NHỮNG GIÁ TRỊ CĂN BẢN
CHO XĂ
HỘI-CHÍNH TRỊ
Nam Giao Lê Thiện
B́nh
|
Thành Kính Dâng Hương Hồn
Ba Mạ! Người đă hy sinh tất
cả cho con, ngay đến cái
chết cho con được sống, được
hiện hữu với đời và với
người. Người đă dạy con phải
biết “làm người luôn trọng
tín nghĩa, trung hiếu, đạo
đức nhân bản. Làm một con
người luôn đứng thẳng, yêu
Đất Nước Đồng Bào cùng Tổ
Tiên ḿnh. Biết xă thân v́
Nước v́ Dân khi Tổ Quốc lâm
nguy”. |
|
I. DẪN NHẬP
Trước đây, chúng ta đă cùng nhau khảo cứu và chung
nhau t́m hiểu về “Thực Chất Những Cuộc Cách Mạng
Trong Thế Giới”, để hiểu thế nào là cuộc cách mạng
chân chính, đem lại no ấm, hạnh phúc và an thái cho
người dân.Và những cuộc cách mạng nào đă đem lại đau
khổ và bần cùng hoá người dân.Cũng từ đó người dân
hiểu cách mạng như thế nào, để cùng nhau phát động
cao trào cách mạng cải đổi chế độ phỉ quyền Hà Nội
thối nát hiện nay. Nay qua bài mới “Những Giá Trị
Căn Bản Cho Xă Hội-Chính Trị” này, chúng ta lại có
dịp cùng nhau t́m hiểu và khảo luận về các ư nghĩa
của những giá trị căn bản cụ thể này. Để rồi, người
dân hiểu được các quyền căn bản của ḿnh mà tranh
đấu, đ̣i lại cái quyền sống làm người đúng nhân vị,
và phẩm chất của ḿnh.Khi người dân đă hiểu họ có
những quyền rất cao trọng, ắt mới biết cái giá trị
làm người của ḿnh mà nỗ lực đ̣i lại.V́ có những
quyền Thượng Đế ban cho con người ngay từ lúc c̣n là
bào thai nằm trong bụng mẹ. Lư thực, con người đă có
cái quyền sống và tự do được sống và mở mắt chào ánh
nằng mặt trời cùng vũ trụ huyền diệu, rồi sống tươi
nở về thể lư, tinh thần, tâm linh, tâm lư vv.
Thế nhưng,
khổ đau cho người dân Việt trải dài bao thế hệ qua,
đă bị một chế độ phi nhân bản, do tập đoàn phỉ quyền
Hà Nội chuyên chế độc tài, cùng cái Đảng gian phi
Việt cộng nắm quyền. Chúng cai trị dân với chính
sách sắt máu bằng súng đạn và cái c̣ng, bằng dây
xích và bỏ đói, bằng cưỡng bức lao động và tù đày,
rồi khủng bố cùng ám sát và giết người.Vả nữa ḷng
tham của chúng vô đáy, chúng dùng thêm một chính
sách cướp đoạt các tài sản của người dân.Thế đó, một
mặt, phỉ quyền Hà Nội bóc lột tài sản của dân, giết
chết cùng bóp chết và tướt đoạt đi các quyền căn bản
ấy của dân Việt. Mặt khác Hà Nội bưng bít những sự
thật của truyền thông và báo chí ngôn luận.Chúng chỉ
thông tin một chiều và luôn trái sự thật, hoàn toàn
dối trá, lừa đảo và bóp méo trắng trợn các nguồn tin
quốc tế cũng như quốc nội. Đơn cử như bài diễn văn
nhậm chức của của tổng thống Barack Obama, phỉ quyền
Hà Nội đă cố ư đục bỏ, dịch sai ư.
V́ lẽ đó,
chúng tôi sau thời gian dài cố gắng nghiên cứu học
hỏi, nên xin viết bài này, không ngoài niềm khao
khát và cầu mong thông đạt đến người dân Việt những
giá trị nhân quyền, dân quyền căn bản này.Nhất là,
để người dân cùng chúng ta chung nhau hiệp lực tranh
đấu giải thể cái chế độ phi nhân của phỉ quyền Hà
Nội, và đánh sụp cái Đảng gian phi của chúng, đă gây
ra bao thảm họa cho người dân và Đất Nước Việt lắm
tang thương cùng ngục tối đọa đày.
Có
lẽ trong xă hội Việt Nam từ cổ chí kim, không có một
thực trạng nào đau thương và tủi nhục hơn cả của
người dân sống dưới chế độ phỉ quyền cộng sản Hà
Nội. Một Đất Nước đi đến cùng cực của vật chất lẫn
tinh thần.Nhất là các giá trị đạo đức, luân thường,
hầu như đă bị Đảng gianViệt cộng phá sản toàn
diện.Từ văn hóa đến chính trị cùng phong tục và mỹ
tục của cha ông, dần dần đă bị người cộng sản Việt
tiêu trừ. Sự phá sản các giá trị tinh thần, xă hội
và chính trị, cũng như xem thường luật pháp và các
tài nguyên quốc gia, đă lộ cho chúng ta thấy: một
chủ nghĩa cộng sản Việt kém văn hóa và văn minh.
Thêm nữa một con người có “tư tưởng u tối” chỉ giỏi
đạo văn, và đạo thơ của nguời khác làm của ḿnh,
chính là Hồ Chí Minh, Đảng trưởng cái Đảng gian phi
của những tên Việt gian cộng sản.Ông là người học
vấn chưa bước lên được bậc thềm của ngôi trường
trung học.Bản chất là người thiếu học và nhận thức
như thế, lại “kém trí tuệ” nên mù quáng chạy theo
những lư thuyết không tưởng sai lạc làm hại con
người và dân chúng. Điểm đáng nói ở đây là Hồ Chí
Minh và cái Đảng gian phi Việt cộng không tôn trọng
người dân cũng như các giá trị căn bản thực thi cho
người dân.Ông và đàn em của ông chỉ giỏi có một điểm
là làm tay sai cho Nga và Tàu cộng thôi. Thật là
cảnh đau thương cho Quốc Gia chúng ta, là bị cướp
quyền và cai trị bất chính do một lớp người kém văn
hóa, kém học thức cùng thiếu hiểu biết phổ quát
trong các lănh vực kinh tế, chính trị-xă hội hay đạo
đức luân lư như chúng tôi đă nói trên. Thế nhưng
ḷng chúng th́ quá nhiều tham vọng và độc ác, cứ cố
bám víu vào quyền lực, và dưạ lưng, chịu làm nô bộc,
tay sai đặc lực cho bọn Rợ Hán Bắc Kinh như những
loại “khuyển mă” trong nhà, nên đă đưa đẩy Đất Nước
và Dân Tộc Việt đến tận cùng vực thẳm của nghèo đói,
phi giá trị luân lư và đạo đức.
Hiển
nhiên, những giá trị căn bản của chính trị và xă hội
bị họ chà đạp đến tận cùng gốc rễ một cách trắng
trợn. Tủi nhục cho Dân Tộc chúng ta với ngoại bang,
là các phần tử cộng sản Hà Nội cướp quyền bất chính
trong qúa khứ cũng như hiện thực, chính họ không
được đào tạo, không được giáo dục cái tối thiểu hiểu
biết của việc làm chính trị. Cũng thế họ không được
đào tạo học hỏi và xuất thân từ các trường đại học
khoa bảng… Để ít nhất, người cộng sản Việt cũng có
thể nhận chân ra những căn bản của luật pháp, nhân
quyền, công bằng và tự do cùng độc lập v.v., mà tất
cả các cộng đồng chính trị, các quốc gia trên thế
giới họ cố gắng thực thi những quyền căn bản này vào
đời sống hằng nhật của người dân ḿnh.
Thực, con
người không hẳn là một người thuần tính lư trí,
nhưng cũng con người đó, có bản tính tự nhiên hướng
về thú tính.Bởi thế, con ngướ cần phải được đào tạo,
học hỏi, lắng nghe, khảo sát, tiếp nhận những tinh
túy, cái hay của cha ông cũng như của nhân loại, để
thăng hóa ḿnh và thăng hóa tha nhân. Cũng thế, con
người phải được dạy cho hiểu bổn phận, trách nhiệm
của ḿnh đối với cộng đồng quốc gia; cũng như họ
biết thừa nhận những sai lỗi của ḿnh và biết cải
tiến.Nhất là, những vị chăn dân, làm chính trị càng
hiểu rơ bổn phận cùng trách nhiệm của ḿnh hơn đối
với cộng đồng dân tộc.
Do đó, qua
bài “Những Giá Trị Căn Bản Cho Xă Hội-Chính Trị”,
th́ chúng tôi không mong ǵ hơn, là chúng ta cùng
nhau đào sâu ư nghĩa về những giá trị thực tế đó:
như là tự do, nhân quyền, công bằng và công minh về
hiến pháp, luật pháp của xă hội-chính trị.
II. B̀NH AN
VÀ CÔNG MINH CHÍNH TRỊ HAY LÀ HIẾN PHÁP VÀ LUẬT PHÁP
QUỐC GIA
“Con người, theo bản tính tự nhiên là một hữu thể xă
hội-chính trị”, đó là tư tưởng triết học nhận
định.Bản tính xă hội chính trị này là dấu chỉ con
người nghĩ đến nguyên nhân của nhiều phức tạp cùng
đa tạp bất đồng, đó là theo ngành nhân loại học phân
tích.V́ thế, con người cần sự hổ tương và giúp đỡ.
Con người phải chấp nhận cần đến những giá trị nhân
bản, để thông thương và truyền đạt cho nhau sự sống.
Cái căn bản cần thiết của sự tương quan xă hội chính
trị này (socio-politique) là hiệu lực sống c̣n của
con người và nhân loại. Cũng thế, để con người có
được đời sống tươi nở, hầu tạo nên cái nhân vị cho
ḿnh, cũng như cái lư do chính đáng để con người
thực hiện cùng sáng tạo những công tŕnh khoa học,
không những trong lănh vực xă hội chính trị, mà c̣n
trong nhiều lănh vực khác là văn hoá, nghệ thuật,
triết học và tôn giáo v.v..
Chúng tôi
được biết nghành nhân loại học cũng nghiên cứu nhiều
vấn đề như: t́nh yêu, tính dục, luân lư, thiên tính,
bản năng, những nhu cầu chính đáng của trẻ em mới
sinh, nhu cầu làm việc và sự chọn lựa việc làm, hoặc
dễ dăi khi ra đi v.v. Nhất là, những tiềm năng của
ngôn ngữ và lư trí con người.
Tuy nhiên
cái bản tính chính trị là một bản tính bên cạnh bản
chất thực của con người (l’essence humaine).V́ bên
ngoài những khuynh hướng xă hội và cộng đồng, th́
con người cũng có khuynh hướng chống lại xă hội và
cộng đồng, nên thường dễ tạo những cuộc xung đột,
đánh nhau, chiến tranh hoặc hận thù v.v.
Đă là con
người, th́ họ cần sống chung với đồng loại, và liên
hệ với tha nhân. Tuy nhiên sự sống chung này, không
luôn được che chở do những tiêu chuẩn của các quy
luật đề ra. Ngược lại, điều vừa nói đó luôn gặp khó
khăn trở ngại bởi những khác biệt: như là ư kiến,
màu da, gịng giống, chủng tộc, giai cấp, hay v́
những ganh ghét, chống đối, hoặc nữa v́ những quyền
lợi chính trị, thương mại. Hay nữa, là do những hiếm
hoi về tài sản vật chất, tài nguyên quốc gia, vả nữa
cũng do những dục vọng muốn chống lại xă hội.Tất cả
các điều nói đó tạo nên sự ghen tị, hận thù, tham
vọng.Do đó, chúng tôi cảm nghĩ sự sống chung như thế
qủa là một hiện thực khó khăn cùng nan giải.
Thiết nữa
chúng tôi thấy sự sống chung luôn bị những con người
hành động theo ư muốn tự do, mà họ cho là sự sống
tuyệt đối tự do, chính họ là người thường gây rối.Lư
ra, những con người này không thể làm cản trở sự
chia sẻ và thông phần chính ḿnh cùng một không
gian, một mảnh đất sống với đồng loại. Hơn nữa, điều
tối thiểu là họ nên ư thức rằng ḿnh không thể làm
cản trở sự sống chia sẻ này với tha nhân.Có nghĩa là
cho kẻ chia sẻ với họ đó cùng một thời gian và không
gian thực, cũng như chớ làm cản trở ảnh hưởng của
những người này đối với người khác khi đă sống
chung.V́ thế, sự kiện này không chỉ có giá trị cho
hoàn cảnh mà những người khác khi đă sống chung, đối
lại cũng có giá trị cho người muốn sống chung. Lư do
trên chúng tôi nêu ra để ai muốn thiêt tạo đời sống
chung, th́ chớ nên làm cản trở hay phá ảnh hưởng của
người anh em đối với người khác. Nhất là, cho những
người theo con đường ư muốn tự do không làm cản trở
tư tưởng, đời sống của tha nhân.Bởi việc này có thể
đi đến những cuộc xung đột dễ tạo hận thù và chiến
tranh triền miên.
Sau nữa,
chúng tôi lưu ư đến các năng tính của con người.Con
người ai cũng muốn trục xuất những cuộc xung đột ra
khỏi đời sống của ḿnh.Bởi các cuộc xung đột làm
trầm trọng thêm đời sống, đôi khi dẫn đến chiến
tranh và sự chết như chúng ta đă thấy xảy ra đó đây
trên trái đất ta sống.V́ thế sự rủi ro đưa đến các
cuộc xung đột, có tính cách phổ quát cho con người
theo hai điều kiện sau đây:
1 V́ nhiều
người chia sẻ sống cùng một không gian thực, và
2. Họ theo
đuổi con đường tự do ư muốn (libre arbitrer).
Chúng tôi
được biết có những người đưa ra các biện bác và bác
luận chống lại đề nghị trên.Những biện bác cùng bác
luận đó là do các tư tưởng gia marxistes như Marcuse
hay Macphreson. Tuy nhiên, các điều này không những
chỉ có trong thuyết marxisme mà người ta bắt thấy
các bác luận này, là chống lại những đề luận rủi ro
xung đột của thế giới, của xă hội con người.Song
người ta cũng bắt thấy các đề luận như thế do những
tư tưởng gia tự do, ví dụ như Hume vá gần chúng ta
hơn cả là J. Raws. Theo các tư tưởng gia marxistes
và tự do, th́ họ bênh vực cho thuyết chỉ có xung đột
trong trạng thái (thực cảnh) mà hai điều kiện khác
nhau thường hiện hữu như sau:
a)
Nhiều người khác biệt về nhu cầu quyền lợi;
b) Thực
trạng về kinh tế không dồi dào và phong phú.
