THỰC
CHẤT
NHỮNG
CUỘC CÁCH MẠNG
TRONG
THẾ GIỚI
I. CÂU HỎI VỀ
MỘT QUAN NIỆM
Chúng ta hay
những phong trào cách mạng hoặc những cuộc cách mạng
trong quá khứ và hiện tại được xảy ra trong ḷng thế
giới chúng ta sống, điểm cốt yếu chính là v́ những
t́nh trạng hiện thực do những cơ cấu xă hội không
công b́nh, thiếu tự do, không tôn trọng nhân phẩm và
nhân quyền v.v. ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Chúng
ta thấy ngôn từ cách mạng này như là cánh cửa mở
rộng ở xă hội Tây Phương qua các cuộc cách mạng kỹ
nghệ, xă hội-chính trị, kinh tế, văn hóa v.v. Từ đó
lan dần đến các cộng đồng xă hội khác như các quốc
gia ở Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh, thành các
cuộc cách mạng, kháng chiến và chiến tranh giải
phóng Đất Nước thoát ách đô hộ thực dân của ngoại
bang, thoát cảnh thống trị của bạo chúa, của những
tên độc tài, đảng trị v.v. được diễn ra trong quá
khứ và hiện tại.
Thành thật
trong cuộc sống của chúng ta những ư niệm (concepts)
khác nhau về từ ngữ cũng như về hành động cách mạng
thường thấy được xuất hiện trên báo chí, hay qua các
tác phẩm, đă tạo nên những cuộc tranh luận về chủ đề
này của những người tri thức. Và thường thấy họ
trích lại những ư niệm cổ điển của chủ thuyết
marxisme, từ Marx đến Mao Tsé-Toung (Mao Trạch Đông).
Thế nhưng,
thật sự mà nh́n nhận, với quan niệm cũng như ư nghĩa
của từ ngữ này là cái thuộc về « cái mới » ; tuy
nhiên ngay trong lúc đó th́ « cách mạng » đă là dấu
chỉ hiện thực với tất cả dạng thái của cái đẹp cũng
như cái thô lỗ, man rợ của nó. Những thập niên qua
chúng ta đă thấy, đă chứng kiến cùng nhận thức và
cảm nghiệm rơ ngay trong ḷng quê huơng Việt Nam của
chúng ta, là sự đau khổ của dân chúng bằng mọi cách
chống lại thực dân Pháp, Nhật, và nay th́ sự phẫn
uất chống lại chế độ tàn bạo của tập đoàn cộng sản
Việt gian thâm độc, gian ác, tham nhũng, cướp của,
cuớp đất, cuớp chén cơm, manh áo của dân chúng.Thế
chưa đủ, chúng lại c̣n dâng Đất, dâng Biển cho Trung
Cộng, cho không các quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa
để đuợc « hănh diện » làm nô bộc, tay sai cho nhựng
Tay Rợ Hán mộng bá quyền, bá vương muốn thôn tính
luôn cả Giang Sơn gấm vóc của cha ông ta dày công
xây dựng bảo tồn để lại cho chúng ta, cho con cháu.
Nói đến
cách mạng là nói đến sự sống của chúng ta ; là một
phần văn minh của con người liên quan đến xă hội,
văn hóa cùng chính trị và kinh tế v.v. Do đó, khi
nói đến từ ngữ này làm chúng ta suy nghĩ để lư do
hóa những ǵ có thể, trước hết câu hỏi được đặt ra :
cách mạng là ǵ ? Cũng như chúng ta tự hỏi những
điều kiện nào của xă hội và kinh tế, chính trị, hay
cảnh huống nào của con người để tạo sinh ra cuộc
cách mạng ? Cũng thế, chúng ta tự hỏi lư do nào bên
trong xă hội để mang dạng thái là cách mạng : như
biến cải, thay đổi và cắt đứt với cái trật tự
trước ; hay nữa là biến thay một cách nhanh chóng và
tận gốc rễ những cơ cấu xă hội, cả chính trị, hầu
mang lại những điều kiện cần thiết cho cuộc cách
mạng ? Chúng ta cũng tự hỏi thêm cuôc cách mạng có
cần thiết sử dụng phương sách vũ lực và bạo động
không ? Sau là ở Đông Âu , Nam Duơng và Phi Luật
Tân, ở đó dân chúng đă tạo nên các cuộc cách mạng tự
giải phóng lấy quê huơng ḿnh mà không cấn đến vũ
lực và bạo động để trả giá quá đắt về xương máu của
người dân (1).
Chúng ta
đă rơ những biến động vừa qua trong ḷng thế giới,
và ngay tại ḷng quê huơng của chúng ta, chẳng hạn
vụ đ̣i lại đất của Toà Khâm Sứ, vụ giáo xứ Thái Hà,
và dân chúng đi biểu t́nh, kiện tụng đ̣i lại nhà
cửa, ruộng đất của ḿnh khắp mọi miền Đất Nước, đang
mở ra một xă hội mới, một nhận thức mới, đ̣i hỏi đầu
tiên bằng một suy nghĩ nghiêm chỉnh, hầu chúng ta có
một thị kiến, một dự đoán hay một quyết định, một
quan điểm dứt khóat … Cuối cùng th́ chúng ta hành
động cho sinh động trong cảnh sống hiện tại và trong
ḷng xă hội hôm nay ở Việt Nam - Những yếu tố chín
mùi đó dễ tạo nên một cuộc cách mạng, là quyết định
cho một thay đổi mới, một thay đổi tận gốc rễ về sự
sinh tồn của Dân Tộc (2).
MỘT CỐ GẮNG
HỌC HỎI
Chúng tôi
thiết tưởng để khảo cứu về các hiện tượng cách mạng
trong thế giới hôm qua cũng như hôm nay qủa là quá
nhiều. ! Vấn đề khảo cứu tùy thuộc vào khoa học
chính trị, vào xă hội cầm quyền, vào xă hội chiến
tranh hay là tâm lư xă hội, và ngay cả trong các
lănh vực tôn giáo. Tất cả các điều này là những điều
mới trong những thập niên qua mà con người đă tham
dự vào, đó là sự sinh ra một nền xă hôi học về cách
mạng. Do đó, những tác phẩm cổ điển viết về các cuộc
cách mạng th́ thường dùng những câu hỏi tổng quát để
đối chiếu với những cuộc cách mạng cổ điển : như
cuộc cách mạng tại Anh, Mỹ, Pháp, Nga, Tàu vv. Hơn
thế nữa, càng ngày người ta lại tin rằng những lược
đồ (schémas) này không c̣n giá trị lắm, cũng như mất
đi sự hiệu lực cho những hiện tượng cách mạng hiện
đại cũng như ngày nay. Ví dụ như cuộc cách mạng văn
hóa ở Trung Quốc, hay những diễn tiến cách mạng ở Cu
Ba, cuộc chiến ở Việt Nam và Đông Dương v.v.. Chúng
tôi biết có rất nhiều tác phẩm, bài báo đă được phổ
biến về loại này, nhưng chúng tôi thiết nghĩ người
ta vẫn chưa quy định về chủ đề này một tư tưởng tổng
hợp, hay phân tích ư nghĩa cùng hành động cho hợp lư
về từ ngữ cách mạng này.
Qủa thật
là khó khăn để thấy rơ ở trong thời kỳ khai hóa của
văn chương nói đến vấn đề này cho chúng ta hiểu rơ.
Do thế, bằng tất cả thiện chí chúng ta cùng nhau đào
sâu, học hỏi, để có một bản tường thuật khoa học xă
hội-chính trị, cũng như phương thức áp dụng cách
mạng cho mỗi xă hội của loài người. Để từ đó làm sao
khi chúng ta phát động cuộc cách mạng có thể đem lại
cơm no, áo ấm, tự do, dân chủ, nhân quyền vv. Và dân
chúng cảm được đời sống hạnh phúc, an thái.
II. QUAN NIỆM
CÁCH MẠNG
Chúng ta
hay rằng từ ngữ « cách mạng, révolution » bao hàm
quá nhiều ư nghĩa, do vậy chỉ có một tri thức luận,
và một sự phân tích chính trị-xă hội mới có thể phân
biệt cho rơ từ ngữ này. Chúng ta thường nghe người
ta nói về cuộc cách mạng kỹ nghệ, cuộc cách mạng thị
thành hay cuộc cách mạng khoa học vv. Những loại
kiểu cách mạng này th́ chắc chắn do loại suy (analogie),
loại tương tự với những thay đổi chính trị của chúng.
Có nghĩa là với ư nghĩa rộng của các từ ngữ này cấu
tạo nên cảnh hiện thực làm cho chúng ta lưu ư đến.
Người ta cũng nói như thế về cuộc cách mạng qua
những đề nghị, biến đổi thế chế chính trị
(transformation politique) qua kiểu tiến hóa như
Đảng Lao Động ở Anh ngày xưa, hay như các nước Đông
Âu và Liên Sô và Nga hiện nay.
Thực vậy
cuộc cách mạng tự định nghĩa và nói lên như là một
thay đổi nhanh chóng, và tận gốc rễ những cơ cấu của
xă hội. Việc này được biểu lộ qua hành động bằng một
ư thức cắt đứt thể chế với xă hội cũ. Nhà nhân chủng
học thời danh Kroeber định nghĩa về cách mạng « là
một sự thay đổi, nó phát sinh đột ngột với sự bạo
động, có vũ lực cực độ, hay kém cực độ hơn, và cuộc
cách mạng thường có tầm ảnh hưởng quan trọng chung
về văn hóa. Thường thấy các cuộc cách mạng trải rộng
với cường độ nhanh hơn sự muộn màng của xă hội đem
đến, đây mới là điều hệ trọng » (3). Chúng ta thấy
một trong những điều kiện quan trọng ở đây là làm
sao chúng ta có thể canh tân lại bộ mặt của xă hội
cũ? Bởi v́ chế độ xă hội chủ nghĩa cộng sản Việt Nam
từ lúc Đảng Cộng Sản Việt Nam do ông Hồ Chí Minh
lănh đạo cướp công lao của các đảng phái Quốc Gia,
và cướp được chánh quyền từ mùa thu năm 1945, và
cưỡng chiếm Miền Nam vào tháng tư năm 1975 cho đến
nay, th́ họ đă phá nát nền văn hoá đạo đức và luân
lư của Cha Ông. Chính họ người cộng sản Việt đă đánh
mất đi lư tính và đạo đức nhân bản, nên họ đă đào
tạo bao thế hệ người Việt đánh mất đi liêm sỉ, tính
tự trọng, đánh mất đi cái Lễ, Trí, Dũng, Nghĩa,
Trung, Tín, ḷng nhân ái và bao dung,Công lư, Công
minh, Công bằng…Hơn nữa, lẻ phải đă được thay thế
vào tâm hồn họ bằng dối trá, gian manh từ thượng
tầng cơ cấu cho đến hạ tầng cơ cấu của tập đoàn phỉ
quyền Hà Nội và Đảng cộng, các việc ấy được thể hiện
ra đời sống hằng nhật. Qủa khi chế độ Hà Nội có sụp
đổ th́ họ đề lại cho Đất Nước chúng ta cái ǵ ? Đó
là « một đống rác khổng lồ » về mọi phương diện xă
hội : chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tôn
giáo v.v. Do thế, là một vấn nạn cụ thể và một nan
giải khó khăn cho chúng ta, nếu như không canh tân
được Đất Nước, th́ chúng ta cũng sẽ bị vấp phạm
không phong tỏa được ǵ, mà có thể trở lại những lỗi
lầm của ngựi cộng sản Việt đă tạo dựng nên một cách
« trá h́nh cách mạng » như ta đă thấy là sự « chặn
giữ » những diễn tiến của nền văn minh và văn hóa
của nhân loại.
Qủa thực ư
niệm cuộc cách mạng là không đồng hóa vào những điều
thay đổi. Ư niệm cuộc cách mạng là đi trước những
điều thay đổi, và v́ vậy cuộc cách mạng, cái ư thức
đầu tiên thuộc về văn hoá (4). Có nghĩa cuộc cách
mạng là biểu hiệu, là dấu chỉ một sự tranh luận của
những gía trị nhân bản hay một mục tiêu tạo nên một
xă hội tốt đẹp cho con người ; sâu sắc hơn là một
tranh luận, bàn thảo về hệ thống hóa của nó, về hợp
pháp hóa của nó, đi xa hơn là một ư tưởng học của
nó. Như thế, ngay trước khi phát sinh cuộc cách
mạng, nó phải được hướng về sự tích hợp văn hóa của
một xă hội trên con đường mới, và sáng tạo nên một
sinh động mới. Chúng ta biết ư thức lương tâm cũng
như sự thu phục nhân tâm qua quần chúng do bởi những
nhóm người hoạt động tích cực cho cách mạng, được
nằm trong ḷng xă hội là rất cần thiết phải quan tâm
đến. Vi từ sự có thể hiện hữu của những h́nh thể xă
hội mới thiếp lập, đ̣i hỏi chúng ta phải điều nghiên
kỹ lưỡng. Thêm nữa, sự kiện về văn hóa có tầm hậu
qủa lớn trên dạng thái của bộ mặt xă hội (tôn trọng
hay loại bỏ văn hóa cổ truyền). Bởi thế những thời
kỳ tiền cách mạng thường là những lúc quan trọng để
thiếp lập nên một xă hội mới cho người dân.
Từ ư nghĩa của
cuộc cách mạng đă nói qua, tất nhiên chúng ta phải
biềt phân biệt những cuộc đảo chánh (coup d’Etat)
hay những cuộc cách mạng nội thần (révolution de
palais), là những người thân cận chung quanh vua
hoặc tổng thống. Đây chỉ là những hành động chống
lại những con người cực đoan, độc tài hay có tính
cách bè đảng, thị tộc ở bên trong hệ thống xă hội
đó. Nhưng xă hội không thay đổi ǵ qua hành động đảo
chánh này. Nhất là ở Châu Mỹ La Tinh có rất nhiều
cuộc cách mạng này tiếp theo nhau kể từ những cuộc
chiến dành độc lập cho xứ sở họ. Tiện nói đây chúng
tôi xin mạn phép nói đến « cuộc cách mạng ngày
1.11.1963 ». Đây chỉ là hành động của một nhóm tướng
phản loạn đă bị Mỹ mua chuộc, do đó gây nên một cuộc
tạo phản th́ đúng hơn mà lịch sử bây giờ ai cũng rơ
do người Mỹ nhúng tay vào. Đây là một vết nhơ của
lịch sử Việt Nam, một hành động « man rợ », sai lầm
của chánh quyền Mỹ trong đường lối chính trị cũng
như chiến lược vào thời đó. Và là cái tội phản Thầy,
phản Bạn, bán đứng Miền Nam cho Mỹ của ông Dương Văn
Minh và nhóm tướng phản loạn, là các ông Đỗ Mậu,
Trần Thiện Khiêm, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Nguyễn
Văn Thiệu, Trần Văn Đôn, Nguyễn Hữu Có v.v. Không
hẳn chúng ta mất Miển Nam vào ngày 30.4.1975. Thực
ra chúng ta đă mất Miền Nam Viêt Nam từ ngày
1.11.1963 sau cái chết của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diêm,
và hai anh em Cố Vần Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Cẩn,
Hai Anh Em Đại Tá Lê Quang Trung và Lê Quang Triệu
cũng như Đại Tá Hồ Tấn Quyền và một số anh em sĩ
quan binh lính cố giữ ǵn và bảo vệ nền Đệ Nhất Cộng
Ḥa Miền Nam. Để rồi lịch sử đă chứng minh cho những
việc làm của cố tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, anh em của
ông và các sĩ quan binh lính hy sinh để gắng bảo vệ
cho thể chế Đệ Nhất Cộng Ḥa tồn tại với thời gian…
Có nghĩa là bảo vệ cho một Miền Nam chống cộng và
diệt cộng có hiệu lực, mong đem lại b́nh an hạnh
phúc cho dân chúng. Giờ đây th́ rơ ràng ai là người
yêu Nước, ai là kẻ bán Nước phá hại Đất Nước tan
tành, làm cho bao cảnh đau thuơng nhức nhối cho dân
tôc, và làm cho bao con tim vẫn c̣n ung mủ và rướm
máu kéo dài. Qủa thực Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă
trông xa nh́n rộng cho Việt Nam, khi Ngài không chấp
nhận cho chánh quyền Mỹ nhúng tay vào nội bộ Việt
Nam, không muốn Mỹ đem quân ào ạt vào Miền Nam, chỉ
tạo thêm sự leo thang chiền tranh, khổ cho dân lành,
làm băng hoại xă hội, mất di chính nghĩa chống
cộng, đánh cộng, từ đó thực làm cho Hà Nội có cái cớ
rêu rao tuyên truyền chính nghĩa cuả họ cho báo chí
và thế giới biết. Bởi qua hành động chống cái áp đặt
chính sách chống cộng theo kiểu « cow-boy » của Mỹ
mà cố Tông Thống Diệm và các bào huynh của ông, cũng
như các nguớ thuộc quyền của ông, phải trá cái giá
đắt là bị gục ngă bỡi cường quyền do sự tiếp tay của
các Tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất
Đính, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu và một nhóm tướng và
sĩ quan phản loạn. Để rồi qua gịng thời gian, qua
ánh sáng sự thật của lịch sử chứng minh : người ta
thấy thể hiện ở nơi Tổng Thống Diệm, là một con
người yêu nước chân t́nh và thể diện cung cách của
một người Việt Nam anh hùng, nhất là một kẻ sĩ lănh
đạo không khuất phục và chịu áp lực của cường quyền
ngoại bang. Nhóm tướng phản loạn này và người Mỹ đă
không làm cho miền Nam Việt Nam tươi sáng hơn. Trái
lại, họ chỉ làm ung thối thêm xă hội miền Nam và làm
cho miền Nam rơi vào tay cộng sản miền Bắc (5).
Cái quan
niệm cùng ư niệm cách mạng đă có từ buổi xa xưa của
nhân loại. Những cuộc cách nạng chính thức trong qúa
khứ đă xảy ra : tại La Mă vào năm 509 lật đổ chế độ
quân chủ (monarchie) ; tại Anh vào năm 1640 đưa đến
sự sụp đổ của vua Charles đệ nhất, và cũng thế vào
năm 1688 lật đổ vua Jacques đệ nhị ; tại Pháp th́ có
cuôc cách mạng thời danh 1789, và vào năm 1830, và
năm 1848 cũng như vào năm 1870, mỗi lần cách mạng
đều thay đổi và biến đổi một triều đại đương thời.
Vào năm 1830 và 1870 phong trào cách mạng lan rộng
đến nhiều quốc gia Âu Châu và thế giới ; tại Trung
Hoa vào năm 1911 của Tôn Dật Tiên thiếp lập nên chế
độ Cộng Ḥa đầu tiên tại đó. C̣n tại Nga vào năm
1917 thiếp lập nên chế độ cộng sản Sô Viết ; tại Đức
vào năm 1918 loại bỏ những triều đại quân chủ liên
bang (6) Và chúng ta có thể nói vào ngày 26. tháng10
năm 1956 tại Miền Nam Việt Nam, lần đầu tiên nước
Việt Nam ta thiếp lập nên Chế Độ Cộng Hoà trong Đất
Nước qua cuộc bỏ phiếu trưng cầu dân ư có tính cách
dân chủ để chọn cụ Ngô Đ́nh Diệm hay vua Bảo Đại.
