|
"Người Mỹ
đă phản bội chúng tôi"
- Der Spiegel phỏng vấn
cựu TT. Nguyễn Văn Thiệu
Vô Thường dich
Cựu TT Nguyễn Văn Thiệu
SPIEGEL: Thưa ông Thiệu, trong suốt 5 năm từ 1968 đến 1973,
Hoa Kỳ đă nổ lực đàm phán ḥa b́nh cho Việt Nam. Trưởng đàm
phán của Mỹ, Henry Kissinger đă mô tả chi tiết trong hồi kư
của ḿnh về ông, với tư cách là Tổng thống Nam Việt Nam, đă
phá hoại những nỗ lực của ông ta như thế nào nhằm mang ḥa
b́nh cho cuộc chiến kéo dài nhiều năm, tổn thất hàng triệu
nhân mạng và như muốn “bóp nát trái tim Hoa Kỳ” như lời của
Kissinger nói. Tại sao ông lại cản trở như vậy?
Ông Thiệu: Điều đó hoàn toàn vô lư. Nếu như tôi ngăn cản th́
đă không thể có chuyện dàn xếp ḥa b́nh trong năm 1973. Tuy
nhiên, như mọi người đă biết, đó không phải là một nền ḥa
b́nh tốt đẹp khi chứng kiến những hậu quả xảy ra tại Việt
Nam. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của Chính
phủ Hoa Kỳ. Với tư cách là Tổng thống Việt Nam, tôi có nhiệm
vụ bảo vệ những lợi ích sống c̣n của đất nước tôi.
Tôi đă nhiều lần chỉ ra cho tổng thống Nixon và tiến sĩ
Kissinger rằng rũ bỏ vài vị thế không mấy quan trọng tại một
quốc gia nhỏ bé như Việt Nam có thể không có nhiều ư nghĩa
đối với một cường quốc như Hoa Kỳ, nhưng đối với chúng tôi
đó là vấn để giữa sự sống và cái chết của toàn bộ một đất
nước.
SPIEGEL: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đă
đồng ư dàn xếp ḥa b́nh. Nhưng ông ta nói lư do chính khiến
phải mất nhiều thời gian v́ ông đă cản trở quyết liệt và lư
do thực chất ông không bao giờ phản đối các đề xuất của Mỹ
v́ ông tính toán rằng tất cả những đề xuất đó sẽ bị Hà Nội
bác bỏ.
Ông Thiệu: Không đúng như vậy. Chỉ mất thêm hơn 2 hoặc 3
ngày hay 2 hoặc 3 tháng để chấm dứt cuộc chiến đă diễn ra
gần 30 năm. Tôi nhận ra cuôc chiến này là cuộc chiến dài
nhất trong lịch sử của Hoa Kỳ, trong đó họ là người đă viện
trợ cho chúng tôi. Có thể v́ vậy mà người Mỹ tỏ ra vội vàng
như thế. Tuy nhiên, chúng tôi cần một nền ḥa b́nh vững chắc.
SPIEGEL: Kissinger ám chỉ rằng ông không thật sự muốn có một
giàn xếp ḥa b́nh và hy vọng Bắc Việt cũng sẽ ngoan cố giống
như ông. V́ vậy, ông ấy quả quyết dù ông đă đồng ư nhiều đề
xuất của phía Mỹ nhưng không bao giờ muốn phải tuân thủ
những đề xuất đó, v́ trong bất cứ trường hợp nào ông không
tin là thỏa thuận sẽ đạt được.. Ông có lừa bịp trong đàm
phán với hy vọng ông sẽ không bao giờ phải nói rơ hết ư định
của ḿnh?
Ông Thiệu: Không. Một quốc gia phải chịu đựng nhiều như thế
trong suốt hơn 30 năm không thể nào bị kết tội là muốn kéo
dài cuộc chiến. Kissinger muốn tiến hành nhanh để lính Mỹ có
thể rút quân và tù binh Mỹ được phóng thích. Và có thể v́
Chính phủ Mỹ muồn vội vă thoát ra, “cắt và chạy”.
Họ có thể thoát khỏi cuộc chiến. Chúng tôi phải ở lại Nam
Việt Nam. Chúng tôi có đủ mọi quyền để đ̣i hỏi một sự giàn
xếp ḥa b́nh toàn diện, không phải chỉ là một nền ḥa b́nh
trong 2 hoặc 3 năm rồi sau đó lại thêm một cuộc chiến 30 năm
khác.
SPIEGEL: Vậy tại sao ông dự tính trước Hoa Kỳ theo như
Kissinger báo cáo, bằng việc tự ḿnh đề xuất Hoa Kỳ rút quân
tại cuộc họp ở Midway tại Thái B́nh Dương vào tháng 6 năm
1969?
Ông Thiệu: Thậm chí trước cuộc họp ở Midway, việc Hoa Kỳ có
ư định rút quân là không có ǵ bí mật. Tôi muốn nhắc cho anh
nhớ rằng tin tức về kế hoạch rút một số lượng quân Mỹ đă
loan tải trên toàn thế giới trước cuộc họp Midway. Tại sao?
Tôi cho đó là v́ Chính phủ Mỹ muốn thăm ḍ dư luận, tiết lộ
thông in cho báo chí và đưa chúng tôi vào sự việc đă rồi.
SPIEGEL: Như thế ông đă hiểu rơ được sự việc?
Ông Thiệu: Vâng đúng vậy. Cuộc họp Midway nhằm hai mục đích.
