Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Sàig̣n  

 

 

 

 Nhận định:    Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Sàig̣n  ” của Ts Nguyễn Tiến Hưng

là một trong những bài viết tỏ rơ suy tư của một tên gà mờ.

Ông ta cố biện bạch cho quyền lợi nước Mỹ, mà quyền lợi ǵ mới được ?

Cái nh́n chính xác là v́ quyền lợi của Do Thái mà thôi.

Bọn Do Thái cầm đầu nước Mỹ, cai trị nước Mỹ rất dă man, khai thác dân Mỹ như người ta khai thác chó lợn.

Lính Mỹ đi đánh khắp nơi để giết kẻ thù của Do Thái. Đồng minh của Mỹ (như Việt Nam Cộng Ḥa) bị Do Thái đem bán cho địch. 

Dân Mỹ bị Do Thái giết rồi đổ lỗi cho Bin Laden, Saddam Hussein, khiến mấy thằng Tổng Thống Mỹ ngu ngốc đem quân Mỹ đi đánh giết các quốc gia Á Rập kẻ thù của Do Thái.

 Anthrax Terrorist

Nước nào có lợi v́ sự suy thoái kinh tế của Hoa Kỳ ?

ChiếnLược  HOAKỲ  vn  TRUNGQUỐC

 

Xin ông Tiến Sĩ Cà Chớn vui ḷng chấm dứt làm tay sai cho Do Thái dă man. 

Trân trọng,

Bùi Như Hùng

2010

buinhuhung@hotmil.com

  

 

 

 

 

Sách mới của Gs. Nguyễn Tiến Hưng:

  “Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Sàig̣n”(2)
 

Chuyện Mật TRONG CHUYẾN ĐI BÍ MẬT

Trên cột báo này, những ngày qua có loạt bài về trận chiến mới giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.  Nhân Tháng Tư đang tới,  xin cùng nh́n lại trang sử cũ của chính chúng ta, khi Hoa Kỳ dùng Việt Nam làm bàn đạp để nói chuyện với Trung Quốc. Rồi cho bàn đạp này tuột xuống biển đỏ.
Bài viết sau đây trích từ  cuốn sách mới của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng -tác giả “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập” và “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”- đề cập tới những đổi chác của Tổng thống Richard Nixon khi cần bắt tay Trung Quốc. Hoặc nói như Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng: "Mở cửa Bắc Kinh, Đóng cửa Sàig̣n".
H́nh bên: Kissinger-Chu Ân Lai


