|
Nước Mắt 30 Tháng Tư
Chuyện Kể Hành Tŕnh Biển Đông (Nhiều Tác Giả)
http://www.onthi.com/?a=TV&tv=STR&str=S&hdnstoryid=6546
On Fri, 4/17/09, Viet Hai HoangNam
<trancongtu712@ yahoo.com> wrote:
Article Link:
http://saigontimesusa.com/baithuyennhan/daituongniem1084shtml
http://saigontimesusa.com/bai/thuyennhan/khactenshtml
ĐÀI TƯỞNG NIỆM
THUYỀN NHÂN
VIỆT HẢI
Hôm nay đúng ngày 30 tháng Tư, 2008, những kư ức cũ sau 33 năm nghiệt
ngă lại hiện về khi người Cộng Sản Việt Nam nhẫn tâm trả thù người dân
Việt Nam Cộng Ḥa qua nhiều chính sách tàn bạo, gây điêu đứng cho người
dân bị trị miền Nam. Để rồi trong sách báo ghi nhận những tiếng hờn cô
đơn trong lao tù, những tiếng khóc oan khiên dưới đáy mồ ḷng đại dương.
Tôi xót xa xem bài thơ của thi sĩ Ngô Minh Hằng như sau:
Khóc người đáy biển
Tháng Tư ra biển khóc người
Oan hồn hỡi, đáy trùng khơi, xin về…
Biển chiều vàng ánh tà huy
Dài tay sóng níu bước đi vô hồn
Đứng trên bờ đá cô đơn
Khóc người bằng tiếng thơ buồn xót xa
Ai hay đáy biển là nhà
Máu pha lệ hận chan ḥa đại dương
Thịt da nát dưới bạo cuồng
Ngàn trang huyết sử bên đường tử sinh!
Mắt buồn nh́n sóng biển xanh
Thấy sương khói vẫn vô t́nh khói sương
Mà ḷng đ̣i đoạn đau thương
Xót người đáy biển đoạn trường chưa nguôi
Tháng Tư ra biển khóc người
Hiển linh,chứng giám đôi lời thơ đau
Tôi viễn xứ, người biển sâu
Chung hồn lưu lạc, chung sầu quê hương
Người trên sóng nước trùng dương
Tôi khung cửa hẹp, gió sương bốn mùa
Bóc tờ lịch. Lại Tháng Tư!
Đau t́nh sông núi làm thơ khóc người
Người vùi xương trắng biển khơi
C̣n tôi sống kiếp dân Hời v́ ai?
Ngô Minh Hằng
(Viết để khóc cho ḿnh và cho những thuyền
nhân kém may mắn trên đường vượt biển t́m
Tự Do sau 1975.)
Tượng Đài Mẹ Bồng Con, Canada.

Tôi có xem một bài báo viết dịp kỷ niệm 20 năm xa xứ, đúng vào tháng 4
năm 1995, thủ đô Ottawa của Canada đă cho ra đời Đài Tưởng Niệm Thuyền
Nhân Việt Nam tại đây với bức tượng Mẹ Bồng Con của điêu khắc gia Phạm
Thế Trung tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố sầm uầt này, ông vốn là
người tị nạn vượt biển đến Canada với kỷ niệm u buồn về chuyến hành
tŕnh gian nan đầy hiểm nguy, là nguồn cảm hứng khiến ông sáng tác tác
phẩm độc đáo này. Người Việt du lịch từ các nơi có dịp ghé xem hay cư
ngụ tại Canada không khỏi hănh diện v́ đă dựng được một bức tượng thật ư
nghĩa và tạo xúc động cho nhân loại do một biến cố chính trị đau thương
do nạn Cộng Sản tàn ác gây ra. Bức tượng đồng đen "Mẹ Bồng Con" đang
chạy giặc, cho thấy nét lo âu hối hả. Gương mặt người mẹ đầy can đảm
nh́n về phía trước, bà đi t́m một chỗ an toàn cho đứa con đang ngủ b́nh
yên trên cánh tay mẹ. Tượng Mẹ Bồng Con to giống như người thật, là tấm
ḷng ưu ái mà chính quyền Canada dành cho người Việt tị nạn chính trị,
quốc gia đă cưu mang tiếp nhận hơn 200,000 người Việt, mà làn sóng
thuyền nhân chiếm độ 80% trên tổng số cộng đồng người Việt sinh sống tại
Canada. Dưới chân tượng Mẹ Bồng Con, có bảng lưu niệm viết bằng tam ngữ:
Việt, Anh và Pháp thật xúc động:
"Tưởng niệm những người đă bỏ ḿnh trên đường t́m tự do".
Bác sĩ Dương Anh Dũng, một thuyền nhân đến Đức do con tàu Cap Anamur vớt,
ông là thủ quỹ trong Ban Chấp Hành của Hội Xây Dựng Tượng Đại Thuyền
Nhân tại cảng Hamburg cho tôi biết Tượng Đài Thuyền Nhân dự trù hoàn tất
sang năm, 2009. Mô h́nh điêu khắc đang chuẩn bị.

Hải cảng Hamburg bên Đức quốc là khởi điểm hải hành của các con tàu nhân
đạo Cap Anamur đă đi cứu vớt 11,300 thuyền nhân tị nạn VN ngoài Biển
Đông đưa về bến bờ tự do và chăm sóc y tế cho 35,000 thuyền nhân VN
trong các đảo tỵ nạn tại Đông Nam Á. Chính Hamburg cho thấy sự rộng mở
từ tâm và nhân ái với những nạn nhân tị nạn Việt Nam tại Biển Đông liều
ḿnh ra đi t́m ư nghĩa của hai chữ tự do, họ được cứu vớt mà nơi xuất
phát và trở về của những con tàu nhân đạo Cap Anamur và các vị chủ tàu
đều là người Đức đang sinh sống tại Hamburg.
Hamburg từ lâu đă được xem như Cửa ngơ ra thế giới, và giờ đây với sự
hiện diện của tượng đài tị nạn Việt Nam th́ Hamburg c̣n được gọi là Cửa
ngơ đến t́nh người. Nó là một hải cảng lớn bận rộn và quan trọng của Âu
châu, và là một danh lam ghi dấn tích can trường của thuyền nhân Việt
Nam.
Để tưởng niệm Thuyền Nhân Việt Nam bỏ ḿnh trên Biển Đông, hai nơi Bỉ và
Thụy Sĩ cũng đă xây dựng bia tưởng niệm tại Liège và Genève. Tượng Đài
Thuyền Nhân th́ có tại Canada, Đức và Hoa Kỳ.
Tại Hoa Kỳ, mô h́nh của Tượng Đài Thuyền Nhân đă có rồi, nó là biểu
tượng người mẹ bồng con trườn trên cát dang tay cầu cứu và người thanh
niên d́u bà cụ già đứng phía sau. Dự án nguyên thủy được nhà văn Thái Tú
Hạp và hiền thê là thi sĩ Ái Cầm thực hiện lời ước nguyện từ Biển Đông
khi ông bà ra đi vượt biên. Chuyến đi tưởng chừng vô vọng v́ bị thiên
nhiên băo táp đe dọa.
"Đi về đâu thuyền lạc giữa mênh mông
Không thể hiểu khi an b́nh đất nước
Người giết hại người thù hận đau thương
Người đày đọa người chết thảm giữa biển đông
Biển ơi! Xin hăy dừng cơn thịnh nộ
Hăy mở đường đưa ta đến niềm hy vọng b́nh an"
Đó là trích đoạn bài thơ dài "Lời Nguyện Giữa Biển Đông" của Thái Tú Hạp
vào năm 1979, khi ông dâng cảm xúc tận cùng bắt nguồn từ khi con tàu ra
khơi với 200 người tị nạn vượt trùng dương từ Đà Nẵng và bị băo tố đánh
vỡ vào bờ hoang đảo Hải Nam, 13 người tử nạn. Ông đă thầm nguyện đến xứ
sở Tự Do nào đó sẽ lập bia thờ và để tưởng niệm đến những đồng hương đă
vĩnh viễn ở lại giữa Biển Đông u trầm oan khuất.
Dự án đă được thai nghén và thi hành từng bước một từ nhiều năm qua, với
bao khó khăn trên bước đường thực hiện. V́ tính cách vô vị lợi và mang
một ư nghĩa cao đẹp, dự án được nhiều đồng hương tiếp tay hỗ trợ. Điểm
đặc sắc là ngoài bức tượng đúc bằng đồng màu nâu, do điêu khắc gia kiêm
họa sĩ Vi Vi thực hiện, c̣n có Bia Đá Hoa Cương màu đen rất thẩm mỹ khắc
tên các thuyền nhân và bộ nhân không đến được đích điểm tự do, hoặc v́
mất tích hay đă tử nạn, tên họ được ghi nhận lên bia đó. Đến nay hơn
5,000 nạn nhân đă ghi nhận trong danh sách làm bia. Việc t́m kiếm tên
nạn nhân quá cố hay mất tích đă được cung cấp bởi thân nhân hay bạn bè
của họ, việc khắc tên tên nạn nhân hoàn toàn miễn phí. Theo sự phác họa
đài tưởng niệm này, bức tượng bằng đồng có chiều cao là 7.2 feet và nặng
4,000 pounds sẽ được đặt trên một bệ bê tông nằm giữa một hồ nước. Xung
quanh hồ nước, phía bên ngoài sẽ là những bia đá hoa cương có khắc tên
các nạn nhân. Tượng đài này cuối cùng đă t́m được nơi tọa lạc thích hợp
là khu vực gần Vườn Vĩnh Cửu thuộc đất nghĩa trang Westminster Memorial
Park, trong thành phố Westminster, ngay kế cận vùng Little Saigon, nơi
tập trung đông đảo nhất đồng hương Việt Nam tại hải ngoại.