Nó mang đến cho hai tân tổng thống một cơ hội để hiểu về
nhau và đàm phán về vấn đề Việt Nam. Điểm thứ hai đă vạch rỏ
trong nghị tŕnh đó là kế hoạch rút quân Mỹ đầu tiên. Tôi
không hề ảo tưởng và tôi nắm bắt được t́nh h́nh. Không có ǵ
phải lo lắng và tôi cảm thấy rất tự tin.
SPIEGEL: Khi đề xuất việc rút quân, ông có thật sự nghĩ rằng
ông có thể tự tiến hành chiến tranh và cuối cùng giành thắng
lợi trong cuộc chiến-một cuộc chiến tranh mà hơn 540.000
quân Mỹ và bộ máy quân sự hùng mạnh của Hoa Kỳ đă không thể
thắng nổi? Thật khó để tin vào điều đó.
Ông Thiệu: Không. Thật ra tôi không phải là người đề xuất.
Tôi chỉ đơn giản là chấp thuận. Tôi đồng ư đợt rút quân Mỹ
đầu tiên v́ Tổng thống Nixon đă nói với tôi rằng ông ấy có
một số vấn đề quốc nội và việc rút quân chỉ hoàn toàn mang
tính tượng trưng. Ông ta phải có ư kiến công chúng và Quốc
hội phía sau. Nhưng tôi cũng nói với ông ấy rằng ông ta phải
chắc chắn Hà Nội không xem đợt rút quân đầu tiên như là một
dấu hiệu yếu kém của Hoa Kỳ.
SPIEGEL: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân
toàn bộ?
Ông Thiệu: Không. Tôi có thể h́nh dung đó có thể là bước đầu
tiên trong biện pháp giảm quân số. Tôi khổng thể nào tưởng
tượng nổi Hoa Kỳ sẽ vứt hết tất cả và bỏ rơi Nam Việt Nam.
Tôi đă đề xuất với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm nên
được tiến hành từng bước, đến khi khả năng chiến đấu và sự
cũng cố quân đội Nam Việt Nam cho phép Việt Nam có thể đứng
trên đôi chân của chính ḿnh, tùy thuộc vào viện trợ kinh tế
và quân sự.
Quan trọng hơn, tôi đă kiến nghị ông ta có thể yêu cầu Hà
Nội đổi lại cũng có hành động tương tự. Người Mỹ hoàn toàn
đồng ư với tôi về…. …
SPIEGEL: ….và rút quân tượng trưng?
Ông Thiệu: Tôi nhận ra cuộc chiến Việt Nam cũng gây ra những
vấn đề bên trong nước Mỹ. Và Tổng thống Nixon nói ông cần
một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó.
Khi tôi ở Hán Thành và Đài Loan một tuần trước đó, tôi đă
nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới
Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân mà tôi bàn bạc với Tổng
thống Nixon trong cuộc đàm phán tại Midway chỉ mang tính
tượng trưng. Nhưng tôi đă chỉ ra rằng chúng tôi không thể
ngăn ngừa việc Hoa Kỳ rút toàn bộ quân nếu họ muốn. V́ vậy
sẽ là khôn ngoan hơn khi yêu cầu Mỹ rút quân từng bước và
cùng lúc đó cung cấp viện trợ để chúng tôi xây dựng một quân
đội Nam Việt Nam vững mạnh và hiện đại để thay thế người Mỹ.
Tôi không bao giờ yêu cầu quân đội Mỹ ở lại Việt Nam măi măi.
SPIEGEL: Quân Mỹ đă đặt tại Nam Hàn và Tây Đức.
Ông Thiệu: Nhưng chúng tôi là những người rất tự trọng.
Chúng tôi đă nói với họ chúng tôi cần cấp viện và vũ khí
nhưng chúng tôi có đầy nhiệt huyết trong huyết quản và thừa
binh lính.
SPIEGEL: Ông mô tả thế nào về t́nh cảnh của ḿnh khi đó? chỉ
vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc pḥng Hoa Kỳ, Melvin
Laird đă đề ra “Việt Nam hoá”. Người Mỹ trước đó đă nói về
cuộc chiến “phi Mỹ hóa”. Không phải chỉ tên gọi này thôi
cũng đă nói rơ ràng là Hoa Kỳ có ư định rút quân một cách
nhanh chóng?
Ông Thiệu: Khi ông Nixon đến Sài G̣n vào tháng 7 năm 1969,
ông ta nhắc lại rằng ông cần có công chúng Mỹ phía sau. Tôi
hiểu vị thế của ông ta. Nhưng ông ấy không bao giờ lư giải
rút quân có nghĩa là cắt giảm nghị tŕnh có hệ thống và theo
sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói về những khó khăn trong
nước tại Mỹ và đề nghị tôi giúp. Ông nói “giúp chúng tôi để
giúp các anh”. Tôi trả lời “Tôi sẽ giúp các ông để có thể
giúp chúng tôi”. Tại cuộc họp chúng tôi lại bàn về vấn đề
rút quân từng phần.
SPIEGEL: Nhưng không đặt ra lịch tŕnh?
Ông Thiệu: Không. Và Ông Nixon lại hứa là bất kỳ đợt rút
quân nào cũng sẽ tương xứng với những biện pháp tương tự của
phía Bắc Việt và sẽ phù hợp với khả năng pḥng thủ của Nam
Việt Nam cũng như đi kèm với những viện trợ thêm vể quân sự
và kinh tế cho Nam Việt Nam.
Cựu TT Nguyễn Văn Thiệu & cựu TT Lyndon Johnson
SPIEGEL: Tại thời điểm đó ông có nhận ra Hoa Kỳ đă sẵn sàng
đơn phương rút quân nếu cần thiết?
Ông Thiệu: Có, tôi có nghi ngờ điều đó. Nhưng khi đó tôi vẫn
rất tự tin và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.
