Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh
|
|
|
Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh Phan lạc Tiếp LTS: Cách đây hơn một năm, nhân dịp nhà văn Phan Lạc Tiếp viếng thăm Úc Châu, Sàig̣n Times đă hân hạnh giới thiệu cùng quư độc giả những bài kư rất cảm động của ông: “Ôi! Những Anh Hồn Bên Gịng Sông Cũ”, “Cây Na”, “Cây Khế Ngày Xưa”... Là một sĩ quan hải quân, có cuộc đời và tâm hồn gắn bó đặc biệt với hải quân Việt Nam, đồng thời lại là một nhà văn có óc quan sát tinh tế, làm việc một cách khoa học và chu đáo, nên những bài viết, nhất là những bài về hải quân Việt Nam, của nhà văn Phan Lạc Tiếp đều có giá trị của sử liệu, đồng thời cũng tạo nên những rung động sâu xa trong tâm hồn người đọc. Tuần rồi, SGT lại vô cùng hân hạnh được nhà văn Phan Lạc Tiếp ưu ái gửi cho bài viết nhan đề “Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh”, trong đó ông đă mô tả một cách trung thực và linh động h́nh ảnh tướng Hoàng Cơ Minh qua các giai đoạn đầy biến động của lịch sử chiến tranh Việt Nam, mà ở bất cứ giai đoạn nào, tướng HCM cũng là “một vị chỉ huy mẫu mực, một vị tướng can trường, một tấm gương thanh liêm và trong sáng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà”. Sau đây, bài viết trong sáng, khách quan, có giá trị sử liệu của nhà văn Phan Lạc Tiếp sẽ khiến chúng ta thêm kính phục tướng HCM, và cũng giúp chúng ta hiểu rơ thêm: V́ sao sau 1975, tướng Hoàng Cơ Minh đă thản nhiên gạt bỏ tất cả mọi sung sướng vật chất, hạnh phúc gia đ́nh, thuỷ chung một ḷng một dạ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho lư tưởng quang phục quê hương; Và v́ sao, sau khi ông đă hy sinh cách đây hơn 16 năm, những chiến hữu của ông trên khắp thế giới, vẫn tiếp tục bền bỉ đi tiếp con đường đấu tranh chống CS mà ông đă chọn... Sàig̣n Times chân thành cảm ơn tấm ḷng ưu ái của nhà văn Phan Lạc Tiếp, và xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả bài viết mới nhất của ông.
Sàig̣n Times
Khi bước chân xuống thực tập trên trục lôi hạm này, chúng tôi thấy khác
hẳn những chiến hạm khác. V́ hầu như nơi đâu trên tàu nếu không được sơn
phết sáng trưng, đều được đánh đồng bóng lộn. Không có những chỗ hoen
rỉ, vàng úa bọng sét.V́ chiến hạm này vỏ bằng gỗ, không rỉ sét, nhưng dễ
vỡ. Vận chuyển phải thật khéo léo, tránh va chạm như loại tàu vỏ sắt.