Kissinger đi Tầu
Cuộc du hành được quyết định vào các ngày 9-11 tháng 7, 1971. Để đánh lạc hướng báo chí, trước khi lẻn đi Bắc Kinh ông lại bay vào Sàig̣n, lư do chính thức là để thăm viếng Tổng Thống Thiệu nhưng thật ra là để vận động thay ông Thiệu trong cuộc bầu cử Tổng Thống sắp tới. Tại Sàig̣n lúc ấy việc chuẩn bị bầu Tổng Thống đang gặp khó khăn giữa các ứng cử viên. Tốt đẹp nhất cho Kissinger là nếu ông Thiệu thất cử kỳ này là xong chuyện, khỏi phải mật đàm về   giải pháp chính trị  . Bởi vậy, Kissinger đi gặp đủ mặt các chính trị gia ở Sàig̣n, kể cả Tướng Dương Văn Minh. Nhưng kết quả là ông Thiệu cứ tranh cử dù là độc diễn.
Trong chuyến Bắc Kinh đầu tiên này, ta tạm gọi là Bắc Kinh I, dù mục đích chỉ là để sắp xếp cho chuyến đi của Nixon, Kissinger lại làm thêm việc là thông báo cho Bắc Kinh nhượng bộ ở Paris (ngày 31 tháng 5, 1971). Đây là cơ hội tốt để ông rỉ tai cho Chu Ân Lai biết lập trường thực sự của ông, nhờ cậy Trung Hoa giúp đỡ. Ông tiết lộ với họ Chu hai điểm:
* Thứ nhất, "Chúng tôi sẽ rút quân đơn phương".
Hai mươi bẩy năm sau khi Miền Nam sụp đổ, ngày 28 tháng 2, 2002, tờ New York Times tiết lộ một sự kiện động trời: Biên bản buổi họp giữa Chu Ân Lai và Kissinger ngày 9 tháng 7, 1971, ghi nhận Kissinger đích thân nói cho họ Chu biết: "Thương thuyết hay không thương thuyết với Bắc Việt, sớm muộn ǵ chúng tôi cũng sẽ rút quân - đơn phương."
 Khi được hỏi về chuyện này, ông Stanley Karnow, một sử gia có tiếng về Việt Nam, đă nói: "Đơn phương là điểm chính yếu, và đó là điều mới mẻ đối với tôi." Ông Karnow kết luận rằng lập trường trước sau của Hoa Kỳ về việc rút quân vẫn là cả hai bên đều phải rút.
Mới đây, lại có những tài liệu giải mật về chuyến đi này. Trong buổi họp ngày 9 tháng 7, 1971 với Chu Ân Lai, Kissinger nói rất rơ ràng (xem phụ lục):
"Thay mặt Tổng Thống Nixon, tôi muốn thông báo hết sức trịnh trọng để Thủ Tướng hay rằng, trước hết, chúng tôi sẵn sàng rút quân hoàn toàn khỏi Đông Dương và ấn định ngày giờ rút, nếu có một cuộc ngưng bắn và phóng thích tù binh của chúng tôi (gạch dưới cho tác giả). Thứ đến, chúng tôi sẽ để mặc cho t́nh h́nh chính trị ở Nam Việt Nam diễn biến và để cho người Việt tự giải quyết với nhau."
Kissinger c̣n bảo đảm với họ Chu rằng: "Chúng tôi sẽ không tái nhập Việt Nam và sẽ tôn trọng tiến tŕnh chính trị." Ông luôn nói tới một   Tiến tŕnh chính trị  ,   tiến tŕnh lịch sử  , hay   diễn biến chính trị   tất cả đều chỉ có một ư nghĩ là bắn tin cho đối tác biết rằng cứ để cho việc ǵ phải đến th́ nó sẽ đến, tức là chính phủ Miền Nam sẽ bị gạt đi.
* Thứ hai, "Chúng tôi chỉ cần một thời gian chuyển tiếp".
Nhưng   tiến tŕnh chính trị   ấy đ̣i hỏi một thời gian coi cho được. Bởi vậy, ngay hôm sau, ngày 10 tháng 7, 1971, ông minh xác với ông Chu:
"Điều chúng tôi cần là một khoảng thời gian chuyển tiếp giữa sự rút quân và diễn biến chính trị. Không phải là để chúng tôi có thể trở lại, nhưng là để cho dân tộc Việt Nam và các nơi khác ở Đông Dương tự quyết định lấy số phận của  ḿnh... Tôi đă nói với Thủ Tướng ngày hôm qua, và tôi muốn nhắc lại rằng, nếu sau khi quân đội Mỹ rút lui hoàn toàn, mà các dân tộc Đông Dương thay đổi chính quyền của họ, chúng tôi sẽ không can thiệp."
Ông Kissinger luôn luôn chối rằng ḿnh đă chỉ sắp xếp với Hà Nội một khoảng thời gian coi cho được   A decent interval   giữa việc Mỹ rút hết quân và việc Miền Nam sụp đổ. Như vậy là bây giờ th́ lịch sử đă có đủ bằng chứng là ông đă nói dối. Trong phiên họp ngày hôm trước, ông c̣n cố gắng thuyết phục họ Chu:
"Lập trường của chúng tôi là không duy tŕ một chính quyền nào ở Miền Nam, và nếu chính quyền Nam Việt Nam không được nhiều người ưa thích như ông nghĩ th́ sự rút quân càng nhanh bao nhiêu, chính quyền ấy càng bị lật đổ mau lẹ bấy nhiêu. Và nếu nó bị lật đổ sau khi quân đội chúng tôi đă rút đi th́ chúng tôi sẽ không can thiệp nữa."
Ngày 15 tháng 7, 1971, từ Bắc Kinh về, Kissinger báo cáo về chuyến du hành cho Nixon: "Hậu quả (chuyến đi của tôi) đối với cuộc chiến Việt Nam có thể rất sâu xa. Khi tôi từ giă, ông Chu đă chúc tôi mọi sự tốt lành trong việc ḥa đàm. Mặc dù tôi không tin rằng các lănh đạo Trung Hoa có thể hay sẽ làm được ǵ nhiều để giúp đỡ trực tiếp, chuyến đi của tôi sẽ là một thất bại lớn cho Hà Nội."
Nixon hết sức vui mừng. Hai ngày sau, ngày 15 (hay 17?) tháng 7, 1971 tại đài truyền  h́nh NBC ở Burbank, California, Tổng Thống Nixon loan báo tin tức quan trọng. Ông tuyên bố sẽ thăm viếng Trung Hoa vào đầu năm tới sắp tới, đồng thời tiết lộ về chuyến đi Bắc Kinh bí mật của Kissinger để thảo luận về cuộc viếng thăm. Lên tivi xong, Tổng Thống và đoàn tùy tùng kéo nhau tới nhà hàng lịch sự Perino để ăn mừng sự kiện lịch sử. Nixon gọi loại rượu Pháp thượng hạng mà ông rất ưa thích, chai Château Lafitte-Rothschild để ăn mừng, mọi người nâng ly chúc tụng. Đây là ngày oanh liệt của cả hai chính trị gia.
Từng Bước Âm Thầm.
Như vậy, tới lúc này là Mỹ đă bằng ḷng nhượng bộ, chấp nhận Hoa Kỳ sẽ rút quân đơn phương và sẽ ấn định ngày giờ sẽ rút. Dĩ nhiên là Bắc Kinh thông tin lại cho Hà Nội. Tuy nhiên việc   ấn định ngày giờ để rút   cũng chưa rơ ràng, và Hà Nội chưa chấp nhận. Tại mật đàm Paris, ông Xuân Thủy vẫn đ̣i Hoa Kỳ phải chỉ định rơ ràng một hạn chót là bao lâu để rút hết quân, và hạn chót này không có liên hệ ǵ tới bất cứ khía cạnh nào khác của cuộc đàm phán.

