|
Những Lời Nhắn Nhủ Sau Cùng của
Cố Tổng Thống Nixon Đối với Vấn Đề VN
Lời dịch giả:
Vài ngày gần đây, truyền thông Mỹ lại đề cập và chiếu những
cuốn phim tài liệu nhằm tưởng niệm cố Tổng Thống Nixon, một
vĩ nhân của Hoa Kỳ và thế giới. Dù không cùng máu mũ, nhưng
ḷng tôi cảm thấy bồi hồi xúc động, v́ tôi luôn ái mộ và
kính phục Ông, một quán quân chống cộng sản.
Cố Tổng Thống Richard Milhous Nixon ra đời năm 1913 và an
giấc ngàn thu nơi căn nhà thời hàn vi tại Yorba Linda,
California vào ngày 22 tháng 4 năm 1994, hưởng thọ 81 tuổi.
Bây giờ th́ những ṿng hoa tang đă tàn, những điếu văn tiếc
thương đă dứt, những lời chúc tụng vinh danh đă hết. Cố Tổng
Thống Nixon mang theo ông về bên kia thế giới tất cả những
vinh nhục của cuộc đời, những lời khen chê, thương ghét của
nhân loại. Cuộc đời ông với Watergate, với chiến tranh Việt
Nam, với Hiệp Định Ba Lê, với Trung Cộng, với Liên Sô v.v,
tất cả đă đi vào lịch sử.
Vào ngày 30 tháng 12 năm 1992, cố Tổng Thống Nixon tuyên bố:
“Không bang giao với cộng sản Việt Nam không những tới khi
Hà Nội cung cấp đầy đủ tin tức người Mỹ mất tích, mà c̣n cho
đến khi họ phải ngưng tức khắc mọi sự đàn áp dă man những
người từng chiến đấu sát cánh với quân đội Hoa Kỳ trong cuộc
chiến vừa qua, và cho tới khi Bắc Việt phải thực thi đứng
đắn các điều khoản trong Hiệp Định Ba Lê. Nó sẽ trở thành
một sự sỉ nhục ngoại giao nếu tiến tới b́nh thường hóa với
cộng sản Việt Nam trong lúc này.”
2009, đúng ngày giỗ thứ 15, ngồi đây, tôi xin dịch bài “Hoa
Kỳ có bổn phận lương tâm phải cứng rắn với Hà Nội” do cố
Tổng Thống Nixon viết vào năm 1992 với quan điểm chống cộng
triệt để.
Bài viết này của cố Tổng Thống Nixon là cái tát nẩy lửa vào
mặt những nhà “tranh đấu dỏm”, những con “kên kên chính trị”
tại quốc nội được các “ngài” Lănh sự Mỹ, Đại sứ Mỹ o bế nên
chỉ biết cúi đầu bưng bô và tuân phục theo lệnh quan thầy,
nên đă “hồ h i” lên tiếng ủng hộ chính sách giải tỏa cấm vận
và bang giao với cộng sản Việt Nam của cựu tổng thống phản
chiến và khuynh tả Bill Clinton, là gáo nước lạnh tạt thẳng
vào mặt những tên đón gió trở cờ, cơ hội chủ nghĩa tại hải
ngoại, và là một băi nước bọt phun vào mặt tên hèn tướng râu
kẽm Nguyễn Cao Kỳ và tập đoàn Việt gian vô liêm sỉ.
Hoa Kỳ có bổn phận lương tâm phải cứng rắn với Hà Nội
(America Has A Moral Duty To Play Hardball With Hanoi)
Richard M. Nixon viết
Ngô Kỷ chuyển ngữ
Sức mạnh của Hoa Kỳ: Chúng ta sẽ bỏ mất một lợi khí đ̣n bẩy
tốt nhất trong việc thúc đẩy chế độ bạo tàn cải cách nếu
chúng ta20đi bang giao và giao thương với chúng trong lúc
này.
Vào lúc chủ nghĩa cộng sản trút hơi thở cuối cùng tại cựu Đế
Quốc Ma Quỷ (Sô Viết) th́ Tây Phương lại tiến tới các chính
sách giúp cộng sản sống c̣n tại Việt Nam. Đây là một diễn
tiến vô cùng tệ hại. B́nh thường hóa quan hệ và băi bỏ lệnh
cấm vận của Tây Phương đối với cộng sản Hà Nội tức là cấp
dưỡng khí cho một chế độ mà chế độ đó đang đi xâm lược nước
ngoài và đàn áp dă man trong bản xứ..
