1. Tại sao VNCH sụp đổ
Hiện
tượng sụp đổ của chính thể VNCH vào ngày
30/4/75
là hậu quả của những biến cố liên hệ dây chuyền của Quân
sự, Chính trị và Ngoại giao của các lực lượng tham chiến
tại Việt Nam,
kể từ tháng 8/69. Đặc biệt sự sai lầm của Trung tướng Tư
lệnh Quân đoàn là khởi điểm cho những biến cố về sau của
lịch sử Việt Nam.
Chiến
dịch bí mật đàm thoại ḥòa b́nh của chiến tranh Việt Nam
đă đi vào một khúc quanh quan trọng của lịch sử, khi
Kissinger đă bí mật họp mật mười hai lần tại Ba Lê với
phái đoàn Bắc Việt từ tháng 8/69, như Nixon đă tiết
lộ[1]. Hai cuộc hành quân vượt biên cấp quân
đoàn của QLVNCH đồng loạt kể từ ngày 8/2/71,
là hậu quả của chiến dịch ḥòa đàm nầy để mặc cả trên
bàn hội nghị, Hành quân Lam Sơn 719 và Hành quân Toàn
Thắng 1. Hành quân Lam Sơn 719, theo Nguyễn Tiến Hưng kể
lại, được soạn thảo bởi Hoa Kỳ và đưa cho Đại tướng Cao
Văn Viên kế [2]]. Đây là một cuộc đem con bỏ
chợ tại Hạ Lào, bởi v́ì bên ta chỉ có 25,000 quân để
đương đầu với 36,000 địch quân, tăng cường thêm hai Sư
đoàn thiết giáp tối tân của Nga Sô cùng với nhiều trung
đoàn pháo binh và pḥòng không. Kết quả là quân ta đã bị
thua to và mất đi rất nhiều chiến sĩ ưu tú, trong khi
tướng Wesmoreland án binh bất động v́ì không dám đem bốn
sư đoàn của Mỹ vượt biên để cùng tham chiến với
QLVNCH[2]. Như vậy tướng Wesmoreland hoàn
toàn chịu trách nhiệm về cuộc Hành quân Lam Sơn 719 nầy.
Tuy nhiên trong thực tế, QLVNCH đă chịu những búa rìu
của báo chí cũng như phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ,
để dẫn đến một sự chiến bại chiến lược trên phương diện
quốc gia sau nầy. Ngoài ra đây là một cơ hội cho địch
lượng giá khả năng chỉ huy điều binh trận địa chiến cấp
quân đoàn của tướng lănh ta và Hoa Kỳ, để chúng có yếu
tố soạn thảo một chiến lược đấu tranh bằng trận địa
chiến toàn diện về sau. May mắn thay, Đại tướng Đỗ Cao
Trí, Tư lệnh Quân đoàn 3, đă đích thân soạn thảo kế
hoạch và chỉ huy trực tiếp Hành quân Toàn Thắng 1, để
đem lại chiến thắng vẻ vang cho QLVNCH trong một cuộc
hành quân cấp quân đoàn tại Cam Bốt. Do đó địch phải
hoang mang trong việc lượng giá khả năng chỉ huy và điều
binh trận địa chiến của tướng lănh ta trên cương vị cấp
quân đoàn sau hai cuộc hành quân viễn chinh của QLVNCH.
Nghị quyết tháng 5/71 do Bộ Chính
Trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN[3] là
bước đầu để thăm ḍò lại khả năng chỉ huy và điều binh
trận địa chiến của tướng lănh ta trên cương vị cấp quân
đoàn. Trận Snoul là khởi đầu cho Nghị quyết nầy. Địch đă
xử dụng toàn bộ ba Sư đoàn 5, 7 và 9 để tấn công và bao
vây Chiến đoàn 8 tại Snoul, đồng thời cầm chân nỗ lực
chính của Quân đoàn 3 tại Tây-Nam Snoul, lực lượng tăng
viện của LLXKQĐ3 tại Đông-Nam Snoul. Chính những sự sai
lầm của Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn 3 trong lănh vực
chỉ huy cũng như lượng giá chiến trường trong trận đánh
Snoul, đă thúc đẩy địch quyết định mở rộng thêm chiến
lược trận địa chiến trên toàn lănh thổ miền Nam trong
năm 1972 về sau .
Vào ngày 30/3/72, địch đồng loạt
mở rộng chiến trường bằng ba chiến dịch, chiến dịch
Nguyễn Huệ phía Đông Nam Bộ là nỗ lực chính, chiến dịch
Trị-Thiên cũng là nỗ lực chính, và chiến dịch Tây-Nguyên
là nỗ lực phụ. Trong Chiến dịch Nguyễn Huệ, địch đă xử
dụng toàn bộ ba Sư đoàn 5,7 và 9 để chiếm lănh Lộc Ninh
và các vùng lân cận, trước khi bao vây và tấn công An
Lộc trong khoảng hai tháng [3]. QLVNCH đă
phải xử dụng Sư đoàn 5, hai Lữ đoàn Dù, một Liên đoàn 81
BCD, hai trung đoàn của Sư đoàn 21, cùng nhiều Liên đoàn
Biệt động quân để giữ An Lộc, dưới sự yểm trợ hùng hậu
của Không quân Hoa Kỳ, gồm cả các pháo đài bay B52. An
Lộc đă được quân ta anh dũng giữ vững, tuy nhiên Quảng
Trị đă bị mất trong tay địch, bởi vì các lực lượng trừ
bị thiện chiến của ta đă bị cầm chân ở hai chiến trường
Tây-Nguyên và An Lộc[5]. Đặc biệt trong Chiến
dịch Nguyễn Huệ, địch đă học lóm mưu lược xử dụng truyền
tin của quân ta trong trận Snoul, nên chúng đă xử dụng
im lặng vô tuyến trước khi tấn công để đạt được yếu tố
bất ngờ trong ngày đầu tiên của chiến
dịch[3].
