|

(1910-1963)
Một Nhà Chiến Lược
Hoà Giang Đỗ Hữu Nghiêm

Chân dung Ông
Ngô Đ́nh Nhu
I. Thân Thế Ngô
Đ́nh Nhu
Thời Thơ Ấu Và
Thanh Niên, 1910-1955
Ông Ngô Đ́nh Nhu
(1910- 1963), sinh ngày 3 tháng 10 năm 1910 (có tài liệu ghi
1911 ở Huế) tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng
Binh, lúc nhỏ đi tu tại Tiểu Chủng viện An Ninh, Cửa Tùng,
Quảng Trị được một thời gian th́ hồi tục. Khác với nhiều
người trong gia đ́nh theo ngành học có xu hướng cựu học, cậu
Nhu cùng với cậu Luyện, được gia đ́nh cho đi du học Pháp
theo Tây học khoảng đầu thập niên 1930.
Trong những năm
1935-38, các thanh niên sinh viên Trần Văn Chương, Trần Đức
Thảo, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường đang theo học bên
Trường Luật và Văn Khoa tại Viện Đại Học Sorbonne, Paris,
th́ sinh viên Ngô Đ́nh Nhu theo học Trường Quốc Gia Cổ Điến
Học (Ecole Nationale des Chartes)
Điều kiện nhập học
là ứng sinh phải có Văn Bằng Tú Tài Toàn Phần theo chương
tŕnh Pháp. Mỗi khóa học kéo dài trong 4 năm, khi đó thường
chỉ nhận 20 tuyển sinh. Trong các sinh viên Việt Nam, chỉ
một ḿnh cậu Ngô Đ́nh Nhu trúng tuyển. Sau Nhu, có sinh viên
Nguyễn Thiệu Lâu, nhưng Lâu chỉ học được một năm, th́ phải
bỏ dở v́ lư do sức khỏe tâm lư. Anh Ngô Đ́nh Nhu có trí khôn
thông minh sắc bén và thâm trầm, ít nói và thường ch́m đắm
trong suy tư, có xu hướng tích cực tham gia đời sống trí
thức xă hội.
Sinh viên
Ngô Đ́nh Nhu làm tiểu luận kết thúc khóa học với nhan đề là:
“Les Moeurs Et Les Coutumes Des
Annamites Du Tonkin Au XVIIe Siècle.
(Phong Tục Tập Quán Của Người An Nam ở Bắc Kỳ vào thế kỷ
XVII)
Trong
danh sách các thí sinh tốt nghiệp năm 1938, sinh viên Nhu
được xếp cuối cùng ba trong số mười ba sinh viên tŕnh luận
văn tốt nghiệp, nhưng không theo thứ tự ABC.
Nhưng
trong một bài viết của Nguyễn Lư Tưởng không biết dựa vào
nguồn tư liệu nào, tác giả đă ghi Ngô Đ́nh Nhu làm đề tài có
tên khác
Anh Nhu tốt nghiệp
Khoa Cổ Điển Học năm 1938 [có học giả ghi là những năm
1930]. Văn bằng tốt nghiệp này tương đương Văn Bằng Cử Nhân
Văn Chương Pháp.
Lập Gia Đ́nh Với Cô Trần Lệ Xuân
1. Tân khoa Ngô
Đ́nh Nhu về nước được bổ trước hết làm Quản Thủ Văn khố Toà
Khâm Sứ Huế (1943) sau ra Hà Nội làm việc tại Thư Viện
Trường Viễn Đông Bác Cổ và Tổng Văn Khố Quốc Gia (1945, thời
Thủ Tướng Trần Trọng Kim), tức Giám Đốc Quản Thủ Thư Viện
Trung Ương Đông Dương tại Hà Nội. Vào thời gian ấy, anh
thanh niên Ngô Đ́nh Nhu năng tham gia tích cực những lớp
huấn luyện thanh niên Công giáo về xă hội. Đúng như hồi ức
hiếm có của một chứng nhân tuổi nhỏ khi đó ở Hà Nội:
“…Nhớ
lại, khi ấy, tôi c̣n rất trẻ. Tôi đă đôi lần theo anh cả tôi
“đi học” một người là ông Ngô Đ́nh Nhu. Không biết
bằng cách nào, do ai nói mà tôi vẫn nhớ đinh ninh đó là
những lớp học về xă hội. Sau này, đọc sách vở th́ tôi hiểu
đó là những khóa huấn luyện cho thanh niên hồi đó.
Đầu óc làm chính
trị, nh́n xa nên nhóm ông Nhu đă mở ra các lớp huấn luyện
này để chuẩn bị khi thời cơ đến. Thành phần những người theo
học, căn cứ vào anh cả tôi th́ họ phải có tŕnh độ tương
đương tú tài hoặc hơn thế nữa. Chắc phần lớn là người theo
đạo Thiên Chúa giáo. Các buổi học
đều diễn ra vào buổi chiều thứ năm, tại 40 phố Nhà Chung Hà
Nội.
Tại sao tôi lại
nhớ là chiều thứ năm? Bởi v́ tôi theo học tại trường
Ḍng Chúa Cứu Thế nên ngày thứ năm là ngày “sortie”, chúng
tôi được nghỉ đi chơi hoặc về thăm gia đ́nh. Tôi về thăm chỗ
anh tôi nên bắt buộc phải đi theo anh tôi “theo học” lớp Xă
hội. Có lẽ, tôi là học viên trẻ tuổi nhất ngồi hàng ghế cuối.
Pḥng học chỉ có một cửa lớn ra vào nên mọi người phải đi
qua cửa này để vào pḥng học.
Trong những dịp
này, tôi được nh́n thấy ông Ngô Đ́nh Nhu. Dưới mắt một đứa
bé con th́ anh tôi là người tài giỏi hơn người
…”
“…Vậy mà ông này,
cái ông dáng người cao gầy, da nám xám, mái tóc rậm đen lại
c̣n là thầy dạy anh tôi. Ông phải giỏi biết chừng nào.
Nh́n ông mà trong ḷng chỉ biết nể phục.
Ông Nhu luôn
luôn mặc loại áo bốn túi bỏ ra ngoài.
Áo bốn túi mầu nâu hồng nhạt. Ăn mặc khá dản
dị. Cười nhếch mép và nhẹ nhàng khi đi qua những người đứng
trước cửa. Ít nói và điềm đạm.
Mặc dù chỉ là kư
ức của một đứa trẻ con, tôi nghĩ rằng nay nhắc lại có thể
giúp thêm sử liệu về những hoạt động của ông Nhu khi c̣n ở
Hà Nội. Việc ông lấy bà Nhu cũng đă gây một dư luận khá ồn
ào lúc bấy giờ ở Hà Nội. V́ một lẽ dản dị là cả hai ông bà
đều thuộc những gia đ́nh danh gia vọng tộc”
2. Sau biến cố
chính trị tháng 8/1945, Ngô Đ́nh Nhu tiếp tục làm ở Văn Khố
theo bổ nhiệm của Bộ Trưởng Vơ Nguyên Giáp.
E. Miller có nói “dường như” Ngô Đ́nh Nhu vẫn giữ
công việc của ḿnh tại Thư viện Quốc gia trong suốt quăng
thời gian Hà Nội nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh theo
các điều hiểu biết của tác giả bài viết “Lịch sử đầy đủ
về gia đ́nh Cụ Ngô-Đ.-Diệm”, trong báo
Saigon Mới,
ngày 23 tháng 6 năm 1954. Nhưng với các chứng liệu người
viết đă thu thập, th́ việc ông Nhu ở lại Hà Nội làm việc sau
biến cố Mùa Thu 1945 là chắc chắn. Điều này chứng tỏ tinh
thần ái quốc và dân tộc tích cực của Ngô Đ́nh Nhu rất cao
trong luồng diễn biến chung các sự kiện lịch sử của cả nước
lúc đó
Sau hai thanh niên
sinh viên Nhu và Lâu, th́ măi đến năm 1966, mới có một nữ
sinh viên Việt Nam tốt nghiệp khoa này là cô Đặng Phương
Nghi.
Cô Nghi sau về nước làm Giám Đốc Thư Viện Trung Ương VNCH I
ở Sàig̣n.
Chính thời gian học
ở Paris, Pháp, hai gia đ́nh và hai thanh niên Ngô Đ́nh Nhu
và Trần Văn Chương đă có cơ hội quen biết nhau.
Khi làm Quản Thủ
Thư Viện Trung Ương tại Hà Nội, Ngô Đ́nh Nhu hơn cô nữ sinh
Trần Lệ Xuân 15 tuổi. Năm 1943, Xuân đậu Tú Tài I Pháp, dự
định thi xong Tú Tài 2 sẽ học ngành Luật theo gương cha.
Nhưng do mối quan hệ từ lâu giữa hai gia đ́nh Trần Ngô, nên
hai danh tộc sớm chuẩn bị gả con cho nhau và ưng thuận trở
thành Thông Gia
3. Từ lúc c̣n ở
trung học, một người tên là Hoàng Việt có một thời được giới
thiệu làm gia sư, phụ giáo cho Trần Lệ Xuân khi cô mới được
17 tuổi, để học ăn học nói xơi tiếng Việt và cách cư xử khi
ra trường đời theo thói quen của nhiều danh gia vọng tộc
quyền quí thời đó. Sự chênh lệch về tuổi tác ngay lúc đó ở
Hà Nội giữa hai người gây nhiều dư luận xôn xao, nhất là sau
chính biến 1/11/1963, trong tương lai.
Để có thể tiến hành
việc hôn nhân, theo tinh thần Công giáo, Cô Trần Lệ Xuân ưng
thuận từ bỏ Phật Giáo, chấp nhận đức tin mới, tự nguyện xin
gia nhập Công giáo và chịu phép Thánh Tẩy theo nghi thức
Công giáo ở Nhà Thờ Lớn Hà Nội, do chính Giám mục Ngô Đ́nh
Thục chủ lễ với nhiều quan chức đạo đời tham dự. Khi đó là
năm 1943.
Chỉ khoảng gần nửa
tháng sau là cô Xuân rửa tội, hai họ Ngô Trần tổ chức ngay
Hôn Lễ. Thánh Lễ Hôn Phối được tổ chức trọng thể tại Nhà Thờ
Lớn Hà Nội vẫn do Giám Mục Ngô Đ́nh Thục làm chủ tế, có Giám
Mục F. Chaize Thịnh, quản nhiệm Địa Phận Hà Nội, cùng tham
dự, với đông đảo Linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo dân Pháp,
Nam và nhiều quí khách, thân hữu ngoài đời thường của hai họ
Ngô, Trần.
Về phía họ nhà gái,
nhiều thân chủ sang trọng của gia đ́nh Luật Sư Trần Văn
Chương, có nhiều nhân vật quốc tế trong giới ngoại kiều như
Pháp, Nhật, Hoa, các quan lại Nam triều. Đám cưới diễn ra
trong khi người Nhật vẫn c̣n đang chiếm đóng Đông Dương,
đang tranh chấp gay go với phe đồng minh, tuy thế thắng đang
nghiêng dần ngày càng rơ rệt về phía Mỹ ở chiến trường Á
Đông Thái B́nh Dương.
Chiến trường Việt
Nam đang chịu nhiều áp lực của quân đội Đồng Minh, mà chủ
yếu là những cuộc không tạc chiến lược của quân đội Hoa Kỳ
trên khăp các vùng có quân Nhật chiếm đóng. Dù t́nh h́nh
căng thẳng như thế, vẫn có đến mấy chục xe hơi của quí khách
và thân nhân tham dự đậu dài bên đường Gambetta Hà Nội, nơi
cư ngụ của gia đ́nh họ Trần cùng với văn pḥng làm việc của
Luật Sư Trần Văn Chương.
Đến tham dự thánh
lễ hôn phối, người ta thấy cô dâu Trần Lệ Xuân đẹp đẽ, duyên
dáng, e ấp trong bộ đồ cưới trắng toát, có dát kim tuyến óng
ánh vương giả, theo sau có hai cháu bé tay nâng đuôi áo cưới,
tay cầm cành thiên tuế. Sau Thánh lễ hôn phối theo nghi thức
Công giáo, cô dâu vào bên trong nhà mặc áo, thay bộ quốc
phục quần trắng áo dài gấm đỏ tha thướt, thêu vàng, đầu đội
khăn màu thiên thanh, quấn nhiễu vàng gần giống lễ phục
vương giả của Bà Nam Phương trong ngày lễ thành hôn với Vua
Bảo Đại. Pháo hồng tươi nổ ḍn dă kéo dài khét lẹt trước dăy
phố có ṭa biệt thự của gia đ́nh Luật Sư Trần Văn Chương.
Xác pháo bây giờ trải đầy xác pháo hồng trên đường, ngập đến
hết bàn chân của nhiều khách bộ hành đi qua lại trên mặt phố.
Đám rước dâu bên
nhà trai đi đón dâu với tốp hai trẻ, tốp thứ nhất cầm hai
đèn lồng đi trước, theo sau là tốp hai trẻ khác cầm hai
nhành thiên tuế, nối tiếp với một đám tùy tùng đông đảo các
trẻ em ôm hai con ngỗng trắng, câu án có bốn lọng đỏ, cau
lồng, rượu ché, heo đóng cũi, ḅ đeo bông, … kiểu truyền
thống vọng tộc đất Thần Kinh xứ Huế. Cô dâu được rước về quê
nhà họ Ngô ở Phú Cam, Huế theo lễ nghi trang trọng.
Dấn Thân Vào Hoạt Động Xă Hội, Chính Trị
Đôi trai tài gái
sắc thành hôn chỉ được khoảng hai năm sau, th́ hàng loạt
chính biến tháng 8 và 9 năm 1945 lần lượt diễn ra trên cả
nước từ Bắc Trung Nam. Kỷ niệm đau ḷng đối với những người
kháng chiến quốc gia khi ấy là lực lượng Việt Minh đă lợi
dụng t́nh thế truy lùng và sát hại rất nhiều nhân vật và cơ
sở của các đảng viên và chính đảng không có xu hướng Cộng
Sản, dường như muốn giành lấy hết công lao và vinh dự của
một ḿnh phong trào Việt Minh lănh đạo kháng chiến giành độc
lập cho dân tộc.
V́ thế, lúc đó khi
được tin người anh là ông Ngô Đ́nh Diệm bị Việt Minh bắt giữ,
Ngô Đ́nh Nhu đang làm việc tại Thư Viện Đông Dương, và đang
tham gia vào kế hoạch cải tổ cho nền giáo dục toàn quốc.
Theo một nguồn tin có chứng liệu,
ông Nhu là 1 trong 14 thành viên trong Ban Cải Cách Giáo Dục,
phụ trách Chương Tŕnh Trung Học, do Bộ Trưởng Giáo Dục
Hoàng Xuân Hăn lănh đạo. Nhà sử học cần mẫn của Mỹ đă nghiên
cứu tỉ mỉ vào những hoạt động của Ngô Đ́nh Nhu có nhận xét
ông này có cá tính riêng biệt.
Nhưng chắc các biến cố, có thể nguy hiểm cho bản thân và gia
đ́nh, cùng mưu tính hoạt động chính trị ái quốc không theo
kiểu Cộng Sàn, đă khiến ông phải vội bỏ nhiệm sở, t́m đường
chạy vào tá túc ở Thanh Hóa, Phát Diệm, c̣n Bà Trần Lệ Xuân
một ḿnh vội t́m đường chạy thoát về Phú Cam. Có lẽ sau ngày
19/12/1946, ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp do phong
trào Việt Minh phát động, th́ Ông Nhu mới chạy vào khu Tư ở
vùng Thanh Nghệ, có lần thám sát vùng biên giới Lào Việt ở
khu vực đó. Cuộc đời và sinh hoạt của gia đ́nh Ngô tộc không
tách rời với bối cảnh liên hệ chung của những thành phần
khác.
Ông Nhu cùng với nhóm anh em đồng chí hướng âm thầm nhưng
tích cực chuẩn bị cho kế hoạch lên nắm quyền của ông Ngô
Đ́nh Diệm.
Biến Cố Ngô Đ́nh
Khôi, Ngô Đ́nh Huân và Phạm Quỳnh (28/8/1945)
Trong lúc biến cố
diễn ra, sau khi Nhật đầu hàng, Việt Minh cướp chính quyền ở
Hà Nội, có lẽ ông Ngô Đ́nh Khôi khuyên vua Bảo Đại đừng trao
chính quyền cho Việt Minh do Hồ Chí Minh lănh đạo. Ông đă
tương kế tựu kế xử dụng người Nhật một cách khôn khéo cầm cự
với phong trào Việt Minh... Có thể v́ lư do đó, ngày
28-08-1945, ông Ngô Đ́nh Khôi
(1891?-1945) bị Việt Minh dẫn đi và thủ tiêu cùng với con
trai ông là Ngô Đ́nh Huân và Phạm Quỳnh (Thượng Thư Bộ Lại,
thời Bảo Đại).
Giới chức CSVN sau
khi cưỡng chiếm cả nước mới tiết lộ và nh́n nhận sự thật phũ
phàng này. Việc bắt giết đó nhằm mục đích trả thù cá nhân
dưới mỹ từ đẹp đẽ nhưng sắt máu “đấu tranh giai cấp”,
kiểu “đấu tố địa chủ cường hào”. Cách hành động này
không xét xử và tuyên án công khai, được nhập khẩu và chỉ
đạo từ Trung Quốc Cộng Sản diễn ra trên khắp phần đât do
CSVN kiểm soát, nhất là trong những năm 1950-1955.
Ông Ngô Đ́nh Khôi
(1895 ?-1945): tốt nghiệp trường Quốc Tử Giám ở Huế, năm
1910, bắt đầu làm việc ở Bộ Binh dưới quyền Thượng Thư
Nguyễn Hữu Bài và cưới cô Nguyễn Thị Giang, con gái Ông
Nguyễn Hữu Bài làm vợ. Dần dần Ông lên đến Tổng Đốc Nam-Ngăi
(1930) rồi Tổng Kinh Lược các tỉnh miền Nam Trung Kỳ (1933).
Năm 1943 ông hoạt động công khai, ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường
Để lúc đó đang tá túc ở Nhật, nên ông phải từ bỏ các nhiệm
vụ ở Nam triều do người Pháp kiểm soát.
Ông Ngô Đ́nh Khôi
cai quản trên đất Quảng Nam và ông Ngô Đ́nh Huân làm thanh
tra lao động. Tài liệu CS sau này có nói Ngô Đ́nh Huân làm
Hiến Binh (?) cho quân đội Nhật với dụng ư lên án cha con
ông làm tay sai cho Nhật, nhưng thực ra việc làm của họ đều
gây khó khăn nhất định cho các hoạt động khuấy đảo tàn bạo
của Cộng Sản Việt Nam trên đất Quảng Nam.
Hai cha con đều bị
tay chân Việt Minh ở địa phương sát hại ban đêm tại Hát Phú,
cách Huế 20 cây số. Ngày 28 Tết năm 1958, gia đ́nh họ Ngô
mới t́m thấy hài cốt cha con cùng chôn một hố chôn chung với
thượng thư Phạm Quỳnh. Tử thi của cả ba người đều được thân
nhân nhận diện và cải táng. Sau đó di cốt của hai cha con
ông Khôi được chôn lại trong nghĩa trang gia đ́nh tại Phú
Cam, Huế.
Nhóm Hoạt Động
Xă Hội Cần Lao
1. Trước khi chiến
tranh Việt Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946, th́ người ta mới
phát hiện ông Ngô Đ́nh Nhu thoát khỏi Hà Nội. Trước khi đến
Thanh Hóa, Ngô Đ́nh Nhu cùng với Hoàng Bá Vinh và một số
thân hữu ṇng cốt về Phát Diệm lập khu an toàn. Chính thời
gian này ông Nhu manh nha thành lập cùng với nhiều người
đồng chí hướng, tổ chức Liên Đoàn Kháng Chiến Cần Lao
Việt Nam.
Khi Việt Minh bị
quân Việt-Pháp đánh bật khỏi Hà Nội, th́ ông Nhu trở lại Hà
Nội, với một Linh Mục mà tài liệu Cộng Sản Việt Nam gọi tên
là Trọng, đem theo một cán bộ quốc gia có bản lĩnh, nói là ở
Điền Hộ, từ Hà Trung mới ra. Nhân vật này, người nhỏ bé,
xuất thân từ chủng viện Thanh Hóa, tính t́nh thông minh điềm
đạm. Theo Lương Khải Minh ghi lại, đó là một thanh niên tự
xưng là Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, sau này cầm đầu ngành t́nh
báo một thời trong chế độ Ngô Đ́nh Diệm:
Chính tại Thanh Hóa
Phát Diệm, ông Nhu cùng một số nhân sĩ trí thức đă chuẩn bị
cơ cấu ban đầu nhân sự và tổ chức, thành lập Đảng Cần Lao
sau này làm ṇng cốt cho tổ chức chính trị của chế độ Việt
Nam Cộng Ḥa từ 1954-1963. Nhưng đồng chí ṇng cốt đầu tiên
là: LS Lê Quang Luật, Hoàng Bá Vinh, Trần Kim Tuyến, Đái Đức
Tuấn, tức Mai Nguyệt, Tchya, với tên gọi ban đầu là Nhóm
Xă Hội Công Giáo (1946-1954) là nhóm cột trụ sau này của
Đảng Cần Lao Nhân Vị.
Về tới Hà Nội, ông
Nhu mới hay biết vợ ông vẫn sống b́nh an và c̣n ở Huế. Nhưng
sau đó ông lại được tin vợ ông đă về Đà Lạt
với gia đ́nh người chị là Lệ Chi (1947-1951). Dần dần ông
Nhu bắt lại liên lạc với Giám Mục Ngô Đ́nh Thục ở Vĩnh Long,
và ông Ngô Đ́nh Luyện ở Sàig̣n. Sau chính biến Tháng Tám
1945, ông Ngô Đ́nh Diệm bị CS bắt giữ (như đă nói trên), rồi
giải giam tại Việt Bắc, nhưng với sự can thiệp của Giám Mục
Lê Hữu Từ, cùng v́ nhiều áp lực từ t́nh h́nh chính trị phức
tạp trong nước và quốc tế, Hồ Chí Minh phải trả tự do cho
Ngô Đ́nh Diệm đầu năm 1946, như một chiến lược tương kế tựu
kế, thu phục nhân tâm nhân sĩ và quan lại của cựu trào.
2. Ở Hà Nội, theo
một số tài liệu, ông Ngô Đ́nh Diệm tá túc tại Ḍng Chúa Cứu
Thế ở khu tu viện Nhà Thờ Nam Đồng ở Thái Hà Ấp.
Chính từ đây ông
Ngô Đ́nh Diệm dần dần mở rộng liên lạc lại được với các nơi.
Thời kỳ này ông Ngô Đ́nh Diệm đă tiếp xúc với Linh Mục
Nguyễn Văn Thính. Từ Nhà thờ Nam Đồng, mấy cán bộ thân tín,
như Nguyễn Văn Châu (sau này làm đại tá, Giám Đốc Nha Chiến
Tranh Tâm Lư, Bộ Quốc Pḥng, Việt Nam Cộng Ḥa), Đỗ Mậu (sau
này làm đại tá An Ninh Quân Đội) sang Phúc Xá liên lạc với
Linh Mục Bằng. Khi Linh Mục Bằng bị bắt giết, ông Ngô Đ́nh
Diệm vào Sàig̣n tá túc tại nhà ông Ngô Đ́nh Luyện (ở số 2,
Đường Armand Rousseau (tức số 8 Đường Nguyễn Văn Tráng sau
này). Nơi này về sau chính là cơ sở Trường Y Khoa thuộc Viện
Đại Học Minh Đức
Khi nghe tin vợ
đang ở Đà Lạt, ông Nhu liền t́m lên theo. Trong cảnh nhiễu
nhương bấp bênh, cặp vợ chồng trẻ sống chật vật nhưng can
đảm và hết t́nh trong cảnh thắt lưng buộc bụng thiếu thốn
đạm bạc. Bà Nhu lo cho chồng từng bao thuốc lá Bastos Xanh,
mà ông say mê và suốt ngày chỉ vùi đầu miệt mài với sách vở.
Có lúc bà phải đích thân ra chợ mua từng bó rau lạng thịt về
chung nhau ăn từng bữa. Có khi bà phải đem bán cả ṿng xuyến
vàng đeo cổ kỷ niệm ngày cưới đế có tiền sinh sống qua ngày.
Ông Nhu can trường chịu dựng với bộ quần áo sơmi cụt tay và
chiêc quần gabardine. Cảnh sống kham khổ ấy chứng tỏ hai ông
bà luôn luôn đằm thắm
nhẫn nại trong tính nghĩa vợ chồng, dù
trong những phút khó khăn. Nhưng lư tưởng xây dựng một xă
hội Việt Nam nhân bản không rời xa những câu chuyện bàn bạc
của ông thật say sưa và nhiều mưu lược với bạn bè. Có lúc
dường như đam mê chính trị và lư tưởng xă hội lấn át cả
những t́nh cảm và bổn phận gia đ́nh. Đúng là tác phong quên
ḿnh của một người có dầu óc chiến lược và tầm nh́n xa
trông rộng. Từ khi lựa chọn sinh viên của École des Chartes,
cậu Nhu đă bộc lộ một trí thông minh sắc sảo, một con người
có óc tổ chức khiến nhiều người phát ghen, nhưng lại nể
phục!
Sau khi ông Ngô
Đ́nh Diệm qua Mỹ (1950), ông Ngô Đ́nh Nhu về Sài G̣n liên
lạc với các tôn giáo, đảng phái, xuất bản Nguyệt San Xă
Hội, phổ biến tư tưởng chính trị của ông. Tháng 09-1953,
ông tham gia Phong Trào Đại Đoàn Kết và Hoà B́nh với tư cách
đại diện Công Giáo. Phong Trào này họp tại Sài G̣n ngày
6-09-1953 qui tụ các đại biểu Công Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo,
B́nh Xuyên, Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng và một số nhân
sĩ, trí thức Trung, Nam, Bắc...tất cả 65 đại biểu.
Năm 1954, trước
t́nh h́nh nghiêm trọng có thể xoay chuyển số phận đất nước,
sau khi căn cứ Điện Biên Phủ của Pháp bị thất thủ (
07-05-1954), Quốc Trưởng Bảo Đại đă cử Ông Ngô Đ́nh Diệm làm
Thủ Tướng (toàn quyền): ngày 07-07-1954, Thủ Tướng Ngô Đ́nh
Diệm tŕnh diện Tân Chính phủ tại Sài G̣n, Ông Ngô Đ́nh Nhu
làm Cố Vấn Chính Trị cho Ông Diệm, một chức vụ mà không bao
giờ được bổ nhiệm chính thức đến khi ông bị sát hại ở độ
tuổi đang sung sức, ít ra về nhận thức và kinh nghiệm chính
trị.
Ông Nhu là một lư
thuyết gia cừ khôi xây dựng chủ nghĩa Nhân Vị và là một nhà
chiến lược chính trị sâu sắc đến độ đam mê. Như một cặp bài
trùng, đă hết sức giúp ông Diệm ổn định t́nh h́nh, đối phó
với các tổ chức chính trị đối lập tại miền Nam, có cả hoạt
động bí mật của Cộng Sản ở miền Nam trong lúc các sinh hoạt
của Cộn Sản Việt Nam đều công khai ở miền Bắc...