SPIEGEL: Có thể ông đúng khi nhận định như vậy. Rỏ ràng
trong cuốn sách của Kissinger chính quyền Nixon không thể
“chiến thắng một cách dễ dàng một chiến dịch có liên can đến
hai chính quyền, năm quốc gia đồng minh và ba mươi mốt ngàn
người chết như thể chúng ta chuyển một kênh truyền h́nh”.
Người Mỹ rỏ ràng muốn thoát ra khỏi Việt Nam bằng đàm phán.
Họ không muốn đơn phương rút quân trừ khi họ buộc phải làm
điều đó. Ông có đưa ra bất kỳ yêu cầu nào về các cuộc đàm
phán giữa Washington và Hà Nội?
Ông Thiệu: Chiến tranh đă quá đủ với chúng tôi và chúng tôi
quyết định chấm dứt cuộc chiến bằng đàm phán. Chúng tôi yêu
cầu những lực lượng đă xâm chiếm đất nước phải rút quân. Tất
cả chỉ có vậy.
SPIEGEL: Ông oán trách sự sụp đổ của Nam Việt Nam trong năm
1975 chủ yếu được quy cho thực tế rằng quân đội Bắc Việt
được phép ở lại miền Nam thậm chí sau khi Hiệp định Ḥa b́nh
Paris đă kư kết. Ông khẳng định ông chỉ bỏ qua sự hiện hiện
của Bắc Việt trong khi hiệp định đang đàm phán và họ phải
rút quân khi đàm phán kết thúc.
Nhưng Kissinger khẳng định trong cuốn sách của ḿnh ông
không hề đưa ra phản đối với đề xuất của Mỹ về vấn đề này
cho đến tháng 10 năm 1972.
Ông Thiệu: Đó là lời dối trá vô giáo dục nhất từ phía
Kissinger khi nói tôi đồng ư cho quân Bắc Việt lưu lại miền
nam. Nếu tôi đồng ư ngay từ đầu như Kissinger đă nói, th́
tôi đă không phản đối kịch liệt khi ông ta cho tôi xem bản
dự thảo hiệp định trong đó không hề chứa đựng bất kỳ đều
điều khoản nào về vấn đề rút quân của Bắc Việt.
Đó là điểm quan trọng nhất mà tôi đă đấu tranh trong suốt
quá tŕnh đàm phán hoà b́nh. Từ đầu đến cuối, tôi yêu cầu
Kissinger buộc Hà Nội rút quân và giải thích cho ông ta rằng
sẽ chẳng có hiệp định nào hết trừ khi Bắc Việt thực thi điều
đó.
Sau nhiều ngày tranh luận quyết liệt, Kissinger cuối cùng
thú nhận với tôi: “Thưa ngài Tổng thống, điều đó không thể
thực hiện được. Nếu được tôi đă làm. Vấn đề đă được đặt ra
cách đấy 3 năm nhưng Liên Xô sẽ không chấp nhận”. Sau đó tôi
nhận ra Chính phủ Hoa Kỳ đă nhượng bộ yêu cầu của Liên Xô và
đó là điều làm tôi thất vọng nhất.
SPIEGEL: Có thể Liên Xô không có lựa chọn khác v́ Bắc Việt
phủ nhận xem Nam Việt Nam như là một ngoại quốc và thậm chí
có khi họ phủ nhận Bắc Việt có quân đội thường trực tại Nam
Việt Nam.
Ông Thiệu: Chúng tôi đă ở trong chiến tranh hơn 20 năm và
chúng tôi biết không bao giờ tin vào những ǵ Nga Xô và Bắc
Việt nói. Bắc Việt có quân đội tại Lào, Camphuchia và Nam
Việt Nam. Tôi nghĩ thậm chí một người mù cũng có thể nh́n
thấy điều đó. Để chấm dứt chiến tranh, chúng ta phải nh́n
vào thực tế chứ không phải nghe những ǵ kẻ thù đang nói.
SPIEGEL: Ông có đặt ra những điểm này với Kissinger?
Ông Thiệu: Tất nhiên và cả với Tướng Haig. Tôi hỏi ông ta:
“Tướng Haig, ông là một vị tướng và tôi cũng là một vị tướng.
Vậy ông có biết một hiệp định ḥa b́nh nào trong lịch sử lại
cho phép lực lượng kẻ thù lưu lại trên đất nước mà họ đă xâm
chiếm?” Tôi hỏi ông ta: “Liệu ông có cho quân Liên Xô đóng
trên lănh thổ Mỹ và nói rằng ông đă đạt được dàn xếp ḥa
b́nh với Liên Xô?”
SPIEGEL: Ông ấy nói thế nào?
Ông Thiệu: Ông ta không nói ǵ cả. Làm sao ông ta có thể nói
ǵ-điều đó thật phi lư. Ông ta nói ǵ đây?
SPIEGEL: Kissinger đă đưa ra câu trả lời trong cuốn sách của
ḿnh. Ông ấy nói Bắc Việt sẽ không thực hiện rút quân v́ Hà
Nội sẽ không nhượng bộ trên bàn đàm phán những ǵ họ không
bị buộc phải từ bỏ trên chiến trường. Nhưng ông ta nói thêm
Hiệp định Ḥa b́nh Paris chứa đựng một điều khoản nghiêm cấm
bất kỳ việc xâm lấn thêm nào và kế luận “điều này sẽ làm cho
lực lượng Bắc Việt tại miền nam hao ṃn làm tiêu hao sinh
lực một cách tự nhiên”.