* OK, chúng tôi sẽ rút hết quân trong ṿng 9 tháng.
Chỉ một tháng sau khi ăn mừng tin vui từ Bắc Kinh, cánh cửa vào Sàig̣n lại đóng thêm một nấc. Ngày 16 tháng 8, 1971, ông Kissinger bí mật đưa ra một đề nghị mới về ḥa b́nh. Trong hồi kư, ông chỉ nói lơ mơ về cuộc họp này, không đá động ǵ tới vụ   9 tháng   nhưng chúng tôi đă t́m ra được chứng cớ trong một tài liệu ít người để ư, TT Nixon hằng năm phải báo cáo cho Quốc Hội về lănh vực ngoại giao, chính ông đă tiết lộ rằng ngày hôm ấy, ông Kissinger đă đề nghị (như để đáp lại sự lo ngại của ông Xuân Thủy). (10) -không thấy số (9)-
- Triệt thoái toàn bộ quân đội Mỹ và Đồng Minh trong ṿng 9 tháng kể từ ngày kư hiệp định; bởi vậy,
- Nếu chịu kư hiệp định vào ngày 1 tháng 11, 1971 th́ ngày chót để rút hết toàn bộ là ngày 1 tháng 8, 1972.
(Ghi chú: Như vậy, ta thấy lẽ ra Hiệp định Paris đă kết thúc vào ngày Quốc Khánh VNCH năm 1971 chứ không phải tháng 1, 1973).

* Rút Quân: Từ 9 tháng giảm xuống c̣n 7 tháng.
Nhưng giảm xuống 9 tháng cũng chưa đủ. Theo Tổng Thống Nixon th́ "Tại cuộc họp ngày 13 tháng 9, 1971, Hà Nội bác bỏ đề nghị của chúng ta v́ hai lư do: thứ nhất, thời gian (9 tháng) là quá lâu, và Hoa Kỳ không định nghĩa thế nào là rút đi toàn bộ; và thứ hai, họ cho nguyên tắc giải quyết vấn đề chính trị là chưa đầy đủ." (11)
Bởi vậy, ngày 11 tháng 10, 1971, theo chỉ thị của ông Kissinger, Tướng Vernon Walters đem ra một đề nghị mới, theo đó thời gian rút quân được giảm từ 9 xuống 7 tháng, và việc rút quân được định nghĩa chi tiết hơn: "Tất cả quân đội Hoa Kỳ và Đồng Minh, trừ một số nhỏ cần thiết cho những công tác kỹ thuật và tiếp liệu sẽ rút hết vào ngày 1 tháng 7, 1972 nếu hai bên kư một lời tuyên bố trên nguyên tắc vào ngày 1 tháng 12, 1971." (gạch dưới là do tác giả) (12)

* Từ 7 tháng xuống 6 tháng.
Trước khi đi Bắc Kinh vào những ngày 21-28 tháng 2, 1972, Tổng Thống Nixon lên tivi tiết lộ việc ông Kissinger bí mật ḥa đàm với Hà Nội từ 1969, đồng thời tuyên bố một đề nghị ḥa b́nh mới. Điều quan trọng của đề nghị là thời gian rút quân của Hoa Kỳ được ấn định là 6 tháng. Đâu có ai biết là từng bước từng bước âm thầm, Hoa Kỳ đă rút quân đơn phương, rồi đặt ra thời hạn là 9 tháng, sau đó, rút xuống 7 tháng, và bây giờ là 6 tháng?

* Giảm xuống thành 4 tháng.
Ngày 8 tháng 5, 1972 trước khi đi họp thượng đỉnh ở Moscow, Tổng Thống Nixon lên tivi đưa ra một đề nghị mới là quân lực Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Miền Nam Việt Nam trong ṿng 4 tháng và chỉ với hai điều kiện, đó là ngưng bắn và trao trả tù binh.