Ông
thành lập đảng chính trị Cần Lao, dựa vào một chủ thuyết
về cơ
bản
do ông khởi xướng là Học Thuyết Cần Lao -
Nhân Vị để hỗ trợ chính quyền của
người
anh ông. Một phần nào vận dụng viện trợ của người Mỹ, đảng
Cần Lao phát triển lên nhanh chóng, thâm nhập vào hàng ngũ
quân đội, công chức, trí thức và cả giới kinh doanh và trở
thành chính đảng lớn nhất thời bấy giờ. Đồng thời, ông cũng
cho thành lập tổ chức "Thanh Niên Cộng Ḥa"
nhằm qui tu và huấn luyện theo mô h́nh chặt chẽ và hoạt động
tích cực, có hiệu quả do ông làm Tổng thủ lănh. Một tổ chức
khác cũng được thành lập với mục đích như trên, dành cho
giới nữ lấy tên là "Phụ Nữ Liên Đới" do vợ
ông, Bà Trần Lệ Xuân, làm Tổng thủ lănh. Hai tổ chức này là
hai cánh tay nối dài của Đảng Cần Lao Nhân Vị, kiểu như các
đoàn thể trong tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc của Cộng Sản, nhưng
theo mục đí khác biệt nếu không phải là đối lập. Sau khi chế
độ suy tàn biết bao xích bác, lời khen tiếng chê đủ điều
được dịp nói đến bà, từ phía những người Cộng Sản cùng phên
dậu của họ và nhiều cá nhân và đảng phái quốc gia không có
thiện cảm hay không đồng ư với cá nhân bà và gia đ́nh họ Ngô
Đ́nh.
Trên
danh
nghĩa là một cố vấn chính trị, nhưng
hầu như nhiều nhà
chiến lược và nhiều
tài liệu
đều ghi nhận,
ngoài ông Ngô Đ́nh Diệm,
ông
Nhu
mới
là kiến trúc sư
xây dựng rường cột của chế độ. Ông hoạch định tư tưởng và
xây dựng các cấu trúc từ thượng tầng ở trung ương đến hạ
tầng ở địa phương, nông sơn thôn của
chế độ.
Ông Nhu
là người khởi xướng
chính yếu
mọi chủ trương chính sách của nền Đệ Nhất
Cộng Ḥa. Ông cũng cho lập và trực tiếp điều phối nhiều cơ
quan t́nh báo và mật vụ ( có tới 13 cơ quan) với những quyền
lực to lớn như có thể bắt giam người không cần xét xử trước.
Phục
Vụ Đất Nước Đến Chết
"....tôi
(tức ông Đôn) quả quyết rằng: “Không có lời phát biểu
công khai nào của tướng tá lúc đó đ̣i phải xử tử hai ông
Diệm và Nhu..." người ta không khỏi ph́ cười và chê là
lư luận quá ngây thơ (không "công khai" tức là phải
hiểu "bí mật" chăng?)
Để làm sáng tỏ vấn
đề hơn, về điểm này, LM Cao Văn Luận đă viết như sau:
"Khi xác chết anh em ông Diệm được đưa vào nhà thương
Saint-Paul th́ giây trói quật cánh khuỷu hai người vẫn c̣n
nguyên.
"Trên ngực ông
Nhu có nhiều vết thương do dao đâm vào và một vết đạn súng
lục trên đầu. Trên thân thể ông Diệm chỉ có một vết thương ở
đầu.
"Một người lính
thiết giáp kể rằng ông Nhung
(thiếu tá) (lúc
đang nói ở đây ông Nhung chưa được thăng thiếu tá - lời ghi
chú thêm của người viết) vốn có một
người bà con theo đảng Đại Việt bị bắt và xử tử hay thủ tiêu
trong thời kỳ cực thịnh của chế độ họ Ngô, đă căi vả mắng
chửi ông Nhu.
"Ông Nhu nh́n
ông Nhung cách lạnh lùng, khinh bỉ, và nói vài tiếng tỏ vẻ
khinh miệt.
"Ông Nhung đă
giật súng có gắn lưỡi lê của một người lính thiết giáp đâm
ông Nhu nhiều lát sau lưng, rồi ông Nhu ngă gục, nhưng vẫn
chưa chết ngay, th́ ông Nhung bắn một phát đạn súng lục vào
đầu. Các cuộc khám nghiệm sau đó, và các phóng ảnh cho thấy
ông Nhu bị nhiều vết thương do vật bén nhọn đâm từ lưng chổ
ra bụng, và một vết đạn ở đầu.
"Sau khi ông Nhu
bị đâm nhiều lát, ông Nhung đă bắn một phát súng lục vào đầu
ông Diệm, và phát đạn này kết liễu cuộc đời ông Diệm ngay
lập tức
(những tấm h́nh này, trong cuộc họp báo ngày
5.11.63 tại bộ TTM, Đỗ Mậu đă trưng ra như một bằng chứng cụ
thể xác nhận anh em cố TT Diệm đă chết thật, v́ lúc đó c̣n
rất nhiều người hoài nghi hai ông chưa chết. (lời ghi chú
thêm của người viết (Phụng Hồng)).
" Một người khác
kể thêm rằng, khi bắt được hai anh em ông Diệm trói quật
cánh khuỷu, dẫn từ nhà thờ ra xe thiết giáp, tướng Mai Hữu
Xuân đă đánh điện về các tướng lănh tại bộ tổng tham mưu chỉ
huy cuộc đảo chánh xin chỉ thị, sau một lúc bàn căi, các
tướng lănh đă bỏ phiếu với đa số quyết định phải thủ tiêu
ông Diệm gấp, v́ lo sợ nếu để ông Diệm sống sót, th́ một số
đơn vị quân đội có thể ủng hộ ông chống lại phe đảo chánh"
(7)
Trích dẫn đoạn trên
của cha Luận (cũng là một nhân chứng!), tôi (người
viết Phụng Hồng) muốn nhấn mạnh thêm một lần nữa rằng vụ mưu
sát hai anh em cố TT Diệm là một dự mưu đă được tính toán
trước bởi một số tướng lănh phản bội toa rập với đề nghị của
ngoại bang (v́ nếu không thỏa
măn yêu cầu của họ th́ họ không ủng hộ cuộc đảo chánh th́
sức mấy mà thành công!).
Tiếc thay, ông Đôn
đă cố t́nh miêu tả một cách hời hợt, như ngầm đổ lỗi cho đại
úy Nhung, sĩ quan cận vệ tay chân của ông Minh, tự ư giết
(trang 238), và ḿnh không có trách nhiệm ǵ. Tuy nhiên,
ta vẫn thấy ở một trang khác, tác giả đă để lộ ư định cho
rằng giết TT Diệm là đúng (tr. 250). Chính trong cuốn
"Our Endless War" (8), ông Đôn đă viết chương "Diem
Must Go" và đă biện minh cho việc giết TT Diệm là hợp lư.
Đọc đến đây, người ta băn khoăn tự hỏi nếu ông Đôn chối bỏ
hành động cố sát TT Diệm th́ tại sao lại ngụy biện vậy? Thật
là mâu thuẫn không thể hiểu được! Đó là một sai lầm lớn.”
“…tôi (người viết
Phụng Hồng) muốn mời bạn đọc t́m hiểu thêm một ư kiến khách
quan của một người ngoại cuộc, ông Von Wenland, Đại Sứ
Cộng Ḥa Liên Bang Đức tại Việt Nam. Ông này đă tâm t́nh
với cha Luận rất lâu sau ngày đảo chánh. Cha Luận đă viết:
"Trước hết tôi
đến gặp Đại Sứ Đức là ông Von Wenland. Ông này phàn nàn về
cái chết của ông Diệm và ông Nhu. Tuy nhiên ông biết ông
Diệm và chế độ của ông không tránh khỏi một vài tiếng
khiếm khuyết nhưng không ai có thể phủ nhận những thiện chí
của ông Diệm đối với Quốc Gia.”
"Cái chết của
ông Diệm làm cho tương lai Việt Nam trở nên đen tối hơn. Tôi
c̣n nhớ một đoạn trong câu chuyện của ông Đại Sứ Đức:
"Tôi không theo
tôn giáo nào cả, nhưng tôi tin rằng giờ đây linh hồn ông
Diệm sẽ phảng phất nơi đây và sẽ gieo nhiều tai họa cho xứ
sở ḿnh.
"Mặt ông đượm
buồn, và giọng ông hết sức chua chát. Ông cho biết ông đă đệ
đơn từ chức và sẽ rời Việt Nam trong ít lâu."
(9)
Và sự thật cũng đă
chứng minh một ách hùng hồn như chúng ta đă từng là Nhân
Chứng từ 1975 đến nay. Vậy ta có thể kết luận một cách đau
ḷng rằng "Cuộc Đảo Chánh 1.11.63 đă làm
cho Việt Nam mất vào tay giặc cộng sản Bắc Việt"
Bạn có đồng ư với
tôi [Phụng Hồng] không? Nếu bạn không đồng ư, xin mời bạn
hăy đọc tiếp đoạn này:
"....Cái chết
của ông Diệm và ông Nhu đă làm cho một số người Mỹ xúc động
và quay trở lại có cảm t́nh với ông Diệm hơn trước. Bộ mặt
của những người thay thế ông Diệm cũng dần dần hiện rơ và
người Mỹ thấy bộ mặt đó chẳng đẹp đẽ ǵ hơn.
"Những người Mỹ
trong đó có cựu đại sứ Nolting, tướng Harkins, ông
Richardson, giám đốc trung ương T́nh Báo Mỹ (CIA) tại Việt
Nam lên tiếng cảnh cáo rằng cuộc cách mạng 1.11 chẳng những
sẽ không cải thiện được t́nh h́nh quân sự và chính trị tại
Việt Nam như nhiều người Mỹ mong cầu, mà trái lại sẽ làm cho
t́nh h́nh chung tồi tệ hơn. Những hỗn loạn chính trị đă bắt
đầu diễn ra và về mặt quân sự, Quân Đội Việt Nam mải lo canh
gác Sài G̣n và các đô thị lớn để đề pḥng phe ông Diệm đă
gần như bỏ trống các vùng nông thôn cho Việt cộng." (10)
(sự băi bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược mà Việt cộng từng ghê
sợ nhất, là một thí dụ điển h́nh-lời ghi chú thêm của
người viết [Phụng Hồng]).
Đây là một bằng
chứng hùng hồn nhất, một bài học lịch sử đau đớn nhất cho
những ai từng tự vỗ ngực huênh hoang cho ḿnh là "người
hùng cách mạng", và tự đeo lon to nhất để suy gẫm lấy.
Và tôi [Phụng Hồng] cũng muốn những người đă "bái lạy
tướng to lon" để mưu đồ đảo chánh, phản bội chủ ḿnh hăy
tự kiểm điểm lại hành động ḿnh mà ăn năn hối lỗi. Nhưng
chậm quá rồi! Lịch sử và những vượt biên trên biển cả, những
hồn thiêng trong Tết Mậu Thân, trong "ḷ luộc người cải
tạo" chắc chắn không bao giờ tha thứ bọn người này! Đó
là một sự thật cay đắng mà ai nấy đều đă thấm thía khi phải
"tha phương cầu thực".
Và sau cùng, tôi [Phụng
Hồng] muốn nhân dịp này nhắc lại câu nói để đời của
William Colby, cựu Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo đă từng
hoạt động nhiều năm tại Việt Nam, và là người am hiểu t́nh
h́nh chính trị Sài G̣n hơn ai hết, khi hối tiếc về cái chết
của TT Diệm trong cuốn sách mới nhất của ông (11): "Nếu
ông Diệm c̣n, chưa chắc miền Nam mất."
Những Dư Luận
Thóa Mạ Chống Đối
Chi tiết được ông
Ngô Bảo, nay đă 78 tuổi, cho biết chứng tỏ
chắc chắn rằng Nguyễn Đắc Xuân đă bịa đặt, và đám nam nữ
sinh viên cùng tham dự buổi tham quan dinh Gia Long đă im
lặng đồng loă.
“Dù
chỉ nh́n thoáng qua, ấn tượng về ông c̣n được ghi nhớ măi
trong tôi. Nhiều ấn tượng c̣n được ghi khắc trong số học tṛ
của ông Nhu có linh mục Phước. Lm Phước kể lại cho
Nguyễn Văn Lục hay biết:
“là
có dịp đi Đà lạt sau này, có đến thăm thày cũ. Ông đă hết
lời nói về gia đ́nh thày của ḿnh. Ông Nhu th́ học cao, hiểu
rộng, tài trí hơn người. Ai ai cũng phải nh́n nhận như vậy.
C̣n cụ Đoàn Thêm
có những nhận xét:
“Về phương diện
trí thức, tŕnh độ của ông Nhu rất cao. Học vấn cổ điển và
nhân bản của ông rộng và vững. Qua lời nói ề à, kẻ chú ư có
thể bắt gặp những nhận xét sâu sắc về người và việc, một sự
khó thấy ở ông Diệm, và ít thấy ở người chung quanh.”
Bà th́ vừa xinh,
vừa trẻ đẹp, giữ ǵn gia phong nề nếp. Thêm một lần nữa, tôi
có một ấn tượng rất tốt đẹp về bà Nhu. Theo cha Phước khi
đến thăm ông Nhu cùng với vài người khác ngồi ở pḥng khách.
Chủ khách đàm đạo trong khi bà Nhu không dám ngồi mà chỉ
đứng chắp tay vào nhau để trước bụng.”
Đấy là cử chỉ
của những gia đ́nh có lễ giáo nghiêm ngặt. Ông Nguyễn Văn
Lục nghe biết câu chuyện này, khi c̣n ở ngoài Bắc trước khi
có cuộc di cư. Nói xấu một người th́ dễ hơn là kính trọng
người ta, v́ người ta thường thấy cái tiêu cực trong người
khác hơn là thấy nết xấu ở nơi ḿn. “Chân ḿnh th́ lấm mê mê,
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người”, đấy là cái thói ở đời ben
Đông cũng như bên Tây.
Sau gần 10 năm, tác
giả Nguyễn Văn Lục lại có dịp khác “gặp lại” ông Nhu
trong một khung cảnh khác. Hồi ấy, anh c̣n là sinh viên
Đại học Đà Lạt nên thường tham dự những buổi lễ do nhà
trường tổ chức. Ông Lục nhớ lại:
“Đôi lần lại có
dịp được thấy ông Nhu. Ông không mặc áo bốn túi nữa, mà áo
veste. Gương mặt có phần trĩu nặng ưu tư. Mặc dầu là cố vấn
Tổng Thống, ông xuất hiện hết sức low profile. Ngồi một
góc. Im lặng. Ai khen th́ khen. Ai vỗ tay th́ vỗ. Ông vỗ nhẹ
tay lấy lệ, c̣n vẫn ngồi bất động như thể đang nghĩ về một
vấn đề ǵ khác. Gần như ông không chú ư đến ai cả. Có cảm
tưởng như ông bắt buộc phải ngồi đó. Có thể ông ghét
những thói bề ngoài ŕnh rang với đôi chút tâng bốc, xu
phụng. Cả buổi lễ, ông chỉ ngồi chống tay trên thành ghế.
Không nhúc nhích, không nói nửa lời.”
Cụ Đoàn Thêm
nói tiếp về con người ông Nhu “cử
chỉ lạnh lùng bắt người ta nhớ đến câu của Racine gán cho
Néron: ‘Ami ou ennemi, il suffit qu’on me craigne’ (Bạn
hay thù, miễn là họ biết sợ ḿnh là đủ).”
Phần tôi, có lẽ
chẳng có lệ thuộc ǵ với ông, tôi nh́n chăm chăm vào ông.
Kính phục th́ có, sợ th́ không.
Tôi dành cả buổi
lễ quan sát ông không sót một cử chỉ nào. Ông khác hẳn các
viên chức như các ông
Trương Vĩnh Lễ,
Trương Công Cừu. Cụ Lễ th́ khúm núm
ra mặt. Các ông lần lượt lên rước lễ mà chắc hẳn ông Nhu
không hề chú ư đến những cử chỉ, thái độ của mấy ông này.
Ông không phải
là loại người của đám đông.
Cứ nghĩ lại coi,
trong 9 năm cầm quyền. Có bao giờ thấy ông Nhu xuất hiện
công khai, đăng đàn diễn thuyết (chỉ trong trường hợp thuyết
tŕnh học tập như ở Suối Lồ Ồ) đao to búa lớn, hay h́nh ảnh
đăng dài dài trên báo hà rần, cờ xí, duyệt binh, gắn lon gắn
chậu, tiền bạc xa hoa, xe cộ tiền hô hậu ủng.
Không. Ông
Nhu ít xuất hiện, ít phô trương. Ngược lại kín đáo, nấp sau
bóng dáng Tổng Thống.”
Căn cứ vào các số
báo Lập Trường, Hành Tŕnh, Đất nước và Tŕnh bày sau
1963. Ông Lục không hề nghe
thấy một lời phê phán về cá nhân ông Ngô Đ́nh Nhu. Tiền bạc
không, nhà cửa dinh thự không. Mấy ai đă làm được như vậy?
Cụ Đoàn Thêm
viết về ông Nhu đă sống như thế nào:
“Tôi c̣n ghi
nhận những ống quần nhầu không ủi, chiếc sơ mi hở cổ cộc tay
và hơi cũ, đôi dép da quai sờn. Y phục sức quá sơ sài của em
một Thủ tướng khiến tôi phát ngượng, lúng túng trong bộ đồ
lớn của tôi. Tôi càng thấy khó hiểu, khi mục kích ông co ro
cùng vợ con trong một căn pḥng nhỏ hẹp trên lầu dinh Độc
lập, tuy c̣n những pḥng rộng rộng lớn và đẹp hơn. Theo một
người thân cận, th́ ông không muốn ở trong Dinh, chỉ chờ dịp
dọn đi, nhưng Ông Diệm không nghe, quyết giữ ông lại để c̣n
luôn luôn hỏi việc. Căn cứ vào những lời ông nói và nếp sống
bề ngoài của ông, tôi đă kết luận rằng ông tránh tiếng lợi
dụng quyền lực và địa vị của ông anh ... Ngay cả hai chữ cố
vấn cũng chỉ là nhận bất đắc dĩ.”
Vẫn theo lời kể của
cụ Đoàn Thêm:
“Đến khi cần cử
ông qua Pháp thương thuyết với thủ tướng Edgar Faure, một số
người trong chánh phủ thấy ông phải đi với một danh nghĩa
chính thức hơn là với tư cách bào đệ ông Diệm. Nên hai chữ
cố vấn đă được đem dùng để đồng thời thừa nhận một sự vẫn
được coi là hiển nhiên. Ông cũng biết là không tránh được
chức vị… Ông Nhu không thoát khỏi lệ thường, nên chỉ tới đầu
1956 là ông hết phản đối (Không chịu người ta gọi là ông cố
vấn).
Ai đă từng đọc cụ
Đoàn Thêm th́ đều hiểu rằng, cụ viết cẩn trọng, tương
đối khách quan, khen có mà chê cũng có. Như thế những nhận
xét của cụ nên coi là khuôn thước, tránh được cái tệ nạn
xuyên tạc hay xưng tụng quá đáng.
Ông cố vấn sống
thanh đạm và đơn giản như thế, th́ chắc người phụ nữ nào làm
vợ ông cũng phải là người biết “liệu cơm gắp mắm”
Tư cách trí thức
biết điều là ở chỗ ấy. Người ta nh́n lại, những người thay
thế ông sau này. Một khi có quyền bính trong tay, họ đă
hành xử thế nào? Như ông Đỗ Mậu làm phó thủ tướng văn hóa,
dù chỉ trong một thời gian ngắn, ông xuất hiện nhiều lần hơn
gấp bội ông Ngô Đ́nh Nhu trong 9 năm làm cố vấn?
Có một vị nào
sau này lên cầm quyền có một phong cách trí thức như một Ngô
Đ́nh Nhu và tư cách một kẻ sĩ như một Ngô Đ́nh Diệm?
Người ta chỉ
muốn nói về CON NGƯỜI mà không đề cập đến chính trị. Hay nói
như cụ Đoàn Thêm, chế độ đệ nhất cộng hoà là nhân trị hơn
pháp trị. Nhưng nếu làm người mà không xứng đáng th́ nói
chi đến thứ khác?
.
Vận Động Chính
Trị ở Hải Ngoại: ông Ngô Đ́nh Diệm
Trở lại cuộc vận
động hải ngoại cho ông Ngô Đ́nh Diệm, th́ thực ra, theo GS
Tôn Thất Thiện, cuối năm 1949, Cụ Diệm khước từ lời của Cựu
Hoàng Bảo Đại mời ông làm Thủ Tướng v́ cho rằng Hiệp Định
Cựu Hoàng vừa kư với Pháp (Hiệp Định Elysées) không mang lại
độc lập thực sự cho Việt Nam, nhất là về ngoại giao. Sau đó,
ông nhận lời cùng với Giám Mục Thục đi một ṿng thế giới
nhân dịp GM Thục đi tham dự một hội nghị các giám mục của
Giáo hội Công giáo ở La Mă. Hai ông đi Nhật Bản, rồi từ đó
sang Hoa Kỳ.
Sau mấy
tuần ở Hoa Kỳ, hai ông sang La Mă.
Mỗi người sinh hoạt
theo kế hoạch riêng biệt. Sau khi tham dự hội nghị giám mục
tại Rôma, Đức cha Thục đi hành hương ở Tây Ban Nha, rồi về
Việt Nam, c̣n ông Diệm th́ đi Thụy sỹ và Pháp.
Trong thời gian ở Paris ông Diệm gặp lại người em
Ngô Đ́nh Luyện và gia đ́nh ông này. Ông gặp lại Vơ Văn Hải,
một người hăng say sát cánh bên ông trong những năm
1945-1949. Ngoài ra, ông có sở thích đi bộ quan sát Paris,
và viếng các nhà thờ lớn. Ông đi bộ nhiều đến nỗi viên mật
thám có nhiệm vụ trông coi ông phải than trời “ông này
điên rồi! ông muốn thăm hết Paris, mà toàn đi bộ!”. Tất
nhiên cũng có nhiều người t́m gặp ông. V́ vậy mà nhà chức
trách Pháp muốn ông ra khỏi đất Pháp.
Đúng lúc đó có tin
Tu viện Maryknoll ở New York mời ông sang với tư cách làm
nhân viên giảng dạy đặc biệt, nên ông Diệm đi lại Hoa Kỳ.
Giữa năm 1953, ông lại đi Âu Châu, trú tại Tu viện Biển Đức
Thánh Anrê (Couvent Bénédictine de Saint André) ở Bruges, Bỉ
(Belgique). Thường những quyết định lớn về Việt Nam diễn ra
ở Paris, nhưng lại hay gây ồn ào, và bị mật thám Pháp ŕnh
ṃ, nên ông chọn qua Bỉ gần Paris, mà tránh được cả hai thứ
phiền phức trên.
Mùa Thu năm 1953
t́nh h́nh Việt Nam sôi động, ảnh hưởng đến t́nh h́nh chính
trị Pháp với viễn ảnh điều đ́nh lập lại hoà h́nh ở Đông
Dương. Đặc biệt trong trường hợp ấy, có tiếng đồn Ông Ngô
Đ́nh Diệm sẽ là Thủ Tướng Việt Nam. Thật ra, đây chính là
thời gian Cựu Hoàng Bảo Đại bắt đầu t́m liên lạc với Ông Ngô
Đ́nh Luyện để “nối lại t́nh xưa”, v́ hồi nhỏ, trước
Thế Chiến II, hai ông là bạn chơi với nhau ở Paris. Nhưng
Ông Luyện thừa hiểu nguời Cựu Hoàng muốn móc nối không phải
là ông mà là ông Diệm.
Để nắm t́nh h́nh rơ
hơn, ông Diệm sang Paris, nơi có nhiều chính khách Việt Nam,
và quyết định về Việt Nam - vẫn đang bị Pháp chi phối. Muốn
kín đáo hơn, ông không ở với Ông Luyện, trong vùng Choisy,
ngoại ô Paris, mà ở với ông Tôn Thất Cẩn, trong vùng
Gentilly, ngay sau khu Học Xá Đại Học Paris. Ông Cẩn là con
của Quận Vương Tôn Thất Hân, từng làm Phụ Chính, kết thân
với bản thân ông Ngô Đ́nh Khả. Ông Hân đă lén giúp ông Ngô
Đ́nh Khả trong thời gian ông này khốn đốn v́ bị tước hết
chức vụ, mất hết bổng lộc, v́ không chịu kư kiến nghị truất
phế Vua Thành Thái. Chính ở đây mà ông Tôn Thất Thiện, em
ruột ông Cẩn, hội kiến ông Diệm lần đầu qua trung gian ông
Thuyên, người phụ giáo cho gia đ́nh ông Hân.
Ông Diệm tiếp ông
Thiện khoảng một giờ. Ông tŕnh bày t́nh h́nh quốc tế, và
nói: ḿnh may mắn hơn Tàu, v́ người Trung Hoa ở Đài Loan
không có hy vọng lấy lại được Lục Địa, c̣n Việt Nam có nhiều
may mắn hơn. Ông cũng kể về những năm phải nghỉ việc, dành
th́ giờ nghiên cứu thuyết cộng sản, đọc sách, trồng hoa,
nhất là Hoa Hồng. Ông muốn một thể chế tối thiểu ngang với “Dominion”
như các Dominion Anh. “Dominion” là danh từ chính ông dùng.
Ông không nói ǵ về thể chế Việt Nam tương lai, nhưng căn cứ
trên lư lịch và nếp sống gia đ́nh, và cách ông cư xử với Cựu
Hoàng Bảo Đại, có thể chế độ ông thích là quân chủ lập hiến.
Lúc ông được bổ
nhiệm làm Thủ Tướng, rất ít người hiểu rơ về ông. Tôn Thất
Thiện nhờ các chi tiết ông cung cấp để viết bài gởi về Việt
Nam qua đại diện Việt Tấn Xă ở Paris, với tựa đề: “Ông
Ngô Đ́nh Diệm là ai?”. Đó là tài liệu trung thực đầu
tiên nói về ông mà báo chí phổ biến rộng răi. Tôn Thất Thiện
hỏi Ông khuyên những người trẻ phải làm ǵ. Ông nói: “Các
anh nên vô làm việc trong các cơ quan đi, để lấy kinh nghiệm
sau ni mà làm việc”. Tuy thấy đây là một lời khuyên hơi
lạ, v́ thanh niên lúc đó có xu hướng “chờ thời” giữa
hai bên là làm việc với một Chính phủ th́ Chính phủ Bảo Đại
(mang tiếng “theo Pháp”) hay Chính phủ Hồ Chí Minh (đang ở
trong rừng, nhưng Cộng sản).
Thực sự suy nghĩ
cho cùng, th́ muốn làm được việc, phải có kinh nghiệm về
hành chánh quản lư công việc, tổ chức guồng máy và nhân sự
cùng vận động quần chúng; mà muốn có kinh nghiệm đó, th́
con đường tốt nhất là phải làm việc trong các cơ quan chánh
phủ. Trả lời phỏng vấn, lúc đó một chính khách cộng sản Pháp
nói: “Nên tham gia chính phủ, v́ ở trong chính phủ mới
được đọc được hồ sơ và hiểu rơ t́nh h́nh.” Chính ông
ta biết như vậy nhờ tham gia Chính phủ Liên hịệp của de
Gaulle lúc de Gaulle cầm quyền sau Thế Chiến II. Điều này
giải thích tại sao ông Diệm lại tin dùng những người như ông
Nguyễn Ngọc Thơ và công chức cao cấp các thời trước, kể cả
thời Pháp. Những ư nghĩ và kiến thức cùng kinh nghiệm làm
việc đă chinh phục thiện cảm và tin tưởng hơn vào ông Diệm
trong giới thanh niên.
Tài liệu CS và một
số thành phần không ưa ông Diệm, đă ghi lại một số t́nh tiết
với thâm ư làm sai lạc sự thật là gán ghép Mỹ và Công Giáo
chủ mưu đưa Ông Ngô Đ́nh Diệm và phe cánh của ông lên nắm
quyền. Tài liệu tiêu biểu mới đây là một điều sai sự thực,
trong lúc chính quyền CS bề ngoài nói là muốn xóa bỏ quá khứ
để xây dựng đoàn kết dân tộc. Tài liệu “Trần Lệ Xuân:
Giấc Mộng Chính Trường” và nhiều tài liệu khác xuất
bản vào giai đoạn này do Nhà Xuất Bản Công An Nhân Dân có ư
nghĩa ǵ, khi chủ t́nh nói sai sự thật và chỉ theo quan điểm
Cộng Sản.
Thực ra, năm 1950 ở
Roma có hội nghị các giám mục trên thế giới, Giám Mục Ngô
Đ́nh Thục được mời tham dự. Nhân dịp này ông Diệm xin đi
theo. Trên đường đi, hai người ghé lại Nhật Bản xin gặp một
số chính khách Nhật và Việt xem họ có giúp được ǵ không.