Chiến
dịch Trị-Thiên và Nguyễn Huệ là hậu quả của sự ép buộc
chính thể VNCH phải kư Hiệp định Ba Lê ngày
27/1/1973,
sau khi Nixon đă gởi bức thư dọa dẫm Tổng thống
Thiệu[1,2,6]. Tiếp theo là việc rút quân cấp
bách của Mỹ và Đồng Minh trong ṿng 60 ngày, căn cứ vào
điều khoản 5 và 6 của hiệp định. Hơn nữa, căn cứ vào
điều khoản 12(a), địch lại ở thế ngang hàng với chính
thể VNCH, cũng như không phải rút quân khỏi miền
Nam.
Như vậy, chúng ta hầu như đă mất nước sau ngày kư Hiệp
định Ba Lê gần như đầu hàng nầy[6,7,8].
Tiếp
theo Hiệp định Ba Lê là việc Quốc Hội Hoa Kỳ cắt giảm
viện trợ quân sự cho VNCH, trong khi Nga Sô lại thừa
thắng xông lên, tăng cường thêm viện trợ các vũ khí tối
tân hơn cho Bắc Việt. Lại c̣n Đạo luật Quyền Hạn Chiến
Tranh cho Tổng thống Hoa kỳ cũng được QHHK phê chuẩn vào
hồi tháng 6/73[2] tăng cường thêm cho sự sụp
đổ của miền Nam
năm 75.[10].
Thử
hỏi nếu kế hoạch "Điệu Hổ Ly Sơn" được Trung tướng Minh
thi hành trong trận Snoul vào cuối tháng 5/71 [4], liệu
địch có đủ sức và tự tin để mở Chiến dịch Nguyễn Huệ
mười tháng sau trận Snoul. Nếu không có Chiến dịch
Nguyễn Huệ th́ đâu có trận An Lộc, để khoảng một sư đoàn
trừ bị thiện chiến của QLVNCH phải bị cầm chân tại An
Lộc gần hai tháng. Nếu QLVNCH không bị cầm chân ở An Lộc
th́ì chúng ta sẽ không mất Quảng Trị, bởi v́ QLVNCH đă
rảnh tay để có thể tăng cường ít nhất một sư đoàn trừ bị
thiện chiến cho chiến trường tại Quảng Trị. Dĩ nhiên nếu
chúng ta không mất Quảng Trị, th́ đâu có sự ép buộc VNCH
phải kư Hiệp định Ba Lê, bởi vì địch đă bị thất bại mặc
cả trên bàn hội nghị, khi chiến dịch Trị-Thiên của địch
bị đánh bại bởi quân ta. Do đó đâu có việc Quốc Hội Hoa
Kỳ cắt giảm viện trợ quân sự cho VNCH, cũng như việc
duyệt ký Đạo luật Quyền Hạn Chiến Tranh cho Tổng thống
Hoa kỳ vào hồi tháng 6/73[2]. V́ ì thế, lịch sử VNCH đă thay đổi
hoàn toàn sau năm 1975, cũng như không có hiện tượng sụp
đổ của miền Nam trong năm 1975, để hơn hai triệu người
Việt Nam phải sống kiếp lưu vong ở Hải ngoại, cũng như
hàng vạn thuyền nhân bỏ mạng trên biển cả để tĩm tự do,
cũng như những năm tháng tù tội tàn nhẫn của địch dành
cho Quân dân miền Nam.
Trần Văn
Thưởng
THAM
KHẢO
[1]
Nixon, Richard, The Memoirs of Richard Nixon,
New
Yorks:
Grosset and Dunlap, 1978
[2] Nguyễn Tiến Hưng & Jerold
L. Schecter, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, C&K
Promotion, Inc., Los Angeles, tr. 75, 78, 267,417.
[3]
Lê Kinh Lịch, Trận Đánh Ba Mươi Năm, nhà Xuất Bản
Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 1996, tr.405-406, 421, 432,
[4] Trần Vàn Th
ửơng,Trận Đánh Snoul và Những
Hậu Quả
http://www.generalhieu.com
[5]
Ngô Quang Trưởng, The
Easter Offensive of 1972,
Indochina
Monographs, U.S
Army
Center
of Military History, 1980
[6] Goodman, Allen E., The Lost
Peace: America’s Search for a Negotiated Settlement of
the Vietnam War,
Stanford,
CA
: Hoover Institution, 1978
[7]]
Nguyễn Duy Hinh, Hành Quân Lam Sơn 719,
Indochina
Monographs, US. Army
Center
of Military History, 1979
[8]
Isaacs, Arnolds, Without Honor: Defeat in
Vietnam
and Cambodia,
New
York:
Vintage Books, 1983
[9]
Kissinger, Henry A., The White House Years,
Boston:
Little Brown, 1979
[10]
Cao Văn Viên, The Final Collapse,
Indochina
Monographs. Washington
D.C.:
U.S
Army
Center
of Military History,
1983