Kim loại dùng trên tàu này một phần là sắt, thép đă được khử từ, mà đa
số cơ phận làm bằng đồng thau. Lư do đồng thau không bị hút bởi từ lực,
tránh nguy hiểm cho chiến hạm đi gần loại ḿn từ tính. Ngay trên sân
chính là một mặt trống khổng lồ để phá ḿn âm thanh. Bên cạnh đó là cả
một cuộn giây cable đường kính có đến gần 10 phân, nằm ch́nh ́nh trong
trục quay. Đối với chúng tôi, những sinh viên chưa ra trường, quang cảnh
ấy là cả những ǵ choáng ngợp, khó khăn. Tôi và mấy người bạn cùng khóa
đứng nghiêm túc trên đài chỉ huy, quan sát và ghi chép mọi diễn tiến tại
đây, chiêm ngưỡng vị Hạm Trưởng, Đại Uư Hoàng cơ Minh đứng điều khiển
con tàu. Từ năm 1965, cuộc chiến Việt Nam trở nên mănh liệt, Quân Lực Mỹ ồ ạt đổ vào Việt Nam. Bên cạnh đó, một số quốc gia đồng minh của VNCH cũng tham gia cuộc chiến, với nhiều sắc thái. Phi Luật Tân gửi Đoàn Y Tế Dân Sự Vụ. Các quốc gia trong vùng gửi bộ binh tham chiến là Úc Đại Lợi, Thái lan, Đại Hàn. Dân chúng Thủ Đô hẳn không quên tên 2 Sư Đoàn Mănh Hổ và Thanh Long và ṿng đai bảo vệ Sài G̣n là Xa Lộ Đại Hàn, với những sinh hoạt Dân Sự Vụ rất được báo chí nhắc đến của 2 Sư Đoàn kiểu mẫu và thiện chiến này. Bên cạnh đó c̣n có các Dương Vận Hạm mang quốc kỳ Đại Hàn hoạt động trên lănh hải Việt Nam, thường đậu ở Bến Bạch Đằng. Các chiến hạm này hiện diện tới những phút cuối cùng của cuộc chiến. Nhiều người dân Thủ Đô vào cuối tháng 4 năm 1975, đă rời khỏi nước trên những chiến hạm này. Trong thời gian quân đội Đại Hàn tham chiến ở Việt Nam, HQ Thiếu Tá Hoàng cơ Minh đảm nhiệm vai tṛ Tùy Viên Quân Lực của toà Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Đại Hàn. Đó là trách vụ của một sỹ quan cao cấp, nhưng Thiếu Tá Hoàng cơ Minh đă hoàn tất công tác rất vẹn toàn. Những ư kiến, những sắp xếp và những tài liệu hướng dẫn do ông soạn thảo để tránh những hiểu lầm giữa hai dân tộc Việt Nam và Đại Hàn, chắc chắn đă ảnh hưởng đến sinh hoạt của các Sư Đoàn và những chiến hạm nói trên. Trong thời gian này tôi được biệt phái qua Nha Hoả Xa để lái tàu dân sự. Ở đây trên 2 năm, nh́n bạn bè trong khoá lên lon vùn vụt, bỗng động ḷng trắc ẩn, tôi xin trở về Hải Quân. Lâu lắm mới mặc lại bộ quần áo nhà binh hồ thẳng nếp cứng quèo, đeo lon cứ thấy ngượng như đeo lon giả. Vừa bước vào sân trại Bạch Đằng, đụng ngay Trung Tá Hoàng cơ Minh ở hàng hiên cao ốc. Ông gọi lớn và hỏi: "Cậu biến đi đâu mấy năm nay". Ông kéo tôi vào văn pḥng ông: Văn Pḥng Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị ở góc từng trệt toà nhà chính. Tôi tŕnh bày hoàn cảnh của tôi. Ông bảo: "Thôi ở đây làm việc với tôi." Chưa biết sẽ phụ trách công tác ǵ, nên tôi ngần ngại. Ông bảo: "Để tôi dàn xếp, miễn là cậu thích làm việc với tôi. Coi như xong, về nhà nghỉ thêm vài ngày nữa đi." Mấy ngày sau trở lại, ông Minh nói: "Tôi thua. Đại Tá Ánh xin Tư Lệnh để cậu xuống Cần Thơ làm việc với ông ấy rồi." Qua một vài nhiệm sở, mấy năm sau khi tôi trở về Sài G̣n làm Trưởng Pḥng Tâm Lư Chiến Bộ Tư Lệnh Hải Quân, th́ ông Minh đă là một tên tuổi gắn liền với những chiến công ở các vùng lửa đạn.