Ngày 26 tháng 4 năm 2008, đă có hơn 400 quan khách, các giới chức chính
quyền Westminster, Dân Cử và Đại Diện các Hội Đoàn, Báo Chí và đồng
hương tề tựu cùng với các thành viên trong Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng
Niệm Thuyền Nhân Việt Nam và các nhân viên của Westminster Memmorial
Park đă chính thức làm lễ động thổ khởi công xây dựng tượng đài.
Nếu trong một phút suy tư nào đó, ta tự hỏi có bao nhiêu người đă tử nạn
trên bước đường t́m tự do như vậy. Nếu biết quá nguy hiểm th́ tại sao
hàng triệu người đành dứt khoát là phải rời bỏ quê cha đất tổ để ra đi.
Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc th́ những số liệu về người tị nạn được
ghi nhận như sau:
Đă có trên 850,000 người được định cư và trên 850,000 người xem như đă
tử mạng trên đường vượt biên. Vào cuối năm 1978 đă có hơn 60,000 thuyền
nhân tại các trại tị nạn Đông Nam Á. Vào tháng 6 năm 1979 đă đạt số cao
kỷ lục với 54,000 thuyền nhân đến các trại. Nếu chúng ta ước tính chỉ có
50% sắc suất vượt biên thành công th́ đă có 100,000 người ra đi trong
ṿng một tháng. Số người thiệt mạng rất đáng cho chúng ta suy ngẫm. Lư
do người ta liều ḿnh trên Biển Đông cũng v́ họ không thể sống dưới sự
cai trị tàn ác của nhà cầm quyền hung bạo Cộng Sản Việt Nam.
Với con số khổng lồ gần một triệu nạn nhân coi như đă mất tích hay tử
nạn, th́ danh sách 5,000 người này được ghi nhận vào đợt đầu khắc tên sẽ
là nổ lực tiêu biểu cho sự ghi ân và nhớ ơn những nạn nhân vượt biên
chấp nhận đối diện với những rủi ro, những liều lĩnh thà chết c̣n hơn
sống nhục nhă trong chế độ phi nhân tính của CSVN. Sự ra đi vĩnh viễn
của hàng trăm ngàn nạn nhân của những thách đố biển cả hay vượt xuyên
rừng núi để tạo ra thảm trạng đánh động lương tâm thế giới, để rồi chúng
ta có những chuyến tàu ra khơi cứu vớt người vượt biển như Cap Anamur từ
Đức, con tàu Đảo Ánh Sáng (Ile de Lumière) từ Pháp, hay Hải quân Hoa
Kỳ,...
Trong những ư tưởng như vậy, đại diện cho Ủy Ban Thực Hiện Đài Tưởng
Niệm Thuyền Nhân Việt Nam đă phát biểu những cảm nhận như sau:
"Cho đến nay thảm trạng Thuyền Nhân vẫn c̣n vang vọng như những thông
điệp, những chứng tích cụ thể đầy đau thương và dũng cảm nhất trong lịch
sử dân tộc, đă in sâu vào tâm khảm hàng triệu người Việt Nam rời khỏi
quê hương vượt biển t́m tự do. Đă có hàng trăm ngàn thuyền nhân, bộ nhân
trên những chặng đường gian nan đầy máu và nước mắt nhưng cuối cùng
không đến được bến bờ nguyện ước. Đă đánh thức lương tâm nhân loại, đón
nhận chúng ta vào định cư nơi các miền đất Tự Do, An B́nh và Thịnh
Vượng."
Lời Nguyện Giữa Biển Đông là tiếng kêu gào thống thiết vọng về từ biển
cả xa xăm, những vong hồn bơ vơ bỏ lại với trùng dương sóng dử, tiếng
khóc thê lương của những cuộc chia ly bi thảm ngút ngàn trời cao mà thơ
Thái Tú Hạp đă diễn tả, những ước nguyền từ chuyến hải hành oan nghiệt,
nhưng may mắn... Chuyện thuyền nhân là những chứng tích ghi nhận trang
sử bi hùng nhất của người tị nạn mưu cầu sự tự do và nhân quyền trong
đời sống, mà trong những chứng tích đă qua, có người thành công và có kẻ
thất bại. Cuối cùng, những thất bại trong bất cứ cuộc hành tŕnh t́m tự
do nào cũng được tôn vinh và ghi nhớ qua biểu tượng của Tượng Đài Thuyền
Nhân ngày nay.
"Biển sóng đừng xô nhau ch́m sâu đáy nước
Đừng xé em tôi từng mảnh cuồng điên
Em chỉ là cánh hoa mong manh thánh thiện
Em hồn nhiên trinh trắng ngây thơ
Tiếng mẹ khóc, mẹ gào to hơn sóng cả
Cuộc chia ly bi thảm ngút trời cao
Biển ơi! Xin hăy đưa ta đến trái tim người
Trái tim như thác nguồn yêu thương từ ái
Biển vỗ về nhau những nghiệt ngă trầm kha
Hoa Tự Do nở bằng nước mắt
Bằng máu xương khổ lụy hăi hùng
Con đường sáng biển khơi thức dậy
Trong t́nh thương của nhân loại thăng hoa
Biển ơi! Dù sao ta vô cùng cảm tạ
Lời nguyện một lần măi khắc ghi
Xin hăy bốc hơi thành mưa thành suối Cam Lồ
Gieo xuống ruộng đồng xanh thắm ước mơ
Chảy vào trái tim người hiểm độc
Cho cuộc đời chuyển hóa Thiện Tâm
Chuyện Thuyền Nhân là những trang sử
Máu xương và nước mắt ngh́n năm
Những thảm kịch từ Việt Nam réo gọi
Từ biển đông trầm thống kêu gào
Biển xót xa và loài người cứu khổ
Trong ṿng tay Thánh Mẫu Từ Bi
Trong trái tim Mẹ Quan Âm Bồ Tát
Biển hết trầm luân bất hạnh thảm sầu
Biển thắp ngọn hải đăng tỉnh thức trong hồn nhau
Tạ ơn đất trời xóa tan thù hận
Ánh sáng nhiệm mầu trong tăm tối thương đau
Cho chúng ta niềm tin yêu hạnh phúc
Mùa xuân như triều sóng vươn lên
Tỏa ngát t́nh thương khắp cùng thế giới"
(Thơ Thái Tú Hạp)
Việt Hải
Ngày 30 tháng Tư, 2008.
Nước Mắt 30 Tháng Tư
THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG
Trường hợp của Thuyền Nhân Vũ Duy Thái
(Tự thuật từ trại tị nạn Songkhla,
Thái Lan – Tháng 4,1980)
Tôi tên là Vũ Văn Thái, sinh ngày 2 tháng 10 năm 1936 tại Hóa Lộc, Tuyên
Sơn, Ninh B́nh (Bắc Việt). Thuở nhỏ rất nghèo, phải chăn trâu cắt cỏ từ
lúc 5 tuổi. Mồ côi cha năm 10 tuổi, mẹ ốm đau thường xuyên, nhưng lần
hồi đến năm 23 tuổi th́ đời sống tương đối dễ chịu hơn với nghề thợ may.
Tôi di cư vào Nam năm 1954 và lập gia đ́nh vào ngày 6-4-1958 ở xứ An
Lạc, Gia Định. Nhà tôi tên là Đinh Thị Bằng, sinh năm 1940 tại Phú Nhai,
Nam Định (Bắc Việt). Nhà tôi cũng thuộc thành phần di cư năm 1954. Lúc
mới lấy nhau, chúng tôi rất nghèo. Tiền đám cưới có 6,000 bạc chúng tôi
cũng lo không nổi phải đem bán cái máy may được hai ngàn và vay mượn bạn
bè thêm bốn ngàn nữa mới tạm đủ. Như thế nhà tôi đă khởi sự chia sẻ với
tôi nỗi gian nan, vất vả của đời sống ngay từ lúc mới bước chân về nhà
chồng. Những năm đều sống thiếu thốn cực nhọc trôi qua trong sự đảm
đang, tần tảo của nhà tôi. Là một phụ nữ yếu đuối về thể chất nhưng lại
rất mạnh mẽ về tinh thần, nhà tôi đă phấn đấu, hy sinh rất nhiều để lo
lắng cho chồng con. Gần như trong suốt cuộc đời, nhà tôi không được
hưởng thụ ǵ, không có một thói quen giải trí nào, không ưa thích một
điều ǵ ngoài niềm vui lo toan sắp xếp công việc tề gia nội trợ, chăm lo
bữa ăn giấc ngủ cho chồng cho con. Lúc nào nhà tôi cũng cố gắng sắp xếp
để cho chồng con được ăn ngon, mặc đủ. Dưới mắt tôi, nhà tôi là một phụ
nữ tuyệt vời, một mẫu người phụ nữ Việt Nam đảm đang, trung hậu, hiền
ḥa, luôn luôn là niềm an ủi khích lệ, là chỗ dựa vững chắc cho toàn thể
gia đ́nh.
Chúng tôi sinh hạ được tất cả 7 con, tuần tự gồm có:
1 Giuse Vũ Duy Thanh sinh năm 1959
2. Vincente Vũ Duy Khanh sinh năm 1961
3. Phero Vũ Duy Tuấn sinh năm 1963
4. Maria Vũ Thị Thanh Thủy sinh năm 1966
5. Maria Vũ Thị Thanh Thủy Trang sinh năm 1968
6. Martin Vỹ Duy Tài sinh năm 1971
7. Phero Vũ Duy Trí sinh năm 1975
Gia đ́nh tôi được kể như hoàn toàn hạnh phúc nếu như không có sự sụp đổ
miền Nam, đất nước rơi vào tay Cộng Sản (CS). Là một gia đ́nh Thiên Chúa
giáo ngoan đạo, các con tôi đă thụ hưởng một nền giáo dục nằm trong t́nh
yêu thương của Thiên Chúa do đó không bao giờ chúng tôi có thể sống nổi
dưới ách độc tài, đàn đáp của CS. V́ thế chúng tôi đành quyết định bỏ
nước ra đi.
