Sau khi vô tù ngày 2 tháng 5 năm 1975 ở
tỉnh Cà Mau, qua cái lịnh đầu hàng vô điều kiện
một cách bất ngờ, nhưng có chủ mưu, thông đồng,
theo yêu cầu với giặc Cộng do đại tướng Dương Văn
Minh và lịnh "bàn giao trong vòng trật tự" của
chuẩn tướng nội phản "ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng
Sản "Nguyễn Hữu Hạnh; tôi bị giải đi nhiều trại
như: khám lớn Cà Mau, Trại tù Cái Rắn (Tân Ánh),
Kiến Vàng, khám lớn Bạc Liêu, Trại lao động Gành
Hào và mùa hè năm 1976 bị đưa lên trại tù cấp quân
khu, trực thuộc quân khu 9; được Việt Cộng chiếu
cố khá tận tình, nên trong tất cả các lần chuyển
trại nào cũng có tên tôi và được "cách mạng" nâng
cấp tù từ tỉnh lẻ lên cấp quân khu, dù cấp bậc
trong nhà binh từ đầu mới ra trường đến sau 2 năm
ra đơn vị vẫn như cũ do bị ký củ.
Đến trại
tù gọi là Liên Trại 3, trước đây là trung tấm huấn
luyện Quốc Gia Chi Lăng, ở vùng Thất Sơn, thuộc
tỉnh Châu Đốc; trại nầy có 3 liên độ mang số 3, 5
và 5, chứa hàng chục ngàn tù binh từ cấp úy trở
lên, là số tù còn tồn đọng, được coi là nặng ký từ
các tỉnh giải về sau những đợt "bắc tiến" của
những người mới hôm qua từng làm cho kẻ chiến
thắng "thất điên bát đảo" qua những trận đánh lừng
danh từ Quảng Trị đến Mũi Cà Mau, nay trở thành
người tù binh bất đắc dĩ. Được biết, ngoài trại
Chi Lăng, còn có một số tù cấp đại úy, còn tồn
đọng, tập trung trong trại cải tạo ở tỉnh Mộc Hóa
(Kiến Tường), đó là đoàn 675. Tôi được đưa vào
liên đội 3, một nơi tạp nhạp tù từ cấp úy đến đại
tá, nên có cơ hội ở chung với những người mà trước
đây là thượng cấp của mình. Chi Lăng với cát, khí
hậu khô, nhất là vào mùa hè, làm tăng sức nóng như
bài thơ của Nguyễn Khuyến:
"Ai xui con
quốc gọi mùa hè. Cái nắng nung người, nóng,
nóng ghê".
Vừa vào trại lúc 10 giờ
sáng, sau khi ổn định chỗ ngủ, thì chạy ra sau hè
để múc chút nước xài, tắm cho mát sau chuyến đi
khá mệt trong chiếc xe G.M.C đầy ấp người và đầy
căng thẳng. Những dải nhà dài trong trại nầy vốn
là nơi dành cho các tân binh quân dịch hay các đơn
vị gởi về huấn luyện; nóc lợp thiếc, nền nhà xi
măng, trước đây thẳng tấp những chiếc giường bằng
sắt, dành cho tân binh ngủ. Nay trống trơn, chỉ
còn trơ lại nền nhà, đủ thấy là " cách mạng" rất
tài tình, giải phóng nhanh, mạnh đến mức nào? Nếu
tháo được thiếc, cạy được xi măng, thì những dải
nhà nầy chắc chắn chỉ còn lại cái sườn và nền cát
trơ trọi. Giữa hai dải nhà là cái giếng nước, mua
hè mực nước lên rất chậm mà số người đứng chờ mút
nước thì đông, tức là số cung quá ít so với số
cầu. Tôi cùng nằm trong số những người chờ đợi ấy,
bỗng có giọng nói Huế thanh thót vang
lên:
- Các anh múc nước, xin đừng quên nước
hỷ!.
Tôi nhìn lại, một người đàn ông trung
niên, gương mặt dể coi, mái tóc đen vợn, mặc bộ đồ
lính đang đứng nhìn mọi người chờ nước lên và lắc
đầu. Tôi hỏi vài người đứng chung, ở trại nầy
trước, họ cho biết đó là trung tá NGUYỄN ĐỨC XÍCH,
nguyên tỉnh trưởng Gia Định, thời tổng thống Ngô
Đình Diệm. Nghe nói tên, tôi giựt mình, vì trước
đó từng nghe qua anh qua, từ thời còn là cậu học
trò tiểu học, không ngờ gặp lại ở đây. Sau đó, tôi
làm quen với anh Trịnh Tiến Bình, đại uý ở tiểu
khu kiến Hòa, là người Bắc di cư 1954, có nhà ở Hố
Nai; anh Bình là người Công Giáo, chống Cộng kiên
cường, anh biết tôi qua vài lần tiếp xúc, nên đưa
đến gặp anh Nguyễn Đức Xích.
