|
Gs. Nguyễn Tiến Hưng: “Mở Cửa Bắc Kinh, Đóng
Cửa Sàig̣n”(3)
Kissinger Và 3
Bước Chôn Sống VNCH
Tổng Thống Nixon hết sức
tự hào về chuyến viếng thăm Trung Hoa của ông bắt đầu từ
ngày 21 đến 28 tháng 2, 1972, một tuần lễ mà ông gọi là "Tuần
lễ thay đổi cục diện thế giới" (The week that changed the
world). Đối với Miền Nam th́ thay đổi thật, v́ trong dịp này,
Nixon đă nói với ông Chu Ân Lai: "Nếu tôi ngồi đối diện với
bất cứ ai là nhà lănh đạo của Bắc Việt, và nếu hai bên có
thể thỏa hiệp ngưng bắn và hoàn trả các tù binh chiến tranh
(POWs) của chúng tôi, th́ tất cả quân đội Hoa Kỳ sẽ rút khỏi
Việt Nam trong ṿng sáu tháng kể từ ngày ấy." (13)
Như vậy rơ ràng là Nixon đă tiết lộ ông sẵn sàng rút quân
khỏi Việt Nam chỉ cốt đổi lấy việc trao trả tù binh và một
cuộc ngưng bắn. Và ông chỉ viết có vậy. Nhưng những điều ǵ
mà Nixon không viết trong hồi kư về cuộc họp này th́ rút
cuộc cũng đă lộ ra hết.
* "Sẽ không để lại
cái đuôi nào ở Việt Nam."
Theo tài liệu mới giải mật th́ trong buổi họp làm việc đầu
tiên với phía Trung Hoa tại Bắc Kinh (ngày 22 tháng 2,
1972), Tổng Thống Nixon đă nói thẳng thừng về ư định của ông
là rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam mà không để lại một "cái
đuôi" (lực lượng tàn dư - residual force):
"Chúng tôi đă tự nguyện rút hết quân mà không để lại cái "đuôi"
nào - như lời ông Thủ Tướng đă nói - và chúng tôi sẽ có
ngưng bắn trên toàn cơi Đông Dương miễn là chúng tôi lấy lại
được tù binh. Sau đó, chúng tôi sẽ để cho dân chúng ở đó tự
ḿnh quyết định lấy (mọi việc)."
["We have offered
to withdraw all Americans, with no "tail" behind -to use
the Prime Minister's expression- and you have a ceasefire
throughout Indochina provide we get our prisoners back. Then
we would let the decision be made by the people there."]
Trường hợp ở Đại Hàn sau cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng
như ở Âu Châu sau Thế Chiến II, sau bao nhiêu chục năm và
cho tới ngày nay, Hoa Kỳ vẫn đóng lại một lực lượng tượng
trưng. Chính Tướng Creigton Abrams, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ ở
Việt Nam, cũng luôn nói là sẽ có một "residual force" đóng
tại Miền Nam khoảng 25.000 người cộng với số nhân viên tiếp
vận. (14) Tổng Thống Thiệu cũng luôn hy vọng là sau cùng th́
Mỹ sẽ để lại một lực lượng nhỏ giống như ở Đại Hàn. Sau này,
Tướng Abrams đă phải phàn nàn về việc Hoa Kỳ đă bỏ đi lập
trường từ bao nhiêu năm như vậy.
Nixon cũng than phiền về việc Bắc Việt cứ... "khăng khăng
đ̣i chúng tôi giải quyết không những vấn đề quân sự mà c̣n
muốn chúng tôi phải áp đặt một tương lai chính trị bằng cách
triệt bỏ chính quyền hiện tại và áp đặt một chính quyền do
họ lựa chọn. Điều này chúng tôi không thể làm được v́ vừa
rút quân vừa thông đồng với phía địch để lật đổ một đồng
minh th́ từ nay không quốc gia nào sẽ tin cậy Hoa Kỳ nữa."
Rồi dường như muốn nhắn nhủ Hà Nội, Nixon thêm: "Chúng tôi
sẽ không ra đi mà không có một hiệp định." Phải có một hiệp
định th́ mới có thể ra đi trong danh dự.