Chuyến vượt biển thứ nhất, vợ chồng tôi cho ba cháu trai đầu đi trước.
Tầu khởi hành từ bến Bạch Đằng, Sài G̣n vào ngày 1 tháng 10 năm 1978 chở
theo 130 người. Nhưng chỉ đi được 4 ngày th́ chết máy. Ghe lạc vào một
đảo san hô đầy đá ngầm thuộc đảo Bành Hồ (Đài Loan). Sống ở đó 50 ngày,
thực phẩm hết, số người chết v́ đói cứ tăng dần và những người sống sót
đành xẻ thịt người chết mà ăn để sinh tồn. Hai cháu lớn của tôi, Vũ Duy
Thanh và Vũ Duy Trung đă bị rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát này. Các
cháu đă chết và xác của các cháu đành cho bạn đồng ghe ăn thịt.
Măi tới sáng ngày thứ 50 trên đảo mới có tầu đánh cá Đài Loan tới cứu.
Cả ghe 130 người chỉ c̣n sót có 60 người. Nhưng trên đường từ đảo san hô
vào Đài Loan, lại có thêm một số người chết nữa v́ quá kiệt sức. Rút cục
khi đặt chân lên đất liền ở Đài Loan, chỉ c̣n 34 người sống sót, trong
số đó có con trai thứ ba của tôi là Vũ Duy Tuấn và một đứa con đỡ đầu
của tôi nữa tên Trịnh Vĩnh Thụy. Hiện cháu đang ở Đài Bắc. C̣n cháu
Thụy, nhờ có thân nhân ruột thịt bảo lănh nên đă định cư tại tiểu bang
California, Hoa Kỳ.
Trước thảm kịch có hai anh ruột bị chết thảm, cháu Tuấn v́ sợ bố mẹ đau
buồn nên đă dấu biệt tin tức. Măi tới ngày 20-12-1978, một người bạn của
tôi tên Đỗ Minh Ngự ở Mỹ viết thư báo tin, gia đ́nh tôi mới được rơ tin
tức về chuyến đi kinh hoàng đó. Vào đúng thời điểm này, gia đ́nh chúng
tôi lại đang chuẩn bị vượt biển chuyến thứ hai. Chung tôi làm lễ cầu
nguyện 3 ngày liền cho hai cháu ở nhà thờ An Lạc, Chí Ḥa, rồi mặc dù vô
cùng đau đớn, chúng tôi vẫn tiếp tục xúc tiến cuộc hành tŕnh vượt biển
với cả gia đ́nh.
Chúng tôi rời Sài G̣n vào ngày 28 tháng 12 năm 1979 lúc 4 giờ sáng để đi
xuống Rạch Giá. Qua 4 giờ sáng ngày 29-12 th́ ghe của chúng tôi ra khơi,
chiếc ghe mang số VNKG 0980, dài 13 m, ngang 2,5m, chở 120 người. Ghe
chạy tới 7 giờ chiều ngày 30-12 th́ gặp hải tặc Thái Lan (trên tàu cướp
có treo cờ Thái Lan), chúng xáp lại cướp lần đầu. Cướp xong, chúng bỏ
đi. Qua 8 giờ sáng ngày 31-12 lại gặp một tầu cướp khác. Lần này cướp
xong, chúng phá máy tầu. Một chuỗi 8, 9 tiếng nổ phát ra ở hầm may làm
chiếc ghe lập tức bị chao đi và ch́m lỉm ngay ít phút sau đó. Tất cả mọi
người trên ghe đều la khóc kinh hoàng. Vào những giây phút cực kỳ khiếp
đảm này, vợ chồng chúng tôi không nói được với nhau câu nào. Tôi chỉ c̣n
kịp nh́n thấy nhà tôi với vẻ mặt hết sức kinh hoàng, thảng thốt. Rồi tôi
cuối xuống hôn hai con chót của tôi là cháu Tài (8 tuổi) và cháu Trí (4
tuổi). Tôi cũng nghe thấy tiếng cháu Thùy kêu la: “Cha ơi... chú Tuynh
ḱa..” và cháu Trang la lên “Cha ơi ... chết rồi..” Rồi ghe ch́m lỉm.
Lúc đó nhà tôi vẫn ở bên cạnh tôi. Nhưng nhà tôi không hề níu kéo lấy
tôi. Đây là sự hy sinh cao cả cuối cùng của nhà tôi dành cho chồng con.
Nhà tôi không muốn tôi bận bịu, vướng mắc giữa sóng biển để tôi có cơ
hội cứu các con. Khốn thay, một con sóng độc ác đă ùa tới nhận ch́m tất
cả những người thân yêu của tôi. Tôi không c̣n thấy ai nữa. Chỉ có sóng
nước ngập đầu. Ngay lúc đó tôi được một người cháu tên Phương níu tôi
lại và tôi bíu vào một cái can nước. Tôi ôm cái can một cách hoàn toàn
theo bản năng. Và lúc tôi mở được mắt ra th́ tôi thấy nhà tôi vật vờ
ngay trước mắt.. Rồi sau đó tôi ngất đi, không c̣n biết ǵ nữa. Khi tỉnh
dậy tôi nh́n thấy ḿnh đang nằm trên tàu của hải tặc. Bên cạnh tôi là
hai em Hùng và Châu đang làm hô hấp nhân tạo cho nhà tôi, chắc là nhà
tôi vừa được các em vớt lên. Tôi cũng gượng dậy để ra phụ giúp nhưng bọn
hải tặc đă ra hiệu là phải hất nhà tôi xuống biển. Thật không c̣n ǵ tan
nát hơn ḷng tôi lúc đó. Tôi nhào lại, ôm nhà tôi vào ḷng, đau đớn nh́n
nhà tôi hai mắt vẫn c̣n mở nhưng thân h́nh đă bất động. Tôi đă đă dùng
tay vuốt cho hai mắt của nhà tôi khép lại rồi tôi khiêng ở đầu, hai em
Hùng và Châu khiêng ở chân hạ nhà tôi xuống biển. Đó là lần cuối cùng
tôi ở cạnh nhà tôi. Những giây phút đau đớn nhất của một đời người. Một
cơn sóng áp tới. Biển xanh bao vây nhiều sóng dữ đă vĩnh viễn lôi cuốn
đi người vợ thân yêu nhất đời của tôi. Không bao giờ tôi c̣n gặp lại.
Không có cả một nấm mồ để tôi lui tới thăm viếng. Một thoáng lay động
trên mặt biển. Rồi vĩnh viễn chia ĺa. Ôi đau đớn nào cho bằng sự đau
đớn mà tôi đă phải chịu đựng. Tất cả những người thân yêu nhất của tôi
đă ra đi trong khoảnh khắc. Khi chết, nhà tôi bận một cái quần đen, một
cái áo montagut đen. Nét mặt nhà tôi không tỏ vẻ đau đớn ǵ cả. Chỉ có
nét thảng thốt thoáng qua trên khuôn mặt b́nh thản. Đó là h́nh ảnh cuối
cùng của nhà tôi mà tôi ghi nhớ được trước giây phút ngàn năm vĩnh biệt.
Kiểm điểm lại, chẳng những nhà tôi chết trên biển mà tất cả bốn đứa con
của tôi đều chết đuối hết, cháu Thanh Thùy, cháu Thùy Trang, cháu Duy
Tài, cháu Duy Trí, những người thân yêu nhất của đời tôi đă vĩnh viễn đi
vào ḷng biển sâu.. Tôi tưởng rằng nếu trên đời này có những thảm họa
đau đớn nào th́ thảm họa giáng xuống gia đ́nh của tôi phải kể là một
trong những thảm họa lớn nhất, khủng khiếp nhất, vượt quá sức chịu đựng
của một con người... Cùng số phận với vợ con tôi c̣n có 65 người khác
nữa đi cùng ghe với tôi cũng đă bị chết ch́m. Như thế, cả thảy 70 sinh
mạng thuyền nhân trong ghe này đă bị chết dưới bàn tay bạo tàn của hải
tặc. Số c̣n lại được hải tặc đưa vào đảo Kra, một ḥn đào nằm trơ vơ
giữa biển cả trong Vịnh Thái Lan. Đảo này bây giờ trở thành địa ngục của
dân Việt Nam tị nạn bằng thuyền. Bởi v́ bất cứ ai bị đưa vào đây đều trở
thành nạn nhân của sự bạo hành: Tra tấn đàn ông để khảo của, và bắt chỉ
chỗ trốn của phụ nữ, c̣n phụ nữ th́ lẩn lút trong hốc núi, trong rừng
sâu hay trong vách đá ngầm nhô ra ngoài biển. Trên đảo có nhiều dấu tích
thảm thương của đồng bào đi trước để lại như những hàng chữ viết lên
vách đá, những mớ tóc đàn bà vương văi rải rác khắp mọi nơi (chắc là
được cắt đi để giả trai) và cả những xác thuyền, những ngôi mộ của những
người đă bỏ xác ở đó.
Chúng tôi được đưa lên đảo vào lúc 6 giờ chiều ngày 31-12 năm 1979. Ḷng
đớn đau, thân xác ră rời, bệnh hoạn. Các em tôi phải t́m kiếm cỏ khô
trải thành nệm cho tôi nằm, lo t́m thức ăn cho tôi ăn. V́ tôi quá đau ốm
nên chú Chiếu đă chịu khó đi mày ṃ ở khắp mọi chỗ, ḅn mặt ở những nơi
có vật dụng vương văi của đồng bào đi trước bỏ lại để t́m kiếm cho tôi
những viên thuốc. Có những viên đă vữa nát v́ nắng mưa, có những viên
ṃn vẹt chỉ c̣n lại một phần tư nhưng tôi vẫn cố nuốt để cầm cự được cho
sức khỏe đă vô cùng suy sụp của tôi.