* Sau cùng là 2 tháng.
Ngày 8 tháng 10, 1972 là ngày lịch sử của mật đàm (xem chương sau). Trong buổi họp mật ở Paris, ông Lê Đức Thọ đề nghị một thời gian là 2 tháng. Như vậy là dung ḥa: 4 tháng chia đôi là 2 tháng. Ông Kissinger liền vui vẻ chấp nhận. Tới đây th́ vấn đề căn bản về rút quân coi như đă được giải quyết hoàn toàn.
Kỳ tới: Kịch bản ba bước đẩy VNCH xuống hố

NGUYỄN TIẾN HƯNG

[HOATUDO] Sách mới của Gs. Nguyễn Tiến Hưng: “Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Sàig̣n”(2)‏
From: hoatudo@yahoogroups.com on behalf of My-Loan (tmyloan@gmail.Com)
Sent: April 8, 2010 6:12:48 AM
To: Hoa Tu Do (hoatudo@yahoogroups.com)
Cc: tmyloan@gmail.com
 
Attachments: 1 attachment
  image001.gif (104.2 KB)

 

Gs. Nguyễn Tiến Hưng: “Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng Cửa Sàig̣n”(3)

Kissinger Và 3 Bước Chôn Sống VNCH

Tổng Thống Nixon hết sức tự hào về chuyến viếng thăm Trung Hoa của ông bắt đầu từ ngày 21 đến 28 tháng 2, 1972, một tuần lễ mà ông gọi là "Tuần lễ thay đổi cục diện thế giới" (The week that changed the world). Đối với Miền Nam th́ thay đổi thật, v́ trong dịp này, Nixon đă nói với ông Chu Ân Lai: "Nếu tôi ngồi đối diện với bất cứ ai là nhà lănh đạo của Bắc Việt, và nếu hai bên có thể thỏa hiệp ngưng bắn và hoàn trả các tù binh chiến tranh (POWs) của chúng tôi, th́ tất cả quân đội Hoa Kỳ sẽ rút khỏi Việt Nam trong ṿng sáu tháng kể từ ngày ấy." (13)
Như vậy rơ ràng là Nixon đă tiết lộ ông sẵn sàng rút quân khỏi Việt Nam chỉ cốt đổi lấy việc trao trả tù binh và một cuộc ngưng bắn. Và ông chỉ viết có vậy. Nhưng những điều ǵ mà Nixon không viết trong hồi kư về cuộc họp này th́ rút cuộc cũng đă lộ ra hết.
* "Sẽ không để lại
cái đuôi nào ở Việt Nam."
Theo tài liệu mới giải mật th́ trong buổi họp làm việc đầu tiên với phía Trung Hoa tại Bắc Kinh (ngày 22 tháng 2, 1972), Tổng Thống Nixon đă nói thẳng thừng về ư định của ông là rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam mà không để lại một "cái đuôi"  (lực lượng tàn dư - residual force):
"Chúng tôi đă tự nguyện rút hết quân mà không để lại cái "đuôi" nào - như lời ông Thủ Tướng đă nói - và chúng tôi sẽ có ngưng bắn trên toàn cơi Đông Dương miễn là chúng tôi lấy lại được tù binh. Sau đó, chúng tôi sẽ để cho dân chúng ở đó tự ḿnh quyết định lấy (mọi việc)."
["We have offered to withdraw all Americans, with no   "tail"  behind -to use the Prime Minister's expression- and you have a ceasefire throughout Indochina provide we get our prisoners back. Then we would let the decision be made by the people there."]
Trường hợp ở Đại Hàn sau cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng như ở Âu Châu sau Thế Chiến II, sau bao nhiêu chục năm và cho tới ngày nay, Hoa Kỳ vẫn đóng lại một lực lượng tượng trưng. Chính Tướng Creigton Abrams, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ ở Việt Nam, cũng luôn nói là sẽ có một "residual force" đóng tại Miền Nam khoảng 25.000 người cộng với số nhân viên tiếp vận. (14) Tổng Thống Thiệu cũng luôn hy vọng là sau cùng th́ Mỹ sẽ để lại một lực lượng nhỏ giống như ở Đại Hàn. Sau này, Tướng Abrams đă phải phàn nàn về việc Hoa Kỳ đă bỏ đi lập trường từ bao nhiêu năm như vậy.
Nixon cũng than phiền về việc Bắc Việt cứ... "khăng khăng đ̣i chúng tôi giải quyết không những vấn đề quân sự mà c̣n muốn chúng tôi phải áp đặt một tương lai chính trị bằng cách triệt bỏ chính quyền hiện tại và áp đặt một chính quyền do họ lựa chọn. Điều này chúng tôi không thể làm được v́ vừa rút quân vừa thông đồng với phía địch để lật đổ một đồng minh th́ từ nay không quốc gia nào sẽ tin cậy Hoa Kỳ nữa." Rồi dường như muốn nhắn nhủ Hà Nội, Nixon thêm: "Chúng tôi sẽ không ra đi mà không có một hiệp định." Phải có một hiệp định th́ mới có thể ra đi trong danh dự.