* "Tôi
đang gỡ bỏ
cái nhức nhối này đi."
Bây giờ việc Hoa Kỳ giao hảo với Trung Hoa mới là chính yếu,
và Việt Nam đă trở thành một chướng ngại vật trong cuộc giao
hảo, Nixon cam đoan với ông Chu, lại c̣n đổ cho tiền nhiệm
là Tổng Thống Johnson là người đă mang quân vào Việt Nam,
c̣n ông mới là người rút quân đi:
"Chúng ta có thể rất thành thật trong buổi nói chuyện này...
Tôi muốn cam đoan với Thủ Tướng rằng tôi đang gỡ bỏ cái nhức
nhối này đi, nhanh chóng nhất như một người ở địa vị tôi có
thể làm được. Vị tiền nhiệm của tôi gửi 500.000 quân sang
Việt Nam. Tôi đă rút đi 500.000 quân. Việc tôi sẽ chấm dứt
sự can dự của Hoa Kỳ chỉ là vấn đề thời gian. Về điểm này
tôi có thể nói chắc chắn với Ngài như vậy."
["We can be very honest in this conversation... I want
to assure the Prime Minister I am removing this irritant as
fast as anyone in my position could. My predecessor sent in
500,000 men into Vietnam, I;ve taken 500,000 out. I will end
American involvement. it's matter of time. I can speak
with certainly on this point."]
Đúng là chỉ c̣n vấn đề thời gian để rút nốt số quân c̣n lại,
với điều kiện duy nhất là Hà Nội phải kư một hiệp ước. Nixon
nói: "Tất cả những điều chúng ta đang nói thật ra chỉ làm
sao là liệu có thể giúp cho tiến tŕnh mau lẹ hơn, không
phải bằng cách chúng tôi hấp tấp rút quân mà bằng một hiệp
định."
Đó là những chuyện đă xẩy ra tại Bắc Kinh, nhưng về tới
Washington, TT Nixon lại tiếp tục trấn an ông Thiệu v́ cần
phải làm như vậy để ông Thiệu khỏi công khai phản ứng. TT
Nixon liền viết cho TT Thiệu (ngày 2 tháng 3, 1972) cam
đoan: "Chúng tôi không có thương lượng bất cứ điều ǵ sau
lưng những người bạn của Hoa Kỳ; đă không có thỏa thuận bí
mật nào hết." ["We negotiated nothing behind the backs of
friends of the United States; there was no secret deals."]
Để cho có trọng lượng, Nixon c̣n khẳng định: "Ngài có thể
tin chắc là tôi sẽ làm mọi cách trong quyền hạn của tôi để
bảo đảm rằng sự hy sinh to lớn của hai dân tộc Việt-Mỹ sẽ
không bị uổng phí..." ["You may be certain that I will do
all in my power to insure that the enormous sacrifice of the
Vietnamese and American peoples do not come nothing."] Đây
là những lời tâm huyết, dựa trên xương máu mà quân đội
Mỹ-Việt đă đổ trên chiến trường. Đó là một đề tài mà Nixon
sẽ nhắc đi nhắc lại trong những thư từ tiếp tục trao đổi với
ông Thiệu.
Vận
động với ông Andrei Gromyko.
Chiến lược mới của Hoa Kỳ gồm ba mũi: Ḥa hoăn với Liên Xô,
khai thác những mâu thuẫn Nga-Hoa, và b́nh thường hóa quan
hệ với Trung Hoa. Bởi vậy, đang khi lôi kéo Trung Hoa vào
một quan hệ có tính cách xây dựng và rút lui khỏi chiến
trường Việt Nam, Nixon cũng muốn nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô
để thuyết phục Bắc Việt.
Trong những ngày 20 tới 25 tháng 4, 1972, đang khi Quân Lực
VNCH nỗ lực đẩy lui cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt vào
dịp Lễ Phục Sinh (Easter Offensive) - Mùa Hè Đỏ Lửa của miền
Nam - th́ ông cử Kissinger bí mật sang Moscow. Nixon đă chỉ
thị Kissinger đ̣i cho bằng được một sự thỏa hiệp với
Brezhnev về Việt Nam như một điều kiện tiên quyết để thảo
luận về bất cứ vấn đề ǵ trong cuộc họp thượng đỉnh sắp tới.