Từ đó
chúng tôi nghĩ rằng ai bênh vực và ủng hộ ư kiến cho
hai điều kiện trên là tất yều, tức là họ chấp nhận
một trạng thái xung đột chầm chậm.Họ cũng có lư do
thừa nhận rằng trong trường hợp mà các điều kiên
trên không xảy ra xung đột, là nhờ vào những quy tắc
luật pháp minh xác. Theo lư của họ, để có thể giải
quyềt những bất đồng trên, th́ có một sự hoà điệu
của quyền lợi và sự phong phú tài sản vật chất.Như
thế, chúng tôi nghĩ những quy tắc và các giá trị xă
hội-chính trị là vô ích chăng (superflues)?
Thực vậy,
ngoại trừ ư kiến cụ thể về hai điều kiện khác nhau
là điều tất yếu, th́ ư kiến của các tư tưởng gia
marxistes hoàn toàn trái ngược với các tư tưởng gia
tự do – Theo họ, ở đây là một sự sống chung không có
các bổn phận xă hội và chính trị.Có nghĩa là sự giao
thông và tác dụng hổ tương (interaction) không hạn
chế.Chúng tôi nghĩ thực là một t́nh trạng vô chánh
phủ (anarchie).Bởi một quốc gia không có nhà cấm
quyền (un Etat sans aucune autorité politique) là
điều ảo tưởng của họ.
Trái lại
những tư tưởng gia marxistes và tự do trên, th́
chúng tôi nghĩ hai điều kiện khác nhau này, là không
phải tất yếu. Trước hết, theo chúng tôi tưởng th́
người ta chỉ có thể giàu có về sự tương quan, và họ
không có cái giàu có tuyệt đối vế tài sản (chẳng hạn
sau khi phỉ quyền Hà Nội cưỡng chiếm Miền Nam, nhiều
người dân Miền Nam và người giàu có đă bị chúng cướp
sạch.Hay cuộc khủng hoàng tài chánh của các ngân
hàng ở Mỹ vừa qua đă lây lan cả toàn cầu. Nhiều nhà
tỷ phú tiền rừng, bạc bể chỉ trong một đêm, sáng
ngày mai bi mất hằng tỷ mỹ kim.Người ta ước tính số
tiến “đốt đi” trên toàn cầu vào khỏang 35 ngàn tỳ Mỷ
kim).Thề nhưng, chúng tôi thấy trong một vài lănh
vực, th́ sự giàu có và phong phú không thể có tuyệt
đối: đơn cử trong những tác phẩm mỹ thuật có cái độc
nhất như bức tranh thời danh La Joconde của đại họa
sĩ Léonard de Vinci.Hoặc nữa, như các nhà ẩn tu, các
vị ấy có cái nét độc đáo của ḿnh.Con người cũng có
những nghề nghiệp thượng đẳng, như các viện trưởng
đại học hay các vị thẩm phán của tối cao pháp viện.
Chúng tôi
nhận thấy những tài nguyên đơn giản như là nước,
không khí, đất đai và năng lượng sẽ trở nên khan
hiếm, tạo lo âu cho thế gíới ngày nay.Ví dụ những
liên quan đến các tài nguyên này, có thể tạo nên sự
nguy hiểm tranh dành, xung dột, và chiến tranh đánh
nhau để chiếm đoạt.Như người ta nói nguồn nuớc là sự
sinh tử của dân Do Thái. Thế nên, cuộc chiến tranh
đánh nhau của người Do Thái và khối Arabe và
Palestin trước đây và bây giờ một phần cũng do sư
sinh tử của nguôn nước này. Cũng như vấn đề năng
lượng, là dầu hỏa mà người Mỹ qua chánh quyền ông
Bush đă bằng bất cứ mọi giá đánh cho gục chánh phủ
Sadam Husen.Ông đă bất chấp sự không đồng ư của các
đồng minh Pháp, Đức và Liên Hiệp Quốc, cũng như bỏ
ngoài tai các lời khuyến can của Đức cố Giáo Hoàng
Phao Lô đệ nhị không nên đánh chiếm Irak.. Ông Bush
đă ra lệnh cho quân đội Mỹ đánh phủ đầu Sadam Husen,
và chiếm cho được Irak, là nơi có các mỏ dầu hài ra
tiền cho Mỹ. Chúng ta thấy ngay cả trong hoàn cảnh
sung măn giàu có, kể cả những người có nhiều quyền
lợi trong một xă hội, song chúng ta thấy rằng vẫn có
thể xảy ra những xung đột, tranh dành khó có thể
tránh được.
Vả nữa,
chúng ta có thể khảo sát thêm để nhận ra, không chỉ
ở những đứa bé mới có tranh chấp, mà ngay cả những
người lớn vẫn có các tranh chấp này. Thêm nữa, các
tranh chấp không chỉ vài người, nhóm người, mà ngay
các đảng phái và quốc gia, vẫn thường có những xung
đột, tranh dành, ẩu đả thường xảy ra.Chẳng hạn như
cái Bộ Tà Trị và cái Đảng gian phi Việt cộng của Hà
Nội, chúng nó tranh ăn hối lộ, tham nhũng, chúng nó
dành nhau cướp đất, cướp tài sản của người dân vv.
Lắm lúc tranh ăn, tranh cướp với nhau ăn chia không
đều, chúng lại hạ sách cho lệnh thủ tiêu, hay cho xe
đụng gây ra các tai nạn chết người.
Tại sao
chúng làm như thế?Bởi lư do họ không có những kiểu
mẫu, những quy phạm giống nhau về luân lư và đạo đức
chính trị.Hơn thế nữa, ví họ có những nhu cầu và
quyền lợi không được thỏa măn. V́ sự không thảo măn
đó tạo nên cho họ những khát vọng.Và bởi họ có quá
nhiều tham vọng và dục vọng, nên họ khao khát chế
ngự người khác.Nói tóm lại, những cảnh tranh dành,
xung đột là được xây trên các hành vi tự do (theo ư
ḿnh, có tính cách chủ quan) cứ nghĩ rằng ḿnh có
quyền làm vậy, có tự do hành động như thế v.v..Và
nhất là, v́ con người sống trong cùng một không
gian, một giải đất.Do thế, người ta có thể nói rằng
những thực trạng xung đột, đánh nhau là cái liên
quan gắn chặt vào đời sống của con người mà họ sống
vậy. Bởi thế, mục đích cao cả của tôn giáo và triết
học là loại bỏ t́nh trạng không có một khuôn khổ
chính trị, không có những giá trị nhân bản làm mẫu
mực cho xă hội và con người.Để rồi nhờ những quy tắc
mẫu mực và giá trị nhân bản đó làm phẩm chất tốt đẹp
cùng công minh cho cộng đồng loài người để sống
chung.
Thế nên,
để loại bỏ điều khinh thi và ngộ nhận, th́ sự đề
nghị tranh chấp, là không thể được xây dựng trên một
h́nh ảnh của con người bi quan, tụ hội bè phái, khao
khát thống trị và tham vọng chế ngự anh em ḿnh. Đề
rồi từ đó sinh ra dùng vũ lực thô bạo hoặc những đ̣n
thù độc để mưu hại anh em.Thực ngay cả những con
người đă hướng về mưu cầu hạnh phúc cho đồng loại,
có thể họ cũng có những cuộc tranh chấp.Song, chúng
tôi nghĩ những cuộc tranh chấp này thường liên quan
đến điều tốt, điều đẹp, điều thiện và ích lợi cho
đồng loại.V́ các vị ấy muốn thực thi những điều công
bằng cho tha nhân. Đơn cử như Cha Nguyễn Văn Lư, Đức
Tồng Giám Muc Ngô Quang Kiệt, Cha Vũ Khởi Phụng, Ḥa
Thưọng Thích Quảng Độ, Mục Sư Nguyện Công Chính vv.
Do vậy, những cuộc tranh chấp trong chiều hướng xây
dựng nhân bản này, th́ có một hành động của lư tưởng
cao cả để mưu cầu và tạo hạnh phúc cho đồng loại,
cho đồng bào hay giáo dân của ḿnh.
Từ đó,
chúng ta hiểu rằng cái quan điểm trên rất là quan
trọng, để tránh cho ḿnh khỏi rơi vào trạng thái ích
kỷ và quy ngă, quy đảng thái qúa.Có nghĩa là chúng
ta không đi vào cuộc tranh chấp, tranh biện giữa các
tư tưởng gia cộng sản độc tài hay tự do phóng
túng.Qủa thực có biết bao nhiêu lư do mà những người
thực tiễn chung sống và chia sẻ cùng một bầu trời,
một gịng sông cùng một giải đất vv. Họ thừa nhận
ảnh hưởng và quyền lợi của nhau, tôn trọng ảnh hưởng
của người này trên các người khác mà không xảy ra
những cuộc ẩu đả và xung đột, không tranh đấu giai
cấp đến đổ máu, đầu rơi như người cộng sản chủ
trương.
Thực thế,
con người không mấy ai muốn diễn tiến xung đốt xảy
ra v́ những trái ngược và mâu thuẫn đối với quyền
lợi của ḿnh.Tuy thế, nhưng chúng tôi thấy qủa là
khó tránh những xung đột, bất đồng lắm lúc xảy
ra.Chúng ta nhận thấy như các xă hội Tây Phương
chúng ta đang sống, những đồng dạng và đồng hang
cùng đồng đẳng của các quy luật và nên tảng giá trị
của xă hội chính trị, đôi khi chưa đủ chính thức hóa
và hợp pháp hóa, mặc dầu những giá trị nhân bản đó
có tính cách phổ quát cho con người. Bởi thế, chúng
tôi nghĩ phải có một đề nghị cho việc sống chung
b́nh an được thực hiện do những thể chế, định chế
chính trị xă hội tạo nên.Thể chế hoặc định chế đó sẽ
hướng về những quy tắc, quy luật, quyền lợi, và
chúng có giá trị chung cho mọi người.Và chỉ có sự
sống như thế mới bảo đảm việc ḥa b́nh và công minh
giữa con người với nhau.
V́ vậy cái
điều kiện cùng nền tảng thiết tạo và bảo vệ b́nh an
cũng như công chính giữa con người với nhau, th́ đây
là một khuôn khổ cùng quy luật chính trị, hầu làm
giảm bớt những cuồng vọng, những tham vọng thống trị
của những người mưu cầu chế trị kẻ khác; và trong
khi đó cùng một lúc bảo đảm được cho mọi người có sự
sống an thái cũng như có được một không gian độc lập
cho sự sống riêng tư của ḿnh.Các điều nói này cần
được thực hiện theo những nguyên tắc, cũng phải được
thực hiện đồng đều cho tất cả mọi người dân, và cho
tất cả hoàn cảnh chính đáng của họ.Điều ấy muốn nói
người dân chỉ có b́nh an và hạnh phúc khi tất cả các
việc làm chính trị ngay thẳng và công minh.Từ suy tư
này, khi luật pháp của một quốc gia hướng về ḥa
b́nh và công chính, th́ nhờ b́nh an cùng công chính
đó bảo đảm bởi quyền của công chúng, th́ được gọi là
một h́nh thái luật lệ và hiến pháp quốc gia. Và một
quốc gia như thế, th́ luôn được thiết tạo trên những
quy thuận hổ tương của mọi người công dân có cùng
một nhân phẩm.Hơn nữa, trong một quốc gia có hiến
pháp và quyền luật được tôn trọng trong mọi hoàn
cảnh: như thể lư, tâm linh, kinh tế, chính trị, văn
hóa cùng xă hội v.v., th́ quốc gia này theo một
nguyên tắc chung và phổ quát.Đó là hướng về sự giới
hạn các hành động trái phép, cùng một lúc hướng về
việc bảo vệ sự sống chung cùng một không gian, một
lănh thổ, cũng thế cùng một lúc bảo vệ và duy tŕ sự
sống tự do cho các cá nhân và cộng đồng.
Khi một
quốc gia luôn hướng về nền công chính hay các nền
tảng căn bản tự do của các công dân, th́ được gọi là
một quốc gia có Luật Pháp và Hiến Pháp xác thực minh
định.C̣n các Nuớc cộng sản, tuy có hiến pháp và luật
pháp làm ra, nhưng người cộng sản luôn làm trái
những điều căn bản mà họ đă đề ra trong hiến pháp.
Như Bắc Kinh, Hà Nội, Lào, Bắc Hàn, Cu Ba v.v.
thường vi phạm vào luật nhân quyền.Một quốc gia có
luật lệ và hiến pháp minh định như thế, th́ đây là
nền tảng của con người theo quan điểm chính trị-xă
hội.Khi tổng thống, thủ tướng, dân biểu, nghị sĩ mà
phạm pháp và vi hiến do hiến pháp quốc gia đề ra, cứ
chiếu theo luật pháp quốc gia, chúng ta có quyền xử
tội và bỏ tù họ. Đẹp thay khi quốc gia có hiến pháp
được bảo vệ và tôn trọng, đó chính là thể hiện cái
giá trị chính trị-xă hội cốt yếu hơn cả.Các giá trị
chính trị- xă hội là những quyền căn bản của con
người, mà người ta gọi là Nhân Quyền, Human Rights,
Droits De L’Homme.
III. NHÂN
QUYỀN VÀ NHỮNG QUYỀN CĂN BẢN
Bất
cứ Hiến Pháp và Luật Pháp quốc gia nào, tự nhiên
luôn đ̣i hỏi phải có sự thích ứng đối với mọi người
dân.Và qua đó th́ cấu tạo nên một xă hội chính trị
có những nguyên lư quy phạm (principes normatifs,
normatives principles) hẳn hoi bằng những điều kiện
có tính cách phổ quát.Nhờ những nguyên lư quy phạm
này mà người dân chấp nhận một sự hổ tương (cộng
đồng), để sống chung đuợc: như là trổ nở của nhiều
lănh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật và
xă hội, tôn giáo v.v. Nguyên lư quy phạm đó phải thể
hiện những điều kiện b́nh đẳng phổ quát, nó có hiệu
nghiệm cho việc sống chung b́nh an của mọi người,
như là cộng đồng và quốc gia. Như thế, chúng ta có
thể nói tất cả mọi người dân đều có quyền trên những
điều này, có sự độc lập cho mọi hành động cụ thể của
cá nhân hay cộng đồng.Đây là những điều kiện căn bản
thuộc về người dân và đời sống của họ. Do thế, những
căn bản tất yếu phổ quát này được gọi dưới một danh
xưng là “Nhân Quyền, Human Rights, Droits De L’Homme”.