Sau đó tại Rôma, ông Diệm được Giám Mục Thục giới thiệu với
Hồng Y Giáo Chủ Spellman là giáo chủ của Mỹ để xin giúp đỡ
cho Diệm. Spellman đồng ư.
Năm 1951, Diệm bay
sang Mỹ và được Hồng Y Spellman đỡ đầu cho vào ở trong tu
viện Maryknoll tại Lakewool thuộc bang New Jersey, Diệm ở
đây hai năm. Thơi gian này ở Đông Dương, Pháp đang bị Việt
Minh đánh tơi tả. Pháp cầu cứu Mỹ giúp khí giới, nhưng Mỹ
lừng khừng v́ thâm ư của Mỹ là muốn cho Pháp bại trận, để
sau đó nhảy vào giành phần.
Ông Diệm rời Mỹ vào
tháng 3.1953, ở Paris ít lâu rồi sang Bỉ lưu trú tại Tu Viện
Bénédictine. Một năm sau, ông Diệm lại trở về Paris để nghe
ngóng t́nh h́nh Đông Dương.
Các con bài của
Nguyễn Văn Tâm rồi hoàng thân Bửu Lộc do Bảo Đại chỉ định
làm thủ tướng theo chỉ thị 24 của Pháp không tạo được hậu
quả nào, trong khi đó Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ chỉ c̣n
là vấn đề thời gian. Đến lúc này Mỹ thực sự nhảy vào cuộc,
đề nghị Pháp dùng lá bài Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng Bảo Đại không
chấp thuận ông Diệm thay ông Bửu Lộc v́ Bảo Đại vẫn c̣n căm
hận ông Diệm đă bỏ Bảo Đại để rút lui về vườn. Thêm một lư
do nữa v́ lúc ấy Bảo Đại đang chịu sự chi phối của B́nh
Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu về vấn đề tài chính.
Một mặt Mỹ ép Pháp
thay đổi chính phủ tại Việt Nam bằng cách dùng lá bài Ngô
Đ́nh Diệm do Mỹ đưa ra; mặt khác Ngô Đ́nh Thục tích cực vận
động giới Công giáo La Mă, Pháp và nhất là Mỹ phải đưa Ngô
Đ́nh Diệm ra gấp th́ mới hy vọng cứu Việt Nam khỏi bị Việt
Minh thống trị! Đồng thời Ngô Đ́nh Luyện cũng gặp Bảo đại để
dàn xếp cho Diệm về nước lập chính phủ v́ từ lâu Luyện rất
thân với gia đ́nh Bảo Đại…“(t.
23, sđd.)
Thời gian 1953-54,
Pháp bị tấn công mạnh ở Việt Nam, khi có thêm hậu thuẫn từ
Trung Quốc Cộng Sản, sau khi toàn thể lănh thổ bị Cộng Sản
Trung Hoa chiếm quyền thống trị.
Tóm Thuật Hoạt
Động Thực Tế Phức Tạp Khi Nắm Chính Quyền
Khi lên nắm chính
quyền, chế độ mới do hai ông Diệm Nhu hoạch định thựa hiện
phải đối phó với nhiều vấn đề nhiêu khê, có thể làm nguy
ngập đến thể thống đất nước. Một cách tổng lược, ngưới ta có
thể đưa ra một h́nh ảnh vắn tắt như sau
Những Việc Cụ
Thể Chế Độ VNCH I Đă Thực Hiện:
1. Tổ chức việc
tiếp chuyển, định cư di dân từ miền Bắc vào miền Nam và bố
trí trại định cư theo địa điểm chiến lược, h́nh thảnh cấu
trúc ban đầu cho một mạng lưới Ấp Chiến Lược, giải quyết vấn
đề dân sinh và an dân chống lại họat động của Cộng Sản từ
miền Bắc xâm nhập miền Nam qua đường rừng núi chủ yếu bên
Lảo và đường thủy (sông rạch và biển cả)
2. Đoàn kết các
đảng phái chính trị, lực lượng quân sự, chủ yếu dựa trên tôn
giáo hay địa phương: các tổ chức B́nh Xuyên, Cao Đài, Ḥa
Hảo, Phật Giáo, Công giáo, Tin Lành, các lực lượng chính
đảng khác như Đại Việt, phe Bảo Hoàng, lực lượng ủng hộ
quyền lợi thực dân Pháp, trong một mặt trận thống nhất dựa
trên một ư thức hệ và hoạt động Chủ Nghĩa Nhân Vị, đối lập
với ư thức hệ và hoạt động chủ nghĩa Cộng Sản.
3. Tổ Chức Quân Đội
Quốc Gia Độc Lập từ cơ sở những lực lượng trong quân đội
Pháp: Địa Phương Quân, Bảo Chính Đoàn, thành một lực lược
chính quy, hiện đại có kỷ luật, có tổ chức, có huấn luyện,
đủ khả năng pḥng vệ và tác chiến hữu hiệu với doanh trại,
quân trang, quân dụng, vũ khí, từ cá nhân binh sĩ ở các cấp
tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu doàn, trung đoàn, sư đoàn,
các lực lượng lên đến quân đoàn vùng chiến thuật I, II, III,
IV với yểm trợ cần thiết ban đầu của nhiều nước, nhất là
Mỹ.
4. Xây dựng Lực
Lượng Cảnh Sát Công An từ các bộ phận c̣n manh mún phục vụ
cục bộ của nhiều nhóm, nhất là của B́nh Xuyên, thành một Đơn
Vị Cảnh Sát Công An Quốc Gia Độc Lập thống nhất. H́nh thành
mạng lưới an ninh duy tŕ cảnh vệ trậ tự các cơ sở hành
chính quan yếu của quốc gia.
5. Tổ chức chính
trị ṇng cốt là thành lập chính đảng Cần Lao Nhân Vi tôn
trọng nhân vị và yêu mến cần lao để kiến thiết bản thân và
đất nước, chống lại chủ nghĩa và hoạt động phá hoại của Cộng
Sản. Ngoại vi của lực lượng Cần Lao Nhân Vị là qui tụ động
viên thành phần chủ yếu là thanh niên vào hai tổ chức chính:
Thanh Niên Cộng Ḥa và Phụ Nữ Liên Đới.
Từ chính đảng ṇng
cốt này có thể vận động thanh niên nam nữ và nhiều thành
phần nhân dân vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
chống lại hoạt động theo xu hướng của chủ nghĩa Cộng sản.
Tạo thành một phong trào Cách Mạng Quốc Gia, ây
dựng đ1ât nước, nhất tâm đối phó với Cộng Sản
6. Tổ Chức hệ thống
chính trị dân chủ với ba lănh vực Hành Pháp (Tổng Thống),
Lập Pháp (Quốc Hội) Tư Pháp (Hệ Thống Ṭa Án), với bầu cử
dân chủ chọn người làm việc từ trong các thành phần giáo
phái chính đảng quốc gia trong t́nh trạng đối phó với hoạt
động xâm nhập, phá hoại dưới nhiều h́nh thức của Cộng Sản,
cụ thể là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.
7. Một Giài pháp
chính trị chiến lược thực tế đa hiệu, chống lại Cộng sản là
chính sách Ấp Chiến Lược. Ư nghĩa chính thức của tổ chức này
là kêu gọi tổ chức nhân dân tập trung vào các ấp chiến lược,
nhất là tại những vùng dễ xâm nhập hoạt động của cộng sản,
nhưng có lợi điểm cư trú và hoạt động kinh tế nông nghiệp,
kỹ nghệ, lâm ngư nghiệp, giáo dục của nhân dân.
Khi dân chúng tự
nguyện tự giác vào sinh cư tập trung gọn gàng và kỷ luật
trong các ấp này, th́ tất cả những thành phần c̣n lại bên
ngoài các ấp (khu trù Mật và Dinh Điền) là Công Sản hay hoạt
động đi theo ủng hộ Cộng Sản. Du kích Cộng Sản sẽ lần lượt
bị ngăn chặn, tiêu diệt v́ không c̣n chỗ dung thân và sinh
sống.Tổ chức này hữu hiệu làm nguy ngập cho tổ chức hoạt
động của Cộng sản, nên CSVN mới phản tuyên truyền, xuyên tạc
là bắt gom dân vào Ấn Chiến Lược, và thành lập Mặt Trận Dân
Tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam
Nhưng Kế Hoạch
Do Chế Độ Xây Dựng Có Những Khuyết Điểm Sau:
1. Quyền lợi, nhận
thức cá nhân và đoàn thể khác nhau về tôn giáo và chính trị
xă hội muốn xây dựng dân chủ tự do vội vă đốt giai đoạn, đă
cản trợ hoạt động phát triển dân chủ thống nhất của nhà nước,
trong t́nh thế phải đối phó với các h́nh thức xân nhập và
hoạt động của Cộng Sản.
2. Hoạt động tuyên
truyền, đồng khởi, phá hoại của Cộng sản đánh phá nhiều mắt
xích trong hệ thống hành chính địa phương và trong hệ thống
Ấp Chiến Lược ở các vùng sâu vùng xa, và các điạ điểm chiến
lược, khi tổ chức chiêu hồi và ấp chiến lược tỏ ra nhiều
thiệt hại bất lợi cho Cộng Sản.
3. Hệ thống quản lư
đất nước bị lạm dụng, nên có xu hướng thiên về gia đ́nh trị,
công giáo trị gây hoài nghi cho nhiều thành phần nhất là
Phật Giáo, trong việc kết nạp vào Đảng Cần Lao Nhân Vị và
nhiều hoạt động khác như tố chức an ninh (mật vụ, t́nh báo,
cảnh sát, thanh niên, quân đội).
4. Sự can thiệp xen
lấn lộ liễu mạnh bạo của Mỹ từ yểm trợ nhẹ nhà đến hoạt động
hành quân của cả một lực lượng lớn trên lănh thổ một đất
nước độc lập có chủ quyền với nhiều phương tiện doanh trại,
tổ chứng nhân vật lực phức tạp.
Điều này tạo cơ hội
cho tuyên truyền Cộng Sản về nhiều mặt. Khi các cảnh chiến
tranh tàn bạo được chiếu trực tiếp trên truyền h́nh các gia
đ́nh Mỹ hằng ngày đêm đă dần dần tạo nên phong trào phản
chiến, đ̣i chính quyền Mỹ phải rút về mau lẹ, tạo một khoảng
trống cho quân đội c̣n ḍn mỏng của VNCH, chưa kịp tổ chức
xây dựng, bổ sung về quân số và huấn luyện và thiếu vũ khí
tối tân, so với lực lượng vơ khí và mưu lược dối trá của
Cộng Sản,
5. Phong trào Đồng
khởi từ Bến Tre và Biến Cố Tổng Công Kích Tết Mậu Thân trên
lănh thổ VNCH II là một hoạt động liều lĩnh của Cộng Sản khi
hệ thống Ấp Chiến Lược đă chứng tỏ có hiệu quả đă đẩy CSVN
đến chỗ phải hành động để sống c̣n. Sự tàn bạo và dối trá
của Cộng Sản trước Việt Nam toa rập với ư chí chủ bại và
phản bội của Mỹ đă đưa đến thằng lợi trước mắt của CSVN ngày
30/4/1975. Việc hủy bỏ hệ thống Ấp Chiến Lược sau khi lật đổ
chế độ VNCH I là một hành động phá hoại chiến lược, chuẩn bị
xa nhưng mau hơn cho sự chiến bại của miền Nam
Gia Đ́nh Bên Ông
Ngô Đ́nh Nhu
Gia đ́nh họ Ngô
Đ́nh,
nguyên quán ở đất Quảng B́nh, ông cố tổ là dân bần hàn sống
nghề chài lưới. Khi đạo Công giáo truyền đến vùng này từ thế
kỷ 17, th́ tổ tiên của ḍng họ Ngô Đ́nh đă tin đạo. Đời ông
Ngô Đ́nh Khả đức tin đó vẫn được củng cố và phát
triển. Là một thanh niên chăm chỉ đạo dức mà lại thông minh,
cậu được theo học cả chữ hán lẫn chữ Pháp. Cậu được gửi du
học ở trường chủng viện Thánh Giuse ở Penang (Mă Lai), cùng
với Nguyễn Hữu Bài, với ư định được huấn luyện để trở
thành Linh Mục. Nhưng v́ không được ơn gọi làm Linh Mục, cả
hai cậu Khả và Bài đều trở về Việt Nam và sau này trở thành
thông gia, v́ có một quá tŕnh dài học tập và hiểu biết lẫn
nhau.
Về nước, v́ giỏi về
ngoại ngữ, ông Khả và ông Bài đều được tuyển làm thông dịch
viên. Làm việc xuất sắc có nhiều kết quả, Khả được trọng
dụng và thăng chức rất nhanh. Khi vua Thành Thái mất chức,
th́ Khả cũng mất chức Phụ Đạo Nam Triều. Gia đ́nh Ngô Đ́nh
Khả cư ngụ tại Phú Cam, nơi có một xứ đạo kiên trung của đất
Huế.
Ông Ngô Đ́nh Khả có
tất cả:
Con cả là Ngô
Đ́nh Khôi (1885?-1945) lập gia đ́nh với người con gái
của Nguyễn Hữu Bài.
Con thứ hai là
Ngô Đ́nh Thục (1897-1985) từng du học tại Rôma năm. Từ
1919-1927 du học Roma: Tiến sĩ Triết học (1922), Tiến sĩ
Thần học (1926), Tiến sĩ Giáo luật (1927). Qua Pháp học Đại
Học Công Giáo Paris: Cử nhân Triết học (1929). Khi về nước
giữ nhiều chức vụ trước khi làm Giám Mục Vĩnh Long, rồi Tổng
Giám Mục Huế.
Con thứ ba là
Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963), từng làm Tuần Vũ B́nh Thuận,
rồi Thượng Thư Bộ Lại triều Bảo Đại (1932).
Năm 1918 thi vào
trường Hậu Bổ, sau 03 năm tốt nghiệp, lần lượt giữ các chức
vụ từ Tri huyện Hương Thủy (1922), Tri huyện Quảng Điền
(1923), Tri phủ Hải lăng (1925), Quản đạo Ninh Thuận (1927),
Tuần vũ B́nh Thuận (1930), Thượng Thư Bộ Lại (1933) được hơn
02 tháng th́ từ chức...Năm 1945 bị Việt Minh bắt sau nhờ Đức
Giám Mục Lê Hữu Từ can thiệp, được trả tự do. Năm 1950 qua
Roma rồi qua Hoa Kỳ. Ngày 07-07-1954 về nước chấp chánh giữ
chức Thủ Tướng toàn quyền do Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ định.
Sau cuộc “trưng cầu
dân ư” tháng 10-1955, dược dân bầu lên làm Quốc Trưởng rồi
Tổng Thống tại Miền Nam VN đối lập với chế độ Cộng Sản tại
Hà Nội do Hồ Chí Minh lănh đạo. Ông có công ổn định t́nh
h́nh, thống nhất quân đội, phát triển kinh tế, mở mang giáo
dục, xây dựng dân chủ, v.v...Rất tiếc, ngày 01 tháng 11 năm
1963 ông bị phe quân nhân (theo lệnh Mỹ) làm đảo chính lật
đổ và bị thảm sát ngày 02 tháng 11 năm 1963. Biến cố 01-11-
1963 đă dẫn đến sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Ḥa ngày
30-04-1975, đưa đất nước vào tay Cộng Sản độc tài!
Con trai
thứ tư là Ngô Đ́nh Nhu (1910- 1963).
Con trai
thứ năm là Ngô Đ́nh Cẩn (1912- 1964)
Con trai
út là Ngô Đ́nh Luyện (1914- 1990), tốt nghiệp kỹ sư
công chánh ở Pháp và Anh. Nhiều nhà nghiên cứu lầm lẫn Ngô
Đ́nh Cẩn là con trai út
Ông Bà
Ngô Đ́nh Khả c̣n có ba con gái là:
Ngô
Thị Giáo,
chết sớm năm 1944,
Ngô
thị Hoàng,
thường gọi là bà Cả Lễ, v́ lập gia đ́nh với ông Nguyễn Văn
Lễ,
Ngô Thị Hiệp,
lập gia đ́nh với ông Nguyễn Văn Ấm, thân phụ của Hy TGM FX
Nguyễn Văn Thuận. TGM NVT làm Bộ Trưởng Bộ Công Lư và
Ḥa B́nh tại TT Vatican trước khi tạ thế ngày 16/9/2002, tại
Rôma.
Hai gia đ́nh Trần
Ngô cũng là thông gia môn đăng hộ đối theo Nho giáo cổ
truyền.
Gia Đ́nh họ Trần
bên Bà Ngô Đ́nh Nhu (Trần Lệ Xuân)
1. Bà Ngô đ́nh Nhu,
nhũ danh Trần Lệ Xuân, sinh tại Hà Nội này 24/8/1924,
con gái thứ hai của Ông Trần Văn Chương (Luật Sư) và Bà Thân
Thị Nam Trân. Ông Bà Trần Văn Chương có ba người con. Con
đầu là Trần Thị Lệ Chi. Con thứ ba là Trần Văn
Khiêm.
Lệ Chi lập gia đ́nh
với ông Nguyễn Hữu Châu (Luật Sư, Tiến Sĩ Luật ở Pháp). Ông
này gốc người G̣ Công có họ hàng với ông Nguyễn Hữu Hào,
thân sinh ra bà Nguyễn Hữu Thị Lan, tức hoàng hậu Nam Phương,
kết duyên với vua Bảo Đại. Khi Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm trở
thành Tổng Thống năm 1956, th́ Ông Nguyễn Hữu Châu được bổ
nhiệm Bộ Trưởng tại Phủ Tổng Thống. Chỉ mấy tháng sau, chính
ông Châu xin từ nhiệm.
Gia đ́nh ông Trần
Văn Chương vốn theo Đạo Phật, nhưng từ nhỏ Cô Trần Lệ Xuân
đă được gửi học nội trú ở Trường Ḍng Nữ Thánh ÂuCơTinh,
quen gọi là Couvent des Oiseaux. Một thời gian cô nữ sinh
Trần Lệ Xuân có theo học Trường Albert Sarraut ở Hà Nội
trong thời gian ông Trần Văn Chương hành nghề Luật Sư ở Hà
Nội. Chính mấy năm cuối cùng ở trường này, Trần Lệ Xuân đă
phát triển các quan hệ thân t́nh cụ thể hơn với Ông Ngô Đ́nh
Nhu. Sau chính biến 1/11/1963, vô số lời đàm tiếu đổ dồn vào
bà Ngô Đ́nh Nhu.
2. Sau này, tại
California, Ông Nguyễn Văn Lục lại nghe từ những người trước
nay từng có cơ hội gần gũi ông bà Nhu, ông Diệm, Ông Cẩn,
ông Thục.
Tác giả đă nói
chuyện với sĩ quan tuỳ viên Lê Châu Lộc, sau này là
nghị sĩ Lê Châu Lộc. Ông Lộc với bản chất trung thực cho
biết, ông biết ǵ nói nấy, có nói có, không nói không.
Ông cho biết 6 năm
làm sĩ quan tuỳ viên cho “ông cụ”, kề cận ông cụ ngày đêm.
Trong 6 năm đó chỉ gặp bà Nhu trên dưới 10 lần, v́ hai ông
bà ở khu bên kia dinh Tổng Thống, ít có tiếp xúc qua lại.
Ông không mấy thích bà Nhu v́ giọng nói của bà Nhu lai Bắc,
lai Trung và tính nết tỏ ra cao ngạo. Nhưng đối với tổng
thống Diệm th́ bà sợ và cử chỉ e dè, khép nép. Không có cái
cảnh muốn ra vào văn pḥng ông Diệm lúc nào th́ vào. Bà là
người có phong cách, lịch sự và đàng hoàng.
Ông Lê Châu Lộc
đưa ra hai giai thoại liên quan đến bà Nhu.
Một lần xe của bà
Nhu vào Dinh trong khi sắp có xe của một vị tướng Mỹ sắp đến.
Ông Lộc đă yêu cầu xe của bà Nhu nhường lối. Bà Nhu
vui vẻ nhận lời trong khi người tài xế của bà tỏ vẻ khó chịu.
Sau đó bà đă vui vẻ chào.
Một lần nữa, ông
Lộc vội vă không kịp chào bà Nhu. Vậy mà việc cũng đến tai
“ông cụ”. “Ông cụ” cho biết: Lộc nó là sĩ quan, th́ chỉ chào
sĩ quan có cấp cao hơn, hà cớ ǵ lại phải chào bà Nhu.
Những chi tiết nhỏ
đó cũng cho thấy có nhiều điều xàm tấu, bôi bẩn mà công việc
của chúng ta là cần “làm vệ sinh” tẩy rửa những dư luận xấu
xa đó.
Chứng nhân thứ hai
là nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh.
Nhiếp ảnh gia Trần
Cao Lĩnh là người được chọn chính thức chụp ảnh cho gia đ́nh
ông Ngô Đ́nh Diệm trong các buổi lễ chính thức. V́ thế, ông
đă nhiều lần ra Huế để chụp ảnh cho gia đ́nh ông Diệm.
Ông đă kể lại một
cách sinh động duyên dáng về những nhân vật thời đệ nhất
cộng hoà. Nhiều nhà văn, nhà báo đă tham dự và được nghe ông
kể về những điều này tại toà soạn báo Nhân Chứng, khoảng năm
1980. Đó là Mai Thảo, Phạm Đ́nh
Chương, Du Tử Lê, Vũ Văn Hà, Thuỵ Châu, v.v…
Theo lời kể của
Trần Cao Lĩnh, ông đă hết lời đối với gia đ́nh ông Diệm và
đặc biệt là đối với bà Nhu. Bà Nhu là loại người phụ nữ
chẳng những có ăn học, có giáo dục. Cử chỉ phong cách quư
phái, chừng mực lễ độ trong cư xử. Bà không phải loại người
bờm xơm, chớt nhả, dâm đăng, mất nết như những lời bịa đặt
của dư luận ác ư.
Tại Huế, chỉ các
đàn ông như các ông Diệm, ông Nhu, GM Thục mới được phép ở
nhà trên dùng cơm. Bà Nhu chẳng những sợ và khép nép với ông
Diệm mà c̣n cả với Giám mục Ngô Đ́nh Thục. Theo nhiếp ảnh
gia Trần Cao Lĩnh, Bà Nhu không dám tự tiện vào pḥng ông
Diệm.
Ông Nguyễn Văn Lục
muốn viết về vợ chồng ông Nhu, v́ ông bà là bị nhiều người
hiểu lầm và bực ghét, nhất là bà Ngô Đ́nh Nhu. Nhiều người
không ưa bà, khinh ghét bà nữa. Nhiều người bênh ông Diệm,
thương mến ông, nhưng vẫn dè dặt khi nói về ông Nhu, bà Nhu.
Nhiều người biết rơ và khó quên câu nói phạm thượng và xấc
xược của bà khi Hoà thượng Quảng Đức tự thiêu.
Theo ông, khi người
ta đă trót quư mến ai rồi, th́ khó mà nghĩ khác được. Trước
đây, có người đă trót quư mến và kính trọng Nam Phương Hoàng
Hậu và nay th́ đến lượt ông bà Nhu cũng vậy thôi…
Khoảng cách tuổi
khá lớn giữa hai ông bà cũng là nguyên nhân gây nên những
lời đồn thổi sau này kể từ sau 1963.
Thực ra ít người có
cơ hội tiếp xúc với bà Nhu, hiểu biết và kính trọng nhân
cách bà Nhu như ông Trần Cao Lĩnh.
Những người ngưỡng
mộ và quư mến bà chẳng bao nhiêu. Sau khi nghe ông Trần
Cao Lĩnh kể về bà, có người đề nghị ông nên viết lại về
bà Nhu. V́ không ai có đủ tư cách hơn ông để viết. Nhưng rồi
ông cũng đă không làm cho đến khi ông ĺa đời. Cũng hiểu
được, bênh vực một người “mất nết” như bà Nhu nó khó lắm.
Không mấy ai biết
bà, nhưng ghét bà, khinh miệt bà th́ quá nhiều. Đàn ông ghét
đă đành, đàn bà cũng ghét theo. Đến nỗi người ta cố moi ra
sự việc từ những năm 1955 khi chưa có Quốc Hội, chưa có Hội
Phụ nữ Liên đới hay phụ nữ Bán Quân sự. V́ thế dưới mắt của
quần chúng nói chung, thí bà Nhu là một người phụ nữ “mất
nết”, ăn mặc hở hang, lố lăng với chiếc áo dài kiểu mới. Phụ
nữ chê bai tư cách của bà trong chiếc áo dài kiểu mới,
nhưng hầu như giới nữ sinh hay các mệnh phụ phu nhân đều ăn
mặc theo kiểu áo dài đó.
Đến độ vào năm
1955, ông Diệm chép miệng than thở: Tội nghiệp, Bà
Nhu có làm ǵ đâu? Dù sau cũng chết, chỉ v́ bà là một người
đàn bà. Bà lại nay nói quá mạnh, cứng rắn trong quan điểm,
lập trường, không nhường nhịn ai, lại có vè “đành hanh”
khiến giới mày râu không chịu được.
Có lẽ người ta phải
cầu cứu đến những lời bàn của cụ Đoàn Thêm khi nhận xét về
bà Nhu.
Cụ Đoàn Thêm cho
rằng, dù không làm hay chưa làm việc ǵ có hại, người
đàn bà không thể thừa thế nhà chồng mà xen vào việc chính
quyền. Việc bà tham gia vào chính trường, dưới mắt số đông,
trái ngược hẳn với h́nh ảnh cố hữu của phụ nữ Á Đông khiêm
nhượng, ư nhị, hiền hậu, của người mẹ và người vợ Việt Nam.
Vẫn theo cụ Đoàn
Thêm, nguyên do sâu xa nhất và đích thật nhất, gây thêm
nhiều ác cảm với bà là do bà đă xinh đẹp, mà lại muốn tỏ ra
cứng cỏi và đánh hanh nữa th́ quá lắm, không chịu nổi. Người
ta có thể nhẫn nhịn chờ đợi ông Nhu, nhưng đối với bà, bà
chỉ xuất đầu lộ diện, th́ cũng không được tán thành hay dung
thứ.
Nên dù trái hay
phải, người đàn bà VN muốn vội sống theo gương người đàn bà
tiền phong (avantgarde) Âu Mỹ, kiểu chủ nghĩa nữ quyền, là
chưa thể yên thân trên một đất nước mà nhiều người c̣n ghê
sợ những người phụ nữ nhu Vơ Hậu hay Từ Hy.
Tâm lư quần chúng
như vậy nên nhiều con mắt dễ chú ư đến những sơ hở và lỗi
lầm để buộc lỗi gay go. Mỗi lời nói và việc làm của bà đều
có nguy cơ trở thành những cơ hội cho dư luận chỉ trích
nghiêm ngặt.
Bi kịch của chế độ
khởi đầu từ đó. Người ghét cứ ghét, mỗi ngày mỗi đông thêm,
như đ̣n hội chợ do thể chế tam đầu, lại có thêm một người
phụ nữ là bà Ngô Đ́nh Nhu.
Khu biệt thự Trần
Lệ Xuân (2 Yết Kiêu, Đà Lạt) lộng lẫy rộng trên 13 ngàn mét
vuông vừa được nâng cấp trở thành Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia
IV. Nơi lưu giữ hơn 30 ngàn mộc bản triều Nguyễn. (
Nguồn: Kho tàng mộc bản trong biệt thự Trần Lệ
Xuân/my.opera.com)
Ngay như hơn hai
chục nam nữ sinh viên đă tham dự trong phái đoàn Huế đi tham
quan dinh Gia Long sau khi hai ông Diệm Nhu bị thảm sát. Họ
im lặng đồng lơa với Nguyễn Đắc Xuân. Họ chấp nhận
gián tiếp những ǵ Nguyễn Đắc Xuân dựng lên bôi nhọ bà Nhu.