"Sẽ không có thỏa ước nào cho đến khi Moscow thuyết phục
được Bắc Việt chấm dứt chiến tranh bằng thương thuyết."
Lệnh là như vậy nhưng Kissinger lại xin xỏ.
Trong các cuộc hội đàm mật với Brezhnev tại Dom Pryomov, nhà
khách chính phủ trên đồi Lênin nh́n xuống sông Moscow,
Kisinger lại không cứng rắn như chỉ thị của Tổng Thống mà
lại nhờ cậy Nga Xô đề nghị với Bắc Việt một loạt nhượng bộ
của Hoa Kỳ (sau này sẽ trở thành căn bản của Hiệp Định Paris
tháng Giêng 1973). Kissinger nói với Brezhnev rằng Hoa Kỳ
bằng ḷng chấp nhận một cuộc ngưng bắn tại chỗ để đổi lấy
việc Bắc Việt rút quân, nhưng chỉ rút những lực lượng vừa
mới xâm nhập vào Miền Nam kể từ khi có cuộc tấn công bắt đầu
ngày 31 tháng 3 (gạch dưới là do tác giả) c̣n những lực
lượng nào đă xâm nhập vào Nam trước cuộc tấn công, ước lượng
khoảng 200.000 người, sẽ có thể ở lại.
Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ đă minh thị thỏa thuận cho quân
đội Bắc Việt ở lại Miền Nam. V́ trước đó, Hoa Kỳ chỉ nói tới
đồng ư là Mỹ sẽ rút quân đơn phương chứ chưa nói rơ là quân
đội Bắc Việt được quyền đóng ở lại. Thí dụ như cho tới ba
tháng trước đó, ngày 25 tháng 1, trong kế họach Tám Điểm
trước khi đi Bắc Kinh, Tổng Thống Nixon vẫn c̣n dùng lời lẽ
mơ hồ nói về cuộc rút quân: Hoa Kỳ kêu gọi "các lực lượng
ngọai nhập (hay 'nước ngoài' foreign troops) rút khỏi Đông
Dương". Từ ngữ "ngoại nhập" tuy là mơ hồ nhưng nó cũng có
thể được giải thích là bao gồm cả quân đội Bắc Việt (nghĩa
là từ bên ngoài xâm nhập vào Miền Nam Việt Nam).
Ngày 21 tháng 4, 1972, Kissinger nói với Brezhnev: "Chúng
tôi có hai mục tiêu, thứ nhất là thể hiện một cuộc rút quân
toàn bộ trong danh dự, và thứ hai là đặt để một khoảng thời
gian giữa việc rút quân và tiến tŕnh chính trị sau đó."
Như vậy, Hoa Kỳ lại gởi một thông điệp dứt khoát cho Hà Nội,
lần này là qua ngả Moscow.
Sau chuyến đi này, Kissinger tháp tùng Nixon đi dự hội nghị
thượng đỉnh ở Moscow. Trong dịp này, Kissinger tỏ ra rất cởi
mở và đề cập tới một "tiến tŕnh lịch sử" sẽ khai triển sau
khi Mỹ rút quân. Ông hay thích dùng cụm từ "tiến tŕnh lịch
sử" hay "diễn biến" với ư nghĩa là để mặc cho người Việt Nam
tự thương thảo với nhau theo nguyên tắc "dân tộc tự quyết"
không có sự can thiệp của Mỹ.