Người dân Miền Nam đă nói lên ư tưởng cách mạng của
ḿnh trong đời sống chính trị cùng xă hội qua lá
phiếu, để loại bỏ một triều đại quân chủ chuyên chế
cha truyền con nối. Và qua đó là thiếp lập nên một
chế độ mới. Chúng tôi có thể nói đây là cuộc cách
mạng đẹp nhất, dân chủ nhất được toàn dân hưởng ứng
trong lịch sử Việt Nam mà không đổ máu nhân dân cùng
chiến sĩ.
Thực ra
quan niệm và ư niệm cách mạng đă trở nên như là biểu
tượng chung. V́ vậy nó cũng được sử dụng như thế bởi
những lực lương chống lại cách mạng (contre
révolution), người ta không thể chỉ nói « chống lại
cách mạng hay chống lại chính sách của Nhà Nước »
như kiểu người cộng sản gian ngoa hay dùng để chụp
mũ cho ai chống lại những sai trái, tội ác của họ
hay đối lập với họ, những hành động của những lực
lượng hay những người đối kháng ấy cũng chính là
cuộc cách mạng. Chúng tôi xin nói rơ những vụ nhà
thờ Vinh Sơn, vụ Linh Mục Nguyễn Văn Vàng và Trần
Học Hiệu, Anh Vơ Đại Tôn, Anh Trần Văn Bá, Anh Hạnh,
Anh Quân, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Cha Nguyễn Văn Lư,
Ḥa Thượng Thích Quảng Độ, Thượng Tọa Thích Thiện
Minh, Ông Phạm Quế Duơng, Nhà văn Trần Khải Thanh
Thủy, Nhà Báo Nguyễn Vũ B́nh, Cựu Chiến Binh Nguyễn
Khắc Toàn, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, Luật Sư Bùi Thị
Kim Thành và Lê Thị Công Nhân, Cô Phạm Thanh Nghiêm,
Chị Hồ Thị Bích Khương, Anh Lê Thanh Tùng và Anh
Phạm Văn Sơn, ông Phạm Văn Trội và nhiều Anh Chị
Em Sinh Viên, Thợ Thuyền Công Nhân, Chiến Sĩ, Nông
Dân đủ mọi thành phần trong xă hội, và biết bao anh
chị em kháng chiến quân và bao vụ âm thầm xảy ra
trên Đất Nuớc Việt, nhất là mới đây vụ Toà Khâm Sứ
và Giáo Xứ Thái Hà, h́nh ảnh hào hùng của Đức Tổng
Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Đức Cha Nguyên Văn Sang,
Cha Vũ Khởi Phụng và giáo dân Hà Nội, đă can đảm,
anh dũng đứng lên để đ̣i hỏi, tranh đấu cho một xă
hội công b́nh, dân chủ, tiến bộ và văn minh…Đẹp nhất
là h́nh ảnh hào hùng đầy khí phách của Đấng Đại
Trượng Phu Nguyễn Văn Lư đầu đội trời chân đạp đất,
đứng trước vành móng ngựa (Pháp Đ́nh), khí thế xuất
chúng : tuy tay ngài bị trói chặt, nhưng mắt nh́n
thẳng vào lũ nô bộc tay sai, miệng thét vang mắng
trực tiếp vào mặt bọn phỉ quyền Hà Nội, xem công lư
và luật pháp của chúng là loài cỏ rác không thể xử
án ngài. Tuyệt thay, anh dũng thay cái h́nh ảnh hiên
ngang, xem thường bọn Việt gian cộng sản như thế, là
mẫu gương làm cho mọi người khâm phục, làm cho chúng
tôi phải nh́n lại ḷng ḿnh và làm cho tuổi trẻ anh
chị em sinh viên phải tự vấn hồn ḿnh, để dấn thân
tranh đấu giải thể chế độ cộng sản Việt gian Hà Nội,
để cho tự do, nhân quyền và dân chủ sớm hiện hữu
trong ḷng Quê Hương Việt. (Chúng tôi xin lỗi không
thể kể ra hết tên của những đấng anh hùng, anh thư,
đă anh dũng xă thân v́ sự sinh tồn của Đất Nước, v́
danh dự của một Dân tộc, mong thay qúy vị thông
cảm). Thật sự với ư nghĩa và những hội tố của danh
từ cách mạng này, th́ các vị chính thật là là những
người đi làm cách mạng chính danh. Các vị cố gắng
tạo nên một cuộc cách mạng thay đổi xă hội hà khắc
do Việt cộng thống trị, hầu cho người dân có được tự
do hạnh phúc, quốc gia được giàu mạnh và văn minh.
Chúng tôi xin có ḷng ngưỡng phục và tôn kính ; cũng
như xin chúng ta thắp lên một nén hương ḷng cho
những nhà cách mạng chính danh và các chiến sĩ anh
hùng đă gục ngă v́ đối kháng với Đảng Cộng Sản Việt
Gian và tập đoàn phỉ quyến Hà Nội Bán Nước.
Cũng thế,
quan niệm và ư niệm cách mạng không phù hợp hơn
trong một định nghĩa đơn giản có tính cách kỹ thuật.
Song ngược lại, chúng ta phải đảm nhận cái giá trị
hữu ích, là ḥa ḿnh vào trong những phong trào giải
phóng quần chúng. Chúng ta phải thật sự được ḷng
quần chúng cùng thành công trên nhiều phương diện
chính trị nhân tâm, cũng như những thành qủa trong
địa hạt kinh tế và ổn định xă hội vv. Nhưng nếu con
người với thủ đoạn mưu mô lúc họ sử dụng bởi qủa đầu
chính thể (pouvoir oligarchique), th́ sự việc này
cũng giống như sự tiếm quyền hay cướp công công cuộc
cách mạng và kháng chiến của toàn dân cùng các đảng
phái (đ́ển h́nh là cuộc kháng chiến dành lại độc lập
của toàn dân ta trong tay đô hộ Pháp và Nhật, mà tập
đoàn cộng sản Việt đă cướp công lao và thủ tiêu dần
các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng,
Đại Việt Đảng v.v..) Cũng vậy, với một cách khác,
đặc tính của cách mạng qúa biểu hiệu, nó tượng
trưng cho h́nh ảnh đẹp nên dễ bị phóng đại lên trong
các nhóm tranhđấu. Nhiều nhóm có nhiều điểm nhuốm
màu lăng mạn (teinté de romantisme).
Quả thật
chúng ta đáng lưu ư và kiểm chứng lại để nhận thấy
cái đặc tính biểu hiệu cùng tượng trưng này của cách
mạng - Gắng vận dụng một vai tṛ quan trọng trong xă
hội cùng làm sinh động ở bên trong pḥng trào đó để
tạo chuyển động thành những cuộc cách mạng. Ngoài ra,
cùng ư nghĩa của việc làm này, ở trong thế giới có
quá nhiều « danh hiệu cách mạng » hơi nghịch lư để
chúng ta trích ra của họ. Ví dụ Đảng Cách Mạng thiết
lập ở Mễ Tây Cơ ; hay ta có thể đọc tác phẩm « Révolution
dans la Révolution, Cách Mạng trong Cách Mạng) của
Régis Debray. Hay nữa là cuộc cách mạng văn hóa tại
Trung Hoa lục địa, và ngay cả trên Đất Nước ta, th́
cuốc cải cách ruộng đất là một điều nghịch lư, trái
luân thường đạo lư, Việt cộng đă làm cái chuyện kinh
thiên động địa, qủa là một hành động qúa man rợ,
cuồng sát của ông Hồ Chí Minh, Trường Chinh cùng
những tên Việt gian cộng sản ngông nghênh tự hào là
làm cách mạng cho dân tộc.
III. NHŨNG
LOẠI KIỂU CÁCH MẠNG
Chúng tôi
thiết nghĩ làm một việc phân tích điển h́nh học (typologique)
của những cuộc cách mạng là việc làm khó có thể chấm
dứt được. Tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng việc làm này
hy vọng mang lại được chút hữu ích cho chúng ta.
Song việc này chỉ có nghĩa trong chiều hướng giúp
chúng ta có phương tiện trong sự phân tích, hầu hiểu
hơn về điển tích này. Chúng ta rơ có rất nhiều tác
giả, những giáo sư chuyên nghiên cứu để phổ biến, và
qua đó họ đă đề nghị đưa ra các điển tích học khác
nhau. Theo họ bắt đầu từ cái nh́n triết lư, cái nh́n
thuộc vế pháp lư hay thuộc về xă hội học (vues
philosophiques, juridiques ou sociologiques). Chúng
ta có thể trích dẫn một trong những tác giả thời
danh đă có công khảo cứu là tiến sĩ H.D. Wendland
(7). Ông ta phân biệt cho chúng ta thấy những kiểu
loại như sau : cuộc cách mạng nội bộ với ư nghĩa hẹp
bên trong (la révolution au sens étroit), đơn giản
chỉ có thay đổi quyền hành chính trị ; c̣n cuộc cách
mạng xă hội (la révolution sociale), th́ thật sự
cuộc cách mạng này đưa vào những biến đổi, canh tân
các tầng lớp xă hội do các điều hợp lư cũng như nhu
cầu khả thể là hiệu lực, để rồi cũng là cuộc cách
mạng hoàn hảo có thay đổi chung thể về xă hội. Ví dụ
ở đây chúng tôi không thể nào không nhắc đến những
tiền nhân của chúng ta đă làm một cuộc cách mạng văn
học (có thể gọi là văn hóa) của nhóm « Tự Lực Văn
Đoàn ». Tuy là việc làm văn chương và văn học qua
các tác phẩm phổ biến, nhưng chúng ta đào sâu để
nhận thức cái ư nghĩa sâu xa, th́ đây chính là khởi
động một cuộc cách mạng xă hội, hầu thay đổi năo
trạng của quần chúng thời ấy về những thành kiến và
chấp nệ ở vào những thập niên 30-40, hầu theo kịp đà
tiến văn minh của các Nước Phưong Tây. Chúng tôi xin
kính ngưỡng, xin chúng ta thắp một nén hưong ḷng
cho nhà cách mạng xă hội Nguyễn Tường Tam, Khái Hưng,
và nhóm Tự Lực Văn Đoàn đă đem lại một sinh khí mới
cho dân tộc ta thời ấy cũng như vẫn c̣n vang vọng dư
âm trong ḷng người hôm nay.
Một điển
tích học khác được đề nghị và giới thiệu do giáo sư
chính trị học, là Umberto Melotti qua tác phẩm của
ông là « Rivoluzion e Società, Cách Mạng và Xă
Hội ». Với tác phẩm bổ ích này, ông giúp chúng ta
quan tâm đến những điểm khác nhau giữa những cuộc
cách mạng chính trị và những cuộc cách mạng xă hội.
Theo ông nghĩ th́ những cuộc cách mạng vốn tại qua
một cuộc chuyển nhượng (transfert) quyền hành chính
trị của một nhóm người (cũ) đến một nhóm người khác
(mới) ; và cuộc cách mạng thứ hai là xă hội, th́
cuộc cách mạng này công kích vào ngay những cơ cấu
của xă hội đó, như những tệ nạn ung thối của xă hội
do chính thể đương thời gây nên. Hay thêm nữa, là
giữa những cuộc cách mạng phổ quát được toàn dân
hưởng ứng (révolutions majeures), hay là những cuộc
cách mạng nhỏ, thiếu được phổ quát (révolution
mineur). Theo ông nghĩ các cuộc cách mạng này tuy có
các khác biệt, song phải vay muợn đến các từ luật
học. Để nhờ đó nó có ư nghĩa cho những cuộc cách
mạng phổ quát hơn, hầu thông qua một trạng thái pháp
lư đến một trạng thái pháp lư hóa khác. C̣n các điều
khác, theo ông nghĩ chỉ là hiệu qủa đơn giản của sự
kháng cự mà chúng ta gặp bởi những nguyên tắc mới
trong điều áp dụng của những cuộc cách mạng.
Cũng theo
ông nghĩ, khi đi vào trong những cuộc cách mạng tư
sản (révolutions bourgoeises) và những cuộc cách
mạng vô sản (révolutions prolétariennes), th́ cuộc
cách mạng tư sản nhắm tiêu diệt chế độ phong kiến
cùng tư bản ; c̣n cuộc cách mạng vô sản, đây là cuộc
cách mạng được « ngụy biện và trá h́nh » của người
cộng sản, đă tạo bao nhiêu đau khổ cho con người khi
cộng sản cướp được chánh quyền ở Nga vào năm 1917 ;
tại Trung Hoa năm 1949 ; tại Việt Nam năm 1945 ở
miền Bắc, cùng một lúc vào năm 1975 ; c̣n ở Cu Ba
vào năm 1959 ; tại Lào và Cam Bốt vào năm 1975 v.v.
Những tên tội đồ của những phương sách cách mạng
này, từ Lénine, Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai,
Fidel Castro, Causescu, cha con Kim Chính Nhật và
Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh,
Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Polpot
v.v. đă gây ra vô vàn thảm cảnh đói rách cho cả tỷ
rưỡi người, cũng như hẳm hại diết chết cả trăm triệu
người dân lành vô tội. Cuối cùng, ông nghĩ là đi vào
những cuộc cách mạng cấp tiến (révolutions
progessistes), và những cuộc cách mạng thóai hóa
(révolutions régressives). Cuộc cách mạng thóai hóa
này là cụ thể của các nước có nhăn hiệu là cộng sản.
Nhất là Việt Nam ta hiện tai, với chế độ độc đảng
của cộng sản Hà Nội luôn vênh váo tự hào là « cách
mạng tiên tiến », nhưng thực ra là « thùng rổng kêu
to » ; phải nói đúng hơn họ chỉ giỏi lừa bịp, khủng
bố, diết người, phá hoại tài nguyên, chất xám của
Đất Nước, và mần sáng tạo cùng sự phát triển của con
người. Nói đúng sự thật, các cuộc cách mạng của
người cộng sản chỉ có sự ngu dốt, nghèo đói, gian
dối và hận thù là được người cộng sản triệt để dùng
đến ; chớ xă hội không có thăng hóa chút nào. Bằng
chứng cụ thề là người cộng sản Việt Nam từ ông Hồ
Chí Minh cướp được chánh quyền đến những cán bộ của
ông là ông Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê
Đức Thọ, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Lê Đức
Anh, Vơ Văn Kiệt, Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Phan
Văn Khải và phỉ quyền hiện tại là ông Nông Đức Mạnh,
Nguyễn Văn Triết, Nguyện Tấn Dũng v.v. và Bộ Tà Trị,
cái ổ tham nhũng của mấy ông. Chính họ, Đảng cộng
sản và guồng máy công an trị và đảng trị đă tạo nên
những cuộc cách mạng thoái hóa này (xin chúng ta
cùng độc giả xem các báo của Đảng Cộng và Nhà Nước
Xă Hội Chủ Nghĩa Viêt Nam, th́ rơ chính họ đă tố cáo
lẫn nhau ăn hối lộ, tham nhũng ra sao : điển h́nh là
nhũng vụ Năm Cam, Lă Th́ Oanh, mới đây ngày
14.10.2008-Vụ án PMU, là vụ xử án Thiếu Tướng Phạm
Xuân Quắc và hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến báo Thanh
Niên và Nguyễn Văn Hải báo Tuổi Trẻ, đă vạch tên
vạch mặt tố cáo sự tham nhũng, cướp tiền viện trợ
của các Nước Bạn, để ăn chơi, trác táng cho thỏa
ḷng dục. Họ là đảng viên cộng sản đó nhé, là nguời
của Hà Nội đào tạo đó. Đúng như lời Ông Bà ḿnh nói
« cháy nhà mới ḷi mặt chuột ». Tội ác và gian dối,
lừa đảo với lương tâm khép kín của ḿnh th́ có thể,
chớ dưới ánh nắng mặt trời chiếu rọi, và « Mắt Trời
Công Lư cùng Tâm Thiên Công Minh » th́ không ai có
thể chạy thoát được con Mắt theo dơi của Thiên
Hoàng. Dù Bộ Tà Trị, Đảng có dấu tội ác như mèo dấu
phân, th́ chỉ một cơn mưa, một ánh nắng mặt trời
chiếu rọi th́ sự thối tha của Đảng của các ông lớn
trong Bộ Tà Trị, trong Trung Uơng Đảng phải phơi
trần cho bàng dân thiên hạ rơ và tường tận.
Chúng ta
thấy hiện t́nh Đất Nước từ luân lư, đạo đức, phong
tục, tập quán và văn hóa tốt đẹp của cha ông đă bị
người cộng sản Việt đảo lộn và làm thóai hóa xă hội,
để rồi làm mất đi nhân tính cũng như làm băng hoại
bao nhiêu thế hệ con dânViệt. Các cuộc cách mạng
thoái hóa này do những người cộng sản Việt đă tạo ra,
nên họ « đẻ ra » một chế độ ung thối, mất đi quốc
thể, mất đi liêm sỉ, mất đi sĩ khí, mất đi nhân cách
của người lănh đạo từ thường tầng cơ sở đến hạ tầng
cơ sở, tạo nên một t́nh trạng vô trách nhiệm chung
đối với dân tộc. Vừa qua đây thôi ngày 13-15 tháng
10.2008 tại Úc Đại Lợi. Ôi ḿnh đường đường là một
vị Thủ Tướng một quốc gia có hơn bốn ngàn năm văn
hiến, có một qúa tŕnh lịch sử lập Quốc và dựng Nước
oai hùng làm cả thiên hạ, thế giới đều khâm phục,
thế mà ông Nguyễn Tấn Dũng và Đảng Cộng của ông, vô
liêm sỉ đên độ không một chút tự trọng, họ đă làm
nhục Quốc Thể, đó là các ông cứ chạy đôn chạy đáo
hết Nước này đến Nước nọ, chạy từ Đông sang Tây, đưa
cái mặt lỳ lợm, chai đá ngă tay mà xin tiền Mỹ, Pháp,
Nhật, Liên Hiệp Âu Châu, đă thế lại c̣n ḷn vào cửa
hậu để bàn việc xin ăn. Nhục ơi là nhục, nhục không
thể tưởng được! Không có h́nh ảnh nào hèn hạ, khiếp
nhược hơn mà văn chương có thể diễn tả ! Thế mà
miệng các ông cứ bô bô ngông cuồng tự hào đế quốc
nào Đảng ta và chúng ta cũng đánh thắng. Nhưng lại
có một sự lạ, là Đảng và bản thân các ông không đánh
thắng nỗi được đồng Dollar và Euro mà phải uống cong
luỡi, cúi mọp thân ḿnh, chu miệng ra tỉ tê, năn nỉ
để cầu xin. Đi ra Nuớc ngoài th́ làm kiếp ăn mày
ḷng từ thiện của thiên hạ, trong khi đó ở trong
Nước th́ Đảng và Nhà Nước các ông lại đi cướp đất,
ruộng vuờn của dân lành, thừa thắng xông lên c̣n
cướp thêm đất, cướp thêm nhà Thờ, cướp nhà Chùa,
cướp hết các cơ sở của Tôn Giáo như trường hoc, bệnh
viện, tu viện v.v. Khi người dân với lẽ công bằng và
công lư, với miếng cơm, manh áo và nguồn sống của
ḿnh : họ đ̣i lại đất, ruộng vuờn, nhà ở, là sở hữu
của ḿnh, Chánh Phủ đă không chịu giao trả lại cho
hợp lẻ phải, lại c̣n xua công an mang súng đạn, lựu
đạn cay, chó điên, bọn du côn, du thực uy hiếp, đàn
áp người dân hiền ḥa không có vũ khí ǵ trong đôi
tay ḿnh, ngoài những cây nến thắp sáng niềm tin và
lời cầu nguyện với Đấng Tối Cao. Điền h́nh rỏ ràng
nhất là Vụ Đức Tổng Gíam Mục Giu Se Ngô Quang Kiệt
giáo phận Hà Nội đ̣i Nhà Nước phải hoán trả lại đất
của Ṭa Khâm Sứ, cũng như vụ đ̣i lại đất của Giáo Xứ
Thái Hà, để có thêm đất đai, có thêm không gian hầu
xử dụng cho các viêc thờ phượng và mục vụ tôn giáo
cho giáo dân.
