỳ t́nh huống nào th́ phần hồn của anh
coi như đă được thánh sạch mà người ta
thường gọi là ‘chết lành’. Bảo sao trong
những ngày được gần anh tôi thấy anh t́m
được sự b́nh an và không ám ảnh v́ sợ
chết trong trại hay bỏ thân trên đất bắc
như đa phần anh em tụi tôi.
Anh vốn
kín tiếng, không thích bàn chuyện chính
trị, chỉ khi nào tôi khơi chuyện này ra
th́ anh mới mở miệng than thở, “chú biết
không, người Việt ḿnh ít khi nghĩ đến
chuyện thống nhất, mà hay coi nhau như
những kẻ nội thù. Từ ngày huyền thoại
năm mươi trứng theo cha lên núi, năm
mươi con theo mẹ ra khơi, rồi tích cổ
Sơn Tinh, Thủy Tinh đất tràn núi lở, mẹ
Việt Nam có lúc nào yên. Đến khi đi vào
chính sử th́ Lư Trần lại thanh toán
nhau, Trịnh Nguyễn xua đuổi nhau, Nam kỳ
Bắc kỳ chia rẽ nhau, cuối cùng quốc gia
cộng sản tiêu diệt nhau để ba mươi năm
nội chiến từng ngày, kết cuộc bây giờ
anh em ḿnh con cháu ḿnh lănh hậu quả
âu cũng là do vận nước!” Ngồi nghe anh
như đang lên lớp, muốn chảy nước mắt v́
thấy chí lư, nhưng cũng chỉ là những
khoảnh khắc rất hiếm hoi ít khi anh mở
lời thêm.
Một hôm
chia cơm xong, anh được quản giáo thông
báo chiều nay lên gặp cán bộ Trại, thời
gian làm việc có thể kéo dài ít ngày,
anh Tê khâu củi tạm thời thay thế khâu
cơm. Nh́n nét mặt tôi thấy anh có phần
biến sắc, anh chỉ cho tôi mấy công đoạn
chia cơm, rồi bỏ về lán. Bữa trưa hôm đó
anh bỏ ăn. Măi đến hết giờ lao động khá
lâu anh mới trở về từ phía Ban chỉ huy
trại. Một tay cầm tập giấy đựng trong
b́a cứng, có vài cây bút. Một tay sách
một cái gói tựa như gói quà tiếp tế. Ăn
xong phần cơm chiều, họp tổ xong, cũng
vẫn góc tối, thay v́ học nhạc anh bảo
tôi tạm nghỉ ít hôm. Anh mở cái túi
sách, trong đựng một gói trà búp, một
bánh thuốc lào và kư đường trắng. Anh
không biết hút, anh bảo tôi chia đều số
thuốc lào cho đội nhà bếp, trà pha uống
chung, c̣n đường anh với tôi mỗi người
một lạng, chỗ c̣n lại nhờ tôi chuyển cho
mấy anh đang bị ốm bên đội khác. Tôi
tưởng anh được tiếp tế, v́ đă có tiền lệ
này đối với vài anh em có người thân đi
cách mạng, nhưng anh nói ngay có cán bộ
ở Cục về làm việc, họ bồi dưỡng cho anh
để khai báo cho tốt. Khai báo điều ǵ
anh không nói, nhưng coi bộ nghiêm
trọng, phải động năo và kéo dài nhiều
ngày.
Cán bộ Cục
quay về Hà Nội hẹn khai xong họ sẽ
xuống, trước khi về họ trao cho anh xem
hai tấm h́nh khổ lớn, một chụp chung với
vợ con, một chụp chung với viên cố vấn
Mỹ. Anh nhận ra ngay hai tấm h́nh để nơi
văn pḥng của anh, khi Dương Văn Minh
kêu gọi buông súng anh chưa kịp thu dọn.
Họ giữ lại một tấm, trao lại tấm h́nh vợ
con cùng khuyên anh khai báo cho tốt để
có dịp về sum họp với 'chị và các cháu'.