Nhân quyền được thể hiện bởi những quyền bẩm sinh,
những quyền tự nhiên, bất khả di nhượng và bất khả
xâm phạm (droits innés, naturels, inaliénables et
inviolables).Đó là những quyền tất yếu thuộc về
người dân, thuộc con người, làm người lẽ dĩ nhiên
phải có cho họ trong một cộng đồng chính trị, trong
một quốc gia.Bởi là con người sinh ra và sống th́
phải có điều kiện và nhu cầu như thế.Do thế, một
quốc gia văn hiến, th́ phải thể lộ cho thiên hạ và
quốc tế thấy được qua xă hội-chính trị của ḿnh hằng
nghiêm chỉnh tôn trọng những điều kiện căn bản tất
yếu này cho mọi người dân và cộng đồng quốc gia
chúng ta.
3.1. MỘT VÀI
KIỂU MẪU CỦA LUẬT NHÂN QUYỀN
a) Qủa một
điều kiện hiển nhiên: là để con người có tự do và sử
dụng tự do đúng nghĩa, đó là sự sống của người dân
mà Nhà Nước có bổn phận bảo vệ nhân mạng của họ.Việc
lo nghĩ tiên khởi và phận việc trước hết của luật
pháp, là bảo vệ sự sống hay an ninh cho người dân.
Đó là chống lại các việc bạo hành, chống lại các
việc trộm cắp, giết người, hăm hiếp, chống lại việc
buôn bán lậu các mặt hàng quốc cấm có tính cách nguy
hại đến nền kinh tế quốc gia, chống lại các việc
buôn bán ma túy v.v., làm suy thoái xă hội, và tạo
nên các tệ đoan xấu bất ổn cho dân.Các điều chúng ta
nói đây, th́ chế độ phỉ quyền Hà Nội không tôn trọng
và bảo vệ cho người dân.Trái lại, họ c̣n đi hà hiếp
người dân : điển h́nh cụ thể là công an trị của Đảng
gian phi Việt cộng mới đây đă chận đánh một thanh
niên đến ngất xỉu, dân chúng Gia Kiệm thấy bất b́nh,
nên đă ra tay can thiệp hầu bảo vệ cho anh thanh
niên bị công an Nhà Nước hại dân đó đánh. Chỉ có dân
cùng khốn bị hà hiếp, bị dập vùi xuống bùn đen, th́
thường ra tay nghĩa hiệp bênh vực lẫn nhau và bảo vệ
cho anh chị em của ḿnh bị lũ cường quyền bất chánh
vô học, phi đạo đức xử dụng “luật rừng” của cái “xă
hội chủ nghĩa cộng sản” ăn hại, làm càng muốn đánh
ai th́ đánh, muốn giết ai thi giết.Chúng tôi rất cảm
phục và hoan hô “tinh thần vị người, vị đồng bào, v́
máu mủ” được sinh ra từ một Mẹ Âu Cơ và một Cha Lạc
Long Quân. Ước ǵ các vị chức sắc và lănh đạo tôn
giáo, lănh đạo tinh thần, đồng ḷng hiệp lực với
quần chúng như dân chúng Gia Kiệm đây để bênh vực,
can thiệp và cứu lấy hằng chục triệu người dân Việt
hằng bị ức chế, bị đánh đập, bị bóc lột dưới nhiếu
h́nh thức kinh tế: cướp đất đai, ruộng vườn, nhà cửa,
cướp miếng cơm manh áo của dân lành, th́ phỉ quyền
Hà Nội, bọn công an du côn của chúng hết lộng hành.
Hơn nữa, với hào khí liên đới và đoàn kết cùng một
quyết tâm đem lại an thái, hạnh phúc cho dân Việt,
th́ quư vị có thể giải thế được chế độ phi nhân của
chúng, hầu cho dân chúng hít thở được không khí công
bằng, b́nh an, tự do, dân chủ và no ấm vv. Qủa thực
Đảng gian phi và tập đoàn phỉ quyền Hà Nội của chúng
thuộc chủng loại “vô tổ quốc, vô gia đinh, vô tôn
giáo” mà chúng tôn thờ và bái lạy các ông tổ là Karl
Marx, Vladimir llitch Oulianov (Lénine), Mao
Tsé-Toung hay Mao Zedong (Mao Trạch Đông).Những tên
trùm đồ tể, say máu tàn ác giết hằng chục triệu dân
lành vô tôi không gớm tay, thần thánh thấy cũng xót
xa cho dân chúng chết oan. Thế đó, các vị cứ để cho
những tên học tṛ côn đồ và “tà thuyết” của chúng
hoành hành, cho chúng hiện hữu và cứ măi làm hại dân
và tàn phá Đất Nước hoài như thế này sao? Ai cũng có
lần chết, ai cũng một lần nhắm mắt xuôi tay đi về
gặp lại ông bà, tổ tiên…Lúc ấy, các vị sẽ ăn nói ra
sao với các Đấng Tiền Bối, Anh Hùng, Anh Thư, có
công ǵn giữ Đất Nước và đánh đuổi các lọai quân xâm
lăng. Lúc đó, các vị nói ra sao với Hai Bà Trưng, Bà
Triệu Thị Trinh, Vua Lê Đại Hành, Vua Ngô Quyền, Đức
Trần Hưng Đạo, Vua Lê Lợi, Vua Nguyễn Huệ, Vua Hàm
Nghi, Thành Thái, Ông Hoàng Hoa Thám và Trương Công
Định, Cụ Phan Bôi Châu và Phan Châu Trinh, Ông
Nguyễn Thái Học, Cụ Ngô Đ́nh Diệm, Đức Hồng Y Trịnh
Như Khuê và Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, Linh
Mục Nguyễn Văn Vàng và Trần Học Hiệu,Thiếu Tướng Lê
Văn Hưng và Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Nguyên
Vỹ và Trân Văn Hai, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú và Đại
Tá Hồ Bá Cẩn, và vô vàn các chiến sĩ Việt Nam Cộng
Hoà đă nằm xuống, đă có công bảo vệ giang sơn khỏi
lũ giặc vô thần, vô tổ quốc, vô gia đinh cho chúng
ta được sống và hiện hữu cho đến ngày nay.
Chúng tôi
xin bàn luận tiếp các nhân quyền căn bản ở trên.Thế
nên, là Nhà Nước chính danh phải có các đạo luật: là
cấm đánh đập tù nhân trái luật, cấm uy hiếp họ hoặc
đày đọa thể lư và tinh thần tù nhân một cách dă man.
Như chúng ta thấy ở các xă hội Âu Mỹ văn minh, dân
chủ, luôn có các Hội Đoàn tranh đấu bênh vực cho tù
nhân: Điển hinh là Amnesty International, Human
Rights Watch, là những Hội Đoàn tranh đấu cho nhân
quyền nỗi tiếng trên thế giới.Chính họ là những hội
đoàn bênh vực cho nhân quyền bất khả xâm phạm này
với thể lư và tâm lư của con người.Bởi đây là những
luật tất yếu quan hệ đến đồng loại, có cùng một quê
hương dân tộc cùng thể hiện làm người như chúng
ta.Vả nữa, Luật Pháp Nhà Nước cũng phải ngăn cấm các
việc sát nhân và kẻ tự ư giết người, ngăn cấm các
việc trộm cướp, hủy hoại thân thể, các việc bạo hành,
hiếp dâm, làm gây bất an và rối loạn cho xă hội cùng
quốc gia. Luật Pháp Nhà Nước cũng phải bảo vệ và
bênh vực cho các việc bắt người trái phép cũng như
hành hung tù nhân trái luật có tính cách tư thù.
Cũng thế, v́ văn hóa và văn minh, Nhà Nước và Luật
Pháp phải ngăn cấm các h́nh phạt dă man và cách thức
tra tần tàn bạo.Thực các khoản luật nói đây, chúng
ta thấy phỉ quyền Hà Nội và Bộ Tà Trị cùng Đảng gian
phi của chúng đă vi phạm trắng trợn các luật nhân
quyền chúng ta vừa bàn trên. Mặc dầu Hà Nội đă kư
công khai trước bàng dân thiên hạ, và thế giới vào
các văn kiện Hiến Chương Nhân Quyền của Liên Hiệp
Quốc.Thế nhưng, phỉ quyền Hà Nôi kư vậy mà không
phải vậy! V́ bọn phỉ quyền Hà Nội đă ngược đăi, hành
hung, bỏ đói, tra tấn dă man, xiềng xích chân tay và
cổ các quân nhân cán chính cuả chế độ Sài G̣n. Sau
đó, nhốt họ vào trong các hầm tối đủ mùi hôi xu uế,
lại bắt các quân nhân cán chính Miền Nam khổ sai
ngày đêm, và đày ải các cha ông, chú bác, cô d́, anh
chi em thân yêu cuả chúng ta trong các trại giam tù
cực h́nh nhất trần gian này.Qủa con chó, con mèo khi
nhốt chúng vào đó chỉ có con đường chết, thế mà tập
đoàn phỉ quyền Hà Nội đă nhốt tù cha ông, chú bác,
cô d́, anh chị em chúng ta vào các trại tù ấy từ Nam
ra Bắc bao thập niên qua.
b) Một lẽ
tất yếu khác cho việc thực hiện sự tự do, là quyền
khả thế sử dụng các tài vật cho chính ḿnh.Điều này
có nghĩa là quyền tư hữu của con người.Tư tưởng nhân
quyên không nói chính xác như thế nào việc tạo nên
của riêng, và những tạo vật nào trở nên quyền tư
hữu.Nhưng, theo chúng tôi biết, th́ nhân quyền đ̣i
hỏi phải có cái khả thể tạo nên tài sản riêng, và
những tài sản đó của người dân phải được Nhà Nước
bảo vệ và che chở. Việc ấy muốn nói là việc ăn cướp,
cướp đoạt, cướp phá của tư cũng như của công, và sự
trưng thu trái phép (l’exporpritation arbtraire) là
trái pháp luật.Ở đây chúng ta lại thấy phỉ quyền Hà
Nội đă vi phạm luật nhân quyền sơ đẳng nhất, là đă
ăn cướp, cướp đoạt của dân chúng Việt Nam dưới chiêu
bài là “diệt trừ mại bản, đánh công nông thương”. Từ
đó, chúng đă cướp đoạt bao nhiêu tu viện, nhà thờ,
đ́nh chùa của các Giáo Hôi Công Giáo, Tin Lành, Phật
Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo vv, và cướp đi tài
sản mồ hôi, nước mắt, chén cơm, manh áo của người
dân. Cũng như nhiều h́nh thức ăn cướp khác có tổ
chức quy mô và chính sách cướp đoạt do những nhân
viên, cán bộ Nhà Nước và Đảng gian phi của Việt cộng
chủ mưu.Điển h́nh rơ nét là Bọn gian phi Đảng cướp
Hà Nội, chúng ngang ngược cướp đất của Tu Viện Thiên
An. Nhất là, vụ xôn xao dư luận trong Nước cũng như
Quốc Tế, là chúng cướp đoạt Toà Khâm Sứ Hà Nội Và
Giáo Xứ Thái Hà, chúng lại xông lên cướp luôn Tu
Viện Phao Lô của địa phận Vĩnh Long vv..
c) Điều
tất yếu nữa, là khi những người làm chính trị đă có
chính quyền, th́ theo như quy tắc giới hạn cho việc
bảo đảm hổ tương của tự do, tất nhiên không cho phép
có quyền ưu tiên, ưu đẳng của người làm chính
trị.Bởi tư tuởng nhân quyền đ̣i hỏi phải có sự b́nh
đẳng và công minh với mọi người.Hơn nữa theo tư
tưởng nhân quyền, th́ tất cả các công dân đều có
quyền tham dự vào chính trị và b́nh đẳng với nhau do
luật pháp quy định. Ở đây phỉ quyền Hà Nội và Đảng
gian phi của chúng đă dùng cường quyền áp chế không
cho người dân trực tiếp tham dự vào cái quyền bầu cử
vị nguyên thủ Quốc gia, và không cho người dân lập
một đảng phái nào khác ngoài cái Đảng gian phiViệt
cộng của chúng.
Nói một
cách khác quát: tư tưởng nhân quyền nói lên tất cả
những quyền lợi căn bản của mọi người dân. Các quyền
đó, là quyền bảo vệ sinh mạng, quyền khai triển tự
do nhân vị, quyền b́nh đẳng trước pháp luật, quyền
tự do báo chí và ngôn luận, quyền thành lập các hội
đoàn và hội họp, quyền tự do tôn giáo và quyền tự do
lương tâm cùng niềm tin, quyền tư hữu các tài sản,
quyền đi lại trong lănh thổ quốc gia…Và các quyền
khác như là tham dự vào đời sống chính trị, có quyền
ứng cử hay tranh cử các chức vụ trong chánh quyền
một cách tự do, có quyền bỏ phiếu tích cực hoặc thụ
động như ư. Thế nhưng trong thực tế đời sống của dân
Việt : làm ǵ có cái quyền bảo vệ sinh mạng? Bởi bọn
rợ Hán Trung Cộng bắn chết bao ngư phủ Việt đi đánh
cá ngoài khơi, mà phỉ quyền Hà Nội không có một lời
phản kháng hay đánh trả để bênh vực dân ḿnh. Dân
Việt làm ǵ có cái quyền khai triển tự do nhân vị
của ḿnh như các nước Âu Mỹ. Người dân Việt làm ǵ
có cái quyền b́nh đẳng biện hộ ḿnh truớc pháp luật?
Bằng chứng minh bạch là việc xử án Linh Mục Nguyền
Văn Lư, chúng đă trói tay Ngài, rồi một tên du côn
sát thủ công an lấy tay bịt miệng ngài, không cho
ngài lên tiếng. H́nh ảnh phi luật pháp và xử án kiểu
mọi rợ này như trở về thời đồ đá, trong các bộ lạc
chưa có chữ viết của Pháp Đ́nh phỉ quyền Hà Nội, đă
được nhiều tờ báo lớn và nhiều đài truyển h́nh của
ngoại quốc đưa h́nh ảnh của Linh Mục Lư bị bịt miệng
và trói hai tay loan tin ra khắp trên thế giới. Cám
ơn sự anh hùng và can đảm phi thường của Linh Mục,
để cho bọn phỉ quyền Hà Nội và Đảng gian phi của
chúng, lộ cái mặt bản tính thú rừng chưa được thuần
hóa. Các tôn giáo ở Việt Nam duới chế độ vô thần của
phỉ quyền Hà Nội làm ǵ có cái quyền tự do tôn giáo?