Sáu ngày trên đảo là sáu ngày buồn thảm, kinh hoàng. Đói, bệnh và những
nỗi nhớ thương, đau đớn đến tận cùng của tâm hồn tôi. Trong khi ấy, các
phụ nữ đi cùng ghe vẫn phải lẩn trốn như những con vật vô phương tự vệ
trước những cuộc lùng sục bạo tàn của hải tặc.
Đến ngày 6 tháng 1 năm 1980, chúng tôi được Cao Ủy LHQ phát hiện (bằng
trực thăng bay qua đảo) và đưa thuyền ra đón vào quận Pakphanang thuộc
tỉnh Nakorn Sri Thamaraj. Ở đó 18 ngày làm thủ tục với cảnh sát Thái,
th́ chúng tôi được đưa về trại Songkhla ngày 23-1-1980.
Hôm nay là ngày 10 tháng 4 năm 1980, là ngày thứ 100 nhà tôi và các cháu
chết trên biển, trong Vịnh Thái Lan trên đường vượt thoát xứ CS để đi
t́m tự do. Tôi đang ở trại tị nạn Songkhla. Cách đây 50 ngày, Cha Tuyên
Úy Joe Devlin đă dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho nhà tôi và các con tôi tại
nhà thờ ở trong trại. Hôm nay, nhân dịp 100 ngày, Người cũng dâng lễ cầu
nguyện cho. Tôi vô cùng đớn đau, vô cùng chua xót nhớ lại những người
thân yêu nhất của đời tôi. Vợ tôi, sáu con tôi đă vĩnh viễn ra đi không
bao giờ trở lại.
Lạy Chúa, xin Chúa hăy xót thương cho những linh hồn đă chết đớn đau
trong thảm họa đớn đau chung của cả Dân Tộc Việt Nam chúng con. Xin Chúa
hăy cứu vớt linh hồn vợ con, các con của con để đưa tất cả về nơi an
nghỉ b́nh an hạnh phúc đời đời nơi nước Chúa. Xin Chúa hăy giúp con đầy
đủ can đảm để đứng vững sau cơn gió băo khủng khiếp của đời người, để
cho con c̣n đầy đủ minh mẫn, đủ sức khỏe để lo lắng cho đứa con trai duy
nhất của con c̣n đang sống ở Đài Loan.. Con đă chịu đau thương quá
nhiều. Con cầu nguyện ơn Chúa ban xuống cho tất cả thân nhân c̣n lại của
con, các đồng bào của con, những người sẽ vượt biển ra đi đều tới bến bờ
b́nh an.
Songkhla, ngày 10 tháng 4 năm 1980
Vũ Duy Thái
(Nhân giỗ 100 ngày của vợ và các con chết trên Biển Đông)
oOo
Chuyến Vượt Biên Hăi Hùng
Hoàng Định
Đoàn người chúng tôi vượt biển bằng chiếc ghe với chiều dài khoảng 10
thước, ngang 2 thước, kéo bằng chiếc máy đầu tám ngựa khỏi Băi Giá, Đại
Ngăi, Hậu Giang, Sóc Trăng chở 78 con người đủ lứa tuổi, riêng trẻ em
khoảng 20 cả trai lẫn gái, hầu hết thuộc về làng ven biển, mà tôi chỉ
biết một số người.
Chúng tôi rời quê hương tháng 2 năm 1990, thời tiết êm dịu, mọi việc kể
như trót lọt, nhưng đồ ăn nước uống rất thiếu thốn, v́ thế sau bảy ngày
chịu đựng một em bé sáu tuổi khóc măi và chết trong tư thế đang khóc,
mọi người lấy ván có sẵn trong ghe làm tạm chiếc ḥm với hy vọng ngày
mai mang lên bờ chôn cất, tối đó có rất nhiều người nằm mơ nhiều chi
tiết liên quan đến cái chết của cháu bé, riêng tôi thấy rất nhiều trẻ em
kêu khóc, níu kéo ghe ch́m xuống, thế là mọi người đều đồng ư cúng vái
với một ít ḿ gói vụn và thả ḥm xuống biển, mấy đêm sau đó mọi người
không c̣n những giấc mơ kinh hoàng nữa.
Vài giờ sau chiếc ghe máy bị hỏng không ai sửa chữa được, thế là thuyền
lênh đênh trên biển thêm bảy ngày đêm, đói th́ ăn cả kem đánh răng, khát
th́ uống nước biển hoặc nước tiểu, cứ tối đến th́ thỉnh thoảng đốt lửa
kêu cứu bằng quần áo tẩm dầu.
Một đêm khoảng 2 giờ 30 sáng, trong lúc người ta đốt lửa làm hiệu th́
nhận ra một chiếc tàu chạy đến và dừng lại trao cho chúng tôi chuối,
nước, rồi tự động cột dây kéo đi. Người trên chiếc tàu đó không biết là
người nước nào. Chúng tôi rất mừng v́ được cứu. Khoảng mười phút sau đó,
tàu dừng lại song song với ghe và ra dấu chỉ vào tai, vào ngón tay, cổ
tay chúng tôi, mấy tiếng giọng lơ lớ “US đô la”. V́ quá vui mừng nên chủ
ghe Năm Be vội lấy mũ nỉ gom góp nữ trang của những người trên ghe, họ
đứng n h́n và thấy nữ trang được bỏ đầy vào chiếc mũ th́ nhẩy qua ôm
chiếc mũ sang tàu họ. Một người có vẻ là chủ tàu ra dấu như không đủ vào
đâu nên ra dấu bảo đưa thêm hoặc chính họ sang để lục soát. Rồi họ tự
động cột giây từ bánh lái đến mũi ghe và cột vào tàu họ. Tôi và một số
thanh niên khác cảm thấy lo sợ và nghi ngờ hành động này th́ tức thời họ
ra dấu chỉ đám đàn ông đu dây xuống nước dọc thành ghe. Tôi và mọi người
cùng biết đây là bọn hải tặc đang t́m cách hăm hại những người trên ghe,
đang do dự không tuân lệnh nhưng chủ ghe Năm Be lại giải thích v́ của
cải chúng tôi nộp chó họ quá ít ỏi không đủ cho chuyến đánh cá của họ.
Và v́ họ ít người nên ngại chúng tôi đông người đó thôi. Thấy chúng tôi
vẫn đứng yên, Năm Be vung tay nói; “ Đ.M! có thằng nào chịu nổi cú đấm
của tao không mà bày đặt chống cự?”, thế là chúng tôi hậm hực đu xuống,
bọn họ chỉ tay ra dấu cho Năm Be đu xuống luôn. Cả đám đàn ông thanh
niên đu dây trong biển dọc thành ghe mà nh́n họ.
Trời lờ mờ sáng và với đốm lửa cấp cứu mà chúng tôi đă đốt lên, nhận ra
bọn họ khoảng năm tên, tay xách búa chặt cây bước sang lục soát những
phụ nữ, trẻ em trên ghe, sau dó tên lái táu lái ghe chạy làm lệch ghe.
Đàn ông thanh niên dưới nước ôm chặt dây sát vào ghe, cố ngoi đầu lên
thở c̣n thân ḿnh và đôi chân trôi trong nước theo tốc độ của ghe bị
kéo. Chúng tôi c̣n đang kinh hoảng th́ những chiếc búa vun vút chém vào
đầu, vào ḿnh đám đàn ông thanh niên đang đu dây.
Cảnh tượng thật kinh hoảng, tiếng la ó từ trên ghe của phụ nữ, trẻ con,
tiếng hét chỉ một lần rồi tắt lịm của những nhát búa trúng đích vào đầu,
tiếng la thất thnah cảu những ai bị chém trúng tay, cổ, vai hoặc lưng.
Tôi kinh hăi buông tay lúc nào không hay và lặn ngầm qua bên kia của
ghe. Tên lái tầu rọi đèn pha đảo qua đảo lại để nh́n cho rơ ràng mà
chém, chợt nhận ra tôi, một tên trong bọn lấy mỏ neo liệng theo nhưng
may không trúng, thế là tôi lặn tiếp một hơi.
Rời xa ghe một khoảng, tôi nh́n lên ghe, đèn sáng choang từ dưới mặt
nước nh́n rất rơ, tôi thấy họ tách một đứa bé ra khỏi tay một bà nào đó
liệng xuống biển, tôi tiếp tục bơi xa và nh́n thấy tàu đă húc cho ghe
ch́m hẳn. Tôi quá kinh hăi không biết chuyện ǵ đă xảy ra sau đó nữa,
măi qua đến trại Sikew qua một bé gái 13 tuổi tôi mới biết là trẻ em quá
nhỏ th́ bị liệng xuống biển, c̣n bé gái đang lớn và tất cả phụ nữ th́ họ
lùa lên tàu và ngày đêm thay nhau hăm hiếp.