Từ đó tôi trở
thành người của nhóm sinh hoạt trong trại tù. Đây
là sự kết hợp giữa những người Công Giáo và Phật
Giáo Hòa Hảo, trong hoàng cảnh khó khăn, nguy
hiểm, nằm trong tay giặc. Nhóm nầy ngoài anh Xích,
có trung tá Nguyễn Thanh Liêm (Hòa Hảo, là thầy
trong binh chủng Quân Cảnh, nghe nói ông đi Mỹ),
đại úy Đỗ Thành Luôn (thiết giáp), thiếu tá Phùng
Đức Vinh, thuộc Pháo Binh Dù, tức là Vinh Mổ Bụng;
vì anh bị thương, bụng chưa lành mà bị Việt Cộng
đuổi ta khỏi bịnh viện, nên khi vào tù vẫn còn các
băng lớn ở bụng, khi mở ra thấy cả thịt đỏ tươi ở
bên trong (nhìn anh Vinh mà biết cách mạng nhân
đạo đến độ kinh tởm)...
Anh Nguyễn Đức Xích
là đàn anh trong quân đội, người thầy khả kính,
bạn tù vong niên của tôi, dù sau khi anh bị giặc
sát hại, nhưng lòng tôi vẫn thường nghĩ đến anh
trong niềm kính phục, nhất là mỗi độ tháng TƯ ĐEN
về hàng năm. Nhờ anh Xích mà tôi cũng như nhiều
người tù khác coi cách sống, tư cách của anh như
một biểu hiện tinh thần bất khuất, tấm gương cho
người tù trong hoàn cảnh xấu nhất sau ngày giặc
Cộng "nối vòng tay LỚN đầy lông lá" mà toàn dân
miền Nam không bao giờ quên "lũ giặc từ miền Bắc
vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào".
Anh
tốt nghiệp khóa 2, sĩ quan trừ bị Thủ Đức, có bằng
cử nhân, là người thân cận với tổng thống Ngô Đình
Diệm. Năm 28 tuổi, là thiếu tá, sau lên trung tá
trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, làm tỉnh trưởng
Gia Định; thời mà các sĩ quan từ đại úy trở lên,
trước khi được thăng cấp, được gọi lên trình diện
tổng thống để nhìn tướng; lúc đó miền Nam chia
thành 5 quân khu, đại tá Trần Thiện Khiêm là tư
lịnh quân khu 5, đặt bộ tư lịnh ở tỉnh Cần Thơ;
theo anh kể thì sau ngày đảo chánh, anh bị những
người mới lên cầm quyền trù dập, giải ngũ và sau
cùng làm bên Giám Sát Viện cho đến ngày mất miền
Nam.
Anh Xích không muốn nhắc đến cái ngày
rủi ro là bị bắt trên đường vượt biển tìm tự do do
sau 1975; nhưng có vài người bạn kể lại là: anh bị
bắt trong một chuyến vượt biên ở Rạch Giá, Việt
Cộng xét hành lý để kiếm vàng, tình cờ, trong mớ
hình mang theo để kỷ niệm, chúng thấy tấm hình của
anh chụp chung với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Việt Cộng nói là: "Anh chụp hình chung với thằng
Thiệu thì không phải là tay vừa", nên chúng bắt và
canh giữ đặc biệt, sau đó đưa lên trại tù quân khu
(đó là chủ mưu giết anh sau nầy).
Sau đó
Việt Cộng biết anh Xích là người thân cận, liên hệ
mất thiết đến tổng thống Ngô Đình Diệm, kẻ thù số
một của Việt cộng; một người từng làm tan rã cả
mạng lưới nằm vùng của Hồ Chí Minh cài lại sau năm
1954, quốc sách ấp chiến lược thành công và kể từ
khi luật số 10/59 ra đời, đặt Việt Cộng ra ngoài
vòng pháp luật, là những tên khủng bố, bị luật
pháp qui vào tội hình sự; khiến tên Việt gian bán
nước Hồ Chí Minh hốt hoảng, đưa thêm những người
miền Nam tập kết trở về hoạt động để bù vào sự tổn
thất quá lớn ấy.
Những kẻ đón gió: tướng
tá Tôn Thất Đính, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Đỗ
Mậu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu ... vì lo sợ
tổng thống Diệm có kế hoạch trẻ trung hóa hàng
tướng lãnh để cải tổ quân đội, sẽ có một số tướng
về vườn, hay không còn giữ những chức vụ quan
trọng nên làm phản; thêm vào đó sự bất đồng ý kiến
vời Hoa Kỳ về mặt chiến lược chống Cộng ... được
những tên ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản khai
thác, nên trung tướng Dương Văn Minh, kẻ đại diện
cho khuynh hướng thân Cộng của nhóm Phật Giáo Ấn
Quang do thượng tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, lợi
dụng, kết hợp và tổ chức cuộc đảo chánh ngày 1
tháng 11 năm 1963, giết chết tổng thống Ngô Đình
Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, làm hỏng cả kế hoạch
"diệt Cộng tận gốc" của chánh thể đệ nhất Cộng
Hòa.