* "Tôi đang gỡ bỏ
cái nhức nhối này đi."
Bây giờ việc Hoa Kỳ giao hảo với Trung Hoa mới là chính yếu, và Việt Nam đă trở thành một chướng ngại vật trong cuộc giao hảo, Nixon cam đoan với ông Chu, lại c̣n đổ cho tiền nhiệm là Tổng Thống Johnson là người đă mang quân vào Việt Nam, c̣n ông mới là người rút quân đi:
"Chúng ta có thể rất thành thật trong buổi nói chuyện này... Tôi muốn cam đoan với Thủ Tướng rằng tôi đang gỡ bỏ cái nhức nhối này đi, nhanh chóng nhất như một người ở địa vị tôi có thể làm được. Vị tiền nhiệm của tôi gửi 500.000 quân sang Việt Nam. Tôi đă rút đi 500.000 quân. Việc tôi sẽ chấm dứt sự can dự của Hoa Kỳ chỉ là vấn đề thời gian. Về điểm này tôi có thể nói chắc chắn với Ngài như vậy."
["We can be very honest in this conversation... I want to assure the Prime Minister I am removing this irritant as fast as anyone in my position could. My predecessor sent in 500,000 men into Vietnam, I;ve taken 500,000 out. I will end American involvement.   it's matter of time. I can speak with certainly on this point."]
Đúng là chỉ c̣n vấn đề thời gian để rút nốt số quân c̣n lại, với điều kiện duy nhất là Hà Nội phải kư một hiệp ước. Nixon nói: "Tất cả những điều chúng ta đang nói thật ra chỉ làm sao là liệu có thể giúp cho tiến tŕnh mau lẹ hơn, không phải bằng cách chúng tôi hấp tấp rút quân mà bằng một hiệp định."
Đó là những chuyện đă xẩy ra tại Bắc Kinh, nhưng về tới Washington, TT Nixon lại tiếp tục trấn an ông Thiệu v́ cần phải làm như vậy để ông Thiệu khỏi công khai phản ứng. TT Nixon liền viết cho TT Thiệu (ngày 2 tháng 3, 1972) cam đoan: "Chúng tôi không có thương lượng bất cứ điều ǵ sau lưng những người bạn của Hoa Kỳ; đă không có thỏa thuận bí mật nào hết." ["We negotiated nothing behind the backs of friends of the United States; there was no secret deals."]
Để cho có trọng lượng, Nixon c̣n khẳng định: "Ngài có thể tin chắc là tôi sẽ làm mọi cách trong quyền hạn của tôi để bảo đảm rằng sự hy sinh to lớn của hai dân tộc Việt-Mỹ sẽ không bị uổng phí..." ["You may be certain that I will do all in my power to insure that the enormous sacrifice of the Vietnamese and American peoples do not come nothing."] Đây là những lời tâm huyết, dựa trên xương máu mà quân đội Mỹ-Việt đă đổ trên chiến trường. Đó là một đề tài mà Nixon sẽ nhắc đi nhắc lại trong những thư từ tiếp tục trao đổi với ông Thiệu.