Từ
năm 1970, Mỹ chuyển giao cấp tốc chiến hạm, chiến đỉnh và những căn cứ
tiếp vận cho Hải Quân Việt Nam. Trong thời gian chưa đầy 3 năm, bắt đầu
từ năm 1970, Hải Quân Việt Nam phải tuyển mộ và huấn luyện gần 30 ngàn
Sĩ Quan và Đoàn Viên. Những sĩ quan đàn anh của tôi lên lon vùn vụt mà
hầu như không kịp với chức vụ và nhu cầu. Trước đó hai tiếng Tư lệnh là
một danh xưng độc nhất đầy tôn kính, chỉ để gọi vị Tư Lệnh Hải Quân mà
thôi. Bây giờ, từ năm 1970, ngoài vị Tư Lệnh Hải Quân tại Sài G̣n, c̣n
có nhiều vị Tư Lệnh khác: Tư Lệnh Vùng Duyên Hải, Tư Lệnh Vùng Sông
Ng̣i, Tư Lệnh Lực Lượng.
Trong những cuộc hành quân sôi động, với một trực thăng biệt phái, ông
Minh hầu như hiện diện khắp nơi thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Những "đứa
con" của ông, hễ có đụng là đă thấy tiếng ông trên máy. Và khi khẩn cấp,
ngặt nghèo, không gọi, đă thấy ông bay trên đầu theo dơi, chỉ thị, hỗ
trợ và tiếp cứu. Đọc đoạn búy kư này tôi rùng ḿnh kinh sợ, hai tay nổi gai. Nhưng trong Hải Quân, ai đă dấn thân vào những "vùng tử địa" như U Minh Thượng, U Minh Hạ dưới quyền chỉ huy của tướng Minh, đều có những kỷ niệm lạnh ḿnh lo sợ, lẫn sững sờ mừng vui khi thấy vị Tư Lệnh của ḿnh bất ngờ xuất hiện như thế. Những cảnh huống ấy mỗi lúc mỗi nhiều, chồng lớp và biến thể, thêm bớt thành những huyền thoại bao phủ h́nh ảnh của niên trưởng Hoàng cơ Minh .
Nói đến những con kinh quan trọng trong đồng bằng sông Cửu Long, phải
nói đến kinh Phụng Hiệp, dài 140 cây số, nối liền ba tỉnh An Xuyên, Ba
Xuyên và Cần Thơ. Đặc biệt Ngă Bảy Phụng Hiệp là cửa ngơ, nơi hội tụ và
phân chia của ghe thuyền tới những vùng đất mầu mỡ quan trọng của châu
thổ Cửu Long, như trái tim chuyển máu đi nuôi toàn thân thể: từ Phụng
Hiệp đi Cái Côn đổ ra sông Hậu Giang; từ Phụng Hiệp xuôi kinh Búng Tàu
đi Năm Căn, Vĩnh Thuận, Cà mau; từ Phụng Hiệp theo kinh Lái Hiếu qua Trà
Bang, Long Mỹ đi Chương Thiện, Rạch Giá... Bốn ngả c̣n lại nối liền kinh
rạch trong phạm vi tỉnh, huyện như Xẻo Môn, Sóc Trang. V́ sự quan trọng
này mà máu xương của người lính hai bên trận tuyến đă liên tiếp gặp gỡ,
đổ ra để giành giựt sự kiểm soát thuỷ lộ huyết mạch này, như nhận định
của Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng, Phụ Tá Tư Lệnh Hành Quân Sông: "Kinh
Phụng Hiệp thuộc hệ thống thuỷ lộ đi từ Hậu Giang, tỉnh Phong Dinh đến
Cà Mâu, tỉnh An Xuyên. Quận Phụng Hiệp, Phong Dinh, nơi gặp gỡ của nhiều
con kinh, ranh giới của hai tỉnh Ba Xuyên và Chương Thiện. Đây là thuỷ
lộ huyết mạch chuyển vận lúa gạo và hàng hoá giữa các tỉnh miền Hậu
Giang với miền Đông, nên rất quan trọng cho nền kinh tế quốc gia".