Ông Thiệu: Khi đàm phán với Cộng Sản, tôi cảm giác như Chính
phủ Hoa Kỳ và cụ thể là tiến sĩ Kissinger hoàn toàn không
biết ǵ về những trải nghiệm không mấy ngọt ngào của Pháp
với Cộng Sản vào năm 1954 hoặc từ cuộc chiến Triều Tiên. Họ
không biết ǵ về những cuộc hội đàm với Lào và Campuchia. Họ
không biết làm thế nào để đối phó với Cộng Sản và làm thế
nào để lư giải chiến lược và chiến thuật của họ.
Do đó chúng ta trở lại vấn đề làm sao tiến sĩ Kissinger,
người đại diện cho một lớn và khoe khoang rằng ông ta là
thương thuyết gia tài ba nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc
Việt sẽ không xâm chiếm Nam Việt Nam. Làm sao ông ta có thể
tin như vậy?
Liệu ông ta có thể canh gác trên tất cả chốt biên pḥng dọc
biên giới của Campuchia, Lào và Nam Việt Nam. Thậm chí nếu
chúng tôi có một triệu lính canh gác quốc tế, chúng tôi cũng
không thể chứng minh là không hề có sự xâm chiếm nào. Làm
sao ông ta có thể tin vào những ǵ Bắc Việt nói. Ông ta có
thể tin vào Cộng Sản nhưng chúng tôi th́ không. Đó là v́ sao
tôi khăng khăng yêu cầu Bắc Việt rút quân. Nếu Bắc Việt thật
sự muốn có ḥa b́nh, tại sao họ muốn ở lại?
SPIEGEL: Kissinger nói ǵ về điều đó?
Ông Thiệu: Ông ta có thể nói ǵ đây? Điều mà ông ta và Chính
phủ Hoa Kỳ thật sự muốn là rút quân càng sớm càng tốt và đảm
bảo tù binh Mỹ được phóng thích. Họ nói với chúng tôi họ
muốn một giải pháp danh dự, nhưng họ thật sự muốn giải quyết
mọi việc và thoát ra càng nhanh càng tốt mà không bị người
dân Việt Nam và phần c̣n lại của thế giới lên án v́ đă bỏ
rơi chúng tôi trong cơn hoạn nạn. Đó là vấn đề của họ.
Nền ḥa b́nh giả tạo
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Nixon tại cuộc họp
Midway
Spiegel: Kissinger viết ngay sau cuộc tiến công mùa xuân của
Bắc Việt năm 1972, vài tṛ có vẻ như đă bị đảo ngược. Bắc
Việt bất ngờ muốn nối lại đàm phán trong khi Nam Việt Nam
lại muốn chiến đấu đến khi giành thắng lợi cuối cùng.
Ông Thiệu: Hoàn toàn vô lư! Tiến sĩ Kissinger hiểu thế nào
là chiến thắng? Bắc Việt đă gây ra chiến tranh tại Nam Việt
Nam. Chúng tôi muốn họ rút quân. Đó gọi là chiến thắng sao?
Tôi không bao giờ yêu cầu người của Bắc Việt được xem là tù
binh chiến tranh tại Nam Việt Nam. Tôi không bao giờ đ̣i hỏi
Bắc Việt trả bồi thường chiến tranh. Tôi không bao giờ đ̣i
hỏi Bắc Việt nhượng bộ lănh thổ. Tôi không bao giờ yêu cầu
có ghế trong chính phủ tại Hà Nội. Vậy Kissinger hiểu chiến
thằng và chiến thằng toàn diện là ǵ?
Spiegel: Về vấn đề rút quân của Bắc Việt, theo Kissinger
ngày 31 tháng 5 năm 1971 là một ngày quan trọng. Đó là thời
điểm trong các cuộc đàm phán bí mật, Hoa Kỳ đă từ bỏ yêu cầu
hai bên cùng rút quân. Tiến sĩ Kissinger nói ít nhất ba lần
trong cuốn sách rằng ông đă được thông báo trước và ông đă
đồng ư.
Ông Thiệu: Tôi không bao giờ đồng ư việc đơn phương rút quân.
Sau cuộc họp Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng
phần và cả hai bên cùng rút quân. Mỹ đă thay đổi lập trường
và sử dụng chiến thuật thông thường nhằm ép buộc chúng tôi
để chiếm lấy và đặt thanh gươm Damocles lên đầu chúng tôi,
trích dần dư luận Mỹ với những nhận xét như: “ Bây giờ ông
đang có một h́nh ảnh rất xấu tại Mỹ!” hoặc “Quốc hội sẽ cắt
giảm viện trợ.”…Họ sử dụng lại chiến thuật cũ, tiết lộ cho
báo chí và đặt chúng tôi vào việc đă rồi.
Nếu tôi từ chối dư luận sẽ quay sang chống đối tôi: “Ông ta
đ̣i hỏi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ để Mỹ rút quân,
ông ta sẽ không bao giờ để tù binh Mỹ trở về nhà”. V́ vậy
tôi phải nhượng bộ. Không tự nguyện nhưng miễn cưỡng. Làm
sao tôi có thể phản đối khi họ sẽ nói ngay rằng: “viện trợ
sẽ bị cắt nếu ông không tuân theo”.
Spiegel: Kissinger nói ông luôn được tham vấn trước về tất
cả mọi quyết định của Hoa Kỳ, dưới bất kỳ h́nh thức nào.
Ông Thiệu: Đúng, họ có bàn bạc với tôi, nhưng tất nhiên họ
không muốn nghe tôi nói “không” đối các quyết định phục vụ
cho lợi ích của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp
áp lực đem lại cho họ hầu hết những ǵ họ muốn.
Spiegel: Kissinger giờ đây chỉ trích một cách cay đắng về
cuộc tiến công Lào năm 1971. Ông ấy nói ông cho rằng cuộc
tiến công mùa khô là rất cấp thiết. Vậy ư tưởng ban đầu là
của ai?