Vận động với ông Andrei Gromyko.
Chiến lược mới của Hoa Kỳ gồm ba mũi: Ḥa hoăn với Liên Xô, khai thác những mâu thuẫn Nga-Hoa, và b́nh thường hóa quan hệ với Trung Hoa. Bởi vậy, đang khi lôi kéo Trung Hoa vào một quan hệ có tính cách xây dựng và rút lui khỏi chiến trường Việt Nam, Nixon cũng muốn nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô để thuyết phục Bắc Việt.
Trong những ngày 20 tới 25 tháng 4, 1972, đang khi Quân Lực VNCH nỗ lực đẩy lui cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt vào dịp Lễ Phục Sinh (Easter Offensive) - Mùa Hè Đỏ Lửa của miền Nam - th́ ông cử Kissinger bí mật sang Moscow. Nixon đă chỉ thị Kissinger đ̣i cho bằng được một sự thỏa hiệp với Brezhnev về Việt Nam như một điều kiện tiên quyết để thảo luận về bất cứ vấn đề ǵ trong cuộc họp thượng đỉnh sắp tới. "Sẽ không có thỏa ước nào cho đến khi Moscow thuyết phục được Bắc Việt chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết."
Lệnh là như vậy nhưng Kissinger lại xin xỏ.
Trong các cuộc hội đàm mật với Brezhnev tại Dom Pryomov, nhà khách chính phủ trên đồi Lênin nh́n xuống sông Moscow, Kisinger lại không cứng rắn như chỉ thị của Tổng Thống mà lại nhờ cậy Nga Xô đề nghị với Bắc Việt một loạt nhượng bộ của Hoa Kỳ (sau này sẽ trở thành căn bản của Hiệp Định Paris tháng Giêng 1973). Kissinger nói với Brezhnev rằng Hoa Kỳ bằng ḷng chấp nhận một cuộc ngưng bắn tại chỗ để đổi lấy việc Bắc Việt rút quân, nhưng chỉ rút những lực lượng vừa mới xâm nhập vào Miền Nam kể từ khi có cuộc tấn công bắt đầu ngày 31 tháng 3 (gạch dưới là do tác giả) c̣n những lực lượng nào đă xâm nhập vào Nam trước cuộc tấn công, ước lượng khoảng 200.000 người, sẽ có thể ở lại.
Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ đă minh thị thỏa thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại Miền Nam. V́ trước đó, Hoa Kỳ chỉ nói tới đồng ư là Mỹ sẽ rút quân đơn phương chứ chưa nói rơ là quân đội Bắc Việt được quyền đóng ở lại. Thí dụ như cho tới ba tháng trước đó, ngày 25 tháng 1, trong kế họach Tám Điểm trước khi đi Bắc Kinh, Tổng Thống Nixon vẫn c̣n dùng lời lẽ mơ hồ nói về cuộc rút quân: Hoa Kỳ kêu gọi "các lực lượng ngọai nhập (hay 'nước ngoài'  foreign troops) rút khỏi Đông Dương". Từ ngữ "ngoại nhập" tuy là mơ hồ nhưng nó cũng có thể được giải thích là bao gồm cả quân đội Bắc Việt (nghĩa là từ bên ngoài xâm nhập vào Miền Nam Việt Nam).
Ngày 21 tháng 4, 1972, Kissinger nói với Brezhnev: "Chúng tôi có hai mục tiêu, thứ nhất là thể hiện một cuộc rút quân toàn bộ trong danh dự, và thứ hai là đặt để một khoảng thời gian giữa việc rút quân và tiến tŕnh chính trị sau đó."
Như vậy, Hoa Kỳ lại gởi một thông điệp dứt khoát cho Hà Nội, lần này là qua ngả Moscow.
Sau chuyến đi này, Kissinger tháp tùng Nixon đi dự hội nghị thượng đỉnh ở Moscow. Trong dịp này, Kissinger tỏ ra rất cởi mở và đề cập tới một "tiến tŕnh lịch sử" sẽ khai triển sau khi Mỹ rút quân. Ông hay thích dùng cụm từ "tiến tŕnh lịch sử" hay "diễn biến" với ư nghĩa là để mặc cho người Việt Nam tự thương thảo với nhau theo nguyên tắc "dân tộc tự quyết" không có sự can thiệp của Mỹ.
Mời độc giả theo dơi tài liệu mới giải mật (2005) về cuộc đàm thoại giữa ông Kissinger và Ngoại trưởng Liên Xô Gromyko (15):
-issinger: "Người Việt miền Bắc là một dân tộc anh hùng và về bản thân rất quyến rũ. Mặc khác họ không muốn tin vào một tiến tŕnh lịch sử. Họ muốn mọi việc đều được viết ra trên giấy trắng mực đen và ngay bây giờ... Tôi nghĩ rằng sự diễn biến t́nh h́nh c̣n quan trọng hơn là những sự thỏa hiệp. Nếu Bắc Việt khôn ngoan -tôi xin nói t́nh thật- th́ giờ đây họ nên thỏa hiệp với chúng tôi và đừng tranh căi từng chi tiết làm ǵ nữa, bởi v́ một năm sau khi thỏa hiệp sẽ có một t́nh huống mới, một thực tế mới,... Nếu họ không muốn một... thỏa hiệp toàn diện, th́ chúng ta hăy cứ thỏa thuận về một cuộc ngưng bắn, thỏa thuận về việc trao đổi tù binh, và chúng tôi sẽ rút hết quân, rồi để họ thương thảo với Miền Nam về một giải pháp chính trị. Khi đó chúng tôi sẽ cam đoan, ngoại trừ về kinh viện và quân viện, sẽ không nhứng tay vào nữa, chúng tôi sẽ giữ thái độ trung lập trong tiến tŕnh lịch sử."
- Gromyko: "Đôi lúc cảm tưởng của tôi sau khi nghe Tổng Thống và Tiến sĩ Kissinger tŕnh bày về lập trường chính thức của Hoa Kỳ là không thể để cho Việt Nam rơi vào tay một chính quyền Cộng sản hay Xă hội Chủ nghĩa. Điều này là một cái bóng che mờ những lời tuyên bố của các ngài. Có phải sự quan tâm chính yếu của các ngài chỉ là về tính cách của việc chính quyền hay không?"
- Kissinger: "Đó là một câu hỏi hay, được đặt ra bởi những người biết suy luận. Điều chúng tôi muốn nói là chúng tôi sẽ không rút lui theo một cung cách để bào đảm cho Cộng sản chiến thắng. Tuy nhiên, chúng tôi sẵn sàng rút lui để không loại trừ một cuộc chiến thắng của Cộng sản, mặc dầu không có bảo đảm. Tôi không biết sự phân biệt này có ư nghĩa ǵ đối với ông Ngoại trưởng hay không... ngài hiểu ư chúng tôi muốn nói ǵ chứ?"
Điều mà Kissinger muốn nhắn gửi Hà Nội đă rơ ràng: không bảo đảm nhưng cũng không loại trừ một cuộc chiến thắng của Hà Nội.
Đạo diễn những bước để quân đội Bắc Việt tiến vào Sàig̣n.
Cũng theo tài liệu mới giải mật, khi đi Moscow về, trong hai ngày 21 và 22 tháng 6, 1972, Kissinger lại đi Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai để nói rơ hơn về chính sách Hoa Kỳ đối với Miền Nam. (16)