Tôi vẫn tiếp tục bơi mà chẳng biết đi về đâu, măi gần sáng gặp được tài
công Thời (c̣n gọi là Chệt Lác) lưng bị chém một nhát búa, và ông Hùng
bị một nhát búa ngang mang tai máu me c̣n rỉ ra. Cả hai đnag ôm một
thùng nhựa đựng dầu 20 lít làm phao, tôi mệt quá ghé tay vịn vào nhưng
cả hai năn nỉ tôi rời xa đi v́ thùng dầu quá bé không đủ sức nổi cho ba
người, tôi thông cảm họ và chợt nhớ ra vết thương của hai người máu rỉ
ra rất dễ làm mồi cho cá mập. Thế là tôi bơi đi và chợt nảy ra sáng kiến
cởi chiếc quần dài thắt ống, lộn ngược làm phao, tôi dựa cổ vào đáy quần
và cứ thế một vài giờ lập lại cách làm như vậy cho đến khoảng gần giữa
ngọ ngày hôm sau. Nh́n xa xa thấy một vật mầu đen đen nhấp nhô, thế là
tôi cố gắng lội đến và rất may vớ được thùng dầu từ chiêc ghe của chúng
tôi. Tôi vội ôm ngay vào ngực và thấy sung sướng lạ thường như vừa trút
được một khối nặng nề mệt mỏi ra khỏi con người vậy. Nhìn quanh thấy
kẻ ôm thùng, người bơi, người ôm ván, không biết ai là ai nhưng
nhẩm đếm những điểm di động có vào khoảng 30 người. Tôi rất
mừng vì còn được nhiều người sống sót, hoạt cảnh xẩy ra như
thể chúng tôi đang chia từng nhóm bơi lội vậy. Có khá nhiều
tàu đánh cá khoảng hơn mười chiếc không biết của nước nào đi
ngang, nhưng họ tỉnh bơ nhìn chúng tôi như đang tắm biển vậy, có
thể nói từng chiếc tàu đó nghe thấy tiếng kêu cứu não nề
tuyệt vọng của chúng tôi trên mặt biển đều khoát tay từ chối.
(Khi đến trại chúng tôi được biết nếu họ cứu thì sẽ phiền
đến họ vì phải khai báo, chụp hình chung với nhau theo luật Cao
Ủy Tị Nạn để điều tra, và nhất là họ sợ bọn hải tặc nhận
ra sẽ trả thù)
Chúng tôi cứ lêu bêu ngày đêm trên biển đến ngày thứ ba đã thấy
lờ đờ vài ba xác chết và nhiều người bất động còn ôm thùng,
ván, có một cái xác ngay sát gần bên tôi. Đến trưa, chợt một
tàu đánh cá chạy lại gần lại một cặp vợ chồng. Họ vớt vội
người đàn bà, đó là chị Lên đang lả người bám vào ván, anh
Vũ vội bám vào thành tàu để họ vớt lên thì bọn họ gỡ tay đẩy
xô ra, nhìn xuống trông thấy tôi chị Liên vội la lên; “Hoàng ơi,
giúp anh Vũ với !”, tôi chẳng giúp được ǵ, tôi cũng như anh ấy lều
bều trên mặt nước, anh Vũ chỉ biết nh́n theo như cái xác không hồn.
Chiều đến sóng bắt đầu lớn, cha con ông Ba Vạn và cháu Hồng ôm thùng dầu
bị dập vùi trong cơn biển động trông quá kiệt sức, đột ngột ông Ba Vạn
thốt lên “Hồng ơi! Tao bỏ mày!”, thế là ông buông tay mất tăm. Chẳng mấy
ai c̣n để ư đến nữa, tôi cũng như mọi người đều mê sảng, hoa mắt, có
người thốt lên thấy cồn cát trước mặt, có kẻ thấy hàng dừa xanh mướt, kẻ
th́ thấy núi xanh thăm thẳm, người thấy cồn đất, c̣n tôi th́ thấy bờ dừa
và người đàn bà ngoắc tay như bảo tôi bơi vào, tôi bơi theo hướng tôi
thấy, mạnh ai nấy lội theo hướng riêng. Tôi bơi rất lâu mà chẳng thấy
đến gần, rồi người đàn bà hiện ra bảo tôi bỏ thùng mà bơi cho nhanh, tôi
buông ra và ra sức bơi bằng tay, được vài phút cũng chẳng thấy bờ dừa.
Chợt ôi như bừng tỉnh và cầu nguyện th́ thấy cát biển, cây dưới nước,
tôi đứng xuống rồi người tôi ch́m hẳn và mê sảng, thấy như người nào cho
ăn, tự nhiên tỉnh táo, mở mắt nh́n lại thấy ḿnh đang ch́m dần nên tôi
hoảng hồn lội lên, một hồi mới nổi khỏi mặt nước. Nh́n chung quanh toàn
biển là biển, th́ ra tôi đang mê man hoang tưởng, và kỳ lạ là không cảm
đói khát chi, đêm hôm đó trải qua một đêm quả là kinh hăi.
Đến sáng tôi gặp được ba người lớn và ba trẻ em c̣n lại trên biển gồm
người cha có đứa con sáu tuổi bị tách rời mẹ quăng xuống biển và vợ th́
chúng bắt hăm hiếp, đứa bé chín tuổi con của anh ta, cô bé 13 tuổi có mẹ
bị chúng bắt sang tàu hăm hiếp và hai người em nhỏ bị tách ra liệng
xuống biển, cháu Hồng con ông Ba Vạn bị sóng dập kiệt sức buông tay, Từ
Minh Tường, Thời (Chệt Lác). Qua 5 ngày 4 đêm trên biển chúng tôi gặp
một tầu sắt và một tầu đánh cá, họ dừng lại, chúng tôi cũng chẳng màng
đến v́ hàng trăm chiếc cũng đă qua đi như vậy. Thế nhưng họ đang vớt
chúng tôi, tuy có muộn màng v́ quá nhiều người kiệt lực trên biển, nhưng
vẫn c̣n sống sót bảy người lớn nhỏ, tôi nh́n đồng hồ tay là 6 giờ 58
chiều. Nh́n họ nước da ngăm đen, quấn xà rông tôi không đoàn được họ là
người nước nào, họ đang loay hoay nấu cháo cho chúng tôi ăn, uống từng
chút như họ đă có kinh nghiệm cho những người vượt biển đói khát này
rồi. Họ chở chúng tôi và tiếp tục đi đánh cá, hơn một giờ sau đánh bắt
được một con cá mập họ đem bỏ xuống hầm tàu, nó quậy ầm ầm, họ chỉ tay
xuống hầm rồi chỉ chúng tôi như muốn nói sẽ bị cá ăn thịt nếu tụi tôi
c̣n lêu bêu trên nước.
Tầu chở chúng tôi vào bờ khoảng 5 giờ sáng, họ ra dấu sẽ có cảnh sát tới
giúp nhưng đừng nói số tàu của họ cứu, rồi họ vội quay tầu ra khơi (Sau
này tôi mới biết vùng biển đó thuộc mă Lai Á cạnh Thái Lan) Khoảng nửa
giờ sau, có cảnh sát đến, chúng tôi vẫn chưa rơ là người nước nào, một
cảnh sát biết tiếng Việt chỉ vào một chiếc xe pick up truck và bảo chúng
tôi “Lên xe đi”. Trên đướng đi họ hỏi chúng tôi có biết cô gái nào tên
N. 13 tuổi không? Một anh nhận là cháu vợ, thế là họ trở về trạm cảnh
sát và anh đă gặp được cô cháu gái thân xác ốm yếu, và nhất là đôi chân
bước đi hai hàng trông đau đớn lắm. Gặp lại chúng tôi, cháu khóc nức nở
kèm theo nỗi kinh hoàng ghê gớm trên khuôn mặt, chúng tôi cùng im lặng
trong nỗi đau đớn chung. Một chập sau đó cháu kể lại đă bị nhốt trên tầu
3 ngày đêm và bọn hải tặc liệng hết quần áo em mà đè ra thay nhau hăm
hiếp, cháu khóc la hét đau đớn mà bọn chúng th́ cứ hết đứa nọ đến đứa
kia cho đến khi cháu không c̣n biết ǵ th́ chúng xách liệng xuống biển
cháu mới bừng tỉnh dậy. Cũng may mắn là chỉ vài phút sau đó được tàu
cảnh sát vớt. Anh ta hỏi thăm về vợ ḿnh (là d́ của cháu N), cháu cho
biết là vẫn c̣n sống nhưng d́ la hét suốt ngày đêm v́ bọn họ hăm hiếp d́
nhiều quá! thế là trong số 78 người ra đi, chỉ c̣n lại 8 người sống sót.
Sáng hôm sau một số người trong Cao Ủy Tị Nạn đến chích ngừa, chăm sóc
cho bé N...C̣n 7 người chúng tôi th́ h́nh dáng gần như nhau, ai cũng lở
loét khắp ḿnh và mặt mũi, da sưng từng mảng, được thoa và uống thuốc
trị liệu.
8 người chúng tôi ở đó ba tháng rồi được làm hồ sơ đi trại Sekew, 30
ngày sau được thanh lọc và tất cả chúng tôi được chấp thuận đi diện nhân
đạo.. Ở lại trại thêm 6 tháng nữa, riêng tôi định cư tại Hoa Kỳ theo
diện đoàn tụ anh chị em ngày 20 tháng 10 năm 1992. Mong rằng những câu
chuyện đau thương này sẽ tạo khối đoàn kết mạnh hơn trong cộng đồng
người Việt hải ngoại khắp thế giới.