Những kẻ thời cơ, thiếu viễn kiến,
lại tranh chấp quyền hành liên miên từ 1963, tạo
cơ hội cho Việt Cộng hồi sinh và sau cùng đưa đến
thảm cảnh 30-4-1975. Nếu không có đảo chánh, thì
Việt Cộng không bao giờ có cơ hội huênh hoang cái
gọi là: "đại thắng mùa xuân 1975". Sự thất bại
miền Nam 1975, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa là
cuộc đảo chánh ấy, nên những người có trách nhiệm
muốn chạy tội mà đổ thừa cho Mỹ gây ra. Thật ra
thì nếu Mỹ có muốn thay thế Ngô Đình Diệm, nhưng
các tướng tá vẫn một lòng phục vụ đất nước, không
nghe ai, thì liệu người Mỹ có đảo chánh được
không?. Chẳng lẽ họ mang lính từ bên kia bờ đại
dương để đảo chánh?
Anh Xích kết nạp tôi
vào tổ chức bí mật, không tên, gọi là "nhất đầu
chế", anh dạy tôi nhiều điều hữu ích, trao dồi
kiến thức, nhất là anh khuyến khích tôi đọc sách
Việt Cộng để tìm hiểu, tìm ra những sai lầm để bẻ
gảy bằng lý luận chủ thuyết Cộng Sản, tôi không
quên câu nói của anh: "Muốn chống Cộng, anh phải
hiểu chủ nghĩa Marx Lenin hơn cả chính ủy", nên từ
đó tôi hay mượn sách tuyên truyền của Việt Cộng
trong thư viện nhỏ ở Liên trại để đọc kỹ, nghiên
cứu và thảo luận với anh nếu thấy không hiểu.
Có lần anh đem cuốn sách của Lenin viết,
được dịch ra tiếng Việt, do nhà xuất bản SỰ THẬT
Hà Nội, sách có tựa là: "Thế Nào Là Thi Đua", anh
mở trang gần chót và đọc cho tôi nghe câu nói của
Lenin dạy và chỉ thị cho cán bộ: "Đối với bọn trí
thức như bác sĩ, cho chúng nó lau nhà xí, nếu cần
đem bắn vài tên để làm gương ..." và anh nói là:
người trí thức là kẻ thù số một của đảng Cộng Sản,
ai trí thức đi theo, bị lợi dụng một thời gian,
rồi bị vắt chanh bỏ vỏ; có khi bị thủ tiêu, giết
hại. Chúng tôi thường tập trung ở giữa sân banh
volley, gần nhà bếp, được cho là nơi an toàn, vì
không có dính với các dãy nhà nào, phòng ngừa bọn
ăng ten, anh Xích gọi là "chó săn" xâm nhập, nghe
lén, báo cáo ... Trong trại nầy, hễ người tù nào
lăm le muốn tiến bộ là biết ngay, nên những bộ mặt
xạo bị lộ, như cây kim để trong bọc vải bị lòi ra.
Chúng tôi không ưa và luôn cảnh giác thành phần
nầy, là những kẻ nội thù thật nguy
hiểm.
Trong trại, nhất là ở liên đội 3, có
một nhân vật nổi tiếng là anh chàng nhạc sĩ VŨ ĐỨC
SAO BIỂN, người được cán bộ liên đội 3 phong chức
"Trưởng Ban Văn Nghệ Liên Đội" và kiêm luôn "nhà
trưởng nhà 4", anh nhạc sĩ nầy được anh em trong
nhóm đặt là "Vũ Đức Sao Chổi" và cũng được ghép
thêm một chữ nữa là "Vũ Đức Sao Chổi CHÀ". Tôi
không còn lạ gì anh, gặp và biết từ lúc mới về
trại tù Bạc Liêu, đi lao động ở Gành Hào và đến
Chi Lăng. Tên cúng cơm là VÕ HỢI, một số anh em có
óc khôi hài giải nghĩa chữ Háng theo nghĩa Đùi
bằng chiết tự như sau: Vỏ hay Võ là DA, Hợi là Heo
... tức là DA HEO; cái tên nầy trở thành nick
name, được anh hoan hỷ chấp nhận khi có anh em gọi
để thay tên Võ Hợi; trong sáng tác, anh lấy nhạc
danh "Vũ Đức Sao Biển". Sinh quán ở Quảng Ngãi,
xuất thân là nhà giáo, tốt nghiệp đại học sư phạm,
dạy môn triết học ở trường trung học đệ nhị cấp
Tương Lai (tỉnh Bạc Liêu), lập gia đình với một cô
gái địa phương; dù vậy anh cũng động viên, học ở
Thủ Đức, ra trường nhưng không có ra chiến trận
một ngày nào, được biệt phái sang ngành giáo chức,
và cấp bậc lên automatic từ chuẩn úy đến trung úy
... thế là anh bị tù cải tạo sau 30-4-1975.