Chỉ yêu cầu một cô nữ sinh viên trong số họ cho biết những
điều Nguyễn Đắc Xuân viết là đúng hay sai.Dĩ nhiên là không
dám nói sai, ma nói đúng th́ đồng lơa bôi nhọ. Thực ra họ
không biết để ma nhớ, mà nói đúng hay sai.
Người ta phải nghĩ
thế nào về những sinh viên đă im lặng, không dám lên tiếng
về những lời vu cáo của Nguyễn Đắc Xuân?
Người ta có thể tạm
quên đi những điều thị phi, những lời khen chê, những lời
bôi nhọ dơ bẩn về bà ấy để chỉ nh́n lại kể từ tháng 11/1963
đến nay bà Nhu đă làm ǵ, nói ǵ, viết ǵ, thanh minh cho
việc ḿnh làm và đă sống như thế nào?
Kể từ sau tháng
11/1963, bà rút lui vào bóng tối.
Không nói, không thanh minh, Cắt đứt mọi giao tiếp với mọi
người trước nay từng là những người cộng tác với hai ông
Diệm và Nhu. Một vài người đă có dịp gặp bà như các ông
Cao Xuân Vỹ, Lê Châu Lộc, Trương Phú Thứ đều nhận thấy
bà sống ẩn dật, im lặng với quá khứ, lo việc từ thiện. Chắc
là tâm trạng và nỗi niềm của bà gần 50 năm này đă diễn ra
thật phức tạp, đa đoan, nhưng chỉ tập trung vào gia đ́nh và
niềm tin phú thác?
Và trong thời gian
đó, bà đă sống đúng nhân cách một người phụ nữ? Những năm
tháng ấy đă tẩy rửa những điều hàm oan về tiền bạc, con
người của bà?
Thực ra bà đă chết
cùng với hai anh ông Diệm Nhu, chôn vùi quá khứ, cuộc sống
đă sang một trang mới: im lặng> Điều ấy mang nhiều ư nghĩa:
vửa cay đằng, tủi hận vừa sám hối trong tâm t́nh của một tín
đồ.
Những ai từng kết
án bà, th́ khó thấy bà là loại người tham tiền cố vị, vô tư
cách hay thậm chí trăng hoa, mất nết… Người ta phải thấy một
bà Nhu sống buông thả, quen biết lung tung, tai tiếng đủ
loại sau 01/11/1963.
Nhưng những kẻ thù
oán, chuyên đặt điều nói xấu bà cũng không có được chứng cớ
nhỏ nhoi nào, bôi nhọ bà.
Bà sống ẩn dật một
thời ở Ư rồi sang Pháp, mua hai căn hộ nhỏ, một để ở và một
để cho thuê lấy tiền tiêu xài, ngày ngày đi lễ nhà thờ,
lchuyên chú làm việc từ thiện, lấy kinh nguyện làm lẽ sống.
Một con người như
thế, chịu đựng biết bao điều sỉ nhục, tệ bạc, phản trắc, hờn
ghét của thế thái nhân t́nh, khi không c̣n thời để lợi dụng.
Không phải là dễ mà
ai cũng bộ lộ nhân cách ấy, chọn lựa lối sống ấy. Mấy ai đă
làm được như bà trong những tháng ngày sau 1963, nếu bắt
buộc phải sống như vậy?
Người ta nghĩ bà
đang viết nhật kư, nhưng có lẽ chỉ là những tâm sự về đạo
nghĩa Những điều Trương Phú Thứ đă viết thật là hiếm hoi và
phản ảnh cuộc đời im lặng hơn là bận rộn chuyện phù hoa thế
sự. Theo ông Lê Châu Lộc bà viết nhiều lắm, nhưng
không ai biết ǵ.
Trong cuộc đời này,
suốt những năm làm vợ ông Nhu và nhất là từ khi ông bị ám
sát, có thể cùng với lời cố vấn khuyên giải nào đo, bà đă
chủ động chỉ lo cho gia đ́nh êm ấm và dồn vào sống ẩn dật
trong niềm tin Công giáo.
Ông đă chết từ
02/11/1963 và từ ngày ấy ba cũng chết như một góa phụ. Theo
kiểu nói của ông Lục, bà chết đến hai lần: chết cho ông
Nhu và nền đệ nhất cộng hoà và chết cho chính ḿnh, cho cuộc
sống hiện nay.
Nói đến hai người
phụ nữ danh tiếng tài sắc trong lịch sử Việt Nam cận đại là
Nam Phương Hoàng hậu và bà Ngô Đ́nh Nhu, người đời không
khỏi cám cảnh ngậm ngùi, thương cho hai kiếp người “hồng
nhan bạc phận”
Trong niềm giận
ghét, ác cảm không tránh được của nhiều người, vẫn có nhiều
người trân trọng quư mến ông Diệm, tiếc cho ông Nhu và cám
cảnh thương mến bà quả phụ Ngô Đ́nh Nhu.
(Tham khảo Website T.S.C.N. Nguyễn Văn Lục
đă dẫn trên)

Ảnh được Bettmann chụp ngày 21/10/1963 tại Washington DC -
Mỹ, khi bà Trần Lệ Xuân sang Mỹ và có họp báo với báo giới,
truyền h́nh.
3. Tiếp theo liên
hệ đến Trần Lệ Xuân, ông cụ nội tam đại, tính từ bản
thân, là cụ Trần Văn Thông, cựu Tổng Đốc tỉnh Nam
Định, tuy nguyên quán ở Biên Ḥa, đất Gia Định.
Cậu Thông sinh
1875.Cậu Thông thuở nhỏ theo học Trường Chasseloup Laubat,
một trường trung học Pháp đầu tiên do người Pháp thiết lập ở
Sàig̣n. Chính Hoàng Thân Sihanouk của Nam Vang cũng theo học
trường này.
Là Bachelier (Tốt
nghiệp Trung Học Tú Tài Pháp) Ban Văn Chương cổ điển 1894.
Năm 1907-1911, anh làm công chức trong chính quyền Pháp tại
Đông Dương, sau ra Hà Nội ông làm Giám Đốc Trường Hành Chính
tập sự (Ecoles de Stagiaires) tại Hà Nội. Chỉ ít lâu sau,
ông Trần Văn Thông làm Tổng Đốc tỉnh Nam Định (Nam Định, Hà
Nam, Ninh B́nh) cho đến 1945. ông Trần Văn Thông c̣n làm hội
viên Hội Đồng Tư Vấn Đông Dương, Hội Đồng Bảo Hộ Bắc Kỳ,
được thăng chức Đông Các Đại Học Sĩ Nam Triều.
Ông Bà Trần Văn
Thông sinh Trần Văn Chương năm Mậu Tuất (1898). Cậu
Chương từ nhỏ theo học bậc tiểu học tại Hà Nội, rồi gia đ́nh
cho đi du học 10 năm ở Algérie. Sinh viên Chương được học
bổng theo học Trường Luật ở Paris, đậu Tiến Sĩ Luật năm
1922. Năm 1925, Ông Trần Văn Chương trở về Việt Nam, làm
việc với tính cách trạng sự tại Ṭa Thượng Thẩm Sàig̣n đến
1935.
Năm 1938, Luật Sư
Trần Văn Chương tham gia Hội Đồng Lư Tài Đông Dương, soạn
thảo các Luật dân sự Trung Kỳ lên tới Phó Chủ Tịch Hội Đồng
Lư Tài Đông Dương.
Trong thời gian
tùng sự tại Huế, Luật Sư Trần Văn Chương lập gia đ́nh với cô
Thân Thị Nam Trân, con gái của Đông Các Đại Học Sĩ
Thân Trọng Huề.
Làm quan dưới triều
vua Khải Định, người vợ kế của Thân Trọng Huề là Công
Chúa, con gái của Kiến Thái Vương. Như thế Mẹ của bà Nam
Trân là em gái vua Hàm Nghi và Đồng Khánh. Trần Văn
Chương trở thành cháu rể vua Hàm Nghi. Hai họ Trần Thông
đều môn đăng hộ đối theo nếp nho giáo cổ truyền.
Năm 1940, Luật Sư
Trần Văn Chương mở Văn pḥng Luật sư tại 71, đại lộ Gambetta
Hà Nội. Khi mới về nước, trạng sư (thầy căi) Trần Văn Chương
mở Văn Pḥng ở Bạc Liêu, rồi chuyển lên Sàig̣n trước khi ra
Hà Nội. LS TVChương nổi tiếng nhất về vụ kiện cô Cúc giết
Huyện Trương, v́ bạc t́nh. Nhờ LS Chương, cô Cúc chỉ bị án
ba năm rồi được trả tự do.
Thời CP Trần Trọng
Kim sau ngày Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, LS Chương
làm Bộ Trưởng Ngoại Giao, Kiêm Phó Tổng Trưởng Nội Các. Khi
CP TTK tan ra, th́ ông TVChương sống ẩn dật tại Hà Nội, rồi
đem gia đ́nh vào Sài g̣n. Sau Hiệp Định Genève 20/7/1954,
miền Nam Việt Nam do Bảo Đại nắm quyền, Ông Ngô Đ́nh Diệm
làm Thủ Tướng, th́ LS TVC được bổ nhiệm chức Quốc Vụ Khanh
Phủ Thủ Tướng. Năm 1956, khi ông Ngô Đ́nh Diệm lật đổ Bảo
Đại, rồi lên thay Bảo Đại làm Tổng Thống VNCH, th́ LS TVC
được bổ nhiệm Đại Sứ VNCH tại Hoa Kỳ cho đến khi chế độ Ngô
Đ́nh Diệm sụp đổ năm 1963. Trong khi TVC làm đại sứ, th́ Bà
Thân Thị Nam Trân làm quan sát viên VNCH tại LHQ.
Nhiều người nghĩ
rằng ảnh hưởng
gia đ́nh
trị
khá mạnh,
cộng với những biện pháp
mạnh bạo – v́ chưa
hiểu và chưa muôn hy sinh trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa
Công Sản -
đối với những người bất đồng chính kiến dẫn đến việc ông bị
xem là có
phần nào
trách
nhiệm
trong
sự sụp đổ
của nền Đệ nhất cộng ḥa.
Nhưng việc chính quyền Mỹ nhu nhược dựa trên phản ứng của
dân chúng Mỹ cùng với hoạt động t́nh báo của Cộng Sản Việt
Nam và quốc tế yểm trợ kích động thêm
Đặc biệt
là những biện pháp được thực hiện trong vụ đàn áp Phật giáo
năm 1963
chủ yếu do t́nh báo chính quyền Mỹ dàn dựng
đă dẫn đến
một chuỗi dây chuyền
phản ứng dữ dội.
Ngày
1 tháng 11 năm 1963, các tướng lĩnh với yểm trợ mua chuộc
của Mỹ đă thực hiện cuộc đảo chính quân sự lật đổ tổng thống
Ngô Đ́nh Diệm. Ngô Đ́nh Nhu và người anh phải chạy trốn vào
nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn. Sauk hi đă liên lạc dàn xếp với
phe đảo chính, vào ngày 2 tháng 11 năm 1963,hai an hem ông
Diệm và ông Nhu bước lên xe tank trong đoàn xe quân sự đến
đón hai anh em ông về Bộ Tổng tham mưu. Nhưng chính v́ tin
tưởng vào lời nới của các tướng lĩnh, khi chiếc thiết giáp M
113 chở hai anh em ông về đến nơi th́ phát hiện thi thể của
hai anh em ông với nhiều vết dao và dấu đạn trên người.
Người ta về sau t́m thấy bằng chứng là chính Tướng Dương Văn
Minh đă ra lệnh sát hại hai anh em ong Diệm và Nhu.
II. Sự
Nghiệp Chính Trị Của Ông Ngô Đ́nh Nhu
Những người làm
việc và t́m hiểu kỹ lưỡng về ông Ngô Đ́nh Nhu đều nhận thấy
một điểm son trong cuộc đời chính trị của ông là tuy ông
không hể nắm giữ một chức vụ quan trọng của quốc gia, nhưng
hầu như cương lĩnh và tồ chức chính trị cơ bản của chế độ
Việt Nam Cộng Ḥa I (1954-1963) đều chủ yếu do ông dàn dựng
ở cương vị làm cố vấn chính trị cho Thủ Tướng rồi Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm. V́ thế t́m hiều sự nghiệp của ông, người ta
chú trọng nhiều đến những thành tựu chính trị hạ tầng trong
việc h́nh thành các cấu trúc quốc gia của Việt Nam Cộng Ḥa
I: chủ nghĩa nhân vị, chính đảng cần lao nhân vị và chính
sách ấp chiến lược (khu trù mật, dinh diền, …).
Theo ư kiến ông
Minh Vơ,
ông Cao Xuân Vĩ, dầu sao Vơ Nguyên Giáp không thể sánh được
với Ngô Đ́nh Nhu. C̣n Phạm Văn Đồng th́ không đáng là học
tṛ Ngô Đ́nh Nhu.
Ông Cao Xuân Vĩ cho
biết liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày
19/12/1946. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên
Việt Bắc kháng chiến th́ nhóm ông gồm 36 trí thức và thanh
niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, vùng Thanh Nghê
Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn ḥa lập một pḥng
tuyến mới phi cộng sản chống thực dân và giúp dân mở mang về
kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một
khu tự trị.
Măi cuối năm 1953,
Cao Xuân Vĩ vào Sài G̣n mới gặp lại Trần Chánh Thành và Ông
Thành giới thiệu Cao Xuân Vĩ với ông Nhu. Ông Thành vào Sài
G̣n năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 trí thức
đă vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp
tác với Việt Minh. Lúc gặp lại Cao Xuân Vĩ, th́ ông Thành
đang làm cho tờ báo Xă Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự
luật sư với Luật Sư Trương Đ́nh Du
Khi làm Cố Vấn,
Ông Ngô Đ́nh Nhu
chỉ có một ḿnh
thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn pḥng, thường được gọi
là chánh văn pḥng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường
chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khỏan nào
dành cho ông Cố Vấn.
Và phải nói thực
khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn
kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ
giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng
Thống. Người ta thấy việc ông làm th́ gọi ông là Cố Vấn vậy
thôi. V́ thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ ǵ chính
thức.
Chủ Nghĩa
Nhân Vị Thời Việt Nam Cộng Ḥa I (1954-1963)
1. Theo GS Tôn Thất
Thiện, những khảo sát bổ sung, công phu và nghiêm chỉnh về
sau của Ông Nguyễn Ngọc Tấn góp phần làm sáng tỏ giai đoạn
lịch sử 1954-1963, thời gian ông Diệm cầm quyền. Những khảo
sát này làm rơ những điểm cơ bản của Chủ Nghĩa Nhân Vị Việt
Nam Công Ḥa I. Trong 40 năm qua, có những tác giả viết về
Chủ Nghĩa Nhân Vị dưới khía cạnh khoa học, nhưng có lẽ chưa
đánh giá về tầm quan trọng của nó như là một chủ thuyết
chính trị, dù chủ thuyết này trong thực tế đă khai sanh ra
chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I. Đây quả đúng là một vấn đề lịch
sử chưa được tŕnh bày một cách có hệ thống trong thế kỷ
qua. Chủ thuyết ấy cần được khảo luận, cân nhắc kỹ lưỡng,
phê phán công b́nh, khách quan và b́nh thản, xác định những
tiêu cực và tích cực trong quá tŕnh thực hành để trả lại sự
thật chính xác của giai đoạn lịch sử ngắn ngủi, nhưng oanh
liệt của dân tộc Việt Nam, nhất là nhân dân sống dưới chế độ
Việt Nam Cộng Ḥa I (1954-1963).
2. Người ta có thể
đặt ra mấy vấn đề chính là:
- Mục đích của Chủ
Nghĩa Nhân Vị
- Bản chất Chủ
Nghĩa Nhân Vị được hiểu thế nào?
- Chủ Nghĩa Nhân Vị
được quan niệm làm cương lĩnh cách mạng quốc gia thế nào và
thể hiện bằng các đường lối chính sách nào?
- Về triết học Chủ
Nghĩa Nhân Vị có phải là một thuyết ngoại lai hay thế hiện
đặc tính văn hoá Việt Nam?
Trả lời các câu hỏi
trên là đặt nền tảng để thẩm định phẩm chất lănh đạo và
những đóng góp lịch sử của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm trong 9
năm cầm quyền.... Chương khảo luận của tác giả Hoàng Ngọc
Tấn "Chủ Nghĩa Nhân Vị, Con Đường Mới, Con Đường Của
Tiến Bộ" có nhiều dữ kiện, suy đoán, và phân tích tỉ
mỉ, khiến người đọc phải đọc kỹ và nghiền ngẫm, khảo chứng
từng chi tiết. Luận đề này đề cập đến một số khía cạnh độc
giả cần đặc biệt quan tâm.
Mục Đích Của Chủ
Nghĩa Nhân Vị
Trong t́nh h́nh
chia cắt hai miền Bắc Nam dưới hai chế độ khác nhau v́ ư
thức hệ khác nhau. Miền Bắc theo ư thức hệ chù nghĩa Cộng
Sản, nên miền nam muốn được đầu với chế độ chủ trương đâu
tranh giai cấp theo chủ nghĩa Cộng sản, th́ miền Nam cũng
phải xây dựng xă hội theo một ư thức hệ ưu việt để đối kháng
lại. Theo tác giả Nguyễn Đức Cung
Ngày 8/1/1963,
trong cuộc nói chuyện với học giới gồm nhiều học giả trí
thức, giáo sư đại học, giáo sư trung học và cán bộ tại Trung
Tâm Thị Nghè, Ông Ngô Đ́nh Nhu xác định:
“… ḿnh đánh
nhau với Cộng Sản, bây giờ Cộng Sản nó đánh ḿnh với một Ư
thức hệ, mà chúng ta không có một ư thức hệ cứng rắn, rơ
ràng, trong tâm trí chúng ta để đối lại, để có lẽ sống mà
đáng Cộng Sản th́ chúng ta sẽ bị ư thức hệ Cộng Sản lan tràn
lung lạc…”
Ông nói tiếp:
“Muốn phục vụ
con người trong xă hội, th́ con người đó phải tiến, xă hội
đó phải tiến. Nhưng xă hội chỉ tiến được với nhữhng con
người ư thức nhiệm vụ. Cho nên, trên nguyên tắc, chúng ta
phải nh́n nhận rằng cần phải có một ư thức hệ tiến bộ. Ư
thức hệ chúng tôi chủ trương là ư thức hệ Nhân Vị.” (Nguyễn
Văn Minh, sđd., t. 421).
Bản Chất Đích
Thực Của Chủ Nghĩa Nhân Vị
1. Về bản chất
Nhân Vị, theo chính tài liệu ông Diệm giải thích: Về
Nhân Vị là ǵ: Nhân và Vị là hai học thuyết Nho giáo. Nhân
仁
do chữ Nhân
人
và chữ Nhị
二
hợp thành (仁)
có nghĩa là ḷng thương người, đạo lư làm người; Vị
位
do chữ Nhân
人
và chữ Lập
立
hợp thành (位)
có nghĩa là người có cái vị trí của họ, đứng giữa và ngang
hàng với Trời và Đất. Hai chữ này kết hợp lại, diễn đạt ư
tưởng nói về phẩm giá cao quí của con người và vị trí của
con người trong cộng đồng nhân loại và trong vũ trụ. Đó là
tương quan chặt chẽ của ba yếu tố vũ trụ (Thiên Địa Nhân)
trong triết lư Tam Tài truyền thống của Phương Đông.
Một cách giải thích
khác tương tự như trên về Chủ Nghĩa Nhân Vị
theo lối phân tích của Lm Bửu Dưỡng:
“ Nhân
là người. Vị là thứ bậc. Nhân Vị là tính cách con người sống
đầy đủ con người theo thứ bậc của ḿnh. Theo nghĩa đó hai
chữ nhân vị đầy đủ hơn chữ personne humaine của Pháp ngữ, v́
hai chữ personne humaine nhấn mạnh đến ư nghĩa của chữ nhân
mà ít chú trọng tới vị. Cần phải hiểu ư nghĩa đày đủ của hai
chữ. Nhân là sống đầy đủ con người. Vị là sống đúng theo thứ
bậc của ḿnh trong những tương quan với người khác và vạn
vật. Như vậy th́ quan niệm về nhân vị tùy thuộc quan niệm về
con người và quan niệm các tương quan.”
Theo cách nói của LM
Nguyễn
Thái,
đúng là phải trải qua kinh nghiệm ngàn năm dựng nước, giữ
nước và cứu quốc, ông bà tổ tiên Việt Nam mới để lại cho con
cháu cái bí quyết thành công qua thành ngữ “Thiên thời
địa lợi nhân ḥa”. Thành ngữ này dựa trên quan niệm của
Khổng Tử lấy ra từ Kinh Dịch diễn tả tương quan ḥa đồng
biện chứng giữa Trời, Đất và Người, qua lư tưởng Thái Ḥa.
Được giáo dục bởi nền văn hóa Nho Giáo, hai anh em cố Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu đă hệ thống hóa tư tưởng
nhân bản nho học lại thành một chủ thuyết lấy tên là “Chủ
Nghĩa Nhân Vị”
Trong bài
phát biểu mới đây, nhân dịp tưởng niệm cố Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm, Lm đă phát biểu:
“Sống với Nhân
Vị là sống với ḷng yêu thương như tổ tiên đă dạy:
“Thương người như thể
thương thân”. Chủ Nghĩa Nhân Vị là đạo lư
làm người, là sống cho ra cái phẩm giá cao quư của con người.
Đó là sống với chữ tâm của
“Tiết trực tâm hư”,
chữ tâm như cụ Nguyễn Du đă khuyên dạy:
“Thiện căn ở tại ḷng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Đó là phải
biết đặt ḿnh ḥa hợp vào đúng vị trí của ḿnh đối với Thiên
Chúa [Trời] - Thiên; đối với Tổ Quốc, Quê Hương, Đất
Nước - Địa; đối với Nhân Dân, Đồng Bào - Nhân.”
Ông Ngô Đ́nh Nhu
giải thích:
“Về tư tưởng
Nhân vị có nhiều thứ. Có thứ họ căn cứ vào một tin ngưỡng
hữu h́nh, một tin ngưỡng chắc chắn, căn bản. Có thứ lại
nhuốm phần nào vô thức… Ư thức hệ Nhân vị chúng tôi chủ
trương nó rất rộng răi và không cần phải đi sâu vào các đạo
giáo… Tất cả các đạo giáo, tất cả các triết lư khác, có thể
cùng đi với chúng ta được trong ư thức hệ đó…”
Chủ Nghĩa Nhân Vị
là một triết thuyết đề cao địa vị và phẩm giá của con người
trong tương quan với vũ trụ, Trời và Đất, với người khác
trong xă hội. Chủ nghĩa Nhân Vị cho rằng bản vị con người có
một nhân phẩm tối thượng, nên mọi sinh hoạt trên đời đều
được tập trung và phải là phương tiện qui hướng đến mục tiêu
phục vụ con người. Chủ nghĩa Nhân Vị lấy Con người biết tu
thân (vừa tĩnh vừa động) làm nền tảng để giải quyết các mâu
thuẫn trong sinh hoạt của con người.
Nguồn Gốc H́nh
Thành Chủ Nghĩa Nhân Vị VNCH I
Về quá tŕnh h́nh
thành, chắc chắn khi học ở bên Pháp trong thập niên 1930
thanh niên Ngô Đ́nh Nhu đă tiếp xúc với tư tưởng và có thể
chính con người năng động của Emmanuel Mounier, nhưng một
người sắc sảo như Ngô Đ́nh Nhu không hấp thụ tư tưởng Chủ
Nghĩa Nhân Vị một cách thụ động, nô lệ, ngoại lai, mà đă
tinh chế cho phù hợp với văn hóa truyền thống Việt Nam. Chủ
Nghĩa Nhân Vị của các ông Diệm, ông Nhu không thuần túy là
Chủ Nghĩa Nhân Vị của Mounier, là của Công Giáo.
Những lời phê b́nh này có thể chứa đựng một chủ đích chính
trị nào đó, hay chưa t́m hiểu thấu đáo về Chủ Nghĩa Nhân Vị.
Trong số những
người phê b́nh theo chủ đích chính trị có những người, theo
Nguyễn Ngọc Tấn, như Nguyễn Thái. Trong tác phẩm “Is
South Vietnam Viable?”, ông nói rằng ông Nhu đă say mê
thuyết dân chủ xă hội dựa trên ḷng bác ái và giá trị nhân
bản mang danh "Personnalisme" của Emmanuel Mounier, và mối
liên hệ của Chủ Nghĩa ấy với xă hội mà ông Nhu cổ vơ chẳng
có ǵ là mới mẻ, và "Personnalisme" cũng chẳng có ǵ xa lạ
v́ trong một trường phái triết học Pháp trong đó có Emmanuel
Mounier
và Jacques Maritain để hết ḿnh cổ vơ cho nó...
Thưc ra trên đời
không có ǵ mới mẻ, nhưng mới mẻ là cách vận dụng nó có phù
hợp vói thời đại không và được thời đại đó chấp nhận không?
Nhà sử học
Robert Scigliano, sau khi nghiên cứu chủ nghĩa Nhân Vị
Việt Nam Công Ḥa I đă ghi lại:
“Chủ Nghĩa Nhân
Vị nhấn mạnh đến sự điều ḥa những ước vọng vật chất cũng
như tinh thần của cá nhân với các nhu cầu của cộng đồng và
các nhu cầu chính trị của quốc gia. Nó nhằm t́m kiếm một con
đường trung dung giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể
mác-xít.”
Mới đây tác giả
Jean-François Petit
nghiên cứu quá tŕnh h́nh thành tư tưởng E. Mounier
(1905-1950). Ông thấy Mounier là một trong những khuôn mặt
trí thức Pháp thuộc thế kỷ XX. Theo J.F. Petit, căn cứ vào
nhiều tài liệu ông viết, trong suốt quá tŕnh suy tư và hành
động, E. Mounier có xu hướng muốn dung hợp nhiều luồng tư
tưởng triết học và thần học khác nhau. Mounier chịu tác động
tư tưởng triết học từ Descartes, Pascal và Bergson,
đồng thời quan điểm thần học từ linh mục Guerry.
Khi học tại Paris,
ông tỏ ra thất vọng, v́ ông không thành công xác định một
nền giáo dục thiên về chủ nghĩa duy tâm và duy lư của Trường
Đại Học Sorbonne và một nền thẩn học bị tác động do cuộc
khủng hoảng duy tân hiên đại.
Luận đề của ông về
triết thuyết thần bí thất bại. V́ thế ông chuyển hướng thiết
lập một triết học riêng biệt, tách rời kḥi tư tưởng có màu
sắc tôn giáo.
Nhưng khi đọc những
tư tưởng của Péguy, ông chuyên chú đến các tương quan
giữa yếu tố thiêng liêng và yếu tố trần thế. Sau cùng tiếp
xúc gặp gỡ Landsberg, ông tỏ ra nhạy cảm thấy người
ta phải dấn thân. Xu hướng hiện sinh ấy khiến ông từ chối
nền thần học Kitô giáo. Từ đó nảy sinh ra quan niệm triết
học về nhân vị và cộng đồng, có hơi hướng tư tưởng Augustin
từ thế kỷ thứ tư thuộc Công nguyên.
Paul Ricoeur xem tư
tưởng Mounier là dấu ấn triết học chuẩn mực, nhưng không
phải là đối tượng nghiên cứu có hệ thống theo giác độ này,
mạc dù tư tưởng Mounier có tầm ảnh hưởng lớn lao lên
các lănh vực triết học, thần học, chính trị và sư phạm. Công
lao của tác giả J. L. Petit là xác định rơ nguồn gốc tư
tưởng Mounier bằng nhiều văn bản chưa được xuất bản.