Bằng chứng là chúng đă bắt bớ, bỏ tù bao chức sắc
lănh đạo và các tín hữu, chúng chụp mũ cho các thứ
tội rồi bắt các ngài bỏ tù: như Đức Cố Hồng Y Nguyền
Văn Thuận, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Hoà Thượng
Thích Quảng Độ, và vô số các Linh Mục, Đại Đức, Mục
Sư bị chúng bắt đi bỏ tù. Làm ǵ có cái quyền tự do
tôn giáo? Khi các Giám Mục muốn phong chức Linh Mục
cho ai, th́ phải xin phép Ban Tôn Giáo của Đảng gian
phi Việt Cộng. Đức Thánh Cha muốn bổ nhiệm một vị
Giám Mục nào cũng phải bàn hỏi Nhà Nước phỉ quyền Hà
Nội.Các nhà báo Việt Nam làm ǵ có cái quyền tự do
ra báo, tự do ngôn luận và viết báo theo lương tâm
của ḿnh.Báo là báo của Đảng và nhà báo nào cũng
phải chịu sự chỉ đạo của Đảng.Sự thật hiển nhiên là
Đảng gian phiViệt cộng đă bóp chết hết các thứ quyền
này. Nói tóm lại, người dân Việt được Đảng gian phi
Việt cộng muốn rộng răi ban cho cái quyền tự do tuân
lệnh Đảng, nghe lời “các nghị quyết, chỉ thị, sắc
lệnh” của Đảng cộng cùng Nhà Nước hại dân, giết dân
ban ra.
Qủa thực
những nhân quyền chúng ta vừa kể trên đây, là những
giá trị nền tảng cho một cộng đồng chính trị, một
quốc gia dân chủ.Nói đúng hơn, những nhân quyền nói
này chỉ là những định đề luân lư làm mẫu mực giá trị
cho cuộc sống của con người.Theo quan điểm luân lư,
th́ những nhân quyền này phải được tôn trọng và áp
dụng vào bất cứ cộng đồng chính trị và quốc gia nào
trên địa cầu chúng ta sống.Cũng thế, tư tưởng nhân
quyền đ̣i hỏi những quyền trên trở nên một yếu tố
tích cực trong các cộng đồng chính trị, trong các
guồng máy chánh quyền hiện thực.
Do đó, thực
thể chính trị ngày nay tất yếu phải đưa vào nhũng
khoản luật nhân quyền, và trở thành định chế hóa hay
pháp chế hóa của quốc gia. Nhất là, Đất Nước chúng
ta càng đ̣i hỏi việc thực thi hóa trong thể chế
chính trị, và phải áp dụng nó cho tất cả mọi công
dân.Từ lúc nhân quyền được xem là một yếu tố tất
yếu, th́ ngựi ta gọi là những quyền căn bản (droits
fondamentaux, fundamentals laws).Nói cách khác,
những nhân quyền và những quyền căn bản là giống
nhau, song nh́n về một khía cạnh khác.V́ theo nguyên
tắc luân lư, có nghĩa là những quy tắc được chứng
minh bởi triết học mà người ta gọi là nhân quyền.
Cũng chính những nhân quyền này được gọi là những
quyền căn bản, bởi từ lúc các quyền này đuợc quy chế
hóa cùng pháp chế hóa và được tôn trọng, thực hành
trong nhiều cộng đồng chính trị, trong nhiều quốc
gia hôm qua và ngày nay.
V́ thế, đă
là một cộng đồng chính trị, một quốc gia văn hiến,
lẽ tất nhiên Nhà Nước nào cũng phải hướng về những
quyền căn bản này, để đuợc gọi là Quốc Gia có luật
lệ và tôn trọng hiến pháp. Bởi vậy, chúng ta có thể
nói triết học chính trị (philosophie politique,
political philosophy) yêu cầu quốc gia có luật pháp
và quyền luật và nhân quyền minh định.Cũng thế, bổn
phận triết học và tôn giáo là can thiệp và ngăn ngừa
các chủ nghĩa chuyên chế, độc tài, bạo chúa và cảnh
vô chánh phủ. Chúng ta có thể so sánh các nước cộng
sản độc tài chuyên chế, các nước quân phiệt rừng rú
và các nước theo thể chế dân chủ tự do trong thế
giới này, để thấy rơ các việc làm của họ.Cái điểm hệ
trọng là các nước theo thể chế dân chủ tự do thường
thực thi và tôn trọng nhân quyền cùng dân quyền.C̣n
các nước cộng sản chuyên chế và quân phiệt rừng rú
th́ bóp chết và tiêu trừ hết các nhân quyền và dân
quyền của người dân.
Chúng ta
thấy trong những thập niên vưa qua, nhất là những
năm gần đây hơn, người ta nghĩ rằng các cuộc xung
đột và chiến tranh về nền tảng chính trị cùng ư thức
hệ, là cuộc xung đột, tranh chấp giữa cộng sản và tư
bản, hay giữa sự tự do và chủ thuyết xă hội cộng sản
chuyên chế. Và các cuộc xung đột, có khi chiến
tranh, là việc tranh đấu với các tay độc tài khát
máu, thể chế độc tài sắt thép, bạo chúa tàn ác.Lư do
tranh đấu, là bởi vấn đề dân chủ và nhân quyền cũng
như vấn đề công bằng xă hội (justice sociale, social
justice).
Vấn đề này
ngay cả trong các xă hội tân tiến Âu Mỹ mà nhiều
người xem như là mẫu mực lư tưởng, song chúng ta có
thể nhận thấy vẫn có sự khiếm khuyết của nền tảng
đạo đức và luân lư.Như Tối Cao Pháp Viện và Chánh
Phủ của các nước này trong những thập niên qua đă ra
đạo luật cho phép phá thai (avortement, abortion) dễ
dàng.Từ đó nạn phá thai bừa băi đă giết chết hằng
trăm triệu thai nhi vô tội.Các viện khảo cứu thai
nhi trên thế giới, ước tính rằng hằng năm trên thế
giới có đến trên 50 triệu thai nhi chết tức
tưởi.Riêng Việt Nam ta dưới chế độ phi nhân quyền
của Hà Nội, th́ nạn phá thai hằng năm lên đến cả
triệu em, có những em chỉ 14 hay 15 tuổi. Một tội ác
tấy trời, đă cướp đi quyền sống của các thai nhi c̣n
nằm trong bụng mẹ, không thể tự vệ và lên tiếng phản
kháng được.Chúng ta ai cũng đếu muốn sống và muốn
được sống thọ, không muốn ai đụng đến ḿnh, không
muốn ḿnh bị ai xúc phạm hay làm minh bị tổn thương,
huống hố nói đến chuyện muốn giết chết ḿnh.Thế th́
nhân danh ǵ?Lấy cái quyền nào mà ban lệnh cho phá
thai và ra đạo luật phá thai?Quyền sống là quyền tối
thượng, là cái quyền thánh thiêng của các thai nhi
được sống và được chào đời như chúng ta, như mọi
người. Quyền sống là cái quyền đuợc nh́n thấy ánh
sáng mặt trời và vũ trụ xinh dẹp cùng kỳ diệu của
các thai nhi.Quyền sống là cái quyền bất khả xâm
phạm của các thai nhi.Do thế, không một ai có quyền
ban lệnh, cho phép, và tự cho ḿnh cái quyền tự do
phá thai.Dữ dằn như con cọp và sư tử nhưng chúng
không giết con ḿnh, không ăn thịt hổ con, sư tử
con, lại cố sức bảo vệ cho con chúng. Nhưng con
người lại đi giết hại con minh c̣n nằm trong bụng
mẹ.Mọi rợ và thú tính hơn súc vật, là lũ mọi Trung
Quốc ăn thịt thai nhi.Thế đó, mới có các hội đoàn ư
thức được việc tội ác tầy trời này, cũng như nghe
được tiếng khóc âm thầm và uất nghẹn của các thai
nhi trước khi dẫy chết trong đau đớn, nên họ mới cổ
động và bênh vực chống phá thai đến cùng,
anti-abortion campaign, compagne contre
l’avortement.Nếu như ngày xưa mẹ của các ông Hồ Cẩm
Đào, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn
Dũng hay Ông Barack Obama mà phá thai, th́ làm ǵ có
các ông hiện hữu hôm nay làm đến chức cao quyền thế
hỉ?
Do thế,
khi chúng ta ư thức và nhận ra tầm quan trọng và
những quan điểm của triết học luân lư (philosophie
moral, moral philosophy) bàn về các chủ thuyết cộng
sản chuyên chế cùng độc tài quân phiệt và vấn nạn
nhân quyền cùng nhân phẩm. Đó là phận vụ đầu tiên
của trật tự chính trị mà người ta có thể thử nghiệm
vượt qua những cơn khủng hoảng trong các xă hội
(thường thấy ở tuổi trẻ không có định hướng và lư
tưởng chân thiện mỹ để dấn thân và phục vụ). Thực
vậy, chúng ta có thể đ̣i hỏi chính đáng sự thực hiện
hóa những quyền căn bản cốt yếu cho mỗi người dân
Việt Nam, và cho toàn thể quốc gia Việt.
Từ ư nghĩa
này, một quốc gia thực sự đúng nghĩa để được gọi là
dân chủ văn minh, tiến bộ, th́ quốc gia ấy phải thực
thi nghiêm chỉnh, hoàn hảo và duy tŕ bảo vệ những
quyền căn bản này cho mọi công dân của ḿnh. Hơn
nữa, qua những hành động thực thi hóa nhân quyền và
các quyền căn bản này, th́ nhờ vào việc thực thi ấy
mà trên lănh vực chính trị quốc ngoại gây đưọc một
âm vang và tầm ảnh hưởng nhân tâm cho quốc gia
ḿnh.Nhờ qua đó, quốc gia mới mở được các cửa ngơ
cho việc giao thương quốc tế trong nhiều lănh vực
văn hóa, thương mại, chính trị, kinh tế, khoa học kỹ
thuật vv..
Qủa một
thể chế chính trị thể hiện nghiêm chỉnh những quyền
căn bản cho mọi người dân, tất những người làm chính
trị và cầm quyền phải quan tâm cùng lo lắng đến việc
giúp đỡ và tạo những phương tiện, tạo các điêu kiện
để nhân quyền được thực thi toàn hảo.Có nghĩa là Nhà
Nước quan tâm đến các vần đề giáo dục, nâng cao
tŕnh độ dân trí, tạo các điều kiện về kinh tế và xă
hội. Đi vào thực tế, Chánh Phủ quan tâm đến chất xám
của Quốc Gia, là tạo thêm thời gian đào tạo các
chuyên viên cùng các sinh viên trong các nghành nghề
khoa học kỹ thuật, kinh tế, y tế, khoa học nhân bản
và nghệ thuật, nâng cao đời sống tiện nghi cho dân
chúng, đặt lại vần đề quyền lợi trong các ngày nghỉ
lễ và nghỉ hè, thời gian tự do, các phúc lợi và huê
lợi của người dân , vần đề an sinh và bảo hiểm sức
khỏe của người dân v.v. Đáng buốn và tủi hổ thay cho
Đất Nước! Những điều chúng ta nói đây, hầu như tập
đoàn phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng gian phi của chúng
chẳng lo nghĩ và chẳng quan tâm đến. Chúng chỉ lo
tranh nhau cướp đoạt ruộng vườn, đất đai, tài sản
của dân th́ hơn người.Chúng ăn chận, ăn bớt các
khoảng tiền viện trợ của các Nước bạn giúp cho Việt
Nam xây dựng kinh tế và phát triển Đất Nước.Bằng
chứng như vấn đề giáo dục, th́ chúng cũng có bằng
cấp gỉa, là bằng cấp mua bán.Cả cái bằng Thạc Sĩ và
Tiến sĩ của chúng tự hào cũng là giả, toàn là bằng
mua bán và chaỵ chọt, là bằng hối lộ và hăm dọa.Chủ
tịch Nước, Tổng Bí Thư Đảng, Thủ Tướng, một câu
tiếng Anh, Tiếng Pháp nói c̣n ấp a ấp úng như cà
lăm. Nhiều cán bô cấp cao, nào khoe rằng hai ba bằng
Tiến sĩ, Thạc sĩ, phó Tiến sĩ, thế nhưng một chữ
tiếng Anh, tiếng Pháp cắn không ra.V́ vậy làm sao mà
Đất Nước phát triển theo kịp đà tiến của nhân loại
thời nay? Chúng chỉ tài ba, tháo vát tranh đua ăn
hối lộ, thông minh chạy chọt tham nhũng th́ hơn
người và tài giỏi nhất thế giới. Tài giỏi ăn hối lộ
và tham nhũng đến được đoạt giải “quán quân” của dân
Nhật, chánh phủ Nhật Bổn và các nhà báo của họ phát
cho cái bằng “sơn son mạ vàng” với ba chữ khắc đậm
nét : “đồ gịi bọ” .