Ông Thiệu: Đó là ư tưởng của họ. Trước đó rất lâu chúng tôi
đă từng muốn tiến hành cuộc tấn công, nhưng chúng tôi không
thể thực hiện một ḿnh. Bây giờ Hoa Kỳ đề xuất nên chúng tôi
vui vẻ đồng ư để chấm dứt cuộc chiến nhanh hơn. Đó là một
chiến dịch liên quân Việt-Mỹ với các nhiệm vụ qui định rất
rơ ràng: quân đội Nam Việt Nam có nhiệm vụ tiến hành chiến
dịch tại Lào và lính Mỹ sẽ hỗ trợ tiếp tế bên ngoài Việt
Nam, từ biên giới đến nơi giao chiến.
Spiegel:Tại sao? V́ quốc hội Mỹ rơ ràng đă cấm đoán quân Mỹ
xâm nhập lănh thổ Lào?
Ông Thiệu: Tôi tin là vậy. Nhưng cũng bởi v́ chúng tôi không
có phương tiện tiếp tế cho binh lính và quan trọng nhất là
chuyên chở thương binh ra ngoài. Điều đó chỉ có thể tiến
hành bằng trực thăng và Hoa Kỳ là bên duy nhất có đầy đủ
trực thăng. Không có máy bay lên thẳng, chúng tôi không bao
giờ đồng ư tiến hành chiến dịch tại Lào.
Spiegel: Kissinger nói binh lính của ông gặp vấn đề khi đưa
ra yêu cầu không quân hỗ trợ v́ các đơn vị Việt Nam gần như
không có những chuyên viên kiểm soát mặt đất được huấn luyện
có thể nói được tiếng Anh.
Ông Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề ǵ đối với việc hỗ trợ
của không quân. Chúng tôi không hề lo lắng nếu thỉnh thoảng
không có không quân hỗ trợ, chúng tôi đă có pháo binh. Vấn
đề là người Mỹ đă mất nhiều phi công trực thăng trong ba
ngày đầu tiên của chiến dịch. V́ thế họ không sẳng sàng cất
cánh theo lịch tŕnh và với số lượng cần thiết. Điều đó đă
trở thành một vấn đề lớn đối với quân đội Nam Việt Nam.
Spiegel: Có phải tinh thần binh lính đă suy sụp?
Ông Thiệu: Chúng tôi không thể chuyên chở binh lính tử trận
và thương binh ra ngoài. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến
tinh thần mà c̣n cả đến việc tiến hành chiến dịch.
Spiegel: Kissinger đưa ra một lư do khác giải thích tại sao
chiến dịch thất bại. Ông ta nói ông đă ra lệnh cho binh sĩ
của ḿnh phải thận trọng khi di chuyển về phía tây và ra
lệnh chấm dứt chiến dịch toàn bộ ngay khi chịu tổn thất
3.000 binh lính. Kissinger cho rằng người Mỹ sẽ không bao
giờ chấp thuận kế hoạch có hạn chế này và đă được thông báo
đến cho họ.
Ông Thiệu: Đối với một quân nhân, ư tưởng đặt ra một giới
hạn về số thương vong trước là rất vô lư. Tiến sĩ Kissinger
phải là một người rất giàu trí tưởng tượng khi nói như thế.
Chúng tôi chỉ có thể di chuyển về phía tây xa đến mức mà
trực thăng di tản có thể bay đến. Kissinger nói chúng tôi
rút quân mà không hề thông báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng
tôi có thể triệt thoái hơn 10.000 quân mà không hề thông báo
cho người Mỹ?
Spiegel: Vậy là ông đă thông báo cho họ biết?
Ông Thiệu: Ồ tất nhiên. Và hăy để tôi kể cho anh nghe một
câu chuyện. Khi đó tờ Time hay Newsweek ǵ đó đă đăng tải
bức h́nh một binh sĩ Nam Việt Nam đang cố bám vào bộ phận hạ
cánh của một chiếc trực thăng với chú thích “kẻ hèn nhát”.
Tôi chỉ cười. Tôi thấy điều đó thật kinh khủng. Không thể
nào ngăn cản một binh sĩ bị bỏ rơi khỏi những hành động như
thế. Nhưng tờ báo đă nhục mạ binh lính Nam Việt Nam như là
những kẻ hèn nhát và cùng lúc đó hoàn toàn che dấu một sự
thật là phi công trực thăng Hoa Kỳ không có tinh thần chiến
đấu trong chiến dịch này.
Spiegel: Một điểm cốt lỏi trong sự tranh căi giữa Nam Việt
Nam và Hoa Kỳ là vấn đề ngừng bắn. Theo Kissinger, Chính phủ
Mỹ đă quyết định đề xuất một cuộc ngưng bắn trên chiến tuyến
hiện hữu ngay đầu mùa hè năm 1970. Kissinger nói ông không
những đồng ư mà c̣n chấp thuận đề xuất đó.
Ông Thiệu: Đúng vậy. Tôi cũng cho rằng ngưng bắn là một bước
đầu tiên rất quan trọng để hoàn thành những nghĩa vụ của một
thoả thuận hoà b́nh. Nhưng về vấn đề là ngay lặp tức-tôi
nhắc lại một cuộc ngưng bắn ngay lặp tức th́ tôi không bao
giờ đồng ư với Kissinger. Tôi nói chúng ta phải xem xét điều
đó một cách cẩn trọng.. Không thể tuyên bố ngưng bắn cho đến
khi đă có những suy xét cẩn thận về việc ai sẽ là người giám
sát cuộc ngưng bắn và điều ǵ sẽ xảy ra trong trường hợp có
vi phạm, binh lính sẽ đóng ở đâu…
Spiegel: Kissinger viết: “Chúng tôi vẫn nghĩ rằng chúng tôi
đang cùng làm việc với Thiệu”. Người Mỹ không hiểu rằng ông
đang áp dụng “chiến thuật lăng tránh của người Việt Nam đối
với người nước ngoài”.