Tôi biết anh quí nhất là bức h́nh, anh
định cất ngay vào tập giấy, nhưng tôi
lại đ̣i xem (về sau mới thấy ḿnh vô
duyên). Nh́n h́nh phải công nhận chị
đẹp, ba cháu kháu khỉnh có thể chụp đă
khá lâu, nay bỗng trở thành vật đánh
cược cho một cuộc khai báo. Anh cũng
được cán bộ trấn an là chuyện của anh có
tội là với đảng với nhân dân, không ảnh
hưởng ǵ đến vợ con anh.
Mấy tuần
sau anh âm thầm làm việc, cứ cuối tuần
anh lên nộp
‘bài’,
lấy thêm giấy về viết tiếp, viết ǵ vẫn
không nói. Những bữa sau trông anh có vẻ
thoải mái hơn mấy bữa đầu, thấy anh vui
tôi nhắc khéo anh khai báo cho lẹ c̣n về
chia cơm chứ tôi nhắm bộ không kham nổi,
mấy bữa phát chậm bị kiểm điểm xém ra
khỏi nhà bếp. Sau này xong công chuyện,
anh mới cho tôi hay là lẽ ra có thể xong
sớm hơn, nhưng cán bộ họ hay nghi ngờ
sớm quá không nên mà trễ quá họ cũng
biết, tốt hơn cứ câu giờ thêm ít ngày
vừa được coi là thành khẩn, lại được
nghỉ lao động.
Cán bộ Cục
xuống nhận bài, hỏi thêm ít chi tiết,
biểu dương anh về thái độ cộng tác, c̣n
cho biết thêm họ mới ghé thành phố HCM
gặp vợ con anh, chị và các cháu sinh
hoạt tốt, có nhắn anh học tập tốt để mau
về sum họp với gia đ́nh. Nội dung khai
báo dù thân t́nh anh vẫn không tỏ lộ cho
tôi, bản thân tôi cũng chẳng muốn t́m
hiểu, nhưng cứ theo sơ yếu lư lịch khi
đọc ở tổ th́ anh đă có thời làm công tác
t́nh báo chiến lược từ hồi Pḥng nh́ của
Pháp chuyển sang quân đội miền Nam sau
này nên anh phải biết nhiều về các mạng
lưới t́nh báo kể cả các đường dây ăn ra
Bắc, chắc Hà nội họ muốn kiểm chứng qua
cá nhân để bảo đảm phù hợp với những
thông tin trên tài liệu, nhất là thời
gian hợp tác với Mỹ. Thật sự chiến tranh
nay đă chấm dứt, chuyện cảnh giác là
phần của họ chứ về cơ sở hoạt động th́
đă giải tŕnh giải thể từ lâu, v́ vậy mà
tôi thấy anh không có ǵ căng thẳng khi
khai báo, nhưng nh́n nhận anh có trí nhớ
dai viết ǵ mà cả mấy chục trang mỗi
ngày và càng phục anh trông hiền lành mà
có thời đă làm trùm quân báo!
Chúng tôi
ở nhà bếp không lâu, mấy tháng sau do
t́nh h́nh biên giới căng thẳng, các trại
viên được tái thanh lọc để chuẩn bị cho
các đợt di chuyển xuống miền xuôi. Anh
em tôi thuộc diện trọng điểm được giao
cho công an Vĩnh Phú và trở thành ‘phạm
nhân’ cứ theo lối xưng hô khi báo cáo
xuất nhập trại của các đội trưởng lao
động khi về trại mới. Được biên chế theo
tuổi tác, anh về đội tăng gia trồng chè,
tôi về đội cầy làm ruộng, hai anh em
chấm dứt sinh hoạt chung. Khi các đồi
chè đến kỳ thu hoạch th́ anh Thụ lại có
duyên với củi lửa được giao đứng bếp sao
chè, số lượng chè búp sao xong bán cho
hợp tác xă mang lại nguồn lợi nhuận khá
lớn cho trại. Mấy năm đầu, anh cũng ấm
thân do được bồi dưỡng đúng mức, nhưng
về lâu về dài anh bị mất sức v́ đứng
liên tục bên ḷ có lúc gặp thời vụ cả
chục tiếng mỗi ngày. Bàn tay gầy guộc
lại phải xoa đều trên chảo gang với ánh
lửa liu riu, đông cũng như hè làm cho
người khô da héo ăn uống dù được suất
cơm trắng với chút mỡ heo nhưng nuốt
cũng không trôi. Cán bộ trại họ lại tin
anh, vừa thật thà vừa tay nghề quen,
giao cho h́nh sự th́ sợ ăn cắp v́ chè
búp là vật dễ đổi chác lấy thuốc lào và
thực phẩm. Anh bạn tôi lại ít nói, ngại
phàn nàn nên thân tù cứ tiếp tục bị khai
thác, chính vậy mà khi ngă bịnh dễ mất
mạng sau này.