Trong thời gian ở trại tù Bạc Liêu, tôi
thấy anh là người "luôn phấn đấu để tiến bộ" theo
tiêu chuẩn của Việt Cộng đề ra; mà người ta ví von
bảo là "bảo hoàng hơn vua" và có khi: "Người tù
yêu Bác và đảng còn hơn tổng bí thư". Anh bảo thân
nhân mang đàn guitar, sáo ... và chơi nhạc cách
mạng thật nhuyễn, là mũi nhọn "xung kích" cho các
chương trình văn nghệ do các trại tù phát động
hàng năm vào dịp tết, ngày sinh Hồ Chí Minh, quốc
khánh 2 tháng 9 ... anh thường động não ca những
bài như: Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, xuống
đường, tình đất đỏ miền đông .... anh có giọng ca
rất hay, nhạc lý vững, nên khi ca bài: "Đi mô rồi
cũng về Hà Tỉnh" hay "chào em cô gái Lam Hồng"
nghe y như ca sĩ miền Bắc, khiến cán bộ quản giáo
vỗ tay khen ngợi; nhưng đa số anh em trong trại tù
thì cảm thấy cái lỗ tai bị hiếp dâm nhiều lần
trong mỗi ngày: từ cái loa tiếp vận từ đài phát
thanh nhà nước đặt trong nóc trại, đến ở trong
buồng giam cũng còn nghe tiếng hát Võ Hợi "tiếng
hát át tiếng ... đói". Anh sáng tác bài ca Đảng,
Bác, tôi còn nhớ vài câu trong bài "Trồng Cây nhớ
Bác" có câu:
"Trồng cây ta lại nhớ
Người. Cây bao nhiêu lá, thương Người bấy
nhiêu"
Bài ca tiếp:
"Nhớ
Bác Hồ trồng cây năm xưa. Bác tuy già, nhưng
còn mạnh khỏe".
Tôi không quên một
sáng tác mà anh "động não" ở trại tù Chi Lăng, có
tựa đề là: "Hôm qua anh đi lạc đường" hay là "Anh
làm rẫy" (bài hát theo thể Minor):
"Hôm
qua anh đi lạc đường. Anh cầm súng Mỹ đánh phá
quê hương. Hôm nay đây, chính tay anh đã trồng
thành giồng sanh tươi. Bạn thân ơi!, Đảng cho
ta tìm lại cuộc đời".
Chính sự tiến bộ
"vượt chỉ tiêu" của anh, mà nhiều người tù phải
lánh xa, anh về sau 5 cuốn lịch "học tập tốt, lao
động tốt", khi nhận được giấy ra trại, có người
bạn cùng nhà hỏi anh làm gì? Thì anh đáp ngay: "Sẽ
nộp đơn vào ban Ca Múa Trung Ương", nghe đâu anh
vẫn còn ở Việt Nam, tiếp tục sáng tác và trở thành
văn công cho Bác và đảng và thỉnh thoảng tôi thấy
vài quyền sách phê bình kiếm hiệp Kim Dung do anh
viết, được nhà xuất bản trong nước ấn hành, gởi ra
vài thư viện ở nước Úc; có lần tôi mang một quyển
sách của anh, gặp quản thủ thư viện người Úc ở
Belmont để cảnh báo cho họ biết là: chớ nên nhận
bất cứ sách nào từ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam gởi ra ngoài, toàn là tài liệu tuyên
truyền và họ cũng hoan hỷ tháo lá cờ máu chung với
lá cờ các nước trên một Board "đa văn hóa" sau khi
tôi giải thích, sau đó tôi mang lá cờ vàng ba sọc
đỏ thay thế. Tôi cố hỏi ai đã cung cấp những sách
vở từ trong nước, thì hỏi từ chối, cho đây là
chuyện nội bộ điều hành thư viện, thôi cũng đành
chịu. Cho nên tại các nơi có người Việt tỵ nạn,
bọn Việt Cộng len lỏi, tìm đủ mọi cách mang tác
sách vở tặng cho các thư viện, họ rất hoan hỷ nhận
những sách vở miễn phí, để vào các kệ sách, không
hề biết đó là sách tuyên truyền.
Nhóm chúng
tôi sinh hoạt đều đặn, vào những buổi chiều, sau
giờ cơm, lợi dụng sân banh có ánh đèn sáng, mang
chiếu trải ở giữa sân, tha hồ mà nói những chuyện
quan trọng về tình hình đất nước, nên khi có bóng
dáng của những người tù tiến bộ là chúng tôi biết
ngay. Anh Xích có nhiều điều tâm tình, nói về thời
kỳ anh còn làm tỉnh trưởng dưới thời tổng tống Ngô
Đình Diệm. Anh dành sự kính trọng qua những câu
chuyện có quan hệ tới đệ nhất Cộng Hòa, tôi chú ý
câu chuyện về đời sống riêng tư, càng kính phục
khi nghe anh Xích nói về chí sĩ Ngô Đình Diệm, ông
hút thuốc hiệu bình dân là BASTOS ĐỎ (giới lao
động, xe lôi, xích lô ...) hay hút; khác với cái
gọi là "chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại", hắn hút á
phiện ro ro, hút loại thuốc mắc tiền của hãng
Philip Morris (thuốc hút của Mao Trạch Đông gởi
hàng tháng đều bị Hồ chê và cho những người phục
vụ trong dinh) và ăn uống cầu kỳ như vua chúa.