Ông Thiệu: Điều đó không bao giờ xảy ra với một nước nhỏ như
chúng tôi, một nước nợ gần như tất cả mọi thứ của đồng minh
lớn và vẫn đang yêu cầu cấp viện lâu dài, lại có thể chơi
tṛ bịp bợm.
Spiegel: Nhưng ông phải nghĩ rằng cuộc chiến cuối cùng cũng
thất bại khi Mỹ rút quân và Bắc Việt được phép duy tŕ quân
đội tại Nam Việt Nam?
Ông Thiệu: Không hẳn như vậy, nếu chúng tôi tiếp tục nhận
được viện trợ từ Hoa Kỳ và Chính phủ Hoa Kỳ giữ lời hứa khi
chúng tôi kư vào bản hiệp định. Thậm chí khi kư kết hiệp
định, tôi vẫn nghĩ đó chỉ là một drôle de paix-một nền ḥa
b́nh giả mạo.
Nhưng chúng tôi vẫn tin chúng tôi có thể chống cự lại bất kỳ
sự xâm lăng nào của Bắc Việt nếu họ vi phạm các điều khoản
của dàn xếp ḥa b́nh. Chúng tôi có hai lư do để tin tưởng:
thứ nhất, chúng tôi có một bảo đảm bằng văn bản từ Tổng
thống Nixon rằng Mỹ sẽ đáp trả bằng tất cả lực lượng nếu
thoả thuận bị vi phạm.
Spiegel: Mặc dù ông ta không bao giờ nói là đáp trả như thế
nào.
Ông Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được nhận đầy đủ viện trợ kinh
tế và quân sự đến khi nào chúng tôi cần để chống lại sự xâm
lăng của Bắc Việt. Liệu Chính phủ Mỹ có giữ đúng lời hứa đó?
Cuộc chiến có thể tiếp tục nhưng Bắc Việt sẽ không thể lật
đổ Nam Việt Nam.
Spiegel: Ông và Kissinger ít nhiều đồng ư về điểm này. Ông
ta viết, toàn bộ chiến lược có thể thành công nếu Hoa Kỳ ở
vào vị thế có thể hành động với tất cả những vi phạm giàn
xếp hoà b́nh của Bắc Việt và tiếp tục cầp viện đầy đủ cho
Nam Việt Nam. Cái ǵ đă sai? Kissinger đổ lỗi cho vụ
Watergate và sự xói ṃn của chính quyền hành pháp. Ông có
thật sự nghĩ vụ Watergate phải chịu trách nhiệm cho sự thất
bại?
Ông Thiệu: Xin lỗi nhưng tôi không phải là một người Mỹ. Tôi
không có trách nhiệm phải dọn dẹp trước hàng rào của họ.
Nhưng nếu họ giữ lời hứa, đó sẽ là một cản trở tốt nhất đối
với những sự xâm lăng thêm của Bắc Việt và có thể kết thúc
chiến tranh.
Spiegel: Nếu Mỹ giữ lời hứa, ông có nghĩ bản hiệp định có
thể dẫn đến một kết quả thành công toàn diện?
Ông Thiệu: Tôi tin có thể sẽ là như vậy.
Spiegel: Vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không phải quá tệ?
Ông Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một thỏa thuận tốt đẹp
đối với chúng tôi. Đó là một thảo thuận giả tạo. Nhưng đó là
phương kế cuối cùng. Anh phải hiểu là chúng tôi chỉ kư kết,
như tôi đă nói, bởi v́ chúng tôi có đảm bảo từ phía Chính
phủ Hoa Kỳ và Hiệp định được bảo đảm bởi 12 quốc gia và Liên
Hiệp Quốc.
Spiegel: Kissinger đưa ra b́nh luận một cách chua cay trong
cuốn sách của ḿnh về nhiều chính trị gia lớn.. Nhưng ông ta
có vẻ giành nhiều sự miệt thị đối với ông. Mặc dù ông ta
ngưỡng mộ sự “thông minh”, “ḷng dũng cảm” và “nền tảng văn
hoá” của ông. Ôn ta chăm chú đến “sự điều hành tàn bạo”,
“xấc láo”, “sự ích kỷ độc ác” và “ thủ đoạn gần như điên
cuồng” của ông khi làm việc với người Mỹ. Ông nói ǵ về
những gán gép này trong hồi kư của Kissinger?
Ông Thiệu: Tốt hơn là tôi không trả lời. Tôi thà không nói
ǵ về ông ta. Ông ấy có thể nghĩ bất cứ điều ǵ ông ta thích
về tôi, tốt hoặc xấu. Tôi thích nói về những ǵ đă thật sự
xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.
Spiegel: Phải chăng ông đă đem đến cho ông ta một lư do nào
đó để viết về ông theo một cách coi thường như thế này?
Ông Thiệu: Có thể ông ta ngạc nhiên v́ phải làm việc với một
người quá thông minh và tài giỏi. Cũng có thể có vài điều
phải làm với tính phức cảm tự tôn của một người quá tự phụ.
Có thể ông ta không thể tin rằng một người đối thoại Việt
Nam lại b́nh đẳng với một người tự cho rằng ḿnh rất quan
trọng.