Theo quan điểm
nghiên cứu của E. Miller khi tiếp xúc với nhiều người
Việt Nam sau nau 30/4/1975, th́ khi Ngô Đ́nh Nhu từ Pháp về
lại Đông Dương, ông say mê chủ nghĩa nhân vị, tin tưởng rằng
tư tưởng của Mounier có thể vận dụng nhuần nhuyễn vào hoàn
cảnh Việt Nam. Sau năm 1945, chủ nghĩa Nhân vị có thể là “con
đường thứ ba” để phát triển xă hội là điều Ngô Đ́nh Nhu
gắn bó. Trong nhăn quan Ngô Đ́nh Nhu, tư tưởng Mounier bác
bỏ cả chủ nghĩa tự do cũng như chủ nghĩa cộng sản là vấn đề
chính trị cho Lực lượng thứ Ba do Ngô Đ́nh Diệm đang đề
xướng. Ngô Đ́nh Nhu cảm thấy người anh của ḿnh đang lĩnh
hội tư tưởng của ông qua việc Ngô Đ́nh Diệm nhận xét và bài
viết trong giai đoạn này nhắc đến nhiều chi tiết của thuật
ngữ chủ nghĩa Nhân vị.
Những nghiên cứu
của E. Miller cũng xác định từ tháng 4 năm 1952, Ngô Đ́nh
Nhu phác thảo quan điểm về chủ nghĩa Nhân vị trong bài nói
chuyện tại trường Vơ Bị Đà Lạt vừa thành lập. Ông thừa nhận
rằng khái niệm nhân vị ban đầu là một tư tưởng Công
giáo, nhưng nhấn mạnh rằng nó mang tính thích hợp và hữu
dụng phổ quát, đặc biệt là cho một đất nước bị chiến tranh
tàn phá như Việt Nam.
Phát biểu với một
cửa tọa mà đa số là những người không Công giáo có mặt trong
cuộc nói chuyện này, ông tuyên bố rằng “… ưu-tư của người
Công-giáo cũng chỉ như một tiếng dội đáp lại những nỗi ưu-tư
ở tâm-hồn bất-măn của các ông vậy.” Ông Nhu lập luận
rằng, tất cả người Việt Nam thuộc mọi phe phái chính trị và
tôn giáo, nên cùng nhau nhất trí bất thần và mănh liệt” để
bảo vệ nhân vị chống lại các thế lực đang đe doạ
tiêu diệt nó.
Trong số những
người chưa nghiên cứu đầy đủ về Mounier, có thể kể một nhà
biên soạn nổi tiếng là ông Nguyễn Gia Kiểng. Gần đây,
trong một bài phê phán ông Ngô Đ́nh Diệm, ông viết:
"Nếu dựa trên
những ǵ ông Nhu đă viết về chủ nghĩa nhân vị th́ có thể nói
là chính ông cũng chỉ hiếu lơ mơ Có lẽ ông đă du nhập chủ
nghĩa nhân vị vào Việt Nam v́ lư do là lúc đó nó được coi là
giải pháp Thiên chúa giáo cho ḥa b́nh Công giáo của thế
giới. Nó có tham vọng là một vũ khí tư tưởng chống lại chủ
nghĩa cộng sản. Trên thực tế, nó là một bước lùi lớn, gần
như một sự đầu hàng, bởi v́ nó phủ nhận cá nhân, cốt lơi của
dân chủ"
.
4. Người ta có thể
bác bỏ dễ dàng những luận điểm và nhận định sai lầm nặng nề
cùng những phê phán hời hợt trên đây. Căn cứ vào những trích
dẫn tuyên bố, phát biểu trực tiếp của các ông Diệm-Nhu, và
nhiều khảo luận của học giả Việt Nam có uy tín, người ta
chứng minh Chủ Nghĩa Nhân Vị là một lư thuyết chính trị mang
một bản sắc dân tộc rơ rệt.
Hơn nữa nhiều học
giả như Lương Kim Định, Nghiêm Xuân Hồng và Đinh Văn Khang
với biện chứng mạch lạc rơ rệt, khẳng định Chủ Nghĩa Nhân Vị
(Tâm linh, Đông phương) của Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu,
bắt nguồn từ nền tảng văn hóa Việt Nam, không thể lầm lẫn
với Personalisme của Mounier (Duy tâm Tây phương) được.
Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, v́ mọi việc đă được sáng tỏ và
những nghiên cứu lịch sử cho phép ta kết luận Chủ
Nghĩa Nhân Vị do hai ông Diệm-Nhu chủ xướng mang bản chất
văn hóa và chính trị Việt Nam.
Theo dẫn chứng của
tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn, nhiều tuyên bố của ông Diệm và ông
Nhu ở những hoàn cảnh khác nhau có thể minh chứng xác quyết
sự thật đó, như:
"Nhắm mắt bắt
chước nước ngoài khác ǵ nhận trước sự bảo hộ của ngoại bang”
- "Chủ
thuyết [Nhân Vị] đặt nền tảng trên quan niệm tôn trọng phẩm
giá con người và đẩy mạnh sự phát triển đến mức độ cao nhất.
Quan niệm này... ở ngay trong truyền thống dân gian Việt
Nam"
- "Tôi phải nói
ngay rằng: Chủ Thuyết Nhân Vị của tôi chẳng có dính dáng ǵ
đến cái Nhân Vị Công Giáo đang được giảng dạy bởi các tổ
chức Công Giáo tại miền Nam Việt Nam... Hiện nay cái học
thuyết nhân vị mà tôi cổ vơ là một nền dân chủ đấu tranh
trong đó tự do không phải là một món quà của ông già Noel,
nhưng mà là kết quả của một cuộc chinh phục bền bỉ và sáng
suốt trong đời sống thực tế, không phải trong một khung cảnh
lư tưởng, mà trong những điều kiện địa lư chính trị đă được
định sẵn"
Như thế, giải pháp
Nhân Vị mà ông Diệm và ông Nhu đă cổ vơ 40 năm về trước
chính là mô h́nh xă hội dân chủ nhân vị đă được thể nghiệm ở
miền Nam từ 1954 đến 1963, có mấy đặc điểm:
- Hoạch định một
chính cương thống nhất, lấy chủ nghĩa nhân vị làm nền tảng,
phù hợp với văn hóa Việt Nam làm căn bản hướng dẫn cả nước
đi lên
- Định hướng dân
chủ trên thượng tầng cấu trúc xă hội dân sự
- Vận dụng một nền
kinh tế thị trường có điều ḥa uyển chuyển của một chính phủ
nhắm đến phúc lợi từng cá nhân và cho chung cho cả cộng đồng
xă hội.
- Thực hiện có điều
tiết dần dần tính công bằng xă hội và nền dân chủ đa nguyên
thực sự ở hạ tầng cơ sở qua các chính sách đất đai dinh
diền, ấp chiến lược, khu trù mật
-Kiến tạo ḥa b́nh,
ổn định, đoàn kết, trong t́nh trạng thực tế có hoạt động
chính trị kết hợp với vũ trang của chế độ Cộng Sản miền Bắc
Việt Nam lúc đó.
Chủ nghĩa Nhân Vị
chỉ được thể nghiệm trong một thời gian ngắn ở Miền Nam Việt
Nam, nhưng xét theo lư thuyết khoa học, Chủ Nghĩa Nhân Vị có
một giá trị đóng góp lâu dài và quan trọng vào công cuộc
phát triển con người nói chung và đặc biệt tại các quốc gia
nghèo đói hiện nay.
Sử gia Henry
Fairbanks tóm lược toàn sự thật lịch sử bằng lời lẽ khách
quan, trong một bài báo tựa đề “The Enigma of Ngô Đ́nh
Diệm”, được đăng trong tờ Commonweal như sau:
“Ông Diệm t́m
kiếm và khôi phục lại những giá trị cổ truyền làm nền
tảng cho giải pháp canh tân xứ sở trong khi đó những người
khác lại đi t́m những học thuyết ngoại lai… Dù sao đi nữa,
Ông ta vẫn là một người có cái nh́n sâu sắc về tương lai. Cả
thế giới này đều yêu mến các chiến sĩ dũng cảm và ai ai cũng
phải nể trọng những kẻ đeo đưổi một lư tưởng cao cả nào đó.
Ông Diệm ao ước thực hiện một nhà nước được xây dựng trên
những giá trị cổ truyền tốt đẹp nhất của Á Châu và Tây
Phương, những đặc điểm đúng đắn và khả thi nhất để phục
vụ quyền lợi chung và tôn trọng nhân phẩm. Ông Diệm cho
rằng Xă Hội Chủ Nghĩa và Tư Bản Chủ Nghĩa đều là những học
thuyết cực đoan cần có một h́nh thức trung gian, một lực
lượng đứng giữa, nhằm tổng hợp được những giá trị ưu tú nhất
của cả hai để phục vụ cho lợi ích chung: công bằng đối với
người này là tự do của kẻ khác, cũng như loại bỏ độc tài
toàn chế và tinh thần vô trách nhiệm của Chủ Nghĩa Cá Nhân.”
Sự điên đảo của xă
hội hiện nay là thay v́ đầu đội Trời, chân đạp đất, tay ôm
lấy nhau trong t́nh người thái ḥa th́ người ta đảo lộn tất
cả!
- Thiên
là Trời cũng chẳng c̣n biết kính trọng nữa, mà:
“Tiền là tiên
là Phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già.”
“Ông Trời hăy dẹp một bên,
để cho nộng hội tiến lên làm Trời!”
- Địa
là quê hương, tổ quốc, đất nước, nhưng ngày nay th́:
“Tổ quốc với
chẳng tổ c̣
Nơi nào no ấm ta ḍ ta
bay”
- C̣n Nhân
(con người) với nhau th́ coi nhau như lang sói, đầy đấu
tranh, tham nhũng:
“Thanh cha,
thanh mẹ, thanh d́
Hễ có phong b́ th́ lại
thanh-kiu”.
So sánh với thực
tại cá nhân và xă hội Việt Nam ngày nay, người ta mới thấy
rơ hơn tính ưu việt của Chủ Nghĩa Nhân Vị lấy tương quan
Trời Đất Người làm nền tảng xây dựng xă hội con người. Chủ
Nghĩa ấy đối kháng rơ rệt với chủ nghĩa độc tài chuyên chính
độc đảng toàn trị, không có dân chủ, không tôn trọng con
người để xây dựng một xă hội thái ḥa giữa Trời Đất và Người.
Không thể gọi chế
độ ấy là Cộng Sản đích thực, v́ đă hội nhập vào nền kinh tế
thị trường tự do và đă chấp nhận tham gia xă hội pháp quyền
dân sự, trong khi Đại Khối Cộng Sản từ Phương Tây đă tan ră.
Đó là một toan tính ngoan ngạnh, dị hợm, chắp vá đầu Ngô
ḿnh Sở, một quái thai nẩy sinh giữa chế độ toàn trị độc
đảng mà vẫn muốn sống trong thế giới dân chủ tự do chấp nhận
kinh tế thị trường.
Chế độ xă hội ở cả
Việt Nam ngày nay (sau 30/4/1975 đến nay) và ở một nửa nước
tại Miền Bắc Việt Nam trước kia (1954-1975), người ta mất
hướng đi chân chính, v́ thiếu một chủ nghĩa nhân bản dân chủ
chân chính:
-Chế độ chính trị
th́ do một đảng chuyên chính độc đoán, toàn trị, dù có phân
biệt theo h́nh thức Ṭa Án, Chủ Tịch nước, Thủ Tướng Chính
Phủ, Chủ Tịch Quốc Hội, trong đó tất cả đều theo lệnh của Bộ
Chính Tri Đáng
-Nền kinh tế thị
trường, nhưng những người chủ chốt đều thuộc một đàng chuyên
chính. Có phát triển nhưng là một nền kinh tế bất công, giàu
sang nhờ đầu tư kinh doanh của các công ty liên doanh ngọai
quốc
-Xă hội suy đồi v́
nền giáo dục khuôn sáo thiếu suy tư sáng tạo, v́ tự do hôn
nhân chân, nam nữ tự do giao du, tham nhũng, măi dâm, x́ ke,
ma túy, HIV/AID tràn lan, ứng xử gian dối trong tương quan
xă hội, các đoàn thể chỉ là phên dậu của một chính đảng được
bầu cử theo cách sắo đât trước của một Đảng
Và nhờ đó người ta
muốn hiểu rơ và thương mến trân trọng chế độ Việt Nam Cộng
Ḥa I. Chủ Nghĩa Nhân Vị thời Việt Nam Cộng Ḥa trước kia
(1954-1963) và ngày nay ở trong cũng như ngoài nước (từ sau
30/4/1975 đến nay) đă và vẫn đang tiếp tục bị các lực lượng
thù ghét xuyên tạc và có ư làm sai lệch tư tưởng chính thống
thế nào là chủ nghĩa nhân vị.
Từ Chủ Nghĩa
Nhân Vị Đến Đảng Cần Lao Nhân Vị
Chủ nghĩa nhân vị
chính là nền tảng để xây dựng chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I.
Muốn cho nhà Việt Nam bền vững , ngôi nhà đó cần có một nền
tảng vữa chắc để xây những bộ phận khác. Làm việc ǵ cũng
cần có trước có sau một cách hợp t́nh hợp lư và hài ḥa. Bài
diễn văn của Ngô Đ́nh Nhu báo trước cho việc thiết lập hệ
thống Đảng Cần Lao Nhân Vị để qui tụ, động viên và tổ chức
nhân sự trong guồng máy Việt Nam Cộng Ḥa.
Trong nghiên cứu E.
Miller cũng thấy trật tự đó.
Ngô Đ́nh Nhu là một nhà tư tưởng và một nhà chiến lược. Ông
thừa biết rằng phong trào của ông cần được tổ chức; tài năng
thật sự của ông là thành lập xong, th́ phải tổ chức. Chắc
chắn ngay từ đầu thập niên 1950, Ngô Đ́nh Nhu đă xây dựng
cốt cán của một đảng chính trị mới, với nhóm người chạy khỏi
Hà Nội vào khu tự trị Bùi Phát sau ngày 19/12/1946, mà sau
này mới xuất hiện công khai với tên gọi Đảng Cần lao
Nhân vị;” nhưng thường chỉ gọi là vắn tắt “Cần Lao”.
Lúc đầu, tổ chức
Cần Lao hoạt động trong ṿng bí mật, và người ta hầu như
không biết ǵ về những năm đầu tiên của nó. Đảng hoạt động
theo lối mạng lưới chi bộ, đa số đảng viên được tuyển mộ chỉ
biết danh tính của một số ít các đảng viên khác.
Sau năm 1954, đảng
này chính thức tồn tại, nhưng đa số những hoạt động của nó
vẫn chưa được làm sáng tỏ. Cuối cùng, đảng Cần Lao trở thành
bộ phận quan trọng và nổi tiếng nhất trong bộ máy an ninh
của Ngô Đ́nh Diệm và Ngô Đ́nh Nhu. Nhưng trong những năm đầu
của đảng, mục đích chính của Ngô Đ́nh Nhu là vận động phong
trào ủng hộ cuộc đấu tranh chính trị dân tộc chủ nghĩa mới
do Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo.
Việc đặt tên Cần
Lao khiến người ta nghĩ chắc chắn Nhu quan tâm đến việc tổ
chức lao động (lao động ở đây được hiểu bao gồm cả công nhân
và những tá điền nghèo khổ), trong ư thức cạnh tranh với tổ
chức lao động kiểu Lê-nin ở miền Bắc khi đó. Tổ chức này
cũng có thể liên quan đến một số tư tưởng chỉ đạo phong trào
công đoàn Pháp. Ông tán đồng khái niệm công đoàn: công nhân
được tổ chức thành nghiệp đoàn hay hiệp hội để bảo đảm quyền
lợi của các thành viên không lệ thuộc vào quyền lợi của tư
bản. E. Miller chú ư đến khía cạnh đặc biệt này: “Mặc dù
Ngô Đ́nh Nhu, trong những bài thuyết tŕnh kín và công khai,
thường hướng tới những yếu tố triết lư Nhân vị, nhưng cung
cách và bản chất những nỗ lực tổ chức của ông bị những
nguyên tắc của phong trào công đoàn ảnh hưởng sâu sắc”
Về Đảng Cần Lao
Nhân Vị, theo ông Cao Xuân Vĩ, hai
người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là
các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Ban đầu các ông
không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông
Nhưng v́ không muốn gợi ư về cái liên minh công nông của
cộng sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao.
C̣n vế Nhân Vị th́
sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ
tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp
đoàn, đă quen ông Nhu khi c̣n ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu
Nghĩa
một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Tŕnh Minh
Thế. Ông Nghĩa đă giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế,
chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông
Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale.
Ông Lansdale có can
thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương
như Quân Đội Quốc Gia th́ đúng. Người nào bảo Lansdale dùng
tiền mua Tướng Thế là cố t́nh xuyên tạc để hạ úy tín của một
vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm
rất qúy trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống
Diệm đă ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi
kư. Văn pḥng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một ḿnh
Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.
Tổ Chức Đoàn Ngũ
Hóa Các Giới
Ngoài hệ thống nội
bộ Đảng Cần Lao, trong ư đồ chiến lược đa diện của Ngô Đ́nh
Nhu, con có những tổ chức ngoại vị nhằm đoàn ngũ hóa các
giới mà hai đoàn thể chính là Thanh Niên Cộng Ḥa và Phụ Nữ
Liên Đới nhằm thi hành thống nhất các đường lối chính sách
theo hướng Chủ Ngjhĩa Nhân Vị. Chủ trương như thể nhưng có
nhiều lạm dụng hay khuyết nhược điểm trong các đơn vị địa
phương và cá nhân dẫn dần đến mất hướng đi chính thống của
chủ nghĩa và sa sút, trong khi có tổ chức Cộng Sản và những
thành phần công dân không tán đồng chủ nghĩa nhân vị tiếp
sức phá hoại một cách nào đó.
Khi làm Thủ Lănh
Thanh Niên Cộng Ḥa, th́ ông Nhu chỉ thị cho anh em đoàn
viên phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo
tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi ǵ.
Về văn pḥng dân
biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc
Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp
Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đê “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề
“kinh tế tư hữu cơ bản” v.v... th́ ông mới tới tŕnh bày mà
thôi. Cho nên mọi thứ một ḿnh ông cáng đáng. Ông Cao Xuân
Vỹ thật phục sức làm việc của ông Nhu.
Ấp Chiến Lược,
Hệ Thống Tổ Chức Hạ Tầng Đa Hiệu Của Xă Hội Nhất Là ở Nông
Thôn
Mục tiêu
1/. Ông Nhu quan
niêm chương tŕnh Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xă
hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến
lược đối phó với xâm nhập và khủng bố của cộng sản mà
thôi.
Ông thúc đẩy các
tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc,
nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về
kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời ḿnh, làm chủ được xă
hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang.
Nghiên cứu mới đây
theo tác giả Nguyễn Văn Minh tŕnh bày lại công thức tam
giác tam túc của quân dân cán chính trong ấp chiến lược.
2/. Chính Ông Ngô
Đ́nh Nhu diễn giải tóm lược trong phương tŕnh:
“Tam Túc +
Tam Giác = Tam Nhân:
A. Tam Túc
là
1- Tự Túc Về
Tư Tưởng là tự ḿnh suy luận cân nhắc mà lựa chọn một
chính nghĩa để phụng sự và một khi đă chọn rồi th́ không c̣n
lay chuyển nữa. Chính nghĩa đó là cuộc cách mạnh chính trị,
xă hội, quân sự mà ta đang cụ thể hóa trong các Ấp Chiến
Lược. Sau đó ta tự phát huy chính nghĩa trong tâm hồn, tự
học tập và tự bồi dưỡng tinh thần của ta, không cần ai thôi
thúc.
Tự túc về tinh
thần về tư tưởng, th́ tất nhiên trong mọi trường hợp khó
khăn, ta vẫn vững tâm, hoặc dù có nội loạn ở thủ đô Sài G̣n
chăng nữa, th́ ta vẫn không bị hoang mang hay bị lung lạc.
Tự túc về tư tưởng để phát huy và bành trướng chủ nghĩa.
Muốn được như vậy th́ phài:
2- Tự Túc Về
Tổ Chức Và Tiếp Liệu, là tự ta t́m ṭi, phát huy sáng
kiến để có nhiều nhân vật lực để hoạt động, không ỷ lại vào
sự giúp đỡ của người khác. Chính phủ chỉ cần giúp ta một số
vốn căn bản, dựa vào đó ta t́m cách biến cải thêm để hành
động và mở rộng phạm vi hoạt động. Chẳng hạn hiện giờ ta
thiếu kẽm gai để làm ấp chiến lược, th́ ta cố gắng t́m vật
liệu khả dĩ làm tê liệt cơ thể bất cứ ai động đến (như đồng
bào Thượng đă làm trên Cao nguyên); hoặc dùng địa danh địa
vật để lồng hệ thống bố pḥng ấp chiến lược vào trong đó, đỡ
cần đào hào hay rào kẽm gai. Muốn thực hiện tự túc về tổ
chức, th́ cần phải
3- Tự Túc Về
Kỹ Thuật là phát huy khả năng chiến đấu, và khai thác,
phát triển khả năng của nhân vật lực sẵn có đến tột mức
100%. Ba bộ phận của tam túc có liên hệ mật thiết với
nhau; muốn tự túc về tổ chức mà không tự túc về kỹ thuật,
th́ tổ chức không thành; thiếu tự túc tư tưởng th́ tất nhiên
sẽ không có tự túc tổ chức và tự túc kỹ thuật. Từ quan niệm
tam túc sinh ra quan niệm tam giác.
B.Tam Giác
là:
1. Cảnh Giác
Về Sức Khỏe (thể xác), nghĩa là không được đau ốm. Do đó
ta phải tránh tất cả những việc làm phương hại đến thân xác
ta như đau ốm, tứ đổ tường. Bảo đảm sức khỏe th́ mới bảo đảm
được khả năng làm tṛn nhiệm vụ.
2. Cảnh Giác
Về Đạo Đức Và Tác Phong Đạo Đức, v́ tác phong đạo đức là
cốt yếu của cán bộ, thiếu tác phong đạo đức sẽ chi phối tu
tưởng, sẽ biến khả năng làm việc thiện ra việc ác, chưa kể
việc thất nhân tâm.
3. Cảnh Giác
Về Trí Tuệ là phát huy óc sáng tạo, sáng tác khả năng
chiến đấu của nhân vật lực sẵn có đến tột độ.
Vậy, không có
sức khỏe, đau ốm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến óc sáng tạo và
thu hẹp phạm vi hoạt động của đạo đức. Không có óc sáng tạo
th́ dù có sức khỏe, có đạo đức, cũng không có khả năng bồi
bổ vào sự thiếu thốn nhân vật lực, là t́nh trạng của một
nước chậm tiến. Có sức khỏe, có óc sáng tạo, nhưng không có
đạo đức th́ sức khỏe ấy, óc sang tạo ấy, sẽ phục vụ cho phi
nghĩa, không phải cho chính nghĩa…”
3/. Ông để rất
nhiều th́ giờ đích thân soạn những bài thuyết tŕnh có tính
lư luận cao dành cho các cấp lănh đạo chính phủ và cán bộ
cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu
óc thường dân qua những h́nh ảnh và ngôn ngữ b́nh dân dễ
hiểu.
Mục đích của ông là
tiến dần tới một xă hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương
tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó
mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều,
chứ không biến con người thanh những “cái đinh, con ốc”
trong một guồng máy xă hội theo kiểu cộng sản.
Ông tin tưởng rằng
phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng.
Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ
nhiên ban đầu th́ việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp
Chiến Lươc được an ṭan trước sự phá hoại và tấn công của du
kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công th́ cộng sản
sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.
4/. Về Ấp Chiến
Lược chức Chủ Tịch ủy Ban Liên Bộ, theo ông Cao Xuân Vĩ, th́
có chức này. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng
Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ toạ các phiên họp Ủy
Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận.
Theo tác giả Nguyễn
Đức Cung, người ta đọc thấy ông Nguyễn Bá Cẩn tŕnh bày quan
điểm về một vấn đề rất trọng yếu mà ông mệnh danh là Thế Cá
Nước và Chiến Tranh Du Kích. Theo ông, ai cũng biết người
dân miền Nam hiền ḥa và chỉ muốn an phận sinh sống với mảnh
ruộng, luống rau, khu vườn, ao cá của ḿnh. Cho nên, chỉ cần
tiêu diệt cán bộ cơ sở Cộng Sản th́ người dân sẽ không c̣n
bị khủng bố, không bị bắt buộc tham gia bất cứ điều ǵ kể cả
hoạt động tiêu cực nhất là góp tiền. Vấn đề chỉ là t́m cá
bắt ra khỏi nước.
Nhưng thực ra ông
Nguyễn Bá Cẩn đă không nhận thức được giá trị của ấp chiến
lược, khi tập trung dân vào trong ấp, thỉ tất cả những người
ở ngoài ấp chính là những người hoạt động bảo vệ chủ nghĩa
Cộng Sản và sinh sống với Cộng Sản. Chúnh vỉ nhiều người
miền nam chưa nhận thức được hết những kinh nghiệm về hiểm
họa Cộng Sản trong chủ trương “tam cùng” và những điều giải
thích về tam túc và tam giác nói trên trong t́nh thế đấu
tranh với Cộng Sản. Chủ trương ấp chiến lược đă từng được áp
dụng thành công ở Mă Lai trong việc tách ĺa Cộng quân khỏi
trà trộn vào trong dân để tốn tại bằng lương thực và khủng
bố để được cưỡng bách che chở
Nhưng chính ông mắc
mưu tuyên truyền của Cộng Sản, dùng ngôn ngữ của chúng mà
cho rằng “đệ nhất Cộng ḥa lại làm ngược lại, tức là lùa dân
vào Khu trù mật. Và khi Khu trù mật thất bại, th́ lùa dân
vào Ấp chiến lược. Đệ nhị Cộng ḥa cũng lùa dân vào Ấp Đời
Mới hay Ấp Tân Sinh, đại khái là một biến thể của Ấp chiến
lược cũ. Thay v́ bắt cá ra khỏi nước, ít tốn kém và không
gây thiệt hại cho dân, hai nền Cộng ḥa lại làm công việc
tát nước. Mà nước là dân. Tát nước tức là di chuyển hàng
trăm ngàn nhân dân vào khu trù mật và ấp chiến lược, quá ư
tốn kém, quá ư phiền hà, gây vô số thiệt hại cùng xáo trộn
đời sống người dân.”
5/. Thật ra, việc
tập trung dân lập ấp là một kinh nghiệm lịch sử quư báu của
tiền nhân trong lịch sử Việt Nam, lúc có chiến tranh.
Tác giả Nguyễn
Đức Cung dẫn chứng kinh nghiệm quản lư người dân tộc
thiểu số ở vùng Quảng Ngăi. Theo ông, năm 1863, Nguyễn Tấn
cũng đă áp dụng kế sách đó góp phần chận đứng các cuộc tấn
công của người Thượng vùng Đá Vách, Quảng Ngăi.
Đại Nam Thực Lục
có ghi lại như sau: Mới đặt chức Tiểu phủ sứ
ở cơ Tĩnh man tỉnh Quảng Ngăi. Phàm các việc quan hệ đến sự
pḥng giữ dẹp giặc, thăng cử, chọn thải, lấy lương, gọi lính
sát hạch, th́ cùng bàn với chánh phó lănh binh chuyên coi
một nha mà tâu hoặc tư.
Lấy người hạt ấy là
Nguyễn Tấn lănh chức ấy. Tấn trước đây thự án sát Thái
Nguyên, khi ấy quân thứ Thái Nguyên dần yên, nghe tin bọn ác
man hung hăng, dâng sớ xin về bàn bạc để làm, trong 1, 2 năm
có thể xong. Vua thấy giặc Man có phần cần cấp hơn, bèn y
cho. Đến đây, chuẩn cho thăng hàm thi độc sung lănh chức ấy,
cấp cho ấn quan pḥng bằng ngà.
Tấn dâng bày phương
lược: (nói: việc đánh giặc vỗ dân cần làm những việc khẩn
cấp trước. Về 3 huyện mạn thượng du, phàm những dân ở linh
tinh, tiếp gần với địa phận núi th́, tham chước theo lệ của
Lạng Sơn đoàn kết các dân ở cơi ven một hay hai khu, đều đào
hào đắp lũy, cổng ngơ cho bền vững. Nếu có lấn vào ruộng đất
của ai th́ trừ thuế cho.