Tổng thống Diệm suốt đời không vợ con, đời
sống thánh thiện; trong khi đó kẻ tự xưng là "cha
già dân tộc" Hồ Chí Minh: "suốt đời vì dân vì
nước, Bác không bao giờ nghĩ đến vợ con", nhưng
tên Việt gia nầy có đời sống tình dục trác táng,
tàn bạo, giết cả những người từng cùng hắn chăn
gối như Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân ... tư cách, lối
sống của tên Việt gian Hồ Chí Minh không đáng xách
dép cho Tổng thống Diệm. Tổng Thống thường hay gọi
anh Xích lên, trao cho số tiền lương tổng thống
hàng tháng và nói: "Cơm nước có người lo, tôi
không cần tiền tiêu, anh mang về xem dân nghèo thì
cho họ". Anh cũng cho biết là người thân với đức
Hồng Y Nguyễn Văn Thuận (lúc đó là tổng giám mục),
anh tỏ ý lo ngại cho số phận của vị tu sĩ danh
tiếng nầy trước sự trù dập của chế độ Cộng
Sản.
Về trường hợp của cố vấn Ngô Đình Nhu,
em ruột của tổng thống, nhiều người biết ông Nhu
là người có kiến thức, khả năng, nhiệt tình với
đất nước; được coi là cánh tay đắc lực cho tổng
thống trong công cuộc "diệt Cộng cứu nước" và các
chính sách kinh bang tế thế. Vai trò ông Nhu rất
quan trọng, nên Việt Cộng nằm vùng muốn loại ông
Nhu ra khỏi chính quyền trung ương; Thượng Tọa
Thích Trí Quang, lợi dụng tập quán "Trọng Phật
kính tăng" một cách máy móc của Phật Tử, trở thành
lãnh đạo của một thế lực tôn giáo lớn ở miền Nam;
như tờ báo Times cho là: "Người làm rung chuyển cả
nước Mỹ", Thích Trí Quang vận động chính giới Mỹ,
nên có lần đại sứ Mỹ gặp tổng thống Diệm đề nghị:
"không cho ông Nhu làm cố vấn".
Theo lời
anh Xích cho biết: "tổng thống bảo là: em tôi làm
việc không ăn lương, tình nguyện, không có thiệt
hại gì cho ngân sách quốc gia, chẳng lẽ cấm không
cho làm việc cho dân và nước tôi hay sao?". Giới
chức Mỹ đành chịu thua, sau đó tìm cách móc nối
với các "phản tướng, phản tá" làm cuộc đảo chánh.
Sau 1-11-1963, sau cuộc chỉnh lý dẹp Dương Văn
Minh, quốc trưởng là trung tướng Nguyễn Khánh chịu
áp lực của khối Phật Giáo Ấn Quang qua thượng tọa
Thích Trí Quang, nên giết người em út của tổng
thống là Ngô Đình Cẩn. Một hành vi không thể chấp
nhận đối với kẻ tu hành, đạo mạo như tập đoàn
Thích Trí Quang.
Tu theo Phật Giáo cấm sát
sanh, nhưng giết người là trọng tội với Phật, như
vậy tư cách của Thích Trí Quang và đám tăng sĩ
theo Việt Cộng còn thua cả CON CHÓ; tiếc thay là
có một số phật Tử mù mắt, như Tam Tạng, quỳ lạy ma
quái giả dạng mà tưởng là Phật; nên các tên tu sĩ
quốc doanh, Việt Cộng giả dạng như Thích Nhất
Hạnh, Trí Quang, Minh Châu .... linh mục Phan Khắc
Từ, Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần ... vẫn có số
tín đồ và con chiên ủng hộ. Thế là họ vẫn tồn tại
và tiếp tục "mượn đạo tạo đảng" gây thêm tội lỗi,
làm hại đạo, hại nước.
Nếu những tu sĩ nầy
không có tín đồ, con chiên ủng hộ thì họ cũng phải
bị đào thải như "Chùa Bà Đanh" thôi, và đảng Cộng
Sản vô thần nhìn thấy họ không có ai ủng hộ nữa,
thì cũng áp dụng chính sách "vắt chanh bỏ vỏ". Tóm
lại, cũng chính sự mù quáng của tín đồ, con chiên
mà bọn tu sĩ quốc doanh mới có đất dụng võ. Nếu ở
hải ngoại, không ai cho các tu sĩ từ trong nước ra
xin tiền một XU, thì đảng Cộng Sản cũng chẳng "hồ
hởi phấn khởi" gởi tu sĩ của họ ra hải ngoại để
vừa móc túi và vừa làm công tác tôn giáo vận.
không ai nuôi, ủng hộ thì Việt Cộng cũng phải chết
thôi.