Mời độc giả theo dơi tài liệu mới giải mật (2005) về cuộc
đàm thoại giữa ông Kissinger và Ngoại trưởng Liên Xô Gromyko
(15):
-issinger: "Người Việt miền Bắc là một dân tộc anh hùng và
về bản thân rất quyến rũ. Mặc khác họ không muốn tin vào một
tiến tŕnh lịch sử. Họ muốn mọi việc đều được viết ra trên
giấy trắng mực đen và ngay bây giờ... Tôi nghĩ rằng sự diễn
biến t́nh h́nh c̣n quan trọng hơn là những sự thỏa hiệp. Nếu
Bắc Việt khôn ngoan -tôi xin nói t́nh thật- th́ giờ đây họ
nên thỏa hiệp với chúng tôi và đừng tranh căi từng chi tiết
làm ǵ nữa, bởi v́ một năm sau khi thỏa hiệp sẽ có một t́nh
huống mới, một thực tế mới,... Nếu họ không muốn một... thỏa
hiệp toàn diện, th́ chúng ta hăy cứ thỏa thuận về một cuộc
ngưng bắn, thỏa thuận về việc trao đổi tù binh, và chúng tôi
sẽ rút hết quân, rồi để họ thương thảo với Miền Nam về một
giải pháp chính trị. Khi đó chúng tôi sẽ cam đoan, ngoại trừ
về kinh viện và quân viện, sẽ không nhứng tay vào nữa, chúng
tôi sẽ giữ thái độ trung lập trong tiến tŕnh lịch sử."
- Gromyko: "Đôi lúc cảm tưởng của tôi sau khi nghe Tổng
Thống và Tiến sĩ Kissinger tŕnh bày về lập trường chính
thức của Hoa Kỳ là không thể để cho Việt Nam rơi vào tay một
chính quyền Cộng sản hay Xă hội Chủ nghĩa. Điều này là một
cái bóng che mờ những lời tuyên bố của các ngài. Có phải sự
quan tâm chính yếu của các ngài chỉ là về tính cách của việc
chính quyền hay không?"
- Kissinger: "Đó là một câu hỏi hay, được đặt ra bởi những
người biết suy luận. Điều chúng tôi muốn nói là chúng tôi sẽ
không rút lui theo một cung cách để bào đảm cho Cộng sản
chiến thắng. Tuy nhiên, chúng tôi sẵn sàng rút lui để không
loại trừ một cuộc chiến thắng của Cộng sản, mặc dầu không có
bảo đảm. Tôi không biết sự phân biệt này có ư nghĩa ǵ đối
với ông Ngoại trưởng hay không... ngài hiểu ư chúng tôi muốn
nói ǵ chứ?"
Điều mà Kissinger muốn nhắn gửi Hà Nội đă rơ ràng: không bảo
đảm nhưng cũng không loại trừ một cuộc chiến thắng của Hà
Nội.
Đạo diễn những bước để quân đội Bắc Việt tiến vào Sàig̣n.
Cũng theo tài liệu mới giải mật, khi đi Moscow về, trong hai
ngày 21 và 22 tháng 6, 1972, Kissinger lại đi Bắc Kinh gặp
Chu Ân Lai để nói rơ hơn về chính sách Hoa Kỳ đối với Miền
Nam. (16)
* Ngày
21 tháng 6, 1972: Chỉ cần một thời gian vừa đủ:
Ông Kissinger nói với ông Chu:
"Tôi tin rằng nếu có một khoảng thời gian vừa đủ giữa lúc
chúng tôi rút quân và những ǵ xẩy ra sau đó th́ vấn đề gần
như chắc chắn có thể khoanh gọn như chuyện nội bộ của Đông
Dương. Điều quan trọng là phải có một khoảng thời gian hợp
lư giữa thỏa hiệp ngưng bắn và một cơ hội hữu lư để thương
thảo chính trị...
Lư luận của tôi là chúng tôi muốn đặt ra một khoảng thời
gian giữa kết cuộc quân sự và kết cuộc chính trị. Không ai
có thể tưởng tượng được rằng lịch sử sẽ kết thúc ở bán đảo
Đông Dương với chỉ một cuộc ngưng bắn."
* Ngày
22 tháng 6, 1972:
Ba bước đi.
Ngay hôm sau, để đánh tan mọi nghi ngờ, Kissinger đă phác
thảo một kịch bản theo đó Bắc Việt có thể toàn thắng. Mặc
dầu Hoa Kỳ không thể tự ḿnh làm cho điều ấy xẩy ra, nhưng
ông nói không úp mở (giải mật ngày 26 tháng 5, 2006):
"Nếu do kết quả của diễn biến lịch sử mà chuyện đó xẩy ra
trong một khoảng thời gian th́ nếu chúng tôi sống được với
chính phủ Cộng sản ở Trung Quốc, chúng tôi cũng có thể chấp
nhận như thế ở Đông Dương."
