Politics

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

The North Vietnamese Surrender, 1973

A lecture by Ted Gunderson, FBI (ret.) in which he reports on the 1973 North Vietnamese surrender. Perhaps he meant the spring of '72, as that is ...

 

 

 

 

 

He reveled a half of the truth

  

 

 

 

 

 

 

IN FACT

Henry Kissinger had planned to Kill South Vietnam

from year to year

 

 

 

 

 

 

 

 

1963

1968

1975

 

 

and also

 HK Secret Agent  

                                                                 

 

 

Cựu NT Henry Kissinger: Thất bại tại Việt Nam chủ yếu là do Hoa Kỳ
 

Hội thảo kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Đông Nam Á

Kỳ 1

Henry Kissinger

LTS: Hôm 29 tháng 9, 2010, tại cuộc hội thảo do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tổ chức, với chủ đề “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, 1946-1975,” cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Henry Kissinger, đă có bài phát biểu dài, và ngay sau đó được cử tọa đặt nhiều câu hỏi liên quan đến kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Đông Nam Á, đặc biệt Việt Nam.

Ṭa Soạn xin giới thiệu đến độc giả phần 1 của bản chuyển ngữ tiếng Việt của phát biểu này. Nguyên văn bài phát biểu tiếng Anh được đăng tải trên trang nhà của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong phần Diễn Đàn tiếp theo, chúng tôi sẽ đăng phần tiếp theo của bản chuyển ngữ và các câu hỏi mà cử tọa dành cho Tiến Sĩ Kissinger.

 

Cựu Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger. (H́nh: Chip Somodevilla/Getty Images)
 

Rất cám ơn quư vị. Tôi phải chỉ rơ ra rằng tôi giữ một kỷ lục thật khó mà ai thắng nổi, đó là trong thời kỳ tôi vừa là ngoại trưởng vừa là cố vấn Đặc Biệt khi các quan hệ giữa Bộ Ngoại Giao và Ṭa Bạch Ốc mật thiết chưa từng thấy. (Cười)

Giờ đây, tôi sẽ dành ra khoảng 20 phút để đưa ra các nhận định và rồi trả lời các câu hỏi. Khi tôi nghe có ai đó chọn một quyển sách của tôi viết hồi năm 1958 mà rồi bị tám nhà xuất bản và bốn nhà in đại học khước từ và rồi bán được 1,400 quyển th́ tôi mới thấy rơ ràng là hầu hết những người có mặt trong pḥng này chưa sinh ra khi quyển sách này được xuất bản. Và (Đặc Sứ) Dick Holbrooke hồi tối hôm qua đă cùng tôi bàn luận về thành phần được dự trù của số cử tọa ngày hôm nay, trong đó có một số người có mặt nơi đây từng trải qua các kinh nghiệm đương thời, đó là những kinh nghiệm, những đam mê, và những biến động độc đáo không thể nào xảy ra lần nữa.

Rồi c̣n có một nhóm cử tọa khác biết được về các kinh nghiệm đó qua ban giảng huấn tại các đại học mà có thể nói là phần lớn nằm trong phong trào phản đối chiến tranh vào thời đó và họ cũng có quan điểm của họ. Và rồi c̣n có một thế hệ mới mà đối với họ kinh nghiệm này đă thuộc về quá khứ xa vời. Và đêm hôm qua, khi suy nghĩ về vấn đề này, tôi bỗng nhận thức rằng đối với thế hệ già nua của tôi hồi năm 1940 th́ sự sụp đổ của Pháp là một kinh nghiệm choáng ngợp, nhất là đối với những người từng sống dưới chế độ Đức Quốc Xă.

 

Một đơn vị quân đội Mỹ chuẩn bị rút khỏi miền Nam Việt Nam, 1969. (H́nh: STF/AFP/Getty Images)
 

Nhưng thật sự th́ cuộc Chiến Tranh Việt Nam đă quay trở lại với chúng ta cũng xa xưa như là năm 1940 đối với hồi năm 1900 vậy. Đối với tôi, 1900 chỉ là một thời điểm có liên hệ hết sức nhỏ trong các kinh nghiệm của tôi. V́ thế, tôi nghĩ điều tôi có thể làm là tŕnh bày với quư vị về cách thế nào mà tôi lại liên lụy tới kinh nghiệm (về cuộc chiến) đó, sự liên lụy này có nghĩa ǵ đối vớ thế hệ của tôi, và rồi sau đó quư vị đặt câu hỏi với tôi về bất cứ đề tài nào mà quư vị nghĩ ra.

