|
NGƯỜI LÍNH VNCH CHẾT KHÔNG THỂ NHẮM MẮT
BÙI NHƯ HÙNG
Sự thật càng ngày càng được phơi bày:
http://www.buinhuhung.com/DAICAOTRANG/FP-DaiCao.htm
Tôi c̣n nhớ rơ
Rất ghê rợn:
Ngay năm 1974, TT Thiệu ra lệnh cho Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh
Quân đoàn IV, mời ông Lương Trọng Tường, lănh tụ Phật Giáo
Ḥa Hảo và ông Hai Tập chỉ huy trưởng của Lực Lượng vơ trang Ḥa Hảo
đến họp tại Cần Thơ, rồi bắt nhốt luôn. Họ trở thành 2
thằng tù bị giải về Sàig̣n.
TT Thiệu ra quyết định là chỉ thả 2 vị đầu năo của Phật Giáo Ḥa Hảo
khi họ đă đệ nạp hết khí giới. Phật Giáo Ḥa Hảo phải nhẫn
nhục cúi đầu vâng lệnh để cứu nhị vị thủ lănh của họ. Ông Lương
Trọng Tường là một người có đức cao trọng vọng, ḥa nhă, ông không
hề có một cử chỉ hay một lời nào phương hại đến VNCH, ông luôn luôn
ủng hộ chính phủ Quốc Gia.
Tại sao ra nông nỗi ?
Đây không phải là kế hoạch "đầu bé đít to"! mà là kế
hoạch triệt hạ hết sạch tiềm năng quân sự của Miền Nam.
[(30 tháng 4-75, hai vị tướng lănh Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng bị
dồn vào thế tuyệt vọng mà phải tự vận v́
tên Kỳ DơM
Điểm mặt tên Du Côn)]
Tôi luôn luôn thắc mắc từ 1974 đến 1999 khi phối kiểm lại nhiều dữ
kiện th́ mới xác định được chính TT Thiệu là kiến trúc sư của sự
giết Miền Nam do Hoa Kỳ chủ trương, mà vụ giải giới lực lượng Ḥa
Hảo 1974 chỉ là một khâu của sự giết chết toàn thể nhân dân Miền Nam
do CIA chủ mưu thực hiện. (trước đó là trận
đánh Hoàng Sa 1974 mà không có không yểm!).
Phai_thang_Hai_Chien_Hoang_Sa
Kế hoạch của CIA Do Thái vô cùng tinh vi và đanh ác (Cộng tác với Hoa Kỳ),
mà cái thú tính đanh ác gian manh là do Thánh Kinh Torah dạy cho họ
phải luôn luôn giết người để cướp của, cho nên họ mới thành những
con chằng tinh như vậy [(
Do Thái Giáo Sắt Máu
đây là vụ buôn
thần bán thánh vĩ đại nhất lịch sử loài người.
Lời thề của các tu sĩ Ḍng Tên trước Giáo Hoàng
v́ vậy mà tôi đă tiêu diệt Thánh Kinh
Cựu Ước
Cái thế 3 góc để lưu
giữ Cựu Ước dă man)BNH]
Trích từ bài
Những
lời thú nhận do ông
Lữ Giang
viết
Đại Tá Thiệu đă được CIA kết nạp khi đi du học ở Mỹ và khi về đă xin
gia nhập Đảng Cần Lao để được ông Nhu tin tưởng và giao cho làm Tư
Lệnh Sư Đoàn 1 rồi Sư Đoàn 5, và ông đă làm nội ứng cho CIA. Vây chỉ
có CIA mới có thể ra lệnh cho Đại Tá Thiệu tham gia đảo chánh với
nhiều hứa hẹn. Tướng Minh không bao giờ dám. Ông Thiệu tham quyền
nên đă phản bội ông Diệm và phản bội tổ quốc.
[(bất cứ người nào đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ về đều tổ chức đảo chánh,
kể cả Bs Trần Kim Tuyến hay ông Huỳnh văn Lang !) BNH ghi chú]
Lư do thứ hai: Ông Thiệu cho rằng ông tham gia đảo chánh lật đổ ông
Diệm v́ sợ Mỹ giảm bớt viện trợ quân sự. Lư do này không thể biện
minh được: Nếu mỗi lần Mỹ doạ giảm viện trợ là các tướng lănh phải
đứng lên lật đổ chính phủ th́ c̣n ǵ là chủ quyền quốc gia, c̣n ǵ
là đất nước?
[(ông Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu đă có chương tŕnh đúc súng đạn
thành công, ông đă chủ trương tự túc tự cường, không cần đến
viện trợ Mỹ, v́ vậy mà Mỹ phải xuống tay trước để giết ông để đưa
tay chân bộ hạ của họ cầm quyền) BNH ghi chú]
Lư do thứ ba: Ông Thiệu dựa vào đâu để biết khi làm đảo chánh, tướng
Minh sẽ hạ sát ông Diệm và ông Nhu, nên đă đặt điều kiện với tướng
Minh là không được giết hai ông mới tham gia đảo chánh? Ông cũng
không cho biết tướng Minh có chấp nhận điều kiện của ông hay không,
nhưng khi ông đồng ư tham gia có nghĩa là tướng Minh đă chấp nhận.