Để tôi kể anh nghe một chuyện khác, tôi cảm thấy thật buổn
cười tại đảo Midway v́ tôi không thể nào tưởng tượng nỗi
những người như thế lại cực kỳ đê tiện. Trong dịp đó, ông
Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi họp tại nhà của
một sỹ quan hải quân Mỹ. Có ba cái ghế thấp và một cái cao
hơn. Ông Nixon đă ngồi ở ghế cao hơn.
Spiegel: Giống như phim “Nhà độc tài vĩ đại”của Chaplin?
Trong đó, Hitler đă ngồi ở một cái ghế cao để ông ta có thể
nh́n xuống Mussolini đang ngồi tại nghế thấp hơn.
Ông Thiệu: Nhưng tôi đă t́m một cái ghế khác cao ngang bằng
cho tôi trong giờ nghĩ đễ cùng cấp với Nixon. Sau cuộc họp
Midway, tôi nghe từ vài người bạn Mỹ của tôi rằng Kissinger
không bao giờ trông đợi Tổng thống Thiệu trở thành một người
như ông ta.
Spiegel: Kinssinger phàn nàn trong cuốn sách của ḿnh rằng
ông đă đối đăi với ông ta thật tệ hại trong cách cư xử cá
nhân của ḿnh, rằng ông đă bỏ cuộc hẹn lướt ván, Nixon thậm
chí c̣n nói thêm, theo Kissinger, ông ta nói ông là “một
thằng chó đẻ”và nói: “tính tàn bạo là tầm thường, anh sẽ
không bao giờ được nh́n thấy, nếu…không đi cùng”.
Ông Thiệu: Xin lỗi nhưng tôi không có ǵ để nói về điều đó.
Tôi được giáo dục đầy đủ và tôi từ chối trả lời những lời
b́nh phẩm mất lịch sự và khiếm nhă như vậy.
Nếu tôi không tiếp đăi Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ Bunker,
đó đơn giản là v́ chúng tôi chưa đạt đến một điểm để có thể
tiếp tục thảo luận với họ. Họ mất 4 năm vậy tại sao tôi buộc
phải trả lời trong một giờ. Nếu người Mỹ có thể bỏ ra thời
gian th́ tại sao tôi lại không thể? Chúng tôi có thể phù hợp
với họ nếu chúng tôi là những người ba phải, cái ǵ cũng
đồng ư. Nhưng tôi không phải là một người ba phải và người
miền nam không phải là một quốc gia của những người ba phải,
Quốc hội chúng tôi không phải là một Quốc hội của những
người ba phải. Tôi phải bàn bạc với họ.
Spiegel: Tiến sĩ Kissinger viết rằng thái độ của ông đối với
ông ta về cơ bản được xác định là “căm thù một cách độc địa”
Ông Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi.
Chắc chắn là có những cuộc tranh luận nảy lửa nhưng thái độ
của tôi luôn luôn kiềm chế bởi động cơ yêu nước.
Spiegel: Kissinger viết ông có vài điều kiện để đạt được “vị
thế gần như là không thể” trong đó ông tự nhận thấy. Ông có
nhận ra dấu hiệu nào của điều kiện đó?
Ông Thiệu: Không. Tất cả những ǵ tôi nhận thấy là áp lực từ
Chính phủ Mỹ.
Spiegel: Kissinger viết ông không bao giờ tham gia vào một
cuộc đàm phán dựa trên khái niệm. Ông ấy nói ông “đấu tranh
theo cách của người Việt Nam: gián tiếp, giản lượt, bằng
phương pháp nhằm làm cạn kiệt hơn là làm sáng tỏ, luôn luôn
chăm chọc nhưng không bao giờ giải quyết vấn đề thực tế”
Ông Thiệu: Hăy đặt anh vào vị trí của tôi. Tôi đồng ư ngay
từ đầu rằng Chính phủ Mỹ nên tham gia đàm phán bí mật với Hà
Nội. Kissinger nói tôi sẽ luôn luôn được thông báo. Đúng,
tôi đă được thông báo. Tôi được nghe những ǵ ông ta chọn để
nói với tôi. Nhưng tôi tin đồng minh của tôi sẽ không bao
giờ lừa gạt tôi, dàn xếp thỏa thuận trên đầu tôi và bí mật
bán đất nước tôi.
Nhưng, anh có thể tưởng tượng được không, chỉ bốn ngày trước
khi ông ta ra Bắc Việt vào tháng 10 năm 1972, ông ta đưa tôi
bản dự thảo hiệp định sẽ được kư tắt tại Paris bằng tiếng
Anh? Chúng tôi phải thẩm tra bản thảo bằng tiếng Anh từng
điểm một.
Và bản thảo không phải được đưa ra bởi Nam Việt Nam và Hoa
Kỳ mà là bởi Bắc Việt và Hoa Kỳ. Anh có tưởng tượng nỗi điều
đó không? Theo logic thông thường Nam Việt Nam và Hoa Kỳ
phải thỏa thuận về những điều kiện của dàn xếp ḥa b́nh
trước và sau đó Kissinger quay lại với chúng tôi nếu Bắc
Việt đưa ra bất kỳ đề xuất trái ngược nào. Nhưng ông ta đă
không làm như thế.
Thay vào đó, ông ta soạn thảo những điều khoản của hiệp định
chung với Bắc Việt và đưa cho tôi xem bằng tiếng Anh. Hiệp
định hoà b́nh sẽ quyết định số phận chúng tôi. Anh có tưởng
tượng được tôi cảm thấy như thế nào khi chúng tôi thậm chí
không thể nh́n thấy nguyên bản bằng chính ngôn ngữ của chúng
tôi?
Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng nhận được bản tiếng Việt?