Chế độ cộng
sản Việt tham nhũng và hối lộ đă thấm vào tận xương
tủy, máu huyết của Đảng, của tầng lớp cán bô, công
an, đảng viên, như lời khằng định của ông cựu Thủ
Tuớng phỉ quyền Phan Văn Khải : tuyên bô với bàng
dân thiên hạ rằng : « tham nhũng, hội lộ đă trở
thành quốc nạn ». Đúng thế, Đảng đă bóc lột mồ hôi,
xuơng máu của dân làm ra. Sự bóc lột và tham nhũng
đó h́ển hiện rơ như ánh sáng mặt trời từ Bộ Tà Trị
của Hà Nội đến anh công an khu phố, do từ ông đại
tướng cho đến anh bộ đội gác cổng … Để rồi tạo nên
một xă hội « nhiễu nhương, bất công, nghèo đói, lạc
hậu », và thực thế Đất Nước ta ngày nay được xem là
những nước nghèo đói và chậm phát triển nhất thế
giới !
Qua những
điều chúng tôi vừa tŕnh bày ở trên, th́ chúng ta có
cái phân tích đào sâu vào những hiện tượng cách mạng
trong thời kỳ cận đại và đương thời, hầu hy vọng có
thể dẫn chúng ta đến những « điển hinh » tương đối
để hiểu hơn bản chất các cuộc cách mạng xảy ra trong
ḷng các xă hội của thế giới ta sống. Song trong
thực tế c̣n có nhiều điều rất phức tạp hơn là những
điều chúng ta vừa nêu ra qua hai loại điển h́nh của
những cuộc cách mạng, mà chúng ta trích dẫn ở phần
trên của họ.
IV. CẢNH HUỐNG
XĂ HỘI THỜI TIỀN CÁCH MẠNG
Thường
những cuộc cách mạng làm chúng ta lưu tâm đến, đó là
xuất phát do những nguyên nhân tồi tệ của xă hội. Do
vậy hoàn cảnh xă hội thời tiền cách mạng là những
« then chốt » cho chúng ta nhận định, và nó dính
liền vào những điều kiện quốc nội ; hay cuộc cách
mạng bùng phát do các hiện tượng bị thống trị bởi
ngoại bang, hay là chế độ độc tài hà khắc băt bớ bỏ
tù những người đối lập, v́ dám lên tiếng bênh vực
cho lẻ phải, cho công bằng và công lư, hay nữa vạch
trần các tội ác, tham ô, hủ hoá của giai cấp cầm
quyền. Ở đây chúng tôi xin phép mở ngoặc nói đến
những hiện tượng của các anh chị em sinh viên Sài
G̣n-Hà Nội, đă tự nảy sinh sự xuống đường chống lại
Trung Cộng cướp Trường Sa và Hoàng Sa của ta, và
chống lại sự khiếp nhược cúi mặt của Đảng Cộng Sản
Việt Nam từ thời của ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng
cho đến Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Tà
Trị thời nay, họ chỉ là một phường bán Nước, bán Đất
và Biển của cha ông ta có công tạo nên và giữ ǵn,
rồi để lại cho chúng ta hôm nay một giang sơn gấm
vóc. Thế mà chúng nó, một lũ hoàn toàn khiếp nhược,
cúi mặt, muối mặt chịu làm tay sai, nô bộc cho bọn
Rợ Hán Bắc Kinh, sai ǵ làm đó, bảo sao nghe vậy.
Điển h́nh cụ thể tên nô bộc bán Đất, bán Biển, bán
Nước, là ông Phạm Văn Đồng ngang nhiên cúi ḿnh kư
một văn kiện nhượng cho lũ Rợ Hán Bắc Kinh quần đảo
màu mỡ Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Do đó các anh
chị em sinh viên lên tiếng là thế. Chúng tôi thật
thán phục và ngưỡng phục những hành dộng can đảm anh
dũng của các anh chị em. Nhất là Anh Lê Chí Quang và
Chị Phạm Thanh Nghiêm đă lên tiếng phản kháng cho
hành động bán Nuớc của nhửng tên Việt gian cộng sản
này.Cũng thế, khi các sai lầm của chế độ cùng các
sai lệch không đúng như một xă hội lư tưởng mà họ đă
vạch ra qua bản Hiến Pháp ; cũng như không làm thỏa
măn những nguyện vọng của người dân (tự do, nhân
quyền, no cơm áo ấm, hạnh phúc, an thái), hay không
đáp ứng các khát vọng của các đảng phái, của các hội
đoàn, của nghiệp đoàn v.v., th́ chắc chắn có một
động lực khởi xuất, chắc chắn có một tạo lực ầm ỷ
trong xă hội, hầu trở nên một điều kiện, một nguyên
tố xuất hiện những bộc phát cách mạng. Đây là ly do
và nguyên nhân người ta đi vào của thời tiền cách
mạng. Thật vậy, chúng ta phải có một tầm nhận thức
của xă hội hiện thực. Nói một cách khác là hiện
tuợng ấy phải được ta thấu triệt cặn kẻ, để phát
sinh nên phong trào hay những sinh động cho cuộc
cách mạng được bộc phát (chúng tôi đang hy vọng và
đáng mừng v́ đă có những phong trao tranh đấu cho
dân chủ và nhân quyền, đa đảng, tự do báo chí và
ngôn luận cùng tôn giáo : điển h́nh là khối 8406, và
nóng hỏi nhất là phong trào hiệp thông cầu nguyện
được tỏa rộng từ trong Nước ra Hải Ngoại và lan đến
các Quốc Gia Bạn, các Giáo Hôị Bạn, tạo một sợi dây
liên kết, hổ trợ tinh thần cho công cuộc tranh đấu
v́ công lư và công bằng cho ngựi dân của Đức Tổng
Gíám Mục Giu-se Ngô Quang Kiệt và giáo dân Giáo Xứ
Thái Hà và Hà Nội đ̣i lại dất của Ṭa Khâm Sứ và
Giáo Xứ Thái Hà đă bị Nhà Nước và Đảng Cộng cướp
đoạt. Xin hăy nhận nơi chúng tôi một sự cúi ḿnh
khâm phục những hành động cao cả của Qúy Vị, v́ tiền
đồ của Đất Nước và v́ sự sống của người dân.Cao ca
thay sức mạnh của niềm tin, sự kiên gan và bền bỹ
tranh đấu cho một lư tưởng, cho một chính nghĩa nhân
tâm mà qúy vị đang chiến đấu cho lẻ phải và sự thật,
cho công lư cùng công b́nh, cho dân chủ và tự do
cùng nhân quyền, cho ấm no và hạnh phúc v.v., chúng
tôi tin rằng tất sẽ có ngày qúy vị sẽ thắng được chế
độ độc tài, phi nhân, gian dối, lừa đảo, vô đạo đức
vô luân lư, hận thù và trăm thứ tội ác do phỉ quyền
Hà Nội đă gây nên cho nguời dân lành bao cảnh lầm
than, biết bao đau thương, vô vàn cảnh đau khổ mà
trời phải nhỏ lệ, đất phải thét gào.
1.Do thế,
những yếu tố cùng động lực nội sinh là những yếu tố
và trạng huống bên trong xă hội của một xă hội, điều
này không có nghĩa chỉ giới hạn vào các biên giới
quốc gia, song như chúng ta thấy hiện tượng các Nước
Châu Mỹ La Tinh và Phong Trào Cầu Nguyện Hiệp Thông
với Giáo Xứ và Giáo Dân Thái Hà và với Đức Tổng Giám
Mục Giu-se Ngô Quang Kiệt cho công cuộc tranh đấu
của Qúy Vị ấy, là đ́ển h́nh cụ thể rơ ràng. V́ ở đó
sự đoàn kết cùng một ḷng đóng một vai tṛ quan
trọng vuợt qua các biên giới để tạo nên các cuộc
cách mạng diễn tiếp. Nhất là, thời nay, nhờ vào hệ
thống đ́ện thư-email, hệ thống truyền h́nh và truyền
thanh đưa tin tức rât nhanh, bằng cách chuyển tin
thời sự qua cái máy điện thoại di động. Nhờ đó mọi
diễn tiền của qúy vị nhất động nhất cử, hay sự đàn
áp, khủng bố của phỉ quyền Hà Nội đối với qúy vị
chúng tôi biết ngay tức th́. Nhờ thế, thế gíới biềt
ngay, để ủng hộ qúy vị, để bênh vực, để tiếp tay với
qúy vị cho công cuộc tranh đấu trực diện của qúy vị
với chế độ cộng sản Việt phi nhân, và phỉ quyền Hà
Nội độc ác, thối nát này sẽ sớm có ngày sụp đổ.
Ôn lại
lích sử: chúng ta đă thấy được những cuộc xuống
đường đ́nh công ồ ạt của các sinh viên Âu Châu nhất
là ở Pháp, đà làm cho chánh quyền ở các quốc gia này
phải nhượng bộ nhiều đ̣i hỏi hợp lư của họ. Rơ ràng
hơn nữa là những cuộc khởi nghĩa của các sinh viên
Trung Quốc vào mùa xuân 1989, nhờ đó đă tạo nên
những loạt khởi nghĩa của sinh viên cùng dân chúng
tại Đông Âu: như Ba Lan, Hung Gia Lợi, Đông Đức,
Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi, Liên Sô, Nga, Lỗ Ma Ni và An
Ba Ni . Ở Á Châu có Phi Luât Tân, Nam Dương. Qủa
thật với ḷng kiên tŕ, can dảm, đoàn kềt, liên đới
th́ dù bất cứ một chánh quyền chuyên chế nào, một
chế độ hung ác, tàn bạo nào cũng phải sụp đổ. Lích
Sử của nhân loại đă chứng minh minh bạch như ánh
nắng mặt trời : Đế Quốc La Mă, Thổ Nhỉ Kỳ, Pháp,
Anh, Tây Ban Nha, Liên Sô, rồi hung ác hơn hổ dữ như
Tần Thủy Hoàng, Néron, Hitler, Lénine, Stalin, Mao
Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Polpot… nay họ đi đâu và
về đâu…trong ánh sáng sự thật của Lịch Sử nhân
loại.Như ông bà ta để lại lời răn đe và khuyên nhủ
cho con cháu cung cách sống với người và với đời như
sau: “trăm năm bia đá cũng ṃn, ngàn năm bia miệng
vẫn c̣n trơ trơ”.
2. Chúng ta
biết những yếu tố cùng động lực ngoại sinh là những
cảnh huống thống trị bởi thực dân hay tân chủ nghĩa
thực dân. Do đó những cuộc khởi nghĩa, cách mạng,
cốt ư là tranh đấu chống lại thực dân áp bức, thống
trị, để dành lấy lại chủ quyền quốc gia. Chúng ta
thường thấy được thiếp lập và tạo nên do ư chí quật
khởi của người dân. V́ thế những cuộc khởi nghĩa
dành độc lập, đánh đuổi ngoại xâm, dành tự trị này,
đáng lưu ư sâu xa ở các quốc gia Á Châu, Phi Châu và
Châu Mỹ La Tinh. Giờ dây chúng ta có thể hồi tưởng
lại những cuộc dấy binh khởi nghĩa cùng cách mạng
anh hùng của những Đấng Tiên Sinh trong qúa tŕnh
lịch sử dựng Nước và giữ Nước của dân tộc Việt: như
nhị vị Trưng-Triệu, Ngô Quyền, Lư Thường Kiệt, Trần
Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trăi, Nguyễn Huệ, Nguyễn
Tri Phương, Trương Công Định, Phan Đ́nh Phùng, Hàm
Nghi, Hoàng Hoa Thám, Duy Tân, Phan Bội Châu, Phan
Châu Trinh, Nguyễn Thái Học cùng các chiến hữu Việt
Nam Quốc Dân Đảng, Ngô Đinh Diệm, Nguyễn Khoa Nam,
Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên
Vỹ, Hố Bá Cẩn, Lê Quốc Quân, Trần Văn Bá, Đức Tổng
Giám Mục Nguyễn Kim Điền Và Ngô Quang Kiệt, Hoà
Thượng Thích Quảng Độ và Huyền Quang, Thượng Tọa
Thích Thiện Minh, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, Linh
Mục Nguyễn Văn Lư, Linh Mục Phan Văn Lợi, Nguyễn Hửu
Giải, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Đ́nh Huy, Vơ Đại Tôn,
Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiêm, Lê Thị Kim Thu,
Lê Thanh Tùng, Lê Chí Quang, Nguyễn Văn Đài, Phạm
Quế Dương, Trần Khải Thanh Thủy vv..cùng vô vàn các
chiến sĩ Việt Nam anh hùng chống bọn Tàu, Mông Cồ,
Pháp, Nhật, đô hộ dân ta và chủ nghĩa ngoại xâm
Marx-Lénine-Mao, và một loại tư bản rừng rú, là
ngoại lai do bọn tôi tớ Việt cộng từ Hồ Chí Minh cho
dến Nông Đức Mạnh và phỉ quyền Nguyễn Tấn Dũng hôm
nay du nhập vào làm cho xă hôi Việt Nam cang ngày
càng băng hoại, xuống dốc thê thảm. Xin thông cảm
cho chúng tôi không thể nhớ hết tên và kể ra chi
tiết được, chỉ xin nêu lên một số tên tuổi của các
đấng đă tạo nên các mốc điểm lịch sử cho dân tộc
chúng ta bằng những ư thức tranh đấu cách mạng chống
lại ngoại xâm Trung Hoa, Pháp, Nhật, Cộng Sản, và
chống lại ngoại nhân bằng h́nh thức xâm lấn quyền
nội bộ hay muốn thống trị kính tế, và chiếm đoạt tài
nguyên, đất đai, biển cả của ta như bọn Rợ Hồ Trung
Cộng đă và đang có mộng thôn tính thêm Đất Nước
chúng ta do sự tiếp tay của Đảng Việt Cộng và tập
đoàn Phỉ Quyền Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng chung
lưng góp sức cho chúng.
Chúng ta
đă rơ lịch sử đă chứng minh những hành động thô bạo
và phản bạn của chánh quyền Mỹ trong biến cố 1963 và
1975 tại Miền Nam Việt Nam chúng ta. Thế nên không
lạ ǵ có nhiều quốc gia trong khối Phi Liên Kết, các
Nước Nghèo Đệ Tam, và một số quốc gia ở Trung Đông
không thích lối hay lật ḷng v́ kiểu “ngoại giao
cow-boy” của Ṭa Nhà Trắng và Ngũ Giác Đài.
Hơn nữa,
chúng ta thấy trong nhiều quốc gia có lớp dân thù
hận hay chống lại một giai cấp trưởng giả mới
(nouvelle bourgeoisie), xuất phát từ thể chế nói là
độc lập, nhưng thật ra là lớp người tư sản, quân
phiệt, tư bản đỏ học đ̣i làm trưởng gả, bọn này là
“tay sai, nô bộc” của Mỹ, Pháp, Nga, Trung Cộng, Tây
Phương và bọn thế lực Tư Bản rừng rú v.v.. Chúng cấu
kết với nhau để hưởng lợi các quyền lợi kinh tế, mà
bọn trưởng giả vô liêm sỉ này đă muối mặt bán đứng
quê hưong và dân đen cho bọn Tư Bản thực dân này
trục lợi trên mồ hôi cùng sức lao động của dân ḿnh,
thậm chí bọn Bắc Bộ Phủ Hà Nội buôn bán và “xuất
khấu” hăng trăm ngàn thanh niên nam nữ Việt ta đi
làm những công việc nặng nhọc ở Đài Loan, Nhật, Đại
Hàn, Mă Lai vv. Rồi lại c̣n tổ chức mai mối cô dâu
để kiếm tiền làm đau khổ cho cả trăm ngh́n cô dâu
Việt ở Đài Loan và Đại Hàn, sống không có hạnh phúc
hay bị người ta dày ṿ thân ngọc ngà và làm nhục
nhân phẩm. Tệ hơn nữa, những loại trưởng giả này,
cướp đất của dân chúng, của các cơ sở tôn giáo, bán
các mảnh đất dinh thự của cha ông đă dày công bảo vệ
và xây dựng cho Đất Nước, nay th́ chúng bán cho các
tay tư bản, cho ngoại nhân hầu có tiền mà hoang phí,
hay bỏ vào các nhà băng lớn ở Thụy Sĩ, Lục Xâm Bảo,
Mỹ, Pháp, Anh, Bỉ và Nhật v.v.. Chúng ta thấy loại
học đ̣i trưởng giả này sống trên nhung lụa, trong
cách xài phí xa hoa bằng tiền ăn cướp công qủy của
Đất Nưóc, ăn chận bớt viện trợ, ăn tiền hối lộ, tham
nhũng, ăn tiền đút lót của các xí nghiệp ngoại quốc,
ăn bẩn tiền của dân qua chiêu bài đánh tư sản mại
bản, đánh trăm thứ thuế trên đầu dân đen, thợ thuyền…
Những loại người đê hèn thiếu liêm sỉ, rẻ lương tri
này không thiếu ở các quốc gia Á Châu, Phi Châu, Các
Nuớc Đông Âu Cộng Sản trước đây cũng như Nga và ở
Châu Mỹ La Tinh. Chúng Ta biết như Stalin ở Nga,
Causescu ở Lỗ Ma Ni ; Mao Trạch Đông, Giang Trạch
Dân, Hồ Cẩm Đào ở Trung Quốc; cha con Kim Chính Nhật
và Kim Nhật Thành ở Bắc Hàn, Hồ Chí Minh, Phạm Văn
Đồng, Trường Chinh, Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn
Linh, Đỗ Mười, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh, Vơ Văn Kiệt,
Phan Văn Khải, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nông
Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn
Minh Triết, Trương Thị Hoa, Lê Hồng Anh, Nguyễn Phú
Trọng và Tô Huy Rứa, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện
Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang, Nguyễn Cao Kỳ
v.v., ở Việt Nam; Marcos ở Phi Luật Tân, Suhasto ở
Nam Duơng; Các cha con Sadam Husen ở Iraq; Mobutu ở
Congo và Robert Mugabe ở Zimbawe cùng Bosaka ở Châu
Phi; Duvalier ở Haiti và Pinochet ở Chili… Những
loại người “ăn bẩn” này thường bị dân chúng khinh
khi và chống đối, v́ họ là tay sai, kẻ nô bộc của
ngoại nhân dùng trong chính sách “thực dân mới” của
họ.