Ông cũng nhắn qua ông Chu rằng Hoa Kỳ tôn trọng Hà Nội như
một "thực thể thường trực" (permanent entity) và có thể là
một "thực thể mạnh nhất" trong vùng. Ông thêm: "Và chúng tôi
không có ư tiêu diệt hay thậm chí đánh bại họ."
Khi ông Chu hỏi vặn thêm cho rơ hơn, Kissinger thừa nhận
rằng Mỹ có thể chấp nhận cho Cộng sản tiếm quyền bằng vơ lực
nếu điều này xẩy ra một thời gian khá lâu sau khi Mỹ đă rút
lui:
"Nếu nội chiến xẩy ra một tháng sau khi có hiệp ước ḥa b́nh
để Mỹ rút quân và trao đổi tù binh th́ Hoa Thịnh Đốn có lẽ
sẽ coi đó là một mưu mẹo và sẽ quay trở lại...
Mặc khác, nếu Bắc Việt nghiêm chỉnh thương thảo với Nam Việt
Nam và nếu sau một thời gian lâu dài chuyện đó xẩy ra sau
khi chúng tôi đă không c̣n can dự nữa th́ theo xét đoán của
cá nhân tôi, có rất ít khả năng chúng tôi sẽ quay trở lại,
rất ít khả năng."
Như vậy, kịch bản này có ba giai đoạn:
1- Kư kết một hiệp định để Hoa Kỳ triệt thoái trong danh dự;
2- Tôn trọng một khoảng thời gian giữa triệt thoái và sự sụp
đổ sẽ xẩy ra (thời gian này phải coi cho được chứ không
phải là một tháng); và sau đó,
3- Mỹ có thể chấp nhận một chính quyền Cộng sản ở Sàig̣n.
* Cứ đổ
cho Miền Nam bất lực là xong chuyện.
Tài liệu mới được giải mật vào tháng 6, 2006 cho ta thấy
phần nào cách thức Kissinger đă dùng để thuyết phục Nixon
vào màn chót trong thời gian mật đàm. Mời độc giả theo dơi
cuộc đàm luận, tính toán giữa hai người tại Ṭa Bạch Ốc ngày
3 tháng 8, 1972 (có ghi âm, xem bản in lại trong chương này):
- Nixon: [Nghe không rơ-các giọng nói trùng nhau] Cần phải
có - nếu chúng ta có thể có những bảo đảm rằng họ không...
anh biết đấy, xét về tiến tŕnh chính sách ngoại giao, mặc
dầu tôi muốn nói, anh phải - Henry, anh cũng phải biết rằng
thắng cử là vô cùng quan trọng. Nó vô cùng quan trọng năm
nay, nhưng liệu chúng ta có được một chính sách ngoại giao
vững bền [nếu] một năm hay hai năm kể từ bây giờ Bắc Việt
nuốt trọn Nam Việt? Đó đích thực là vấn đề.
- Kissinger: Nếu một hay hai năm kể từ bây giờ mà Bắc Việt
nuốt trọn Nam Việt, chúng ta vẫn có một chính sách ngoại
giao vững vàng nếu điều đó xem như là hậu quả của sự bất lực
của Miền Nam. Nếu bây giờ mà chúng ta bán đứng (Miền Nam) ví
dụ như trong ṿng ba, bốn tháng, nếu như chúng ta đẩy ông
Thiệu xuống - do chính bàn tay chúng ta - tôi nghĩ rằng sẽ
có (hậu quả và) - đến ngay bọn Tàu cũng không ưa như thế.
Tôi muốn nói rằng tuy ngoài miệng họ vẫn nói là họ thích như
thế.
- Nixon: Nhưng họ sẽ lo ngại.