Ông Thiệu: Chúng tôi khăng khăng đ̣i hỏi, đ̣i hỏi và đ̣i hỏi
và cuối cùng ông ta đồng ư, dù tất nhiên là miễn cưỡng. Và
chúng tôi đă phát hiện ra nhiều cạm bẫy. Tôi hỏi Tiến sĩ
Kissinger và Đại sứ Bunker “Ai đưa ra bản tiếng Việt?” Họ
trả lời “một người Mỹ rất giỏi từ trường Đại học Ngôn ngữ
học Quốc tế tại Hoa Kỳ cộng tác với Bắc Việt”. Nhưng không
người Mỹ nào có thể hiểu và viết tiếng Việt tốt hơn một
người Việt Nam. Và không người Mỹ nào có thể làm việc với
Cộng Sản Việt Nam bằng tiếng Việt giỏi hơn chúng tôi. Liệu
đó có phải là cách ứng xử danh dự và ngay thằng của phía
đồng minh?
Spiegel: Các giới chức cấp cao tại Mỹ nói đă từng nghĩ rằng
tất cả những ǵ mà Kissinger theo đuổi là một khoảng thời
gian hợp lư giữa việc rút quân Mỹ và sự sụp đổi cuối cùng
của Sài G̣n. Kissinger nói trong cuốn sách của ḿnh là điều
đó không đúng. Ông nghĩ thế nào?
Ông Thiệu: Bất kể người Mỹ nói ǵ, tôi tin rằng mục đích
cuối cùng của Chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại
Nam Việt Nam.
Spiegel: Kissinger đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy điều đó
không đúng.
Ông Thiệu: Người Mỹ cố gắng ép buộc chúng tôi đồng ư bản
hiệp định. Nếu chúng tôi đồng ư, họ có thể hănh diện là đă
giải quyết mọi việc bằng một “thoả thuận danh dự”. Họ có thể
nói với dân chúng tại quê nhà rằng: “Chúng tôi đang rút quân,
chúng tôi đảm bảo tù binh sẽ được phóng thích”. Và có thể
nói với phần c̣n lại của thế giới rằng: “Chúng tôi đă mang
lại hoà b́nh cho Nam Việt Nam. Bây giờ th́ tuỳ thuộc vào
người dân Nam Việt Nam. Nếu chính phủ liên hiệp có bị Cộng
Sản chi phối th́ đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đă đạt được
một giải pháp danh dự.”
Spiegel: Kissinger viết: “Chúng tôi có một nguyên tắc trong
đàm phán đó là người Mỹ không phản bội những người bạn của
ḿnh”.
Ông Thiệu: Thôi được, vậy hăy nh́n vào vị thế hiện nay tại
Nam Việt Nam, Campuchia và tất cả Đông Dương. Khi chúng tôi
đàm phán thỏa thuận ḥa b́nh với những đại diện của Chính
phủ Mỹ, chúng tôi thường có cảm giác họ không chỉ chơi tṛ
xỏ lá mà họ c̣n thật sự là người đáng bị lên án trong hành
động.
Spiegel: Ông có bao giờ cảm thấy biết ơn về những ǵ mà
người Mỹ đă giúp đỡ cho đất nước ông? Kissinger nói trong
cuốn sách của ḿnh: “đáng giá cao về những ǵ được giúp đỡ
không phải là một đặc điểm của người Việt Nam”.
Ông Thiệu: [Cười] Về những ǵ mà Kissinger viết trong sách,
tôi nghĩ chỉ có người với một tinh thần bị méo mó mới có thể
nghĩ như vậy, chỉ có thể xảy ra với một người có tính khí
không b́nh thường. Ông ta ám chỉ trong cuốn sách của ḿnh
rằng ông ta sợ người Việt Nam sẽ trả thù những người Mỹ c̣n
ở lại sau khi Washington đă bỏ rơi chúng tôi. Bây giờ và
không bao giờ chúng tôi làm điều đó.
Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy biết ơn ǵ không?
Ông Thiệu: Tôi có thể nói một cách thành thật rằng nếu Chính
phủ Mỹ không phản bội chúng tôi và không đâm sau lưng chúng
tôi, người dân Việt Nam sẽ cảm thấy rất biết ơn. Sau khi
chúng tôi có một cuộc bàn luận căng thẳng với Kissinger về
từ ngữ của hiệp định ḥa b́nh, vài thành viên của chính phủ
tôi nói rằng sẽ là một ngày may mắn cho chúng tôi nếu
Kissinger làm cho Nam Việt Nam bằng như những ǵ mà ông ta
đă làm cho Bắc Việt. Tôi nói với họ nếu ông ta đàm phán một
nền hoà b́nh đích thực với Bắc Việt, ông ta sẽ có cho riêng
ḿnh một đài kỷ niệm tại Nam Việt Nam giống như tượng của
tướng McArthur tại Nam Hàn. Tiếc thay mọi chuyện đă không
diễn ra như vậy.
Về hậu quả của ḥa b́nh, tôi nghĩ tốt nhất là để tự người Mỹ
phán quyết về những ǵ mà Kissinger đă làm cho Nam Việt Nam:
những trại tập trung, nạn đói kém, hành hạ tra tấn, hàng
ngàn thuyền nhân mất tích trên Thái B́nh Dương và nạn diệt
chủng c̣n khủng khiếp và được tiến hành có hệ thống hơn cả
nạn diệt chủng tại Campuchia. Kissinger không có lư do ǵ để
tự hào về nền ḥa b́nh mà ông ta đă mang đến. Đó là mồ chôn
của ḥa b́nh.
SPIEGEL: Cảm ơn ông Thiệu đă giành cho chúng tôi cuộc phỏng
vấn này.
Nguồn: Der Spiegel |