Không biết
tập đoàn phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng gian phi Việt
gian của chúng hảnh diện và “nở mày nở mặt” vênh váo
ra sao với quần chúng và thiên hạ hỉ? Khi chánh phủ
Nhật cấp cho chúng cái mảnh bằng “tiến sĩ gịi bọ”,
nhờ xuất chúng về tài phát minh ăn hối lộ và tham
nhũng số một của thế giới này. Riêng chúng tôi,
những người Việt quốc gia, th́ cảm thấy đau không
thể tả! Đau như người ta cắt xé tim gan ḿnh v́ câu
nói có tính cách nhục mạ công khai này trên báo chí,
và tầm ảnh hưởng lời nói đ̣ lan rộng trên thương
trường quốc tế.Thực như ông bà ta nói “bút sa th́ gà
chết”.Do đó Chúng tôi xin phân tích ư nghĩa của ba
chữ này “đồ gịi bọ”, mà dân Nhật và chánh phủ Nhật
Bổn muốn ám chỉ sự khinh bỉ của họ bên trong ba từ
ngắn gọn này.Tại sao họ nặng lời với tập đoàn phỉ
quyền Hà Nội và cái Đảng gian phi của chúng như
thế?Họ bất chấp một thứ ngôn ngữ lịch thiệp của
ngoại giao có tính cách quốc tế, để thẳng thừng mắng
vào mặt những “đỉnh tối trí tuệ” đồ đệ Hồ Chí Minh
như vậy? Lư rằng Chánh phủ Nhật đă quá am hiểu cái
lối “lật ḷng, gian xảo, lừa bịp, lường gạt, ăn
cướp, ăn giựt, vu khống, du côn, thảo khấu, khủng
bố” của phỉ quyền Hà Nội.Chúng không hẳn hành động
như thế với dân Việt mà cả các Nuớc bạn, trong đó có
Nhật Bổn là nạn nhân của phỉ quyền Hà Nội. Đúng rằng
Hà Nội chỉ giỏi cướp đoạt, ăn hối lộ, tham nhũng, ăn
cướp của dân, của thiên hạ …V́ thế, dân Nhật và
chánh phủ Nhật cho rằng phỉ quyền Hà Nội là loại ăn
bẩn nhất thiên hạ.Đă sống bẩn và ăn bẩn như thế th́
chỉ có loại gịi bọ.V́ chúng sống và kiếm ăn ở nơi
các đống phân, bất kể là phân nào, phân trâu ḅ, gà
vịt, hay là nhà xí, cầu tiêu. Mấy chữ ngằn gọn “đồ
gịi bọ” đă nói lên bản chất của những tên Việt gian
cộng sản.Nói đúng cái cá tính ăn bẩn, sống bẩn của
cái tập đoàn phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng gian phi
của chúng. Mấy chữ ngắn gọn chúng bay là “đồ gịi
bọ” như môt thông điệp nhắn gửi các người dân Việt
Nam c̣n nỗi đau của Quốc Sỉ và Quốc Thể, c̣n tự
trọng, và các bạn quốc tế c̣n chơi tṛ “đu giây” với
loại “gịi bọ” này, th́ nên xa tránh chúng hay hơn
là tiêu trừ chúng đi. Bởi để cho loại “gịi bọ” này
sống chỉ mất vệ sinh, và có thể phát sinh những bệnh
“dịch” chết người.Tốt hơn và vệ sinh hơn cả, là phải
diệt trừ cái loại “gịi bọ” sống bẩn, ăn bẩn này như
người dân diệt dịch “cúm gà” hầu thiên hạ khỏi lây
bệnh va được sống an lành
Như chúng
tôi đă nói các vi phạm nhân quyền cũng như các tội
ác của tập đoàn phỉ quyền Hà Nội đối với dân Việt,
và các hành động làm mất Quốc Thể và Quốc Sỉ đối với
Dân Tộc. Cũng như với bao nhiêu hành dộng sai trái
vô luân, phi đạo đức và vô nhân bản của chúng đă làm
cho Đất Nước trở nên nghèo đói, ngu dốt, bất công,
tham nhũng, hối lộ.V́ các điêu chúng làm này thành
một t́nh trạng kiệt quệ quốc gia cũng như làm giảm
bớt tài năng làm việc và xây dựng cho quốc gia thăng
hoá. Do thế, chúng tối xin các nhà làm chính trị,
các nhà tranh đấu cho nhân quyền, cùng các vị lănh
đạo các tôn giáo phải biết tranh đấu để tiêu trừ,
loại bỏ hay t́m cách tiêu diệt những cản trở này mới
có thể thực thi hóa nhân quyền cùng các quyền căn
bản hầu cho quốc gia mới thăng tiến có thể cất cánh
bay cao được.V́ thế, vấn đề luật pháp cũng như quyền
lợi của người dân, th́ Nhà Nước phải có trách nhiệm,
có bổn phận bảo đảm cho người dân có những điều kiện
thông thường nói trên, để người dân có thể tạo được
một đời sống sung túc, b́nh an, và trổ nở những năng
tính của ḿnh cùng cảm thấy đuợc đời sống hạnh phúc.
Qủa thực
khi người dân tạo được những hoa trái hạnh phúc cho
ḿnh tất đẹp biết bao! Có nghĩa từ sự đào tạo và
thiết tạo cho đến việc các thể chế chính trị-xă hội
cùng nhau tôn trọng dân chúng – Như thế lư do thực
hiện các quyền luật xă hội là nhiệm vụ toàn diện của
các cộng đồng chính trị cùng nhà cầm quyền, nó tự
đ̣i hỏi ḿnh phải có công tâm và công minh. Điều này
cho chúng ta suy ra về sự phát triển của các quốc
gia tân thời, các quốc gia có hiến pháp và luật pháp
trên đà canh tân, th́ không thể có cảnh làm chính
trị, nhà cầm quyền mà thường vi phạm luật pháp,
chúng ta gọi là công lư của pháp luật (chỉ có tập
đoàn gịi bọ của phỉ quyền Hà Nôi mới thường vi phạm
luât pháp như cơm bữa).V́ bổn phận của người cầm
quyền và lănh đạo quốc gia, là thực thi chính trị
một cách công minh theo công tâm.Bởi thế, chúng ta
biết rằng những quyền lợi xă hội của người dân đă
trở nên một phần toàn diện trong lănh vực cầm quyền
chính trị.
IV. CÔNG
BẰNG HAY CÔNG TÂM LÀ ĐỨC TÍNH CỦA NGƯỜI LÀM CHÍNH
TRỊ
Qủa khái
niệm về công bằng hay công tâm được nói ở đây, là
khái niệm công bằng trong ư nghĩa khách quan và mục
đích của nó. Có nghĩa công bằng hay công tâm là tư
tưởng và tiêu chuẩn tối thượng của các định chế và
thể chế, đáng cho chúng ta quan tâm nhất trong xă
hội-chính trị. Nhất là, những mục tiêu công bằng,
công minh của chính trị thường quan hệ đến lănh vực
quyền luật: như Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp.Nhưng
công việc của các cơ quan này phải thể hiện công tâm,
liêm chính như tư tưởng luật pháp đă đề ra.Ba cái
quyền hành tách biệt này, chúng ta thấy phỉ quyền Hà
Nội gom lại trong một số người có quyền lực trong
“Bộ Tà Trị” của cái Đảng gian phi của chúng. Vả nữa,
c̣n có những quyền luật và giá trị khác đuợc khải lộ
cho nền tảng xă hội chính trị, như vấn đế ổn định an
ninh, sự hợp lư, sự công hiệu và sự giàu có tài
nguyên quốc gia v.v. Nhưng tựu trung, chỉ có công
minh chính trị là tiêu chuẩn luân lư cho những lề
luật của việc sống chung và xây dựng quốc gia thăng
hóa.
Khác hẳn
sự công bằng khách quan, là công bằng như tư tưởng
của luật pháp, th́ sự công chính trong ư nghĩa chủ
quan là một tính chất con người, là sự công bằng như
nhân đức.Sự công bằng như nhân đức là tính chất liên
quan đến tha nhân. Trái lại, như t́nh bạn, t́nh yêu,
ḷng tốt, th́ công bằng và công minh không dựa trên
cái dễ cảm, dễ mến, cũng không dựa trên cái t́nh
thương riêng của ḿnh.Cũng thế, công bằng và công
minh không chỉ là hành động đúng. Ngược lại, sự công
bằng chủ quan đ̣i hỏi chúng ta thực hành những hành
vi chân chính.Chúng ta biết thực hành những hành vi
đơn giản đó, v́ những hành vi này là chân thật,
không trái lương tâm, đạo lư để làm mất công bằng
trong xă hội ta sống.Thực thế, chúng ta hiểu rằng
khi ta tạo nên những hành vi bất chính, sẽ là điều
nguy hại cho xă hội và gây ung thối cho quốc gia:
“thượng bất chính th́ hạ tất loạn”. Đây là cảnh hiện
thực và cụ thể đau khổ của dân chúng Việt và Đất
Nước Việt do lớp người thiếu học thức và kém suy
luận của phỉ quyền Hà Nội, đă cướp quyển trị nước
của dân Việt Nam. V́ thế, họ đă đưa dân tộc đến bờ
vực thẳm tồi tệ về phương diện tinh thần, cũng như
sự khánh kiệt của quốc gia cùng làm giảm đi các năng
lực sáng tạo của người dân Việt.
Chúng tôi
biết ngoài ra cũng có sự công bằng như nhân đức, ví
dụ như trường hợp mà người ta không thể nghiệm việc
nhầm lẫn hay lường gạt, v́ họ có cái may mắn thông
minh hơn người khác.Vả lại, cũng có thêm sự công
bằng khách quan ngay lúc luật pháp có lỗ hổng, đó là
những giới hạn của phán đoán. Hay nữa, chúng ta thấy
trong những trường hợp mà sự chấp hành những quy tắc
luật pháp có sự bấp bênh, như không được minh bạch
và trong sáng lời văn trong các khoản luật của Hiến
Pháp cũng như trong các Bộ Luật: H́nh Luật, Dân Luật
v.v. Cụ thể, trong các Bộ Luật của phỉ quyền Hà Nội
không rơ ràng, nói một đàng làm một nẽo tuy tiện
theo lệnh của Đảng gian phi muốn.
Đẹp thay
sự công chính như một nhân đức của mọi người dân và
giai cấp lănh đạo chính trị, là hàng rào bảo vệ an
toàn rất quan trọng chống lại sự suy vong của Dân
Tộc và Quốc Gia.Cũng thế, chúng tôi đề nghị các nhà
lănh đạo và cầm quyền sau này (hậu cộng sản) cần ư
thức tránh việc tạo nên những bất công của xă hội,
v́ có thể đem đến lại t́nh trạng tham nhũng, măi lộ,
cảnh bạo động và sự suy đồi đạo đức luân lư. Do thế.
chớ ǵ mỗi một người dân dù họ là ai tồng thống, thủ
tướng, nghị sĩ, các chức sắc cấp cao của tôn giáo,
người dân b́nh thường, đều có bổn phận với sự công
bằng và công tâm đối với chính ḿnh và xă hội. Bởi
việc thực thi công bằng cho tha nhân, là để bảo toàn
cùng giữ ǵn sự công chính và ổn định hay b́nh an
cho quốc gia phát triển mọi mặt: như kinh tế, khoa
học kỹ thuật, văn hóa nhân văn, nghệ thuật vv.Nhất
là quốc gia thăng hóa, đuợc xem là Rồng Việt cất
cánh bay cao trong bầu trời xanh của Vũ Trụ bao la
này.
Khác hẳn
với sinh vật, con người làm chủ ḿnh là dựa vào
những nền tảng, nguyên tắc, định chế của quốc gia có
Hiến Pháp và Luật Pháp minh chính.Đây là sự làm chủ
được mở rộng, nó đ̣i hỏi các năng tính của chúng ta
thừa nhận những đ́ều do luật lệ và hiến pháp quy
định, cũng đ̣i hỏi chúng ta suy tư, phán đoán và
hành động đúng. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng lắm
lúc sự làm chủ ḿnh bị hăm dọa bởi các định chế xă
hội và chính trị trong một quyền lực bất chính, phi
nhân.Nói đâu xa vời, ngay tại quê hương chúng ta,
th́ bất công, tham nhũng, hối lộ, cướp đoạt, hà hiếp
và bức tử dân xảy ra như cơm bữa, cho dẫu vẫn có
Hiến Pháp của Nhà Nước Hà Nội đề ra.Thế nhưng, chúng
tôi nghĩ các văn kiện Hiến Pháp và Luật Pháp của phỉ
quyền Hà Nội không hơn ǵ một mớ giấy lộn. V́ tập
đoàn Việt gian của chúng không bao gờ tôn trọng
những ǵ miệng chúng nói và tay chúng kư vào đó.
Đúng như một ngạn ngữ của người Pháp nói “Vous ne
croyez pas ce qu’il dit mais croyez ce qu’il fait,
Anh đừng nghe những điều nó nói, nhưng hăy tin việc
nó làm”.Có thể từ ư nghĩa câu nói sâu sắc ư vị này
mà ông Nguyển Văn Thiệu nói lại câu để đời cho dân
Miền Nam c̣n nhẹ dạ, chơi tṛ hàng hai, kiểu ăn cơm
quốc gia thờ ma cộng sản với Việt gian cộng sản đại
ác: “Đừng nghe những ǵ cộng sản nói, mà thấy những
việc chúng nó làm”. Thế đó, người ta nghĩ rằng không
bao giờ trục xuất các sự trái lỗi, gian ác như một
căn bệnh trấm kha ăn vào trong xương tủy huyết thống,
tim óc của những tên Việt gian cộng sản trong một xă
hội chính trị man rợ của phỉ quyền Hà Nội (on ne
peut pas jamais exclure la rechute dans une barbarie
socio-politique). Thực cảnh đó, chỉ cầu mong có một
thể chế mới, bằng sự công chính, công minh như nhân
đức của con người mới có thể hoán cải các sự lỗi
phạm đó thành một niềm hy vọng sáng sủa hơn. Để rồi
từ đó, mở ra một chân trời dân chủ và nhân quyền,
dân quyền, tự do cho mọi người dân Quốc Nội, cũng
như người Việt Hải ngoại có cơ hội, phương tiện cùng
nhau hợp tác để đưa Đất Nước và Dân Tộc đến hùng
cường và thịnh vượng như người ta!
V. SỰ TỰ DO
Nói
đến sự tự do, th́ tự do tương đương như là sự quyết
định.Ư niệm này đuợc xem là ch́a khóa của tư tưởng
triết học và đạo đức chính trị (éthico-politique)
thời đại.Tự do đây có nghĩa là phủ nhận sự độc lập
đối với tất cả cái ǵ khác với sự quyết dịnh (như tự
nhiên, xă hội, chính trị), và xác nhận rằng con
người tự chính ḿnh quyết định và hành động theo ư
tưởng trong nội dung của hành vi ḿnh quyết định ấy.
Theo sự học
hỏi, chúng tôi được biết nhờ qua lănh vực văn hoá
Hy-La (Gréco-Latin) mà người Pháp, Anh, Mỹ, Đức v.v,
đă dùng đến từ ngữ và ư niệm tự do. Do đó ư niệm tự
do (liber, libre, free, frei) đă có một dấu chỉ và
có ư riêng trong lănh vực pháp chế xă hội
(socio-juridique) đặc thù vào thời ấy.Vào thời xưa
đó, họ phân biệt những con người với tư cách là
thành phấn, hội viên của cộng đồng, qủa loại người
đặc biệt này được sống tự do khác hẳn với người nô
lệ. Cũng theo xă hội thời ấy, th́ những người tự do
có được độc lập với một quyền ưu đẳng, họ sống khác
hẳn với người ngoại kiều, là những người thuộc các
quốc gia bị họ đô hộ và thống trị.Người tự do được
nâng đỡ mọi mặt, được bảo vệ do luật pháp đề ra, c̣n
các người nô lệ, th́ họ bắt phục dịch và lao động
các công việc nặng nhọc, khổ sai.
Trải qua
gịng thời gian và lịch sử, nhờ chịu ảnh hưởng của
các trường phái khắc kỷ (stoiciennes), ảnh hưởng của
Do Thái giáo và Kitô giáo,cũng như chịu ảnh hưởng
của các tư tưởng triết học và những phong trào chính
trị thời cận kim…Để từ đó, sự tự do được xem trong
một diễn tiến phổ quát hơn, như là một tất yếu của
con người và tất cả các cộng đồng chính trị, quốc
gia: “l’homme “libre” est l’homme qui n’est pas
esclave ou prisonnier, người “tự do” là người không
nô lệ hay tù nhân”.
