| http://www.doi-
thoai.com/ baimoi0507_ 048.html
(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại
nhân dịp 32 năm từ ngày miền Nam thất thủ)
Phạm Tín An Ninh
Những năm "cải tạo"
ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng
Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến
trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí,
nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đă có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh
viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi
được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại,
và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lănh miền Nam, chỉ một hàng
rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn
gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại,
sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào
một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo"
đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một
sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi
nh́n thấy là anh ta chỉ c̣n một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là
tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo
nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ
trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích
thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.
Nhưng bất ngờ,
người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nh́n
khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng
đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên ḿnh: Nguyễn văn Thà,
rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội
trưởng một tập vở học tṛ, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm
bản "lư lịch trích ngang".
Tôi đang ngồi
hư hoáy viết cái bản kê khai lư lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới
biển trên trời mà tôi đă thuộc ḷng từ lâu lắm - bởi đă phải viết đến cả
trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng
anh quản giáo hỏi:
-
Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
Tôi im lặng
giây lát rồi lên tiếng :
- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.
- Anh ở trung đoàn mấy
- Trung Đoàn 44
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở
KonTum đầu mùa hè 1972
?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo
đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ c̣n cái tay áo đong đưa, lên ;
- Tôi
bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nh́n qua anh
em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại b́nh tĩnh,
tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo
rảo mắt nh́n quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn
tăng của tôi c̣n có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát
được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả ?
tôi hỏi .
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi
phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy
mà tôi c̣n sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi
có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền
Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào
một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau
giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh
hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm t́nh những
chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên
anh em nên cố gắng giữ ǵn sức khỏe, đừng làm điều ǵ sai phạm để không
phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói :
- Tôi
rất đau ḷng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các
anh đều là những người có tŕnh độ văn hóa và ai cũng đă từng chỉ huy.
Mùa đông,
không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một ngụi tù chỉ có một
miếng bánh ḿ đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần
thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh
kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều
người đứng không vững.
Một buổi
chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại
tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng
như viên sỏi, nh́n ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang
áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ
khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như
thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ
anh đội trưởng :
- Tôi
để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho
mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín,
đừng để trên biết.
Bây giờ anh
em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là
quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh
em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa
xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn
của một hợp tác xă nào đó. Sắn đầu mùa, củ c̣n nhỏ. Anh chỉ cho anh em
cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn c̣n nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm"
để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi
xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn
cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn
bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đă
đào sẵn.
Dường như đó
là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-
Không biết
tối hôm ấy, trong giờ "giao ban" , quản giáo Thà đă báo cáo với ban chỉ
huy trại là đội tù của chúng tôi đă phát được bao nhiêu hecta rừng ?
Mỗi lần ra
băi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt th́ ta
nghỉ. Nhớ giữ ǵn sức khỏe, v́ thời gian cải tạo c̣n dài lắm.
Vào một dịp
Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với
anh em. Số tiền lương vừa lănh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài kư
kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em :
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi
đă chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một ḿnh,
không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được
một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho
tôi ăn uống, tận t́nh săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân
phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa
tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy ṿng, th́
vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các
anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe
đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng.
Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm ấy là một
anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và
khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh c̣n cho tôi
nửa bao thuốc lá c̣n lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau
của vết thương. Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về
quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ
các anh chăm sóc tận t́nh. Tất cả đă đối xử với tôi như người đồng đội.
Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm,
cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân t́nh. Vết thương vừa lành, th́ tôi
được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện c̣n cho tôi nhiều
thuốc men và một số đồ dùng. Ḷng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào
trước t́nh con người, t́nh dân tộc mà các anh đă dành cho tôi. T́nh cảm
ấy tôi chôn chặt tận đáy ḷng, không dám tâm sự cùng ai, v́ ḷng tôi lúc
nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang
ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng
giữ b́nh tĩnh, nhưng rơ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi
về lại ngoài Bắc, người ta có c̣n tin cậy anh không? - một anh tù
hỏi.
- Ngay
sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh
cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh pḥng nhiễm trùng, nhưng họ khám
xét kỹ quá, tôi phải t́m cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi
được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của
các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng
thế, không thể làm khác hơn. Chính v́ vậy mà ḷng tôi cứ dằng vặt măi
cho đến hôm nay.
Thời gian
vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn,
kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng
sớm, khi sương mù c̣n vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc
xe đạp vội vă rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng
gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho
anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, c̣n ngái ngủ,
chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nh́n lại, đưa cánh tay chỉ
c̣n một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
Chiếc
thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba
người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai
ngày th́ gặp băo. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu
hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai
ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh
thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết ḷng săn sóc lo lắng cho chúng tôi.
Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc
động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành
hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người
chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được
thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng
tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người
vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ
nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ
không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết ḷng đùm bọc yêu thương.
Mang cái ân t́nh đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời c̣n lại
của ḿnh.
Bốn anh em,
những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày
gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi
nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một
người không cùng chiến tuyến mà c̣n có được tấm ḷng. Sau lần bị "hạ
tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc
chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm
theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại
đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp c̣n trẻ tuổi, lại
ở gần nhà, nên sau này trở nên thân t́nh. Anh ta là sinh viên đang theo
học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm,
th́ anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc
ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài
năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem
đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, v́ cùng đến với anh là
một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị
hôn thê của anh.
Cô gái tên
Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui
mừng lắm, nhưng khi nh́n thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân
phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi
cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân
với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người c̣n đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du
học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại
đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đă có chồng
và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này
trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời
gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là
anh chồng đă cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem
việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những
lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương
tŕnh Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức
tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức)
bỗng chốc không c̣n nữa. Cô không về nước mà t́m cách trốn sang Tây Đức.
Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh
Kenneth Hansen, để được bảo lănh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đ́nh một
đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối
cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi v́ sợ cô ngại. Sau này chính
Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại
Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối
cộng sản Đông Âu, ông xót xa nh́n ra được một điều ǵ đó. Trở về Việt
Nam, ông không c̣n được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất
măn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời
gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đ́nh,
đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai
sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan
trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước.
Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ
cô Đoan về Nghệ Tĩnh t́m và trao lại cho anh, như để tỏ chút ḷng biết
ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn c̣n
giữ sạch được tấm ḷng. Việc t́m anh không phải dễ dàng, v́ chúng tôi
không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ :
"ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm
quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ". Cô Đoan vui
vẻ nhận lời và hứa sẽ t́m đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô
cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc pḥng. Cô sẽ
nhờ ông ta t́m hộ.
Một tháng
sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô
không t́m thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là
anh ta đă bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đă đích thân vào Nghệ Tĩnh,
hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ
báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi.
Cô c̣n cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh th́ cô nhờ họ thôi, chứ
không có nhiều hy vọng ǵ, v́ chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian
trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập
vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không c̣n ai nhắc đến chuyện
anh Thà.
Bỗng một hôm,
khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật ḿnh tỉnh giấc.
Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa
sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại th́ phải có
điều ǵ khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô
gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được
gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
- Xin
lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.
- Dạ,
cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng.
Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là ḿnh đă quen ai tên Hà.
Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
- Bác
có c̣n nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông
Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là ǵ của ông Thà, và sao lại ở
Ba-Lan ?
- Dạ,
ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm
Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu
khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại,
và nghe tâm sự năo nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo
lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc
mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị
em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị
cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người
được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đă không về nước, trốn ở
lại. V́ sống bất hợp pháp, nên không t́m được việc làm chính thức. Hầu
hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng,
quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những ngụi đồng hương, đồng
cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính
quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô
Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một
người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp
gởi về giúp gia đ́nh th́ bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc
lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị
mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. V́ vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, c̣n
cô Hà th́ đang bị truy nă. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện
thoại cho tôi .
- Bây
giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một ngụi bạn, nhưng cô ta
không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, th́ bất ngờ nhớ
đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu
trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu bây giờ làm ǵ ?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến
mạch máu năo, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. V́ vậy nên chị em
cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua
ngày bác ạ.
Tôi ghi số
điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà
đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở
Ba-Lan.
Tôi nhớ tới
một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả
hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại
tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản
Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lănh
đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đă lấy một chiếc trực
thăng, chở gia đ́nh, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo
sự thỉnh cầu của anh, gia đ́nh anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho
tị nạn chính trị.
Anh và tôi
học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng
làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, th́ t́nh h́nh
chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa
lănh đạo đă thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của
nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về
nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp
Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh
kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân
Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm
theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với
gia đ́nh anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong
dân chủ.
Sáng hôm sau,
tôi t́m lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo
tin sang thăm . V́ đi vội, nên tôi chỉ đi một ḿnh. Vợ chồng anh đón tôi
ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị c̣n cho biết là
rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi.
Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đ́nh anh đă dành
cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh
giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm t́nh cùng anh về chuyện anh
quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của
hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe
tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết ḷng
giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi
đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đ́nh anh. Hai hôm
sau anh làm thủ tục bảo lănh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về
lại Nauy, tôi đă thức trọn một đêm để tâm t́nh khuyên lơn hai chị em Hà,
biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam
biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng
Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà
và sẽ tận t́nh lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng
sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đă được Piwko
bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang
được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, v́ lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em
Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
"Các Anh thân
quí,
Khi ngồi
viết nhừng ḍng này cho các anh, thực t́nh tôi không c̣n nhớ mặt các
anh, nhưng tôi c̣n nhớ rất rơ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa
Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh c̣n nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu
Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, ḷng tôi cảm
xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đ́nh xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi
nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước
cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác,
những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ
cũng đă từ bỏ Mác, chỉ c̣n một vài nơi lấy Mác làm bức b́nh phong để che
đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với
tôi, vẫn măi măi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời
theo Mác đă luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng
tôi mừng cho các anh đă đưa được gia đ́nh ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết
một người phải bỏ quê hương mà đi, c̣n đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái
chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải
ra đi để may ra c̣n t́m được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp
con người
Phần
tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt
trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên
giới . Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần.
Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi
chính bản thân. Tôi chỉ c̣n một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để
phụ giúp gia đ́nh.
Hơn ba
năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về
nuôi tôi và cả gia đ́nh, tôi mới c̣n sống được đến hôm nay. Biết trốn
lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn
c̣n hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ
các anh hết ḷng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới
trả được cho các anh đây.
Tôi biết
ḿnh không c̣n sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rơ được
một điều: Chỉ có cái t́nh con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn
tại măi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng
chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng,
nhưng nhiều lúc đă trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân
gian..."
Không ngờ
lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh
Thà. Anh đă qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối,
anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến
tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm th́: xin hăy chôn chặt
hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đă gây biết bao
chia ĺa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ,
không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ
?
Phạm Tín An Ninh,
Vương Quốc Nauy
|
To: |
"vNguyen"
<vnguyencali@yahoo.com> |
|
From: |
"vNguyen"
<vnguyencali@yahoo.com> Add to Address Book |
|
Date: |
Sat, 5 May 2007 22:29:13 -0700 (PDT) |
|
Subject: |
[DIEN DAN CONG LUAN] Phạm Tín An Ninh : Ở cuối
hai con đường |
|