Nói về ăn uống, có nhiều người vẫn cho rằng Hải Quân sang trọng, ăn uống
kiểu cách, thừa mứa. Điều ấy có lẽ khá đúng trong thời gian đầu dưới quy
chế của Hải Quân Pháp mà thôi. Sau này, nhất là trong giai đoạn cam go
của cuộc chiến, mọi quân nhân, bất cứ cấp bậc, và quân binh chủng nào,
cuộc sống đều rất kiệm ước, khó khăn. Phó Đề Đốc Đặng cao Thăng, xuất
thân từ trường sĩ quan danh tiếng của Pháp, trường Brest, cho hay:
"Lương lậu chúng tôi chỉ đủ ăn. Hàng ngày chúng tôi dùng cơm trong Câu
Lạc Bộ, kể cả tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn. Tôi đôi khi ăn
cơm gánh (tà lọt) mua về từ chợ Cần Thơ." Bữa tiệc diễn ra đúng nghi lễ. Các sĩ quan chủ cũng như khách mặc tiểu lễ trắng, lon vàng mới óng ánh, giây biểu chương và huy chương cuống rực rỡ. 6 người một bàn. Các bàn kê sát nhau thành một hàng dài, trải khăn bàn trắng tinh. Tư Lệnh Hải Quân ngồi ở đầu bàn, chỗ ngồi danh dự nhất. Đối diện với Tư Lệnh, cuối dăy bàn là vị trí của vị sĩ quan ít thâm niên nhất, và đương nhiên là Sĩ Quan Ẩm Thực. Trước khi vào tiệc, Sĩ Quan Ẩm Thực đứng lên, trịnh trọng đọc thực đơn, đúng theo truyền thống Hải Quân trong những bữa tiệc quan trọng. Nhưng thực đơn hôm ấy chỉ là mấy món ăn đơn giản như một bữa cơm thường trong Câu Lạc Bộ gồm thịt kho, dưa giá. Món canh là một con vịt hầm rất kỹ trong một nồi lớn, đầy nước đang xôi, bốc khói nghi ngút. Bên cạnh đó là một đĩa rau sống khổng lồ, để nhúng vào nồi nước hầm vịt. Vị Sĩ Quan Ẩm Thực h́nh như đă được học tập, chỉ thị chu đáo, nên đă tŕnh bày khá tỷ mỉ và duyên dáng về món ăn "quan trọng" này. Đó cũng là món chính, món cuối cùng. V́ sau món đó là đồ tráng miệng bằng chuối. (Có nghĩa là bữa ăn chỉ có thế thôi, không c̣ ǵ thêm nữa đâu). Tôi có tham dự bữa ăn này, v́ lúc ấy tôi là Trưởng Pḥng Tâm Lư Chiến, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, tháp tùng Đô Đốc Tư Lệnh trong phái đoàn thanh tra. Nghe đọc thực đơn chúng tôi không dám cười. Mọi người không ai dám cười, v́ bữa ăn này c̣n là một nghi lễ, được đánh giá, cho điểm như một sinh hoạt của đơn vị. Sau tôi có hỏi một sĩ quan: Sao lại đơn sơ quá vậy? Vị sĩ quan này cho biết: "Tư Lệnh chúng tôi không đồng ư để các sĩ quan phải đóng nhiều tiền đăi khách. Thuỷ Bộ hành quân liên miên, không có một ngân quỹ nào để khoản đăi phái đoàn." Việc này, mới đây (tháng 12, 2002), tôi có nhắc lại với anh Lư anh Kiệt. Anh Kiệt nói: "Ông Minh lúc đầu c̣n chỉ thị tụi tao sẽ thu tiền ăn các người tham dự, trừ Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân mà thôi. Thấy kỳ quá, chính tụi tao bỏ tiền ra đăi khách, ông Minh không biết. Không ai dám cho ông biết sự thật đó cả. Cũng v́ thế bữa tiệc cũng không dám bày vẽ ǵ thêm". Vẫn lời anh Lư anh Kiệt: "Cũng không biết thế nào mà nói. Ông can trường, giản dị và liêm khiết như tao