Một vài quan sát viên lập luận rằng sự thừa nhận ngoại giao
sẽ thúc đẩy cải cách kinh tế và chính trị. Những người khác
th́ ích kỷ than phiền rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ mất cơ hội mậu dịch,
đầu tư vào tay Nhật Bản và Âu Châu nếu chúng ta chậm=2 0bước
trong việc thiết lập mối quan hệ mới. Các lập luận này không
những đă không hữu lư về chiến lược mà c̣n sai trong vấn đề
đạo đức nữa.
Các nước Tây Phương và đặc biệt là Hoa Kỳ vẫn thường áp dụng
biện pháp rút lại sự thừa nhận ngoại giao như là một phương
cách lên án các chế độ xâm lược áp bức, trừ trường hợp chính
sách ấy làm thiệt hại đến quyền lợi chiến lược của Tây
Phương.
Trong trường hợp Việt Nam th́ Hoa Kỳ và nhân dân Việt Nam
chẳng được lợi lộc ǵ nếu ban cho bọn tội đồ quốc tế Hà Nội
cái vỏ bề ngoài hợp pháp. Thời đại khủng bố mà cộng sản áp
đặt lên nhân dân miền Nam Việt Nam sau ngày bọn chúng xâm
lăng bằng vơ lực vào năm 1975 được coi là tàn bạo=2 0nhất
lịch sử.
Hơn một triệu người miền Nam Việt Nam bị giam cầm trong các
ngục tù kinh hoàng hoặc bị đày đi các trại lao động nơi rừng
thiêng nước độc, khủng khiếp đến nỗi nếu đem so sánh th́ hệ
thống ngục tù Gulag của Sô Viết vẫn được liệt vào loại khách
sạn tiêu chuẩn quốc tế 5 sao. Thêm vào đó, có khoảng sáu
trăm ngàn thuyền nhân đă chết mất xác trên biển Nam Hải khi
trốn chạy sự cai trị dă man của bạo quyền cộng sản Việt
Nam..
Ngay cả lúc này, các giới chức cộng sản Việt Nam vẫn công
khai nh́n nhận rằng họ không hề có ư định cởi mở hệ thống
chính trị.
Sau những phong trào cách mạng nổi lên chống đối cộng sản
tại Đông Âu năm 1989, Hà Nội đă phát động một chiến dịch đàn
áp rộng lớn cA 1c thành phần đối lập chính trị. Những người
từng phục vụ trong chính quyền miền Nam Việt Nam, luôn cả
con cháu của họ cũng đều bị đối xử một cách tàn nhẩn và bất
công. Hậu quả là con đường tỵ nạn vẫn là con đường một
chiều: hàng ngàn người sẵn sàng liều chết để ra đi và không
ai muốn trở lại. Ngay cả sau khi cộng sản Việt Nam rút khỏi
Cam Bốt, chính sách đối ngoại xâm lược của họ vẫn không thay
đổi. Họ vẫn điều khiển chính phủ bù nh́n Lào mà ở đó vũ khí
vi trùng và hóa học đă được xữ dụng để tiêu diệt kháng chiến
Mường.
Cộng sản Việt Nam vẫn c̣n giữ một lực lượng quân đội lớn vào
hàng thứ 5 thế giới và chi dụng hơn 15% tổng sản lượng quốc
gia để duy tŕ lực lượng quân C4ội ấy, lớn gấp 3 lần quân
đội các nước Tây Phương, mặc dù lợi tức đầu người hàng năm
chỉ có 130 Mỹ kim và là một trong năm xứ có lợi tức thấp
nhất thế giới.
Sau hết, cộng sản Việt Nam đă vô liêm sỉ cản trở giải quyết
2,273 trường hợp người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt
Nam. Các cơ quan t́nh báo Tây Phương biết rằng Hà Nội đang
nắm giữ rất nhiều tin tức người Mỹ mất tích đă chết nhiều
hơn số mà họ đă giao cho các viên chức Mỹ. Thay v́ tự bạch
hóa, Hà nội lại đi vào con đường độc ác bằng cách tiết lộ
nhỏ giọt các tin tức và cứ mỗi vài năm lại nhả ra chút ít
mảnh hài cốt. Một chế độ như chế độ Hà Nội không đáng và
không nên được thừa nhận như một hội viên lưC6ng hảo của
cộng đồng quốc tế.