Tôi nào quên vụ trốn trại bất thành
của nhóm do trung úy HUỲNH THANH SOUL thực hiện, ở
liên đội 4 là nổi tiếng khắt khe do tên liên đội
trưởng gốc Nghệ An là thượng úy Sáu Ân, nên hệ
thống ăn ten khá nguy hiểm. Nhóm của anh Soul bị
bể, nhiều người bị đánh te tua, nhốt nhà đá ....
để dằn mặt tù, tên thiếu tá chánh ủy Hai Thâu tổ
chức lên lớp học tập tại hội trường lớn ở liên đội
5, gom hết 3 liên đội lại; sau những hù dọa, dằn
mặt và đưa ra vài người tù trong nhóm trốn trại
nhưng nhờ "giác ngộ" mà được hưởng chính sách
khoan hồng, hai người được đưa lên nói chuyện và
tâm tình, ca tụng "cách mạng" là trung úy LÂM
CHÁNH TÀO và trung úy hải quân NGUYỄN VĂN BA tức
là BA RÂU.
Hai người nấy nói chuyện thì
phải bịt tai, sau đó cán bộ gọi anh Nguyễn Đức
Xích lên phát biểu; anh bình tỉnh dùng cái gọi là
"quan hệ cũ-mới" để lên án sự tàn ác của chế độ
Cộng Sản; anh gọi đó là do sự tuyên truyền của
ngành Tâm Lý Chiến để lấy cớ vạch mặt Cộng Sản
ngay trước mặt chúng; sau cùng thì anh dành rất ít
ngôn từ để nói về cái MỚI là "cách mạng"; đây là
chiến thuật" chén úp đầu voi "khiến bọn cán bộ tức
lắm, nhưng không làm gì được.
Mùa xuân năm
1977, liên trại 3 tổ chức văn nghệ và chỉ thị các
nhà làm báo tường thi đua, rồi chọn tờ nào hay
nhất, thi đua với các liên đội, nếu thắng giải,
được "tờ biểu dương". Anh Xích bị chính liên đội
trưởng là thượng úy Chính Sanh chỉ định cho làm tờ
báo của nhà 2. Đó là lối thăm dò tư tưởng, anh
biết, nhưng không còn cách nào từ chối. Anh lợi
dụng tờ báo để nhắn nhủ với các bạn tù, hãy giữ
vững tinh thần, qua bài viết "MÙA XUÂN CẮM HOA",
được nhiều người tù hiểu, nhưng bọn chó săn cũng
biết và báo cáo cho quản giáo. Tôi thích bài nầy
lắm, được treo ở vách tường trong cái CANTEEN của
Liên Đội 3, nên đọc thuộc lòng, vẫn còn nhớ, ghi
lại như sau:
"Vào một ngày đầm ấm mùa xuân,
trong lúc tôi đang đi dạo trong khu vườn nhỏ, mục
đích là đi tìm vài thứ hoa để cắm trên bàn thờ ông
bà. Bất chợt có người bạn thân đến thăm, tôi mời
vào nhà, chúng tôi uống chun trà ấm và sau đó tôi
đưa bạn ra vườn, nói rõ mục đích tìm hoa. Hai
chúng tôi sánh vai nhau đi dạo trong khu vườn, sau
khi lướt qua những bụi Cúc, Đào, Mai ... cuối cùng
tôi đành lựa bông Hồng, cắt vài cành, mang vào
nhà. Chúng tôi lại trò chuyện, bạn tôi hỏi: "Sao
anh chọn hoa Hồng?". Tôi mỉm cười trả lời: "Hoa
Hồng lâu tàn, mang vào là thích hợp, ĐƯỢC CẮM TRÊN
SỎI ĐÁ. NHƯNG HOA VẪN NỞ"...
Trong đó cũng
có một bài nói về câu chuyện của anh tù, trung úy
Đoàn Ca, người làm cây nạn dàn thung, bắn chim Én
để cải hoạt; bài viết tự đề: "Đoàn Ca bắn chim
én", anh có ngụ ý lên án vụ bộ đội, vệ binh trong
trại đã bắn chết bác sĩ Tài và làm bị thương một
số anh em khác ở Liên đội 4, lúc đi cầu tiêu vào
buổi sáng, nghe nói là Việt Cộng "giận cá chém
thớt" vì chúng bị thiệt hại nặng khi đụng độ với
lực lượng kháng chiến Hòa Hảo ở núi Dài. Trong
những câu nói của anh Xích, tôi không quên anh lập
lại nhiều lần là:
- "Chủ nghĩa Marx với
chiêu bài phân bố quyền lợi đồng đều trên toàn thế
giới, nhưng người Cộng Sản phi nhân"
-
"Mình ở tù cũng do Mỹ, được thả cũng do Mỹ và sau
nầy Việt Cộng thua cũng do Mỹ tất cả đều do Mỹ
thôi"
Tình hình biên giới căng thẳng, hàng
đêm chúng tôi nằm ở sân banh, nghe tiếng súng đại
bác nổ xa xa mà mừng thầm. Nhưng sau đó, trại tù
dời về Vườn Đào, thuộc xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai
Lậy, tỉnh Mỹ Tho chỗ nầy là khu của Việt Cộng
trước 1975. Đời sống khó khăn vì nhà đất, cách lá.