biết đă đành. Nhưng có những điều tao nghĩ không ra. Như hồi 1974, đoàn convoi do giang đoàn của Quyên (Thiếu Tá Nguyễn ngọc Quyên) khoá ḿnh hộ tống, gặp tụi Việt Cộng tấn công tàn bạo quá ở khúc sông khúc khuỷu Cổ C̣. Quyên kêu cứu tao, là Tham Mưu Phó Hành Quân kiêm Trưởng Pḥng 3, tao tŕnh lên ông, ông thuận, rồi tao xỉ một đơn vị thuộc Lực Lượng Thuỷ Bộ đang hành quân gần đó cấp tốc đến tiếp cứu, giải vây. Đoàn giang vận mấy chục chiếc, chở hàng ngàn tấn gạo, cá mắm, khi bị tấn công, chạy tản mát tứ tán, được tụi tao gom lại đầy đủ. Đoàn convoi tiếp tục lên đường về Sài G̣n, không rơi một hạt thóc. Ít tháng sau, nhân Sinh Nhật Một Năm của Lực Lượng, chủ đoàn convoi t́m đến Bộ Tư Lệnh Thuỷ Bộ, với tinh thần hậu phương yểm trợ tiền tuyến, xin ủng hộ Lực Lượng một triệu đồng để Lực Lượng làm lễ liên hoan. Tao mừng, và tŕnh lên ông Minh. Ông không cho nhận, c̣n xạc tao một trận. Thật không biết sao mà nói."
Từ
những can trường, dũng mănh và hành xử đặc biệt ấy, ông Minh đă thăng
hoa, đeo sao ở Lực Lượng Thuỷ Bộ, qua mặt rất đông những vị đàn anh. Từ
đó lớp hào quang và huyền thoại quanh ông hầu như mỗi lúc mỗi thêm dày
đặc. Có những phỏng đoán, đồn đại: ông Minh sẽ nắm chức vụ này, chức nọ
nay mai. Ngày 31 tháng 3, Quy Nhơn địa đầu cực Bắc của vùng 2 Duyên Hải ở trong t́nh trạng nguy ngập. Ngoài những đơn vị cơ hữu trực thuộc, trên mặt biển ngoài khơi Quy Nhơn có những chiến hạm sau đây từ Sài G̣n biệt phái hiện diện, đặt dưới quyền điều động của tướng Hoàng cơ Minh: HQ 2, HQ 3. HQ 7, HQ 400, HQ 403, HQ 406, HQ 505 và một số những chiến hạm nhỏ. Tướng Minh hiện diện trên Tuần Dương Hạm Trần nhật Duật, HQ 3, do HQ Trung Tá Nguyễn kim Triệu làm Hạm Trưởng, tướng kỳ 1 sao trắng trên nền xanh, phấp phới trên kỳ đài. Sáng ngày 31 tháng 3, lệnh từ Sài G̣n, chỉ thị cho Hải Quân vào băi biển Quy Nhơn bốc Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Hai hải vận hạm HQ 403 và HQ 400, dưới sự đôn đốc của HQ Trung Tá Lê thuần Phong, Chỉ Huy Trưởng Hải Đội Chuyển Vận, ủi băi Quy Nhơn, trước trường Sư Phạm để đón quân của Sư Đoàn 22 đang có mặt trên băi. Nhưng tàu vừa hướng mũi vào băi ủi, bị hoả lực của địch bắn ra quá mạnh. B40 nổ tung phía trước. Chiến hạm phải lùi ra, trong nhiệm sở tác chiến, đồng thời thả thang giây và lưới hai bên hông chiến hạm để anh em Bộ Binh leo lên tàu. Do đó quân từ trên bờ của Sư Đoàn 22 Bộ Binh phải liều chết bơi ra tàu. Cuộc vớt người diễn ra trên vùng biển Quy Nhơn suốt ngày đêm rất khó nhọc, bi thương, nhưng không đến nỗi ngập máu như ở Đà Nẵng. Biển êm. Tàu chỉ lùi ra ở độ xa vừa phải, ngoài tầm đạn địch, dùng hoả lực cơ hữu của chiến hạm phản pháo và bắn cản địch đang tiến tới ở trên bờ, phía sau anh em Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Trong số những quân nhân bơi ra biển và được