V. NHỮNG CƠ
CẤU GUỒNG MÁY VÀ KỶ THUẬT CỦA CÁCH MẠNG
Chúng tôi
thiết nghĩ đây là trong lănh vực của những phân tích
tỷ mỷ, có thể đem đến những điều trong sang quan
trọng cho chúng ta.Thế nhưng trong thời cận đại
người ta thiếu các việc khảo cứu trên điều này.
Chúng tôi biết một trong những tác phẩm trội hơn cả
chúng ta đang có là của Boris Goldenberg, là “Latin
Amerika und die kurbanische Revolution, Châu Mỹ La
Tinh và Cuộc Cách Mạng của Người Cu Ba” (11). Ông
giúp chúng ta hiểu sâu cách đi vào những guồng máy,
cơ cấu cùng kỷ thuật, là đóng một vai tṛ quan trọng
trong cuộc cách mạng, hầu có thể thành công.Chúng
tôi xin dẫn lược và phân loại như sau:
1. Những Tiến
Tŕnh Cách Mạng
Làm thế
nào người ta từ trong cảnh huống tiền cách mạng để
trở thành cuộc cách mạng thật sự?Qủa thật nhờ vào
nhũng phân tích cụ thể cho chúng ta thấy rằng “những
cuộc cách mạng lăng mạn, hay những ư niệm mơ hồ” (le
romantisme révolutionnaire) th́ không đủ các hội tố
để gọi là cuộc cách mạng thật sự.Bởi v́ nếu là cuộc
cách mạng thực, th́ phải có tổ chức, có cơ cấu, có
phương sách và lập trường, hoặc có chủ thuyết và
chiến lược cùng chiến thuật hẳn hoi.Ví dụ chúng ta
hiện nay không chấp nhận phỉ quyền cộng sản Hà Nội,
và không lập được chánh phủ lưu vong, nhưng chúng ta
có các đảng phái như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại
Việt Đảng, Các Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại, Khối
1706 ở Hoa Kỳ (Chị Hoàng), Khối 1906 ỏ Úc Châu là
Anh Trương Hoàng Qụân và ông Trương Quốc Hùng. C̣n
trong Nước có Khối 8406 mà khuôn mặt đại biểu, sáng
chói cho khối này là Linh Mục Nguyễn Văn Lư được các
hội nhân quyền, hôị nhà báo và nhà văn cũng như
nhiều chánh phủ, nghị sĩ quốc hội trên thế giới biết
đến tên tuổi, đến sứ tranh đầu can cường của ngài
cho các sự tự do và nhân quyền cùng dân chủ cho
người dân Việt Nam.. Tuy nhiên có điểm đáng buồn là
những năm qua người Việt Hải Ngoại chán ngán và đă
nhận rơ những “phong trào kháng chiến ma, những hội
đoàn cách mạng, đảng phái, liên minh rỡm” tự ḿh
khóac áo “chống cộng” vái với nhau, tự phong chức,
phong tướng cho nhau trong cộng đồng chúng ta. Lư
thực họ không có thực lực, không có đảng tính, không
có chiến lược và chiến thuật tranh đấu bền bỉ, do đó
đă làm mất đi niềm tin cùng bầu nhiệt huyết của một
số người Việt Hải Ngoại.
Chúng ta
tạm bỏ qua những tṛ bịp bợm “kháng chiến rỗng, cách
mạng ma, hôi đoàn, đảng phái rỡm” mà những danh xưng
thật kêu nhưng lại là rỗng không như chúng tôi đă
nói ở trên, có vẽ lăng mạn hơi nhuốm màu “điện ảnh
và tiểu thuyết”.Đề rồi chúng ta quan tâm đào sâu
cùng phân tích những cái hiệu lực và hiệu năng của
những cuộc cách mạnh đă xảy ra thành công trong long
thế giới. Để có cốt liệu dựng nên, chúng ta có thể
lấy điển h́nh cuộc cách mạng thời danh 1789 của
người Pháp; cách mạng Tân Hợi 1911 của Tôn Dật Tiên
và cuộc cách mạng của người Nga vào năm 1917, cùng
một năm tại Đức, hay nữa là cuộc cách mạng của dân
Mễ Tây Cơ và cuộc chiến tranh nội chiến của dân Tây
Ban Nha năm 1930; cũng như cuộc cách mạng của toàn
dân Việt Nam đánh đuổi quân Pháp và Nhật vào năm
1945 mà Hố Chí Minh và các cán bộ của ông đă cướp
công kháng chiến của toàn dân cùng các đảng phái
quốc gia. Sau cùng, là cuộc cách mạng nằm 1949 tại
Trung Hoa lục địa; của người Cu Ba năm 1959 và tại
Ba Tây vào năm 1964 vv., làm những đề tài học hỏi và
so sánh.
Qủa bất cứ
một qúa tŕnh tranh đấu nào và một tiến tŕnh cách
mạng nào, th́ phải luôn có vị lănh tụ (leader) cùng
hợp với cán bộ và ngựi dân, để cùng chung nhau lư
tưởng hầu thiếp lập nên một guồng máy, một cơ cấu,
một phương sách, có chiến thuật và chiến lược tranh
đấu hầu đạt thắng lợi. Nhờ qua nhóm người này cùng
những cán bộ, họ thường cùng nhau tích cực hoạt động
hầu khai triển cho phong trào thêm lớn mạnh. Điều
chúng tôi muốn gợi ra là vai tṛ của những hội đoàn,
của các đảng phái và cán bộ cùng các thành viên
trong tất cả cuộc cách mạng là rất quan trọng và cụ
thể, để làm chuyển động bánh xe cách mạng xúc tiến.
Ở đây
chúng tôi xin đưa ra những h́nh ảnh cụ thể cho chúng
ta lưu ư các vai tṛ của những phong trào, của các
nhóm người trong tất cả các cuộc cách mạng.Đơn cử,
phải có những nhóm tạo áp lực, những nhóm liên kết
cùng nhau tranh đấu, thường họ là những người đối
kháng với chánh quyền hiện tại (Hà Nội), hay v́
quyền lợi của Dân Tộc và sự sinh tồn của Quốc Gia
vv., để hợp lư hóa lư do cách mạng. T́m hiểu lịch sử
Pháp, th́ chúng ta thấy những cuộc xuống đường của
dân Pháp phá ngục Bastille vào ngày 14 tháng 7 năm
1789 tạo nên cuộc cách mạng thời danh của Pháp.Từ
cuộc cách mạng này làm hội tố và kiểu mẫu cho những
cuộc cách mạnh khác của nhiều quốc gia trên thế
giới.
Thực là
thi vị cho những nhà viết sử về các cuộc cách mạng,
cho những người may mắn được tham dự vào những
chuyển biến của lịch sử cách mạmh.Do đó chúng ta có
thể chia ra thành hai nhóm người: trước hết, cho
nhóm người tiến hành luận thuyết về cảnh huống và
trạng thái khởi sinh nên cuộc cách mạng; và cho nhóm
sau, là giải thích cùng chứng minh theo luận thuyết
của những cuộc âm mưu, đảo chánh và tạo phản.
Tuy nhiên
các cuộc cách mạng khi diễn biến xảy ra th́ thường
giống nhau một điểm, là sự kiên tŕ cùng sự kết tinh
của những người trong hai nhóm, gồm những đảng viên
kỳ cựu và những tân đảng viên.Qua đó chúng ta thấy
họ có một thời kỳ nhiệt thành với cách mạng hầu tạo
nên sự hiệp nhất của những người theo chủ nghĩa lư
tưởng và những người theo chủ nghĩa thực tế (idéalistes
et réalistes). Song sau đó, th́ họ xảy ra những cuộc
tranh đấu chống nhau trong cục bộ để nắm quyền như
trong các đảng cộng sản ở Nga, Trung Hoa, Việt Nam,
Bắc Hàn, Cu Ba v.v..Chúng ta thấy không thiếu ǵ
cảnh những con cá lớn nuốt cá bé tranh quyền, tranh
chức, tranh ăn trong xă hội cộng sản.Họ có một thời
kỳ sống nghiêm khắc để thanh lọc hang ngũ, hầu cứu
lấy những ǵ họ đă tạo được qua cuộc cách mạng.Cuối
cùng là một sự điều ḥa, để hội đủ những trật tự mới
của các việc cũng như những dự án mà họ đề ra.
Chúng tôi
thiết tưởng để chúng ta lưu ư và học hỏi tất cả
những cuộc cách mạng xảy ra trong thế giới, lắm lúc
có những cuộc cách mạng không thích hợp cho môi
trường này, cũng như không được thừa nhận ở xă hội
khác.Lư do đơn giản là chúng ta phải biết áp dụng
phương sách cách mạng theo nhu cầu của xứ sở ḿnh,
cũng như theo ḷng mong muốn của toàn dân.
1. Những Điều
Kiện Thực Hiện Cuộc Cách Mạng
Chúng tôi
biết theo nhà xă hội Anh là Harry M. Johnson, vị
giáo sư nỗi tiếng chuyên môn nghiên cứu về các hiện
tượng chính trị và xă hôi trong thế giới (12). Với
ông có tất cả sáu điều kiện để thực hiện một cuốc
cách mạng: là một đoạn tuyệt với trật tự (cũ), một ư
thức công luận, một lănh tụ, một nhóm người (cán bộ)
làm cách mạng, một ư tưởng và chủ thuyết làm cách
mạng, cuối cùng một ch́nh thể (chánh phủ) tân thời,
nhất là tinh thần và tấm ḷng theo lư tưởng. Một
điểm quan tâm giúp chúng ta có thể khảo cứu, quan
sát những nguyên nhân xa, hay là trực tiếp của những
cuộc cách mạng, là thực trạng xă hội: cụ thể như
những biến động và biến cố tại quê hương cùng những
biến động những năm qua tại Đông Âu, tai Nga, tại
Phi Luật Tân, Nam Duơng, Thái Lan, Tây Trạng, Miến
Điện vv., hầu cho ta khảo sát, có các dữ liệu để làm
cách mạng hầu đạt được thắng lợi vẽ vang.
Các thập
niên gần đây chúng ta thấy xuất hiên những nhà lư
thuyết nói về cách mạng.Ví dụ như Herbert Marcuse
qua tác phẩm đưọc biết đến của ông: “L’Homme
Undimensionnel, Chiều Kích Con Người” (13), theo ông
nghĩ có một tiến tŕnh sinh xuất mới của thời nay,
mà đặc tính chủ yếu của cách mạng đă bị thay đổi
bằng những cuộc tranh đấu giai cấp của các thế hệ
trước. Ông cũng nghĩ rằng sự lên án xă hội kỹ nghệ
bóc lột người, là kiểu của tư bản mà người cộng sản
hay nói đến để “ru ngủ” lớp dân đen và thợ thuyền,
th́ nay lời hiệu triệu đó cho một cuộc cách mạng của
người cộng sản không c̣n “ăn khách” nữa. Lư tự nhiên
và sự kiện của ngày nay như chúng ta đă thấy giai
cấp thợ thuyền ở các nước tư bản kỹ nghệ được sung
túc và có tự do hơn. V́ vậy vai tṛ sinh động của họ,
là tranh đấu bằng một phương pháp mới nhờ qua các
nghiệp đoàn để đ̣i hỏi quyền lợi với chủ nhân ông
hay chánh quyền.
2. Những Vai
Tṛ Chủ Động Của Cách Mạng
Tuy những
vai tṛ và công việc có khác nhau cho mỗi người, thế
nhưng tất cả mọi người đều luôn sẵn sang trong tư
thế, hầu làm cho diễn tiến của cuộc cách mạng luôn
được sinh động. Một cuộc cách mạng không thể khai
triển bởi một tiền tŕnh hoàn toàn ngẫu nhiên.Do thế,
cuộc cách mạng sẽ không nảy sinh được nếu không có
hoàn cảnh thời tiền cách mạng.Vậy th́ cuộc cách mạng
không là thành qủa tất định, nhưng là do những cảnh
ngộ, t́nh thế, tạo nên có một bước đầu đến khởi
phát.Nhờ đó phong trào không thể đảo ngược.Hơn nữa,
sự kiện nói lên những yếu tố cũng những nhân vật
đóng vai tṛ lănh đạo hay là nhiệm vụ cốt yếu cho
cuộc cách mạng thật là quan trọng, hầu tạo cho cuộc
cách mạng có thể tất thắng.
Thực muốn
tạo nên một hài kịch, th́ đ̣i hỏi người soạn kịch
đến diễn vai của tuồng phải cố gắng tập dợt nhuần
nhuyễn cho vở kịch ḿnh được thành công.Cũng thế,
muốn tạo nên một cuộc cách mạng, th́ lẽ đương nhiên
đ̣i hỏi tất cả những người chủ động phải có trách
nhiệm và ư thức cao độ do những những hành động của
ḿnh, để lôi cuốn quần chúng nghe ḿnh, cũng như tạo
nên niềm tin cho họ. Một vở kịch dỡ sẽ gây chán năn
cho người xem.Cũng thế những kháng chiến ma, những
hội đoàn, đảng phái rởm không có thực chất và sức
mạnh sẽ làm cho quần chúng thất vọng, đi dần đến
điểm mất niềm tin vào các đảng phái cùng hội đoàn.
Ngược lại,
muốn tạo một cuộc cách mạng có dư âm và tạo niềm tin
cùng hy vọng cho dân chúng, th́ không ǵ hơn sinh
xuất ba vai tṛ khác nhau song là kiểu mẫu cho sự
sinh động của cách mạng: trước hết là những vị lănh
tụ, họ là hiện thân của phong trào và là xúc tác cho
cán bộ và đoàn viên, đảng viên, cho quần chúng và
quốc tế (người ngoại quốc). Ở đây chúng tôi chúng
tôi xin đưa ra các mẫu người đáng ngưỡng phục như
cựu Tổng Thống Lech Waleza và Havel, Đức Đạt Lai Lạt
Ma, Đức Tổng Giám Mục Oscar Romero và Đức Tổng Giám
Mục Pius Ncube ờ Zimbawe và Đức Tổng Giám Mục Ngô
Quang Kiệt, Linh Mục Nguyễn Văn Lư v.v.; kế đến là
những người cấm đầu, đẫn đạo, họ hành động như người
trung gian, cũng thế họ được gọi là những người
phiến động biết tùy nghi, thích ứng mọi hoàn cảnh để
gây tiếng vang cho phong trào hay cho đảng phái, có
nghĩa là tạo được ảnh hưởng ở ḷng dân trong nước
cũng như dư luận quốc tế; cuối cùng, là những cán bộ
hay những chiến sĩ nồng cốt, họ phải biết tự trọng
để chiến đấu theo một phương sách hoàn hảo đă được
đề ra, và nhờ qua tác phong làm việc nghiêm chỉnh
của họ mà người ta đánh giá cùng xem qua hành động
và thành qủa của họ. Thêm nữa, là các hội đoàn, các
đảng phái, các cảm t́nh viên và những nhóm người
tích cực hổ trợ cho công cuộc cách mạng cũng thật
cần thiết.V́ hiển nhiên một điều là qua những phong
trào này có sự nóng bỏng cùng sôi sục của người dân
và xă hội, th́ sẽ dễ cho chúng ta phát động nhất
loạt trong long quần chúng sự nổi dậy của cao trào
cách mạng. Để rồi từng mỗi một cá nhân đều có bổn
phận kích thích tâm lư, rồi như một gịng thác cuốn
ḿnh trong cơn sóng của cách mạng, hầu giúp chúng ta
đánh đổ chế độ tàn bạo cộng sản Hà Nội để thay thế
một xă hội tốt đẹp hơn. Như chúng tôi đă nói ở phần
trên, th́ những nhân vật chủ động và cốt yếu đẻ tạo
nên một cuộc cách mạng, cũng như châm ng̣i nổ cho
cuộc cách mạng thành công, qủa rất cần thiết và hệ
trọng dường bao!
Cũng thế,
chúng ta thấy trong mọi cuộc cách mạng hầu như người
ta thường chú tâm đến vai tṛ của những người tri
thức và văn hóa. V́ họ là người thường tác động
trong sự sáng tạo nên các bầu khí của thời tiền cách
mạng.Có nghĩa là họ có một nhận định minh bạch và
giúp phân tích rơ thời cuộc cùng t́nh thế cho cách
mạng. Họ được xem là những người đóng vai tṛ lănh
tụ hay dẫn đạo, để rồi họ sẽ làm sinh động cho chế
độ. Họ là người có thể giúp tân chánh quyền trong
thời hậu cách mạng qua những đề án về chính trị cũng
như kinh tế, xă hội, văn hóa, luật pháp v.v. Nói một
cách xă hội học, những nhà tri thức có văn hóa đóng
một vai tṛ và địa vị tốt hơn để tranh chấp với bất
cứ một chế độ nào.Bởi họ có một đời sống nhạy cảm,
để giúp xă hội canh tân, đổi mới; cũng như họ có một
trí óc biết tổ chức, phối trí cùng sáng tạo nên
chiến thuật và chiến luợc. Cũng điều như thế, chúng
ta thấy sự nhạy cảm của các sinh viên hôm nay trước
những biến động của thế giới, và nhờ họ mà các nước
Nam Hàn, Đài Loan, Nam Dương, Thái Lan, Mă Lai, Phi
Luật Tân, Đông Âu, và Nga…đang trên đường xây dựng
dân chủ hóa hơn. Nói đến đây, chúng tôi phải nói
thêm phẩm cách và uy tín của các vị lănh đạo tinh
thần thật là quan trọng.V́ nhờ sự can đảm và gương
yêu Nước nồng nàn, yêu dân chúng và tha nhân chân
t́nh của các ngài nên đă xă thân bênh vực nhân
quyền, lẻ phải, đă giúp rất nhiều đến sự sụp đổ của
khối cộng sản Liên Sô và Đông Âu.Chắc chằn ai cũng
rơ những vị đó là Đức Cố Giáo Hoàng Phao Lô Đệ Nhị,
và Đức Cố Hồng Y Tomasek, là giáo chủ người công
giáo Tiệp Khắc, cũng như Đức Cố Hồng Y Sin của Phi
Luật Tân, các ngài đă đóng góp rầt nhiều cho tiến
tŕnh đ̣i hỏi dân chủ và tự do cho con người (14).
Quả thật
chúng ta thấy có những cuộc cách mạng xă hội và
chính trị một đôi khi đưọc hoàn tất do giai cấp lănh
đạo. V́ họ thấy được các nhu cầu cách mạng phải đến
và họ hành động ngay, hay đi trước một vài sự việc,
như gương của Nhật Bản trước đây.Cấp lănh đạo và vua
quan họ thật là khôn ngoan, nên đă tạo nên một cuộc
cách mạng về chính trị và kỹ nghệ cùng văn hóa ở
cuối thé kỷ 19 và đầu thế kỳ 20. Trái lại, cùng thời
đại ấy vua Tự Đức và các quan lại nhà ta “vẫn c̣n
đắp chăn ngủ say trong vỏ ốc” kém hiểu biết và qua
cái khinh mạn của ḿnh.V́ lỗi của vua quan ta mà bỏ
lỡ một dịp may ngàn vàng, khi tiếng chuông cách mạng
của nhà đại trí thức yêu nước Nguyễn Trường Tộ dâng
những bản điều trần có một không hai của lịch sử
Việt Nam cận đại. Đọc kỷ bản điếu trần chúng ta thấy
tiên sinh là người biết nh́n rộng, trông xa cho Đất
Nước có thể thoát được cảnh ngoại xâm, và tạo cho
Nước Nhà hùng cường thịnh vượng. Cái tha thiết của
tiên sinh được bộc lộ do nhiệt huyết tuổi trẻ của
ngài.Bởi bản điều trần được viết từ năm 1867-1871.Để
rồi ngài chết đi khi tuổi ngoài bốn mươi. Đất Nước
Việt mật một tài năng và dịp may làm cho dân giàu
nước mạnh như Nhật Bản ngày nay.