Hoàng Định
oOo
Chuyến Vượt Biên Hăi Hùng Của Tàu VT1502
Thế giới biết đến Thuyền Nhân Việt Nam và công nhận tỵ nạn chính trị
CSVN vào ngày 14/11/1978 do chính nhiều chuyến vượt biên đầy hiểm nguy
và gian khổ đến được các bờ đất liền hay do các tàu bè di chuyển quanh
vùng cứu vớt, một trong những lư do đưa đến sự ra đi t́m tự do bằng cách
này, là v́ bờ biển VN trải dài từ miền Bắc xuống đến miền Nam hơn hai
ngàn cây số, ṿng qua phía sau giáp ranh với Cam Bốt và vịnh Thái Lan,
những nước gần chung quanh VN được nhắm để đến là : Hồng Kông (lúc đó
c̣n là thuộc địa của Anh Quốc), Mă Lai, Nam Dương, Tân Gia Ba, Phi Luật
Tân, Thái Lan và có chuyến đi đến cả Úc Châu …
Vào những năm 1978-1979 CSVN và CS Tàu có những tranh chấp dữ dội về
những vấn đề biên giới cũng như là vấn đề chiếm đóng Cam Bốt của CSVN,
một trong những bùng nỗ cụ thể mà các đồng bào sinh sống ở các tỉnh gần
biên giới phía Bắc từng chứng kiến là các cuộc giao tranh quân sự qui mô
giữa bộ đội CSVN và bộ đội CS Tàu (cuộc giao tranh này phía CSVN gọi CS
Tàu là bọn ‘bá quyền phương Bắc’, c̣n phía TC (xin đọc là Tàu Cộng) th́
gọi CSVN là ‘dạy cho VN một bài học’), và chính những anh chị em bị đày
trong các trại tù ‘cải tạo’ tại đây cũng được chứng kiến và thường xuyên
bị di chuyển trại v́ lư do an ninh. Do sự kiện này đă gây ra nhiều sáo
trộn xă hội lúc bấy giờ ở trong những sinh hoạt của Hoa kiều sinh sống
tại VN, nhất là vùng Chợ Lớn trong thành phố Sài G̣n, và chính TC cũng
kích động một phần trong các chương tŕnh phát thanh bằng tiếng Hoa,
phát vào Việt Nam nhằm khuấy động lên t́nh h́nh xă hội, kinh tế và chính
trị có lợi cho TC, cộng với việc mở cửa mời gọi ngay tại biên giới, phần
đất bên TC thường dựng lên các doanh trại với các phướng vải to lớn như
: « Hân hoan chào đón công dân trở về tổ quốc », đă có nhiều người thoát
chế độ CSVN bằng cách đi này, mặc dù đời sống bên TC chẳng khá ǵ hơn
VN, nhưng miễn là cứ thoát khỏi VN đă ! (sau đó họ lại t́m đường vượt
biển bằng các tàu buồm từ TC qua Hồng Kông, rất thịnh hành vào những năm
sau đó : 1980 , 1981, 1982 …)
Phong trào ‘bỏ chạy’ bằng đường biển mỗi ngày một lên cao, mà nhà càm
quyền CSVN không làm sao ngăn cản nỗi, kết quả thế giới càng ngày càng
lên án và tẩy chay chế độ phi nhân tại VN, cộng với các vấn đề liên quan
tới biên giới TC ở trên, từ đó đảng CSVN nghĩ và ‘đẻ’ ra được một chính
sách gọi là « Đi bán chính thức », với chính sách này họ tung được « một
mũi tên bắn ra, trúng được nhiều mục tiêu cùng một lúc », trên nguyên
tắc chỉ dành cho những người Việt gốc Hoa, với lệ phí phải đóng cho nhà
nước VC là ‘vàng thẻ’ (tùy theo địa phương số vàng được ấn định là từ 06
đến 12 cây cho người lớn, và 03 đến 06 cây cho trẻ con), tuy nhiên nếu
là người Việt Nam, muốn đi th́ một là mua giấy tờ do Công An cấp, để trở
thành người Việt gốc Hoa, hai là hối lộ cho cơ quan công an địa phương
tổ chức các chuyến đi ! (v́ họ thừa biết rằng : dù có là người Hoa hay
người Việt, th́ ai cũng muốn chạy càng xa càng tốt để tránh nạn CS), với
chính sách này vừa đuổi được những người mà họ gọi là ‘khúc ruột thừa’
hay ‘ngụy quân ngụy quyền’, vừa lấy được vàng, tịch thu tài sản (vào
thời điểm này chưa được bán nhà, mặc dù là của ḿnh với đầy đủ giấy tờ
chứng minh), hơn nữa dù ‘nhà nước’ có cho đi hay không ? th́ trước sau
ǵ người ta cũng vẫn cứ tự đứng ra tổ chức lấy những chuyến đi ‘chui’,
bất chấp có canh pḥng cẩn mật cở nào và tù tội ra sao ? người dân
thường nhạo báng chế độ là : « đến cây cột mà biết đi, th́ cũng c̣n bỏ
đi nữa, huống chi …! ».
Các chuyến đi tự động do người dân đứng ra tổ chức được gọi là « Vượt
biên hay đi chui », từ ngữ « Đi chính thức » dành cho những diện ra đi
đoàn tụ do gia đ́nh bảo lănh, hay hồi hương cho những người có quốc tịch
nước ngoài, c̣n chương tŕnh ra đi này th́ được gọi là « Đi bán chính
thức » hay cũng có thể hiểu là : vượt biên có giấy tờ do CA cấp cho đi
??? Thoạt đầu mới nghe qua, chính những người trong cuộc cũng lầm tưởng
đây là một ‘biệt đăi’, một ‘ân huệ’ ! Từ cái nh́n bên ngoài cách thức tổ
chức, hồ sơ giấy tờ với đầy đủ chi tiết tên họ, địa chỉ, lư lịch gia
đ́nh và có cả dán ảnh 4x6 như một h́nh thức thông hành, cho đến băi tập
chung tụ họp, di chuyển tập thể từ các nơi đến địa điểm bằng các đoàn hộ
tống do Công An tỉnh hướng dẫn, địa điểm khởi hành là những cảng, bến
hay doanh trại của Hải Quân, và từng người với hành lư giấy tờ, thủ tục
khám xét, không khác ǵ như ra phi trường để đi, chỉ có những đơn vị
công an tỉnh, thành phố lớn mới được biết, các làng xă nơi xa xôi hẻo
lánh không được biết đến chính sách này. Đó là bề nổi, càng sâu vào bên
trong người ta càng hiểu nhiều hơn về những toan tính, chia chác, có
nhiều chuyến đi phải dời tới dời lui nhiều lần, chỉ v́ cố nhồi nhét số
người đi tối đa cho chật cứng, bất chấp trọng tải miễn sao thâu được
càng nhiều vàng càng tốt, có những chuyến đoạn chót của chương tŕnh này
là : các âm mưu đục thủng tàu cho ch́m, vơ vét lấy sạch vàng ṿng của
những nạn nhân đem theo pḥng thân, và bắn giết thủ tiêu xóa tông tích !
Bởi v́ sau 1975, khi chiếm được toàn miền Nam, người Cộng Sản VN, xem
người dân miền Nam như những người cần phải loại bỏ, cụ thể những người
vượt biên thường bị phân biệt đối xử và họ thường gọi là : ‘phần tử phản
động, bắn bỏ!’, với cách ‘bắn bỏ’ này không đổ máu, không ai nh́n thấy,
mà c̣n thu được ‘Vàng’ và tài sản !
Chính sách trả thù dành cho Quân nhân, công chức, cán bộ, nhân viên làm
việc cho chế độ trước đây của Việt Nam Cộng Ḥa là ‘cải tạo’, ‘học tập’,
chính sách tịch thâu nhà cửa ruộng vườn ngoài Bắc là ‘Cải cách ruộng
đất’ với ‘đấu tố, địa chủ’ …, trong Nam th́ đánh ‘tư sản’, chính sách
cướp đoạt tài chánh trắng trợn, với bao nhiêu lần đổi tiền, mỗi lần đổi
th́ trị giá của đồng tiền mới lại thấp nhiều hơn so với trị giá đồng
tiền cũ, và họ ấn định mỗi gia đ́nh chỉ được tối thiểu một số tiền tượng
trưng, số c̣n lại do ‘nhà nước’ giữ, lúc nào cần và lư do th́ phải do
‘nhà nước’ chấp thuận mới được lấy ! hệ thống Kinh tế Việt Nam trao đổi
với nhau không qua trung gian ngân hàng, mà tất cả bằng tiền mặt hay
vàng, qua kinh nghiệm đổi tiền, người dân không ai c̣n tin và dám giữ
tiền trong nhà, có bao nhiêu tiền đi mua vàng cất giấu ! chính sách ‘Đi
bán chính thức’ nằm trong mục tiêu cướp đoạt vàng là v́ vậy ! Trong suy
nghĩ b́nh thường bỏ vàng ra để đổi lấy sự ra đi t́m tự do, ai cũng nghĩ
đơn giản như vậy, nhưng nếu tất cả không bắt đầu bằng các tai nạn khủng
khiếp xảy ra sau đây :
- Chiếc tàu sắt ‘Cát Lái’ bị lật trong lúc lên tàu và ch́m ngay lúc c̣n
chưa khởi hành vào cuối năm 1978, có đến khoảng 500 người chết, mở đầu
tai họa cho chính sách ‘Đi bán chính thức’ v́ tầm mức quan trọng của
chiếc tàu : to lớn, bằng sắt (rất hiếm v́ thường là bằng gỗ) nhiều nhân
vật quan trọng của Sài G̣n đi trong chuyến này.
- Chiếc tàu gỗ ‘VT 1502’ khởi hành tại cảng Vũng Tàu sau tàu ‘Cát Lái’
vài ngày, bị ch́m vào lúc 03 giờ sáng ngoài khơi Vũng Tàu (khoăng 60 hải
lư ?), với con số phơng đoán hơn 400 người chết, chấn động khu Chợ Lớn
v́ nhiều thương gia người Hoa đi trong chuyến này.
- Chiếc tàu ‘NT 337’ bị ch́m trước đó cũng vào cuối năm 1978, tại ngoài
khơi Nha Trang với số lượng cũng vài trăm người chết.
- Một chiếc tàu hơn hai trăm người đi từ miền Trung bị ch́m ngoài khơi
HongKong, cũng vào cuối năm 1978.