chiến hạm Hải Quân vớt, có cả Thiếu Tướng Phan đ́nh Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Lên được chiến hạm HQ 400, tướng Niệm ở trong t́nh trạng suy nhược nặng nề cả thể chất lẫn tinh thần. Ông được săn sóc đặc biệt, v́ HQ 400 vốn là một bệnh viện hạm. Tất nhiên mọi quân nhân của của Sư Đoàn này lên được chiến hạm, ai cũng sũng nước, đói khát nằm lăn ra sàn tàu, không c̣n hàng ngũ ǵ nữa. Thiếu Tướng Phạm văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2, chỉ định Tướng Minh thay thế tướng Niệm, kiêm nhiệm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộâ Binh và Tư Lệnh chiến trường B́nh Định. 2 giờ sáng ngày 2 tháng 4, Tướng Minh nhận được lệnh từ Sài G̣n qua Bộ Tư Lệnh Hải Quân và trên Đài Quân Đội thông báo: Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm tướng Minh làm Tổng Trấn Quy Nhơn. Tướng Minh có toàn quyền điều động tất cả lực lượng tại địa phương để tái chiếm Quy Nhơn, gồm Sư Đoàn 22 BB, Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, Hải Quân. Trung Tá Nguyễn kim Triệu, Hạm Trưởng HQ 3, nhớ lại, cho biết: "Để thi hành lệnh này, sáng sớm ngày 2 tháng 4, ông Minh chỉ thị các chiến hạm hiện diện, túc trực ở sát bờ biển Quy Nhơn, sẵn sàng nhận lệnh cuả ông từ trong bờ. Đích thân tướng Minh và Bộ Tham Mưu nhẹ, rời HQ 3, xuống chiến đỉnh nhỏ vào Bộ Chỉ Huy Hải Đội 2 Duyên Pḥng, để trực tiếp nắm vững t́nh h́nh trên bộ. Từ đây những liên lạc hàng dọc, cũng như hàng ngang với các đơn vị bạn đă vắng ngắt. Nhất là trên các tần số liên lạc với Sư Đoàn 22 Bộ Binh, không c̣n ai nghe nữa. Riêng về Tướng Phan đ́nh Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB, v́ sức khoẻ suy kiệt, được điều trị trên Bệnh Viện Hạm HQ 400, đang ở ngoài khơi Vũng Tàu, trên đường về Sài G̣n. Trước hoàn cảnh này, tướng Minh trở lại HQ 3, tường tŕnh về Sài G̣n. Tất cả các chiến hạm biệt phái cho Vùng 2 Duyên Hải và các chiến đỉnh trực thuộc, theo lệnh tướng Minh, xuôi Nam."
Trở lại Bộ Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải tại Cam Ranh, ông Minh dùng trực
thăng thị sát mặt trận, theo dơi t́nh h́nh trong vùng trách nhiệm, và ra
lệnh cho các chiến hạm tận dụng hải pháo bắn ngăn chặn bước tiến của Bắc
quân, phá sập những cây cầu quan trọng. Cam Ranh xáo trộn. Ông trở lại
HQ 3, tiếp tục xuôi Nam. Ông ra lệnh phá huỷ Trung Tâm Phát Tuyến trên
đảo Cam Ranh. Chiều ngày 3 tháng 4, hải đoàn đi ngang Duyên Đoàn 27 ở
Ninh Chữ, tướng Minh rời HQ 3, sang Tuần dương Hạm HQ 2, do HQ Trung Tá
Đinh mạnh Hùng, khoá 11 (trùng tên với Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng), làm
Hạm Trưởng. Hạm Trưởng Hùng và toán dàn chào đón đợi ở hạm kiều và hướng
dẫn tướng Minh lên Trung Tâm Chiến Báo (CIC) của chiến hạm. Tại đây
tướng Minh lại tiếp tục theo dơi trận liệt và chỉ huy mặt trận tại địa
phương.