Trước hết, quư vị phải hiểu một sự kiện cá nhân của tôi. Tôi từng giữ chức vụ rất đặc biệt là Cố Vấn An Ninh. Chức vụ này cũng có thể có trong thời buổi này. Tôi chưa hề gặp Rchard Nixon khi ông ấy bổ nhiệm tôi. Và tôi đă dành trọn 12 năm trong đời để cố giữ cho ông ấy khỏi trở thành tổng thống. (Cười) Tôi đă là cố vấn chính yếu về chính sách ngoại giao của Nelson Rockefeller. V́ thế, khi tôi đọc một số sách viết về chuyện tôi đă âm mưu tỉ mỉ như thế nào để tiến đến chức vụ kia th́ tôi vẫn nghĩ điều quan trọng là người ta phải nhớ rằng tôi từng là một người bạn thân thiết của Nelson Rockefeller, và thực ra th́ tôi đă quen biết Hubert Humphrey nhiều hơn. Như thế đó, tôi không biết ǵ hết về Richard Nixon.

V́ vậy, đây quả là một cuộc phiêu lưu trí thức, một cuộc phiêu lưu có tầm vóc quốc gia để làm sao đối phó với vấn đề này. Ngoài ra, như hầu hết quư vị biết, tôi từng làm làm việc một năm tại Ṭa Bạch Ốc dưới thời Kennedy trong giai đoạn có cuộc khủng hoảng Bá Linh, tức là không dính líu ǵ tới vấn đề Việt Nam mà tới vấn đề Bá Linh. Kết quả của sự thể này là các nhân vật then chốt trong chính phủ trước kia là những nhân vật mà tôi đă biết rồi. Họ đều là bạn của tôi. Tôi tôn trọng họ. Tôi hết sức cảm phục tinh thần ái quốc của (Ngoại Trưởng) Dean Rusk và cách hành xử của ông trong chức vụ của ḿnh. Tôi từng chứng kiến nỗi vật vă của nhiều người khi phải đối phó với vấn đề Việt Nam.

V́ thế, đối với cá nhân tôi, các cuộc tranh căi tiếp diễn sau đó mang tính cách hết sức đau thương, và tôi chưa bao giờ nghĩ đến tính chất của một cuộc nội chiến trong các cuộc tranh căi đó như từng xảy ra sau này. Đối với tôi, tôi biết lư do tại sao thế hệ trước của tôi bước vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Tôi đồng ư với một số quan điểm của người này; và cũng không đồng ư với các quan điểm của những người kia. Nhưng tôi không nghĩ đây là vấn đề đạo đức gây chia rẽ trong chúng ta. Thực sự, tôi bị tổn hại v́ niềm tin sai lạc rằng tôi tham gia chính phủ để có thể góp sức tập hợp các quan điểm khác biệt lại với nhau.

Đối với tôi, thảm kịch của cuộc Chiến Tranh Việt Nam không phải là v́ có những mối bất đồng. Điều này không thể nào tránh được trước cái phức tạp của vấn đề. Nhưng đó là sự thể niềm tin cậy lẫn nhau của người Mỹ đă bị hủy diệt trong tiến tŕnh của cuộc chiến. Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ kinh qua những giới hạn của nền ngoại giao, và đây quả là điều đau thương khi ḿnh phải chấp nhận sự thể đó.

V́ vậy, những ǵ mà lẽ ra có thể là một sự phê b́nh tự nhiên các quyết định của chính quyền - mà ai cũng có thể tranh luận từ vị thế của ḿnh - th́ lại chuyển hóa thành một vấn đề đạo đức, trước hết là nền ngoại giao của Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không, và kế đến là Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không khi điều hành bất cứ chính sách ngoại giao truyền thống nào. Đó chính là tấn thảm kịch.

Tuyệt đối tôi không hề dựng lại chủ đề này. Tôi tin rằng hầu hết những ǵ từng trở nên sai lầm tại Việt Nam là do chính chúng ta tự gây ra. Và trong khi tôi ủng hộ chính sách lúc đó của chính phủ Nixon liên quan tới Việt Nam, trong khi tôi cũng vui sướng nh́n thấy các đại diện của Việt Nam có mặt tại đó, ngày nay tôi nghĩ sao th́ lúc đó tôi vẫn nghĩ vậy. Rất có thể là tôi vẫn ưa thích một kết quả khác của cuộc chiến, ít nhất cũng là một kết quả khác không liên hệ một cách riêng tư tới cách thế chúng ta từng dằn xé nhau như vậy. Và quư vị phải hiểu rằng đây là quan điểm của tôi vào lúc đó cũng như bây giờ.