Chúng ta rơ
ư nghĩa tự do được duy tŕ cho đến thời đại chúng ta:
đầu tiên là những quyền tự do chính trị (les
libertés politiques). Có nghĩa các quyền tự do chính
trị này là những quyền luật được công nhận qua các
văn kiện Hiến Pháp. Những luật này làm giới hạn
quyến hành của chánh phủ: như tự do lương tâm, tự do
ngôn luận và báo chí (truyền h́nh và truyền thanh),
tự do hội họp và kết hội hay đảng phái, tự do tôn
giáo và niềm tin, tư do buôn bán (ngoại trừ những đồ
quốc cấm), tự do niềm tin v.v., được thực hiện ghi
rơ trong văn bản Hiến Pháp quốc gia.C̣n chánh quyền
(government, gouvernement th́ thực thi các quyền tự
do này theo ư dân, bởi họ là những người đại diện
Hành Pháp, Lập Pháp được dân bầu ra. Do thế, chánh
quyền là nhũng người đại diện của dân để lo bảo vệ
các quyền căn bản và quyền lợi và luật lệ này cho
mọi người dân. C̣n lại sự tự do phổ quát, th́ thể
hiện hai kiểu thức sau: như sự quyết định về hành vi
ḿnh gọi là sự tự do hành động, và như sự tự do
quyết định của ư muốn gọi là ư muốn tự do hay tự do
ư chí (liberté d’action et liberté-arbitre).
5.1. TỰ DO
HÀNH ĐỘNG
Vấn đề của
sự tự do này, th́ đây là một sự cảm biết do những
khả năng của trí tuệ và hành động.Có nghĩa là một
không gian luân chuyển trong ư muốn của chúng ta và
trong cái ư muốn đó, chúng ta chỉ có thể chọn lựa
một sự nào đó chúng ta thích.Sự tự do, nghĩa nói ở
đây là tác động (có hiệu lực); nhưng cũng có nghĩa
là đừng tác động, hay có thể chúng ta thực hiện điều
này hoặc điều nọ, gọi là tự do chọn lựa (liberté de
choix).Tự do này có hai trạng huống, h́nh dạng:
a) Phần đầu,
sự chọn lựa của chúng ta tác động theo trí năng của
ḿnh, qua đó bắt đầu khai triển cho ta một diễn
tŕnh hay biểu tượng của các đối tượng hay các mục
đích về sự hiện hữu của đối tượng ta muốn.Để rồi từ
đó, làm sao chúng ta tạo các phương thức đạt đến, và
hành động của ta đó không trái ngược với thế giới
bên ngoài. Có nghĩa là trí năng chúng ta làm việc
đúng theo các biểu tượng về diễn tŕnh đó như dự
định và trù định.V́ vậy tự do như thế, có nghĩa là
khả năng ước muốn vài việc nào đó, hành động một
cách tự nguyện và ư thức của chúng ta.
b)
Phần hai, sự tự do có nghĩa là các khả năng riêng
như nói trên, mà nhũng hoàn cảnh chính trị cho phép
chúng ta thực hiện điều ta muốn.
Chúng tôi
nghĩ sự tự do hành động không là một năng tính bẩm
sinh, nhưng là một tiềm tính tác động để thực hiện,
v́ điều này không thành đạt tất cả cùng một cấp độ.
Một con người càng thêm tự do hơn khi họ có một tự
do cá thể hành động. Điều tự do này tùy thuộc vào
những điều kiện thể lư, tâm lư, chính trị và kinh tế
v.v..Cũng thế, tự do hành động là một ư niệm so
sánh: như đứa bé, nguời bệnh, tật nguyền, người
nghèo, kẻ yếu nhược có nhiều giới hạn tự do hơn
người trưởng thành và lành mạnh hay người giàu có
tài sản và kẻ quyền thế.Với một cách khác, người ta
có nhiều tự do hơn khi họ có nhiều cảm biết, cảm
thấy cho ḿnh, nhờ trí thông minh, nhờ học hỏi và
kinh nghiệm. Hay nữa, chúng ta biết rằng có một sự
luân chuyển thay đổi của hành động, cũng như chính
do quyết tâm cùng súc mạnh và ư chí, th́ con người
cao cả hơn, như họ có thể chế ngự các đam mê và xúc
động của ḿnh: chẳng hạn như các tu sĩ, họ chế ngự
được các đam mê trần tục.Cũng thế, các vị từ bỏ
những ham muốn của con người như danh vọng, tiền
tài, sắc dục v.v., nhất là, biết từ bỏ ư riêng của
ḿnh. Qúy ngài là những người đạt tự do hơn ai hết.
Thêm nữa, người dân được tự do hơn, khi họ không
chịu sự thống trị và áp chế của một thể chế chính
trị phi luân lư và đạo đức cùng nhân bản như phỉ
quyền Hà Nội hiện nay.
Thực, một
thể chế quốc gia hay cộng đồng chính trị có tự do
hành động của ḿnh, là khi cộng đống và quốc gia đó
không bị lệ thuộc hay nợ nần của các quốc gia bạn.V́
thế, cảnh phỉ quyền Hà Nội và Đảng gian phi của
chúng đày dân đi lao động khổ dịch ở Nga và các nuớc
Đông Âu cộng sản trưóc đây để trả nợ họ viện trợ cho
chúng. C̣n bây giờ th́ phỉ quyền Hà Nội cấu kết với
bọn tư bản mọi rợ rừng rú kêu gọi các anh chị em trẻ
đi “hợp tác lao động”, nhưng đúng ra lường gạt anh
chị em. V́ khi qua bên các Nước Nam Hàn, Đài Loan,
Mă Lai vv. Họ bắt các anh chị em làm việc nhiêu giờ,
những công việc lao dịch nặng nhọc, thâm chí mỗi
ngay phải làm đến 14 tiếng, có khi làm đến 16 tiếng
đống hồ ngoài trời lạnh cắt da thịt. Đă khổ như thế,
các anh chị em bị hai loại nguời bóc lột máu, mồ hôi
và nước mắt lao động cuả anh chi em Việt chúng ta:
Đó là loại tư bản rừng rú ở Nam Hàn, Đài Loan, Mă
Lai vv. Chúng tán tận lương tâm trả những đồng lương
rẻ mạt, vắt cạn sức lao động của anh chị em dân Việt
chúng ta đến cùng. Khốn nạn hơn nữa, anh chi em bi
tập đoàn phỉ quyền Hà Nội và Đảng gian phi của chúng
ăn chận, lấy bớt và cướp đi những đồng tiền mồ hôi,
sức lao động máu và nước mắt của anh chị em đổ ra.
Những đồng tiền đó có thể thêm trong chén cơm của mẹ
gia có miếng thịt, và bát cơm của cha có thêm con cá
kho. Hay nữa, những đồng tiền đó giúp cha mẹ có thêm
được cái áo che thân khi đông về buốt lạnh ở quê
nhà! Thêm nữa, những đồng tiền chắt chiu bằng chính
mồ hôi, máu và nước mắt của anh chị em, là giúp thêm
cảnh cơ cực cho vợ và đàn con nhỏ ở nhà, có được mái
nhà che nằng và che mưa.Thiên Hoàng ơi! Xin Ngài ngó
xuống xem dân chúngViệt khổ đến tận cùng cái khổ
của kiếp người.Lầm than đến thế là cùng!Địa ngục ở
đâu? Ở ngay chính quê hương của chúng con rồi. Chúng
con cảm thấy nhục quá, nhục với thiên hạ Năm Châu
trong thời đại văn minh này.V́ anh chị em chúng con
vẫn c̣n đi làm lao động như một thứ “nô lệ” thực dân
mới bị người ta bóc lột mồ hôi, máu và nước mắt với
những đồng lương trả không tương xứng, rồi con bi
cưóp đoạt đồng luơng c̣m cỏi làm ra đó.Không phải
mưa dầm, mưa dề trên Đất Nước Việt qua ngày này
tháng nọ, nhưng là máu, nước mắt của ông bà, cha mẹ,
cô chú, anh chị em chúng con chảy dầm, chảy dề từng
giây phút, từng năm này qua nặm nọ trong ḷng không
gian Đất Việt chúng con, và lan đến thấm vào con tim
con đây!
Những thực
trạng chảy mồ hôi máu và nước mắt máu của dân chúng
và anh chị em chúng con thường xảy ra hằng giây,
hằng phút mỗi ngày ... Thế nhưng, trong lúc đó th́
tập đoàn phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng gian phi của
chúng cứ rêu rao vênh váo tung hô, khuyếch đại và
hét to khàn cả cổ rằng “không có ǵ quư hơn độc lập
tự do…Đất Nước ta đă được đổi mới”.Hỡi ôi “độc lập,
tự do, đổi mới” theo cái Đảng gian phi Việt cộng và
cái Nhà Nước phỉ quyền Hà Nội, nghe sao đắng cay và
chua chát quá! Xin phép người đọc, cho chúng tôi thổ
lộ đôi lời ở đây.Thực cái ư nghĩa cao cả của tự do
và độc lập mà tập đoàn Việt gian cộng sản bởi kém
học thức, v́ ngu dốt trong sự hiểu biết về việc làm
chính trị và cầm quyền. Thế nên, Đất Nước Việt càng
ngày càng suy vong, dân chúng lầm than đói khổ trăm
bề. Bởi thế, là một quốc gia chính trị thực sự tự do
khi mà quốc gia không bị lệ thuộc vào những khoản
trả nợ này, hoặc đưa dân minh đi làm thuê, làm mướn,
và bị bóc lột lao động như chúng tôi đă nói
trên.Nhất là, lănh thổ của quốc gia phải được tôn
trọng tối đa, cũng như chủ quyên quốc gia phải đặt
lên trên hết. Đất Nước không bị lệ thuộc hoặc chịu
áp lực chính trị hoặc kinh tế bất cứ một quốc gia
nào, dù họ là cường quốc, th́ lúc ấy Đất Nước mới tự
hào là một cộng đồng chính tri, một quốc gia tự do
đối với các nước anh em. Trái lại, những người làm
chính trị, cầm quyền tạo cho quốc gia vở nợ.C̣n đất
lành, biển rộng, quần đảo hái ra tiền lại nhưng
không đem dâng cho bọn Rợ Hán Bắc Kinh, hầu được
chúng cho cái vinh dự làm nô bộc, tay sai của chúng.
C̣n đối với dân ḿnh, th́ phỉ quyền Hà Nội lại bắt
sưu cao thuế nặng, như thế chưa vừa ḷng, chúng bày
ra cảnh cuớp nhà, cướp đoạt ruộng vườn, tài sản của
dân chúng.Cái kiểu làm chính trị vá cấm quyền thế
này, giống như cha ông chúng ta nói chỉ là phường
thảo khấu cướp quyền của dân bất chính, thiếu tư
cách và nhân phẩm cầm quyền lănh đạo quốc gia.
Từ đó, một
quốc gia chính trị thực sự là tự do, khi Nhà Nước
thực thi hiến pháp, luật pháp cho người dân của ḿnh
có các quyền tự do mà họ muốn như trong truyền thống
tự do của con ngướ đă có trước. Có nghĩa đây là các
quyền tự do căn bản như là nhân quyền và dân quyền,
dân chủ mà chúng ta đă bàn ở phần trên.Quốc gia nên
tránh các luật lệ mâu thuẫn trực tiếp, nhưng cũng
phải tránh những luật lệ gián tiếp mâu thuẫn có tính
cách hiển nhiên bởi các b́nh luận thuyết, có nghĩa
là chế hóa duy ư luận (manipulation idéologie).
Thế nên sự
tự do thực, là ư niệm của tất cả các tự do của con
người, được tŕnh bày tỷ mỹ trong các Hiến Chương về
những nền tảng tự do có tính cách quốc tế và chung
thể cho nhân loại. Đơn cử: các tự do tư tưởng, báo
chí, hội họp, buôn bán làm ăn, tự do đi lại trong
nước, ra nước ngoài, tự do tư hữu, tự do tôn giáo và
niềm tin v.v. Các sự tự do này phải được Nhà Nưóc
duy tŕ , tôn trọng và bảo vệ. Là Nhà Nước, th́ có
bổn phận chống lại những ai xâm phạm hay làm nguy
hại đến tự do cuả người dân, đến Đât Nước. Chúng ta
thấy thường đến từ các âm mưu đen tối của nhóm người
độc tài, hay thủ đoạn của các đảng phái chính trị (như
kiểu Miền Nam trước đây, chánh phủ Miền Nam đă bị
một số dân biểu, nghị sĩ, các nhà báo vv.thiên cộng
hay Việt cộng nằm vùng quấy phá).V́ những quyền tự
do nói trên cho phép người dân triển nở các năng
tính trong đời sống của ḿnh.Vả lại, họ tự cảm thấy
được giải phóng, được sống theo những cảm nghĩ và
nguồn thở hay khao khát của ḿnh.Thêm nữa, điều hệ
trọng, có thực sự tự do th́ ngựi dân mới đóng góp
được tất cả các công tŕnh sáng tạo và năng lực làm
việc của ḿnh, hầu xây dựng quốc gia giàu mạnh cùng
hưng thịnh.Nói cách khác nữa, một quốc gia chính trị
là tự do thật khi họ hướng nội theo thể chế tự do
của ḿnh như sau:
- Một chế
độ tự do được biểu thị những đặc tính do những luật
pháp phổ quát nhân quyền này, và không bởi những
việc làm trái luật.
- Sự chia
quyền (la division du pouvoir), đặc biệt là một pháp
quyền độc lập (une juridition indépendante), nghĩa
là các thẩm phán và tối cao pháp viện.
- Một quốc
hội được dân bầu một cách dân chủ, có ủy nhiệm do
dân và kiểm soát theo dơi chánh quyền.
- Vấn đề
quyền lợi, luật pháp, trong trường hợp có ai vi phạm
các nền tảng tự do căn bản, th́ Nhà Nước phải chống
lại các áp bức đó hoặc chống lại các áp chế của
quyền thế.