Thế th́ tại sao khi tướng Minh giết hai ông, ông không có phản ứng
nào?
Thật ra, việc giết ông Diệm và ông Nhu là do lệnh từ Washington.
Không có lệnh từ Washington, chẳng ai dám đụng đến chân lông của ông
Diệm và ông Nhu. Ông William R. Corson, một nhân viên CIA cao cấp
tại Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài G̣n năm 1963, được Tổng Thống Kennedy ra
lệnh điều tra xem việc ǵ đă xẩy ra và ai có trách nhiệm trong việc
giết ông Diệm và ông Nhu, ông ta đă cho biết như sau:
“Mọi chỉ thị từ Averell Harriman... Các lệnh đưa đến cái chết của
ông Diệm và bào đệ của ông ta phát xuất từ Harriman và được phụ tá
quân sự của Henry Cabot Lodge thực hiện.”
(Joseph J. Trento, “The Secret History of the CIA”, Carrrol & Graf
Publishers, New York, 2005, p. 334).
Tướng Minh chỉ là người thi hành lệnh của Harriman qua Cabot Lodge
và Lucien Conein.
[(Averell
Harriman và
Richard Helms là những tên Do Thái chủ mưu giết Đệ Nhất VNCH)
BNH ghi chú]
Tóm lại, những lời biện minh của ông Thiệu về việc tham gia cuộc đảo
chánh năm 1963 là những lời chạy tội vùng về, không thể chấp nhận
được.
CHUYỆN RÚT KHỎI QKII VÀ QK I
Đọc những đoạn ông Nguyễn Tiến Hưng viết về lệnh của Tổng Thống
Thiệu rút quân khỏi Quân Khu II và Quân Khu I và đổ lỗi cho Tướng
Phạm Văn Phú và Tướng Ngô Quang Trưởng, chúng tôi nhận thấy ông Hưng
biết rất ít về quân sự, về các diễn biến đă xẩy v́ không có kế hoạch
rút quân được soạn thảo chu đáo, nhất là t́nh trạng hoảng loạn
(panic) do lệnh của Tổng Thống Thiệu gây ra, v.v.
Chúng tôi xin nhắc lại, sau khi Mỹ giảm số quân viện cho QLVNCH
xuống c̣n 700 triệu, Tổng Thống Thiệu đă quyết định chỉ giữ phần đất
từ Tuy Hoà trở vào và giao cho Trung Tướng Đặng Văn Quang và Chuẩn
Tướng Ted Sarong (một tướng chống du kích người Úc) lập kế hoạch
h́nh thành một pḥng tuyến mới từ Tuy Hoà đến Tây Ninh để pḥng thủ.
Kế hoạch này được Thổng Thống Thiệu gọi là chiến lược mới “Đầu bé
đít to”. Sau đó, nhân khi Ban Mê Thuột bị thất thủ, Tổng Thống Thiệu
đă ra lệnh rút khỏi Quân Khu II rồi Quân Khu I, đưa quân về lập
pḥng tuyến ở Tuy Hoà. Cuộc rút quân không theo binh pháp nào nên
đoàn quân bị tan ră, và miền Nam bị sụp đổ.
1.- Rút khỏi Quân Khu II
Ông Hưng cho biết Tổng Thống Thiệu cứ nhắc đi nhắc lại:
“Tôi ra hai chứ không phải một lệnh: đó là thứ nhất, rút quân khỏi
Pleiku để tái chiếm Ban Mê Thuột, và thứ hai, Bộ Tổng Tham Mưu ‘theo
dơi và giám sát’ (suivre et surveiller) cuộc triệt thoái này.” (tr.
57).
[(Lời giải thích nầy vừa ngu vừa gian trá và ngụy biện.
rút quân khỏi Pleiku để tái chiếm Ban Mê Thuột,
tỉ như có lấy lại được Ban Mê Thuột, th́ tất nhiên Pleiku bỏ ngỏ th́
phải mất. Rồi không lư rút quân khỏi Ban Mê Thuột để tái chiếm
Pleiku sau đó ?) BNH ghi chú]
Đây là một lối giải thích không thể chấp nhận được. Thứ nhất, Bộ
Tổng Tham Mưu chẳng những đă theo dơi và giám sát việc rút quân trên
đường số 7 mà c̣n yểm trợ tối đa, nhưng khi đoàn quân bị đặt vào
t́nh trạng hoảng loạn v́ lệnh rút quân bất khả thi, BTTM cũng đành
bó tay. Thứ hai, một khi đă rút quân về Tuy Hoà, cho dù thành công,
cũng không thể trở lại Cao Nguyên được chứ đừng nói trở lại Ban Mê
Thuột.