* Ngày 21 tháng 6, 1972: Chỉ cần một thời gian vừa đủ:
Ông Kissinger nói với ông Chu:
"Tôi tin rằng nếu có một khoảng thời gian vừa đủ giữa lúc chúng tôi rút quân và những ǵ xẩy ra sau đó th́ vấn đề gần như chắc chắn có thể khoanh gọn như chuyện nội bộ của Đông Dương. Điều quan trọng là phải có một khoảng thời gian hợp lư giữa thỏa hiệp ngưng bắn và một cơ hội hữu lư để thương thảo chính trị...
Lư luận của tôi là chúng tôi muốn đặt ra một khoảng thời gian giữa kết cuộc quân sự và kết cuộc chính trị. Không ai có thể tưởng tượng được rằng lịch sử sẽ kết thúc ở bán đảo Đông Dương với chỉ một cuộc ngưng bắn."

* Ngày 22 tháng 6, 1972:
Ba bước đi.
Ngay hôm sau, để đánh tan mọi nghi ngờ, Kissinger đă phác thảo một kịch bản theo đó Bắc Việt có thể toàn thắng. Mặc dầu Hoa Kỳ không thể tự ḿnh làm cho điều ấy xẩy ra, nhưng ông nói không úp mở (giải mật ngày 26 tháng 5, 2006):
"Nếu do kết quả của diễn biến lịch sử mà chuyện đó xẩy ra trong một khoảng thời gian th́ nếu chúng tôi sống được với chính phủ Cộng sản ở Trung Quốc, chúng tôi cũng có thể chấp nhận như thế ở Đông Dương."
Ông cũng nhắn qua ông Chu rằng Hoa Kỳ tôn trọng Hà Nội như một "thực thể thường trực" (permanent entity) và có thể là một "thực thể mạnh nhất" trong vùng. Ông thêm: "Và chúng tôi không có ư tiêu diệt hay thậm chí đánh bại họ."
Khi ông Chu hỏi vặn thêm cho rơ hơn, Kissinger thừa nhận rằng Mỹ có thể chấp nhận cho Cộng sản tiếm quyền bằng vơ lực nếu điều này xẩy ra một thời gian khá lâu sau khi Mỹ đă rút lui:
"Nếu nội chiến xẩy ra một tháng sau khi có hiệp ước ḥa b́nh để Mỹ rút quân và trao đổi tù binh th́ Hoa Thịnh Đốn có lẽ sẽ coi đó là một mưu mẹo và sẽ quay trở lại...
Mặc khác, nếu Bắc Việt nghiêm chỉnh thương thảo với Nam Việt Nam và nếu sau một thời gian lâu dài chuyện đó xẩy ra sau khi chúng tôi đă không c̣n can dự nữa th́ theo xét đoán của cá nhân tôi, có rất ít khả năng chúng tôi sẽ quay trở lại, rất ít khả năng."
Như vậy, kịch bản này có ba giai đoạn:
1- Kư kết một hiệp định để Hoa Kỳ triệt thoái trong danh dự;
2- Tôn trọng một khoảng thời gian giữa triệt thoái và sự sụp đổ sẽ xẩy ra (thời gian này phải   coi cho được   chứ không phải là một tháng); và sau đó,
3- Mỹ có thể chấp nhận một chính quyền Cộng sản ở Sàig̣n.