Nếu chúng ta thừa nhận và viện trợ kinh tế cho bọn cộng sản
cứng đầu tại Hà Nội, chúng ta sẽ bất trung không những đối
với nhân dân miền Nam Việt Nam đă chiến đấu chống bọn chúng
mà c̣n lại phản bội 56.000 binh sĩ Mỹ đă hy sinh mạng sống
và 8 triệu rưỡi người Mỹ khác đă phục vụ trung thành tại
Việt Nam. Sẽ có người lư luận rằng chúng ta tự mâu thuẫn khi
cô lập Việt Nam mà vẫn duy tŕ quan hệ với Trung Cộng sau vụ
Thiên An Môn. Vấn đề không phải như vậy. Trung Quốc là một
nước lớn mà các hành động của họ đều có ảnh hưởng tới quyền
lợi của Hoa Kỳ trên khắp thế giới, c̣n Việt Nam th́ không
được như vậy. Đảng Cộng Sản Trung Hoa có một phe cánh lớn
trong quá khứ do Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương lănh đạo đă
ủng hộ việc cởi mở chính trị.. C̣n Việt Nam th́ không có
điều này. Chỉ ở Trung Quốc mới có sự tiếp tục theo đuổi
chiến lược tốt đẹp nhất để thực hiện cải cách qua sự thay
đổi trong ḥa b́nh.
Bây giờ là thời điểm nguy kịch của chế độ cộng sản Việt Nam.
Bị Mạc Tư Khoa cắt đứt viện trợ hàng năm 2 tỷ Mỹ kim. Hà Nội
sẽ trở nên suy nhược bởi sức ép của sự phong tỏa kinh tế do
Tây Phương gây ra, giống như sự suy nhược của Ba Lan v́ sự
trừng phạt của Tây Phương sau khi đất nước này bị ban bố
t́nh trạng thiết quân luật, kết quả là đă áp lực được chính
quyền Warsaw phải cởi mở hệ thống chính trị vào năm 1989.
Bọn lănh đạo cộng sản Việt Na m không phải là những nhà hiền
triết cũng không phải là những kẻ ngu đần.. Chúng là những
tên độc tài khát máu, chẳng bao giờ chịu nhả ra điều ǵ nếu
không có áp lực của Tây Phương.
Lợi khí để áp lực tốt nhất của chúng ta là sự b́nh thường
hóa các mối liên hệ và các món lợi kinh tế do sự b́nh thường
hóa đưa đến. Nếu bây giờ chúng ta không đạt được cái ǵ cụ
thể trước mắt như việc có được một cuộc tổng tuyển cử tự do
tại Lào, một nền kinh tế thị trường tự do tại Việt Nam, chấm
dứt sự đày đọa các viên chức miền Nam Việt Nam, và cải cách
chính trị tại Việt Nam, th́ chắc chắn chúng ta chẳng buộc
được Hà Nội phải chấp nhận những điều đó trong tương lai. Và
nếu cộng sản Việt Nam không chịu nhúc nhích th́ ta chẳng có
lợi ǵ để mà thổi sinh khí cứu vớt cái xác của con tàu đế
quốc Sô Viết đă ch́m đắm.
Chúng ta có bổn phận lương tâm phải cứng rắn với Hà Nội. Khi
Quốc Hội (Hoa Kỳ)nhẫn tâm cắt mất 80% viện trợ cho miền Nam
Việt Nam chống cộng sản trong hai năm 1974 và 1975, Quốc Hội
ấy đă xô nhân dân miền Nam Việt Nam vào một thảm họa kinh
hoàng của nhân loại.
Trong khi chúng ta đang ăn liên hoan mừng sự sụp đổ chủ
nghĩa cộng sản, chúng ta nên quyết tâm xử dụng sức mạnh mà
chúng ta đang có trong tay để áp lực bọn Hà Nội phải chấm
dứt đàn áp những người đă dũng cảm chiến đấu bên cạnh quân
đội của chúng ta cho cùng một lư tưởng.
America has a Moral Duty to Play Hardball with Hanoi
< FONT face=Arial size=4>
By Richard M. Nixon
As communism gasped its last breath in the former Evil
Empire, the West has moved toward adopting policies that
help keep it alive in Vietnam. This is an appalling
development. To normalize relations with and lift the
Western trade embargo against the Communist government in
Hanoi would give a life-support system to a regime that is
engaging in aggression abroad and brutal repression at home.