Lúc đó, VNCH có hai con đường chính để giao thông giữa Trung Phần và
Cao Nguyên, đó là quốc lộ số 19 nối liền B́nh Định với Pleiku và
quốc lộ số 21 nối liền Nha Trang với Ban Mê Thuột.
- Trước khi đánh Ban Mê Thuột, Cộng quân đă cho Trung Đoàn 95-B
phong tỏa con đường số 19, đóng chốt ở đèo An Khê và đèo Mang Yang,
và Trung Đoàn 25 phong tỏa quốc lộ 21, đóng chốt ở đèo Chu Cúc.
- Tỉnh lộ 7 nối liền Tuy Hoà với Pleiku bị bỏ hoang từ 1954, được
lệnh sửa lại để tháo chạy khỏi Pleiku. Trong cơn hoảng loạn, đoàn
quân đă bị sư đoàn 320 của Cộng quân truy đuổi và tan rả. Sư đoàn
này đă đóng chốt ở đèo Tu Na, Phú Bổn.
- Con đường từ Quảng Đức đến Ban Mê Thuột đă bị Sư Đoàn F-10 của
Cộng quân phong tỏa sau khi truy đuổi tàn quân của Trung Đoàn 52 của
Sư Đoàn 23 VNCH chạy khỏi Ban Mê Thuột.
Nh́n vào địa thế và t́nh trạng của Cao Nguyên như đă nói trên, không
một nhà quân sự chuyên nghiệp nào dám nghĩ đến “di tản chiến thuật”
từ Cao Nguyên về Tuy Hoà rồi quay lại tái chiếm Ban Mê Thuột.
Muốn trở lại Cao Nguyên hay tái chiếm Ban Mê Thuột, QLVNCH phải phá
vở những cái chốt nói trên. Với lực lượng c̣n lại lúc đó, QLVNCH
không thể làm chuyện đó được. Sư Đoàn Dù đă thất bại khi phá chốt
Thường Đức ở nam Đà Nẵng năm 1974 và bị tổn thất đến 50%.
Tóm lại, lời biện minh nói trên của ông Thiệu chứng tỏ hoặc ông
không có ư niệm chính xác về quân sự hoặc ông chỉ nói ṿng vo để
biện hộ cho quyết định sai lầm của ḿnh mà thôi.
[(không phải quyết định sai lầm mà là gian kế của CIA Do Thái trong
chủ mưu phá nát Quân Khu II để giết VNCH) BNH ghi chú,
mời đọc
Lời thề của các tu sĩ Ḍng Tên trước Giáo Hoàng]
2.- Rút khỏi Quân Khu I
Trong chương 3, ông Hưng đă kể lại khá tỉ mỉ những tranh luận giữa
Tổng Thống Thiệu và Tướng Ngô Quang Trưởng về việc giữ hay rút khỏi
Quân Khu I. Ở đây, ông Hưng phải nhớ rằng mục tiêu cuối cùng của
Tổng Thống Thiệu là rút quân khỏi Quân Khu II và Quân Khu I để về
lập pḥng tuyến tại Tuy Hoà. Lệnh giữ ba “đầu cầu” (enclaves) (Huế,
Đà Nẵng, Chu Lai) rồi lại chỉ giữ một “đầu cầu” (Đà Nẵng) chỉ là tṛ
chơi gian trá của Tổng Thống Thiệu nhắm gài cho Tướng Trưởng phải
chịu trách nhiệm khi xẩy ra sự thất bại trong việc rút quân.
Ở Huế, v́ không c̣n vận chuyển bằng đường bộ được, ngày 25.3.1975
Tướng Tưởng quyết định cho Thủy Quân Lục Chiến rút ra cửa Thuận An,
c̣n Sư Đoàn 1, Biệt Động Quân và Địa Phương Quân xuống cửa Tư Hiền.
Tàu Hải Quân sẽ đến đón hai đoàn quân này. Tuy nhiên, trên đường
tháo chạy, cả hai đoàn quân vừa bị pháo kích vừa bị địch truy đuổi,
nên tan rả, chỉ khoảng 1/3 về tới Đà Nẵng.
T́nh trạng Đà Nẵng lại trở nên rối loạn. Tổng Thống Thiệu không có
một quyết định dứt khoát nào về việc giữ hay rút khỏi Đà Nẵng mà để
cho Tướng Trưởng tùy nghi quyết định. Khi t́nh h́nh Đà Nẵng không
c̣n kiểm soát được, Tướng Tưởng ra lệnh bỏ Đà Nẵng. Ngày 29.3.1975
Đà Nẵng bị thất thủ.
Những lời thú nhận
do ông
Lữ Giang
viết
|