Trung Tá Đinh mạnh Hùng cho hay: "Mới xong phần giới thiệu thành phần
tham dự, th́ có tin phi trường đă bị địch bao vây, buổi họp giải tán
ngay. Tướng Minh cấp tốc được trực thăng bốc ra Soái Hạm HQ 3".
Ngày 17 tháng 4, HQ 406 chở Cảnh Sát Dă Chiến, dự trù đổ bộ tăng cường
cho Phan Rang, không thành, được lệnh về Cát Lở. HQ 505 nằm ngoài khơi
vịnh Phan Rang chờ lệnh. HQ 3 được lệnh đưa phó Đề Đốc Hoàng cơ Minh trở
lại Sài G̣n. HQ 3 đặt dưới quyền điều động của Phó Đề Đốc Nguyễn hữu
Chí, Phụ Tá Hành Quân Biển. Trong khi đó, Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi,
Tư Lệnh mặt trận Phan Rang và Chuẩn Tướng Phạm ngọc Sang, Tư Lệnh SĐ6KQ
bị địch bắt. Tin này được loan báo trên đài phát thanh Sài G̣n. Đài phát
thanh Hà Nội cũng loan tin này với những lời phát biểu ngắn của chính
Trung Tướng Nguyễn vĩnh Nghi.
Mặt trận Phan Rang vỡ. Cứ điểm chống cự sống chết của Sài G̣n bây giờ là
Xuân Lộc.
Trong cuộc nói chuyện với Đô Đốc Chung tấn Cang, chúng tôi có hỏi rằng:
"Ai là người có công nhất trong việc đem đoàn tàu ra khơi?" Đô Đốc Cang
cho biết: "Hải Quân, như một chiếc tàu, không ai làm việc được một ḿnh.
Mọi thành công lớn, nhỏ, đều là công sức của tập thể, của nhiều người.
Nhưng riêng trong việc đem đoàn tàu ra khơi, người có công nhất, ngày
đêm lo cho đoàn tàu, là ông Hùng. Phó Đề Đốc Đinh mạnh Hùng..." Chúng tôi cũng đem ư kiến này hỏi Trung Tá Nguyễn kim Triệu, Hạm Trưởng HQ 3, ông Triệu cho hay: "Trong pḥng Chiến Báo (CIC), chỉ có ông Hùng và ông Minh luôn túc trực, theo dơi mọi diễn tiến của Hạm Đội, nhận lệnh từ Đô Đốc Cang mà thi hành. Cả hai ông ấy đều làm việc rất nhiều, mỗi người mỗi việc, rất là nghiêm túc. Ông Hùng th́ trông nom tổng quát. Ông Minh trực tiếp điều động. Tôi (Hạm Trưởng HQ 3), nhận lệnh từ 2 vị này, lo cho con tàu của ḿnh mà thôi." Bây giờ gần 30 năm giă từ quân ngũ. Tuỳ khả năng và hoàn cảnh, mỗi người phải bắt đầu làm lại cuộc sống từ con số không. Chẳng c̣n ai to, ai nhỏ nữa. Những t́nh cảm, kính trọng đối với nhau, tất nhiên không phải là những cấp bậc cao thấp khi xưa, mà là tư cách của mỗi cá nhân c̣n đọng lại trong trí nhớ của nhau. Tập thể nào cũng có những kẻ bất xứng, lợi dụng đục nước thả câu. Nhưng trong gia đ́nh Hải Quân không thiếu những người đầy tư cách, trong đó có niên trưởng Hoàng cơ Minh. Trong những kỷ niệm đáng nhớ với tướng Minh, tôi đặc biệt nhớ hai sự việc này: Thứ nhất, khi Hạm Đội Việt Nam Cộng Hoà tới bờ biển Phi Luật Tân, chính tiếng ông Minh trên máy, chuyển công điện cuối cùng của Hải Quân, như sau: Nhóm ngày giờ:071010H/05/75. From: của HQ 3. To: Tất cả các chiến hạm. Để chuyển giao các chiến