Quan điểm của tôi là như thế, bởi v́ mới đây tôi có đọc một quyển sách được xuất bản tại Hà Nội về các cuộc thương thuyết của tôi với Lê Đức Thọ mà tôi phải nói rằng chính xác tới 98 phần trăm. Và chỗ nào không chính xác th́ không phải là thiết yếu cho chính đề. Nhưng nó cũng c̣n đúng cả trong hai phần trăm c̣n lại nữa, và chuyện đó chỉ đơn giản là v́ vấn đề quan điểm mà thôi. Và những ǵ viết trong quyển sách đó đă khơi dậy lại một vấn đề - một lần nữa, khơi dậy lại vấn đề là có một sự khác biệt căn bản: Hoa Kỳ muốn thỏa hiệp trong khi Hà Nội th́ muốn chiến thắng.

Đối với tôi, một trong những điều lư thú nếu ông ấy (Đại Sứ Brynn, người điều hành cuộc hội thảo) cho phép tôi nói, đó là chuyện tôi phải ngày ngày đối phó với Lê Đức Thọ, một người coi như cáo già quá mức. Tôi muốn nói rằng ông ta mổ xẻ chúng tôi như là một nhà giải phẫu, sử dụng con dao mổ một cách hết sức tinh xảo, mà lúc nào cũng tỏ ra lịch sự. Nhưng theo quyển sách đó th́ thỉnh thoảng ông ta cũng c̣n được Hà Nội nhắc nhở để nhớ rằng sẽ không thể có thương thuyết nếu như không có thay sự thay đổi cục diện trên chiến trường. Và mục tiêu của ông ta chính là làm sao đưa chúng tôi tới chỗ đó. Tôi nói tới đều này với ḷng hết sức tôn trọng ông ta. Điều này th́ cũng có thể hiểu được thôi. Người Việt Nam (cộng sản) đă chiến đấu suốt 50 năm không phải để thỏa hiệp nhưng là để thống nhất đất nước. Mục tiêu khách quan của Hoa Kỳ là duy tŕ một Miền Nam Việt Nam có thể sống c̣n được và sẽ được trao cho cơ hội phát triển bản sắc riêng của ḿnh, và đó chính là mục tiêu mà chúng tôi quan tâm mỗi ngày. Đó chính là thực tế của đời sống.

Trong tất cả mọi cuộc tranh luận diễn ra về chuyện chúng ta đă làm ǵ và đă không làm ǵ trong các cuộc thương thuyết, những ǵ thêm nữa mà lẽ ra chúng ta đă phải đưa ra và những ǵ mà lẽ ra chúng ta phải rút bớt lại, thực sự đă có một vấn đề không giải quyết được, đó là: Liệu miền Nam Việt Nam có quyền có bản sắc chính trị riêng của họ hay không, liệu họ có được phép phát triển các cơ chế riêng của họ hay không, hay là ngay từ đầu người ta đă định rằng mục tiêu phải đạt chính là thống nhất đất nước. Tất cả những đề nghị được hai bên sôi nổi tranh luận - một cuộc ngưng bắn và những hệ lụy của nó - th́ những đề nghị đó, bằng cách này hay cách khác, đều được giải quyết hết sức mau lẹ. Chỉ có một điều không giải quyết được là liệu chính phủ hiện hữu tại miền Nam Việt Nam có thể sống c̣n được hay không, có thể được phép tồn tại hay không. Một khi vấn đề này được thỏa thuận rồi th́ chúng tôi giải quyết mọi sự rất nhanh. Một số người có mặt trong pḥng hôm nay c̣n nghĩ là qua sức nhanh nữa. Mà rồi tôi sẽ vui sướng được trả lời những câu hỏi về vấn đề này cùng những đề tài liên hệ. Nhưng đó chính là vấn đề cần phải được mọi người thông suốt.

Một lần nữa, khi chính phủ Nixon lên cầm quyền, t́nh thế ra sao? Cuộc chiến (tại Việt Nam) đă diễn tiến bao lâu rồi th́ cũng c̣n tùy ở cách quư vị tính toán thời điểm, tức là tính từ thời Truman hay thời Kennedy hay từ giai đoạn mà chúng ta gởi quân chiến đấu đến đó. Nếu vậy th́ chúng ta có thể có những mốc thời gian khởi đầu cuộc chiến khác nhau, cách biệt nhau từ bốn năm cho tới 15 năm.

Vào thời điểm đó, đă có 550,000 - hay chính xác hơn là 536,000 - binh sĩ Mỹ tại Việt Nam. Vào năm 1968, nửa sau của năm '68, số thương vong (của Hoa Kỳ) là khoảng 400 người một tuần. Và Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đă xảy ra vào đầu năm '68. Hầu hết mọi người giờ đây đều coi đó là một chiến thắng quân sự của Hoa Kỳ, nhưng lại là một thất bại về mặt tâm lư vào lúc đó là lúc người ta cũng không coi nó là một chiến thắng quân sự nữa. Nhưng cuộc tổng tấn công này đă chứng tỏ rằng (Hoa Kỳ) không thể thắng được cuộc chiến tranh. Chưa có thương thuyết - v́ cuộc thương thuyết mới chỉ bắt đầu. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là cả đôi bên cùng nhau rút quân trong đó cuộc rút quân của chúng ta sẽ tiếp theo sau cuộc rút quân của Cộng Sản Bắc Việt. Và chính phủ vừa ra đi lúc đó đă để lại hồ sơ do (các Đặc Sứ) Harriman và Vance viết, nói rằng sau cuộc dàn xếp ḥa b́nh th́ vẫn c̣n cần tới 260,000 quân Mỹ ở lại (Nam) Việt Nam.