3. Những Chiến
Lược Hay Kỹ Thuật
Nói đến
chiến lược hay kỹ thuật là thường tiến hóa và thay
đổi tùy thuộc do t́nh thế xă hội. Chiến lược cách
mạng của chủ thuyết Marx như chúng ta được biết qua
các thời kỳ tranh đấu, để rồi từ Lénine, Mao Trạch
Đông, Che Guevara đă áp dụng và sáng tạo thêm phần
chiến lược cùng kỹ thuật của ḿnh. Chúng ta nhận xét
trong các quốc gia mới khai triển, th́ những quân du
kích đă trở nên kỹ thuật và chiến luợc của cách
mạng.Không đâu xa, ngay tại Việt Nam ta, th́ Việt
cộng đă biết áp dụng lối đánh này, có thể không hoàn
toàn mới lạ, nhưng tối thiểu họ biết làm mới lại
trong cái ư nghĩa áp dụng của nó; và đó là điểm đáng
cho chúng ta lưu ư trong các hoàn cảnh và dạng thái
của xă hội. Rơ ràng nhất, là qua cuộc phản kháng có
tính cách văn hóa, chủ quyền dân tộc, cộng sản Bắc
Việt đă đánh lừa được dư luận thế giới qua cái chiêu
bài ăn khách, là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” được
thành lập vào năm 1960, hầu làm hậu thuẫn và bàn đạp
cho sự đánh chiếm Miền Nam của họ (15).
Chúng tôi
thiết nghĩ những kỷ thuật cùng các chiến lược không
dùng vũ lực và bạo động là một nền tảng quan trọng,
và là điều người ta ít nói đến, cũng như ít người
khảo cứu, học hỏi cho đến bây giờ.Nhất là những kỹ
thuật này hướng về nền tảng luân lư, và văn hóa đạo
đức của một hệ thống xă hội chính trị. Theo lời đề
ra, th́ chúng ta cố gắng t́m ṭi trong các xă hội
những kiểu mẫu của chiến lược và kỹ thuật có hiệu
năng.Do đó chúng tôi nghĩ rằng nếu một chiến lược
không dùng bạo động và vũ lực mà có hiệu năng, th́
chúng ta có thể sử dụng trong những t́nh thế mà xă
hội đó cần phải có một cuộc cách mạng.Chẳng hạn như
xă hội Việt Nam ta hiện thực.
Hiển nhiên
một điều, là tất cả những chiến lược sẽ khác nhau đi
theo việc hành động của cuộc cách mạng: cuộc cách
mạng nhắm vào những quy tắc chung hoặc vào một hệ
thống chính trị, hay nữa là cuộc cải tổ toàn bộ xă
hội.Chúng tôi nghĩ rằng khi các chiến lược trở nên
chính thức hóa, có nghĩa là trở nên một ư tuởng
học.Khi đă trở thành ư tưởng học, th́ chúng ta có
thể học hỏi để áp dụng nó.
4. Hậu Cách
Mạng
Chúng ta
rơ khi thiết lập nên chế độ cách mạng là chỉ một lúc
quyết định đứng đắn, đó là lẽ tất nhiên mà những
phong trào cách mạng đă có thể sáng tạo nên “một
định chế hoá” như sự thay đổi của ư họ.Thế nhưng nhu
chúng ta thường thấy là sau các cuộc cách mạng th́
người ta củng cố thêm guồng máy, củng cố cơ cấu hành
chánh cũng như vấn đề quốc pḥng để quản trị.Nhiều
Nước sau thời hậu cách mạng là thời kỳ phát triển
quốc gia thêm giàu có.Trái lại nhiều quốc gia sau
thời hậu cách mạng, là thời củng cố thêm quyền lực
và thanh trừng những người không cùng lập trường,
phe cánh hay chánh kiến. Đ́ển h́nh như chế độ Sô
Viết của Lénine-Stalin đă tạo nên cái hiện thân của
tên bạo chúa giết người hơn cả chế độ Nga Hoàng.C̣n
hơn thế nữa những tên bạo chúa như Mao Trạch Đông,
Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Trần
Quốc Hoàng, Hoàng Quốc Việt, Fidel Castro, Causescu,
Honecker, Polpot vv,, đă giết cả trăm triệu đảng
viên và dân lành vô tội qua các cuộc cải cách ruộng
đất, cách mạng văn hóa, đấu tố tư bản mại sản, đi
học tập cải tạo v.v. Những tên đồ tể khát máu người
của thế kỷ hai mươi này bản tính c̣n man rợ, hung dữ,
ác thú hơn cả vua Tần Thủy Hoàng thời cổ.Cũng như
thời hậu cách mạng của Pháp 1879 đă tạo nên một
Napoléon độc tài và tham vọng hơn các ông vua trước
(16).
VI. VŨ LỰC VÀ
BẠO ĐỘNG
Chúng ta
thấy trong các cuộc cách mạng thường đi sóng đôi là
vũ lực và bạo động.Điểm này người ta thường đồng hóa
cho cả hai.Tuy nhiên cũng hiện hữu một số lớn phong
trào cách mạng không dung đến vũ lực và bạo động
(non-violence) của ḿnh để tranh đấu đạt thắng
lợi.Chúng ta có thể khảo cứu cùng đi vào sự phân
tích và thành qủa đạt được của những loại cách mạng
kiểu này.
Để có dữ
kiện chúng tôi xin đua ra những điển h́nh cụ thể của
lịch sử: hai khuôn mặt thời danh đực độ, hầu như
nhân loại ai cũng biết đến, nhất là giới trí thức và
làm chính trị, đó là trường hợp của Thánh Mahatma
Gandhi và Mục Sư Martin Luther King. Ngoài ra chúng
tôi có thể kể thêm những khuôn mặt gần những thập
niên chúng ta hơn là cựu Tổng Thống Lech Walesa và
phong trào Đoàn Kết của ông (17).Thêm một con người
nữa, nhờ ông mà cộng săn Đông Âu và Khối thế giới
cộng sản tan ră là cựu Tổng Thống Mikhail Gorbatchev
qua diệu kế: “Prestroika và Glasnot, Cởi Mở Và Tái
Phối Trí” (18). Song chúng tôi nghĩ dùng một danh từ
đúng với chiến lược, chiến thuật tranh đấu và những
hội tố của việc làm, nên chúng tôi xin gọi là “tái
cách mạng”.Cả hai ông Lech Walesa và Mikhail
Gorbachev đă biết sử dụng tài trí khôn ngoan và long
can đảm của ḿnh để tranh đấu, tránh dùng vũ lực thô
bạo để đạt nhân tâm cùng lôi cuốn dư luận quốc
tế.Những vị trên đây tranh đấu từng bước một với
thời gian để đạt thắng lợi có được cho Đất Nước
họ.Ai bảo rằng các ông ấy không yêu Nước, không
thành công?
Qủa chúng
ta không thể phủ nhận những vị trên đây là những mẫu
gương hành động, đập vào trong tâm thức chúng ta,
trong tư tưởng cùng nhận thức và quan sát của chúng
ta, là cái giá trị cùng thành qủa của việc tranh đấu
tránh dùng vũ lực của các vị ấy hầu như đă ăn sâu
vào trong ư tưởng của con người. Nhất là, tầm mức
của nó được hiệu dụng bởi những phong trào tranh đấu
chống thưc dân, chống cộng sản trong qúa khứ cũng
như hiện tại đă đem lại những chiến thắng lớn cho
dân Ấn Độ, khối Đông Âu và Liên Bang Sô Viết (19).
Thế đó
những đ́ều quan hệ và liên quan đến vấn đề chiến
thuật, chiến lược cùng kỹ thuật tranh đấu “không
dùng vũ lực” đă được thực hiện và xảy ra qua các
biến động của lịch sử nhân loại vừa qua.Qủa đă có
rất nhiều sách và bài báo được ấn hành cùng xuất bản.
Song chúng tôi thấy một trong những sách và bài báo
hay đó có giá trị được đăng trong tạp chí
“Sociological Inquiry” với tựa đề “Analysic of
Non-Violence in Theory and Fact”. Bài báo tuy đă lâu
nhưng lại có một phân tích sâu sắc, nên chúng tôi
lấy lại một vài điểm hay cho chúng ta cùng nhau học
hỏi hay có thể áp dụng tranh đấu cho t́nh h́nh Đất
Nước Việt Nam ta hiện tại dưới chế độ độc tài, hà
khắc của Hà Nội.
1. Những Phân
Tích Lư Thuyết Của Thuyết Không Dùng Vũ Lực Và Bạo
Động
Chúng tôi
được biết có rất nhiều tác giả họ có cùng một quan
niệm về các điểm tâm lư không dùng đến vũ lực.Đây là
trường hợp của Paul Hare (20), theo quan niệm của
ông, th́ ông phân biệt ra ba kiểu của những dạng
thái khác nhau: là thống trị, áp chế (domination)
hay là qui thuận và phục tùng (soumission); bản tính
tiêu cực hay là tích cực (positif ou négativf);
hướng về mục đích tốt hay là tà hướng (xu hướng).
Cũng nhờ những điều t́m hiểu về tâm lư con người,
cũng như qua các tiên đoán, các dữ kiện và những
phân tích và những phản ứng khác nhau của họ để ta
có thể phối hợp dấn than với những đa tạp khác nhau
này.
Cũng thế,
như quan niệm tâm lư của Sydney I. Perloe, với ông
nghĩ, đó chính là xây dựng trên lư thuyết của các
thay đổi thái độ, dạng thái, và được khảo nghiệm kỷ
để tạo nên một tác động không dùng vũ lực và bạo
động, hầu có những may mắn đi tới kết qủa.Điều quan
trọng là chúng ta phải biết bền gan tranh đấu mới có
thắng lợi.
Cũng
trong tập san này, theo quan niệm xă hội học, th́
chúng ta có một sự phân tích tuyệt hảo của nhà xă
hội Judith Stiehm.Theo quan niệm của nhà xă hội học
này, là sự xây dựng trên một ḥa điệu nền tảng nhân
bản của con người, và như thế, thường là đối kháng
lại tất cả sự cưỡng bức, đối kháng lại tất cả mọi
hành vi bạo lực cùng áp chế. Có nghĩa đây là sự ư
thức tránh dùng vũ lực và bạo động theo lương tâm.Do
đó, trong h́nh thức thứ hai này người ta nghĩ rằng
những quyền tranh đấu v́ quyền lợi là một sự việc
lành mạnh trong xă hội.Tuy nhiên không dùng vũ lực
hay bạo động, là cách thức tiết kiệm sự hy sinh nhân
lực cùng tài lực để giải quyết mọi vấn đề của con
người và xă hội, đây là cách thức bất bạo động thực
tiễn, và con người đă có nhiều thành công đạt được
(21).
a. Không
bạo động v́ lương tâm, th́ chú ư đến phương tiện hơn
là mục đích của nó.Chúng ta thấy những cuộc xung
đột, gây chiến tranh và đánh nhau là do ở sự thiều
thông giao.Do thế để giải quyết những khó khăn và
vấn nạn này, th́ cần phải đến sự đối thoại.V́ người
ta hiểu được những nguy hiểm cùng tai hại của các
cuộc xung đột, tranh chấp, đánh nhau, th́ thường đem
đến các tai hại về nhân sự, cũng như sẽ dễ trở nên
cuộc đổ máu cho dân chúng. Nhờ các lư do tâm lư này
tạo nên một yếu tố tỉnh thức con người v́ lương tâm.
b. C̣n việc
bất bạo động thực tiễn, th́ không muốn loại những
cuộc xung đột, nhưng lại là thử nghiệm vài h́nh thái
tranh đấu, được thực hiện như là một “vũ lực biểu
tượng, violence symbolique”, hay là tính cách “nghi
thức hóa cuộc chiến đấu, ritualiser la lutte”.Việc
làm này cũng dựa trên số đông người hơn là những cá
nhân riêng rẽ.Cũng chính việc làm này biết sử dụng
phương thế chinh phục con người theo phương pháp của
khoa học nhân bản.
Như thế
chúng ta thấy cái khác biệt rất lớn giữa hai lập
trường này.Một lập trường muốn gỉai qưyết những cuộc
xung đột nhờ ở một sự thông giao; lập trường kia th́
do một hành động trên những cơ cấu của quyền
hành.Một lập trường cốt yếu dựa trên nền đạo đức cá
nhân, và lập trường kia th́ dựa trên đạo đức của
trách nhiệm cùng với một phân tích xă hội. Lập
trường A thực hiện bởi những tác động cá nhân hay
tương đồng, lập trường B do những hành động thảo
luận, hiệp nghị.Tuy nhiên lịch sử chứng minh cho
chúng ta thấy thường có sự hổ tương, tác dụng giữa
hai loại bất bạo động và tránh dung vũ lực này.
Theo như
Victor Lidz phẩm b́nh về các lập trường này,th́ ông
nói cả hai h́nh thái bất bạo động không có đối
nghịch nhau, nhưng định vị trong cùng một xă hội
(22).
Chúng ta
thấy hiện tuợng các cuộc tranh đấu bất bạo động
không dùng đến vũ lực đă được con người áp dụng và
nó tỏa rộng khắp hoàn vũ.Qua những biến chuyển xảy
ra trong những thập niên qua do từ những cuộc tranh
đấu của sinh viên Trung Quốc, đ̣i hỏi nhà cầm quyền
Trung Cộng phải dân chủ hóa, đă thành như một ng̣i
nổ đánh thức lương tâm, ḷng can đảm của các sinh
viên, thợ thuyền, dân chúng Khối Đông Âu. Để rồi nhờ
những cuộc xuống đường vĩ đại, ồ ạt liên tiếp tranh
đấu không dùng vũ lực, nhưng ở họ là y chí, con tim
cháy lữa khao khát tự do; và chính nhờ vào vũ lực
cùng ư chí, ḷng can đảm này, dân chúng các nước cựu
cộng sản Đông Âu dám xuống đường đ̣i hỏi dân chủ
không sợ súng đạn, xe tằng của cộng sản, nên họ đă
đánh ngă được các thành tŕ cộng sản ngoan cố, sắt
máu như Ba Lan, Hung Gia Lợi, Đông Đức, Tiệp Khắc,
Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi, An Ba Ni và Khối Liên Sô cùng
Nga Cộng.
Do thế,
chúng tôi th́ết nghĩ nhờ long nhiệt thành, ư chí
cùng biết tổ chức, tạo khích động cho quần chúng
hiểu được giá trị của dân chủ để cùng nhau xuống
đường tranh đấu tập thể tất sẽ thắng. Yếu tố thứ hai
đ̣i hỏi sự can đảm dấn thân như gương tranh đấu của
dân chúng Lỗ Ma Ni.Tuy trả giá hơi đắt thật đó,
nhưng dân chúng đă đánh gục được vợ chồng tên bạo
chúa Caucescu cùng đồng đảng của ông ta (23). Hoặc
nữa như gương của Boris Elsine cùng dân chúng Nga đă
có những cử chỉ can đảm và ḷng anh dũng xuống đường
đẩy lui những chiếc xe tăng cùng họng súng đại bác
của bọn cộng sản điên cuồng Nga Sô, để mở đường cho
một tiến tŕnh dân chủ hóa ở Nga như ngày hôm nay.
2. Phân Tích
Thực Dụng Của HànhVi Bất Bạo Động
Qua hai ví
dụ điển h́nh mà chúng tôi đưa ra ở phần trên có thể
cung cấp cho chúng ta trong sang thêm về việc không
dùng vũ lực và bạo động. Giờ đây để có dữ kiện thực
dụng, chúng tôi xin lấy lại tư tưởng của Sterntein
trong buổi nói chuyện của ông với “Phong Trào Ḥa
Giải, Mouvement Pour La Réconcilation” tại Vienne
vào tháng 4 năm 1968.Tại đây tác giả đă tường thuật
lại việc làm tranh đấu với thực dân Anh của thánh
Gandhi.Và ông kể lại làm thế nào thánh Gandhi phân
tích t́nh trạng thực dân? Theo ngài, th́ việc tranh
đấu bất bạo động, không dung vũ lực là “tương đồng
luân lư của chiến tranh, l’équivalant moral de la
guerre”.Thực vậy, chúng ta biết để một chánh quyền
điều hành được, th́ phải có một việc tối thiểu của
sự điều ḥa guồng máy cai trị, tất nhiên mọi quyền
lực cần đến một việc luân lư đạo đức.Do đó, khi
chánh quyền ỷ thế vào sức mạnh và quyền lực của súng
đạn, công an hay quân đội, để đàn áp, cưỡng bức và
khủng bố kẻ yếu cùng người đối kháng, th́ chính sự
cưỡng bức và đàn áp, bức chế kẻ yếu, người dân cùng
người đối kháng này của chánh quyền, có thể tạo nên
cho người đối kháng thêm sức mạnh và chính nghĩa (bởi
vũ lực của người yếu là sức mạnh vào tinh thần cùng
ư chí kiên cường vững bền). Qua đó tác giả cho chúng
ta thấy được hành động tiên khởi của thánh Ganhdi,
là thiếp lập trên một kế hoạch (programme), và tiếp
nối dựa trên một chiến lược (stratégie).Kế hoạch và
chiến lược của ngài chia ra làm ba giai đoạn như sau:
là biểu tượng kháng cự (résistance symbolique), có
nghĩa là diễn hành, biểu duơng, chứng tỏ và phản
kháng (demonstration, marches, protestation); chiều
hướng tự vệ, pḥng thủ, có nghĩa là đ́nh công, không
hợp tác, từ chối trả tiền thuế, từ khước phục vụ
quân đội cho thực dân Anh (grève, non-coopération,
refus de payer l’impôt, refus de service militaire);
sau là chiếu hướng kháng cự, gồm có sự tẩy chay,
ngồi biểu t́nh, sự chiếm đoạt v.v.(boycott, sit-in,
occupations), và thánh Gandhi đă thành công vinh
quang đánh đuổi được thực dân Anh và dành lại độc
lập cho Nước Ấn Độ. Thập Niên vừa qua ông Lech
Walesa cùng nghiệp đoàn Đoàn Kết của ông, đă dùng
một trong những thủ thuật này đối với Nhà Nước Ba
Lan để có chiến thằng như chúng ta đă thấy.
C̣n trường
hợp thứ hai, chúng ta có thể lấy lại tư tưởng của
Emmanuel Wallenstein (24).Theo ông nghĩ, trong xă
hội kỹ nghệ thịnh vượng vật chất th́ bạo lực đă mất
đi cái hiệu lực của nó.Thực thế, sự tương quan của
kẻ mạnh trong xă hội như hai người nghèo chống lại
một người giàu đă bị đảo ngược, v́ tài đối thoại và
thuyết phục đă trở nên phương thế hữu hiệu hơn cả,
Do thế, làm một cuộc cách mạng chỉ là một việc không
tưởng đối với xă hội này.