Chuyện ǵ
đến nó phải đến, một hôm tôi nghe phong
phanh anh lên nằm bệnh xá. Gọi là bệnh
xá, nhưng không có y sĩ, thuốc trị xuyên
tâm liên và thuốc nam là chính, nhưng có
một y tá giúp việc gốc trợ y người cùng
phe ta thường liên lạc trao đổi thuốc
men giữa ṿng anh em, nên cứu được nhiều
người, nặng nhất là hai bệnh kiết lỵ và
sốt vàng da thường có số tử vong khá cao.
Anh rơi vào bệnh kiết lỵ, tuy ăn uống
rất cẩn thận, ít khi cải thiện linh tinh
như tụi tôi, nhưng do ruồi muỗi hoặc
thực phẩm của trại th́ số trời kêu ai
nấy dạ. C̣n may cho anh, nhờ anh em
thương mến đă gởi thuốc cho nên cơn bệnh
có dứt sau gần hai tuần lễ nhưng người
gầy đét v́ mất nước mất sức.
Một buổi
sáng trong giờ khám bệnh từng đội, tôi
được anh y tá dúi cho mảnh giấy nhầu nát.
Lao động về tôi dở ra coi th́ có mấy
ḍng nguệch ngoạc viết theo kiểu như
điện tín, “chú Tê/ anh mới bị kiết lỵ/
rất thèm đường/ chú gởi cho anh/ cám ơn
chú”. Đây cũng là điềm lạ v́ anh vốn khí
khái không bao giờ chịu xin của ai, anh
em nào có quà cáp mời anh chỉ ăn một
chút lấy thảo, không bao giờ nhận thêm.
Anh đúng là có căn tu hay sống ép ḿnh,
khác hẳn với đám chúng tôi kiếm được thứ
ǵ cũng cho vào bụng cốt để mưu sinh.Tôi
như sởi tấm ḷng v́ được anh tin yêu,
vội gói ghém ít đồ chuyển lén cho anh
yên chí anh sẽ sớm b́nh phục.
Nhưng
chuyện đời khó đoán, ít ngày sau anh
vĩnh viễn ĺa đời. Qua y tá kể lại anh
nhờ nhắn về gia đ́nh ‘anh chết lành’.
Nhóm từ này đối với tôi không có ǵ xa
lạ v́ nó là đức tin bất biến của anh,
nhưng cứ làm tôi trăn trở theo lối suy
nghĩ đời thường khi thấy một người có
ḷng, đạo đức trong lối sống lại phải bỏ
thân trong chốn lao tù. Tấm h́nh chụp
với chị và ba cháu nghe nói anh đă ôm
vào ḷng trước lúc tắt hơi, âu cũng là
chút an ủi cho một người mà tôi biết
chắc luôn lấy gia đ́nh làm t́nh yêu,
niềm tin là lẽ sống. Cứ tiếc một điều
nếu đừng bỏ anh em đi sớm th́ chỉ ít lâu
sau chúng tôi lại cùng nhau đáp chuyến
xe lửa quay ngược về nam, cũng con tàu
bít bùng với chiếc c̣ng hai người chung
một, nhưng lần này sẽ đưa anh qua vùng
đất Quảng và nhiều cơ may được nh́n mặt
vợ con anh.
Đỗ Xuân
Thảo