Dù vậy, chúng tôi vẫn thường gặp nhau, nhưng rất
cẩn thận vì bọn chó săn luôn rình rập. Chắc chắn
là do sự xếp đặt của cán bộ trại, nên hai người tù
bị lưu ý, là mục tiêu thanh toán: đại úy Quách
Dược Thanh, trung tá Nguyễn Đức Xích, được ở chung
một tổ, tổ trưởng là trung úy Nguyễn Chí Thành
(tức là Thành Sốt Rét, hay Thành Xe Lôi), anh nầy
là phân chi khu trưởng Tân Xuyên ở Cà Mau, ngủ
giữa hai anh Xích và Thanh; hiện anh Thành định cư
ở San Jose (Bắc Cali).
Mùa nước lụt khủng
khiếp 1978, nhưng trại tù vẫn "tử thủ" và sau khi
nước vừa rút ló mặt đường, thì tên Trung úy Trần
Khen (tự là Tư Khen) dẫn 2 vệ binh tới nhà trong,
còng tay và dẫn anh đi về bộ chỉ huy, trước sự lo
lắng của nhiều người, nhất là những người có quan
hệ với anh một người bạn là anh trung úy Dương Văn
Th... (hiện định cư ở Mỹ) tình cờ làm lao động ở
gần bộ chỉ huy liên trại, nghe bên trong có tiếng
đánh đập và giọng anh Xích vang lên: "Các anh
không được đánh tôi, muốn gì hãy nói chuyện tử tế
với nhau". Anh bị nhốt trong Cornex gần bịnh xá.
Tết năm 1979, một số anh em nhận thăm nuôi, qua sự
dàn xếp bí mật của bác sĩ Trương Văn Thành (sư
đoàn 7), lén gởi thuốc, đồ ăn cho anh Xích, không
biết ai báo cáo, việc đổ bể và nhiều người bị bắt,
nhốt gần nửa tháng ở Cornex, trong đó tôi có biết
anh Lữ Phùng Quang (trung úy ban 2 ở Châu Đốc),
thiếu tá Nguyễn Văn Thà (quận trưởng) thời gian
sau ngày anh bị bắt thật căng thẳng, Hai Thâu, Ba
Minh, cán bộ lên lớp hù dọa đủ thứ để tìm ra tổ
chức anh Xich, nhưng không ai bị lọt bẫy và anh
Xích không hé môi dù bị đánh đập, hành
hạ.
Vào một buổi tối, lúc 10 giờ, thình
lình nghe tiếng súng nổ dòn ở phía hàng rào liên
đội 5, và tiếp theo đó là bộ đội mang súng chạy
rần rật ngoài đường lộ đất trong trại, y như có
đánh trận vậy. Tù ở trong nhà, không ai dám ra
sân, đi cầu ... hồi họp chờ đợi. Đến sáng hôm sau,
tên thượng úy Chính Sanh đến nhà ngoài ra lịnh 5
người khỏe mạnh làm công tác đặc biệt. Tôi có
người bạn thân là trung úy Người Nhái Trần Văn Xòn
đi trong toán công tác; anh Xòn cho biết anh Xích
bị bắn chết, nằm ngoài vòng rào liên đội 5, anh
cho biết sương đêm bám vào mái tóc vợn sóng bồng
bền và trên môi vẫn còn nở nụ cười ngạo nghễ tin
anh Xích bị giết làm chấn động mọi người, nhất là
người bạn tù thân thiết, từng sinh hoạt bí mật
trong nhóm từ Chi Lăng đến Vườn Đào.
Sau
khi giết chết Nguyễn Đức Xích, cán bộ trại tung
tin là: Anh Xích vượt trại nên bị bắn, ai cũng
biết đây là tin vịt, vì anh bị nhốt trong cornex
kiên cố, có khóa cẩn thận, thì làm sao thoát được.
Theo một nguồn tin về cái chết của trung tá Nguyễn
Đức Xích, dù là tin chưa kiểm chứng nhưng cũng xin
ghi lại để có thêm suy nghĩ: số là trong lúc anh
Xích bị nhốt trong cornex, có một bộ đội canh coi
được anh Xích giác ngộ, nên quí mến anh cho nên
cán bộ cấp trên biết được. Đêm đó, người cán binh
nầy muốn thả anh, nên lén dẫn ra tới hàng rào, lấy
cớ là đi cầu đám cán bộ biết được nên bắn chết anh
Xích và giết luôn người bộ đội. Tuy nhiên, ai cũng
biết đây là chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam,
chúng giết hết những người nào bị cho là nguy
hiểm.