Tuy vậy,
với các điều nói này sẽ có cái khác biệt trong những
quốc gia đang khai triển.Bởi theo b́nh diện quốc tế
mà tác giả nghĩ rằng, do kinh nghiệm của những quốc
gia phát triển sẽ làm mất đi điểm này.Vi sợ làm một
cuộc cách mạng, họ có thể chọn lựa một con đường
khác để thực hiện là sự cải cách (la voie
réformiste).Có lẽ hiểu được điều này mà ông Đặng
Tiểu B́nh đă áp dụng phương thế cải cách kinh tế để
cứu văn cho Trung Quốc đang gặp lúc khốn đốn. Song
khôn ngoan, can đảm và thực tiễn, nên ông Gorbatchev
đi xa hơn, là cải cách cả chính trị lẫn kinh tế (réforme
politique et réforme économique) cho Liên Sô (25).
3. Phân Tích
Thực Tiễn Con Đường Dùng Vũ Lực
Giáo Sư
Fanon trong loạt bài khảo cứu: “Những Địa Ngục Trần
Gian, Les Dammés De La Terre” (26), ông đă thực hiện
một việc phân tích rơ ràng để đập mạnh vào cảm xúc
của độc giả đến vấn đề dúng vũ lực hung bạo này. Ông
tŕnh bày cho người đọc thấy qua cuộc chiến của
Algérie, và ông lưu ư người đọc cùng chúng ta cái
giá trị kinh hoàng của con người và xă hội phải trả,
là cái chết và sự tàn phá của chiến tranh.Tuy nhiên
theo ông nghĩ dùng vũ lực trong một cuộc cách mạng
là một diễn tiến có thể cần thiết, khó có thể phủ
nhận, mặc dầu điều ấy là điểm người ta gọi là vô
nhân đạo.Song các điều tác giả lưu ư cho chúng ta
đây, là khía cạnh tâm lư, chứng tỏ cho chúng ta một
loạt phân tích trường hợp này.
Người ta
biết trước khi chết Che Guevara đă thực hiện một bài
hiệu triệu cùng toàn dân như la phương thế của cách
mạng, không chỉ là dùng vũ lực cho cách mạng, nhưng
c̣n tạo nên một sự hận thù để gây chết chóc trong
ḷng các cán bộ của ông. Không đâu xa, cộng sản Việt
Nam đă dung vũ lực cùng sự trả thù một cách man rợ
nhất đối với người dân xứ Kinh Thành hiền ḥa, là
cảnh Tết Mậu Thân 1968 ở Huế mà họ đă chôn sống hơn
năm ngàn người dân lành vô tội (27). Thêm nữa, sau
khi cộng sản Hà Nội cưỡng chiếm được Miền Nam, th́
họ đă trả thù một cách đê tiện, là bỏ tù hàng triệu
người quân nhân cán chính miền Nam, dùng vũ lực thô
bạo để cướp tài sản, cướp vợ của những người bị trói
tay thất trận. Chúng ta có thể tha thứ, thông cảm
trong cuộc chiến, khi giao chiến, hay đang lúc tranh
đấu có thể dùng vũ lực v́ lắm lúc xảy ra ngoài ư
muốn của chúng ta.
Ở đây
chúng tôi muốn nói thêm, là qua các tập tài liệu của
các cơ quan nhân quyền quốc tế trên thế giới, với
những tập hồ sơ phân tích thực tế và bằng chứng cụ
thể và xác thực về việc dung bạo lực của chánh quyền
đối với con người, th́ các quốc gia độc tài, quân
phiệt và cộng sản là thường vi phạm trắng trợn đến
các luật nhân quyền (28). Họ viện cớ và chụp mũ cho
người dân các tội phạm để rồi đàn áp một cách dă
man.Nói như Đức Cố Hồng Y khả kính người Ba Tây là
Herder Camara “la violence établie sur la terre, sự
bạo lực được thiếp lập trên trái đất”.Có nghĩa là
bạo lực đang nằm trong các cơ cấu của xă hội chuyên
chế chính trị cùng cộng sản độc tài và quân phiệt.
Cuối cùng để lưu ư chúng ta hơn về câu trả lời của
bạo lực cách mạng, là bằng một sự đàn áp dă man rất
hung hăng của “cảnh sát (công an) nhân dân hay do
quân đội nhân dân”: thực như một lũ thú rừng họ ra
tay đàn áp những phong trào sinh viên cùng thợ
thuyền tranh đấu cho quyền lợi của ḿnh, cho ư thức
dân chủ, tự do. Trên thế giới ai lại không biết và
không kinh tởm cảnh đàn áp hung bạo tàn nhẫn của
Đặng Tiểu B́nh và Lư Bằng đối với những khuôn mặt
sinh viên hiền ḥa tranh đấu cho người dân Trung Hoa,
có đưọc sự hiện hữu của một thể chế dân chủ và một
nền tự do nhân bản, thế mà các ông lại dùng đến súng
đạn và xe-tăng càn quyét. Ai cũng kinh hoàng, ghê
tởm cách trả thù bằng lối xử tử người một cách man
rợ hơn cả thú vật của Nhà Nước Bắc Kinh, khi họ kê
súng vào miệng nạn nhân để bắn (29). C̣n nữa, trong
những năm tháng qua, các nhà Sư Lạt Ma và sinh viên
dân chúng Tây Tạng đă đứng lên đ̣i lại quyền tự trị
của Đất Nước ḿnh đă bị Trung Cộng xâm thực và đô hộ.
Cuộc biểu t́nh tranh đấu ôn ḥa của người dân Tây
Tạng đ̣i lại điều hợp lư cho Đất Nước ḿnh, thế mà
Hồ Cẩm Đào đă ra lệnh xă súng đàn áp cuộc tranh đấu
và bắt bỏ tù các nhà Sư Lạt Ma và dân chúng Tây Tạng
yêu Nuớc của ḿnh.
Thêm nữa,
cũng trong năm nay các cuộc xuống đường bất bạo động
của các nhà Sư Miến Điện đ̣i hỏi chánh quyền quân
phiệt phải tôn trọng nhân quyền, dân chủ và tự do
cho người dân.Chánh quyền đă không đáp ứng nguyện
vọng chính đáng của các nhà Sư th́ chớ, trái lại họ
lại cho quân lính và cảnh sát đàn áp, bắt bớ và
khủng bố các nhà Sư. Tại Việt Nam th́ Quốc Tế và
người dân Việt, ai ai cũng biết Nguyễn Tấn Dũng và
bọn phỉ quyền Hà Nội đă ra lệnh cho hàng trăm công
an dă chiến với dùi cui, lựu đạn cay, một bầy chó
điên đến giáo xứ Thái Hà ở Hà Nội, để đàn áp các tín
hữu công giáo tranh đấu cho lẻ phải và công lư, công
bằng. Được lệnh trên ban xưống, th́ lũ công an này
mặt đứa nào cũng đằng đằng sát khí, vô nhân tính và
phi t́nh tự đồng bào, chúng như con hổ đói xổ chuồng,
điên cuồng, say máu gầm vang lao vào tấn công đánh
đập, tung lựu đạn cay vào các giáo dân hiền ḥa của
giáo xứ Thái Ḥa làm cho nhiều giáo dân bị thương
tích nặng.
VI. NHỮNG ĐIỀU
KIỆN KHÁCH QUAN VÀ CHỦ QUAN CỦA T̀NH THẾ
VÀ NHẬN THƯC
CÁCH MẠNG
Chúng ta
rơ để nhận ra điều hợp pháp hóa của cuộc cách mạng,
đó là hành động và phối hợp, cũng như tùy cơ để thực
hiện việc loại bỏ những bất công của xă hội, những
sai trái của cán bộ, công an, đảng viên thành một
cái nạn tệ đoan xấu của chánh quyền nằm trong các cơ
cấu, guồng máy hành chánh của Nhà Nước từ hạ tấng cơ
sở đến thượng tấng cơ sở, từ anh công an khu phố đến
ông Thủ Tướng ngồi trong Dinh (là tham nhũng, hối lộ,
cậy quyền, ỷ thế cướp ruộng đất, nhà cửa của dân,
trộm cắp, nghiện ngập, mại dâm, hà hiếp, ức chế dân
lành vv.), hầu thiếp lập nên một chế độ mới khả quan
hơn. Việc làm này chúng ta có thể dựa trên hai điều
kiện sau để đánh giá của việc hợp pháp hóa cuộc cách
mạng: điều kiện đầu tiên chính xác nhất, là mục tiêu
hiện hữu của một cảnh huống xă hội mà những bất công
không bị loại bỏ, nhân quyền và tự do của người dân
không được chấp hành nghiêm chỉnh. Ví dụ, Hà Nội tuy
nói là cách mạng, nhưng các cảnh huống của xă hội
c̣n bệ rạc hơn trước thời cách mạng, điển h́nh cụ
thể sáng tỏ như ánh nắng mặt trời là các vụ cướp nhà
cửa, cướp đất và ruộng vườn của bao triệu người dân,
thực ngày nào cũng có hằng trăm, hay ngàn người dân
mất nhà, mất đất đi kiện tùng với Nhà Nước từ Nam Ra
Bắc, từ Sài G̣n ra Hà Nội, hay ở vườn hoa Mai Xuân
Thưởng. Phỉ Quyền Hà Nội nghiêu ngao, vỗ ngực nói là
giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, nhưng khi
mới cưỡng chiếm đuợc Miền Nam, th́ lại bắt bỏ tù
hằng triệu quân dân cán chính Miền Nam, ngược đăi,
đày ải, hành hạ họ trong các trại tù kinh hoàng nhất
từ Nam ra Bắc. Tiếp đến đánh phủ đấu người dân Nam
bằng sách lược nhiều lần đổi tiền, chụp mũ hai danh
từ tư bản, để có cớ đánh tư sản mại bản, cướp đoạt
tài sản do mồ hôi máu và nước mắt bao năm tháng của
người dân làm ra.
Đảng Cộng
Hà Nội vừa ăn cướp vừa la làng chưa đủ, chúng lại
đày dân Miền Nam đi kinh tế mới nơi rừng sâu nước
độc, bao triệu người dân sống lâm than khổ cực. Biết
bao triệu người dân Việt Nam đă chềt rủ tù, chết vi
nghèo đói, chết v́ bị hà hiếp và uất ức Đó là những
hành động vô luân, vô đạo đức, phi nhân bản, nói
đúng hơn theo ngôn ngữ của thời nay là những tội ác
chống nhân loại của tập đoàn cộng sản Bắc Bộ Phủ Hà
Nội đă thực hiện và gây ra trên quê hương lằm đau
khổ của chúng ta. C̣n điều thứ hai, là quan hệ đến
phẩm chất, hành vi cũng như vấn đề quan trọng của
những phương thế hành sự để đạt được no ấm, hạnh
phúc, độc lập cho dân và Đất Nước không? Câu trả lời
rơ như ban ngày: Đảng cộng sản Việt, và tập đoàn
phỉ quyền Hà Nội không làm được các điều nói này. Đă
thế v́ lợi ích cá nhân, v́ gia đ́nh và Đảng cộng, v́
cố bám quyền lực, chức vị, chúng đă hoàn toàn lệ
thuộc Trung Cộng từ thân xác đến lư trí, khơi khơi
chúng ngang nhiên dâng Đất dâng Biển, c̣n ông Thủ
Tướng ăn hại Phạm Văn Đồng lại kư giấy dâng không
Quần Đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Cộng (30).
Nước Nhà được thống nhất hơn 33 năm qua như Hà Nội
tự hào, và 23 năm “đổi mới” kinh tế, rồi chạy theo
Tư Bản với phương thức hội nhập vào thị trường kinh
tế thế giới, bước chân vào sự toàn cầu hóa… Thực ra
chỉ có vỗ béo cho giai cấp lănh đạo của Đảng, cho
các ông lớn trong Bộ Tà Trị và Trung Ương Đảng Cộng
Sản Việt: nào nhà cao cửa rộng, xe hơi sang trọng,
tiền rừng bạc tỷ, hàng trăm triệu Mỹ Kim bỏ vào các
ngân hàng Thụy Sĩ, Lục Xâm Bảo vv. Con cái các ông
lớn th́ đi xe đắc tiền như Ferrari, Lamborghini,
Mercedes, thậm chí có kẻ chơi bảnh tậu xe Rolle
Royce vv. loại xe đắc tiền không mấy ai dám tậu,
ngoại trừ các vua chúa. C̣n dân chúng th́ cả mấy
chục triệu người cơm không đủ lót bụng ba bữa, áo
mặc th́ rách tả tơi, đi chân đất.Thế đó, cái nghịch
lư cách mạng và thành qủa xây dựng đổi mới của Hà
Nội hơn hai thập niên qua, Việt Nam vẫn được xếp vào
là các Nước nghèo nhất, các Nước vi phạm nhân quyên
nhiều hơn cả trên thế giới : như vi phạm vào quyền
tự do tôn giáo một cách thô bạo, bắt bớ và bỏ tù các
nhà đối lập tranh đấu cho tự do báo chí, cho ngôn
luận và dân chủ cùng đa đảng v.v.. Theo như sự đánh
gía của Quốc Hội Liên Hiệp Âu Châu, và Các Hội Tranh
Đấu Nhân Quyền Quốc Tế-Amnesty International, th́ họ
nghĩ Nhà cầm quyền Hà Nội vần c̣n những sách lược
bắt bớ khủng bố, đàn áp những người đối lâp, sách
nhiễu, gây rối và có chính sách đàn áp, bách hại các
tôn giáo tỏ tường.
C̣n về mặt
luân lư và đạo đức th́ với một dân số hơn 85 triệu
người, nhưng hàng năm nhưng phụ nữ phá thai lên đến
con số làm cho chúng ta phải kinh hoàng, cả một
triệu thai nhi phải chết một cách tức tưởi, có những
em bé chỉ mới 14 hay 15 tuổi đă đi phá thai.Có những
cô gái tuổi ngoài hai mươi hơn mà đă ba bốn lần phá
thai rồi.Viêt Nam được xem là Nước có tỷ số nạn phá
thai cao nhất thế giới. Chúng ta thử nhân lên con số
hơn ba thập niên qua dưới chế dộ cộng sản Việt th́
con số lên hằng chục triêu thai nh́ không thấy được
ánh sáng chào đời. Vả nữa, kể từ lúc có chính sách
“đổi mới” của Hà Nội, cái nạn đi lấy chồng ngoại,
phân nhiều là Đài Loan, sau là đến Đại Hàn vv., đẻ
ra các “Trung Tâm Dịch Vụ Môi Giới”, mới có lắm cảnh
chảy nước mắt máu của các cô dâu Việt lấy chồng Đài
Loan. C̣n tệ hơn nữa, chúng bày ra cái tṛ tổ chức
xem mắt các cô dâu tương lai Việt bằng cách bắt các
cô thoát y đi qua đi lai trước mắt những thắng “ngố,
mọi”Đại Hàn, Đài Loan bị bệnh tâm thần mà xă hội
chúng chê bai, ma thấy cũng phải chạy, qủy thấy cũng
phải trốn: Ôi đau đớn thay!Thế mà để chúng xem và
“sờ mó” tùy thích như chúng đi mua một con gà con
vịt ngoài chợ, để chọn cho ḿnh một người vợ. Mẹ
Việt Nam ơi! Từ hơn bốn ngàn năm nay chưa bao giờ có
cái cảnh xót xa đau ḷng như thế này, một cảnh vô
luân thường và phi đạo lư làm nhục những người con
gái xinh đẹp, thơ ngây của Mẹ, v́ nghèo đói v́ hiêú
thảo đem thân trinh trong đi kiếm tiền nuôi cha me
và gia đ́nh. Chính sách “đổi mới” của phỉ quyền Hà
Nội và Đảng Cộng là vậy đó Mẹ Việt Nam ơi!
Chúng tôi
thấy rằng những cuộc cách mạng trong các chu kỳ thời
hậu chiến thường được bao phủ một đặc tính minh bạch
là xă hội.T́nh trạng các cuộc cách mạng hôm nay, th́
bản chất chính là đánh vào mục tiêu xă hội, vào
chính thể đương thời mà họ đă bị biến thể. Có nghĩa
là họ không chấp hành hay tôn trọng những điều Hiến
Pháp đă quy định hoặc chính là các lời hứa của họ
đối với dân chúng. Do đó, chúng tôi muốn đưa ra đây
h́nh ảnh cụ thể về phương lối làm cách mạng của
người cộng sản Việt Nam – Ôi danh từ đẹp của hai chữ
“Cách Mạng” hoàn toàn đă bị biến thể do những cơ cấu
chánh quyền, cơ cấu lư thuyết chuyên chính của họ
tạo ra.Họ không biết đào tạo những cán bộ chuyên
nghiệp về khoa học-kỹ thuật, những cán bộ giỏi trong
lănh vực kinh tế cũng như hành chánh.Cũng thế, họ
khiếm khuyết hay tổ chức qúa vụng về hệ thống giáo
dục. Do thế, người cộng sản Việt không thể chối cái
vụng về, dốt nát của họ trong qúa khứ cũng như hiện
tại. Cũng vậy, Đảng cộng sản Việt Nam và Bộ Tà Trị
Hà Nội không thể ngụy biện là v́ lư do chiến tranh
hay một lư do nào khác...! Qúa hiển nhiên, để chúng
ta là người Quốc Gia chân chính cần đến một cuộc
Cách Mạng thật sự, đ̣i hỏi một sự chân thành của
lương tri.Cũng như người cộng sản Việt c̣n tự trọng
và ư thức lương tâm biết thú nhận lỗi lầm sai trái
của ḿnh với Dân Tộc, hầu biết “mở mắt, mở long”
nh́n đà tiến cùa các quốc gia tự do và tư bản, cũng
thế nên học hỏ́ lấy gương các Nước anh em cựu cộng
sản đă giác ngộ. Chúng tôi xin trích lại những lời
nói can đảm thú nhận và biết nh́n thực tế của nhà
báo thời danh Nga, là ông Alexandre Tsipo trong tờ
“Novy Mir”, ông đă đưa ra câu hỏi này: “nos princips
sont-ils bon, các chủ trương của chúng tôi có tốt
không?” Rồi chính ông trả lời một cách xác quyết với
độc giả: “non, ils ne sont pas bon, không, các chủ
trương của chúng tôi không tốt”.Và ông c̣n nói thêm
vai tṛ và chủ thuyết cổ điển marxisme là “cái bất
hạnh cho chúng tôi hiện tại, nos malheurs actuel”,
để rối ông kết án là “trái đạo lư”.Có nghĩa là chủ
thuyết cách mạng, và sự độc tài chuyên chế của chủ
nghĩa vô sản đi ngược lại cái đạo lư của con người
(31).
Sự sống
của con người trải qua bao thế hệ vẫn là “Tự Do và
No Ấm, La Liberté et Pain Cuit”.Thật sự khi người
dân có đủ cơm ăn, áo mặc, có đủ các hội tố của sự tự
do, th́ lúc ấy cuộc cách mạng của chúng ta mới thật
là thành công trong ư nghĩa chính trị, kinh tế, xă
hội và luân lư v.v..Chúng tôi thiết tưởng dám xin
đưa ra một đề nghị: theo sự thường của điều kiện làm
cách mạng ngày nay là sự khai triển, mở mang quốc
gia cho thăng hoá giàu mạnh.Do thế Đất Nước có thể
áp dụng những lư thuyết mới có hiệu năng xây dựng và
tái thiết quốc gia (loại bỏ chủ thuyết cộng sản di
hại, loại bỏ chế độ độc tài, độc đảng như hiện nay).