5.2. VẤN ĐỀ TỰ
DO CHỌN LỰA
Chúng tôi
nghĩ rằng đă là một xă hội sống chung, th́ người ta
thường có hoặc gây nên những cuộc xung đột tranh
chấp với nhau của nhóm này đụng nhóm khác, đảng phái
này choảng đảng phái kia vv.Bởi thế, Nhà Nước phải
bảo đảm các việc trái phép tranh đấu, gây rối loạn
làm mất an ninh chung của mọi người. Miền Nam Nước
chúng ta duới hai thời đệ nhất và đệ nhị cộng ḥa,
đă bị một lớp ngựi đội lớp tôn giáo phá rồi nền an
ninh đánh cộng và diệt cộng của Chánh Phủ quốc gia,
thảm trạng là Miền Nam đă rơi vào tay cộng sản của
phỉ quyền Hà Nội. Do thế, v́ nền an ninh quốc gia,
v́ sự sống của dân chúng, từ đó luật pháp cần thiết
hạn chế sự tự do hành động của mọi người.Chúng tôi
nghĩ rằng do quyền lợi của dân tộc, và sự sống của
quốc gia, th́ khi những nhà lănh đạo tuyên bố Đất
Nước lâm nguy hay có chiền tranh với quân thù. Lúc
đó, chánh phủ có quyền ra những đạo luật cấp thời
kêu gọi ư thức và lương tâm quần chúng, và đánh động
ḷng yêu nước của người dân, th́ chúng ta phải hạn
chế những tự do của ḿnh.Không phải viện cớ v́ ư
thức lương tâm mà ta không nhập ngũ ṭng quân chiến
đấu.Những cảnh phản chiền, biểu t́nh chống chiến
tranh lúc quốc gia đang đương đầu với quân thù, tất
chỉ làm thêm rối loạn và đưa đẩy quốc gia đến bại
trận.Chúng ta đă rơ bài học đắt giá Miền Nam Việt
Nam và bài học binh lính Hoa Kỳ chiến đấu bảo vệ
b́nh an cho người dân Miền Nam, th́ giờ đây chúng ta
ôn lại lịch sử: ai đúng ai sai, câu trả lời quá rơ
ràng!Thế nên, tự do không phải một hành động mưu đồ
chính trị, hay là thỏa măn tự ái, hoặc nữa ỷ vào các
xă hội dân chủ, để nhờ những cuộc biểu t́nh tuyệt
thực, xuống đường bạo động hầu nổi danh, mưu lợi
cho cá nhân ḿnh.
Lại nữa, ở
đâu người ta hiện diện và ở đâu người ta cũng có thể
hành động những điều họ muốn, th́ quả là ư muốn tự
do ấy rất rộng để xác định bởi những điều kiện về
thể lư, về tâm lư xă hội ở quốc gia chúng ta
sống.Thực vậy, những đa dạng nói trên đây không thể
hoài nghi, và lộ cho chúng ta thấy các câu hỏi về tự
do để bàn luận th́ thật vô cùng.Nhưng tựu trung lại,
v́ các điều khoản đă được thừa nhận do luập pháp,
cho nên sự tự do theo ư riêng muốn làm ǵ th́ làm
không phù hợp cho một xă hội chính trị.Bởi do quyền
lợi sống chung, nên tự do theo ư riêng phải bị loài
trừ. Ví dụ như buôn bán thuốc phiện, giết người, xâm
phạm gia cư cùng tài sản của dân bất hợp pháp, trộm
cướp, cướp đoạt của công cũng như của tư vv. Phỉ
quyền Hà Nội và cái Đảng gian phi cộng sản của chúng
đă trắng trợn vi phạm cái luật xâm phạm vào tài sản
của dân như cơm bữa.Đó là lợi dụng chức quyền và thế
lực đă cướp bao tài sản mồ hôi nước mắt và máu của
ngườ́ dân làm ra Phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng gian
phi Việt công cướp ngày, cướp đêm của dân chúng đói
rách ở Việt Nam chưa no thỏa. Chúng lại dạy cho đồ
đệ của chúng ra nước ngoài ăn cắp, ăn cướp buôn lậu
ở xứ người. Mới đây vào đầu tháng hai này tờ báo
Yomiuri Shimbun của Nhật đă xác nhận lời khai của
tên Phi công Thủ trưởng Đặng Xuân Hợp kể lại đường
giây buôn lậu ở Vietnam Airline với cảnh sát
Nhật.Cũng như cảnh sát theo dơi đường giây băng đảng
trộm cắp của các du sinh và người Việt hợp tác lao
động tai Nhật, chuyên ăn cắp các mặt hang ở các siêu
thị Nhật Bản.
Như ông bà
ta nói “cây nào sinh trái nấy, cây đắng không thể
sinh trái ngọt được”.Một Nhà Nước phỉ quyền Hà Nội,
và một cái Đảng gian phi Việt cộng, làm ǵ có cái
chuyện sinh ra người lương thiện đuợc.Bản chất của
chúng là “đầu trộm, đuôi cướp, là loại gịi bọ” như
lời nhân gian thường nghĩ về chúng. Lại nữa, thấy
cái “cung điện xa hoa” và những vật trang trí và
trưng bày trong cung điện của tên “Trùm đỏ ” Lê Khả
Phiêu sang trọng hơn các nhà của những vị nguyên thủ
quốc gia Âu Mỹ này. Cái nhà và mảnh vườn của tên
Trùm đỏ Lê Khả Phiêu uớc tính khoảng sáu triệu Mỹ
Kim.Là “đầy tớ dân” mà chúng ở những căn nhà qúa
sang trọng như thế đó!Một người giúp việc nhà luơng
tháng nhiều lắm là một triệu đồng Việt Nam. Vậy tiền
đâu tên Trùm đỏ Lê Khả Phiêu có được dinh thự sang
trọng như thế? Chỉ có tiền ăn cắp, ăn cướp, hối lộ,
tham nhũng, ăn chận, ăn bớt chén cơm mồ hôi của Dân
làm ra. Điển h́nh chỉ là một tên cựu Trùm Đỏ cái
Đảng gian phi Việt cộng chuyên cướp của dân.Chúng
c̣n hằng ngàn, hằng vạn tên Trùm lớn Trùm nhỏ Đỏ
khác nữa, th́ chuyện chúng cướp tài sản của Dân là
chuyện sư thật, không phải chúng tôi xuyên tạc. Bởi
vậy, Đất Nước không trở thành con Rồng cất cánh bay
cao lên được với người ta, làm cho người Việt tự hào,
nở mày nở mặt với thiên hạ.C̣n người dân nghèo, măi
măi là mái nhà bị dột nước mưa quanh năm ngày tháng,
áo th́ mặc vá nhiều mảnh, cơm th́ bữa đói, bữa lưng
v́ những tên sâu Dân hại Nước này đây.
Do đó, tự do
chính trị và tự do ư muốn không vốn tại bằng việc
hoàn toàn không xác định, hoàn toàn vô bằng cớ.
Nhưng là trong việc xác định thực trạng thứ hai, có
nghĩa là trong sự kiện làm ra luật riêng (độc lập),
sau khi các khoản luật đó đă đuợc người dân thừa
nhận để tạo nên một cộng đống chính trị, một quốc
gia chính trị, th́ được gọi là “tự do chính trị”;
hay tạo nên cho người dân, th́ được gọi là “tự do
luân lư”.Có nghĩa là v́ an ninh chung của quốc gia,
quyền tự do của chúng ta không được xâm phạm vào
những quyền tự do của người khác. Đơn cử không được
gây ồn ào, tiếng động lớn về đêm, nhất là nơi chúng
ta cư ngụ,v́ ai cũng cần nghĩ ngơi và ngủ để bồi
duỡng thể xác và tâm linh sau một ngày làm việc mệt
nhọc.
5.3. TỰ DO Ư
MUỐN (LE LIBRE-ARBITRE)
Khi nói
đến tự do ư muốn, đó là nguyên nhân của khả năng,
khởi đầu tự ḿnh, là trạng thái của sự việc. Tự do ư
muốn là quyền chọn lựa hay không muốn chọn lựa một
việc, một hành động, một sở thích nào đó mà người ta
muốn làm, muốn thực hiện. Tự do ư muốn là nguyên
khởi của ước muốn của ḿnh - chỉ là như thế-và không
là ǵ khác. Và con người nghĩ rằng lúc họ sử dụng
các tự do ấy, là để hướng dẫn các hành động của ḿnh
với sự ư thức. Điều đó không có nghĩa là người ta có
thể làm cho thỏa măn các điều kiện tất yếu của ḿnh,
như thể chiều theo thực tại cái điều theo ư họ muốn.
Qủa những điều kiện hiện hữu này không như là những
ǵ của sự việc tất yếu một cách nhất định. V́ thực
con người hiện hữu với những hành động, những tác
động qua tương quan truy tưởng, th́ họ có thể đặt
tên cho hành động đó, họ nghĩ tuởng, nhận ra và
thưởng thức các việc làm ấy trong ư nghĩa sáng tạo
và các vật sản xuất ra. Hay nữa, họ loại bỏ và làm
việc biến đổi những tiến tŕnh giáo dục trị liệu,
giáo dục chính trị cùng các vấn đề giáo dục khác. Sự
quan hệ truy tưởng này được gọi là lư do thực tiễn
(raison pratique) hay ư muốn tự do (volonté libre).
Tự do ư muốn không như người ta thường giả thiết, là
tư tưởng trong một diễn tiến theo kinh nghiệm, hoặc
là một kinh nghiệm có được, và tự do ấy là một độc
lập của thực thể tâm linh (une substance spirituelle
indépendante). Trái lại, tự do ư muốn là tiến trinh
siêu nghiệm được xem là một tương quan truy tưởng,
được biểu lộ trong một cách thức định vị cụ thể. Tự
do siêu nghiệm chỉ tích chứa trong ư muốn và ước
muốn, tự do siêu nghiệm không đơn giản tất định như
ta tưởng. Đầu tiên ư muốn phải bày ra, tích chứa
trong một quyết định nguyên khởi của hiểu biết và
nhận ra. Ư muốn chỉ hợp với sự hiểu biết này là một
hành động tích chứa tự do.Từ thực tế và sự kiện này,
th́ sự tự do đặt ḿnh (hỏi ḿnh) bởi tiếng vâng và
đồng ư trước một sự tự do khác. Bởi khi nhận ra sự
tự do ấy cũng là sự tự do ta chọn, ta muốn. Sự tự do
có một đặc điểm thông đạt và giao dịch, cũng như có
một ư muốn để thông truyền cho ta cùng mọi người. Do
đó :
a) Một
hành động là tinh thần tự do hay đạo đức, nếu như
hành động tự do đó không tuân phục vào những phương
châm chủ quan hay chủ thuyết sai lạc không tưởng (như
chủ thuyết Marxisme, Maoisme vv.), nhưng là vào
những quy tắc và đạo luật khách quan, những chủ
thuyết đạo đúc, nhân bản…
b) Một
cộng đồng con người hay một cộng đồng chính trị quốc
gia là tự do, khi mà những quan hệ bên ngoài đời
sống xă hội của các phần tử công dân cũng như giai
cấp lănh đạo, cầm quyền, guồng máy Nhà Nước không có
hành động những điều phi pháp, phạm pháp, không có
cưỡng hiếp luật pháp và hiến pháp như kiều tập đoàn
phỉ quyền Hà Nội và cái Đảng gian phi cộng sản của
chúng thường làm. Cũng thế không có chuyên chế,
chuyên quyền, độc đoán, độc tài, dùng luật rừng với
nhau hay với dân chúng như Nhà Nước phỉ quyền Hà Nội
hằng luôn làm thế. Trái lại, người dân hay chúng ta
hoặc là giai cấp cầm quyền đều hành động bởi một môi
sinh luật pháp phổ quát có tính cách nghiêm túc và
chính xác, vả nữa cùng tự trọng và tôn trọng nhân vị
và nhân quyền và dân quyền.
Qua đó, th́
sự tự do vốn tại bằng một h́nh thái luật lệ thích
hợp với ư niệm của lư do chân chính. Có nghĩa sự tự
do theo ư này là sự hổ tương của những hạn chế, và
cùng một thời gian bảo đảm chống lại sự vi hiến,
phạm pháp, mà mọi người v́ ư nghĩa hàm súc của sự tự
do hành động, họ có thể gây rối loạn và bất an cho
đời sống cộng đồng quốc gia. Do đó, tất cả các luật
lệ và luật pháp khi làm ra phải được sự ưng thuận
chung của quốc hội là cơ quan lập pháp, hay dân hội
theo thể chế dân chủ trực tiếp.Không có kiểu nghĩ
gật, nghị theo, nghị ba phải của Quốc Hội bù nh́n
cộng sản Viêt. Họ là nô bôc, công cụ tay sai của Nhà
Nước Phỉ Quyền Hà Nôi, hằng luôn tuyệt đối làm theo
lệnh Đảng gian phi của chúng. Dù biết việc đó là hại
Nước, giết Dân, th́ chúng vẫn cúi mặt làm theo lệnh.
Chúng tôi
thiết nghĩ, trước hết sự tự do chính trị không vốn
tại trong một tối thiểu của các thể chế, và trong
tối đa của các tự do con người. Trái lại, sự tự do
chính trị là trong việc b́nh đẳng và hổ tương của
các giới hạn, cùng bảo đảm được cái tự do ư muốn.
Chúng ta có thể gọi tự do là một hệ thống các luật
pháp và quyền lợi, cho phép mọi người dân sử dụng
các quyền lợi của sự sống : như quyền tư hữu tài
sản, quyền tự do tư tưởng, ngôn luận và báo chí,
quyền tự do niềm tin và tôn giáo, quyền tự do buôn
bán và đầu tư, quyền tự do lập hội và đảng phái, tự
do hội họp và đi lại vv. Hầu như các tự do này không
được hiện hữu trong cái thể chế xă hội chủ nghĩa vô
loại của phỉ quyền Hà Nội. Tiếp đến là những bổn
phận phụ thuộc được công khai tuyên bố dưới dạng
thức là luật cấm : như cấm trộm cắp, buôn bán lậu,
cấm mua bán thuốc phiện, cấm chạy xe vượt đèn đỏ hay
vượt qúa tốc độ, qúa cây số ấn định, cấm giết người
và hiếp dâm, cấm đào ngũ, cấm xâm nhập vào nhà dân
bất hợp pháp vv.