hạm cho Hải Quân Hoa Kỳ/ Yêu cầu các nơi nhận chuẩn bị thi hành khi có chỉ thị / Các chiến hạm tự tổ chức làm lễ hạ quốc kỳ Việt Nam và trương quốc kỳ Hoa Kỳ / Tiểu đỉnh của Hoa Kỳ sẽ sơn và xoá tên chiến hạm Việt Nam ở sau lại / Giờ giấc thi hành sẽ thông báo sau / Hết. Từ công điện này, vào hồi 12 giờ ngày 7 tháng 5 năm 1975, trên Biển Đông, các chiến hạm của VNCH đă cùng nhau làm lễ chào cờ lần cuối và hạ quốc kỳ VNCH xuống. Những xúc động khôn cùng đă lưu lại trong bao nhiêu trái tim đau khổ. Phút chốc cả đoàn tàu dũng mănh, nghiêm túc, đủ loại của Hải Quân Việt Nam, giờ đă phấp phới quốc kỳ Mỹ, lần lượt cập cầu căn cứ Subic của Mỹ ở Phi luật Tân. Đoàn người từ các chiến hạm lũ lượt mang hành lư sang con tàu buôn Green Forrest. Một con tàu chở hàng khổng lồ. Những khoang trống, sâu hun hút rộng thênh, bây giờ được bắc tạm những cầu thang gỗ để lên xuống. Đoàn người như một thứ hàng hoá không c̣n giá trị, xô bồ, đầy bất chắc, xúc động, rất dễ bùng lên thành những xáo trộn khó lường, khó xử, như mới chỉ vài tuần trước đây đă từng xẩy ra trên chính con tàu này khi di chuyển người từ Đà Nẵng vào Phú Quốc. Theo sự cho biết của Phó Đề Đốc Đặng cao Thăng th́: "Các vị Tư Lệnh, phần lớn là cấp tướng, được Mỹ chở thẳng vào Guam bằng máy bay. Riêng ông Minh, ông t́nh nguyện đi tàu biển cùng với anh em thuỷ thủ đoàn và dân chúng. Cuộc đi khá dài, cực khổ, tế nhị. Sự hiện diện của ông Minh, theo tôi, đă giữ tinh thần cho anh em rất nhiều." Kỷ niệm đáng nhớ thứ hai, vào trung tuần tháng 5 năm 1975, trong khu lều vải Orote Point, Guam, với tư cách cá nhân, tướng Minh đă t́m đến đây để sinh hoạt với anh em Hải Quân. Trong bơ vơ và tràn đầy xúc động, nhiều anh em đă ngẹn ngào nêu những thắc mắc, phẫn nộ liên hệ đến một vài tin đồn, những hành động bất xứng của người này, người khác. Ông Minh, rất b́nh tĩnh giải đáp và khuyên can. Đặc biệt, để kết luận, ông đă nói: "Việc anh nêu lên là thượng cấp không ai có ư kiến ǵ hướng dẫn anh em. Điều này quả thực tôi cũng có nghĩ đến, nên hôm nay mới t́m đến đây với anh em. Song đó chỉ là ư kiến cá nhân tôi, c̣n các vị khác, theo như tôi biết, tất cả c̣n rất bàng hoàng. Mọi việc đă xẩy ra ngoài dự trù của chúng ta. Dù ai có ư kiến ǵ lúc này chắc cũng không thể nào thi hành được. Một ván cờ đă xoá. Mọi việc đă xong. Điều mà chúng ta phải làm là, ngoài việc định cư trên đất mới, chúng ta phải sáng suốt t́m hiểu mọi diễn tiến của thời cuộc, và đặc biệt giữ lấy mối căm thù mất nước ngày hôm nay. Từ đó chúng ta sẽ đoàn kết lại mưu cầu một vận hội mới sau này.”
*
* * Khởi viết ngày 8 tháng 12 năm 2002. Viết xong ngày 18 tháng 6 năm 2003. |