Trong trại tù Vườn Đào, có đại tá
Phạm Chí Kim, tỉnh trưởng tại chức Kiến Hòa, được
giữ lại miền Nam và nghe nói được hưởng chính sách
"khoan hồng" về với gia đình; có thể nói trường
hợp đại tá Kim là hiếm hoi cấp cao như vậy mà còn
ở lại miền Nam. Ngoài ra còn có nhiều người đồng
cấp tá với anh Xích, nhưng về sớm như: trung tá
Hoàng Đức Thành (tức là Thành Nhà Đèn, sĩ quan
tiếp vận), trung tá An (thiết giáp), trung tá
Huỳnh Hữu Chỉ (tiếp liệu), thiếu tá Thái Sĩ (người
Huế, Công Binh, về rất sớm và được biên chế làm
Công nhân Viên cho trại tù), trung tá Nguyễn Thời
Rê (nguyên là tỉnh trưởng Châu Đốc)
Sau cái
chết của trung tá Nguyễn Đức Xích và đại úy Quách
Dược Thanh, để chạy tội, cán bộ trại tù Vườn Đào
tung ra nhiều hỏa mù, nhằm hạ kẻ thù, dù đã bị sát
hại; đó là một thủ đoạn vô cùng thâm độc, nên sau
nầy có nhiều nguồn tin như: gia đình anh Xích
không chung vàng, nên hai Thâu giết, hay là đại úy
Quách Dược Thanh báo cáo vụ tham nhũng bột ngọt
của thượng úy Chín Sanh với Ba Minh, nên bị Chính
Sanh giết trả thù. Có thể một số anh em tù thiếu
nhận xét mà nghe tin nầy từ đám ăn ten đồn trong
trại từ miệng của bọn cán bộ quản giáo, sau nầy
mang ra hải ngoại để tiếp tục hạ uy tín những
người tù bất khuất. Sau khi ở nước ngoài, tôi tìm
được gia đình anh Nguyễn Đức Xích, liên lạc với
linh mục Nguyễn Đức Sách và anh Nguyễn Đức Đơn
(anh qua đời đột ngột năm 2005). Theo tin tức của
anh Đơn cho biết thì gia đình đã lấy cốt anh Xích,
tro được giữ ở Việt Nam một phần và phần khác đem
ở tiểu bang Queensland (Australia), thế cũng tạm
yên cho những người bạn tù như tôi. Lúc còn ở
trong trại tù, anh Xích rất quí mến anh Quách Dược
Thanh, có lần nói: "Thanh ơi! Tại sao tao gặp mầy
quá muộn màng trong hoàn cảnh nầy?".
Những
người tù thân thiết với hai anh, nào quên những
lời nói, kỷ niệm, nhất là kính phục tinh thần bất
khuất của những người tù sau 1975, mà hai anh là
một trong rất nhiều người tiêu biểu. Anh Quách
Dược Thanh cũng có câu nói thật ý nghĩa với các
bạn tù, đàn em thân tình, cùng vững lập trường:
"Muốn sống để trả thù, dù phải ăn
cỏ...".
Nhân đây, người viết xin có ý kiến:
hầu hết các tù nhân đều có tờ giấy RA TRẠI do bộ
Nội Vụ Việt Cộng cấp. Trong phần kết án, có ghi
tội danh như: can tôi thiếu úy, thiếu tá .... đó
là những thứ tội mà thế giới nhận rõ là "vi phạm
nhân quyền" và hoàn toàn phi lý, phi pháp. Việt
Cộng đem vụ chất da cam thưa các hãng Hoa Kỳ, thì
những quân nhân cán chính cũng nên vận động, quyên
góp tiền để đưa bạo quyền Cộng Sản ra các tòa án ở
hải ngoại và đòi bồi thường những năm ở tù phi lý,
cũng như đòi bồi thường nhân mạng cho những người
bị giết với nhiều cách: bắn, tra tấn lao động, bỏ
đói, bịnh tật không thuốc men chăm sóc.
Nếu có được những người biết luật, các
luật gia giúp đỡ, phát động bởi những người tù có
uy tính như các tướng lãnh, vận động chính giới
các nước như Mỹ, Úc (nhất là các hội cựu chiến
binh từng tham chiến tại Việt Nam) thì tù nhân sẽ
dịch các tờ giấy ra trại bằng tiếng Anh, có thị
thực, gởi đến, càng nhiều người càng tốt nếu việc
nầy thực hiện, thì mỗi người H.O hay tù, dân, chỉ
cần đóng 1 đồng, cũng dư tiền để lo thủ tục pháp
lý. Một điều nữa là cái vụ kiện nầy cũng là bằng
chứng để tố cáo tình trạng vi phạm nhân quyền thô
bạo của đảng và nhà nước Việt Cộng trước công luận
thế giới; nếu không thành công nhưng cũng làm cho
bạo quyền Việt Cộng mất mặt đối với Liên Hiệp
Quốc, các nước Âu-Mỹ. Mỗi người một tay, mỗi cách
đánh, thì dù cho núi cũng phải bị san bằng, huống
chi cái chế độ bạo ngược Cộng Sản nầy đang trong
thời kỳ dẫy chết.
Cựu Thiếu Tá CSÐB Nguyễn
Thanh Thủy cùng chồng là cựu Ðại Úy Lê Thành Long
tại bàn giới thiệu kỷ vật làm trong tù.