Some observers argue that granting diplomatic recognition
will foster economic and political reform. Others selfishly
complain that the United States will lose trade and
investment opportunities to Japan and Europe if we drag our
feet in establishing new relations. These arguments are not
only strategically unsound; they are morally flawed.
It has been a common practice for Western nations and
particularly the United States to use the withholding of
diplomatic recognition as a means to condemn the legitimacy
of aggressive or regressive regimes, unless such a policy
harmed Western strategic interests.
In the case of Vietnam, no interest of the United States or
the Vietnamese people would be served by bestowing the
appearance of legitimacy on the international outlaws in
Hanoi.
The reign of terror imposed on South Vietnam after its
conquest by communist forces in 1975 was among the most
brutal in history. More than 1 million South Vietnamese w
ere sent to shockingly miserable prisons or rural work camps
that made the Soviet gulag look like a five star hotel by
comparison. In addition, an estimated 600,000 boat people
perished in the South China Sea while fleeing Vietnam’s
barbaric rule.
Even today, Vietnamese officials candidly amid that they
have no intention of liberalizing the political system.
After the anti-communist revolutions in Eastern Europe of
1989, Hanoi launched a widespread crackdown on political
dissent. Those who served in the South Vietnamese government
or army – even their children and grandchildren – continue
to be ruthlessly persecuted and discriminated against. As a
result, refugee traffic is still all one-way: Thousands are
willing to risk death to get out, and none want to go back.
Even after Vietnam’s withdrawal from Cambodia, its
aggressive foreign policy remains unchanged. It still runs a
puppet state in Laos, where chemical and biological weapons
have been used against the Hmong resistance. It also
maintains the fifth-largest military in the world and spends
more than 15% of its GNP on its armed forced – three times
the level of Western countries – despite the fact that its
annual per capita income is only $130, one of the five
lowest in the world..
Finally, the Vietnamese have been cynically obstructionist
in resolving the case of the 2,273 Americans listed as
missing in action from the Vietnam War. Western intelligence
services know that Hanoi has more information abo ut many
MIAs who died than it has presented to American officials
Instead of coming clean, Hanoi engaged in a cruel and
macabre exercise of parceling out information and the
remains of our servicemen bit by bit few years.
A regime like the one in Hanoi does not deserve and should
not receive recognition as a member in good standing of the
community of nations. If we recognize and provide economic
aid to the communist hard-liners in Hanoi, we will break
faith not only with the South Vietnamese who fought against
them, but also with the 56,000 Americans who lost their
lives and the 8.5 million others who loyally served in
Vietnam.
Some might argue that it is inconsistent to isolate Vietnam
while maintaining relations with China after Tine an Men
Square. That is not the case. China is a major power whose
actions affect American interests around the world. Vietnam
is not. China’s Communist Party has a major faction, led in
the past by Hu Yaobang and Zhao Ziyang, that supported
political liberalization; Vietnam’s does not. Only in China
is continued engagement the best strategy for fostering
reform through peaceful change.
It is a critical moment for Vietnam’s Communist regime. With
the imminent cutoff of Moscow’s $2.5-billion annual subsidy,
Hanoi could become as vulnerable to the squeeze of the
Western economic embargo as Poland was to the post-martial-
law sanctions that ultimately forced Warsaw to open up the
political system in 1980.
Vietnam9 9s leaders are neither philanthropists nor fool.
They are tight-fisted totalitarians who will give up nothing
without Western pressure. Our great leverage is
normalization of relations and the economic benefits that
will flow from it. If we do not get something upfront in
return-free elections in Laos, demilitarizing Vietnam’s
economy, terminating the persecution of former South
Vietnamese officials, and a start to political reform in
Vietnam – we will never get it out of Hanoi in the future.
And if the Vietnamese refuse to budge, it is not in our
interest to throw a lifeline to the flotsam of the wreck of
the Soviet empire.
We have a moral duty to play hardball with Hanoi. When
Congress recklessly cut aid to the an-communist South
Vietnamese by 80% in 1975 and 1975, it doomed them to a
catastrophic human tragedy. As we celebrate the defeat of
the ideology of communist, we should commit ourselves to use
the power that we have to try to force Hanoi to end its
oppression of those who fought bravely with our troops in
that same cause.
|