C̣n 1, 2 nhà nghèo,
ở riêng một nơi hẻo lánh, th́ khuyên người giàu quyên cấp
cho dỡ nhà dời về trong khu; c̣n đất ở th́ không cứ là đất
công hay đất tư đều cho làm nhà để .Các viên phủ huyện phụ
làm việc ấy, liệu nơi nào hơi đông người th́ bắt đầu làm
ngay, nơi nào điêu háo, th́ phái quân đến pḥng giữ ngăn
chận, dần dần tiếp tục làm, để thư sức dân.
Theo người viết,
việc so sánh kinh nghiệm ứng xử với người dân tộc thiểu số ở
miền Đông Bắc Việt Nam thế kỷ XIX, rồi được vận dụng tại
vùng Quảng Ngăi với nhóm dân tộc Đá Vách và việc khai lập
làng ấp như ấp chiến lược và khu trù mật có phần khác biệt.
Người dân tộc thiểu số bị phân biệt đối xử so với người dân
tộc đa số, nên nguyên nhân chính của những cuộc giấy loạn
cướp bóc của người dân tộc thiểu số Đá Vách là giành quyền
được đối xử như người đa số.
Từ Trại Định Cư
Đến Ấp Chiến Lược, hay Khu Trù M ật, Dinh Điền
Cách đây chung
quanh năm 1960, chế độ Cộng Ḥa đă được khai sinh cùng với
các quốc sách được ban hành chính thức, chủ yếu là ấp chiến
lược hay khu trù mật hay dinh điền tùy theo địa phương và
thời gian.
Nguồn gốc đầu tiên
phát sinh từ việc thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư theo nghị định
số 928-NV do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm ngày 17/9/1954. Phủ này
có tầm quan trọng như một Bộ trong Chính Phủ và ông Ngô Ngọc
Đối làm Tổng Úy Trưởng.. Trước ông Nguyễn Ngọc Đối
(21/8/1954- 4/12/1954), c̣n có ông Nguyễn Văn Thoại (từ
10/8/1954 – 21/8/1954), và sau đó là Bs Phạm Văn Huyến (từ
4/12/1954 -17/5/1954), ông Bùi Văn Lương (từ 17.5.1955 về
sau) làm Tổng ủy Trưởng.
Thực sự tổng số di
dân được phân bố theo tôn giáo như sau: Tin Lành (1.041
người); Phật giáo: (182.817 người); Công giáo: (676.348
người), và khoảng (40.000) người Hoa cũng di cư vào Nam
(= 900.206 người). V́ số di dân Công Giáo chiếm tỷ lệ nhiều
đến 70% tổng số di dân từ miền Bắc xuống miền Nam, một Ủy
Ban Hỗ Trợ Định Cư được rổ chức bên cạnh Phủ Tổng Ủy Di Cư.
Giám Mục Phạm Ngọc Chi được bổ nhiệm điều hành.
Tổng số di dân từ
miền Bắc có thể vào miền Nam là 875.478 người.
Họ được chuyển đến Sài G̣n, Vũng Tàu hay Nha Trang và nhiều
nơi khác tùy ư họ lựa chọn theo cá nhân hay theo các đoàn
thể do các linh mục di cư hướng dẫn.
Chủ yếu nhiều trại định cư về sau được tổ chức bố trí thành
các ấp chiến lược hay khu trù mật hay dinh điền.
Linh mục Cao Văn
Luận chú ư đến ư đồ chiến lược của Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm
lúc đó:
Ông (Ngô Đ́nh Diệm)
chú ư
đặc biệt đến giá trị chiến lược và kinh tế của vùng cao
nguyên và đặt kế hoạch đinh cư đồng bào di cư Nghệ Tĩnh B́nh
tại các vùng Ban Mê Thuột, Tuyên Đức, Đà Lạt, số người di cư
được định cư khá sớm tại các trại như Hà Lan A, Hà Lan B,
Đức Lập, B́nh Giả, Phan Thiết, Tân B́nh (Khánh Ḥa), Cam
Ranh… Tôi (LM Cao Văn Luận)
có nghĩ đến cách ḥa đồng dân di cư vào dân địa phương,
nhưng không có dịp nói ra, và tôi cũng nhận thấy sự khó khăn
quá lớn trong việc đó (t. 200)
.
Theo ông Trần
Vinh, tới ngày 21 tháng 8, mỗi ban ngành đều có đại diện của
Phủ Tổng Ủy Di Cư. Phủ Tổng ủy với 3 nhiệm vụ rơ rệt:
- Cứu trợ và di chuyển. - Kiểm soát và tiếp cư. - Giúp đỡ
định cư.
Về phía tư nhân,
ngay từ những ngày đầu, có nhiều đoàn thể cách mạng, hội
đoàn Công giáo, Ḍng Chúa Cứu Thế, Đại Chủng viện, v.v., lo
tổ chức việc tiếp cư tại phi trường Tân Sơn Nhất và bến tầu
Sài G̣n.
Măi đến tháng 8 năm
1954, Giáo hội Công giáo thành lập Ủy Ban Hộ Trợ Định Cư
do giám mục Phạm Ngọc Chi phụ trách. Văn pḥng HTDC đặt cạnh
nhà thờ Huyện Sĩ, Sài G̣n. Ủy ban cử các linh mục tới mỗi
trại tạm cư và trại định cư làm đại diện.
Ủy ban giúp Phủ
Tổng Ủy duy tŕ trật tự, an ninh; cấp phát, phân phối tiền
bạc, thuốc men, vải vóc; phụ trách các hoạt động văn hóa,
tinh thần. Ủy ban cũng vận động các tổ chức từ thiện quốc tế
ủng hộ tinh thần, vật chất cho đồng bào di cư. Ủy ban c̣n
bênh vực, tố cáo trước dư luận thế giới về những vụ việc
Cộng Sản ngăn cản, bách hại những người muốn di cư đi t́m tự
do.
Ngoài 2 tổ chức kể
trên, c̣n có các tổ chức khác cũng tích cực tham gia giúp đỡ
như: Văn Pḥng Viện Trợ Công Giáo Hoa Ḱ do Mgr.
Joseph Harnett
phụ trách; Văn Pḥng Thanh Thương Hội Phi Luật Tân;
Rotary Club; Hội Cứu Trợ Pháp; Báo Figaro quyên giúp
35,000,000 quan Pháp (1955).
Tổ Chức Ấp Chiến
Lược
Thời gian từ đó đến
nay đủ những nhiều đàm tiếu và nhận định khác nhau để có thể
phê phán được các vấn đề của lịch sử. Theo Tiến sĩ Lâm Thanh
Liêm, nguyên giáo sư kiêm trưởng ban Địa lư trường Đại Học
Văn khoa Sài g̣n, giảng dậy tại các viện đại học Sài G̣n,
Vạn Hạnh, Đà Lạt, Huế, Cần Thơ, Minh Đức trước năm 1975, “Chính
Sách Cải Cách Ruộng Đất Việt Nam (1954-1994),.”,
đă tổng hợp rơ về cơ cấu tổ chức và lợi thế của kế sách Khu
trù mật
như sau:
Khu Trù Mật là một
cộng đồng nông nghiệp được chính quyền thành lập và tập
trung thôn dân vào đấy sinh sống ở những địa phương nào chưa
an toàn. Các thôn dân sinh sống trong những vùng hẻo lánh,
xa cách các giao lộ, khó kiểm soát. Trước mưu toan Miền Bắc
dùng chiến tranh xâm lược Miền Nam , Tổng Thống Diệm quyết
định tập trung thôn dân sinh sống rải rác vào Khu Trù Mật,
để tiện tổ chứcxây dựng và nâng cao, phát triển đời sống của
họ, đồng thời bảo vệ họ, cô lập họ với Việt Cộng, giống như
bắt cá khỏi nước mà du kích Cộng Sản vẫn thường bám vào dân
để sinh sống Thiếu dân và các nguồn lợi, quân dân cán chính
có thể nhận diện được du kích mà loại trừ.
Mỗi KTM có khoảng
3.000 đến 3.500 dân, có hạ tầng cơ sở và các tiện ích giống
như một thành phố.
V́ thế các KTM dọc
theo biên giới hoặc xung quanh một thành phố lớn, để tạo một
vành đai an ninh. Đồng thời Khu Trù Mật cũng là đơn vị kinh
tế, thị trường tiêu thụ các nông sản và các chế phẩm tiểu
thủ công nghiệp. Chính phủ cấp phát cho mỗi gia đ́nh định cư
một mảnh đất 3.000m2, để xây cất một ngôi nhà (với vật liệu
do chính quyền địa phương cung cấp), một chuồng heo và một
chuồng gà. Mỗi gia đ́nh có một mảnh vườn cây ăn trái hoặc
một mảnh vườn rau để tự túc mưu sinh.
Về quân sự, bố
pḥng, KTM là những địa điẻm chiến lược để bảo vệ dân
chúng chống lại chiến tranh du kích xâm lược của Cộng Sản
Bắc Việt. Ngoài việcquàn lư dân chúng, chính quyền địa
phương c̣n được trang bị vũ khí cần thiết, để nếu cần, có
thể biến KTM thành một tiền đồn, ngăn chặn đoàn quân Bắc
Việt xâm nhập vào Nam.
Về kỹ thuật,
KTM có vị trí được được chọn lựa kỹ lưỡng, có đủ các điều
kiện phát triển thuận lợi, như đất đai ph́ nhiêu, gần các
giao lộ và điện khí hóa.
Về hành chánh va
xă hội, KTM có một chi nhánh bưu điện), cơ sở xă hội,
như một bảo sanh viện, một nhà trẻ) và văn hóa như các
trường tiểu học và trung học cấp I, một pḥng thông tin, nhà
thờ và chùa chiền.
Chính quyền có thể
cải thiện điều kiện sinh sống của thôn dân: việc tập trung
dân cư cho phép chính phủ thực hiện nhiều công tŕnh phục vụ
nhân dân, ít đ̣i hỏi nhiều tư bản đầu tư hơn h́nh thức cư
trú lẻ tẻ, rải rác (chẳng hạn như công tác thủy nông, điện
khí hóa, xây cất trường học, nhà bảo sanh v.v...)
Về kinh tế,
KTM có các tiện ích thương nghiệp và dịch vụ (có
chợ xây bằng gạch với các tiệm buôn bán); công nghiệp
có các tiểu thủ công nghệ liên hệ với nền nông nghiệp địa
phương; nông nghiệp, với diện tích đất trồng có thể
mở rộng nhờ khẩn hoang thêm đất đai giúp các thế hệ trẻ
tương lai tiền lên thành điền chủ:
Có Bao Nhiêu Ấp
Chiến Lược Trên Lănh Thổ VNCH
Ngoài các làng xă
thôn ấp chiến lược địa phương, tổng số các địa điềm định cư
có thể biến thành khu trù mật, hay ấp chiến lược, dinh diền
h́nh dung như sau:
“Tính đến ngày
30 tháng 10 năm 1955 đă thành lập được 255 trại định cư (sau
này c̣n thành lập thêm): 156 trại tại Nam phần, 65 trại tại
Trung phần và 34 trại trên cao nguyên. Tổng số dân đi định
cư là 596.031 người; số đồng bào di cư sống rải rắc các nơi
là 140.039 người; gia đ́nh binh sĩ là 125.393 người (những
con số này có sai biệt chút ít giữa các bản thống kê, một
phần cũng do số sinh tử mỗi ngày).
Ngân khoản dành
cho chương tŕnh di cư là 1.058.000.000$. Trong số đó 480
triệu dành để làm nhà sẵn cho đồng bào và 300 triệu cấp cho
nơi nào đồng bào tự làm nhà lấy. Tại các trại có đợt phát
tiền mặt cho mỗi đầu người 700$. Ngoài ra đồng bào c̣n được
124.813 dụng cụ canh nông; 681.585 kiện vải; 393.994 kg chỉ
và 3.471 kg ch́ để làm chài lưới”
Robert Scigliano
(Robert Scigliano:
Vietnam: Politics and Religion.
Asian Survey,
Vol. 4, No. 1, A Survey of Asia in 1963: Part I (Jan.,
1964), pp. 666-673. This article consists of 8 page(s)),
giáo sư tại trường Đại Học Michigan, cho biết Cộng Sản Hà
Nội chống lại chính sách khu trù mật. Thể chế này có tác
dụng hữu hiệu là ngăn chận Cộng Sản xâm nhập vào nông thôn,
v́ được xây dựng ở các vùng chiến lược, như dọc theo một
trục đường chính, một giao lộ trên bộ hay trên sông rạch gây
trở ngại rất nhiều cho việc di chuyển của Cộng Sản.
Tác Giả Nguyễn
Văn Châu, cựu Trung Tá, nguyên Giám đốc Nha Chiến Tranh
Tâm lư, Bộ Quốc Pḥng Trong cuốn “Ngô Đ́nh Diệm En 1963:
Une Autre Paix Manquée” (Bản dịch Nguyễn Vy Khanh từ
nguyên tác Pháp văn, Luận Án Sử Học, Trường Đại Học Paris
VII, 1982. Bản tiếng Việt do nxb Xuân Thu, Nam Cali, 1989) cho
rằng Khu Trù Mật do chính quyền sáng kiến bị chỉ trích v́
chỉ nhắm vào những chuyện tiêu cực về nhân sự, Những dư luận
chống lại quốc sách ấp chiến lược c̣n đi xa hơn nữa cho rằng
chính quyền ép buộc dân bỏ làng mạc nhà cửa.
Ngày nay đọc
Suzanne Labin, người ta rút ra được bài học lịch sử về
chính sách ấp chiến lược. Bà là một nhà văn kiêm phân tích
gia đă nhiều lần tới thăm Miền Nam Việt Nam dưới thời Việt
Nam Cộng Ḥa I. Bà từng được Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tiếp
kiến, và đă thuyết tŕnh về chính trị tại Sài g̣n. Trong
cuốn “Vietnam: An Eye-Witness Account - Việt
Nam: Tường Thuật Của Một Nhân Chứng Thấy Tận Mắt”
,
Suzanne Labin đă viết:
"Khi
nhà Ngô bị lật đổ, có tám ngàn ấp chiến lược đă được
thành lập xong và đang vận hành, với dự trù khoảng
bốn ngàn ấp nữa cần thiết để bảo vệ cả nước. Nông dân
sống rải rác dọc theo các con kênh, được yêu cầu dời chuyển
để qui tụ lại thành nhiều làng, tập trung theo kiểu Âu châu.
Mỗi làng được rào vững chắc bằng hàng rào kẽm gai hoặc hàng
rào tre vót nhọn đàng sau có tăng cường hệ thống hào rộng,
gài ḿn để chận đứng Việt Cộng ṃ vào ban đêm. Trong ấp, mỗi
gia đ́nh đều được khuyến khích đào một hầm trú ấn ngay trước
nhà họ.
Tại sao vậy? Khi
Việt Cộng tấn công, trước đây người dân thường quá sợ nên
nên chạy tứ tung gây trở ngại cho lực lượng bảo vệ nhiều khi
bắn cả vào người nhà ḿnh. Từ khi có hầm trú, người già và
trẻ con cứ việc núp dưới hầm để xạ trường quang đảng cho lực
lượng chiến đấu hành sự”
"Người dân làng
được đoàn ngũ hóa theo tuổi tác, giới tính, và tùy theo khả
năng mà được giao cho một phần vụ đặc biệt. Lực lượng tự vệ
và thanh niên cộng ḥa là những đơn vị chiến đấu; những dân
làng khỏe mạnh khác th́ tham gia công tác pḥng vệ, thanh
thiếu niên th́ vót chông. Người có nhiệm vụ chiến đấu được
cấp vũ khí cá nhân mang luôn bên ḿnh ngay cả khi ở nhà.
Nhiều làng được trang bị thêm xe thiết giáp hoặc súng liên
thanh. Máy truyền tin được cung cấp giúp cho các người bảo
vệ ấp chiến lược có thể gọi ngay lực lượng chính quy đến một
khi bị tấn công. Nhiệm vụ chính của làng là cầm chân kẻ thù,
vô hiệu hóa chúng ngoài các vành đai của ấp, cố ngăn chúng
không lủi mất vào rừng trong khi lực lượng chính quy kéo tới.
Bấy giờ, Việt Cộng thấy quá khó khăn khi xâm nhập một vùng
dân cư có pḥng thủ và ngay cả rút lui cũng thấy nhiều trở
ngại."
Bà c̣n nhắc lại câu
nói cô đọng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm: Muốn nghiền nát
quân thù cần chiếc búa có sức mạnh năng động dập trên đe ấp
chiến lược. Ấp chiến lược tồn tại v́ đă đưa lại nền tảng đa
hiệu vững chắc cho tiến bộ kinh tế xă hội. Âp chiến lược
chính là tâm điểm cuộc cách mạng chính trị và xă hội
Chính sách ấp chiến
lược được thực hiện từ năm 1961 là một kế hoạch táo bạo nhất
của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Kế hoạch ấy được Sir Robert
Thompson cố vấn. Ông là chuyên viên về chiến thuật phản nổi
dậy người Anh cùng với hai người bạn là Desmond Palmer và
Dennis Duncanson
Nhận định tổng quát
về kết quả của chính sách ấp chiến lược, tác giả Nguyễn Văn
Châu đă khẳng định trong luận án của ông:
Quốc sách Ấp
chiến lược sau hai năm đă ngăn chặn thành công. Việt Cộng
không c̣n sống bám lén lút trong nhân dân.
Vấn đề an ninh
làng ấp được vững vàng hơn, quân đội chính quy quốc gia trở
thành lực lượng hành quân chủ động.
Du kích cộng sản
chịu nhiều thất bại đáng kể, khiến cho chúng phải rơi vào
thế bị động và chao đảo sau khi đă mất hạ tầng cơ sở.
Tinh thần quân
đội quốc gia lên cao, dân chúng được bảo vệ tốt hơn và du
kích Việt Cộng càng ngày càng hồi chánh về đầu thú với chính
quyền Việt Nam Cộng Ḥa.
Trong một bài báo
mới đây nhan đề “Bốn Mươi Năm Ngày Đảo Chính Chế Độ Ngô
Đ́nh Điệm: Cái Nh́n Từ Hà Nội, Tạp chí Thông Luận
số 174, tháng 10-2003.”, Bùi Tín, nguyên Phó chủ
nhiệm Nhật báo Nhân Dân Chủ Nhật, cựu đại tá của Bộ Đội Bắc
Việt đă phải xác nhận ưu thế của quốc sách ấp chiến lược đă
gây cho lực lượng xâm lăng Cộng Sản nhiều khó khăn và thất
bại trước đây, đă thẳng thắn bày tỏ rằng :
Cùng với thời gian và sự t́m hiểu những tư
liệu lịch sử, tôi thấy cần phải trả lại lẽ công bằng cho
nhân vật lịch sử này... Tôi cho rằng ông Diệm là một nhân
vật chính trị đặc sắc, có ḷng yêu nước sâu sắc, có tính
cương trực thanh liêm, nếp sống đạm bạc giản dị.
Bởi thế, những nhận
xét của tác giả Nguyễn Bá Cẩn về khu trù mật, rồi ấp
chiến lược như đă trích dẫn ở trên có phải là những quan
điểm nông nổi chăng, hay là do một tư duy thiên kiến nào đó
thúc đẩy ông viết nên những câu đáng lẽ cần được cân nhắc
hơn, từ một người làm chính trị ở vào một trong những vị thế
lănh đạo Miền Nam trước đâỵ. Thực tế chính trị Miền Nam Việt
Nam cho thấy sự lợi hại của quốc sách Khu trù mật qua sự
chứng kiến không chỉ của dân Miền Nam mà cả rất nhiều giới
ngoại quốc.
Trong cuốn “Nation
That Refused to Starve: The Challenge of the New Vietnam
,
Tướng John W. O'Daniel,
chỉ huy phái bộ Quân sự Mỹ đầu tiên, đă ca tụng chính sách
tiếp cư chu đáo của Ông Ngô Đ́nh Diệm, thành công của các
khu trù mật mà tiêu biểu là Cái Sắn, chương tŕnh dinh điền
ở Quảng Đức, Ban Mê Thuột...
Chương tŕnh cải
cách điền địa thực hiện dưới thời Việt Nam Cộng Ḥa I cho
người nông dân cuộc sống bảo đảm tương lai với các con số
sau đây:
Từ tháng 7 năm 1954
tới tháng 7 năm 1961 có tất cả 648.294 mẫu tây được phân
phối lại cho nông dân, 301.923 mẫu tây đất nhà nước mua lại
để phát cho nông dân. Một tổng cộng 950.217 mẫu tây mà chính
quyền trưng mua lại của các đại điền chủ với giá
1.260.559.427 đồng. Trong khi đó các nông dân chủ điền mới
chỉ phải trả 1.822.116 đồng vào năm 1961.
Nhiều tư liệu lịch
sử khác xác nhận thành quả quốc sách ấp chiến lược, khu trù
mật, dinh điền, và chương tŕnh cải cách điền địa nói trên.
Tóm lại,
Ấp
chiến lược là một "quốc sách" của chính quyền Việt Nam Cộng
ḥa I sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam từ năm 1960 do
chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đề xuất, đối phó hữu hiệu với
Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.
Quan điểm
của Việt Nam Cộng ḥa I về Ấp chiến lược là nhằm mục đích
tách rời du kích Cộng Sản Việt Nam dưới chiêu bài Mặt trận
Dân tộc Giải Phóng Việt Nam ra khỏi dân thường ở nông thôn.
Dân chúng không phải sống trong vùng oanh kích tự do, hay "vùng
xôi đậu", loại trừ đối phương có cơ sở hoạt động “tam cùng”
(cùng ăn, cùng ở cùng làm) trong dân chúng, dần dần cô lập
hoàn toàn lực lượng du kích khỏi nông thôn.
Nhưng để
chống lại chính sách đó, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền
Nam Việt Nam tuyên truyền đây là h́nh thức gom dân, nhốt
dân, ḱm kẹp dân ḥng "tát nước bắt cá". Kế hoạch ấp chiến
lược khi được thực hiện tốt sẽ cô lập lực lượng vũ trang
cộng sản không thể dựa vào dân, và dần dần Việt cộng bị tiêu
diệt.
Ấp chiến
lược tổ chức theo h́nh thức "tự quản, tự pḥng và tự phát
triển". Quản lư ấp là một Ban Trị Sự, pḥng thủ
bảo vệ ấp là lực lượng Pḥng Vệ Dân Sự, phối hợp với
các đơn vị Thanh Niên, Thanh Nữ Cộng Ḥa của ấp đó
phụ trách.
Khi ấy,
tất cả các ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố, mỗi
ấp đều có một hoặc nhiều cḥi canh tầm nh́n xa, các cổng ra
vào được canh gác cẩn mật. Ban ngày, người dân được tự do ra
vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ muốn vào ấp phải qua sự
kiểm soát vô cùng chặt chẽ. Ban đêm, các cổng ra vào được
đóng kín lại, nhưng các trường hợp cấp thiết của dân ở bên
trong vẫn được giải quyết. Mọi trường hợp xâm nhập lén lút,
bất hợp pháp từ bên ngoài vào đều bị phát hiện v́ trong ấp
có hệ thống báo động.
Ban đầu,
Quốc sách Ấp chiến lược thực hiện hiệu quả, hoạt động của
quân du kích cộng sản bị ngưng trệ. Tuy nhiên, trong khi thi
hành th́ nhiều viên chức lấy ngân sách Ấp chiến lược rồi bắt
dân phải gánh chịu khoản này như phải nộp tiền, công sức và
tre để làm hàng rào cho ấp. V́ thế, dân cảm thấy bị gom vào
một chỗ sẽ làm xáo trộn một phần nào nếp sống cổ truyền nông
thôn của họ. V́ thế, phía Cộng sản đă phát động phong trào "phá
ấp chiến lược".
Thử Đi Đến Một Kết Luận
Người ta có thể có
nhiều nhận định phán đoán khác nhau về con người Ngô Đinh
Nhu hoạt động trong hoàn cảnh một chế độ đă diễn ra. Đă có
những phán đoán phê phán về những khuyết điểm của chế độ Ngô
Đ́nh Diệm như độc tài, gia đ́nh trị, công giáo trị. Trong
chừng mực nào, người ta có thể chấp nhận những phê phán như
thế, nếu chỉ xét một cách chủ quan, tương đối, có thiên kiến
phần nào.
Nhưng xét trong bối
cảnh toàn cuộc, chế độ Ngô Đ́nh Diệm đă phải ứng phó với
nhiều đoàn thế đối lập như nỗ lực xâm nhập và phá hoại đa
diện của Cộng sản miền Bắc, như nhiều đảng phài có những
quyền lợi khác nhau có căn bản ở nhiều thế lực chính trị và
tôn giáo: xu hướng Cao Đài, B́nh Xuyên, nhiều giáo phái Phật
Giáo (Phật Giáo Ḥa Hảo, Phật Giáo Thống Nhất, Phật Giáo
Nguyên Thủy Cổ Sơn Môn, Phật Giáo Tiểu Thừa, Phật Giáo Đại
Thừa,… ), Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Bảo Hoàng thân
Pháp, phong trào đ̣i độc lập tự trị của nhiều nhóm dân tộc
thiểu số,...
Trước thực tại xă
hội đó, việc xây dựng một xă hội tự do dân chủ và tôn trọng
nhân vị vừa đối kháng với Cộng Sản chuyên chính, vừa nỗ lực
đoàn kết toàn dân có lập trường chính trị và tôn giáo khác
nhau, không phải là một chính sách đơn giản, dễ dàng. Nhưng
Ngô Đ́nh Nhu và những người cùng chủ trương đă xây dựng một
chính cương (chủ nghĩa nhân vị) chỉ đạo các chính sách như
dinh điền, khu trù mật, ấp chiến lược để vừa xây dựng vừa
chiến đấu. Trong t́nh thế đó, chắc chắn quyền tự do, dân chủ
và nhân quyền chỉ được áp dụng đến một chừng mực nhất định
trong một xă hội theo cái nh́n của chủ nghĩa nhân vị và các
tổ chức xă hội, nhầt là thanh niên làm công cụ thực hiện các
chính sách. Đoàn kết toàn thể quân dân cán chính để xây dựng
xă hội.
Nhưng nhận thức của
toàn dân không triệt để, nhiều chính trị gia và tướng lănh
đồng lơa với những mưu đồ cá nhân và bị nước ngoài mua chuộc,
lực lượng đồng minh Hoa Kỳ không kiên tŕ và trung thành
trong cuộc xây dựng và chiến đấu, trong khi Cộng Sản xúc
tiến phối hợp các mưu đồ đánh phá chế độ xă hội miền Nam, ra
sức khai thác và phóng đại những khuyết nhược điểm khó tránh
khỏi của chế độ. Những yếu tố đó đă đưa chế độ Ngô Đ́nh Diệm
chủ yếu do tập thể Ngô Đ́nh Nhu kiến trúc nên đă bị thất bại
trong chính biến có nội công ngoại kích tháng 11 năm 1963.
Đối chiều với thực
tại chính trị Việt Nam hiện nay, người ta càng thấy rơ mưu
lược của nhà kiến trúc xă hội như Ngô Đ́nh Nhu vậy.