Theo nghĩa
rộng của tự do th́ vô cùng, nhất là trong ư muốn của
con người th́ không thể tưởng được. Nhưng tựu trung
lại, để qụân b́nh đời sống và ư tưởng, chỉ chính
thức là tự do khi chúng ta hành động không làm cản
trở hay nguy hại đến tự do của người khác cùng cộng
đồng quốc gia. Chẳng hạn như ông Phạm Văn Đồng, Lê
Khả Phiêu, Phan Văn Khải, Nông Đức Mạnh Và Nguyền
Minh Triết cùng Nguyền Tấn Dũng và tập đoàn Việt
gian bán Nước của chúng hiện nay. Đó là chúng đă làm
một hành động càn gở nguy hại đến người dân Việt Nam
và Đất Nước Việt, là kư giấy cho không và nhượng
không cho bọn Rợ Hán Bắc Kinh hai quần đảo Trường Sa
Hoàng Sa, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và bao đất đai
biển cả hái ra tiến của Quốc Gia chúng ta. Đây là
một cái tội tầy trời đối với Tố Quốc của phỉ quyền
Hà Nội. Nếu chúng ta c̣n tự hào là ngời Viêt Nam,
con cháu Hai Bà Trưng, Vua Ngô Quyền, Đức Trần Hưng
Đạo,Vua Lê Lợi, Vua Nguyễn Huệ, th́ không thể nào,
không thể nào « cúi mặt nhằm mắt lại » bỏ qua chuyện
để cho chúng ngang nhiên làm càn như thế này : để
rồi Dân Việt chúng ta không c̣n Đất c̣n Biển mà ở mà
sống. Sơn Hà đă nguy biến, bọn tay sai và bọn quân
sư Rợ Hán Trung Cộng đang ở trong Đất Nước thân yêu
chúng ta. Chúng đă ăn sâu vào máu huyết xương máu Mẹ
Việt Nam rồi. Ngày Mất Nước Việt sẽ không biết khi
nào. Do thế, c̣n Nước Việt là c̣n ông bà cha mẹ, vợ
con con cháu chúng ta, khi mất Nước Việt là chúng ta
mất hết. V́ vậy, với sự sống c̣n của tiền đố Dân Tộc,
của Tổ Quốc chúng ta, chúng ta nhất tâm đống ḷng
đứng dậy !Tay trong tay đoàn kết lại, cùng quyết chí,
một ḷng, một ư để tranh đấu giải thể cái chế độ phỉ
quyền Hà Nội bán Đất bán Biển cuả Đất Nước chúng ta,
mà Cha Ông đă có công dựng nên và bảo tồn cho con
cháu thừa hưởng. Nhờ đó, người dân Việt chúng ta mới
có cơ hội dành lại được những mảnh đất, biển cả và
các quần đào chúng ta đă mất. Xin nhớ cho rằng con
chim, con cá, cây cỏ, cành hoa đă bao năm sống trong
mảnh đất, trong nguồn nước của Đất Việt chúng cũng
có hơi ấm t́nh người của Dân Việt ủ ấp chăm sóc
chúng. Nay chúng bị bọn phỉ quyền Hà Nội vô đạo đức,
vô t́nh nghĩa đồng bào và dân tộc, tán tận lương tâm
bán chúng cho bọn Rợ Hán Bắc Kinh khát máu hung tàn.
V́ thế, làm sao các cây cỏ, con chim, con cá và cành
hoa Nước Việt đó không đêm ngày than thở nhỏ lệ mong
chúng ta giải thoát cho chúng.
VI. TẠM KẾT
LUẬN
Chúng ta đă cùng nhau thảo luận một vài tư tưởng cho
vấn đề: « Xây Dựng Những Giá Trị Căn Bản Cho Xă
Hội-Chính Trị ». Thật sự, bất cứ cộng đồng chính trị
xă hội, quốc gia nào ở trên trái đất này, th́ các
nhà cầm quyền đều phải nghĩ cùng quan tâm đến những
quan niệm phổ quát về luân lư đạo đức của Hiến Pháp
và Luật Pháp, hy vọng quốc gia ấy mới có được no ấm,
b́nh an, hạnh phúc và thăng hóa. Những luật pháp,
hiến pháp hay các sự tự do, việc công tâm, công minh
và công bằng cũng chỉ là những luật căn bản, việc
tất yếu của điều kiện làm người sống chung trong một
cộng đồng quốc gia. Do thế, chúng tôi nghĩ rằng chỉ
đưa ra một vài khái niệm đơn thuấn, một vài khắc
khoải và suy tư của chúng tôi trong cảnh sống đau
khổ, lầm than hiện thực của đống bào Việt, hầu chúng
ta hay chinh họ có thể giúp nhau và hổ trợ nhau tự
giải cứu lấy ḿnh, lấy gia đ́nh và đống bào ḿnh.Như
thế, chúng tôi mong thay những vị làm chính trị,
những đảng phái đang tranh đấu, đang nỗ lực mong sớm
giải thể chế độ phi nhân và phỉ quyền Hà Nội này,
hầu khôi phục lại Đất Nước Việt sau thời hậu cộng
sản. Thực chúng tôi mong muốn chúng ta cố gắng tránh
cho Đất Nước không c̣n tái diễn đi vào vết bánh xe
của đổ nát nữa. Đủ rồi, v́ quá đổ nhiều xương máu,
nước mắt, xác chết bởi cái « xă hội chủ nghĩa cộng
sản vô loại, không tưởng » do tên đại Việt gian bán
Nước Nguyễn Tất Thành, rước cái đại họa của chủ
nghĩa tàn sát con người này về bằm nát thân Cha, và
đánh nát thân Mẹ Việt Nam cùng con cháu hơn nữa thế
kỷ qua.
Chúng tôi
nghĩ rằng hành động thực hiện đạo đức luân lư của
chính trị mà chúng ta cùng nhau đă bàn qua, là thể
hiện ư chí tự do.Hay đẹp hơn, là phương cách, và qua
phương cách đó, th́ sự tự do cùng nhân quyền được
công nhận và mọi người dân Việt có thể xây dựng lại
Đất Nước ḿnh trong yêu thương và nhân bản.
Đep thay !
Sống, muốn sống, chịu đựng sự sống và hoàn cảnh sống
hay đảm nhiệm sự sống cho chính ḿnh và cho người,
đó là công việc mà chúng ta cùng nhau cố gắng thực
thi. Có nghĩa là chúng ta cố gằng hướng về sự đồng
thuận và chấp nhận những rủi ro, những đau thưong,
những mất mát đă xảy ra và đang xảy ra cùng đang có
trên quê hương thân yêu… Thế nhưng, với một ḷng
kiên tŕ và quyết tâm, với một ư tưởng cố gằng vuơn
lên, hầu xây dựng cùng tái thiết lại đời sống của
dân Việt, của chúng ta, xây dựng lại Đất Nước và thế
hệ con cháu mai hậu có đuợc ngày tươi sáng rạng ngời
với Nằm Châu, Bốn Bể cùng thiên hạ.
Bởi thế, một
con người sống động, một con người linh động, một
con người biết đau cái đau của đồng bào ḿnh, biết
khổ cái khổ với họ, biết nhục cái nhục Quốc Thể và
Quốc Sỉ của Dân Tộc – Và một con người c̣n có trái
tim thịt, c̣n có huyết thống Việt chảy từ tim lên
năo, một người biết đứng thẳng, nói thẳng là một
người Việt cố gắng biết cho đi cái ḿnh có, đang có,
sẽ có, là một bước hướng về điều đẹp, cái chân thật,
sự thiện hảo, để tạo một hệ thống kinh tế, luật pháp
dân chủ cùng một việc thực thi hóa các giá trị nhân
bản cho xă hội-chính trị Việt Nam. Chúng ta có thể
mạnh miệng nói mà không sợ sai, là các giá trị đạo
đức, luân lư trong một thể chế dân chủ của xă hội đă
được chánh quyền nhiều nước Âu Mỹ Á trên thế giới
thực hành từ lâu cho Đất Nước và dân chúng họ.Nhờ
vậy Đất Nước họ càng ngày càng giàu có, càng hạnh
phúc an lạc hơn. Cũng như nhiều Nước đă phát triển
như Nam Hàn, Đài Loan, Tân Gia Ba, đang phát triển
như Thái Lan, Mă Lai, Nam Dương v.v. Họ đă đi theo
những tiêu chuẩn đạo đức luân lư chúng ta bàn đó, để
xây dựng và phát triển Đất Nước ḿnh thêm giàu có và
hưng thịnh. Chính các chánh phủ các nước này đă biết
áp dụng các nhân quyền, những căn bản cùng các tự do
và công chính, công minh cùng công bằng của xă
hội-chính trị cho ngươi dân ḿnh. Khổ thay, chỉ trừ
tập đoàn phỉ quyền Hà Nội cố bám quyền và dựa lưng
bọn rợ Hán Trung Cộng, nên vẫn c̣n ngoan cố không
chịu thực hiện cho dân Việt chúng ta các thứ quyền
trên, và thiếp lập một chế độ dân chủ, dân quyền và
đa đảng.
Chúng tôi
thiết tưởng ư thức luân lư đạo đức và lương tâm ngay
thẳng là mong ước của chúng ta, hầu thiết tạo cho
Nước Việt Nam có được một thể chế chính trị nhân bản
và dân chủ. Đó cũng là sự tranh đấu không mệt mỏi
của chúng ta chống lại và tiêu trừ các việc bất công,
tham nhũng, hối lộ, cướp đoạt, phi đạo đức, luân lư
cùng bán Nước của tập đoàn phỉ quyền Hà Nội, đă soi
ṃn và tàn phá Đất Nước, và có thể mất Nước. Việc
làm chúng ta đó, là hoa trái của một tương quan trao
đổi, học hỏi và hổ tương, cũng như thể hiện cho ḿnh
và cho quốc gia những giá trị căn bản của xă hội
chính trị. Như thế là chúng ta tạo cho nhau sự kính
trọng nhân vị, phẩm cách và những quyền lợi của Đất
Nước và người dân !
Nam Giao Lê Thiện
B́nh
NHỮNG SÁCH
BÁO THAM KHẢO
-
Aristôte: « La Politique », éd. Tricot, Paris 1970,
et « Ethique A Nicomaque »,
éd.
Tricot, Paris 1972.
- Jean Luc
Chabot : « Introduction A La Politique », PUF. Paris
1991.
- Erich
Weil : « Philosophie Politique », Vrin, Paris 1956.
- Charles
Maurras : « Mes Idées Politique », Fayard, Paris
1937.
- Claude
Lefort : « Essais Sur Politique, XIX-XX
Siècle », Le Seuil, Paris 1986.
- Bertrand de
Jouvenel : « De La Politique Pure », Calmann-Lévy,
Paris 1963.
- Georges
Burdeau: « Traité De Science Politique, et
Démocratie, Essai Synthétique », Neuchâtel, La
Baconnière 1956.
- Georges
Burdeau :«La Démocratie », Seuil, Paris 1966.
-
Proudhon : « L’Essence Du Politique », Sirey 1945.
- Julien
Freund : « L’Essence Du Politique », Sirey 1965.
- Jean
Baechler : « Précis De La Démocratie », Calmann-Lévy,
Paris 1994.
- Carl
Schmite : « La Notion Du Politique », Flammarion,
Paris 1992.
- Otfried
Hoffe : « Ethik Und Politik, Grundumolle Und
Probleme Der Polotischen Philosophie », Franfurt
1979.
- Gaston
Fessard : « Autorité Et Bien Commun », Aubier, Paris
1945.
- Augustin
(Saint) : « De Libre Arbitre ».
- Emmanuel
Lévinas : « Éthique Et Infini », Le Livre De Poche,
Paris 1990.
- Emmanuel
Mounier : « Communisme, Anarchie Et Personnalisme »,
Seuil, Paris 1965.
-
Bergson : « Le Rationalisme Critique », Paris 1935
et : « Donnes Immédiates De La Conscience »,
éd.
PUF.1975.
-
Hegel : « Principes De La Philosophie Du Droit ».
-
Hobbes : « De Cive ».
- Kant
Emmanuel : « Critique De La Raison Pure », Libraire
Philosophique, Paris 1983.
- Hume:
« Essay Concerning Human Understanding ».
- I. Berlin :
“Four Essay On Liberty”, Oxford 1969.
- J. S.
Austin: “ If And Can”, Philosophical Papers, Oxford
1971.
- J. Raws:
“Theory Of Jutice”, Cambridge-Mass. 1971.
-
Lock-Hume-Rousseau : « Social Contract », Oxford
University Press, London 1970.
- Kelsen :
« Théorie Pure Du Droit », Baconnière 1953.
- Thomas
d’Aquin : « Somme Théologique », Cef, Paris 1985.
- J.
Starobinsky : « L’Invention De La Liberté », Genève
1965.
- J.
Maritain : « Philosophie Morale », Paris 1948.
-
M.Secheler : « Le Formalisme En Ethique Et L’Ehique
Matérielle Des Valeurs », Gallimard, Paris 1955.
-
Platon : « La République », Paris 1966.
- Yves Madiot : « Les
Droits De L’Homme », M.A., Paris 1987.
- Bản « Tuyên
Ngôn Nhân Quyền Và Dân Quyền, Déclaration Des Droits
De L’Homme Et Du Citoyen » năm 1789.
- Bản « Tuyên
Ngôn Nhân Quyền Girondine » năm 1791.
- Bản « Tuyên
Ngôn Nhân Quyền Của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ
Déclaration Des Droits De La Virginie » Ngày 12.
06.1776.
- Bản « Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Déclaration Universelle Des
Droits De L’Homme » Ngày 10.12.1948.
- Bản « Tuyên
Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền », ấn bản đặc biệt của
Nguyệt San Dân Việt, Hamburg 1986.
- Bản « Luật
Quốc Tế Nhân Quyền » do Giáo Sư Nguyễn Hữu Thống
phiên dịch, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam 1988.
- Đức Giáo
Hoàng Phao Lồ Đệ Nhị, Thông Điệp : « Tin Mừng Sự
Sống-Evangelicum Vitae », 1995.
- Lữ Giang :
« Những Bí Ẩn Đàng Sau Các Cuộc Thánh Chiến Việt Tại
Việt Nam », Mekong, California 1994.
- Trần Từ
Yên phiên dịch tài liệu CIA : « Thế Lực Chính Trị
Của Phật Giáo Ấn Quang Của USMACV ». Diễn Đàn Chính
Trị ngày 26.
01.2009.
- Phạm Trần :
« Nhục Nước Hại Dân », Diễn Đàn Chính Trị ngày
20.01.2009.
- Bùi Trần
Phong : « Biên Cương », Diễn Đàn Chính Trị ngày
20.01.2009.
- Trần Mộng
Vũ : « Đầu Năm Nói Chuyện Đảng Cộng Sản Việt Nam
Dâng Đất Cho Trung Cộng », Diễn Đàn Chính Trị ngày
11.01.2009.
- Cao Tú
Thanh : « Đạo Đức Và Suy Thoái Đạo Đức », Sài G̣n
Tiếp Thị Tết 2009
- Chuyên
Trinh : « H́nh Ảnh Tư Gia Tư Bản Đỏ Lê Khả Phiêu »,
Diễn Đàn Chính Trị, Ngày 05.02.2009.
- Bùi Trung
Trực : « Báo Nhật Nói Về Đường Dây Buôn Lậu Ở
Vietnam Airlines », Diễn Đàn Chính Trị, Ngày
06.02.2009.