* Cứ đổ cho Miền Nam bất lực là xong chuyện.
Tài liệu mới được giải mật vào tháng 6, 2006 cho ta thấy phần nào cách thức Kissinger đă dùng để thuyết phục Nixon vào màn chót trong thời gian mật đàm. Mời độc giả theo dơi cuộc đàm luận, tính toán giữa hai người tại Ṭa Bạch Ốc ngày 3 tháng 8, 1972 (có ghi âm, xem bản in lại trong chương này):
- Nixon: [Nghe không rơ-các giọng nói trùng nhau] Cần phải có - nếu chúng ta có thể có những bảo đảm rằng họ không... anh biết đấy, xét về tiến tŕnh chính sách ngoại giao, mặc dầu tôi muốn nói, anh phải - Henry, anh cũng phải biết rằng thắng cử là vô cùng quan trọng. Nó vô cùng quan trọng năm nay, nhưng liệu chúng ta có được một chính sách ngoại giao vững bền [nếu] một năm hay hai năm kể từ bây giờ Bắc Việt nuốt trọn Nam Việt? Đó đích thực là vấn đề.
- Kissinger: Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ mà Bắc Việt nuốt trọn Nam Việt, chúng ta vẫn có một chính sách ngoại giao vững vàng nếu điều đó xem như là hậu quả của sự bất lực của Miền Nam. Nếu bây giờ mà chúng ta bán đứng (Miền Nam) ví dụ như trong ṿng ba, bốn tháng, nếu như chúng ta đẩy ông Thiệu xuống - do chính bàn tay chúng ta -  tôi nghĩ rằng sẽ có (hậu quả và) - đến ngay bọn Tàu cũng không ưa như thế. Tôi muốn nói rằng tuy ngoài miệng họ vẫn nói là họ thích như thế.
- Nixon: Nhưng họ sẽ lo ngại.
- Kissinger: Ai cũng sẽ lo ngại điều đó. Và đối nội th́ về lâu về dài, cái đó không có lợi cho ḿnh bởi v́ đối thủ của chúng ta sẽ nói rằng lẽ ra chúng ta đă phải làm chuyện đó từ ba năm trước.
- Nixon: Tôi hiểu.

* Rồi Việt Nam sẽ thành băi hoang vu.
- Kissinger tiếp lời: "Vậy chúng ta phải t́m ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm, sau đó th́ - một năm sau, thưa Tổng Thống, Việt Nam sẽ là một băi hoang vu. Nếu chúng ta kết thúc được, ví dụ, trong tháng 10 này, th́ đến tháng 1, 1974, chẳng ai cần đếch ǵ nữa."
(xin lỗi độc giả nhưng phải dịch như vậy mới đúng tinh thần của câu nói: "So we got to find some formula that holds the thing together a year or two, after which - after a year, Mr President, Vietnam will be back water. If we settle ít, say, this October (1972), by January 74 no one will give a damn.")
- Nixon: "Chúng ta hăy hoàn toàn sắt máu trong chuyện này. Nếu đứng trên quan điểm tṛ chơi của chúng ta với Nga và Tàu mà xét vấn đề, trên quan điểm quản trị xứ sở này, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể, theo ư tôi, làm hầu như bất cứ điều ǵ, nói cho ngay, để bắt ép ông Thiệu. Hầu như bất cứ điều ǵ. Tôi đă đi tới kết luận như thế. Anh biết tôi muốn nói ǵ rồi..."
Nixon nhắc đi nhắc lại câu "hầu như bất cứ điều ǵ" như vậy chắc có ư nói là nếu cần th́ có thể sẽ đảo chính, dẹp cả ông Thiệu đi cho xong. Làm sao ta có thể dung ḥa được những ngôn từ tàn bạo trong cuộc đàm thoại giữa hai người như thế này với những lời lẽ cương quyết thúc giục ông Thiệu "Chúng ta phải tin vào nhau hoàn toàn." trong suốt thời gian có mật đàm (xem chương 14).
Thấy Nixon cứ lo lắng về hậu quả bỏ rơi Miền Nam đối với uy tín của Hoa Kỳ, Kissinger đă thuyết phục thành công: "Chúng ta phải t́m ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó th́... chẳng ai cần đếch ǵ nữa."
V́ sao? V́ lúc ấy "Việt Nam sẽ chỉ c̣n là một băi hoang vu."
Thào nào sau một ngày kư tắt vào bản hiệp định Paris và về tới Washington, Đổng lư Văn pḥng Tổng Thống là John Erlichman gặp Kissinger đứng trước cửa văn pḥng Lincoln trong Ṭa Bạch Cung nên có hỏi:
- "Theo ông, Miền Nam VN có thể tồn tại được bao lâu nữa."
- "Tôi nghĩ rằng nếu họ may mắn th́ được một năm rưỡi." Kissinger đáp.
Bốn năm sau lúc hạ màn, Kissinger vẫn c̣n ngang nhiên viết trong hồi kư - có thể v́ lúc ấy (1979) tất cả mọi chuyện c̣n đang ém nhẹm, chưa có ǵ được giải mật:
"Chúng tôi đă đi t́m không phải chỉ một khoảng thời gian trước khi sụp đổ, nhưng một nền ḥa b́nh lâu dài và danh dự."
NGUYỄN TIẾN HƯNG
(trích sách mới “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” sắp phát hành)

Ghi chú:
(13) Richard Nixon, sđđ, trang 568-568
(14) Nguyễn Phú Đức, sđđ, trang 226
(15) Jeffrey Kimball, December 2003 Newsletter
http://www.shafr.org/newsletter/2003/december/kimball.htm, p.10
(16) Như trên
(17) Henry Kissinger, sđđ, trang 1470.

 

 

 

 

 

Trở lại trang chính BÙI NHƯ HÙNG Homepage