Một Số Sự Kiện Với Năm Tháng Có Ư Nghĩa:
|
TT |
Thời
gian |
Sự
Kiện Nhân Vật |
|
|
06.1954, Cannes |
Quốc
trưởng Bảo Đại ủy nhiệm cho ông Ngô Đ́nh Diệm lập
nội các mới. |
|
|
25.06.1954, Sàig̣n |
Ông Ngô
Đ́nh Diệm về Việt Nam |
|
|
21.07.1954, hay 20/07/1954 Genẻve |
14 Nước
Kư Kết Hiệp Định
|
|
|
06.08.1954-23.8.1963 Hoa Kỳ |
Ông
Trần Văn Chương, đại sứ t ại Hoa Thịnh Đốn
|
|
|
07.09.1954 Sài G̣n |
Pháp
trao trả Dinh Norodom, Chính Phủ Ngô Đ́nh Diệm đổi
tên thành Dinh Độc lập |
|
|
20.09.1954 Việt Nam |
Lê Văn
Viễn (tức Bảy Viễn) trở về |
|
|
23/10/55VN |
N ĐD tổ
chức trưng cầu dân ư. Ông NĐDiệm đạt 98.2% số phiếu,
làm Tổng Thống, Bảo Đại bị truất phế |
|
|
|
Các
tướng lănh Nguyễn Văn Hinh, Nguyễn Văn Vỹ, Trần Văn
Đôn ban đầu thời Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm
Nhóm
ṇng cốt chuẩn bị cho Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm: Hoàng
Bá Vinh, Cao Xuân Cẩm, Cao Xuân Mỹ, Đỗ La Lam, Hà
Đức Minh, Trần Kim Tuyến, Phạm Văn Nhu, Nguyễn Vỹ, …Nhị
Lang, Hồ Hán Sơn, Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Thành
Phương, Văn Ngọc, Hà Huy Diễm, Nguyễn Phổ, Hoàng Cơ
Thụy, Nguyễn Hữu Khai, Huỳnh Minh Ư, Đoàn Trung C̣n,
Nguyễn Văn Quyền, (Nguyễn Trăi) Nguyễn Mạnh Cường,
Nguyễn Trọng Ứng, Khuất Duy Trác, Cung Thúc Tiến,
Trần Chánh Thành (tự sát dịp 30/4/1975 tại nhà ở
Sàig̣n), Tŕnh Minh Thế (chết 03.05 1955), Lư Kai (chết
14.07.1956), Nguyễn Hữu Châu, Lương Danh Môn, Vơ Văn
Hải |
|
|
31.02.56 |
Ngô
Đ́nh Luyện, bạn học với Tạ Quang Bửu, cố vấn, đại sứ
lưu động, toàn quyền tại London |
|
|
|
Nguyễn Thị Nghĩa, em ruột Nguyễn Đệ, Couvent des
Oiseaux |
|
|
|
Trần Văn Đỗ, Ngoại Trưởng |
|
|
1956 |
Ngô
Đ́nh Nhu, cố vấn |
|
|
1/59 |
Luật
gia đ́nh: 135 điều, cấm ly dị, cấm đa thê, truất
quyền của con ngoại hôn, Trần Lệ Xuân dự thảo và
tŕnh Quốc Hội Việt Nam Cộng Ḥa ngày 13.12.1957 |
|
|
|
Đoàn
Thêm, Đổng Lư Văn Pḥng |
|
|
|
Trần
Quốc Bửu, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam |
|
|
11.11.60 |
Mưu
toan lật đổ chế độ lần 1: Đảo chính: Phan Quang Đán,
Hoàng Cơ Thụy, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam,
Nguyễn Thành Phương, Bùi Lượng, Phan Bá Cầm, Vương
Văn Đông, Nguyễn Chánh Thi, … |
|
|
1960-63 |
Phong
Trào Áo dài Bà Nhu. |
|
|
27.02.1962 |
Chính
biến l ần 2: Oanh tạc Dinh Độc Lập: Phạm Phú Quốc -
Nguyễn Văn Cử- Nguyễn Xuân Vinh. |
|
|
01.03.63 (6.2) |
Tượng
Hai Bà Trưng.
|
|
|
05/05/63
Huế |
Lễ Mừng
TGM Ngô Đ́nh Thục.
Cờ VN va cờ Vatican. |
|
|
08/05/63
Huế |
Đại Lễ
Phật Đản 2507treo cờ VN nhưng không được treo cờ
Phật Giáo ngoài khuôn viên các Chùa. Biểu t́nh phản
đối. 9 người chết có cả trẻ em, 20 người bị thương.
Phật Giáo có 10,5. Công Giáo có 1,5. Quan hệ Mỹ Việt
bắt đầu căng thẳng |
|
|
09/05/63 |
Phật
Giáo đ̣i 5 điểm:
1/. Hủy
lệnh cấm treo cờ Phật
2/.
Phật Giáo phải b́nh đẳng Công Giáo
3/.
Không được đàn áp Phật Giáo
4/. PG
được quyền thờ phượng theo tín ngưỡng của ḿnh
5/.
Chính quyền phải bồi thường những thiệt hại cho Phật
Giáo và trừng trị những người có trách nhiệm trong
việc đàn áp PG ngày 08/05/1963 |
|
|
12/05/63 |
Phái
đoàn PG gồm 8 người từ Huế vào Sài G̣n kiến nghị
Tổng thống |
|
|
28/05/63 |
T.T
Thích Tịnh Khiết kêu gọi Phật Tử xuống đường.
Tại Huế,
cả ngàn người xuống đường. Tại SG, nhiều tằng ni
Phật Tử xuống đường , tuyết thực 48 giờ trước Quốc
Hội. Đại sứ F. E. Nolting vắng mặt khỏi SG, ĐS W.C.
Trueheart giải quyết |
|
|
2/6/63
Huế |
Hằng
trăm sinh viên biểu t́nh bạo động,Huế giới nghiêm |
|
|
4/6/63 |
Trueheart gặp Nguyễn Đ́nh Thuần, BTPTT, nhưng bất
đồng |
|
|
7/6/63 |
Bà Trần
Lệ Xuân ca ngợi tổ chức Phụ Nữ Liên Đới và cho các
nhà lănh đạo PG bị CS giật giây |
|
|
11/6/1963 |
HT
Thích Quảng Đức, 73 t, tẩm xăng tự Thiêu ở ngă tư Lê
Văn Duyệt Phan Đ́nh Phùng. Bà Nhu tuyên bố “Tất cả
các lănh đạo PG đóng góp vào quốc gia là nướng một
nhà sư” |
|
|
16/6/63 |
Uy Ban
CP va PG kư Thông Cáo Chung. Truyền thong Mỹ chỉ
trích chính quyền NĐD. TT Trí Quang (sinh 1922) thay
thể TT Thích Tịnh Khiết |
|
|
25/6/1963 |
Trưởng
CIA John Richardson không giải quyết được mâu thuẫn
CP và PG. Ông Nhu đ̣i làm mạnh và chống PG v́ không
chống Cộng. |
|
|
Những
ngày cuối tháng 6/63 |
Đại Sứ
Trueheart đe dọa chính quyền NĐD, nên NDD trở nên
độc lập với áp lực Mỹ hơn. Vai tṛ Nolting được
trọng dụng. Nhưng Kennedy muốn thay thế |
|
|
Tháng
7-8/1963 |
Áp lực
gia tăng
|
|
|
11/7/63 |
Nolting
trở lại Sàig̣n thuyết phục NDD ḥa giải với PG |
|
|
18/7/63 |
Nolting
cố thuyết phục NDD. NDD chịu lên Đài Phát Thanh. Vụ
tự thiêu thứ 2 xảy ra |
|
|
19/2/63 |
TT lên
Đài PT chỉ hai phút, chỉ hứa có UB diều tra về việc
xảy ra. Cảnh sát vẫn bao vây chùa |
|
|
23.07.1963 |
Trần
Thanh Chiêu, TGĐ dân vệ đoàn, |
|
|
5/8/63
Phan
Thiết |
Nhà sư
Nguyên Hương tự thiêu |
|
|
13/5/63
Huế |
1 nhà
sư quấn cổ tự thiêu. Ni cô tự thiêu tại một nhà thờ
Cg. 1 sư 71 t tự thiêu ở Chùa Từ Đàm |
|
|
14/8/63 |
Nolting
từ biệt NDD về Mỹ, Henry Cabot Logde đến thay thế |
|
|
15/8/63 |
Nolting
rời Sàig̣n. NDNhu cảnh giác Mỹ có thể thay đổi chính
sách |
|
|
20/8/63 |
NDNhu
cho enh bao vay tấn công chùa tại Xá Lợi, tại Từ
Đàm: 30 chết, 200 bị thương, bắt giam 10xe chơ người |
|
|
21.08.1963 |
Bố ráp
Chùa. LL Đặc Biệt và Dă chiến tấn công 2000 chùa
trên toàn quốc, bắt 1400 tăng ni, 50-100 người chết.
Mỹ lên án NDD. ở Hoa Thịnh Đốn và Honolulu. Cả nước
thiết quân luật. Sinh viên bất tuân, xuống đường. Vũ
Văn Mẫu từ chức cùng với Đại sứ Mỹ Trần Văn Chương
|
|
|
22/8/1963 |
ĐS
Cabot Lodge đến Sàig̣n 9.30 tối |
|
|
23.08.1963 |
Lucien
Conein được TVDôn mời đến Bộ TTM trao thu cho Cabot
logde noi la quân đội không nhúng tay vào vụ PG. LV
Kim phụ tá Trần Văn Đôn đ̣i loại NDNhu. Vơ Văn Hải
hứa bảo vệ TT NDD neu quan doi loai Nhu. R. Hilsman
va Averell Harriman đều tỏ ư không ủng hộ chế độ NDD
|
|
|
24/8/63 |
Cabot
Logde liên lạc với Bộ Ngoại Giao và ṭa Đại Sứ Mỹ
phối hợp với tướng lănh VN làm đảo chính chế độ NDD
Bộ
Ngoại Giao gởi TĐS Mỹ tại Sài G̣n để thi hành ngay.
Tối mật. Không được phổ biến. Chỉ đích thân Đại Sứ
Cabot Lodge mới được phép đọc. Đối với CINPAC/POLAD
th́ chỉ Đô Đốc Felt được phép đọc
Theo
CAS Sài G̣n 0265 báo cáo về quan điểm của Tướng Đôn;
Sàig̣n 320, Saigon 316. Sàig̣n 329
Bây giờ
th́ rơ là hoặc quân đội đề nghị thiết quân luật,
hoặc Ông Nhu đă lừa họ. Ông Nhu đă lợi dụng t́nh
trạng đó để tấn công Chùa chiền bằng Cảnh Sát và Lực
Lượng Đặc Biệt của Đại Tá Tung trung thành với ông,
làm cho nhân dân Việt Nam và thế giới ngờ rằng quân
đội làm. Hơn nữa cũng thất quá rơ rang là ông Nhu đă
âm mưu sắp đặt ông ta vào vị trí chỉ huy.
Chính
phủ Hoa Kỳ không thể dung dưỡng t́nh trạng mà quyền
bính lại nằm trong tay ông Nhu và các thuộc hạ của
ôngđể thay vào đó bằng những quân đội tinh nhuệ và
những chính trị gia có tư cách.
Nếu Ông
(Cabot Lodge) cố gắng hết sức, nhưng ông Diệm vẫn
ngoan cố và từ chối th́ chúng ta phải đối đầu với
một điều có thể xảy ra, là ngay cả bản thân ông Diệm
cũng không thể tồ tại được.
Kỳ tên:
Hilsman, Ball, W. Averell Harriman 24/8/63 |
|
|
25/8/63 |
ĐS
Lodge báo cáo đă nhân được, nhấn mạnh mọi việc vẫn
từ Hoa Thịnh Đốn |
|
|
26/8/63 |
Các Cố
Vấn TT Mỹ chia 2 lập trường: Taylor muốốn có thảo
luận thêm bức điện trên, và phe Mc Cone thấy tư cách
xứng đáng của TT NDD, khó thay thế. Cuối cùng mọi
người thấy cần phải dè dặt và giữ lại NDD, loại
NDNhu thôi. VOA phổ biến vội lập trường Mỹ mà Lodge
chưa gặp NDD. Nhưng các tướng Minh, Khiêm và Khánh
đă được liên lạc |
|
|
27/8/63 |
TT
Kennedy họp với các cố vấn cao cấp, trong đó có
Nolting. Muốn loại bỏ Nhu nhưng hai anh em như gắn
bó như cặp bài trùng. TTKennedy vẫn giữ lập trường
điện văn ngày 24/8/1963 |
|
|
29/8/63 |
Kennedy
tin giao mọi trách nhiệm cho Cabot Lodge |
|
|
30/8/63 |
Kennedy
sợ có cảnh tắm máu tại Sàig̣n nên cho báo động các
nơi ngoài khơi dự trù |
|
|
31/8/63 |
Tướng
Minh báo cho Richardson biết kế hoạch đảo chánh phải
hoăn lại, vỉ sự thân thiết Richardson với TT NDD có
thể bại lộ cuộc đảo chánh. |
|
|
04.09.1963 |
Họp báo
tại Dinh Gia Long |
|
|
09.09.1963 |
Bà Trần
Lệ Xuân đi dự HNQT tại Nam Tư 10.09.1963
(11-19.09.63), đến Rôma: 22.09.1963 |
|
|
29.9.1963 |
Đến
Paris |
|
|
07.10.63 – 13/11/63 |
Đến Mỹ:
đến Idlewild, hạ viện Mỹ 8.10.63, đến New York 09.10
(Hotel Waldrof-Astaria), 14.10, tới Harvard, MA.
03.11. ở Hotel Beverly Wilshire, Beverly
Hills-13.11, sắm đồ ở New York (Barclay Luggage
Shop), với tiền hóa đơn 52.045US$ |
|
|
|
Ngô
đ́nh Lệ Thủy: 07.08.1945, Huế |
|
|
12.04.1967 |
Paris |
|
|
|
Nguyễn
Thị Thuần, thư kư riêng của Bà Nhu |
|
|
|
Nhóm
mật vụ miền Trung: Dương Văn Hiều, Nguyễn Tư Thái,
Nguyễn Thiện Dzai |
|
|
11.63 |
Vị
tướng cầm đầu đảo chính lật đổ chế độ Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm: Đại Tướng Dương Văn Minh. |
|
|
01-2.11.63 |
Thiếu
Tướng Đỗ Mậu, Các tướng lănh Tôn Thất Đính, Trần
Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Lê Văn Tỵ, Văn Thành Cao. |
|
|
|
Một số
nhân vật: Lê Công Hoàn, Trần Văn Khiêm, Truơng Đ́nh
Dzu. |
|
|
10 giờ
đêm 27.7.1986 |
Ông bà
Trần Văn Chương chết, có nhiều nghi vấn là Trần Văn
Khiêm giết cha mẹ để giành gia tài (?) |
Một Số TÀI
LIệU THAM KHảO:
Tài Liệu Ấn
Hành Vật Chất
Văn Bia: Đời
Một Phóng Viên và Những Ngày Chung Sống Với Chí Sĩ Ngô Đ́nh
Diệm. Hồi Kư. In lần thứ hai (2003). Bổ túc nhiều chi
tiết và h́nh ảnh. Có thêm Phần "Đoạn Cuối Đời Một Phóng
Viên". Tác giả giữ bản quyền.
Copyright 2003 by Lê Văn Bia. All rights reserved. Đăng kư:
TX 5-528-510, Dec 11, 2001. Tái đăng kư: April 2003.
Chính Đạo Vũ
Ngự Chiêu: Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975.
2004, Nhà XB Văn Hóa, PO BOX 721049, Houston TX, 7727-1049,
22US$, USA. 4/10/2006, 4 Hồn Việt
Nguyễn Đức
Cung: Ấp Chiến Lược
Phạm Cường:
Bí Ấn Mộ Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu. VNnet
Nguyễn Hữu Duệ:
Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
4366 Menlo Avenue # 23, San Diego, C.A. 92115, U.S.A. ĐT:
619-284.5484. Giá bán: 15 USD.
Trần Văn Đôn:
Việt Nam Nhân Chứng
Phụng Hồng: ĐỌC “VIỆT NAM
NHÂN CHỨNG” CỦA TRẦN VĂN ĐÔN. Đại Chúng số 85 -
phát hành ngày 1/11/2001
http://www.daichung.com/85/17_vn_nhan_chung.shtm
http://www.daichung.com/86/15_viet_nam_nhan_chung.shtm
DAI CHUNG NEWS MEDIA
INCORPORATED d/b/a DAI CHUNG BIWEEKLY NEWSPAPER [10515
Summit Avenue Kensington, Maryland 20895]
Đại Chúng số 86 - phát hành ngày 16/11/2001
Lữ Giang.
Harriman, Người Quyết Định Về Số Phận Ngô Đ́nh Diệm,
Canada, 19/10/2004, 09t, A4
Lữ Giang
Những Bí ẩn Về Biến Cố Ngày 11.11.1960. Canada, Thứ Sáu
12/11/2004, 09t, A4
Mậu Hải.
Chúa Gọi. Hồi Kư. Kỷ niệm Năm Mươi Năm Linh Mục và
Thượng Thọ Bát Tuần Linh Mục Inhaxiô Mai Xuân Hậu,
20.05.2003. Sàig̣n, viết xong Lễ Truyền Tin, 25.03.2003,
97t, 13x24cm.
Vũ Đ́nh Hoạt:
Việt Nam Tôn Giáo Chính Trị Quan. Trực thoại
với Đỗ Mậu, tác giả Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi.
Virginia, Alpha, 1991 (1771, Wilson Blvd, Falls Church, VA
22044), 727t. I-X, 15x25cm; 1619-11t. XI-XX, 15x25cm)
Nguyễn Gia
Kiểng, "Ông Ngô Đ́nh Diệm lên cầm quyền như thế nào?",
Thông Luận, tháng 4, năm 2005.
Phạm Văn Lưu,
Tổng Thống Diệm: Những ngày đầy thử thách khi về nước
chấp chánh, 1954-1955(7-29), Melbourne, 18.10.2004;
Phạm Văn Lưu và
Nguyễn Ngọc Tấn: Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam (1954-1963),
Một Cuộc Cách Mạng. Center For Vietnamese Studies
Publications, Reservoir, Victoria, 3073, Australia. [(Lê
Tinh Thông) 2362 Ashbury Circle, Westminster, C.A., 92683,
USA.
ĐT:
714-891.6216.10 USD. (nhà sách Nam Á): Centre Commercial Les
Olympiades, 44 avenue d'Ivry, 75013 Paris, France.]
Hoành
Linh Đỗ Mậu: Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi.
Hồi Kư Chính
Trị. Bổ túc hồ sơ về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Ḥa. Hoa Kỳ,
NXB Quê Hương PO Box 8435 Mission Hills, CA 91346 USA. In
lần 1, 1986, lần 2, 1987, 1267tr., 16x27cm
Đỗ Mậu: Một
Trời Tâm Sự hay Hồi Kư Của Tướng Lưu Vong của Đỗ Mậu. Hà
Nội, NXB Công An Nhân Dân, 1991
Lương Khải Minh
& Cao Vị Hoàng. Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống I&II.
Sàig̣n, Đinh Minh Ngọc xuất bản, 1971.
Nguyễn Văn
Minh: Ḍng Họ Ngô Đ́nh: Giấc Mơ Chưa Đạt. Hoàng
Nguyên XB, NV Printing 7775 Westminster Ave., Westminster,
CA 92683 (714)-897-3626. http://www. nvprinting.com .
(Dorothy Nguyen PO BOX 2637 Garden Grove, CA 92842-2637)
Ca, USA, 2004, 586t, 14x25cm Giá bán 20 USD.
Trung Quốc
Và Việc Giải Quyết Cuộc Xung Đột Lần Thứ Nhất ở Đông Dương.
Nhà
XB Thông tin lư luận, bản tiếng Việt, Hà Nội, 1981
Nhật kư Đỗ Thọ.
Sàig̣n, Đồng Nai, 1970.
Tôn Thất Thiện
“Cụ Diệm ở PARIS 1953 - 1954”. Lữ Giang giới thiệu.
Canada, 2004, 24t, A4
Tài Liệu
Không Mạng
BBC phỏng vấn
John Prados (National Security Archive): John Fitgerald
Kennedy Và Cuộc Đảo Chính Ngô Đ́nh Diệm Diễn Ra Ngày
1-11-1963. http://tieulun.hopto.org
LARRY BERMAN,
Sự Kiện Nhân Chứng Trên Mặt Trận Thầm Lặng (Nguyễn Đại
Phượng dịch). (Theo Tuổi Trẻ Online)
http://www.qdnd.vn/qdnd/sukiennhanchung.trenmattranthamlang.24055.qdnd
Larry Berman: "Không
Ḥa B́nh, Chẳng Danh Dự". Bản dịch Nguyễn Mạnh Hùng,
Lư Quư Chung:
Hồi Kư Không Tên. CÁI CHếT CủA BA ÔNG DIệM, NHƯ, CẩN.
Website Talawas
Phạm Cường,
Bí ẩn mộ Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu.
(báo Vn net ra ngày 18-8-2005)
Ngô Đ́nh Diệm
Tiểu Sử: Source: Tài liệu Keywords (Ngô Đ́nh Diệm)
http://vi.wikipedia.org/wiki
..
NGÔ
Đ̀NH DIỆM giết tướng TRỊNH MINH THẾ
(01/02/2007)
Giải Tỏa Bí
Mật Về Cái Chết Của Tướng Trịnh Minh Thế
http://www.chuyenluan.net/200411/0411_23.htm
Ngô Đ́nh
Diệm, Minh Trực, Tạ Văn Vân, Trần Thành Đô, Nguyễn Bá Vinh,
Vĩnh Bảo, Nguyễn Bá Tứ:
Thơ.
ĐÔNG DUY: Ngô
Đ́nh Diệm: “Dĩ văng oai hùng” và huyền thoại
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw5n47/ngoDinhDiem.html
ĐÔNG DUY:
Danh từ “cộng phỉ” do ông Ngô Đ́nh Diệm đặt ra?
http://65.45.193.26:8026/cms/acct/vietweekly/issues/vw5n46/congPhi.html
Nguyễn Hữu Duệ:
Nhớ lại những ngày ở cạnh tổng thống Ngô Đ́nh Diệm.
Mường Giang:
KISSINGER ĐĂ BÁN ĐỨNG VNCH CHO CSBV
Vơ Nguyên Giáp,
Bộ trưởng thay CT nước: Về việc cử ông Ngô Đ́nh Nhu làm
giám đốc Nha lưu trữ công văn và thư viện toàn quốc. Sắc
lệnh 21 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng
hoà. Bổ nhiệm 08/09/1945 có hiệu lực ngày 08/09/1945 Toàn
quốc
http://vbqppl3.moj.gov.vn/law/vi/1945_to_1950/1945/194509/194509080009/lawproperties_view
HĐGMVN, Văn
Pḥng Tổng Thư Kư. Giáo Hội Công Giáo Việt Nam Niên Giám
2004. Nhà xb Tôn giáo. Hà Nội, 2004.
Phan Phát Huồn.
Việt Nam Giáo Sử. Quyển II. Cứu Thế Tùng Thư. Sài G̣n,
VN. 1962.
Ngô Kỷ: Khui
Hồ Sơ Tối Mật: Mỹ Chủ Mưu Thanh Toán Anh em Tồng Thống Ngô
Đ́nh Diệm… ( Ngô Kỷ: PO BOX 836, Garden Grove, CA 92842.
Email:
ngokyusa@yahoo.com .
http://www.take2tango.com/printing.aspx?NewsID=6216
Trân
Thi Liên, "Les catholiques vietnamiens dans la République
du Viêtnam (1954–1963)" in Pierre Brocheux, ed., Du
conflit d'Indochine aux conflits indochinois (Paris:
Éditions Complexe, 2000), pp. 53–80.
http://www.clemson.edu/caah/history/facultypages/EdMoise/54-64.html
Phạm Văn Lưu và
Nguyễn Ngọc Tấn: Đệ nhất Cộng Ḥa Việt Nam, 1954-1963,
Một cuộc cách mạng
Nguyễn Văn
Minh: Ḍng họ Ngô Đ́nh, ước mơ chưa đạt.
Lâm Thanh Liêm & Gustave D. Meillon. Từ Sàig̣n Tới Tp.
HCM. Nam Á.
Đỗ Hữu Nghiêm.
Giáo Hội Và Các Đồng Bào Thiểu Số Ở Việt Nam. Định
Hướng 26.
Ngo Dinh Nhu, "Why
We Must Defend the Existing Regime." (Tại Sao Chúng
Ta Phải Bảo Vệ Chế độ Hiện Hữu) Bản dịch một cuộc nói
chuyện của ông Nhu ngày 15/11/1957, 30tt. Bài viết có một số
thảo luận đến Chủ Nghĩa Nhân Vị. Bản văn được đưa lên mạng
trong Văn khố Dự Án Việt Nam tại Trường Đại Học Kỹ Thuật
Texas.
Nguyễn Hữu
Hanh: Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới – Câu
chuyện đời tôi. Hồi kư, 16.10.2006 và các ngày tiếp
theo. Website Talawas
Phạm Đức Hoàn
(1889-1954)
Họ Phạm với đất nước
Bản tin nội
tộc họ Phạm(Số
22/2007), 01-11-2007)
http://www.hopham.org/index.php?mn=newsdetail&key=ho-pham-voi-dat-nuoc&newsid=468&type=7
Nguyễn Tấn Hưng:
Bí mật Dinh Độc Lập.
Nguyễn
Tiến Hưng: Khi Đồng MinhTháo Chạy. Website Việt Nam
Thư Quán.
(http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n1nvn4n31n343tq83a3q3m3237nvn
Bùi Kha: Bảy
Điểm Dẩn Đến Thất Bại & Cái Chết Nhục Nhả Ngô Đ́nh Diệm
(9. 9. 2003)
http://www.tialia.com/showthread.php?t=133991
Trần văn Kiệm:
Có Phải Hoa Thịnh Đốn Đă Đưa Ông Diệm Về Làm Tổng Thống
Đệ Nhất Cộng Hoà Việt Nam? Website Dung Lac.net
Nguyễn Gia
Kiểng:
Những Vấn Đề Lịch Sử:
Ông Ngô Đ́nh Diệm lên cầm quyền như thế nào ?
(TL 191). Đăng ngày 05/04/2005 lúc 22:46:28 EDT. Đề tài:
Chính Trị Việt Nam
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=125
Hoàng Lạc và Hà
Mai Việt: Việt Nam 1954-1975: Những sự thật chưa hề nhắc
tới.
Jon Larsen (Tạp
Chí Time): Điệp viên hoàn hảo - Kỳ 5: C̣n lại một ḿnh.
Thứ Ba, 02/10/2007, 09:19 (GMT + 7
Lễ Giỗ Cố
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, 1963-2004.
Ghi nhớ 50 năm Ngày Chí Sĩ Ngô Đ́nh Diệm chấp chánh
(1954-2004)
Nguyễn văn Lục:
Twenty years and twenty days miền Nam Việt Nam (I-IV). Đệ
nhất Cộng ḥa. Ngày: 28-11-2006. DCV Online
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=print&sid=2655
http://hatnang.com/showthread.php?t=23220
http://www.avsnonline.net/library/ebooks/vn/others/OngCoVan/ocv-I-10.htm
Nguyễn Văn Lục,
2
tháng 11, 1963 – Nhớ về ông bà Ngô Đ́nh Nhu (I, II),
11&12/10/2007
Nguyễn Văn Lục,
Hồ sơ
báo “Công Giáo và Dân Tộc” (I, II) 2&3/7/2007
Nguyễn Văn Lục,
Gió
chướng đă đổi chiều
07-01-2007, 05:37 PM (I) (13/7/2007)
http://www.dautiengclub.com/portal/showthread.php?t=1062
David Marr:
Việt Nam 1945; Việt Nam Chống Thực Dân, 1885-1925 (1971);
Truyền Thống Việt Nam Qua Thử Thách, 1920-1945 (1981).
[Việt Báo (Theo_TuoiTre)]
http://vietbao.vn/Xa-hoi/TS-David-Marr-va-cuon-sach-Viet-Nam-1945/40095521/157/
Edward Miller:
Viễn kiến, quyền lực và tính chủ động: Con đường lên nắm
quyền của Ngô Đ́nh Diệm, 1945-1954. Hoài Phi, Vy Huyền
dịch (10.8.2007) [ 1
2
3 ]
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10642&rb=0302
Nhớ Cha Trần
Hữu Thanh (Kỳ 2 )
http://www.trungtammucvudcct.com/web/news.php?mode=chitiet&no=322&id=3332
Đỗ Hữu Nghiêm:
Một Mảng Bối Cảnh: Khi Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm Về Nước
Chấp Chính. Dayton, Ohio, 18/8/2005, 7t., A4
Bùi Thị Đoàn
Nguyên: Nhân vật lịch sử: Huynh & Đệ Ngày Ấy Bây
Giờ. Việt Nam Thư Quán Thư Viện Online
Nguyễn Hữu
Phước, Vài ghi nhận về Cố TT Ngô Đ́nh Diệm (Ghi
nhận của một Đại Tá) (47-54);
Bradley S.