- Kissinger: Ai cũng sẽ lo ngại điều đó. Và đối nội th́ về
lâu về dài, cái đó không có lợi cho ḿnh bởi v́ đối thủ của
chúng ta sẽ nói rằng lẽ ra chúng ta đă phải làm chuyện đó từ
ba năm trước.
- Nixon: Tôi hiểu.
* Rồi Việt Nam sẽ thành
băi hoang vu.
- Kissinger tiếp lời: "Vậy chúng ta phải t́m ra một công
thức nào đó để làm cho yên bề mọi chuyện trong một hay hai
năm, sau đó th́ - một năm sau, thưa Tổng Thống, Việt Nam sẽ
là một băi hoang vu. Nếu chúng ta kết thúc được, ví dụ,
trong tháng 10 này, th́ đến tháng 1, 1974, chẳng ai cần đếch
ǵ nữa." (xin lỗi
độc giả nhưng phải dịch như vậy mới đúng tinh thần của câu
nói: "So we got to find some formula that holds the thing
together a year or two, after which - after a year, Mr
President, Vietnam will be back water. If we settle ít, say,
this October (1972), by January 74 no one will give a
damn.")
- Nixon: "Chúng ta hăy hoàn toàn sắt máu trong chuyện này.
Nếu đứng trên quan điểm tṛ chơi của chúng ta với Nga và Tàu
mà xét vấn đề, trên quan điểm quản trị xứ sở này, tôi nghĩ
rằng chúng ta có thể, theo ư tôi, làm hầu như bất cứ điều ǵ,
nói cho ngay, để bắt ép ông Thiệu. Hầu như bất cứ điều ǵ.
Tôi đă đi tới kết luận như thế. Anh biết tôi muốn nói ǵ rồi..."
Nixon nhắc đi nhắc lại câu "hầu như bất cứ điều ǵ" như vậy
chắc có ư nói là nếu cần th́ có thể sẽ đảo chính, dẹp cả ông
Thiệu đi cho xong. Làm sao ta có thể dung ḥa được những
ngôn từ tàn bạo trong cuộc đàm thoại giữa hai người như thế
này với những lời lẽ cương quyết thúc giục ông Thiệu "Chúng
ta phải tin vào nhau hoàn toàn." trong suốt thời gian có mật
đàm (xem chương 14).
Thấy Nixon cứ lo lắng về hậu quả bỏ rơi Miền Nam đối với uy
tín của Hoa Kỳ, Kissinger đă thuyết phục thành công: "Chúng
ta phải t́m ra một công thức nào đó để làm cho yên bề mọi
chuyện trong một hay hai năm sau, sau đó th́... chẳng ai cần
đếch ǵ nữa."
V́ sao? V́ lúc ấy "Việt Nam sẽ chỉ c̣n là một băi hoang vu."
Thào nào sau một ngày kư tắt vào bản hiệp định Paris và về
tới Washington, Đổng lư Văn pḥng Tổng Thống là John
Erlichman gặp Kissinger đứng trước cửa văn pḥng Lincoln
trong Ṭa Bạch Cung nên có hỏi:
- "Theo ông, Miền Nam VN có thể tồn tại được bao lâu nữa."
- "Tôi nghĩ rằng nếu họ may mắn th́ được một năm rưỡi."
Kissinger đáp.
Bốn năm sau lúc hạ màn, Kissinger vẫn c̣n ngang nhiên viết
trong hồi kư - có thể v́ lúc ấy (1979) tất cả mọi chuyện c̣n
đang ém nhẹm, chưa có ǵ được giải mật:
"Chúng tôi đă đi t́m không phải chỉ một khoảng thời gian
trước khi sụp đổ, nhưng một nền ḥa b́nh lâu dài và danh dự."
NGUYỄN TIẾN HƯNG
(trích sách mới “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” sắp phát hành)
Ghi chú:
(13) Richard Nixon, sđđ, trang 568-568
(14) Nguyễn Phú Đức, sđđ, trang 226
(15) Jeffrey Kimball, December 2003 Newsletter
http://www.shafr.org/newsletter/2003/december/kimball.htm,
p.10
(16) Như trên
(17) Henry Kissinger, sđđ, trang 1470. |