Và tiếp theo đó là hàng loạt các tàu đi bán chính thức bị ch́m ở hầu như
khắp các tỉnh có bờ biển. Con số chính thức bị chết cũng như các chi
tiết thường được giấu kín, không công bố, chỉ những chuyến nào c̣n người
sống sót th́ may ra mới biết được một số tin tức tối thiểu, hoặc do các
cư dân sống chung quanh ven bờ biển cung cấp, mỗi khi có xác người, đồ
vật hay ván tàu bị bể trôi vào … Trái với những chuyến đi ‘chui’, các
chuyến đi ‘bán chính thức’ có nhiều hy vọng được biết tin tức nhiều hơn,
có được thời gian, địa điểm, ngày giờ khởi hành mà người ta có thể dự
đoán được chiếc tàu đă tới chưa, bị ch́m hay mất tích ? có những chuyến
đi mất tích đến nay chẳng một ai biết, cũng có những chuyến bị ch́m cho
đến nay mới có người kể lại. Các câu chuyện được kể lại, như những đoạn
phim ma quái, kinh dị, bệnh hoạn, tưởng chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh
hay phim truyện, mà chính người kể cũng phải xót xa rùng ḿnh, nỗi da gà
khi hồi tưởng lại :
- Hận người CSVN đẩy dân vào đường cùng, liều mạng với sóng gió, biển cả
để đi t́m tự do, mà chưa biết chắc có đến được hay không ? hai vợ chồng
cùng đi trên một chiếc ghe với hơn 70 người, sau nhiều ngày trôi dạt bị
sóng đánh tan tành, chỉ c̣n lại đám người bám vào các ván gỗ trôi lênh
đênh trên biển, người chồng xấu số đă chết v́ kiệt sức, để lại người vợ
đang có bầu chuyển bụng đẻ, và đứa bé đă ra đời trong một hoàn cảnh bất
đắc dĩ với bao nhiêu trôi nỗi cuộc đời ngay tối hôm đó trên đại dương
mênh mông.
- Hai chị em chia tay cha mẹ để ra đi trên một chiếc ghe, chẳng may bị
ch́m và người em sau nhiều ngày tự lượng sức, biết ḿnh không chống cự
nỗi với thiên nhiên, buông tay hy sinh cho người chị được miếng ván gỗ
một ḿnh, để hy vọng sống sót trở về …
- Nh́n thấy vợ con bị hải tặc Thái Lan hăm hiếp trước mặt, người đàn ông
gầy yếu sau bao nhiêu ngày bị sóng nhồi nhừ tử, lấy hết sức lực c̣n lại
đứng lên xô đẩy đám người man rợ kia ra, một nhát dao mă tấu chém ngay
cổ, anh ngă quỵ xuống chỉ kịp trợn mắt nh́n, trước khi làm một điều ǵ
khác !
- Người thiếu nữ xấu số kia sau bao nhiêu lần bị hăm hiếp trên biển,
được đưa vào đất liền bán cho các động măi dâm bên Thái, đến khi không
c̣n ‘ăn khách’ v́ thân h́nh tiều tụy ốm yếu đau bệnh, được ngă giá và
đưa sang bên Tàu làm vợ cho một nông dân, sáng hôm sau chị mới phát hiện
ra ‘người chồng hôi hám, nhớp nháp đêm qua’ là một người cùi, từ đó
người ta thấy một người đàn bà bị cùi lở loét, lê lết ngoài chợ để xin
ăn …
- Thỉnh thoảng người ta vẫn cứ phải đuổi bắt, đem anh vào pḥng mặc quần
áo để giữ ǵn thuần phong mỹ tục trong sân trại ; Kể từ khi phải chứng
kiến cảnh tàn nhẫn hành hạ thể xác vợ và thân nhân anh, để lại trong tâm
trí anh một h́nh ảnh kinh hoàng cho đến khi lên bờ, vào trại th́ anh chỉ
c̣n là một gă điên …
- Sau nhiều ngày đêm bồng bềnh trên biển, trải qua bao sóng gió, đói
khát bệnh tật hoành hành, hết thủy táng người này đến người kia ! người
ta phải cắt tay để lấy máu mà uống, cầm cự qua ngày, một thiếu phụ tự
cắn vú ḿnh chảy máu cho con bú, đến khi người ta phát giác ra th́ bà đă
trút hơi thở, chết từ khi nào.
- « Bố ơi Bố ! Nếu con có chết Bố đừng ăn thịt con nghe Bố », đó là một
câu nói van xin của một đứa bé với người cha, ngay từ tuổi ấu thơ người
ta đă vô t́nh nhồi nhét vào đầu em những h́nh ảnh ghê rợn !
- Ai cũng nh́n em, không hiểu tại sao em đi khập khiễng với hai người
d́u đỡ hai bên, vào trạm y tế khám xét mỗi ngày ? Chẳng qua v́ tuổi em
c̣n nhỏ, khi bọn qủy dữ hăm hiếp em, chúng đă lấy dao rạch em ngay chổ
đó !
- Chúng nó hăm hiếp con dâu của bà đang mang bụng chữa, thằng con trai
bà sáp lại định can thiệp, nó phang cho một đao, bà chạy lạy ôm thằng
con, đầu ĺa khỏi thân rơi xuống biển, máu tuông xối xă ướt hết thân
ḿnh bà ! Bằng một sự nhiệm mầu, bà sống sót trong đống xác người ngỗn
ngang …
- Năm đó anh là một thanh niên 18 tuổi, đi trên một chuyến tàu hơn 400
người, khởi hành không được bao lâu, tàu anh đă ch́m sau khi vật lộn và
chịu thua trước sóng gió, anh bám vào các phao nổi, cùng nhiều người
lênh đênh trên biển, thời gian cứ trôi th́ số người càng thưa dần. Ngày
anh trôi được vào bờ cộng thêm với 4 người khác sau 3 ngày đêm … Tổng
cộng anh mất đi 8 người thân trong gia đ́nh gồm cha mẹ, anh chị em, và
hai đứa cháu.
- ! ! !
- ? ? ?
Và c̣n nhiều trường hợp dă man, kinh khủng, đau thương khác mà không bút
mực nào ghi chép cho hết ! Tất cả, họ chỉ muốn được quên đi, để tiếp tục
sống những ngày c̣n lại b́nh an « sóng yên biển lặng », đây là nỗi đau
mất mát của cả dân tộc ! Không thể chối căi, nạn nhân là những người đi
trên các chiếc ghe thuyền, thủ phạm là những tên hải tặc Thái Lan và nhà
cầm quyền CSVN. Ở những nước tự do dân chủ, mỗi một chính sách người ta
cân nhắc đo lường, một hành động dù nhỏ sơ ư đến đâu, ảnh hưởng đến sức
khoẻ, tính mạng người dân, đều bị pháp luật xét xữ nghiêm minh, ngỏ hầu
bảo vệ tối đa quyền lợi cho người dân. Qua chính sách đi ‘bán chính
thức’, ngoài những điều thu vét vàng và tài sản ở đoạn trên đă kể, chỉ
riêng về một vấn đề : tiêu chuẩn giao thông đường biển của các ghe
thuyền VN, cũng đủ nói lên tính cách tàn nhẫn của đảng CSVN, cố t́nh làm
ngơ đẩy người ta đi vào chổ chết, một cách tài t́nh không đổ máu ...
không súng đạn !
Đảng CSVN sẽ phải trả lời ra sao về sự xua đuổi người dân vào đường cùng
?
Đảng CSVN sẽ phải giải thích thế nào về những chuyến đi bán chính thức ?
Đảng CSVN sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về chính sách này ?
Vào năm 1978, khi bang giao giữa Việt-Nam và TC đến hồi căng thẳng, Nhà
càm quyền Hà-Nội đưa ra một chính sách giải quyết có lợi nhiều mặt cho
họ (Thâu tài sản, Vàng bạc, giải tỏa phần nào áp lực từ TC, và đuổi được
những phần tử « phản động » ra khỏi VN), qua chính sách mà ta thường
nghe đến qua tên «Đi Bán Chính Thức», ở từng nơi do Công-An địa phương
thâu và cấp giấy phép (trung b́nh Người lớn từ 10-12 lượng Vàng, trẻ con
phân nửa !) qua trung gian của chủ tàu đứng ra lo tổ chức. Chuyến đi của
gia đ́nh tôi gồm 9 người : Bố và Má lớn tôi (mới ngoài 50), Vợ chồng anh
H. (chưa đầy 30) và cháu DL (1 tháng tuổi), anh T. (ngoài 20), em H.
(con người bạn của Bố tôi khoảng 13, 14 …), cháu CP. (4 tuổi, con của
người anh thứ tư, bố mẹ và em gái cháu đi chuyến trước, hiện ở Hoa-Kỳ),
và tôi (lúc đó 18 tuổi). Tất cả tàu của tôi gồm hơn 400 người, già
trẻ,lớn bé, trai gái có đầy đủ cả, phần đông là gia đ́nh với nhau, ví dụ
như gia đ́nh của tôi 9 người, gia đ́nh bạn bố tôi 5 người (chú TH ở cầu
chữ Y), gia đ́nh chủ tàu nghe nói đâu nội ngoại tất cả lên đến vài chục
người. Và đa số là người Việt gốc Hoa, cũng có nhiều gia đ́nh người
Việt, nhưng phải làm giấy tờ giả hoặc đút lót thêm cho công an !