O''Leary: Vụ Ám Sát Ngô Đ́nh Diệm Và J.F.Kennedy
(13-14)
http://www.vietnamvanbut.com/vnvb/story/content.aspx?id=125200713920543397
Hoàng Ngọc Tấn:
Chủ Nghĩa Nhân Vị
http://www.viet.no/component/option,com_akobook/Itemid,71/
Nguyễn Thái:
Chủ Thuyết Nhân Vị Và Giới Luật Yêu Thươn.
Garden Grove 3/11/2007
http://www.chuacuuthe.org/11-10-07-chuthuyetnhanvi-lm-ng-thai.html
NGUYỄN HỮU THÁI:
Việt Nam năm 1945: giành quyền lực của
David G. Marr
NXB Đại học California, Berkeley, Hoa Kỳ, 1995.Giải thưởng
John K. Fairbank về công tŕnh nghiên cứu xuất sắc của Hiệp
hội Châu Á học Mỹ, 1996 (Thứ tư, 21 Tháng sáu
2006, 16:53 GMT+)
Vu The Thanh:
<vuthethanh@gmail.com>
To Nghiem Do
<nghiemdohuu@gmail.com>,
Nov 23, 2007
11:25 PM
Vu The Thanh
<vuthethanh@gmail.com>
To Nghiem Do
<nghiemdohuu@gmail.com>,
Nov 23, 2007
3:53 AM
Đoàn Thêm.
Hai Mươi Năm Qua 1945 - 1964 Việc Từng Ngày. Xuân
Thu.
Đoàn Thêm.
1969 Việc Từng Ngày. Xuân Thu.
Lê Thiên,
Cụ Diệm ở Paris, 1953-1954 (31-46), Ottawa, 10-2004;
Tôn Thất
Thiện,
Một số sự thật về Anh Em họ Ngô và Chế độ Cộng Ḥa I, qua
tác phẩm Ḍng Họ Ngô Đ́nh: Ước Mơ Chưa Đạt, Hồi ức của một
nhân chứng trực tiếp, Nguyễn Văn Minh, 2003 (55-86), Ottawa,
10/2004;
Tôn Thất Thiện:
Cần Thẩm Định Lại Giá Trị Của Ông Ngô Đ́nh Diệm Và Chế Độ
Việt Nam Cộng Ḥa I
(nguồn:
www.thongluan.org)
21/6/2006
http://www.viet.no/content/view/228/87/
"Nh́n lại
kinh nghiệm Ngô Đ́nh Diệm", Thông Luận,
tháng 11, 2005. nguồn:
www.thongluan.org
Lê Thiên & Lê
Tinh Thông:
Người Mẹ chứng nhân thế kỷ: Bà Cố Elizabeth Ngô Đ́nh Thị
Hiệp (1903-2005)
http://memaria.org/bai_da_dang/nguoi_me_chung_nhan_the_ky_ba_co_elizabeth_ngo_dinh_thi_hiep_1903-2005/
Lê Tinh
Thông,
Kỷ Niệm Năm Mươi Năm Ông Ngô Đ́nh Diệm Về Nước Chấp Chánh
(87-90);
Ngô Đ́nh Thục: Kỳ 5:Về tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục (Chủ nhật, 14 Tháng
chín 2003, 15:57 GMT+7)
http://vietbao.vn/Phong-su/My-Diem-cuoc-dao-chinh-Diem-Nhu-Tong-giam-muc-Ngo-Dinh-Thuc/40001315/262/
Đặng Tiến:
Người điều hành tạp chí Bách Khoa, Lê Ngộ Châu, 160 Phan
đ́nh Phùng.Orleans,
27/9/2006 (Đặng Tiến
Cập nhật : 13/03/2007 18:26)
http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/le-ngo-chau-nguoi-111ieu-hanh-tap-chi-bach-khoa/
http://my.opera.com/tranminhkhanh007/blog/show.dml/696398
Lâm Lễ Trinh:
Về Nguồn. San Jose 2006.
Lâm Lễ Trinh:
Chín Năm Bên
Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
(Mạn
Đàm Với Ông Quách Ṭng Đức). USA,
July 21, 2005.
Website Liên Lạc Nhân Văn
Trường Cao Đẳng
Sư Phạm Tp. HCM & Cục Đo Đạc Và Bản Đồ Nhà Nước. Việt Nam
Tập Bản Đồ Hành Chính Và Du Lịch. 1989.
Nguyễn Văn Tuấn: Những huyền thoại và sự thật về chế độ
Ngô Đ́nh Diệm" – tác giả Vĩnh Phúc (Friday, 19. January
2007, 16:08:26)
http://www.giaodiem.com/doithoai/nvt_docvphuc.htm
Nguyễn Lư-Tưởng: Bổ Túc Một Vài Điều Về Họ Ngoại
của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê
Nguyễn Văn Thuận Nhân Ngày Măn Tang (16-09-2002 đến
16-09-2005)
http://www.lambich.net/forum/viewtopic.php?p=1067&sid=fe1f431fe37884ea8f9a5fdae2b65c4c
http://tvvn.org/f18/ba-ta-c-va-i-ae-ia-u-va-ha-ngoa-i-ca-ca-ha-ng-y-thua-n-
1753/
Minh Vơ: Mạn
đàm với ông Cao Xuân Vỹ (I):
Đệ nhất Cộng ḥa. Ngày: 24-09-2007,
Dan Chim Viet Online
Minh Vơ:–
Phỏng vấn Minh Vơ: Ngô Đ́nh Nhu: Hiệp thương Nam-Bắc.
Đài Tiếng nói VNHN
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=4101
http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=922&Itemid=297
http://www.vietcyber.net/forums/showthread.php?t=120512
http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237nmn2nvn4n31n343tq83a3q3m3237nvn
Nguyễn
Đức Vinh: Phụ lục 1. An ninh Thế Giới
Vietnamnet:
Huyền Thoại Về Cụm T́nh Báo H.63 - Phần 2: Kỳ 15: Người Hà
Nội "ở Pḥng Chỉ Huy Quân Đội Mỹ"(08:30' 03/09/2007
(GMT+7)
http://www.vietnamnet.vn/psks/2007/09/736602/
Vũ Ngọc Nhạ:
Vĩnh biệt "Ông Cố vấn"
http://www.avsnonline.net/library/ebooks/vn/others/OngCoVan/ocv-III-18.htm
Phạm
Thắng
Vũ:
Nghiên
mực cổ Tức Mặc Hầu của vua Tự Đức và Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm. (01-11-200716-01-2008, 12:45 AM)
http://www.hatnang.com/showthread.php?t=23375
http://www.x-cafevn.org/forum/archive/index.php?t-12214.html
Cao
Xuân Vỹ: Minh Vơ Phỏng Vấn Ba giờ nghe một nhân chứng.
07/2007.
Ngày Quốc Khánh Cộng Hoà Pháp Quốc. Trích DCVOnline
http://www.hungviet.org/minhvo/minhvo0707.html
Cao Xuân Vỹ:
Lời tựa (1-6), 30/10/04 (Lễ Giỗ NĐD, sđd.)
Stephen Young:
Kissinger đă bán đứng VNCH cho Hà Nội
NHữNG GIờ
PHÚT ĐịNH MệNH CủA Cố TổNG THốNG NGÔ Đ̀NH DIệM.
Wikipedia:
Ngo Dinh Nhu
en.allexperts.com/e/n/ng/ngo_dinh_nhu.htm
10-11/2/2008.X-2.
Wikipedia tiếng
việt: Chủ nghĩa Nhân Vị: Tham Khảo Tự Điển
ngày
18/8/2005
http://www.viet.no/component/option,com_akobook/Itemid,71/
Một Số
Tài Liệu Tiếng Anh Pháp
Jessica Chapman:
Staging Democracy: South Viet Nam’s 1955 To Depose Bao Dai.
Pacific Rim Research Program University of California,
Multi-Campus Research Unit. Year 2005. Paper Vietnam. This
paper is posted at the eScholarship Repository, University
of California.
http://repositories.dlib.org/pacrim/Vietnam ,
with 130 footnotes
Copyright @2005 by
the author, 1-52 pages (23/10/1955)
Department of
Defense, US-VN Relations, 1945-67, Washington DC,
Government printing Office, 1970. 12 volumes
Department of
State, Foreign Relations Of US, 1952-54, 1955-56.
Vos XIII-XIV, Washington DC, Government Printing Office,
1982
Stanley Karnow:
The Edge of chaos. Vietnam's "royal family", long aided
by U.S. troops and money, has persecuted religious leaders,
embittered the people and bungled a critical struggle
against Communism. The Saturday Morning Post, No.33.
September 28, 1963, p.27-37 236th year,
Stanley Karnow:
The Fall of the House of Ngo Dinh. The Vietnam coup: the
plot, counterplot - an exclusive account of how Diem and Nhu
died. The Saturday Morning Post, Issue no. 45, 21-28,
1963, 75-79.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_%C4%90%C3%ACnh_Nhu
Edward Miller: Vision, Power and Agency:
The Ascent of Ngô D́nh Diêm, 1945–54.
The History Department at Dartmouth College. His e-mail
contact is
Edward.G.Miller@dartmouth.edu
Abstract
This article
challenges existing interpretations of Ngô D́nh Diêm by
examining his activities during the decade before he became
leader of South Vietnam in 1954. Diêm actively pursued power
in these years, and he achieved it mainly due to his own
efforts and to those of his Vietnamese allies. At the same
time, he and his brother Ngô D́nh Nhu were outlining the
distinctive vision of modernisation which would inform South
Vietnam's post-1954 nation-building strategies.
Journal of Southeast Asian Studies
(2004), 35: 433-458 Cambridge University Press. Copyright ©
2004 The National University of Singapore. Vietnam -
Acknowledgments and Preface
http://www.mongabay.com/reference/country_studies/vietnam/all.html
Liste
de chartistes par promotion (1825-2007)
http://fr.wikipedia.org/wiki/Liste_de_chartistes_par_promotion#1938
http://theses.enc.sorbonne.fr/theses.html?annee=1938
Robert Scigliano:
Vietnam: A Country at War. Asian Survey,
Vol. 3, No. 1, A Survey of Asia in 1962: Part I (Jan.,
1963), pp. 48-54
This article consists of 7 page(s).
Robert Scigliano,
South Vietnam: Nation Under Stress. Boston: Houghton
Mifflin, 1963. ix, 227 pp. pb Boston: Houghton Mifflin,
1964. ix, 237 pp.
Oakland, CA, ĐHN
tổng hợp ngày 15/10/2006.CN, 15/6/2007.6, 4/2/2008.5,
2/3/2008.X.
_____________________________________________________
Hiện ở số 19, rue de la Sorbonne – 75005 Paris –
tél. : +33 (0)1 55 42 75 00.
Có nhiều
nhà nghiên cứu lẫn chữ Chartes [cổ điển học] chuyên
giảng dậy về Khoa Cổ Điển Học) với Chartres [địa
danh ở cách trung tâm Paris khoảng 30 km]. Đây là
một trường danh tiếng về khoa lịch sử, từ năm 1821
chuyên dạy việc tổ chức bảo lưu các văn kiện và di
sản lưu trữ quốc gia khác. Không nên lẫn với khoa
khảo cổ [archéologie], v́ trong khoa khảo cổ có
nhiều ngành đặc biệt như cổ tiền học [numismatique],
cổ vật học [paléologie], paléontologie,…
Những sinh viên khác tốt nghiệp
Trường đó năm 1938 là:
[BOUQUET Marie-Madeleine, L'abbaye de l'Ile-Barbe
des origines à la sécularisation du XVIe siècle
COQUIBUS Geneviève, Jean Carondelet, agent
diplomatique de Charles le Téméraire, chancelier de
Bourgogne (1428-1501)
DIANOUS de Jean, Les communautés juives du
Comtat-Venaissin et de l'Etat d'Avignon, d'après
leurs statuts (1490-1790)
GUIGNARD Jacques, Recherches sur l'histoire du
livre à Tours de la fin du XVe à la fin du XVIe
siècle (1485-1588)
HAUCOURT d' Geneviève, Etude sur le droit des
assemblées françaises au début du XIVe siècle
LEVI Maxime, La grande pêche basque des origines à
la Révolution
MOREL Anne, La guerre de course à Saint-Malo
(1681-1715)
OSWALD Marguerite, Anseïs fils de Girbert. Etude de
la chanson et de ses rapports avec Yon de Mes,
suivie d'une édition partielle
OURSEL Madeleine, Les origines de la commune de
Dijon
ROUSSEAU Louis, L'assistance charitable à Rouen du
XIIe au XVIe siècle : l'Hôtel-Dieu de la Madeleine,
la police des pauvres
WAQUET Jean, La politique étrangère de la monarchie
française sous Charles le Bel (1322-1328)
BOISSET Anne-Marie, La vie municipale à Aurillac de
1360 au début du XVIIe siècle
Theo nhà biên soạn Nguyễn Lư Tưởng, ghi đề tài luận
án tốt nghiệp cùa Ngô Đ́nh Nhu là “Moeurs et
coutumes des Tonkinois aux XVIIe et XVIIIe siècles
d’après les voyageurs et missionaires” (Phong
tục tập quán của người Bắc kỳ vào thế kỷ thứ 17 và
18 theo các du khách và các nhà truyền giáo),
cũng vào năm 1938, tại Ecole Nationale des Chartres
(thực ra là Chartes mới chính xác). Và tên của luận
án này không hoàn toàn trùng hợp với tên luận đề ghi
trên. Không biết tác giả ghi lại tên này ở nguồn tài
liệu nào hay phải chăng co một đều tài khảo luận nào
khác
[Ông
Ngô Đ́nh Nhu (1910- 1963), lúc nhỏ đi tu tại Tiểu
Chủng viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị đựơc mấy năm
th́ hồi tục, du học Pháp, tốt nghiệp Ecole Nationale
des Chartres (trường khảo cổ danh tiếng của Pháp)
vào năm 1938 với tiểu luận “Moeurs et coutumes des
Tonkinois aux XVIIè et XVIIIè siècles d’après les
voyageurs et missionaires” (Phong tục tập quán của
ngừơi Bắc kỳ vào thế kỷ thứ 17 và 18 theo du khách
và các nhà truyền giáo). Về nước, làm Quản thủ Văn
khố Toà Khâm Sứ Huế (1943), sau
ra Hà Nội làm tại Thư Viện Trường Viễn Đông Bác Cổ
và Tổng Văn Khố Quốc Gia (1945, thời Thủ Tướng Trần
Trọng Kim).]
(?)
Hai đề tài này thoạt
nh́n th́ rất giống nhau, nhưng khác biệt nhau rất
nhiều: trong khi đề tài thứ nhất theo tài liệu
của nhà trường th́ sinh viên NDNhu tập trung vào
thế kỷ 17 dựa vào tất cả các loại tài liệu không
nói rơ đến phong tục tập quán của người An nam ở Bắc
Kỳ, th́ đề tài sau đề cập đến hai thế kỷ
17 và 18 dựa vào tài liệu của các nhà du hành và
các nhà truyền giáo.
Xin xem [Nguyễn Lư-Tưởng:
Bổ Túc Một Vài Điều Về Họ Ngoại
của
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Nhân Ngày Măn Tang (16-09-2002 đến 16-09-2005)]
http://www.lambich.net/forum/viewtopic.php?p=1067&sid=fe1f431fe37884ea8f9a5fdae2b65c4c
Về việc cử ông Ngô Đ́nh Nhu làm giám đốc Nha Lưu
Trữ Công Văn Và Thư Viện Toàn Quốc, Chủ Tịch
Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Bộ
Trưởng Vơ Nguyên Giáp đă kư Sắc lệnh số 21,
bổ nhiệm ngày 08/09/1945, có hiệu lực ngày
08/09/1945 trên toàn quốc
[CHỦ TỊCH
CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Số: 21 VIỆT
NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập -
Tự do - Hạnh phúc
----- o0o
-----Hà Nội ,
Ngày 08
tháng 09 năm 1945
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ
TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI
SỐ 21 NGÀY
8 THÁNG 9 NĂM 1945
CHỦ TỊCH
CHÍNH PHỦ LÂM THỜI DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VIỆT NAM
Theo lời
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục,
RA SẮC LỆNH:
Khoản I: Cử
ông Ngô Đ́nh Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn
và Thư viện toàn quốc.
Khoản II:
Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, ông Bộ trưởng Bộ Tài chính,
ông Bộ trưởng Bộ quốc gia Giáo dục thi hành sắc lệnh
này mỗi người trong phạm vi quyền hạn của ḿnh./.
CHỦ TỊCH
CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ BỘ
TRƯỞNG
(Đă kư) Vơ
Nguyên Giáp
http://vbqppl4.moj.gov.vn/law/vi/1945_to_1950/1945/194509/194509080009
]
[Edward
Miller
là Giáo Sư Phụ Giảng Môn Lịch Sử (Assistant
Professor of History) tại Trường Cộng Đồng
Dartmouth. Ông hiện đang viết một cuốn sách về lịch
sử các quan hệ của Ngô Đ́nh Diệm với Hoa Kỳ. Ông
cũng là tác giả bài nghiên cứu “Vision, Power
and Agency: The Ascent of Ngô Đ́nh Diem, 1945-1954,”
xuất bản trên tạp chí Journal of Southeast Asian
Studies vào tháng Mười năm 2004. Miller đă thực
hiện nhiều chuyến đi đến Việt Nam giữa năm 2001 đến
2006, kể cả một chuyến nghiên cứu dài ngày tại Tp
HCM năm 2001-2002, được Học Bổng Fulbright-Hays tài
trợ.)]
http://www.wilsoncenter.org/index.cfm?topic_id=1409&fuseaction=topics.item&news_id=197836.
Theo người viết, đây la một tài liệu nghiên cứu công
phu có ư nghĩa, v́ khác với những lập trường của
nhiều nhà bien soan hiện nay, nhưng có nhiều tính
chính xác cao dựa vào nhiều chứng liệu khả tín..
Theo E. Miller: “Gia đ́nh họ Ngô không thiếu
những cá nhân có cá tính lạ thường và khó hiểu; tuy
nhiên, so với mọi người, ông Ngô Đ́nh Nhu được coi
là người bất thường và bí ẩn nhất. Là người thứ tư
trong sáu anh em, người ta nói ông cẩn trọng, sâu
sắc và kín đáo. Ông không quê mùa như Ngô Đ́nh Cẩn
hay tao nhă như Ngô Đ́nh Luyện, ông cũng có vẻ không
quan tâm đến việc triều chính, điều mà Ngô Đ́nh Khôi,
Ngô Đ́nh Thục và Ngô Đ́nh Diệm đă quá bận tâm. Quả
vậy, là một người đàn ông trẻ, ông Ngô Đ́nh Nhu có
vẻ ham sách vở hơn làm chính trị. Những năm 1930 ở
Paris, trước tiên, ông dành nhiều thời gian học về
văn chương rồi sau đó học về chữ cổ và ngành quản
thư tại École des Charte nổi tiếng. Cuối những năm
1930, ông trở về Việt Nam và làm việc trong ngành
lưu trữ; đến 1945 ông giữ chức vụ trụ cột tại nơi
sau này là Thư viện Quốc gia ở Hà Nội. Sau Cách
mạng tháng Tám, ông Ngô Đ́nh Nhu tham gia nhiều hơn
vào chính trị, đặc biệt trong những cố gắng của các
anh em ông để vận động sự ủng hộ của những người
Việt Nam Công giáo.” (Edward Miller, bđd.,trên.
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10642&rb=0302
Nhưng theo luận đoán của
Lữ Giang, trong một cuốn sách,
tr.402, ông Ngô Đ́nh Khôi sinh năm 1885 có thể không
đúng v́ đến năm 1889, Ông Ngô Đ́nh Khả mới cưới Bà
Phạm Thị Thân. Và b́nh thường sớm nhất là ông Khôi
sinh năm 1890, nhưng cũng có thể ông Ngô Đ́nh Khôi
sinh ra năm 1885, nếu ông Khả và bà Thân đă ăn ở với
nhau trước khi chính thức cưới nhau (?!)]
14 “Dạo
ấy ông Tuyến vừa đậu tú Tài II, ba lô trên vai, với
chiếc xe đạp “cuộc” ông Tuyến là hướng dẫn viên. Ông
Nhu th́ ngồi trên chiếc xe kéo bánh gỗ che kín. Ở
lại nhà Chung (Thanh Hóa) trong ba tuần lễ, ông Nhu
lên thẳng Bái Thượng, ông Tuyến từ giă ông Nhu, rồi
được Linh Mục Trọng hướng dẫn lên châu Thường Xuân (Ḥa
B́nh). Ở đây ít ngày, ông lại được một vị linh mục
họ đạo người Mường đưa qua Sầm Nứa theo ngả đường
rừng. Trong thời gian này, ông chịu ơn các linh mục
Thanh Hóa. Về sau, ông c̣n nhớ măi ơn nghĩa đó…Linh
Mục Trọng đă cho ông mượn tấm áo “soutane” để hóa
trang trên đường trốn tránh”(
Lư Nhân, sđd., tt. 19-20)
Tham khảo Nguyễn Lư Tưởng: Bổ Túc Một Vài Điều Về
Họ Ngoại của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn
Thuận, Nhân Ngày Măn Tang (16-09-2002 đến
16-09-2005)
lambich.net/forum/viewtopic.php?p=1067&sid=b134c2ba333eeb7a45d5eca99b5c944a
Nguyễn
Thế Hùng và Hoàng Đ́nh Hiếu: Sông Gianh Đàng
Trong: Giáo Hạt Quảng B́nh, (1613-1975), tt.
145-150. Tủ Sách Sông Gianh – Quê Hương Bọ Mạ Xuất
Bản. Grand Prairie, TX, 2004, 210 trang, 15X25cm
NguyễnVăn Minh, sđd., t. 421
Điều khẳng định này cũng trùng hợp với nhân định và
đáng giá của tác giả Nguyễn Đức Cung trong bài nói
trên trong Tập San Định Hướng số 51, trang
74.
Jean-François Petit:
Philosophie et théologie dans la formation du
personnalisme d'Emmanuel Mounier. Paris, tác giả
xuất bản vào tháng 1/2007.
(http://www.editionsducerf.fr/html/fiche/fichelivre.asp?n_liv_cerf=7092)
Thực ra theo E. Miller, trong thời gian du học ở
Pháp, Ngô Đ́nh Nhu đă chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng
của triết gia Công giáo Emmanuel Mounier. Trong
những sách và bài viết trên tạp chí Esprit
của ḿnh, Mounier phản ứng lại thời Đại Khủng Hoảng
và những đau khổ mà nó gây bằng cách phát triển một
lư thuyết phê b́nh chủ nghĩa tư bản tự do; ông phê
phán thiên kiến tự do với chủ nghĩa cá nhân, tranh
luận rằng điều đó dẫn đến cô lập, bất hoà và bóc lột.
Là một
người Công giáo thuần thành, Mounier không đồng t́nh
với tư tưởng duy vật của chủ nghĩa Marx v́ nó huỷ
hoại những điều ông gọi là chiều kích “tâm hồn”
trong bản tính con người. Giữa chọn lựa xu hướng chủ
nghĩa tư bản hay chủ nghĩa cộng sản, Mounier chú ư
đến một trật tự xă hội hậu tư bản. Trong đó, các nhu
cầu vật chất của cá nhân cũng như thịnh vượng chung
của tập thể đều được hưởng lợi, nhưng một trong hai
điều này không trở thành trọng tâm độc nhất trong
chính sách của xă hội. Thay vào đó, Mounier đề nghị
đặt trọng tâm vào việc phát triển một con người toàn
diện (la personne),
được định nghĩa là gồm cả những nhu cầu tinh thần và
vật chất. Mounier nhấn mạnh vào “con người” như lối
thoát cho “cá nhân”: đó là đề tài chủ yếu trong
những bài viết của ông, và v́ vậy ông đặt cho tư
tưởng của ḿnh là “chủ nghĩa nhân vị”.
Ủy ban giúp Phủ Tổng Ủy duy tŕ trật tự, an ninh;
cấp phát, phân phối tiền bạc, thuốc men, vải vóc;
phụ trách các hoạt động văn hóa, tinh thần. Ủy ban
cũng vận động các tổ chức từ thiện quốc tế ủng hộ
tinh thần, vật chất cho đồng bào di cư. Ủy ban c̣n
bênh vực, tố cáo trước dư luận thế giới về những vụ
việc Cộng Sản ngăn cản, bách hại những người muốn di
cư đi t́m tự do.
Giám Mục Joseph J. Harnett
(1910-1986), trực tiếp điều khiển các dự án cứu trợ
người tị nạn cho Cơ Quan Viện Trợ Công Giáo Mỹ suốt
gần bốn thập niên, mới qua đời Thứ Tư v́ bệnh ung
thư tại Biệt Thự Thánh Giuse , một nhà dinh dưỡng
của một linh mục gắn liền với Bệnh Viện Chúa Thương
Xót tại Darby, Penn. Ngài thọ 76 tuổi và cư ngụ tại
Immaculata, Pa.
Ngài phục
vụ nhiều nơi trong đó có châu Á trước khi nghỉ hưu
năm 1984. Lúc qua đời, ngài đang làm tuyên úy cho
học viện Immaculata College.
Năm 1954,
khi quyền lực người Pháp báo hiệu chấm dứt tại Đông
Dương, ngài được sai đến Sàig̣n để thiết lập
chươngŕnh viện trợ chí nguyện đầu tiên của Mỹ tại
Việt Nam. Sauk hi rời Việt Nam ngài tiếp tục phục vụ
ở nơi khác cho đến khi trở về nghỉ hưu tại
Philadelphia năm 1984
Joseph John
Harnett sinh ngày 23/12/1910 tại Philadelphia. Ngài
tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương năm 1930 tại Chủng
Viện Thánh Charles tại Overbrook, một vùng ngoại ô
Philadelphia. Trong năm đó, ngài đi Rôma học tại
Chủng Viện Lateran trước khi được thụ phong linh mục
năm 1935. Ngài trở về Philadelphia và dậy tại trường
trung học Thánh Thomas ở Philadelphia và tại chủng
viện Thánh Charles trước khi xuống tầu dấn thân vào
Các Công việc của Cơ Quan Viện Trợ Công Giáo ở nhiều
nơi trên thế giới Ngài có 1 người chi gái và bốn anh
em trai tại Mỹ
Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
Miền Nam Việt
Nam (20-12-1960)
Trong lúc
du kích Cộng Sản ở miền nam gặp nhiều khó khăn do
chính sách Ấp Chiến Lược, Cộng Sản phải phát động
phong trào đồng khởi nơi đồng bào miền Nam. V́ thế
Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam ra đời
(20-12-1960) nhằm khủng bố và cưỡng bức dân chúng
đánh phá ấp chiến lược, sát hại quân dân cán chính
của Việt Nam Cộng Ḥa I, tuyên truyển “đoàn kết toàn
dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ,
đánh đổ nguỵ quyền tay sai, giải phóng miền Nam,
tiến tới thống nhất Tổ quốc” Với đường lối khủng bố
vừa dụ dỗ hứa hẹn dối trá vừa xử dụngbạo lực ấy, Mặt
trận Dân tộc Giải phóng đă cưỡng bức tập hợp dưới
ngọn cờ của ḿnh nhiều thành phần nhân dân, nhiều tổ
chức và lấy cớ người Việt Nam có quyền chiến đấu
trên toàn thể lănh thổ Việt Nam, động viên mọi
người Việt nam yêu nước, kể cả ở Miền Nam, để cùng
chống Mỹ cứu nước.
Mặt trận
dân tộc giải phóng thực ra là một giải pháp chính
trị được thành lập từ miền Bắc để có chiếu bài mở
rộng lôi kéo nhiều thành phần dân tộc, cưỡng bức,
lừa dối tổ chức và động viên trên cả ba lănh vực:
quân sự, chính trị và ngoại giao. Sau 30/4/1975,
MTDTGPMN biến thể thành Mặt Trận Tổ Quốc qui tụ
những cá nhân và tổ chức thành công cụ của Đảng và
Nhà Nước Việt Nam. http://www.mattran.org.vn/GioithieuMT/LS_MTDTTN.html
|