Tôi muốn giải thích về chiến lược chính của chúng ta, tức là những ǵ chúng ta cố thực hiện. Lúc ấy có hai trường phái tư duy mà trong đó thật sự chỉ có một trường phái là được cứu xét nghiêm chỉnh mà thôi. Quan điểm cá nhân của tôi là chúng ta phải thực hiện một đề nghị ḥa b́nh rộng khắp và toàn vẹn. Và nếu đề nghị đó bị bác bỏ th́ chúng ta hăy gia tăng các hoạt động quân sự để coi chúng ta có thể đạt tới đâu. Đề nghị này đi xa tới mức yêu cầu cựu Đặc Sứ Vance đi Moscow để cùng phía (Cộng Sản) Việt Nam thương thuyết tại đó. Và chúng ta đă đưa cho Liên Xô một đề nghị đi xa hơn tất cả các đề nghị vào thời điểm đó. Đề nghị này đă không bao giờ được trả lời. Người Nga không hề trả lời và phía (Cộng Sản) Việt Nam cũng không hề trả lời.

Thế rồi chúng ta cứ nấn ná nghiên cứu việc gia tăng hoạt động quân sự khiến cho báo chí cứ lấy đó làm đề tài mà điều tra. Nhưng quyết định sau cùng được đưa ra là chúng ta sẽ rút quân từ từ, đồng thời vẫn thương thuyết, với hy vọng đạt tới chỗ Hà Nội sẽ tán thành đề nghị chính trị căn bản của chúng ta. Tôi không muốn đề cập tới tất cả các bước đă thực hiện. Và rồi trong một khoảng thời gian là bốn năm chúng ta đă thực sự đạt mục tiêu ấy.

Một trong các phụ tá của tôi là Winston Lord. Và trong thời gian có cuộc tiến đánh Căm Bốt ông này muốn từ chức. Tôi có nói với ông: “Được rồi, ông có thể từ chức và giương biểu ngữ biểu t́nh bên ngoài ṭa nhà này (Bộ Ngoại Giao) hoặc là ông có thể giúp tôi chấm dứt trận chiến đó. Và rồi 20 năm sau thế nào ông cũng phải tự hỏi ông có thể cảm thấy t́nh thế sẽ tốt đẹp hơn hay không.” Thế là ông ấy ở lại. Và đôi khi có người hỏi tôi rằng giây phút cảm động nhất của tôi trong giai đoạn tham chính là lúc nào th́ tôi có thể thưa với quư vị rằng thực ra đó là lúc Lê Đức Thọ, vào tháng 10 năm 1972, chấp nhận các đề nghị mà chúng tôi đă đưa ra hồi tháng 1 về cấu trúc của chính quyền đó (tại miền Nam Việt Nam). Trên thực tế, chính ông ấy đă đọc một bản tuyên bố nói rằng “sau cùng th́ đây cũng chính là những ǵ mà ông đă đề nghị.” Và khi ông nói xong, tôi đă bắt tay với Ông Winston và nói: “Đó, chúng ta đă thực hiện được việc này.” Nhưng hóa ra là chúng tôi đă không làm được việc đó v́ nhiều ư do. Khách quan mà nói, có thể rằng việc đó không bao giờ có thể đạt được, mặc dù tôi vẫn không nh́n nhận sự thể như vậy. Dẫu sao, những con người có suy nghĩ hợp lư có thể lập luận như thế.

Trên căn bản, đó chính là sự kết hợp cả hai vụ Watergate và t́nh trạng chia rẽ trong nội bộ đất nước chúng ta - sự kết hợp giữa vụ Watergate và chia rẽ nội bộ khiến viện trợ cho (Nam) Việt Nam bị cắt đến hai phần ba giữa lúc giá dầu đang tăng cao - đă ngăn cấm mọi trợ giúp quân sự cho (Nam) Việt Nam, điều mà chúng ta không yêu cầu các đồng minh của ḿnh nên làm vào bất cứ lúc nào. Đó là cảm tưởng của tôi về những ǵ đă xảy ra.

(Kỳ sau: Phần hai của bài thuyết tŕnh của Henry Kissinger và phần hỏi-đáp với cử tọa)

 

  

 

 
 
 

Return to BUI NHU HUNG Homepage