Gia đ́nh tôi ra ngoài Vũng-Tàu ở nhà chú B. (gần bến xe), chú thím có
tất cả 6 người con, lâu ngày không liên lạc thư từ, quên không nhớ rơ 5
hay 6 ǵ đó ? chú thím sống nhờ bán hàng và thỉnh thoảng cách vài ngày
th́ làm thịt một con ḅ, nhờ vậy tôi có dịp tận mắt xem cách mổ ḅ và
cắt từng phần bộ phận của con ḅ, thường vào lúc sớm 4-5 giờ sáng, muốn
xem phải thức dậy từ sớm, sau khi cột chặt tứ phía, tay phải chú tôi cầm
một cái búa thật to, tay trái làm động tác nhấp nháy để che hai mắt con
ḅ lại, và búa một búa thật mạnh xuống , ḅ chưa kịp phản ứng đă ngă gục
ngay xuống đất, cái khéo là ở chổ này, v́ nếu búa không đủ mạnh ḅ chưa
chết, với sức mạnh của nó chuyện ǵ sẽ xảy ra … Sau đó thọc tiết lấy máu
tươi, pha với chút rượu uống ngay tại chổ c̣n nóng hổi, v́ cuộc hành
tŕnh sắp đến không biết mất bao lâu, cần nhiều sức khoẻ, cho nên dù
không quen cũng cố gắng uống vài ngụm, kế tiếp mỗi người một việc, lóc
da, xẻ thịt, làm sạch bộ đồ ḷng … Cuối cùng dọn dẹp, vệ sinh sạch sẽ,
làm sao để kịp đem ra chợ thật sớm để bán. Trong ngày thời giờ rảnh rổi
chúng tôi thường đi tắm biển, từ nhà ra băi đi bộ khoảng 15-20 phút,
chiều về ra sau vườn chơi với mấy người con chú trong khi chờ đợi thím
làm cơm, ngày nào cũng vậy mỗi lần lên bàn ăn ít nhất cũng có đến gần 20
người ăn, trong lúc ăn cơm mọi người tṛ chuyện hàn huyên tâm sự, v́
nghĩ rằng không biết đến lúc nào mới có dịp gặp lại nhau ( thật vậy, cá
nhân tôi đến nay gần 30 năm chưa gặp lại chú thím, nghe anh T nói chú
thím hiện định cư ở Đan-Mạch). Đến khoảng 8 giờ tối th́ mọi người ai về
chổ ngủ người đó, được sắp hàng dọc hai bên với mùng che muỗi màu trắng
ngà, ở giữa là lối đi, giống như trong các dăy nhà ngủ trong trường nội
trú mà hồi nhỏ tôi có ở qua.
Liên tiếp mấy ngày nay mưa tầm tả, đi tắm biển nhanh nhanh khăn gói chạy
về nhà trú mưa, đến một buổi sáng nọ … khi dời tới dời lui nhiều lần v́
lư do ǵ không hiểu ? Chúng tôi được cho hay là tới ngày khởi hành, có
thể nói tất cả xe ba bánh của Vũng-tàu được huy động đến từng địa điểm
đón khách để đi …(người ở khách sạn băi trước, kẻ ở khách sạn băi sau,
băi dâu, Ô-Quắn, bến xe …), đoàn xe được hộ tống bởi Công-An đến từng
nơi một, người đi mỗi lúc một đông thêm, dân chúng đổ xô đứng hai bên
đường như tiển đưa khi đoàn xe đi ngang qua. Đến khoảng 3 giờ chiều
chúng tôi được đưa vào một dăy nhà, bên kia con đường là Cảng Vũng-Tàu,
trước cổng sắt Công-an đứng canh gác dầy đặc, ngoài trời mưa vẫn cứ rơi
lâm râm; Mọi người xôn xao chờ đợi, nét mặt ai cũng như lo lắng một điều
ǵ xảy ra ! B́nh thường cháu P. (4 tuổi) hay chạy nhảy vui đùa, từ khi
vào đây đến giờ cháu cứ im ĺm, đứng yên một chổ, Bố tôi hỏi : “Sao buồn
vậy ? không chạy chơi đi ?”, cháu trả lời : “Con sợ quá !”, “Con sợ ǵ
?”, “Con sợ tàu ch́m !”, Bố tôi mắng cháu xong lại ôm cháu vào ḷng vuốt
ve ! Mặc dù chưa bao giờ cháu đi tàu, vả lại với tuổi như cháu sao có
thể suy nghĩ và sợ như vậy ! Có phải đây là điềm báo trước những chuyện
không may sẽ đến ! (có nên tin hay không ?).
Chúng tôi được phát mỗi người một phần ăn, h́nh như là 1 ổ bánh ḿ ? 1
trái chuối ? và nước uống ? Đến khi trời bắt đầu tối (khoảng 6-7 giờ)
th́ mọi người tập trung sắp hàng theo từng gia đ́nh, Công-an điểm danh
kêu từng người một theo danh sách có dán h́nh và lư lịch, (tất cả đă
chuẩn bị từ trước, từ Vàng phải nộp cho đến tên tuổi v.v…), người nào
được gọi th́ đến tŕnh diện, họ kiểm xem có phải người trong h́nh và
danh sách không ? Hành lư, túi cầm tay tất cả xong xuôi mới được lên
tàu, đậu sát ngay bên cạnh, có những trường hợp phải bỏ bớt lại đồ đạt
v́ quá tải hoặc phải chi thêm ! Tàu được chia làm 3 tầng, tầng dưới cùng
nhất (hầm tàu) dành cho thanh niên trai tráng, tầng ở giữa cho đàn bà
con gái, trẻ con … trên Boong tàu là gia đ́nh, nhân viên, bạn bè thân
thuộc của chủ tàu (kể cả buồng lái). Như vậy tôi, hai người anh (anh H
và anh T ), em H được chỉ định xuống hầm tàu, mới xuống chưa quen khó
thở, phải chạy lại mấy góc (đầu hoặc đuôi tàu), kê mũi vào một ống tṛn
khá to nh́n thông suốt lên trên trời để hít thở không khí, Má lớn và chị
dâu ( vợ anh H ) xuống tầng ở giữa, Má lớn tôi một tay ôm tượng Phật Bà
Quan Âm, một tay dắt cháu P, miệng luôn khấn niệm !, chị dâu th́ ôm cháu
DL, c̣n Bố tôi th́ một phần v́ quen thân với chủ tàu, một phần v́ có
mang bệnh trong người nên được ưu đăi ngồi tầng trên (trong buồng lái
).Tàu bắt đầu khởi hành vào khoảng 9 giờ tối, mọi người được phân phát
vài viên thuốc say sóng uống ngay tại chổ, và một túi ny lông nhỏ, nếu
có ói mửa th́ dùng để đựng.
Tôi chợt thức giấc v́ phát hiện ra đằng sau lưng ḿnh có một lổ thủng
khoảng 20 cm đường kính, mọi người nằm ngủ la liệt v́ thuốc say sóng, ở
đường đi chính giữa một số thanh niên đang chuyền tay nhau từng sô nước
để đổ ra ngoài, tôi cố ngồi dậy mặc dù đầu óc đang quay cuồng, khều tay
sang bên cạnh anh H đang say ngủ, lắc mạnh cũng không thấy động tĩnh ǵ,
quay sang bên kia kêu em H, vẫn không thấy phản ứng, tôi dùng hai tay
bám và đu theo mấy cây gỗ to lớn ở trên đầu v́ dưới sàn mọi người nằm la
liệt, không c̣n chổ để đi, đến chân cầu thang th́ gặp anh T, đang cùng
đoàn người chuyển những sô nước lên trên để đổ ra ngoài, ở trên cầu
thang có một anh dùng chân cản không cho tôi lên, v́ lúc này cũng khá
nhiều người tụ tập ở đây, sợ tất cả làm rối loạn trật tự ! nằm ngay tại
chổ chưa đầy 10 phút, bổng tàu lắc mạnh, sau nhiều lần và tàu lật ngang,
nước tràn vào … mạnh ai nấy nhảy xuống biển và bơi ra thật xa theo vị
trí của ḿnh ! anh T nhảy ra trước gọi tôi nhảy theo, từ dưới biển nh́n
lên con tàu như một cái gáo múc nước, nghiêng một bên múc đầy nước vào,
xong nghiêng trở lại và từ từ ch́m xuống ! Tiếng la khóc, kêu gào từ
những người c̣n kẹt lại trong tàu tắt dần theo mực nước, đến khi cây cột
cao nhất của tàu từ từ đi vào trong ḷng biển ! Trên mặt biển chỉ c̣n
lại đồ đạc hành lư và khoảng vài chục người đang cố gắng bơi lội, t́m
kiếm những ǵ có thể mang theo được, từ Va-Li túi xách tay đến đồ ăn
trái cây, b́nh nướ c…Tụi tôi hai anh em mỗi người ôm một cái Va-Li làm
phao, vớt được không biết của ai ? may thay lục trong đó có chai dầu
Nhị-Thiên-Đường, v́ lúc này là nửa đêm nên rất lạnh, có chai dầu bôi đầy
mặt mũi cũng thấy ấm áp phần nào ! Từ xa có một nhóm người đang bám vào
các phao nổi dính chùm với nhau bằng dây, loại phao dài màu trắng, hai
đầu có hai cái lổ để cột dây, thường treo bên hông tàu để làm vật cản
khi tàu va chạm, cứ đầu cái này lại cột với đuôi cái kia, có đến hơn
trăm cái dính với nhau bằng dây nên đoàn người lúc nào cũng trôi chung
với nhau mấy ngày đêm ! Chúng tôi bỏ Va-Li bơi tới xác nhập với đoàn
người, cũng may v́ nước bắt đầu thấm vào mỗi lúc Va-Li một nặng thêm,
lấy phao trắng kẹp vào hai bên nách, mỗi bên một cái, một cái khác chêm
dưới cầm để nâng đầu khỏi mặt nước ! Từ xa chúng tôi nh́n thấy một ánh
sáng nhỏ tí từ ngọn đèn Hải-Đăng Vũng-Tàu, nhờ H (con trai chủ tàu, 13
tuổi) đeo đồng hồ điện tử, nên trong đêm tối chúng tôi biết được bấy giờ
là 3 giờ sáng ! Có một anh (nghe nói là cựu Hải-Quân, cũng đă bị ch́m
trong một chuyến đi trước đây không thành công !) trôi chung và bảo
chúng tôi : Ai thấy ǵ ăn uống được th́ nhớ vớt theo, nhờ vậy trong ngày
đầu chúng tôi có ít cam quưt để ăn, một b́nh nước truyền nhau uống,
nhưng bị nước biển thấm vào nên ăn uống cái ǵ cũng mặn hết ! Chỉ có
trái dừa là c̣n giữ được nguyên vị, có điều phải hy sinh lấy đồng hồ tay
đập để lấy nước uống.
|