Nhất là, nhờ vào những tiến bộ kỹ thuật của nhân
loại, để thích ứng với môi trường xă hội nhà hầu
thăng hoá cho Đất Nước.Điều kiện cách mạng này thích
hợp với quốc gia chúng ta như chúng tôi đă tŕnh bày
ở trên
Hơn nữa,
điều kiện căn bản của người dân Việt chúng ta hiện
thực là cần cơm no, áo ầm, con cháu được cắp sách
đến truờng để mở mang trí tuệ và học hành thấu đáo,
và họ có các thứ tự do của một xă hội dân chủ. Vậy
chúng tôi thành khẩn xin các đấng lănh đạo tôn giáo,
các nhà lănh đạo tinh thần, hăy can đảm lên tiếng tố
cáo các tội ác do guồng máy của phỉ quyền Hà Nội
đang hoành hành và xảy ra hằng ngày trên quê hương
chúng ta.Mong thay xin các ngài gióng tiếng bênh vực
cho dân đen bị áp bức, bị tước đoạt đi hết quyền
sống của một con người. Máu và Nước Mắt của người
dân ngày đêm vẫn tuôn trào, tiếng khóc uất nghẹn đau
khổ của cha mẹ già mất nhà, mất của, mất ruộng, mất
vườn vẫn c̣n kéo dài với tháng năm.Tiếng khóc của
hơn một trăm ngàn cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan,
Đại Hàn khóc sướt mướt ngày đêm cho số phận ngang
trái của ḿnh.Làm sao để những tiếng khóc này không
con nữa, làm sao để không c̣n cảnh hằng triệu thai
nhi chết oan uổng, và bao nhiêu tiềng khóc khác của
mấy chục triệu dân Việt phải sống lầm than dưới chế
độ phỉ quyền Hà Nội, đă làm bần cùng hóa đời sống
của họ. Những tiếng khóc đó đang chờ mong tiếng nói
can đảm của các ngài. Chớ ǵ tiếng nói can đảm của
các ngài dám tố cáo một guồng máy tội ác đă nghiền
nát bao tự do và nhân quyền của người dân Việt, và
đă làm băng hoại xă hội Việt Nam ṛng ră bao thế hệ
qua …Đẹp thay tiếng nói đó là tiếng nói ngàn cân có
thể công phá hữu hiệu hơn sức mạnh của các loại vơ
khi súng đạn của chúng. Nhất là, tiếng nói đó mới hy
vọng có thể thay đổi đuợc bộ mặt xă hội tồi tệ hiện
thực của Việt Nam.Tiếp nữa, chúng tôi xin các nhà
chuẩn bị làm cách mạng, hay đă và trên đường làm
cách mạng, cũng như các nhà chính trị nên quan tâm
và lập phương kế, trù tính cho quốc gia chúng ta
ngay tự bây giờ, hầu cứu văn cảnh trầm luân thống
khổ đă kéo dài đau khổ của người dân Việt chúng ta
bấy lâu nay. Với ḷng chân thành chúng tôi xin nhắc
lại lời mời gọi thiết tha của Đức Cố Giáo Hoàng Phao
Lô Đệ Lục, Ngài xác định vai tṛ của con người trong
xă hội hôm nay là “mỗi người đều được mời gọi đến sự
phát triển dân tộc, bởi tất cả đời sống là ơn
gọi...) (32), không phải chỉ như thế này hay con
người như thế kia.Nhưng ngược lại, tất cả mọi người
đều được mời gọi đến sự phát triển toàn diện này.Mục
tiêu của sự phát triển này sẽ đ̣i hỏi những hy sinh
lớn lao của chúng ta, để chúng ta có thể tạo dựng,
biến đổi những vá víu tạm bợ của Nhà Nước cộng sản
Việt Nam là “đổi mơí, cởi mở, ḥa hợp ḥa giải dân
tộc” về lănh vực chính trị, xă hội và kinh tế vv.Thế
nhưng như sự thật những ǵ mà chúng ta đă thấy, th́
là trái ngược của các chính sách của Phỉ Quyền Hà
Nội đưa ra.
Chúng tôi
thiết tưởng cái giá trị mà mỗi người dân Việt biết ư
thức phải trả này sẽ hệ trọng hơn là những chờ đợi
“cởi mở, nới rộng, ban bố cho một chút tự do, tí ân
huệ” theo kiểu cộng sản Việt.Như mới đây sau vụ Đất
Toà Khâm Sứ Hà Nội, chúng thấy t́nh h́nh có thể lam
lung lay cho chế độ phỉ quyền của chúng, chúng nới
rộng cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam được tái mở
hoạt động lại Caritas trên Đất Nước Việt. Xin các
đấng lănh đạo Tôn Giáo nên can đăm mạnh dạn nói như
lời Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt với phỉ quyền
Hà Nội rằng “Tôn Giáo là một cái quyền” của chúng
tôi. Đúng Lắm, thưa Đức Tổng v́ không một sức mạnh
trần gian nào có thể bóp chết cái quyền của Thượng
Đế ban cho này.Chỉ có sự sợ hải cầu an, cầu một cái
ǵ đó làm cho chúng ta đánh mất đi cái quyền cao
trọng này, và nhượng cái quyền này vào trong tay bọn
phỉ quyền Hà Nội, để chúng tác oai, tác quái bách
hại và tiêu diệt Tôn Giáo. Một lần nữa chúng tôi van
xin những anh chị em trẻ, những anh em bộ đội nhân
dân hăy can đảm đứng lên, đứng về phía nhân dân đau
khổ, biết cái đau và cái nhục của một Đất Nước bị
bọn thổ phỉ Việt Gian làm cho thành một Đất Nước
nghèo nhất thế giới! Hăy can đảm đứng lên để làm nên
lịch sử! V́ vận mạng Đất Nước Việt trong ngày mai…,
con cháu của qúy vị trong tương lai có tươi sáng hay
vẫn c̣n măi u tối, vẫn măi nghèo khổ, cảnh kiếp lầm
than làm thuê, làm mướn cho bọn Tư Bản rừng rú, cho
bọn Tư Bản Đỏ đă mất tính người, đă mất tính dân tộc
nghĩa đồng bào, là chỉ cần một quyết định can đảm,
sáng suốt và dứt khoát của qúy vị hôm nay, để Đất
Nước, Đồng Bào Việt, Gia Đ́nh và Con Cháu của qúy vị
khả thể có một chân trời tươi đẹp và một tương lai
rạng rỡ.
Một tâm
t́nh thiết tha chúng tôi xin nhắc lại lời tuyên bố
hùng hốn và cũng là lời nhắn nhủ chí lư của Đức Cố
Giáo Hoàng Phao Lô Đệ Nhị khi vừa được đắc cử chức
vị Chủ Chăn Giáo Hội Hoàn Vũ : Ngài hướng về đoàn
con, hướng về hằng tỷ người đang theo dơi, nhất là
những người dân sống bên kia bức màn sắt của chế độ
cộng sản Đông Âu và Liên Sô đang trông mắt hy vọng
nơi vị chủ chăn mới này : Lời nhắn gởi ngằn gọn:
Nolite-timere! N’ayez pas peur! Anh Em đừng sợ hay
Các Con đừng sợ!(33).Vang dội giữa bầu trời trong
sáng, vang dộị và vang tận khắp mọi nơi, xuyên thủng
các bức màn sắc độc tài, chuyên chính vô nhân của
các chế độ cộng sản, của các chế độ quân phiệt rừng
rú vv..Đây là lời vàng ngọc và cái ch́a khóa thần
diệu Ngài trao ban cho con cái của ḿnh, cho mỗi
người chúng ta, để nằm vững nó mà tự cứu thoát lấy
ḿnh và cứu thoát cho anh chị em ḿnh, sau là giải
phóng cho Đất Nước cho Dân Tộc thoát cảnh bóng tối
tội ác của cộng sản bao trùm, thoát được kiếp lầm
than làm thân nô lệ mất hết tự do, mất hết nhân phẩm
và nhân quyền.Và chuyện ǵ đă xảy ra cho các Nước
Đông Âu, cho Khối Cộng Liên Sô, th́ qúy vị đă mục
kích, đă tường tận.
Qủa thật sức
mạnh không ở nơi súng đạn của Mỹ, Nga, Tàu, Pháp,
Anh vv.Cũng không phải vơ trang bằng các Hàng Không
Mẫu Hạm, Tàu Chiến, Máy Bay tối tân Xe Tăng cùng
hàng trăm sư đoàn quân lính thiện chiến, nhưng chính
là ḷng không biết sợ hải ở những người dân Liên Sô
và Đông Âu, chính là niềm tin kiên cường, anh dũng
của các đấng lănh đạo tôn giáo, lănh đạo tinh thần
đă hiệp một ḷng với dân, rồi xă thân, hiên ngang
dám xuống đường lật phăng, đánh dổ các chế độ cộng
sản phi nhân và tàn ác này.Ai dă thắng và ai đă qụy
ngă, chạy thoát thân, hay nhiều người đổi tên, đổi
họ trốn chui trốn nhủi vi sợ dân chúng hành tội cho
các tội ác ḿnh đă gây ra cho ho, th́ qúy vị đă theo
dơi và qúa tường tận. Nhất là bằng chứng cụ thể, v́
mới đây ngày 6 tháng 11.2008, qua cái bắt tay tỏ vẻ
xă giao nhung, tỏ vẻ thân Trung Cộng của Tổng Thống
Mă Anh Cửu với ông Trần Văn Lâm Chủ Tịch Hiệp Hội Eo
Biển Quan Hệ với Đài Loan, đă làm cho dân chúng Đài
Loan nỗi giân, kéo nhau cả trăm ngàn người đ̣i truầt
phế ông Tổng Thống phản bội họ, phản bội Đất Nước
ḿnh cùng bán đứng Đảo Đài Loan này cho Trung Cộng.
Thế là Dân chúng từ già đến trẻ, đủ mọi thành phần
trong xă hội, từ mọi miền kéo nhau về vây kín phủ
Phủ Tống Thống với những biểu hiệu dương cao sau:
“Người Đài Loan Vùng Lên Thành Lập Chánh Phủ Mới”
hay “China Fuck Of!!! Taiwan is not part of China”
hoặc nữa “23 million Taiwanese decide the future of
Taiwan”.Với một rừng người khí thế, với một sự quyết
tâm, đoàn kết bảo vệ mảnh đất Đài Loan của họ, th́
không có sức mạnh nào, không một chánh phủ nào dám
ngông cuồng dùng bạo lực đàn áp cả một rừng nguời
dân như thế.
Nh́n người
ta tranh đấu một mất một c̣n với sinh mệnh và tiền
đồ Dân Tộc của người ta, chúng tôi nghĩ lại Đất Nước
và Dân Tộc Việt Nam chúng ta đang mong chờ ở qúy vị
Lănh Đạo Tôn Giáo, Lănh Đạo Tinh Thần hiệp với hết
mọi thành phần người dân, sẽ tạo nên một Mùa Xuân
mới.Một Mùa Xuân Tự Do, Ḥa B́nh, Dân Chủ và Ấm No
cho mọi người. Nhất là, lịch sử sẽ chứng minh cho
việc làm của qúy vị, của chúng ta đối với sự sinh
tồn và thăng hóa của Đất Nước.Hơn nữa, dưới ánh nắng
mặt trời th́ người chân chính vẫn là chân chính, sự
thật vẫn luôn là sự thật.Trái lại, những kẻ gian tà,
những phường xu hướng lợi dụng cảnh “tranh tối,
tranh sáng” để ăn “đóm” th́ dân chúng sẽ vạch mặt
những tên gian tà cùng bọn xu hướng thời cơ này.C̣n
lịch sử sẽ tôn vinh những người chân chính v́ Dân
bởi Nước dù họ đă bị ngộ nhận, hay bị ngă gục.
VII. ĐÔI LỜI
TÂM T̀NH THAY LỜI KẾT
Chúng tôi
đă cố gắng tŕnh bày thế nào là cuộc cách mạng –
phương pháp cùng cách sử dụng con đường cách mạng.
Giờ chúng tôi nghĩ đến vai tṛ của chúng ta, của
người Việt Nam c̣n tự trọng, c̣n yêu quê hương Việt
tha thiết và hằng nghĩ đến sự sinh tồn của Dân Tộc.
Sau là, chúng tôi nghĩ đến vai tṛ của những người
chủ trương theo khoa học nhân bản (sciences humaines)
đối kháng lại chủ trương tàn bạo của người cộng sản
và những tên phản dân tộc cùng xu hướng thời cơ, đó
là rất quan trọng cho tất cả những suy tưởng cùng sự
dấn thân và trách nhiệm của chúng ta ngày nay, khi
nhân loại đă chuyển ḿnh bước vào thiên niên thứ ba
của văn minh tiến bộ, dân chủ về mọi phương diện văn
hóa, chính trị, kinh tế, môi sinh vv. Điển h́nh là
các Nước Đài Loan, Đại Hàn, Tân Gia Ba, Mă Lai, Thái
Lan v.v. trước năm 1975 họ đâu hơn gi Miền Nam chúng
ta, trong lúc đó dân chúng Miền Nam vừa lo bảo vệ
Miền Nam do lũ Việt gian cộng sản đánh phá gây rối
và xâm lăng Miền Nam, lại vừa lo phát triển kinh tế
cho Đất Nước, thế mà nền kinh tế Miền Nam lúc ấy hơn
hằn các Nước Đại Hàn, Thái Lan, Mă Lai vv. Bây giờ
các Quốc gia ấy được gọi là những con Rồng Kinh Tế,
cất cánh bay cao, c̣n Việt Nam ta dưới sự thống trị
độc đoán, chuyên chính của những “đỉnh tối trí tuệ”
bởi tập đoàn phỉ quyền Việt gian Hà Nội, th́ Đất
Nước chúng ta lại trở nên những loại giun, loại rắn,
loại côn trừng ḅ sát lê lết măi dưới đất đen không
đứng lên nỗi.
Do đó,
chúng tôi xin phép đề nghị ba cấp độ để quan tâm:
trước hết, chúng ta phải có một sự phân tích và am
tường chính xác những cảnh huống thời tiền cách
mạng.Tiếp đến, chúng ta đặc biệt lưu ư những hiệu
lực của việc cai trị và pháp lư quyền hành, thêm là
một sự phân tích rơ ràng những diễn tiến của cách
mạng. Sau cùng, là một sự phân tích cùng nhận định
về phương thế hành động cách mạng làm sao cho có
hiệu qủa, để đạt thắng lợi vẻ vang.V́ vậy, đ̣i hỏi
chúng ta cần một sự đoàn kết hết mọi thành phần quần
chúng bất phân họ là ai, khi họ cùng một chí hướng,
một lập trường với ta, vả nữa cần một sự kết hợp và
liên kết với mọi tôn giáo, để cùng nhắm mục đích
chính là tránh đấu và làm cách mạng để cứu nguy cho
Đất Nước, cho Dân Tộc thoát cảnh suy vong.
Thiên thời,
Địa lợi, Nhân Ḥa cho công cuộc cách mạng này chúng
ta hầu như đă có.Không lúc nào hết ông Trời đă đồng
ư với ta nên đă cho Mưa Lũ trút xuống toàn đất Bắc,
mưa đổ xuống đầuTập Đoàn Bắc Bộ Phủ và đất Trung, đó
là dấu chỉ ư Trời phù trợ thêm ḷng tin của ta. Lại
nữa ư trời qua chuyện “lữa thử vàng, gian nan thử
ḷng”, để cho toàn dân thấy “cháy nhà mới ḷi ra mặt
chuột” : ai là người lo lằng cho dân chúng, ai là
người làm đầy tớ của dân, ai ở với dân lúc họan nạn,
ai dám xă thân giữa bốn bề toàn nuớc ngập, ai xắn
ông quần lên lội nuớc đến với dân chúng: Nguyễn Tấn
Dũng Thủ Tướng, Nông Đức Mạnh Tổng Bí Thư Đảng Cộng
Bán Nước, và Cái Bộ Tà Trị ở đâu, không đến mà cơng
những cụ già, dắt nhũng đứa bé, bồng bế các em nhỏ
một tay cho các nguời dân của ḿnh, giúp họ chạy
lụt? Nhưng miệng các ông th́ cứ bô bô, rống cổ lên
lớn tiếng hơn cái loa khuyếch đại âm thanh:“Chánh
Phủ là Đấy tớ của nhân dân, phục vụ dân” nói đúng
hơn các ông làm “ông nội dân, làm cha chú dân, hay
làm các Big Brother or Mafia Father đây? Thế đó là
các ông lớn, các cán lớn của dân. Đối lại, chỉ có
h́nh ảnh của Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt,
trong bộ áo quần b́nh dị cùng chiếc mũ b́nh dân, ống
quần được xắn lên, Ngài đă lội nước đến Làng Tâm
thăm hỏi, chia sẻ an ủi những đau khổ, những mất mát
vô cùng của người dân.C̣n h́nh ảnh nào đẹp hơn với
ống quần xằn lên cao, hai cánh tay dắt hai em bé
chạy lụt, hay một tay dắt cụ già, một tay dắt em bé
gái lội giữa ḷng nước lũ đă được nhiều bào chí,
truyền h́nh, đăng tải, loan tin.Đúng là khổ cái khổ
của dân, đau cái đau của dân, cùng chịu nạn cái nạn
của dân (34).
Từ những
h́nh ảnh cụ thể hiện thực đập vào mặt mọi người dân
trong Nuớc và Hải Ngoại cùng Quốc Tế qua nạn mưa lụt
này, thêm h́nh ảnh Giáo Xừ Thái Hà đă tạo nên một sự
đoàn kết, liên đới mạnh mẽ từ trong Nước lan rộng ra
Hải Ngoại và Quốc Tế, đang hổ trợ cho Đức Tổng Giám
Mục Ngô Quang Kiệt và Giáo Dân Thái Hà và Giáo Dân
Hà Nội. Thêm nữa, việc dâng dất, dâng biển dâng hai
quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và cúi đầu làm nô bộc,
tay sai cho Trung Cộng của Đảng cộng và tập đoàn phỉ
quyền Hà Nội, đă gây nên một sự căm phẩn trong ḷng
dân, trong mọi thành phần của xă hội từ người dân
b́nh thường cho đến các anh chị em sinh viên, đến
những anh lính bộ đội v.v. Qua những hội tố tốt đẹp
đang chín mùi mà qúy vị đang có, chúng tôi nghĩ đủ
cho qúy vị hành động…
Do thế,
hơn lúc nào hết, thời cơ đă đến, giờ lịch sử đă điểm
cho vận Nước và Dân Tộc Việt: Để qua đó, với những
lời cuối cùng chúng tôi khấn xin hết thảy các đấng
lănh đạo Tôn Giáo, lănh đạo tinh thần, tất cả mọi
người dân Việt và hết thảy chúng ta từ trong Nước ra
Hải Ngoại, tất cả mọi giới báo chí và truyền thông,
truyền thanh, truyền h́nh xin vị quy về một mối, là
cùng nhất tâm, cùng liên kết nắm tay nhau, cùng nhau
đứng dậy xuống đường đ̣i hỏi tập đoàn phỉ quyền Hà
Nội này phải trả lại các thứ quyền cho người dân,
trả lại cái quyền cai trị qủan lư Đất Nước lại cho
người dân điều hành.Để rồi từ đó hoa tự do và nhân
quyền mới trổ nở, bầu trời dân chủ đa đảng, công
bằng hay công lư sẽ mở ra, luân thường đạo lư và
truyền thống nhân ái, vị tha v.v của cha ông sẽ được
phục hồi. Hạnh phúc và đẹp thay triệu triệu con tim
nối kết, triệu triệu người dânViệt sinh sống từ khắp
Năm Châu hợp với anh chị em ḿnh trong Nước, được tự
do góp tay, góp ư, góp sức, góp tài trí và công sức
ḿnh cho Đất Nước thêm phú cường. Để rồi từ đó Nước
Việt chúng ta mới có thể cất cánh bay cao như loại
chim đại bàng hay như rồng bay lên cao như Nhật Bản,
Đài Loan, Đại Hàn.
Nam Giao Lê Thiện
B́nh
CHÚ THÍCH
1. Xin đọc
bài báo của John Berger:«La Révolution Démocratie A
L’Est » dans Le Monde Diplomatique, N.434 Mai 1990.
2. Xin đọc bài
báo của Claude Julien : « Nécessaire Révolution »
dans Le Monde Diplomatique, N.435 Juin 1990.
3. Xin đọc
tác phẩm của A. Kroeber: “Anthropology, Race,
Language, Culture, Psychology, Prehistoire”, New
York, Hartcourt Brace, 1948, P.408.
4. Xin đọc tác
phẩm của Joffre Dumazedier: « Révolution Culturelle
Du Temps Libre 1968-1988 », Méridiens Klineksoer,
Paris 1988.
5. Xin đọc
tác phẩm của Đỗ Thọ : « Nhật Kư Đỗ Thọ », Đồng Nai,
Sài G̣n 1970, hay đọc Tập San : « Chính Nghĩa », Số
3 tháng 4 năm 1984.
- Xin đọc
tác phẩm của Giáo Sư Cao Thế Dung và Lương Khải
Minh : « Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống », Ḥa
B́nh, Sài G̣n 1970.
- Xin đọc
Ấn Phẩm: « Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm », Hưng Việt,
California 1990.
- Xin đọc
bài báo: « Sau Ngựa Châu Xin Quất Ngọn Roi » của
O.L.M., trong Dân Chúa Mỹ Châu tháng 11.1990, trang
11-13.
- Xin đọc
bài báo của Ngô Lâm: « Một Ánh Sáng Mới Trong Cái
Chết Của Hai Ông Diệm Nhu » trong Báo Văn Nghệ Tiền
Phong, Số 354 và 355.
- Xin đọc
tác phẩm của Luật Sư Nguyễn Văn Chức : « Việt Nam
Chính Sử », VA.1992.
- Xin đọc
tác phẩm của Eileen J. Hammer : « Bàn Tay Hoa Kỳ,
Cái Chết Của Ông Diệm », Dịch Giả Vũ Văn Ninh và
Trần Ngọc Dung, Thế Giới, California 1992.
- Xin đọc
tác phẩm của Hoàng Ngọc Thành : « Những Ngày Cuối
Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm », California
1994.
- Xin đọc
Báo Văn Hoá : « Ngô Đ́nh Diệm Bài Học Lịch Sử », Vol
5-Issue 57-November 2001.
- Xin đọc
tác phẩm của cựu Đại Tá Nguyễn Văn Duệ : « Nhớ Lại
Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm »,
Califonia 2003.
- Xin
đọc Ấn Phẩm : « Lễ Giỗ Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
1963-2004 », California 2004.
- Xin
đọc tác phẩm của Nguyễn Văn Minh : « Ḍng Họ Ngô
Đ́nh Ước Mơ Chưa Đạt », Hồng Ngà, California 2004.
- Xin đọc
bài báo của Lữ Giang : « Ba Vụ Hạ Sát », Trên Mạng
Internet : Diễn Đàn Chính Trị (VN Politics),
28.10.2008.
- Xin
đọc bài báo của Ngô Kỷ : « Khui Hồ Sơ Tối Mật Mỹ Chủ
Mưu Thanh Toán Anh Em Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm »,
Take 2 Tango 28.10.2008.
6. Xin đọc
La Rousse Classique : « Dictionnaire
Encyclopédique », Larousse, Paris 1957, p.1036.
7. Xin đọc
tác phẩm của H. D. Wendland : « Consiltation Et
Société Du C.OE.E », Ginève 1966.
8. Xin
đọc tác phẩm của Giáo Sư Umberto Melotti : «
Rivoluzione e Societa », Milano 1975.
9. Xin đọc
bài báo của Alexandre Boussageon et Bernard Polet :
« La Révolution De Tiananmen » trong Tuần Báo
L’Evenement, Số 238 Mai1989, trang 18-26 ; Hay xin
đọc thêm bài báo của J. Francois Kaln : « Dis Papa,
C’est Quoi La Gauche ? » cũng trong số báo này.
- Xin đọc
thêm bài báo của Pierre Hurel : « Le Printemps Chaud
De Pékin » trong Tuần Báo Paris Match, số 2085
Mai.1989, trang 44-49 ; Cùng một nhà báo này trong
bài báo : « Le Mai Fou De Pékin » trong số 2088 đầu
tháng 6.1989, trang 23-25.
- Xin đọc
thêm số báo Time International đặc biệt, bài báo
“Revolt Against Communism China-Poland-USSR.”, số
tháng 6. 1989.
- Xin đọc
tác phẩm của Trần Trung Quân: “Trong Ḷng Địch”, Nam
Á, Paris 1985.
- Xin đọc
tác phẩm của Phạm Huấn : « Những Trận Đánh Lịch Sử
1954 đến 1975 Của Tướng Phạm Văn Phú », California
1989.
11. Xin đọc
tác phẩm của Boris Goldenberg: « Latin Amerika Und
Die Kubanische Revolution » Kiepenheur und Witsch,
Koln 1963.
12. Xin đọc
tác phẩm của Harry M. Johnson: “Sociology, A
Systematic Introduction”, London 1961.
13. Xin đợc
tác phẩm của Herbert Marcuse : “L’Homme
Unidimensionnnel”, Traduction Français, Minuit,
Paris 1978.
14. Xin đọc
bài báo của Sandro Ottolenghi : « Đức Wojtyla Đă
Thắng », trong báo Panorama ra ngày 8.4.1978.
15. Xin đọc
tác phẩm của Quốc Anh : « Thực Chất Của Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam », Xă Hội Ấn Quán, Sài G̣n 1962.
- Xin
đọc tác phẩm của Kim Nhật : « Về R », Hoa Đăng, Sài
G̣n 1973.
16. Xin đọc
tác phẩm của Marc Angé : « Théorie Des Pouvoir Et
Idéologie », Herman, Paris 1975.
17. Xin đọc
bài báo của Christian Jelen et Jacques Renard :
« Lech Walessa L’Homme De L’Année » dans L’Express,
N. 13 Décembre 1980, p.70-76.
18. Xin đọc
tác phẩm của Mikhail Gorbatchev: «Perestroika »
nguyên tác Anh Ngữ «Perestroika. New Thingking For
Our Country And The World », Flammarion, Paris 1987.
- Xin đọc
tác phẩm của Hedrick Smith : “Désunion Soviétique”,
Belfond, Paris 1999.
19. Xin đọc
tác phẩm của Jean-Marie Chauvier: « L’URSS., Une
Société En Mouvement », L’Aube, deuxième édition,
Paris 1990.
- Xin đọc
các bài báo: « Gorbatchev Propose De Remanier Le
Gouvernement Révolution De Palais Au Kremlin ? »,
Nhật Báo Liberté ngày 17.11.1990, và bài « Fièvre
Nationaliste En Solovaquie », cũng trong Nhật Báo
này.
20. Xin đọc
bài khảo cứu của Paul Hare: «Analysic of
Non-Violence in Theory and Fact » in Sociological
Inquiry, Vol.38, N.1 Winter 1968, số báo đặc biệt.
21. Chúng tôi
xin gom chung những tác phẩm và các bài báo khảo cứu
của những tác giả sau: của A.P.Hare; S.I.Perloe;
D.S.Olton; D.L.Yaffe; J.Stiehm…. (Haverford,
Penn,Departement of Sociology and Anthropology of
Haverford College.
- Xin đọc
thêm bài khảo cứu Briey Pierre :«Developpement et
Révolution, Developement and Revolution » in
Civilisation, Vol. XVI, 1960, N.3, p.280-295 ;
Bruxelles, INCI. DI. 1966.
22. Xin đọc
bài khảo cứu của Victor Lidz: « Analysic of
Non-Violence in Theory and Fact” in Sociollogy
Inquiry, Vol.38, N. Winter 1968, Số đặc biệt.
23. Xin đọc
bài báo của Kosta Chritits : « Roumanie Le Jeu Caché
De Moscou », trong Tuần Báo Le Point số 902, 7
Janvier 1990. Hay bài : « Bucarest La
Vinngt-Cinquième Heure » cũng trong Tuần Báo này,
trang 37-41.
- Xin đọc
bài báo của Christophe Buchard : « Roumanie Guerre
Pour La Liberté » trong Tuần Báo Paris Match số
2119, 4 Janvier 1990, trang 40-58. Và thêm bài báo
của Arnaud Bizot : « Paris Match Retrouve Son
Gavroche », Paris Match số 2121, 18 Janvier 1990,
trang 38-40.
- Xin đọc
bài báo của Patrick Forestier : «La Révolte Des
Allemands », Paris Match số 2114, 30 November 1989,
trang 56-60 tiếp trang 74…
- Xin đọc
bài báo của Pierre Hurel : «Dubcek Le Retour »,
Paris Match số 21115, 7 Décembre 1989, trang 28.44.
- Xin đọc
các bài báo Times International với tựa: “Winds of
Secession Gorbatchev Braves a Storn in The Baltics”,
January 22.1990, N.4. Cùng số 8 của báo Time này với
tựa: “Starting Over Gorbatchev Turn His Back On
Lenin”, trong số báo Time này có nhiều bài hữu ích
liên quan đến các cuộc tranh đấu của dân Đống Âu, và
dân vùng Baltics dành lại sự tự trị và dân chủ.
24. Xin đọc
bài khảo cứu của Wallenestein Emmanuel : “Violence
Et Persuasion Agents Du Changement Social Moderne”
dans les Cahiers Internationaux de Sociologie, Vol.
XLIII, Juillet-Décembre 1967, p. 79-87, (Paris,
C.N.R.S. L’Ecole Pratique Des Hautes Etudes).
25. Xin đọc
bài báo của Jean Marie Chauvier : « Une Société
Soviétique A Bout De Nefs » trong báo Le Monde
Diplomatique, N.440 Novembre 1990.
26. Xin đọc
tác phẩm của Fanon Frants : « Les Damnés De La
Terre », Maspero, Paris 1966 ou dams Les Cahiers
Libres, N.27-28.
27. Xin đọc
tác phẩm : « The Peace Neogociations And The
Communist Aggression », Republic of Viet Nam
Ministry of Foreign Affairs, Sai Gon 1968, trang
17-20 và nhiều hính ảnh đính kèm.
- Xin
đọc thêm tác phẩm: « Thảm Sát Mậu Thân Ở Huế, The 68
Massacre at Hue », Tuyển Tập Tài Liệu-Documentation,
Định Huớng Tùng Thư, Strasbourg France 1998.
28. Xin đọc
tác phẩm : « Les Assasinats Politiques » Rapport sur
les Responsabilités des Etats, của Amnesty
International, Francophone d’Amnesty International
1983.
- Xin đọc
tác phẩm của Stéphane Courtoise, Nicolas Werth,
Jean-Louis Panné, Andrzej Paczkolwski, Karel
Bartosek et Jean-Louis Margolin « Le Livre Noir Du
Communisme » Crimes, Terreur, Répression, Rbert
Laffon, Paris 1998.
29. Xin đọc
bài báo của Robert Delft:« Tiananmen Massacre » and
Emily Lau: «Mourning The Dead » trong báo Far Easten
Economic, Juin 15.1989 các trang 10-19.
30. Xin đọc
“Công Hàm Bán Nước” kư nhượng Hai Quần Đảo Trường Sa
và Hoàng Sa cho Trụng Cộng vào ngày 14.9.1958 của
ông Thủ Tướng Việt Gian Phạm Văn Đống.
31. Xin đọc
phần trích lạibài báo của Jean Jacques Marie : « Fugurante
Evolution De La Press Soviétique, Vivre Le
Capitalisme, Haro Sur La Révolution !», Le Monde
Diplomatique, Octobre 1990, p.8.
32. Xin đọc
L’Encyclique : « Populorum Progressio, Thông Điệp
Phát Triển Các Dân Tộc » của Đức Giáo Hoàng Phao Lô
Đệ Lục.
33. Xin đọc
tác phẩm của André Fossard : « N’ayez Pas Peur! »
dialogue avec Jean-Paul II, Robert Laffonf, Paris
1982.
34. Xin đọc
bài báo và xem các h́nh ảnh của ông Nguyễn Hữu Vinh
trên ViêtCatholic News ngày 5.11.2008.
NHỮNG TÁC
PHẨM VÀ SÁCH BÁO THAM KHẢO
Những Tác Phẩm :
- André
Frossard : « N’Ayez Pas Peur !» dialogue avec
Jean-Paul II, Robert Laffon, Paris 1982.
- Amnesty
International : « Les Assasinats Politiques »
Rapport sur les Responsabilités des Etat,
Francophones d’Amnesty International 1983.
- A.
Krober:«Anthropology, Race, Language, Culture,
Psychology, Prehistory », New York, Hartcourt Barce
1948.
- Boris
Goldenberg: “Latin Amerika Und Die Kubanische
Revolution”, Kiepenheuer und Witsch, Koln 1963.
- Cao Thế
Dung và Lương Khải Minh: “Làm Thế Nào Để Giết Một
Tổng Thống”. Ḥa B́nh, Sài G̣n 1970.
- Đỗ Thọ
: “Nhật Kư Đỗ Thọ”, Đồng Nai, Sài G̣n 1970.
- Eileen
J. Hammer: «Bàn Tay Hoa Kỳ, Cái Chết Ông Diệm »,
Dịch Giả Trần Ngọc Dung và Vũ Văn Ninh, Thế Giới,
California 1992.
- Fanon
Franks : « Les Damnés De La Terre », Maspero, Paris
1966.
- Jean
Marie Chauvier : « L’URSS., Une Société En Mouvement »,
L’Aube, Paris 1990.
- Joffre
Dumazedier: “Révolution Culturel Du Temps Libre
1968-1988”, Méridiens Klineksoer, Paris 1988.
- Harry M.
Johnson:«Sociology, A Systematic Introduction »,
London 1961.
- Herbert
Marcuse : « L’Homme Undimensionnel », Trad.
Français, Minuit, Paris 1978.
- Hedrick
Smith : « Désunion Soviétique », Belfond, Paris
1991.
- H.
Wendland : « Consultation Eglise Et Société Du
C.OE.E. », Genève 1966.
- Hoàng
Ngọc Thành và Thân Thị Thanh : « Những Ngày Cuối
Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm », California
1994.
- Karl
Marx et Friedrich Engels:« Le Syndycalisme »
Théorie, Organisation, Activité, Francois Maspero
1972.
- Kim
Nhật : « Về R », Hoa Đăng, Sài G̣n 1973.
- Larousse
Classique :«Dictionnaire Encyclopédique »,
Laroussse, Paris 1957.
- Le Pape
Paul VI, L’Encyclique « Populorum Progressio ».
- Mao Tsé
Toung : « Le Petit Rouge », Seuil, Paris 1967.
- Mikhail
Gorbatchev:« Perestroika » bản Anh Ngữ :
“Perestroika. New Thingking for Our Country and The
World”, Flammarion, Paris 1987.
- Nguyễn
Văn Chức: “Việt Nam Chính Sử”, VA, Hoa Kỳ 1992.
- Nguyễn
Văn Minh: “Ḍng Họ Ngô Đ́nh Uớc Mơ Chưa Đạt”,
California 2004.
- Phạm
Huấn: “Những Trận Đánh Lịch Sử 1954-1975 của Tướng
Phạm Văn Phú”, California 1989.
- Quốc
Thư: “Thực Chất Của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”,
Xă Hội Ấn Quán, Sài G̣n 1962.
- Republic
of Viet Nam Ministry of Foreign Affairs: “The Peace
Negotiations and the Communist Aggression”, Sài G̣n
1969.
- Richard
Milhouse Nixon: “No More Vietnams”, New York 1985.
- Stéphan
Courtoise, Nicolas Werth, Jean-Louis Panné, Andrzej
Paczkowski, Karel Bartosek et Jean-Louis Margolin :
« Le Livre Noir Du Communisme » Crimes, Terreur,
Répression, Robert Laffont, Paris 1998.
- Trần
Trung Quân: “Trong Ḷng Địch”, Nam Á, Paris 1985.
- Tuyển Tập:
“Lễ Giỗ Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm 1963-2004”,
California 2004.
- Tuyển Tập
Tài Liệu: “Thảm Sát Mậu Thân, The 68 Massacre at
Hue”, Định Hướng Tùng Thư, Strasbourg 1998.
- Umberto
Melotti: “Rivoluzion e Socièta”, Milano 1975.
Những Ấn Phẩm
Báo Chí:
- Nguyêt
San Le Monde Diplomatique, N.434. Mai 1990.
- Nguyệt
San Le Monde Diplomatique, N.435 Juin 1990.
- Ấn
Phẩm Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm, Hưng Việt, California
1990.
- Tập San
Chính Nghĩa Số: 3. 4 .1984
- Nguyệt
San Dân Chúa Mỹ Châu, tháng 11.1990.
- Bán
Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, Số 354 và 335. 1990
- Tuần Báo
L’Evenement, N.238 Mai 1989.
- Tuần Báo
Paris Match, N. 2085 Mai 1989 et N. 2085 Juin 1989.
- Tuần Báo
Time International, Số đặc biệt tháng 6 năm 1989.
- Nhật Báo
Panorama, Ngày 8. 4. 1990.
- Tuần Báo
L’Express, N. 1535, 13 Décembre 1980.
- Nhật Báo
La Liberté, 11 Novembre 1990.
- Tập San
Sociological Inquiry, Vol. 38, N.1 Winter 1968.
- Tập San
Civilisation, Vol. XVI, 1966.
- Tuần Báo
Le Point, N. 902, 7 Janvier 1990.
- Tuần Báo
Paris Match, N. 2199, 4 Janvier 1990.
- Tuần Báo
Paris Match, N. 2121, 18 Janvier 1990.
- Tuần Báo
Paris Match, N. 2114, 30 Novembre 1989.
- Tuần Báo
Paris Match, N. 2115, 7 Décembre 1989.
- Tuần Báo
Time International, N. 4, January 22. 1990.
- Tập San
Cahiers Iternationaux De Sociologie, Vol. XLIII,
Juillet-Décembre 1967.
- Nguyệt
San Le Monde Diplomatique, N. 440 Novembre 1990.
- Tuần Báo
Far Easten Economic, 15 June 1989.
- Nguyệt
San Le Monde Diplomatique, Octobre 1990.
- Nguyệt
San Văn Hóa, Vol.5 Novembre 2001.